108 CHƯƠNG 4: THÀNH TỰU VÀ Ý NGHĨA HOẠT ĐỘNG NGOẠI GIAO CỦA MẶT TRẬN DÂN TỘC GIẢI PHÓNG MIỀN NAM VIỆT NAM VÀ CHÍNH PHỦ CÁCH MẠNG LÂM THỜI CỘNG HÒA MIỀN NAM VIỆT NAM .... Bắc, ngoại giao
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH
Phạm Thị Xuân Hòa
HOẠT ĐỘNG NGOẠI GIAO CỦA MẶT TRẬN DÂN TỘC GIẢI PHÓNG MIỀN NAM VIỆT NAM VÀ CHÍNH PHỦ LÂM THỜI CỘNG HÒA MIỀN NAM VIỆT NAM
THỜI KỲ 1960 - 1975
LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ
Thành Phố Hồ Chí Minh – 2012
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH
Phạm Thị Xuân Hòa
HOẠT ĐỘNG NGOẠI GIAO CỦA MẶT TRẬN DÂN TỘC GIẢI PHÓNG MIỀN NAM VIỆT NAM VÀ CHÍNH PHỦ LÂM THỜI CỘNG HÒA MIỀN NAM
VIỆT NAM THỜI KỲ 1960 - 1975
Chuyên ngành: LỊCH SỬ VIỆT NAM
Trang 3L ỜI CẢM ƠN
Em xin chân thành cảm ơn Khoa Lịch Sử và Phòng Sau Đại học Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh đã tạo điều kiện thuận lợi cho em trong quá trình học tập tại trường
Em xin tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến T.s Lê Huỳnh Hoa, cô đã nhiệt tình giúp đỡ em trong quá trình làm luận văn
Xin cảm ơn bố mẹ, gia đình và các bác đã từng tham gia vào MTDTGPMNVN, CPCMLTCHMNVN đã có những động viên, đóng góp quý báu để hoàn thành luận văn này
Trang 4L ỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa được công bố trong các công trình khác
HỌC VIÊN CAO HỌC
Phạm Thị Xuân Hòa
Trang 5NH ỮNG CỤM TỪ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
- MTDTGPMNVN : Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam
Việt Nam
- CPCMLTCHMNVN : Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng
hòa miền Nam Việt Nam
- VNDCCH : Việt Nam Dân chủ Cộng hòa
- VNCH : Việt Nam Cộng hòa
- TP HCM : Thành phố Hồ Chí Minh
- XHCN : xã hội chủ nghĩa
Trang 6MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN 3
LỜI CAM ĐOAN 4
NHỮNG CỤM TỪ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN 5
MỤC LỤC 6
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài và mục đích nghiên cứu 1
2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
3 Phương pháp nghiên cứu 3
4 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 3
5 Cấu trúc của luận văn 7
6 Đóng góp của luận văn 7
CH ƯƠNG 1: QUÁ TRÌNH THÀNH LẬP MẶT TRẬN DÂN TỘC GIẢI PHÓNG MIỀN NAM VIỆT NAM (1954 - 1960) 8
1.1 Một số khái niệm chung 9
1.1.1 Mặt trận 9
1.1.2 Khái niệm về ngoại giao 15
1.2 Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam ra đời – Một tất yếu lịch sử của cuộc đấu tranh cách mạng ở miền Nam 18
1.2.1 Mối quan hệ hai cực của chiến tranh lạnh sau chiến tranh thế giới thứ hai – Một yếu tố quan trọng tác động đến những biến động của cách mạng Việt Nam 18
1.2.2 Chính sách chống cộng của Mỹ và Chính quyền tay sai Ngô Đình Diệm – Yếu tố thúc đẩy sự chuyển hướng chiến lược của cách mạng miền Nam 23
1.2.3 MTDTGPMNVN thành lập – bước chỉ đạo chiến lược tất yếu cho cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước ở miền Nam 32
CHƯƠNG 2: HOẠT ĐỘNG NGOẠI GIAO CỦA MẶT TRẬN DÂN T ỘC GIẢI PHÓNG MIỀN NAM VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 1960 - 1969 44
2.1 Tình hình trong và ngoài nước ảnh hưởng đến hoạt động ngoại giao của MTDTGPMNVN 44
2.2 Hoạt động ngoại giao MTDTGPMNVN vì mục tiêu hòa bình trung lập giai đoạn 1960 – 1964 52
Trang 72.2.1 Cơ sở cho hoạt động ngoại giao hòa bình trung lập giai đoạn 1960 – 1964 522.2.2 Hoạt động ngoại giao MTDTGPMNVN giai đoạn 1960–1964 với quan hệ gắn chặt với hoạt động ngoại giao của chính phủ VNDCCH 542.2.3 Những thành quả ngoại giao của Mặt trận giai đoạn 1960-1965 66
2.3 Hoạt động ngoại giao của MTDTGPMNVN giai đoạn 1965 – 1968 vì mục tiêu đoàn kết, mở rộng bang giao quốc tế 72
2.3.1 Định hướng hoạt động và nhiệm vụ ngoại giao của nước VNDCCH và của MTDTGPMNVN 722.3.2 Phương châm và hình thức tiến hành ngoại giao của MTDTGPMNVN 752.3.3 Những hoạt động ngoại giao cụ thể của MTDTGPMNVN giai đoạn 1965-
1968 762.3.4 Thành quả của hoạt động ngoại giao Mặt trận – Một đóng góp quan trọng trong việc xây dựng hình ảnh lực lượng cách mạng miền Nam trên trường quốc tế 83
CHƯƠNG 3: HOẠT ĐỘNG NGOẠI GIAO CỦA CHÍNH PHỦ CÁCH MẠNG LÂM THỜI CỘNG HÒA MIỀN NAM VIỆT NAM (1969-1975) 85 3.1 CPCMLTCHMNVN – Bước chuyển đổi tất yếu đánh dấu thắng lợi bước đầu, cơ bản của cuộc kháng chiến chống Mỹ ở miền Nam Việt Nam 85 3.2 Hướng đến Hội nghị Pari vì một giải pháp hòa bình giải quyết vấn
đề chiến tranh Việt Nam 1969 - 1973 91 3.3 Hoạt động ngoại giao của CPCMLTCHMNVN giai đoạn sau ký kết Hiệp định Paris ngày 17-1-1973 đến 1975 108 CHƯƠNG 4: THÀNH TỰU VÀ Ý NGHĨA HOẠT ĐỘNG NGOẠI GIAO CỦA MẶT TRẬN DÂN TỘC GIẢI PHÓNG MIỀN NAM VIỆT NAM VÀ CHÍNH PHỦ CÁCH MẠNG LÂM THỜI CỘNG HÒA MIỀN NAM VIỆT NAM 120 4.1 Những thành tựu của hoạt động ngoại giao 120 4.2 Ý nghĩa hoạt động ngoại giao của MTDTGPMNVN và CPCMLTCH MN VN 135 4.3 Vai trò lãnh đạo của Đảng, Nhà nước, Mặt trận đối với thắng lợi của cuộc đấu tranh ngoại giao 143 KẾT LUẬN 149
Trang 8TÀI LIỆU THAM KHẢO 153 PHỤ LỤC 160
Trang 9PH ẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do ch ọn đề tài và mục đích nghiên cứu
Hoạt động ngoại giao là một trong những yếu tố góp phần tạo nên sức mạnh của dân tộc Việt Nam trong suốt quá trình dựng nước và giữ nước Trong tiến trình lịch sử dân tộc, hoạt động ngoại giao không chỉ đóng góp to lớn về mặt chính trị
mà còn ảnh hưởng đến các lĩnh vực khác như kinh tế, quân sự, khoa học kỹ thuật
Ngày nay, hoạt động ngoại giao càng giữ vai trò quan trọng hơn Bởi không chỉ giữ vững môi trường hòa bình, tạo các điều kiện quốc tế thuận lợi cho công cuộc đổi mới, đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội, công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, mà còn đóng góp thiết thực vào công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, góp phần tích cực vào cuộc đấu tranh chung của nhân dân thế giới vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội
Nhìn lại lịch sử Việt Nam, từ thời kỳ độc lập tự chủ, các triều đại phong kiến nước ta đã chú trọng đến hoạt động ngoại giao Nhờ đó mà sau các cuộc kháng chiến chống xâm lược phương Bắc, nước ta có được thời gian lâu dài để khôi phục và phát triển đất nước Như vậy, hoạt động ngoại giao khéo léo sẽ đem đến những hiệu quả to lớn
Trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ cứu nước, bên cạnh hoạt động đấu tranh trực diện với kẻ thù trên mặt trận chính trị, quân sự, binh vận Đảng Cộng sản Việt Nam xem hoạt động ngoại giao là một phần không thể thiếu của cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc Công tác ngoại giao trong giai đoạn này đã thể hiện được
sự đúng đắn, tính chính nghĩa của nhân dân Việt Nam, tạo được sự đồng tình ủng
hộ của nhân dân các nước, của các tổ chức quốc tế và khu vực trên thế giới Kết quả từ hoạt động ngoại giao đó đã góp phần mang lại thắng lợi cuối cùng của cuộc kháng chiến - giải phóng hoàn toàn Miền Nam thống nhất đất nước vào mùa xuân năm 1975
Xuất phát từ điều kiện thực tế của nước ta, từ những khác biệt, những cản trở trong dư luận quốc tế và hoàn cảnh đấu tranh khác nhau của hai miền Nam –
Trang 10Bắc, ngoại giao Việt Nam trong giai đoạn chống Mỹ, cứu nước phải chia thành hai
bộ phận: miền Bắc có hoạt động ngoại giao của Bộ Ngoại giao Nước Việt Nam Dân chủ Cộng Hòa (VNDCCH), miền Nam hoạt động ngoại giao dưới sự lãnh đạo của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam (MTDTGPMNVN) và sau năm 1969 là hoạt động ngoại giao của Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam (CPCMLTCHMNVN) Những thắng lợi ngoại giao trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước đã thể hiện sinh động, rõ nét sự lãnh đạo đúng đắn, sáng tạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh Những bài học kinh nghiệm từ hoạt động ngoại giao trong giai đoạn này cho đến hôm nay vẫn có giá trị rất cao, nhất là với hình thức ngoại giao nhân dân Chính vì thế, nghiên cứu về hoạt động ngoại giao của MTDTGPMNVN và của CPCMLTCHMNVN, trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước không chỉ dựng lại bức tranh tổng thể và sinh động về hoạt động ngoại giao phong phú của lực lượng cách mạng trong thời
kỳ chống Mỹ, mà còn rút ra nhiều bài học quý báu cho hoạt động ngoại giao của Việt Nam trong giai đoạn hậu chiến tranh lạnh và toàn cầu hóa mạnh mẽ hiện nay
Nghiên cứu về “Hoạt động ngoại giao của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam và Chính phủ lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam thời
kỳ 1960-1975” giúp ích cho việc tìm hiểu sâu hơn lịch sử Việt Nam thời kỳ hiện
đại, một giai đoạn lịch sử quan trọng trong tiến trình lịch sử Việt Nam, là nội dung trọng tâm của chương trình phổ thông Giúp hiểu biết hoàn chỉnh giai đoạn lịch sử chống Mỹ của dân tộc Việt Nam tạo điều kiện tốt cho việc giảng dạy lịch sử ở trường phổ thông trung học nhất là khối lớp 12
2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu chính của đề tài “Hoạt động ngoại giao của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam và Chính phủ Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam thời kỳ 1960 - 1975” là các hoạt động ngoại giao của
MTDTGPMNVN và CPCMLTCHMNVN Tuy nhiên, trong quá trình nghiên cứu chi tiết hoạt động ngoại giao giai đoạn 1960 – 1975, luận văn cũng đồng thời tìm
Trang 11hiểu các chính sách ngoại giao của nhà nước VNDCCH và ảnh hưởng qua lại của hai hoạt động ngoại giao này cho công cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước
Phạm vi không gian nghiên cứu của đề tài là những mối quan hệ quốc tế trong đó quan trọng nhất là quan hệ quốc tế trong giai đoạn 1960 – 1975 liên quan đến cuộc chiến tranh ở miền Nam Việt Nam và địa bàn hoạt động của MTDTGPMNVN và CPCMLTCHMNVN
Phạm vi thời gian là từ khi MTDTGPMNVN ra đời (năm 1960) đến khi cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước thắng lợi hoàn toàn (năm 1975) Tuy nhiên,
để có cái nhìn tổng thể, luận văn cũng sẽ tìm hiểu bối cảnh chung của cả Việt Nam
và thế giới sau Chiến tranh thế giới lần thứ hai, đặc biệt là sau cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp thắng lợi năm 1954, đến việc Mỹ nhảy vào Đông Dương thực hiện các chính sách thực dân kiểu mới ở miền Nam Việt Nam
3 Phương pháp nghiên cứu
Để làm sáng tỏ vấn đề nghiên cứu của đề tài, luận văn sử dụng hai phương pháp nghiên cứu chính là phương pháp lịch sử và phương pháp logic
Phương pháp lịch sử áp dụng trong luận văn nhằm tập hợp, phân tích đánh giá các hoạt động ngoại giao trong các hoàn cảnh cụ thể theo trình tự không gian
và thời gian Bên cạnh đó, sử dụng phương pháp logic là để phân tích tác động, mối liên hệ qua lại giữa các hoạt động ngoại giao đưa đến thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước
Ngoài ra, luận văn còn sử dụng một số phương pháp khác như phương pháp thống kê, phương pháp suy luận, phương pháp diễn dịch để góp phần làm sáng tỏ thêm các nhận định, đánh giá trong luận văn
Trang 12nghiên cứu về giai đoạn chống Mỹ, trong đó hoạt động ngoại giao là một phần không thể thiếu của đấu tranh cách mạng Một số công trình chính có thể kể đến là:
- Cuốn sách Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam 1977) của hai tác giả Hà Minh Hồng và Trần Nam Tiến do Nxb Tổng Hợp TP.HCM xuất bản năm 2010 Sách giới thiệu ngắn gọn nhưng tương đối đầy đủ về MTDTGPMNVN với những nội dung cơ bản về qua trình ra đời, hoạt động và vai trò của Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Trong đó nêu khá cụ thể các vấn đề: Bối cảnh lịch sử và những tiền đề trực tiếp của sự ra đời Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng, cương lĩnh của MTDTGPMNVN, cuộc kháng chiến của nhân dân miền Nam dưới sự lãnh đạo của Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng
(1960 Công trình Chung một bóng cờ do Luật sư Nguyễn Hữu Thọ chủ biên,
Nxb Chính trị Quốc gia Hà Nội xuất bản năm 1993 Đây là một tập hợp các bài viết về MTDTGPMNVN của những người đã từng tham gia lãnh đạo trong Mặt trận như LS Nguyễn Hữu Thọ - Chủ tịch Mặt trận, Thượng tướng Trần Văn Trà, Tướng Trần Nam Trung - Đại diện lực lượng vũ trang nhân dân sau là Bộ trưởng
Bộ quốc phòng của CPCMLTCHMNVN, Trần Bạch Đằng - Chủ tịch hội liên hiệp thanh niên giải phóng miền Nam Việt Nam Những bài viết trong công trình trình bày nhiều khía cạnh khác nhau của cuộc kháng chiến, từ chính trị, quân sự, binh vận, ngoại giao, trên địa bàn nông thôn, rừng núi, đô thị và với sự đấu tranh của các tầng lớp giai cấp trong xã hội như nông dân, phụ nữ, trí thức Bên cạnh đó, công trình còn có phần phụ lục khá đầy đủ về hệ thống tổ chức và một số hình ảnh
về CPCMLTCHMNVN
- Tác phẩm Ngọn cờ vẻ vang của Đinh Phong và Trần Thanh Phương, Nxb
Văn hóa Thông tin năm 2010 Công trình viết nhân kỷ niệm 50 năm ngày thành lập CPCMLTCHMNVN gồm một tập hợp những văn kiện, ý kiến chỉ đạo, các bài báo cáo, tham luận, liên quan đến quá trình hoạt động của CPCMLTCH MNVN và các cuộc đấu tranh của nhân dân miền Nam trên các mặt trận, các vùng chiến lược
- Luận văn thạc sĩ của Đoàn Luyến với đề tài Vai trò của MTDTGP MNVN trong cuộc kháng chiến chống Mỹ (1960-1968), bảo vệ tại Trường Đại học Sư
phạm TP HCM năm 2007 Luận văn giới thiệu tổng quan về hoạt động của Mặt
Trang 13Trận Dân Tộc Giải Phóng giai đoạn 1960-1968 Trong đó đề cập đến hoàn cảnh ra đời, hoạt động chính trị, quân sự, ngoại giao của mặt trận từ năm 1960 - 1968 Qua
đó, nêu bật vai trò của Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng trong sự nghiệp đấu tranh chống Mỹ cứu nước, giải phóng dân tộc, thực hiện nhiệm vụ thống nhất đất nước
- Cuốn sách Ngoại giao Việt Nam 1945-2000 do Nguyễn Đình Bin chủ
biên, Nxb CTQG Hà Nội năm 2002, là một công trình nghiên cứu khoa học công phu của tập thể các nhà ngoại giao, các chuyên gia hàng đầu về quan hệ quốc tế của nước ta như Nguyễn Mạnh Cầm - nguyên Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Bộ ngoại giao, Đinh Nho Liêm, Trần Quang Cơ, Hà Văn Lâu Sách phát họa những nét chính của hoạt động ngoại giao Việt Nam từ năm 1945 - 2000 và hệ thống lại những sự kiện ngoại giao của Việt Nam
- Cuốn Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam (1960-1975) là
Luận văn Thạc Sĩ Lịch sử của Nguyễn Thanh Hải, Trường ĐHKHXH-NV TP HCM, bảo vệ năm 1997 Luận văn chủ yếu khái quát toàn bộ các hoạt động của Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng từ năm 1960-1975 như hoàn cảnh ra đời hoạt động chính trị, quân sự; một số sự kiện về hoạt động ngoại giao và đề cập sơ lược về vai trò của Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng
- Cuốn sách Mặt trận dân tộc giải phóng, Chính phủ cách mạng lâm thời tại hội nghị Paris về Việt Nam, Nguyễn Thị Bình chủ biên, Nxb CTQG năm 2001
Sách ra đời nhân kỷ niệm 40 năm ngày thành lập MTDTGPMNVN Trong đó các tác giả đã phát họa bức tranh sống động về quá trình đấu tranh đàm phán, qua báo chí, qua dư luận quốc tế từ ngày mở đầu hội nghị bốn bên đến khi ký kết hiệp định Paris và thời gian thi hành hiệp định
- Cuốn sách Luật sư Nguyễn Hữu Thọ - gắn bó với dân tộc, với nhân dân, với cách mạng, Trần Bạch Đằng chủ biên, Nxb CTQG Hà Nội xuất bản năm 1996
Đây là tập hợp các bài viết, các bài phát biểu và các văn kiện của LS Nguyễn Hữu Thọ trong suốt thời kỳ lãnh đạo cách mạng miền Nam qua tổ chức MTDTGP MNVN và một số bài viết cảm nghĩ về những đóng góp, những cảm tình của các
giới dành cho LS Nguyễn Hữu Thọ
Trang 14- Luật sư Nguyễn Hữu Thọ, người con tận trung với nước, tận hiếu với dân, sách do Trần Bạch Đằng chủ biên, Nxb CTQG Hà Nội xuất bản năm 1998 Nhóm tác giả trong đó có Trần Bạch Đằng người đã gắn bó với Luật sư Nguyễn Hữu Thọ từ thời MTDTGPMNVN đến những năm sau khi đất nước thống nhất Nội dung chính của sách là những đóng góp to lớn, quãng đời hoạt động cách
mạng, cảm tình của đồng bào đồng chí và bạn bè thế giới đối với LS Nguyễn Hữu Thọ
- Cuốn sách Ngoại giao và công tác ngoại giao của tác giả Vũ Dương
Huân, Nxb CTQG Hà Nội năm 2009 Nội dung sách giới thiệu những khái niệm, những hình thức ngoại giao và quá trình hình thành khái niệm ngoại giao trong lịch
sử Qua đó, sách giúp người đọc biết chính xác hơn về hoạt động ngoại giao và các hình thực liên quan nhất là sự đa dạng, phong phú của các hình thức ngoại giao thời đại hiện nay
- Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Văn kiện Đảng về Mặt trận dân tộc Thống nhất Việt Nam, tập 2 (1945-1977) do NXB CTQG Hà Nội in
2001 Nội dung sách là tập hợp các văn kiện cơ bản của Đảng Cộng sản Việt Nam,
có liên quan đến đường lối hoạt động của Mặt Trận Thống Nhất Việt Nam trong
đó có thời kỳ 1960-1975 của MTDTGPMNVN
Qua phần trình bày lịch sử nghiên cứu vấn đề như trên cho thấy cho đến hiện nay vẫn còn thiếu những công trình nghiên cứu về hoạt động ngoại giao xuyên suốt của MTDTGPMNVN và CPCMLTCHMNVN ở miền Nam Việt Nam
trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, cứu nước Vì vậy, tôi đã chọn đề tài “HOẠT
ĐỘNG NGOẠI GIAO CỦA MẶT TRẬN DÂN TỘC GIẢI PHÓNG MIỀN NAM VIỆT NAM VÀ CHÍNH PHỦ LÂM THỜI CỘNG HÒA MIỀN NAM VIỆT NAM THỜI KỲ 1960 - 1975” làm luận văn tốt nghiệp Thạc sĩ Tuy nhiên,
các tác phẩm, luận văn, công trình nghiên cứu kể trên đã tạo điều kiện cho việc nghiên cứu và tiếp cận các vấn đề cần tìm hiểu của luận văn Trong quá trình thực hiện đề tài, tác giả luận văn đã kế thừa và tiếp thu có chọn lọc kết quả nghiên cứu của nhiều công trình nghiên cứu trước
Trang 155 C ấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và tài liệu tham khảo, nội dung luận văn được chia làm bốn chương chính Tên nội dung cụ thể từng chương như sau:
Chương 1: Sự thành lập Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam 1959– 1960
Chương 2: Hoạt động ngoại giao của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam 1960 – 1968
Chương 3: Hoạt động ngoại giao của Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam giai đoạn 1969 – 1975
Chương 4: Thành tựu và ý nghĩa hoạt động ngoại giao của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam và Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước
6 Đóng góp của luận văn
Qua nghiên cứu “Hoạt động ngoại giao của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam và Chính phủ Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam thời
kỳ 1960-1975” đề tài có một số đóng góp sau:
- Phục dựng có hệ thống toàn cảnh hoạt động ngoại giao của MTDTGPMNVN trong thời kỳ chống Mỹ cứu nước, một thời kỳ vô vàn khó khăn thử thách của dân tộc Việt Nam Trong khó khăn thử thách đó lực lượng cách mạng Việt Nam đã vươn lên không ngừng, đã đem lại những thành quả to lớn trong cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân
- Phân tích thành quả lớn nhất của hoạt động ngoại giao là tạo nên dư luận quốc tế tốt, đầy thiện cảm đối với cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam Đó chính là những phong trào, những diễn đàn chống chiến tranh
ở các hội nghị quốc tế, ở các nước trên thế nhằm mục đích hỗ trợ cho cuộc chiến đấu chống Mỹ, cứu nước của nhân dân miền Nam
- Qua nghiên cứu về hoạt động ngoại giao, chứng tỏ sự sáng suốt, linh hoạt, sáng tạo trong đường lối lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam trong cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc, thống nhất đất nước
Trang 16Bên cạnh ý nghĩa khoa học, việc nghiên cứu đề tài còn đem lại những bài học thực tiễn quý giá cho hoạt động ngoại giao hiện nay Trong mối quan hệ quốc
tế mới, với xu hướng toàn cầu hóa, các quốc gia dân tộc trên thế giới đều chung tay với nhau trên mọi lĩnh vực không phân biệt dân tộc, tôn giáo và cả chính trị nhằm xây dựng một thế giới hòa bình, hợp tác, hữu nghị và cùng tiến bộ Với một thế giới có xu hướng như thế thì hoạt động ngoại giao là một lĩnh vực hoạt động có vai trò quan trọng trong quản lý nhà nước, quyết định sự phát triển của cả quốc gia dân tộc Những bài học kinh nghiệm về hoạt động ngoại giao trong lịch sử Việt Nam sẽ góp phần đưa đất nước phát triển, làm cho dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh
CHƯƠNG 1: QUÁ TRÌNH THÀNH LẬP MẶT TRẬN DÂN TỘC GIẢI PHÓNG MIỀN NAM VIỆT NAM (1954 - 1960)
Trang 171.1 M ột số khái niệm chung
lập một tổ chức mang tên “MTDTGPMNVN” Đây là “Mặt trận” tập hợp mọi thành phần, mọi tầng lớp nhân dân đoàn kết chống giặc vì quốc gia dân tộc
Ngay từ Chính cương vắn tắt và Sách lược vắn tắt được thông qua tại Hội
nghị thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (2-1939) do lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc chủ trì đã vạch ra sự cần thiết phải xây dựng một Mặt trận Dân tộc thống nhất nhằm đoàn kết các giai tầng trong xã hội, các tổ chức chính trị, các cá nhân phát huy truyền thống yêu nước, phấn đấu cho sự nghiệp giải phóng dân tộc
Đảng Cộng sản Việt Nam - người chủ xướng việc hình thành Mặt trận Dân tộc thống nhất trong thời hiện đại - vừa là thành viên tích cực của Mặt trận vừa được các thành viên của Mặt trận thừa nhận vai trò lãnh đạo
Từ sau khi Đảng Cộng sản Việt Nam thành lập, dựa vào tình hình thực tế của từng giai đoạn lịch sử cụ thể, Đảng đã lãnh đạo thành lập tổ chức mặt trận với quy mô, tính chất, hình thức hoạt động phù hợp yêu cầu của từng hoàn cảnh lịch sử
cụ thể
Trang 18Nhằm phát huy sức mạnh dân tộc vào sự nghiệp giải phóng dân tộc Các hình thức Mặt trận tiêu biểu qua các thời kỳ gồm có:
Hội phản đế Đồng Minh (18-11-1930)
Sau khi thành lập Đảng, phong trào cách mạng phản đế, phản phong diễn ra sôi nổi trong cả nước với đỉnh cao là Xô viết Nghệ Tĩnh Qua phong trào các tổ chức chính trị với các hệ tư tưởng khác nhau đã gặp nhau ở mục tiêu giải phóng dân tộc lần lượt xuất hiện với sự tham gia của nhiều tầng lớp, nhiều dân tộc Việc tham gia cách mạng của các tầng lớp xã hội cũng khẳng định năng lực cách mạng của các giai tầng trong xã hội, khẳng định vị trí đặc biệt và hệ tư tưởng của giai cấp công nhân với việc định hướng cho cuộc cách mạng giải phóng dân tộc Quá trình đấu tranh cách mạng đã khẳng định khối liên minh công - nông là cơ sở của
Mặt trận Dân tộc thống nhất do Đảng chủ xướng Trong Nghị quyết về vấn đề
phản đế, tại Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương
tháng 10 năm 1930 đã nêu rõ sự cấp thiết phải thành lập Mặt trận Thống nhất Phản
đế “Ngày 18/11/1930 Ban Thường vụ Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương
đã ra Chỉ thị thành lập Hội Phản đế Đồng minh hình thức đầu tiên của Mặt trận Dân tộc thống nhất dưới sự lãnh đạo của Đảng” [52]
Phản đế Liên Minh (3-1935)
Sau những hoạt động tập hợp của “Hội phản đế Đồng minh”, trong hoàn cảnh cần phải tăng cường sức mạnh của tất cả các tầng lớp, các tổ chức yêu nước cho sự nghiệp cách mạng và mở rộng hoạt động của hình thức Mặt trận thống
nhất, “Tháng 3 năm 1935, Đại hội Đảng lần thứ nhất đã thông qua nghị quyết về
công tác Phản đế liên minh, quyết định thành lập và thông qua điều lệ của tổ chức này nhằm tập hợp tất cả các lực lượng phản đế toàn Đông dương Điều lệ của Phản đế Liên minh rộng và linh hoạt hơn Điều lệ Hội phản đế đồng minh Bất kỳ người hoặc đoàn thể nào thừa nhận nghị quyết, Điều lệ và thường xuyên nộp hội phí thì được thừa nhận là hội viên” [52] Như vậy, hình thức Mặt trận đã được
nâng cao lên một bước
Mặt trận Thống nhất nhân dân phản đế (10-1936)
“Mặt trận thống nhất nhân dân Phản đế” thành lập nhằm khắc phục những sai lầm trong quá trình hoạt động của “Phản đế liên minh” thời kỳ trước Ngày 30-
Trang 1910-1936 “Việc tập hợp lực lượng trong Mặt trận được công khai qua bức thư ngỏ của Đảng Cộng sản Đông Dương gửi cho Chính phủ Mặt trận nhân dân Pháp bày
tỏ sự đồng minh với nhân dân Pháp, kêu gọi ban hành một số quyền tự do dân chủ
cơ bản cho nhân dân Đông Dương và hô hào "tất cả các đảng phái chính trị, tất
cả các tầng lớp nhân dân Đông Dương tham gia Mặt trận nhân dân Đông Dương" ” [52]
Mặt trận Dân chủ Đông Dương (6-1938)
Từ năm 1936, tình hình thế giới có nhiều biến động ảnh hưởng đến Việt Nam, đặc biệt là Mặt trận nhân dân chống phát xít ở Pháp hình thành và phát triển
Họ gặt hái được thành công rực rỡ là đã thắng lợi trong việc ngăn chặn chủ nghĩa phát xít hình thành ở Pháp, lập nên chính phủ mới - chính phủ Mặt trận nhân dân Pháp với nhiều chính sách tiến bộ, trong đó có những chính sách liên quan đến các thuộc địa Sau khi Mặt trận nhân dân Pháp lên cầm quyền, trong bản chương trình hành động của Mặt trận có nêu việc thành lập một “Ủy ban” của Nghị viện điều tra tình hình chính trị và kinh tế ở các thuộc địa Trước hoàn cảnh mới đó, hình thức mới trong cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc của nhân dân Việt Nam là tận dụng cao nhất sự tiến bộ của chính phủ mới để đem đến quyền lợi cho nhân dân Đông Dương Cùng với các thuộc địa khác của Pháp, Đảng Cộng sản Đông Dương kêu gọi "tiến tới một cuộc Đông Dương Đại hội" làm dấy lên một phong trào sôi nổi trong nhân dân cả nước
Tháng 9-1937 các tổ chức đoàn thể nhanh chóng hình thành như Thanh niên Dân chủ Đông Dương, Hội Cứu tế bình dân, Công hội, Nông hội ra đời cùng với việc hoạt động công khai và nửa công khai của các tổ chức quần chúng như hội ái hữu, tương tế, các hội hoạt động âm nhạc qua đó từng bước hình thành Mặt trận Dân chủ Đông Dương
“Tháng 6/1938 Đảng Cộng sản Đông Dương gửi thư công khai cho các đảng phái đề nghị gác các ý kiến bất đồng để "bước tới thành lập Mặt trận Dân chủ Đông Dương" chính trong thời kỳ này từ những phong trào Mặt trận đã dần hình thành Mặt trận với tính chất của một tổ chức” [52]
Mặt trận Dân tộc Thống nhất Phản đế Đông Dương (1-1939)
Năm 1939, chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ, Mặt trận Dân chủ Đông dương bị thực dân Pháp thẳng tay đàn áp Pháp liên tục bại trận trên chiến trường
Trang 20Tình thế khó khăn của các thuộc địa Pháp bị đe dọa, “tháng 11/1939 Đảng Cộng
sản Đông Dương đã kịp thời chuyển hướng chỉ đạo, chuyển cuộc vận động Mặt trận Dân chủ thành Mặt trận Dân tộc thống nhất chống chiến tranh đế quốc với tên gọi chính thức: Mặt trận Dân tộc Thống nhất Phản đế Đông Dương” [52]
nhằm liên hiệp tất cả các dân tộc Đông Dương, các giai tầng, đảng phái, cá nhân có tinh thần phản đế muốn giải phóng dân tộc chống đế quốc, bè lũ tay sai của chúng
và vua chúa bản xứ phản bội quyền lợi dân tộc Các tổ chức phản đế phát triển nhanh chóng dưới hình thức bí mật và công khai
Việt Nam Độc lập Đồng minh Hội (Việt Minh - 19-5-1941)
Năm 1940, Nhật kéo vào Đông Dương, thực dân Pháp đầu hàng và làm tay sai cho phát xít Nhật Tại Hội nghị Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ
8, theo đề nghị của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc, Mặt trận Dân tộc Thống nhất chống phát xít Pháp - Nhật với tên gọi Việt Nam Độc lập Đồng minh gọi tắt là Việt Minh
đã ra đời ngày 19-5-1941 lấy cờ đỏ sao vàng năm cánh làm cờ của Việt minh và làm cờ Tổ quốc "khi thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà"
Mặt trận Việt minh thu hút được mọi giới đồng bào yêu nước, từ công nhân, nông dân, trí thức, tiểu tư sản đến tư sản dân tộc, phú nông và một số địa chủ nhỏ
có tinh thần yêu nước, đưa tới cao trào đánh Pháp, đuổi Nhật của toàn dân ta trong những năm 1941-1945, Mặt trận Việt minh là một trong những nhân tố cơ bản bảo đảm cho cách mạng thành công
“Từ sáng kiến triệu tập toàn quốc đại biểu đại hội, Quốc dân Đại hội do Tổng bộ Việt minh triệu tập họp ở Tân Trào trong 2 ngày 16 - 17/8/1945 đã thông qua lệnh tổng khởi nghĩa, quyết định quốc kỳ, quốc ca và cử ra Ủy ban giải phóng dân tộc tức là Chính phủ Lâm thời do Hồ Chí Minh làm Chủ tịch Ngày 2/9/1945 Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt Chính phủ Lâm thời đọc Tuyên ngôn Độc lập, đại biểu tổng bộ Việt Minh Nguyễn Lương Bằng đọc lời hiệu triệu đồng bào cả nước”
[52]
Hội Liên hiệp Quốc dân Việt Nam (Hội Liên Việt - 29-5-1946)
Năm 1946, giữa lúc nước VNDCCH vừa ra đời phải đương đầu với nhiều
khó khăn lớn, một Ban vận động thành lập Hội liên hiệp quốc dân Việt Nam gồm
Trang 2127 người với đại biểu Việt minh là Hồ Chí Minh, được thành lập nhằm mở rộng hơn nữa khối đoàn kết dân tộc
Việt Minh và Liên Việt đã cùng nhau làm chỗ dựa vững chắc cho chính quyền Cách mạng non trẻ đối phó có hiệu lực với thù trong giặc ngoài
Mặt trận Liên Việt (3-3-1951)
Năm 1951, với các chủ trương đường lối đúng đắn của Đảng Lao động Việt Nam và sự ủng hộ tích cực của các Đảng Xã hội, Đảng Dân chủ, các tổ chức chính trị, các nhân sĩ trí thức trong Mặt trận Việt Minh và Hội Liên Việt, hai tổ
chức Mặt trận được hợp nhất thành Mặt trận Liên Việt
Mặt trận Liên Việt đã góp phần động viên công sức của toàn quân, toàn dân lập nên chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ, đưa đến việc ký kết hiệp định Genève năm 1954 công nhận chủ quyền, độc lập, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của nước Việt Nam
Mặt trận tổ quốc Việt Nam (10-9-1955)
Đế quốc Mỹ nhảy vào miền Nam Việt Nam, hất cẳng Pháp và phá hoại Hiệp định Genève, chiếm đóng miền Nam, âm mưu chia cắt lâu dài nước ta Cách mạng nước ta lúc này có hai nhiệm vụ chiến lược là tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc và hoàn thành cách mạng Dân tộc Dân chủ ở miền Nam, thực hiện thống nhất nước nhà
Ngày 10.9.1955, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam ra đời nhằm đoàn kết mọi lực lượng dân tộc và dân chủ, đấu tranh đánh bại đế quốc Mỹ xâm lược và tay sai, xây dựng một nước Việt Nam hoà bình thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã phát huy tác dụng to lớn của mình trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước cũng như trong sự nghiệp cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc Mặt trận cũng đã động viên đồng bào và chiến sĩ đánh thắng hai cuộc chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ và đáp ứng các yêu cầu của cuộc đấu tranh yêu nước của đồng bào miền Nam Ngoài ra, Mặt trận đã tích cực tham gia cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với nông nghiệp, thủ công nghiệp, thương nghiệp nhỏ
và giúp đỡ các nhà tư sản dân tộc thông suốt chính sách làm cho cuộc cải tạo công thương nghiệp tư bản tư doanh tiến hành thuận lợi, đạt kết quả Mặt trận đã tích
Trang 22cực góp phần phát huy quyền làm chủ của nhân dân, ra sức động viên nhân dân tham gia bầu cử Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp, xây dựng chính quyền cách mạng, phát triển sản xuất, xây dựng kinh tế, thực hiện nếp sống mới, xây dựng con người mới
“Đại hội Mặt trận Dân tộc thống nhất họp từ 31-1 đến 4-2-1977 tại thành phố Hồ Chí Minh đã thống nhất ba tổ chức Mặt trận ở hai miền Nam Bắc nước ta thành một tổ chức Mặt trận Dân tộc thống nhất duy nhất lấy tên là Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.” [52]
Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam (20-12-1960)
Sau hiệp định Genève, quá trình can thiệp trực tiếp của Mỹ vào miền Nam
đã ngăn cản quá trình thống nhất đất nước Miền Nam bị biến thành thuộc địa kiểu mới của Mỹ và trở thành đầu mối của chính sách ngăn chặn cộng sản ở khu vực Đông Nam Á của Nhà trắng Quá trình chống can thiệp Mỹ đã dẫn đến phong trào
“đồng khởi” của đồng bào miền Nam, một bước chuyển hướng chiến lược của cách mạng miền Nam từ thế giữ gìn lực lượng sang thế tiến công Từ thành quả của phong trào “đồng khởi”, Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam ra đời (20-12-1960) đảm nhận nhiệm vụ đoàn kết toàn dân miền Nam, lãnh đạo nhân dân miền Nam đánh bại chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ, đánh đổ nguỵ quyền tay sai của chúng, giải phóng miền Nam, tiến tới thống nhất Tổ quốc Mặt trận Dân tộc Giải phóng đã tập hợp dưới ngọn cờ của mình các tầng lớp nhân dân, các tổ chức và mọi người Việt Nam yêu nước, để cùng nhau chống Mỹ cứu nước
Mặt trận Dân tộc Giải phóng không ngừng củng cố và mở rộng khối đoàn kết dân tộc, tổ chức và động viên đồng bào và chiến sĩ miền Nam đẩy mạnh đấu tranh trên cả ba mặt trận: quân sự, chính trị và ngoại giao Ảnh hưởng của Mặt trận Dân tộc Giải phóng không ngừng được mở rộng trong các tầng lớp nhân dân miền Nam và uy tín của mặt trận đã được nâng cao trên trường quốc tế
Liên minh các lực lượng Dân tộc, Dân chủ và Hòa bình Việt Nam 1968)
(20-4-Trong cuộc tổng tiến công và nổi dậy xuân Mậu Thân (1968) Liên minh các lực lượng Dân tộc, Dân chủ và Hoà bình Việt Nam ra đời (20-4-1968) Đây là tổ
Trang 23chức hình thành từ các phong trào đấu tranh yêu nước của các giới sinh viên, học sinh, trí thức, đồng bào tôn giáo, công thương gia, nhân sĩ dân chủ tại các thành thị miền Nam Liên minh các lực lượng Dân tộc, Dân chủ và Hoà bình Việt Nam đã góp phần động viên thúc đẩy các phong trào đấu tranh tại thành thị, tăng thêm sức mạnh cho khối đoàn kết toàn dân, chống Mỹ cứu nước
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam và Liên minh các lực lượng Dân tộc, Dân chủ và Hoà bình Việt Nam đã luôn luôn hợp tác chặt chẽ, hỗ trợ nhau tạo nên một sức mạnh không gì lay chuyển nổi của khối đại đoàn kết dân tộc, đưa cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của toàn dân đến thắng lợi hoàn toàn, hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, thực hiện thống nhất nước nhà
1.1.2 Khái niệm về ngoại giao
Để đi sâu nghiên cứu hoạt động ngoại giao cần tìm hiểu một cách chính
xác khái niệm “ngoại giao”, theo tài liệu “Ngoại giao và công tác ngoại giao” của
Vũ Dương Huân thì: “Ngoại giao là một khoa học mang tính tổng hợp, một nghệ
thuật của những khả năng, là hoạt động của các cơ quan làm công tác ngoại giao
và các đại diện có thẩm quyền, là công tác ngoại giao của nhà nước, bảo vệ quyền lợi, lợi ích, quyền hạn quốc gia, dân tộc ở trong nước và trên thế giới, giải quyết các vấn đề quốc tế chung bằng con đường đàm phán và các hình thức hòa bình khác” [23-20]
Hoạt động ngoại giao có nhiều hình thức, nhưng ảnh hưởng lớn và mang tính quyết định đến mối quan hệ ngoại giao giữa các quốc gia dân tộc trên thế giới chủ yếu diễn ra giữa chính phủ quốc gia này với chính phủ quốc gia khác đó là ngoại giao nhà nước Chính phủ đó là một đại diện pháp lý quốc tế chính thức có quyền đại diện cho quốc gia dân tộc đó quyết định các vấn đề quốc tế liên quan đến quốc gia mình Do đó, trên mối quan hệ ngoại giao hình thức chủ yếu, phổ biến nhất là ngoại giao nhà nước
Ngoại giao nhà nước
Trang 24Trong thời kỳ hiện đại nhất là trong giai đoạn sau chiến tranh Thế giới thứ
II hoạt động ngoại giao phổ biến và có vai trò quan trọng trên chính trường quốc tế
là hình thức ngoại giao nhà nước
Theo “Từ điển bách khoa Việt Nam”, ngoại giao được xem như là một hoạt
động dành riêng cho chính quyền đương thời của quốc gia đó, đó là: “Ngành khoa
học mang tính tổng hợp, một nghệ thuật của những khả năng; là hoạt động chính thức của các cơ quan làm công tác ngoại giao và các đại diện có thẩm quyền thực hiện các nhiệm vụ, chính sách ngoại giao của nhà nước, nhằm bảo vệ các quyền
và lợi ích của nước mình, của các cơ quan tổ chức và công dân nước mình ở nước ngoài, góp phần giải quyết các vấn đề quốc tế bằng con đường đàm phán và các hình thức hoà bình khác
Trước kia, ngoại giao là công việc của các Bộ trưởng Ngoại giao, các Đại sứ hoặc Phái viên đặc biệt Trong những thập kỉ gần đây, các vị nguyên thủ quốc gia, đứng đầu chính phủ cũng làm công việc ngoại giao thông qua những cuộc gặp thượng đỉnh, những chuyến viếng thăm chính thức, viếng thăm làm việc
và đàm phán ở cấp cao Ngoại giao còn được tiến hành trong các cuộc hội nghị và gặp mặt ngoại giao; chuẩn bị và kí kết các điều ước quốc tế hoặc các văn kiện ngoại giao khác giữa hai bên hay nhiều bên; tham gia hoạt động của các tổ chức quốc tế và các cơ quan của những tổ chức này, vv.” [53]
Trong các phương thức hoạt động ngoại giao hiện đại, “Đàm phán là nghệ
thuật nhằm ngăn ngừa hoặc giải quyết các cuộc xung đột quốc tế, tìm kiếm thoả hiệp hoặc giải pháp mà các bên cùng chấp nhận được, phát triển sâu rộng hợp tác quốc tế” [53]
Ngoại giao nhân dân
Bên cạnh ngoại giao nhà nước là hình thức ngoại giao nhân dân Trong quá trình hoạt động của MTDTGPMNVN, đóng vai trò chủ đạo trong nhiệm vụ gây dựng và phát triển mối quan hệ quốc tế của Mặt trận chính là hình thức ngoại giao nhân dân Vậy, ngoại giao nhân dân được hiểu như thế nào? Có nguốn gốc ra sao?
Ngoại giao nhân dân bắt đầu hình thành từ mối quan hệ quốc tế sau thế chiến thứ hai Theo đó, các tổ chức nghiệp đoàn, các tổ chức phi chính phủ, các tổ chức quốc tế và khu vực hình thành ngày càng nhiều với những mục tiêu khác nhau Những tổ chức này xây dựng các mối quan hệ rộng rãi trên thế giới do đó đã
Trang 25hình thành loại hình hoạt động ngoại giao tổ chức đoàn thể, tổ chức phi chính phủ
… Các hình thức ngoại giao xác lập mối quan hệ quốc tế qua các tổ chức quốc tế
và khu vực bằng hoạt động của các hội đoàn mang tính quốc tế gọi là hình thức ngoại giao nhân dân
Trong quá trình hoạt động ngoại giao của MTDTGPMNVN và CPCMLT CHMNVN có cả hai hình thức ngoại giao là ngoại giao nhà nước và ngoại giao nhân dân Trong đó đóng vai trò chủ đạo đem đến thắng lợi cho hoạt động ngoại giao của Mặt trận giai đoạn 1960 – 1968 chủ yếu là hoạt động ngoại giao nhân dân Hoạt động ngoại giao trong giai đoạn CPCMLT CHMNVN 1969 – 1975 lại
có hình thức chủ yếu là ngoại giao nhà nước Ngoại giao nhân dân là hoạt động ngoại giao do các tổ chức nhân dân như Hội Thanh niên, Hội Phụ nữ, Tổ chức Công đoàn, Hội cựu chiến binh, Hội Nông dân, hoạt động ngoại giao của các tổ chức nghề nghiệp thực hiện Đây là hoạt động có tác động rất lớn đến ngoại giao nhà nước, nó làm cho vị thế các quốc gia ngày càng được nâng cao, mở rộng sự hiểu biết quốc tế, tạo ra một diễn đàn đấu tranh vì sự nghiệp hòa bình dân chủ và tiến bộ trên toàn thế giới Những tác động từ ngoại giao nhân dân tạo điều kiện cho hoạt động đàm phán trong ngoại giao đạt hiệu quả cao nhất Qua các tổ chức quốc
tế và khu vực, các tổ chức, đoàn thể trong nước có được sự cổ vũ động viên to lớn
từ khắp nơi trên thế giới
Theo từ điển bách khoa Việt Nam ngoại giao nhân dân được định nghĩa:
“Một hình thức thực hiện quan hệ ngoại giao, do các tổ chức hoặc cá nhân (thuộc nhiều lĩnh vực) tiến hành, không mang tính chất chính thức của chính phủ các nước Có nhiều hình thức phong phú: gặp gỡ, các cuộc đi thăm hữu nghị, hội đàm, trao đổi ý kiến, hội thảo, hội nghị quốc tế, fextivan, vv Trong những thập kỉ gần đây, ngoại giao nhân dân phát triển mạnh, đóng vai trò ngày càng to lớn trong việc thúc đẩy sự hiểu biết lẫn nhau và hợp tác có hiệu quả giữa các dân tộc, động viên dư luận thế giới đấu tranh vì hoà bình, giảm căng thẳng và giải trừ quân bị Nhiều khi ngoại giao nhân dân trở thành bước đi đầu tiên tạo thuận lợi và
mở đường cho việc thiết lập và phát triển quan hệ chính thức giữa các quốc gia
Trang 26Ở Việt Nam, Liên hiệp các Tổ chức Hữu nghị Việt Nam chịu trách nhiệm ngoại giao nhân dân” [53]
“Mục đích của ngoại giao nhân dân là góp phần tăng cường sự hiểu biết, đoàn kết và hữu nghị, hợp tác giữa các dân tộc, tạo môi trường thuận lợi cho phát triển quan hệ nhà nước” [22-27]
Ngoại giao nhân dân là hình thức hoạt động phổ biến của Mặt trận trong lĩnh vực ngoại giao nhằm nâng cao uy tín của Mặt trận trên trường quốc tế, mở rộng cuộc vận động chống Mỹ của nhân dân miền Nam, thu hút sự đồng tình ủng
hộ của nhân dân tiến bộ, yêu chuộng hòa bình trên thế giới Phục vụ cho cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của nhân dân miền Nam
Như vậy, trong suốt quá trình lãnh đạo đấu tranh cách mạng trong thời kỳ hiện đại, Đảng cộng sản Việt Nam đã sử dụng hiệu quả vai trò tập hợp lực lượng của tổ chức Mặt trận Trong đó có vai trò tập hợp lực lượng đấu tranh chống Mỹ bằng hoạt động ngoại giao Tất cả những yếu tố đó đã góp phần cho thắng lợi của đại thắng mùa xuân 1975, thống nhất đất nước
1.2 M ặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam ra đời – Một tất yếu lịch sử của cuộc đấu tranh cách mạng ở miền Nam
1.2.1 Mối quan hệ hai cực của chiến tranh lạnh sau chiến tranh thế giới thứ hai – Một yếu tố quan trọng tác động đến những biến động của cách mạng Việt Nam
Sau chiến tranh thế giới thứ hai cục diện chính trị thế giới có nhiều biến đổi, đặc biệt là sau năm 1945 hệ thống xã hội chủ nghĩa đã hình thành khắp nơi trên thế giới, nhất là ở Đông và Nam Âu Để ngăn chặn sự lớn mạnh của chủ nghĩa xã hội, tiến tới tiêu diệt các nước xã hội chủ nghĩa Mỹ đã hỗ trợ các nước đồng minh của mình ở châu Âu nhanh chóng phục hồi sau chiến tranh Do đó, Mỹ đã thực hiện kế hoạch Marshall năm 1947 Bên cạnh đó, Liên Xô cũng giúp đỡ các nước Đông Âu xây dựng lại nền kinh tế, ổn định chính trị thành lập chính quyền dân chủ nhân dân sau này trở thành các nhà nước xã hội chủ nghĩa, hình thành một lực lượng đoàn kết giúp đỡ nhau chống lại sự cô lập, phá hoại của các thế lực thân Mỹ, hỗ trợ cho các phong trào cách mạng khác trên thế giới
Trang 27Mỹ đã thành lập khối “Liên minh quân sự Bắc Đại Tây Dương” (gọi tắt là
NATO), sau đó là khối “Liên minh quân sự ở châu Á Thái Bình Dương” (SEATO)
và “Liên minh quân sự ở châu Đại Dương” (AUZEUS) để phát triển thế lực, thực
hiện âm mưu tiêu diệt các nước xã hội chủ nghĩa Trước hành động quân sự của
Mỹ và đồng minh, Liên Xô đã đứng ra thành lập khối “Liên minh quân sự
VACSAVA” vào năm 1955 Quan hệ giữa hai khối chính trị - quân sự đối lập nhau
đã hình thành cục diện hai cực, chiến tranh lạnh và sự đối đầu Đông - Tây trên tất
cả các lĩnh vực kinh tế, chính trị, xã hội, quân sự
Đối với phong trào giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa, sau chiến tranh Thế giới II có nhiều dấu hiệu tích cực; nhiều nước thuộc địa ở các châu Á, Phi, Mỹ latinh đã giành được độc lập Trong số đó, nhiều nước theo con đường xã hội chủ nghĩa như Việt Nam (1945), Trung Quốc (1949), Bắc Triều Tiên (1948), Cuba (1959) Thắng lợi của các cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc cùng với sự hình thành hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa là nguồn động viên lớn lao cho phong trào giải phóng dân tộc ở các nước còn lại
Chiến tranh lạnh ban đầu chủ yếu là sự đối đầu giữa Đông Âu và Liên Xô
xã hội chủ nghĩa với Tây Âu và Mỹ theo chủ nghĩa tư bản Tuy nhiên, đến cuối thập niên 40, đầu thập niên 50 của thế kỷ XX, chiến tranh lạnh đã lan rộng sang châu Á qua các cuộc chiến tranh cục bộ như:
- Nội chiến ở Trung Quốc giữa Đảng Cộng sản Trung Quốc do Liên Xô ủng
hộ với Quốc Dân Đảng do Mỹ đầu tư với kết quả thắng lợi của Đảng Cộng sản Trung Quốc do Mao Trạch Đông đứng đầu
- Chiến tranh Triều Tiên (1950-1953) với kết cục là sự phân chia hai miền Triều Tiên: Cộng hòa dân chủ nhân dân Triều Tiên (Bắc Triều Tiên) theo con đường xã hội chủ nghĩa và Đại Hàn dân quốc (Nam Triều Tiên) theo con đường tư bản chủ nghĩa
- Cuộc chiến tranh Đông Dương (1945 - 1954) nhân dân Đông Dương đã chiến đấu anh dũng, giành thắng lợi trong cuộc kháng chiến chống Pháp qua những điều khoản của hiệp định Genève Nhưng sau đó nhân dân Đông Dương lại phải đương đầu với cuộc đấu tranh mới - cuộc kháng chiến chống
Trang 28đế quốc Mỹ (1954 -1975) kết thúc bằng việc ký kết hiệp định Paris (1973) chấm dứt sự can thiệp của Mỹ ở Việt Nam
Trong phong trào giải phóng dân tộc ở Châu Á, nổi bật là những thắng lợi
to lớn của cách mạng vô sản góp phần làm cho cục diện thế giới thay đổi Đó là hệ thống xã hội chủ nghĩa đã mở rộng đến châu Á, Liên Xô có một đồng minh mạnh
là Trung Quốc Tháng 2-1950 Liên Xô và Trung Quốc ký hiệp ước đồng minh tương trợ Cùng với sự kiện này, sự phát triển khoa học kỹ thuật của các nước xã hội chủ nghĩa cũng đánh dấu một bước ngoặt quan trọng, nhất là về vũ khí hạt nhân phá thế độc quyền của Mỹ
Cuộc chiến tranh lạnh giữa hai hệ thống chính trị mà đứng đầu là Mỹ và Liên Xô sau chiến tranh thế giới II đã chuyển trọng tâm từ châu Âu sang châu Á Các cuộc chiến ở châu Á không còn là những cuộc chiến tranh đơn thuần xâm chiếm thuộc địa mà đã trở thành những điểm nóng trong cuộc đối đầu Đông – Tây Trong cuộc đối đầu này, ở châu Á, chiến sự ở Việt Nam đã dần thay thế cho cuộc chiến Triều Tiên khi hai miền Triều Tiên chính thức bị phân chia năm 1953 Từ năm 1954, Việt Nam trở thành trung tâm trong ý đồ chính trị của Mỹ Đó là, thực hiện chính sách ngăn chặn - tiêu diệt chủ nghĩa cộng sản
Quan hệ quốc tế từ năm 1954 đến năm 1975 đã có tác động rất lớn đến tình hình chính trị và ngoại giao của Việt Nam Các mối quan hệ quốc tế trong thời kỳ này có thể tóm tắt thành những nội dung chủ yếu qua các giai đoạn lịch sử sau:
Giai đoạn 1954 - 1961
Quan hệ quốc tế nửa cuối thập kỷ 50, đến đầu thập kỷ 60 thế kỷ XX có xu hướng thay đổi Đây là thời kỳ hòa dịu và chung sống hòa bình giữa các nước có chế độ chính trị khác nhau Nổi bật nhất của quan hệ ngoại giao thời kỳ này chính
là quan hệ Xô - Mỹ, hai nước lớn của hai khối chính trị đối đầu đã cùng ngồi lại với nhau để giải quyết những vấn đề quốc tế Điều này đã ảnh hưởng lớn đến tình hình chiến sự ở các nơi trên thế giới Kết quả là Triều Tiên phân chia Nam Triều Tiên và Bắc Triều Tiên với hai chế độ chính trị, chiến tranh Đông Dương kết thúc với hội nghị Genève Biểu hiện của mối quan hệ hòa dịu này là một số sự kiện trong quan hệ ngoại giao Xô - Mỹ: tháng 9-1959 Khơ-rút-sốp - Bí thư thứ nhất
Trang 29Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô thăm Mỹ; tháng 6-1961 rút-sốp gặp tổng thống Mỹ Kennedy ở Viên để giải quyết vấn đề của Lào
Khơ-Bên cạnh đó, Liên Xô có những thành tựu vượt bậc, quan trọng ảnh hưởng đến cục diện của tương quan lực lượng trong chiến tranh lạnh Ngày 4-10-1957 Liên Xô phóng vệ tinh nhân tạo đầu tiên, ngày 12-4-1961 lần đầu tiên Liên Xô đưa người bay vào vũ trụ, một bước đột phá mới trong công nghiệp vũ trụ khẳng định thêm vị thế của Liên Xô trên thế giới Ở Mỹ, Kennedy nhận chức tổng thống mới, người có những quan hệ thiện cảm với Liên Xô đã báo hiệu một số thay đổi của tình hình thế giới
Giai đoạn 1961-1964
Ở giai đoạn này, một số cuộc khủng hoảng chính trị xã hội nổ ra trên thế giới Đầu tiên là cuộc khủng hoảng Berlin lần thứ hai, một bộ phận người dân Đông Đức tìm mọi cách sang Tây Đức làm tình hình xã hội Đông Đức căng thẳng
Trước tình thế đó, bất ngờ đêm 12-8-1961 chính phủ Đông Đức cho xây bức tường Berlin cắt đứt hoàn toàn mối quan hệ với Tây Đức Tuy nhiên, dân Đông Đức vẫn tìm mọi cách, bằng những con đường khác tiếp tục sang Tây Đức làm cho xã hội Đông Đức bất ổn trong thời gian dài
Cuộc khủng hoảng thứ hai là vấn đề Cuba Cuba với Liên Xô là hai nước cùng chung chiến tuyến, cùng chung lý tưởng xã hội chủ nghĩa, quan hệ Liên Xô -Cuba ngày càng thân thiện, khăng khít Mỹ đã tạo ra sự kiện Vịnh con lợn ngày 15-4-1961 nhằm phá hoại và đi đến tiêu diệt Cuba nhưng Mỹ đã thất bại nên tiến
hành bao vây, cấm vận Cuba trong thời gian dài làm tình hình trung Mỹ căng thẳng Trước vị trí chính trị quan trọng của Cuba, Liên Xô đã can thiệp vào khu vực trung Mỹ nhằm hỗ trợ cho Cuba Tháng 10-1962, Liên Xô thỏa thuận với Cuba đặt căn cứ tên lửa tầm trung tại Cuba, Mỹ đáp lại bằng lệnh phong tỏa Cuba ngày 22-10-1962, Cuba trở thành nơi đối đầu trực tiếp của chiến tranh lạnh tại khu vực châu Mỹ latinh Tình hình ở trung Mỹ ngày càng căng thẳng dẫn đến nguy cơ
nổ ra một cuộc chiến tranh giữa hai siêu cường có vũ khí nguyên tử gây ra những hậu quả nặng nề không thể lường trước được
Trang 30Trước nguy cơ của một chiến tranh hạt nhân, ngày 26-10-1962 Mỹ và Liên
Xô đã bí mật gặp nhau về vấn đề Cuba Kết quả hai bên đi đến thỏa thuận chung là Liên Xô nhân nhượng và nhận dỡ bỏ thiết bị quân sự vừa đặt tại Cuba và Mỹ sẽ không xâm lược Cuba, căng thẳng tạm thời được giải quyết Thế giới bước qua một bước mới trong mối quan hệ quốc tế đầy phức tạp
Giai đoạn 1965 - 1976
Nội dung cơ bản của mối quan hệ quốc tế thời kỳ này hòa dịu nhưng không hoàn toàn ổn định Tuy nhiên, xu hướng hòa bình bắt đầu xuất hiện và chiếm ưu thế trên các diễn đàn quốc tế
Đối với hai nước đầu sỏ, đây là thời kỳ Bre-giơ-nhep lãnh đạo Liên Xô và hai Tổng thống Johnson và Nixon lãnh đạo ở Mỹ Mỹ bị sa lầy vào chiến tranh Việt Nam Liên Xô tranh thủ tập trung xây dựng kinh tế, quốc phòng, khoa học kỹ thuật; tranh thủ mọi mối quan hệ quốc tế nhằm phát triển địa vị của lực lượng cách mạng thế giới và tạo được thế cân bằng với Mỹ về chiến lược Về phần Mỹ, những cuộc chiến tranh trên thế giới của Mỹ, nhất là chiến tranh Việt Nam khiến Mỹ bị
áp lực rất lớn từ dư luận quốc tế Vì vậy, Mỹ không thể tạo đối đầu trực tiếp với Liên Xô mà mong muốn cùng Liên Xô thu hẹp bớt những bất đồng trong việc giải quyết vấn đề quốc tế lớn Do đó, Mỹ - Liên Xô đã có một số cuộc gặp cấp cao, có những nhân nhượng nhau trong giải quyết các vấn đề quốc tế Như vậy, quan hệ quốc tế trong giai đoạn này đã đem lại thế cân bằng giữa Mỹ với Liên Xô trong cuộc chiến tranh lạnh Đây là kết quả hoạt động đối ngoại của Liên Xô, các nước
xã hội chủ nghĩa và cuộc đấu tranh các nước thuộc địa trong phong trào giải phóng dân tộc
Sự cân bằng trong mối quan hệ Liên Xô và Mỹ, làm quan hệ quốc tế trở nên hòa dịu Các nước bắt đầu quan tâm đến việc hạn chế những vũ khí chiến lược, đã
ký kết với nhau các hiệp định như: Hiệp định cấm thử vũ khí hạt nhân từng phần giữa Liên Xô, Mỹ, Anh năm 1963; Hiệp định cấm phổ biến vũ khí nguyên tử năm
1968 Ngoài ra, tháng 10-1970, Đại hội đồng Liên Hợp Quốc thông qua nguyên tắc
Trang 31quan hệ quốc tế, bảo đảm quan hệ hữu nghị và hợp tác giữa các quốc gia Từ năm
1972 Mỹ đi vào quá trình hòa hoãn với Trung Quốc và cả Liên Xô
Pháp trong thời kỳ này đã tách dần khỏi ảnh hưởng của Mỹ và cũng đã tham gia ủng hộ Việt Nam, lên án chính sách thực dân xâm lược và những hành động dã man của Mỹ ở miền Nam Việt Nam Tây Đức theo đuổi chính sách hướng Đông
“Ostpolitik” của thủ tướng M Brandt nhằm tiến đến việc thống nhất nước Đức Năm 1975 Hội nghị an ninh và hợp tác Châu Âu có Mỹ tham gia đã đạt được sự thống nhất, đồng thời, đi đến định ước cuối cùng của Hội nghị Hensinki Đây là sự kiện cuối cùng của sự đối đầu Đông Tây ở châu Âu, hai nước Đức từng bước thiết lập quan hệ bình thường và tham gia vào tổ chức Liên Hợp Quốc
Ngoài những nhân tố nêu trên, chiến tranh ở Việt Nam chịu tác động mạnh
mẽ của quan điểm và hoạt động ngoại giao của Trung Quốc trong mối quan hệ tay
ba Mỹ - Liên Xô - Trung Quốc Mỹ đã từng lúc có những chính sách ngoại giao khác nhau đối với Liên Xô và Trung Quốc nhằm chia rẽ phong trào cộng sản quốc
tế và ngăn chặn những hoạt động hỗ trợ cho chiến tranh Việt Nam của Liên Xô và Trung Quốc Trước những hành động chia rẽ của Mỹ, cuộc chiến tranh ở miền Nam Việt Nam đôi lúc có những khó khăn, phức tạp Nhưng bằng những đối sách ngoại giao khôn khéo Việt Nam đã tận dụng tối đa sự giúp đỡ của cả Liên Xô và Trung Quốc cho cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước
1.2.2 Chính sách chống cộng của Mỹ và Chính quyền tay sai Ngô Đình Diệm – Yếu tố thúc đẩy sự chuyển hướng chiến lược của cách mạng miền Nam
1.2 2.1 Quá trình can thiệp của Mỹ vào Việt Nam và những chính sách chống cộng tàn bạo của chính quyền tay sai Ngô Đình Diệm
- Quá trình can thiệp của Mỹ vào Việt Nam
Bằng những lợi thế trong thế chiến thứ II ở châu Á, Mỹ đã tìm mọi cách tạo ảnh hưởng của mình ở khu vực này với mục tiêu là dần thế chỗ Anh, Pháp ở châu
Á Nhưng trong tương quan lực lượng giữa các nước tư bản, Anh vẫn là nước đứng đầu châu Âu nên Mỹ phải kiêng dè; chỉ còn Pháp Pháp được Mỹ để ý đến vì trong khối các nước tư bản, Pháp là nước có nền kinh tế lạc hậu, hiệu quả kém và càng
Trang 32về sau công cuộc khai thác thuộc địa của Pháp càng gặp nhiều thất bại Vì thế Pháp
ít đầu tư cho các cuộc chiến tranh ở thuộc địa trong đó có chiến tranh Việt Nam Trước những thất bại của Pháp, Mỹ đã chớp lấy cơ hội lấn từng bước vào Đông Dương Bước đầu tiên là sau chiến tranh Thế giới thứ II kết thúc thấy không thể hất cẳng Anh - Pháp dễ dàng nên Mỹ đã tìm cách hỗ trợ Pháp, viện trợ cho Pháp trong những bước tái chiếm Việt Nam Tuy nhiên, Pháp đã vào thời kỳ suy yếu còn cách mạng Việt Nam thì đang lớn mạnh từng ngày nên dù có sự viện trợ của Mỹ, Pháp vẫn đi từ thất bại này đến thất bại khác và thất bại hoàn toàn của Pháp đánh dấu bằng việc ký hiệp định Gèneve chấm dứt chiến tranh lập lại hòa bình ở Đông Dương Sự kiện này là cơ hội cho Mỹ tiến hành quá trình hất cẳng Pháp để can thiệp trực tiếp vào Đông Dương
- Chính quyền thân Mỹ ở Việt Nam được dựng nên cùng với những chính sách phản động
Mở đầu cho sự thay thế này của Mỹ ở Việt Nam là trước khi hiệp định Genève được ký kết 13 ngày Mỹ đã buộc Pháp đưa Ngô Đình Diệm là thế lực thân
Mỹ lên làm thủ tướng thay thế Bửu Lộc thân Pháp trong chính phủ của Bảo Đại Sau đó, tháng 9-1954 Mỹ quyết định viện trợ trực tiếp cho Ngô Đình Diệm Bước tiếp theo, Mỹ muốn can thiệp sâu hơn và chống lưng tốt hơn cho Ngô Đình Diệm nên đã cử tướng Colin đến Sài Gòn làm đại sứ, trực tiếp đề ra kế hoạch sáu điểm gồm những nội dung chính sau:
“1 Bảo trợ chính quyền Diệm Viện trợ trực tiếp cho chính phủ Sài Gòn
2 Xây dựng quân đội Nam Việt Nam hùng hậu gồm 15 vạn người do Mỹ trang bị và huấn luyện
3 Bầu cử quốc hội ở Miền Nam, hợp pháp hóa chính quyền Sài Gòn
4 Định cư cho số người Công giáo miền Bắc di cư vào Nam và vạch kế hoạch cải cách điền địa
5 Thay đổi chế độ thuế khóa, dành ưu tiên cho hàng hóa Mỹ ở miền Nam
6 Đào tạo cán bộ hành chính.”[19-155,156]
Kế hoạch này thể hiện rõ âm mưu biến miền Nam thành thuộc địa kiểu mới của Mỹ, phá hoại hoàn toàn những điều khoản đã ký kết ở hiệp định Genève Ngoài việc tách hoàn toàn miền Nam khỏi Việt Nam, kế hoạch này còn nhằm
Trang 33thanh trừ các thế lực đối lập tại miền Nam trong đó bao gồm cả thế lực thân Pháp
và thế lực của cộng sản
Để hoàn tất việc chuyển giao này, ngày 13-12-1954, Pháp buộc phải ký với
Mỹ bản hiệp ước giao trách nhiệm huấn luyện, trang bị quân đội ở miền Nam cho
Mỹ Ngày 19-12-1954, Pháp ký hiệp định trao quyền hành chính, chính trị ở miền Nam cho Ngô Đình Diệm
Ngô Đình Diệm lên nắm quyền đã tiến hành quá trình loại bỏ ảnh hưởng của Pháp và chính quyền Bảo Đại ở miền Nam với chiêu bài “đả thực” “bài phong” xóa bỏ hoàn toàn bộ máy cai trị của Pháp Tiếp đó, Diệm thực hiện mục tiêu cơ bản là “diệt cộng”, chống phá cách mạng miền Nam, mua chuộc các thế lực phản động trong các giáo phái và các phe phái chống đối Diệm
Bước tiếp theo của Diệm là quá trình phá hoại Hiệp định Genève, thực hiện
âm mưu của Mỹ là chia cắt lâu dài Việt Nam, biến miền Nam thành thuộc địa kiểu mới của Mỹ Ngày 17-7-1955, Diệm tuyên bố từ chối hiệp thương tổng tuyển cử Ngày 23-10-1955, Diệm tổ chức “trưng cầu dân ý”, phế truất Bảo Đại và đưa Ngô Đình Diệm lên làm tổng thống thiết lập nền Cộng hòa thứ nhất ở miền Nam Việt Nam
Bên cạnh đó, Mỹ tiến hành quá trình can thiệp vào Lào và Campuchia, tách Đông Dương hoàn toàn ra khỏi ảnh hưởng của Pháp và rơi vào tay của Mỹ
Diệm đã tiến hành từng bước xây dựng một quốc gia hùng mạnh, hoàn chỉnh thể chế chính trị, thành lập các tổ chức chính trị làm chỗ dựa cho mình như thành lập “Đảng Cần lao nhân vị”, phong trào “Cách mạng quốc gia”, “Thanh niên cộng hòa”, “Phụ nữ liên đới” để tập hợp tư sản, địa chủ, Giáo dân Thiên chúa giáo làm hậu thuẫn
Ngày 4-3-1956, Diệm tổ chức bầu quốc hội riêng rẽ, ngày 26-10-1956 công
bố Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa (VNCH) Những việc làm trên của Mỹ - Diệm ở miền Nam là hoàn toàn bất hợp pháp, vi phạm trắng trợn hiệp định Genève, ngăn cản quá trình thống nhất quốc gia dân tộc Việt Nam
Bên cạnh đó, chính quyền Mỹ - Diệm đề ra những chính sách kinh tế như:
đề ra các chính sách thuế ưu tiên hàng hóa của Mỹ, thực hiện cải cách điền địa để
Trang 34xây dựng lực lượng địa chủ hậu thuẫn cho chính quyền và cướp đất đai của chính quyền cách mạng chia cho nông dân thủ tiêu chỗ dựa về vật chất và tinh thần của lực lượng cách mạng Do chính sách trên, hàng hóa Mỹ ồ ạt vào miền Nam làm lũng đoạn nền kinh tế, viện trợ của Mỹ tăng vọt
Tháng 1-1955, Diệm tuyên bố “cải cách điền địa” thực tế biến nông dân có ruộng thành tá điền của địa chủ như trước đây cộng với mức tô tăng cao làm đời sống nông dân khó khăn
Dưới sự hỗ trợ của Mỹ về trang bị và huấn luyện, chính quyền Sài Gòn đã xây dựng lực lượng quân đội với trang bị hiện đại và huấn luyện theo chương trình
của Mỹ, “gồm 10 sư đoàn bộ binh, 17 tiểu đoàn pháo binh, 5 tiểu đoàn xe tăng -
thiết giáp và 54.000 quân địa phương, số cố vần Mỹ từ 35 người (1950), tăng lên
699 người (1956)” [19-157] Hệ thống giao thông phục vụ quân sự được xây dựng
như hệ thống sân bay, quân cảng, đường giao thông chiến lược miền Nam trở thành căn cứ quân sự khổng lồ phục vụ mưu đồ ngăn chặn và tiêu diệt cộng sản của Mỹ
Hệ thống chính quyền được xây dựng hoàn chỉnh, chặt chẽ từ trung ương đến địa phương, từ Phủ Tổng thống, Bộ Tổng tham mưu, Nha cảnh sát, các Bộ ngành trung ương và hệ thống hành chính địa phương
Sau khi hoàn chỉnh hệ thống chính quyền, kiểm soát toàn bộ miền Nam, từ tháng 5-1955 đến tháng 5-1956 Diệm phát động “chiến dịch tố cộng” giai đoạn 1 nhằm mở rộng phạm vi quản lý để gây xáo trộn và phát hiện cộng sản Trong quá trình đó, Diệm cho lập “Phủ đặc ủy công dân vụ” và “Hội đồng chỉ đạo tố cộng”
để theo dõi và đúc kết kinh nghiệm cho hoạt động tố cộng đạt hiệu quả cao nhất
“Chiến dịch tố cộng” bắt đầu từ các tỉnh miền Trung, tháng 2-1955 với chiến dịch Phan Châu Trinh đánh vào các tỉnh Trung bộ nhất là Quảng Nam Tháng 4-1955, Diệm mở chiến dịch giải phóng tấn công vào Quảng Ngãi và Bắc Bình Định Tháng 5-1955, chiến dịch Trịnh Minh Thế được tiến hành nhằm đánh phá toàn diện các tỉnh khu V
Từ tháng 6 đến tháng 10-1956, chính quyền Diệm mở chiến dịch Thoại Ngọc Hầu nhằm vào các tỉnh vùng Đồng Tháp Mười, Mỹ Tho, Vĩnh Long, Cần
Trang 35Thơ, Sóc Trăng, từ tháng 7 đến tháng 12-1956, chiến dịch Trương Tấn Bửu được
mở ra nhằm đánh phá miền Đông Nam Bộ Các chiến dịch “tố cộng”, “diệt cộng” với khẩu hiệu hành động là “tiêu diệt cán bộ nằm vùng, tiêu diệt tận gốc chủ nghĩa cộng sản”, “thà giết nhầm hơn bỏ sót” Mỹ - Diệm đã đánh phá điên cuồng, giết hại những người yêu nước, những người kháng chiến cũ hoặc những người bị tình nghi Nhiều vụ thảm sát đã diễn ra ở Quảng Ngãi, Quảng Nam Với những thủ đoạn ác độc, mua chuộc, mị dân, đàn áp trắng trợn của chính quyền Diệm, lực lượng cách mạng miền Nam bị tổn thất nặng nề, cán bộ, Đảng viên và các cơ sở Đảng hầu hết bị tiêu diệt Cách mạng miền Nam đứng trước nguy cơ bị phá vỡ hoàn toàn
1.2.2 2 Giai đoạn hiểm nghèo của cách mạng miền Nam 1954 - 1960
Những năm 1954-1955, thực hiện nghiêm chỉnh sự chỉ đạo của Đảng về các điều khoản của hiệp định Genève, những cuộc đấu tranh của lực lượng cách mạng
ở miền Nam chủ yếu bằng phương pháp hòa bình với mục tiêu chính là đòi các bên tôn trọng và chấp hành những điều khoản đã ký kết trong hiệp định Genève như lời
kêu gọi của Hồ Chủ Tịch: “Thi hành đúng đắn hiệp định đình chiến, đấu tranh để
giữ gìn và củng cố hòa bình, để thực hiện thống nhất, hoàn thành độc lập và dân chủ trong toàn quốc” [3-167]
Tuy nhiên, quá trình đấu tranh của cách mạng Việt Nam sau Hiệp định Genève như Bác Hồ đã nhận định “là một cuộc đấu tranh lâu dài và gian khổ”
[44-15] Mặc khác, trong lời bế mạc Hội nghị lần thứ 9 Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa II ngày 12 đến 24-4-1956 Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng đã nhận định cuộc đấu tranh sau hiệp định Genève trước kẻ thù mới là rất gay go phức tạp
“Trong khi nhận định có khả năng thực hiện thống nhất đất nước bằng phương pháp hòa bình ở Việt Nam ta, chúng ta cần phải luôn luôn nhớ rằng kẻ thù của nhân dân ta là đế quốc Mỹ và bọn tay sai của chúng còn chiếm giữ một nữa đất nước ta và chúng đang chuẩn bị chiến tranh; vì vậy chúng ta cần phải luôn luôn nắm vững ngọn cơ hòa bình, nhưng đồng thời phải luôn luôn nâng cao đề phòng và cảnh giác ” [3-168]
Trang 36Theo lời Bác, tuân thủ những điều khoản đã ký kết trong hiệp định Genève, sau Hiệp định, lực lượng quân đội và cán bộ Đảng viên trên toàn quốc đã chấp hành lệnh ngừng bắn, tiến hành tập kết chuyển quân ra Bắc Những cán bộ cách mạng còn ở lại trở thành dân thường chuẩn bị cho một cuộc đấu tranh mới và phòng bị những tình huống xấu có thể xảy ra Tất cả người đi, kẻ ở và toàn thể nhân dân Nam Bắc đều hướng đến ngày Bắc - Nam thống nhất một nhà Do đó, tương quan lực lượng cách mạng và phản cách mạng ở miền Nam chênh lệch rất lớn, gây ra bất lợi trầm trọng cho hoạt động cách mạng miền Nam Trong báo cáo tại hội nghị trung ương Đảng lần thứ VI (7-1954), Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ:
“tranh lấy hòa bình không phải là việc dễ, nó là cuộc đấu tranh trường kỳ, gian khổ, phức tạp” [19-160] Sau đó, Nghị quyết Hội nghị Ban chấp hành Trung ương
cũng nhận định: “Ngày nay, do tình hình mới, ta thay đổi phương châm, chính
sách và sách lược đấu tranh cốt để thực hiện một cách thuận lợi mục đích trước mắt Đây là một sự thay đổi quan trọng về phương châm và sách lược cách mạng, nhưng còn mục đích của cách mạng vẫn là một” [11-226]
Ngay sau khi hiệp định Genève được ký kết, chỉ đạo của Đảng đối với cách mạng miền Nam là phải từ đấu tranh vũ trang sang đấu tranh chính trị Nhiệm vụ của Đảng bộ miền Nam là phải lãnh đạo nhân dân miền Nam đấu tranh thực hiện đình chiến, củng cố hòa bình, đòi các quyền tự do dân chủ, cải thiện dân sinh, thực hiện thống nhất, tranh thủ độc lập, chống khủng bố, bảo vệ những thành quả mà quần chúng đã giành được trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp
Với chủ trương hòa bình, Đảng đã chỉ thị để lại miền Nam một số ít cán bộ hoạt động bí mật, chưa lộ mặt hoặc chuyển vùng hoạt động cho một số cán bộ để giữ địa bàn cùng với quần chúng nhân dân tiếp tục đấu tranh thi hành hiệp định Genève Các hoạt động của cách mạng miền Nam đều đưa vào hoạt động bí mật
Trong cuộc đấu tranh, các cán bộ Đảng viên đã làm nòng cốt đòi thi hành hiệp định Genève Ta đã tổ chức, vận động hàng triệu quần chúng mittinh, hội thảo mừng hòa bình, đòi địch không được trả thù những người kháng chiến Ở các đô thị lớn, đông đảo các thành phần xã hội như sinh viên, học sinh, trí thức, dân nghèo thành thị đã tập hợp trên các đường phố hoan nghênh hiệp định Genève, chào đón
Trang 37hòa bình Ở nông thôn, nhiều cuộc đấu tranh của nông dân chống lại việc trả thù những người kháng chiến cũ, đòi hiệp thương tổng tuyển cử đều bị chính quyền Diệm đàn áp, không khí căm thù sôi sục khắp nơi
Phong trào đấu tranh chính trị lan rộng khắp miền Nam, tiêu biểu là “phong
trào hòa bình Sài Gòn - Chợ Lớn (8-1954), … phong trào đòi lập lại quan hệ bình thường Nam – Bắc” [19-161] thu hút nhiều thành phần dân cư, tôn giáo tham gia
sau đó nhanh chóng lan ra khắp các đô thị ở toàn miền Nam Tại miền Trung có
“Phong trào cứu đói ở Thừa Thiên, Quảng Trị (1955), phong trào cứu tế nạn nhân (1955), phong trào chống lệnh giải tỏa đô thành và đòi cải thiện sinh hoạt (1955- 1956)” [19-162]
Nhưng các phong trào đấu tranh chính đáng của quần chúng nhân dân ở miền Nam đã nhanh chóng bị đàn áp đẫm máu ngay tại trung tâm Sài Gòn Chính quyền mới do Mỹ dựng lên - chính quyền Ngô Đình Diệm - ngay từ đầu đã dùng những hành động khủng bố đối với những hoạt động đấu tranh hòa bình, dân chủ của nhân dân Phong trào này bị đàn áp dã man và bị dập tắt
Tháng 2-1955, toàn đô thị miền Nam lại dấy lên phong trào đòi lập lại quan
hệ bình thường Nam - Bắc, rồi đến các phong trào đòi dân sinh dân chủ của các tỉnh khu vực miền Trung
Các phong trào đòi tự do, dân chủ, cải thiện đời sống đã nổ ra khắp nơi lôi kéo đông đảo quần chúng với nhiều giai tầng xã hội tham gia Sự ủng hộ của các tầng lớp, giai cấp vào các phong trào đấu tranh dân sinh, dân chủ thể hiện sự nhất trí cao về tư tưởng của nhân dân miền Nam, báo hiệu sự đoàn kết gắn bó trong sự nghiệp cách mạng lâu dài của đất nước
Trong tất cả các phong trào đấu tranh ở miền Nam, gay go quyết liệt và đẫm máu nhất là phong trào chống chiến dịch “tố cộng”, “diệt cộng” của Mỹ - Diệm, diễn ra từ cuối năm 1954 Mục tiêu của các chiến dịch “tố cộng”, “diệt cộng” là nhằm vào lực lượng cộng sản ở miền Nam Lực lượng mà chính quyền Mỹ - Diệm chú trọng đàn áp là công nhân và nông dân Bên cạnh đó, quân đội của chính quyền Sài Gòn đã tổ chức nhiều cuộc càn quét quy mô lớn, thực hiện nhiều lần ở một khu vực, nhất là ở vùng giải phóng trước kia Các cuộc càn quét cỡ đại đội,
Trang 38tiểu đoàn vào vùng căn cứ cách mạng đã chia từng ô làng xã, phân loại từng gia đình để kìm kẹp, khống chế, xây dựng các lực lượng hương thôn để cách ly và đàn
áp cơ sở cách mạng, phát hiện cộng sản nằm vùng
Bước hai của việc tiêu diệt lực lượng cộng sản miền Nam là tháng 4-1957, chính quyền Diệm triển khai Kế hoạch lập dinh điền, đưa những đồng bào di cư miền Bắc và cư dân đồng bằng lên vùng rừng núi từ Kom Tum đến miền Đông Nam Bộ, đồng bào miền núi thì bị dồn vào các khu trù mật, trại dinh điền dọc theo tuyến đường giao thông chính để dễ kiểm soát Mục đích của những việc làm trên của Mỹ - Diệm nhằm đảm bảo an ninh ở những vùng có thể bị cộng sản thâm nhập, cách ly cộng sản khỏi quần chúng nhân dân
Đỉnh cao của chính sách khủng bố cộng sản của Mỹ - Diệm là vào tháng
5-1957, Diệm ban hành đạo luật 10/59, nhằm sát khủng bố trắng lực lượng cách mạng và những vùng căn cứ cách mạng, lê máy chém khắp miền Nam Đạo luật này đã trùm lên toàn miền Nam một không khí khủng bố, chết chóc từ nông thôn đến thành thị Nhưng nhân dân miền Nam lúc này đã không khuất phục trước bạo lực của chính quyền Mỹ - Diệm Các cuộc đấu tranh nổ ra khắp nơi chống dồn dân lập khu trù mật, chống lập khu dinh điền, chống cải cách điền địa, chống các chiến dịch “tố cộng”, “diệt cộng” của Mỹ - Diệm đã làm phá sản mưu đồ tiêu diệt hoàn toàn cộng sản ở miền Nam Qua đó, các nhóm vũ trang đã bắt đầu được thành lập
ở một số nơi để chống lại sự đàn áp khốc liệt của Mỹ - Diệm
Đối với các chủ trương lãnh đạo của Đảng, từ tháng 6-1956, sau khi chính
quyền Ngô Đình Diệm thành lập, Bộ Chính trị đã nhận định rõ: “chế độ miền Nam
là chế độ độc tài phát xít của bọn tư sản mại bản và phong kiến thân Mỹ phản động nhất” [19-163] Cần phải tự vệ trong những hoàn cảnh nhất định
Đồng chí Lê Duẩn lúc đó là Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Xứ ủy Nam Bộ đã
viết Đề cương cách mạng miền Nam (8-1956), xác định “nhân dân miền Nam
không có con đường nào khác là đứng lên làm cách mạng để cứu nước, cứu mình.” [19-163]
Trước tình hình nguy cấp, hầu hết đảng viên, cơ sở Đảng bị chính quyền
Diệm bắt bớ, tiêu diệt, “tháng 12-1956, Xứ ủy Nam Bộ quyết định phải tích cực
Trang 39xây dựng lực lượng vũ trang tuyên truyền, lập các đội vũ trang bí mật, xây dựng căn cứ ở những vùng rừng núi” [19-163] Với tinh thần đó các đội vũ trang mang
tính chất tuyên truyền và tự vệ lần lượt hình thành ở nhiều nơi như ở vùng Đồng Tháp Mười, các tỉnh miền Tây Nam Bộ như Sa Đéc, Cần Thơ, Rạch Giá, Hà Tiên, Sóc Trăng, Trà Vinh, Kiền Tường, Mỹ Tho, Long An, Rất nhiều tiểu đoàn, đại đội thành lập, tìm kiếm vũ khí hay tự trang bị vũ khí, bí mật thủ tiêu những tên ác
ôn ở địa phương Các căn cứ địa theo đó dần hình thành tại các khu căn cứ cũ thời chống Pháp như: chiến khu D, Đồng Tháp, U Minh, một số khu vực của các tỉnh miền Trung và Tây Nguyên Các đội vũ trang đã hạn chế rất lớn sự lùng sục, giết chóc của chính quyền Diệm Các tổn thất dần dần giảm, chỗ đứng của các lực lượng vũ trang cách mạng ngày càng được nâng cao, chẳng những thế hoạt động
vũ trang ngày càng rộ lên khắp nơi nhất là khu vực đồng bằng sông Cửu long Một
số các cuộc tập kích thắng lợi có tiếng vang lớn như: trận tập kích đồn Minh Thạnh
- Đông Nam Bộ ngày 10-8-1957, trận tập kích quân Sài Gòn ở một trại khai thác
gỗ lớn của Trần Lệ Xuân ở Biên Hòa ngày 18-9-1957 …
Hoạt động vũ trang đã cổ vũ mạnh mẽ và thúc đẩy hoạt động đấu tranh chính trị của quần chúng phát triển theo Đấu tranh vũ trang kết hợp đấu tranh chính trị đã làm giảm bớt sự khủng bố của chính quyền Diệm và làm cho cách mạng miền Nam thoát khỏi tình thế hiểm nghèo Những tác động tích cực và kịp thời từ sự lãnh đạo của Đảng và các phong trào đấu tranh của quần chúng làm cho
không khí cách mạng sôi động ở khắp Nam Bộ “Năm 1957 có 2 triệu lượt người
tham gia đấu tranh chính trị, năm 1958- tăng lên 3,7 triệu lượt người, năm 1959 -
có 5 triệu lượt người” [19-164] tham gia đấu tranh chống chính quyền Diệm
Trước sự phát triển mạnh mẽ của phong trào cách mạng ở miền Nam chính quyền
Mỹ - Diệm đã thẳng tay đàn áp, dùng chính sách phát xít để ngăn chặn phong trào Ngày 2-1958 chính quyền Mỹ - Diệm đầu độc 6.000 người yêu nước ở nhà tù Phú Lợi tạo ra phong trào phản đối rộng rãi trong quần chúng nhân dân miền Nam Tháng 3-1959, Diệm tuyên bố đặt miền Nam trong tình trạng chiến tranh và đến tháng 5-1959 ra luật 10/59, thiết lập tòa án quân sự đặc biệt, công khai chém giết đồng bào miền Nam Những áp bức của chính quyền Mỹ - Diệm làm cho tình thế
Trang 40cách mạng dâng cao, ngày càng đi đến chín muồi Chính quyền Ngô Đình Diệm đã thể hiện sự bất lực của mình trước sức bền bỉ đấu tranh của lực lượng cách mạng Còn nhân dân trước sự tàn bạo của chính quyền Diệm cũng không thể chịu đựng được nữa, họ đòi hỏi phải vùng dậy, phải đấu tranh để tự vệ, để bảo vệ cách mạng
và để tự cứu lấy mình vì chính sách “thà giết lầm hơn bỏ sót” của Diệm Như vậy, những tiền tố cho một cuộc vùng dậy đã hình thành trên toàn miền Nam, chỉ còn chờ những quyết định kịp thời của Đảng
1.2.3 MTDTGPMNVN th ành lập – bước chỉ đạo chiến lược tất yếu cho cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước ở miền Nam
- Những cơ sở lý luận cho việc hình thành tổ chức MTDTGPMNVN
Trong tình hình khó khăn thử thách của cách mạng miền Nam đã đạt đến đỉnh cao, đồng thời tình thế cách mạng cũng đã chín muồi, từ ngày 13-01 đến 22-01-1959 Hội nghị lần thứ 15 Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa II đã diễn ra ở
Hà Nội do Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trì Hội nghị đã bàn bạc, phân tích tình hình,
đề ra phương pháp và nhiệm vụ cách mạng miền Nam như sau:
“1 Nhiệm vụ cơ bản là giải phóng miền Nam khỏi ách thống trị của đế quốc và phong kiến, thực hiện độc lập dân tộc và người cày có ruộng, hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam, xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh
2 Nhiệm vụ trước mắt là đoàn kết toàn dân, kiên quyết đấu tranh chống đế quốc Mỹ xâm lược và gây chiến, đánh đổ tập đoàn thống trị độc tài Ngô Đình Diệm, tay sai của đế quốc Mỹ, thành lập một chính quyền liên hợp dân tộc, dân chủ ở miền Nam, thực hiện độc lập dân tộc và các quyền tự do dân chủ, cải thiện đời sống của nhân dân, giữ vững hòa bình, thực hiện thống nhất nước nhà trên cơ
sở độc lập và dân chủ, tích cực góp phần bảo vệ bình ở Đông Nam Á và thế giới”
[19-155,156]
Nghị quyết cũng chỉ rõ xu hướng đấu tranh cách mạng ở miền Nam trong
thời gian tới là: “Con đường phát triển cách mạng cơ bản của cách mạng ở miền
Nam Việt Nam là khởi nghĩa giành chính quyền về tay nhân dân” “Đó là lấy sức