Brooks Jackson và Kathleen Hall Jamieson liệt kê, phân tích các trường hợp nói dối theo chủ đề để đưa đến kết luận về các thủ đoạn lừa dối được hình thành dựa trên các quy luật tâm lý c
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
KHOA VĂN HÓA HỌC
NGUYỄN THỊ TUYẾT NGÂN
LUẬN VĂN THẠC SỸ NGÀNH VĂN HÓA HỌC
MÃ SỐ: 60.31.70
Hướng dẫn khoa học:
TS ĐỖ HƯƠNG
Thành phố Hồ Chí Minh, năm 2009
Trang 2Một lời nói dối sám hối bảy ngày; Không biết nói dối thì thối thây ra
(Tục ngữ Việt Nam)
Trang 3MỤC LỤC 3
DANH MỤC CÁC BẢNG VÀ HÌNH 5
QUY ƯỚC TRÌNH BÀY 6
PHẦN MỞ ĐẦU 7
1 Lý do chọn đề tài 7
2 Mục đích nghiên cứu và những đóng góp của luận văn 7
3 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 8
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 11
5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn 11
6 Phương pháp nghiên cứu và nguồn tư liệu 11
7 Bố cục của luận văn 12
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NÓI DỐI 14
1.1 Định nghĩa khái niệm nói dối 14
1.1.1 Một số quan niệm về nói dối trên thế giới 14
1.1.2 Phân tích 15
1.1.3 Định nghĩa 17
1.2 Nhận diện hiện tượng nói dối 18
1.2.1 Hình thức ngôn từ: phân biệt nói dối với làm dối, lừa dối 18
1.2.2 Tính chất không đúng thực tế: phân biệt nói dối với nói lảng, giữ bí mật, nói nước đôi 20
1.2.3 Động cơ cố ý che giấu sự thật: phân biệt nói dối với nói sai do ngộ nhận, nói dóc, nói vòng 21
1.2.4 Tiểu kết 25
1.3 Các bình diện của nói dối 27
1.3.1 Nói dối xét theo phương thức giao tiếp 27
1.3.1.1 Nói dối trực tiếp 27
1.3.1.2 Nói dối gián tiếp 28
1.3.2 Nói dối xét theo đối tượng tham gia giao tiếp 29
1.3.2.1 Nói dối khi chủ thể là một cá nhân (nói dối cá nhân) 29
1.3.2.2 Nói dối khi chủ thể là một tập thể (nói dối tập thể) 31
1.3.3 Nói dối xét theo tình huống giao tiếp 32
1.3.3.1 Nói dối chủ động 32
1.3.3.2 Nói dối bị động 32
1.4 Nguồn gốc của nói dối 34
Trang 41.4.1 Các tiền đề dẫn đến nói dối 34
1.4.1.1 Tiền đề tự nhiên 35
1.4.1.2 Tiền đề xã hội 37
1.4.2 Điều kiện để nói dối 40
1.5 Tiểu kết 44
Chương 2: MẶT PHI VĂN HÓA CỦA NÓI DỐI 46
2.1 Nói dối nhìn từ giá trị, văn hóa, tâm lý và đạo đức 46
2.1.1 Nói dối nhìn từ khái niệm giá trị và văn hoá 46
2.1.2 Nói dối nhìn từ tâm lý 48
2.1.3 Nói dối nhìn từ đạo đức 53
2.2 Một số ngành nghề có liên quan đến mặt phi văn hóa của nói dối 58
2.2.1 Kinh doanh 59
2.2.2 Kế toán 64
2.2.3 Báo chí 68
2.2.4 Dịch vụ truyền thông 75
2.3 Văn hoá đối phó với nói dối 78
2.3.1 Biện pháp phòng ngừa nói dối 78
2.3.2 Biện pháp phát hiện nói dối 85
2.4 Tiểu kết 92
Chương 3: MẶT VĂN HÓA CỦA NÓI DỐI 93
3.1 Nói dối trong hệ thống giao tiếp và tính hai mặt của nó 93
3.1.1 Nói dối trong hệ thống giao tiếp 93
3.1.2 Tính hai mặt của nói dối 95
3.2 Một số ngành nghề có liên quan đến mặt văn hóa của nói dối 99
3.2.1 Lãnh đạo - quản lý 100
3.2.2 Ngoại giao 108
3.2.3 Quân sự 109
3.2.4 Y tế 113
3.3 Văn hoá tận dụng nói dối 117
3.3.1 Các chức năng đa dạng của nói dối 118
3.3.2 Giáo dục nói dối 124
3.4 Văn hoá lưu luyến nói dối 126
3.4.1 Lễ hội nói dối 126
3.4.2 Biểu tượng nói dối 131
3.5 Nói dối trong thời đại toàn cầu hóa 139
3.6 Tiểu kết 150
KẾT LUẬN 153
TÀI LIỆU THAM KHẢO 158
TÀI LIỆU TRA CỨU 167
TƯ LIỆU KHẢO SÁT 168
Trang 5(Các bảng và hình được đánh số theo chương: số thứ nhất là số chương)
Bảng 1.1: Cấu trúc của thuật ngữ “nói dối” tr 16
Bảng 1.2: Phạm vi quan tâm của luận văn về nói dối 20
Bảng 1.3: Nhận diện và phân biệt nói dối với các trường hợp giáp ranh 25
Bảng 3.1: So sánh các biểu tượng nói dối ở phương Đông và phương Tây 137 Bảng 3.2: Kết quả khảo sát “Bạn có nghĩ nói dối là xấu không?” 139
Hình 3.1: Nói dối trong quan hệ với các loại giao tiếp xét theo mục đích 93
Hình 3.2: Nói dối trong quan hệ với các loại giao tiếp xét theo tính chất 94
Hình 3.6: Pinocchio trong phim hoạt hình Wall Disney 134
Hình 3.7: Kết quả tìm kiếm “Bạn có nghĩ nói dối là xấu không?” 138
Trang 61 Việc dẫn nguồn trình bày theo cấu trúc: [Họ Tên tác giả + năm xuất bản: số
trang], vd: [Phạm Minh Lăng 2003: 273] Nếu là tác giả phương Tây thì đặt
họ trước, tên (và tên cha) viết tắt đặt sau, vd: [Kevin D 2002: 15] Thông
tin đầy đủ ghi trong Danh mục tài liệu tham khảo ở cuối luận văn
2 Nếu không xác định được tác giả thì lấy tên tổ chức, hoặc một từ (nhóm từ)
đại diện trong tiêu đề để làm dấu hiệu dẫn nguồn, vd: [The Arbinger
Institute 2009], [Lừa đảo 2008], [Oxford 2000: 741]
3 Nếu cùng một ý mà có liên quan tới nhiều trang thì các trang được phân
cách bằng dấu phẩy Nếu là các trang liên tục thì chỉ ghi trang đầu và cuối,
ở giữa đặt dấu ngang nối; Nếu có nhiều tài liệu thì giữa các tài liệu phân cách bằng dấu chấm phẩy, vd: [Грушевицкая Т.Г 1997: 15, 20, 208; Trần
Ngọc Thêm 2004: 72-74; Садохин А.П 2002: 73]
4 Với các tài liệu internet, nếu xác định được năm đưa lên mạng (= xuất bản), thì dẫn theo các quy ước 1-3 Nếu không có năm thì sau từ đại diện sẽ ghi tên mạng, vd: [Johari Window mindtools.com], [Ложь Ru.wikipedia.org]
5 Nếu tên tác giả đã được nhắc đến trước đó thì sau lời hoặc ý được dẫn sẽ
chỉ ghi năm xuất bản (+ số trang) mà thôi, vd: “Trần Tuấn Lộ còn đồng nhất nghệ thuật giao tiếp với phép lịch sự trong giao tiếp [1995: 131-132]”
Nếu cả tên tác giả và năm xuất bản đã được nhắc đến rồi thì trong ngoặc vuông sau đó chỉ còn số trang, trong trường hợp này sẽ có thêm chữ “tr.” để phân biệt với số năm, vd: [tr 10], [tr 2003]
6 Với những lời trích từ các diễn đàn, blog, thì các đặc trưng văn phong như chữ tắt, từ lóng, chữ biến âm, chữ sai chính tả, v.v nhìn chung vẫn giữ
nguyên, khi cần sẽ được giải thích trong ngoặc vuông, vd: “Sếp Dốt k0 đáng
sợ bằng Sếp "giả vờ Dốt"”; “Lương thật thì mình chỉ nói cho BMD [bố mẹ đẻ] thôi, với chồng thì mình nói thấp hơn 1 tí, cho chồng đỡ vay xiền”
Trang 7Nói dối là một hiện tượng mà ở dân tộc nào cũng có và có từ rất lâu đời Trong những loại hình văn hoá dân gian như thần thoại, truyện cổ tích, thành ngữ, tục ngữ đã thấy có nhiều yếu tố của hiện tượng này
Theo quan niệm phổ biến ở các dân tộc, nói dối xưa nay được xem là phản giá trị, do vậy cũng đương nhiên được xem là phi văn hoá, nó luôn bị ngăn cấm và hạn chế sử dụng
Vậy mà cho tới nay, nói dối không những không mất đi mà có vẻ như ngày càng phổ biến và phát triển đa dạng hơn Điều này cho thấy thái độ chống đối nó lâu nay của xã hội và lảng tránh nó của giới khoa học là sai lầm Rất có thể, trong chiều sâu của thời gian và chiều rộng của không gian, nó có những
cơ sở khoa học sâu xa về văn hoá cần được khám phá và lý giải
Kiến thức văn hoá học giúp chúng tôi nhận thức rằng mọi thứ con người tạo ra và sử dụng rộng rãi đều xuất phát từ những nhu cầu văn hoá và do vậy, đều mang giá trị văn hoá
Từ những lý do trên, chúng tôi mạnh dạn chọn vấn đề “Hiện tượng nói dối từ góc nhìn văn hoá học ” làm đề tài cho luận văn
2 Mc đích nghiên cu và nhng đóng góp ca lu n văn
Nói dối là hiện tượng văn hoá ngôn từ nằm trong khu vực giáp ranh của nhiều ngành khoa học khác nhau và có cách đánh giá khác nhau
Trong phạm vi luận văn này, chúng tôi hướng tới việc xác định bản chất
và những đặc điểm chủ yếu của hiện tượng nói dối để trên cơ sở đó phân tích
Trang 8cách thức con người tận dụng mặt mạnh (mặt văn hóa) cũng như cách thức ứng phó với những điểm yếu (mặt phi văn hóa) của nói dối, đưa ra những dự đoán về tương lai của nó, cũng như góp phần điều chỉnh, hướng dẫn dư luận
được thoả đáng Trong các tài liệu thuộc phạm vi ngành ngôn ngữ học, chúng
tôi chưa tìm được tài liệu nào đề cập đến hiện tượng này
3.2 Ở phạm vi rộng hơn, nói dối còn thuộc lĩnh vực văn hoá ứng xử giữa con người với con người, nó có mối liên quan trực tiếp đến các nghiên cứu triết học, tâm lý học, giáo dục học, đạo đức học, khoa học giao tiếp và nghiên cứu lối sống của các chủ thể liên quan Tuy nhiên, những tài liệu nghiên cứu trực
tiếp về nói dối trong các ngành này cũng không nhiều Các tài liệu nghiên cứu chủ yếu xuất phát từ phương Tây, một số sách vở bằng tiếng Việt ít nhiều có đề cập đến nói dối thì chủ yếu là tài liệu dịch hoặc biên dịch từ tiếng nước ngoài Trong số các tài liệu không nhiều bằng tiếng Việt và tiếng nước ngoài ấy, mảng
tài liệu phong phú hơn cả là thuộc về khoa học giao tiếp, đặc biệt là tâm lý học giao tiếp
3.3 Nói dối là một bộ phận của giao tiếp, và những nghiên cứu chuyên sâu về mặt này thuộc về các nhà khoa học Nga Với truyền thống hàn lâm của
mình, các nhà khoa học Nga đã đi vào nghiên cứu các vấn đề mang tính lý
luận như “Hiện tượng nói dối trong giao tiếp liên nhân” (Феномен лжи в
межличностном общении, [Красников М Л 1999]), hay “Sự tự lừa dối diễn
ra như thế nào” (Как возможен самообман, [Разинов Ю А 2004]), xem xét
tự dối lòng như một hiện tượng văn hóa đặc biệt của con người từ bản chất, những nghịch lý, triết lý của những cảm nhận chạy trốn khỏi bản thân để lý giải tâm lý con người trong những trạng thái mâu thuẫn đặc biệt Nghiên cứu nói
Trang 9dối như một hình thức giải trí, V.Ia Propp cho rằng nói dối giải trí là một trường hợp của nói dối được phân biệt bằng hình thức giải dối trong các tác
phẩm văn học nghệ thuật [Пропп В.Я 1999]
3.4 Cùng nghiên cứu tâm lý con người khi nói dối, các nhà khoa học Mỹ
thiên về khía cạnh thực dụng của vấn đề [Lieberman D 2008; Brooks Jackson
và Kathleen Hall Jamieson 2008; Kevin D 2002; The Arbinger Institute 2009] Tất cả các cuốn sách này đều có đặc điểm chung là nghiên cứu tâm lý của người nói dối và đối tượng giao tiếp của họ trong các trường hợp cụ thể để rút
ra bài học
D Lieberman quan sát các mối quan hệ cá nhân và các tình huống trong
công việc, khám phá tám khía cạnh khác nhau của việc nói dối và đưa ra các giải pháp giúp tìm ra chân lý và giành quyền kiểm soát tình hình [Lieberman D 2008]
Brooks Jackson và Kathleen Hall Jamieson liệt kê, phân tích các trường
hợp nói dối theo chủ đề để đưa đến kết luận về các thủ đoạn lừa dối được hình
thành dựa trên các quy luật tâm lý của con người bởi những định kiến, những kinh nghiệm cá nhân và cả những mong muốn sẵn có trong tiềm thức, từ đó chỉ
ra các phương thức nhận biết những điều dối trá, những kỹ thuật bịp bợm, cũng như hàng loạt cách thức để kiểm tra bằng chứng hiệu quả, nhằm có được sự thật trong một thế giới thông tin hỗn loạn [Brooks Jackson và Kathleen Hall Jamieson 2008]
D Kevin vốn là một tin tặc (hacker), từng phải ngồi tù vì tội phá hoại mạng máy tính, qua nghiên cứu tâm lý của các đối tượng quản lý mạng đã trình
bày những kinh nghiệm của mình và các cách nói dối để có thể lấy mật khẩu
thâm nhập vào các trang quản trị của các website [Kevin D 2002]
Viện Arbinger nghiên cứu cách thức quản lý trong giới lãnh đạo phương Tây và phát hiện ra rằng cách thức quản lý được duy trì lâu nay là dựa trên sự
tự lừa dối, từ đó phân tích để đưa ra những phương án, giải pháp thiết thực
nhằm tự giải phóng mình ra khỏi "chiếc hộp" trong cách ứng xử với những
Trang 10người xung quanh, cũng như sự tự lừa dối với bản thân mình [The Arbinger Institute 2009]
Từ những nghiên cứu tâm lý này, các nhà khoa học - kỹ thuật Mỹ đã đưa
ra hàng loạt các cách thức phát hiện nói dối và sáng chế ra cả các máy móc giúp phát hiện nói dối trong những trường hợp nghiêm trọng cần giải quyết bằng pháp luật
3.5 Về khía cạnh triết học, trong chương VI cuốn sách mang tính tổng
quan của Phạm Minh Lăng nhan đề “Những chủ đề cơ bản của triết học phương Tây” [2003] có nguyên một mục về “sự nói dối” [tr 336-340], trong đó
bàn về khía cạnh đạo đức của nói dối và nêu lên những nghịch lý của sự dối trá Trong phạm vi một mục sách gồm 6 trang, tác giả đã sơ lược nhận xét về cách phản đối của Kant đối với hiện tượng nói dối dựa trên lý luận đạo đức mang tính lý trí Sự lên án đối với dối trá là không có ngoại lệ Đồng thời xét về mặt thời gian, hiện nay phương Tây đã có cách nhìn thoáng hơn về nói dối trên cơ
sở nhận xét của Paul Valéry (nhà thơ Pháp) cho rằng nói dối có cái lý riêng, trong một số tình huống nói dối phục vụ cho những mục đích chân lý [tr 341]
3.6 Về vấn đề giới trong lĩnh vực này, cuốn sách “Tại sao đàn ông nói dối, đàn bà nói nhiều” do Thuý Nga biên soạn, tồng hợp [2005] là một tài liệu
phong phú Từ nhiều nguồn tài liệu nước ngoài, tác giả đã thực hiện việc so sánh cách ứng xử khác nhau của hai giới từ ngàn xưa cho đến tận bây giờ và đi tới kết luận rằng đàn ông, đàn bà khác nhau do cấu tạo sinh học bẩm sinh và do
sự phân công lao động giới dẫn tới cuộc sống vật chất và tinh thần hoàn toàn khác nhau Lâu nay từng tồn tại nhiều hiểu lầm và hố sâu ngăn cách giữa hai giới Tuy nhiên cả hai giới đều cùng chia sẻ với nhau nhiều điểm chung, trong
đó nói dối là ví dụ điển hình Đàn ông và phụ nữ thực ra đều nói dối nhiều như nhau, chỉ có các chủ đề nói dối là khác nhau Sở dĩ người ta có cảm giác rằng đàn ông nói dối nhiều hơn, chẳng qua vì đàn ông ít biết cách che đậy cảm xúc
của mình bằng ngôn từ hay những biện pháp hình thức khác như phụ nữ Và
đàn ông bị phát hiện nói dối nhiều hơn một phần còn do phụ nữ có trí nhớ tuyệt vời
Trang 11Một số bài viết khác về nói dối trên các website thường chỉ dừng lại ở các khía cạnh tâm lý, đạo đức mang tính phổ cập
4 Đ)i t*+ng và ph,m vi nghiên cu
Trên cơ sở lịch sử nghiên cứu vấn đề, chúng tôi xác định đối tượng của
luận văn là nói dối như một hiện tượng văn hoá ngôn từ
Về chủ thể, nói dối được giới hạn trong phạm vi ngôn ngữ/lời nói cụ thể
có chú ý đến các hình thức cận ngôn ngữ đi kèm như điệu bộ, cử chỉ, hình thể,
màu sắc , nhưng bỏ qua các hành động với các hiệu quả vật chất thường gặp trong trường hợp này như các hành động trong lừa đảo, gian trá
Về không gian, nói dối chủ yếu được xem xét trong đối lập mang tính loại hình giữa phương Đông (Việt Nam, Trung Quốc) và phương Tây
Về thời gian, nói dối chủ yếu được xem xét trong giai đoạn hiện tại
Về khoa học, luận văn góp phần làm sáng tỏ thêm một số vấn đề lý luận
về cách ứng xử với các hiện tượng văn hóa - xã hội giáp ranh, những hiện
tượng nằm trong lằn ranh mỏng manh giữa văn hóa và phi văn hóa
Về thực tiễn, luận văn có thể góp phần giúp các cấp quản lý hoạch định
các chính sách trong những lĩnh vực hoạt động liên quan đến văn hóa ngôn từ, định hướng các chuẩn giá trị, chuẩn đạo đức trong xã hội nói chung và các
ngành nghề có liên quan mật thiết tới các lĩnh vực giao tiếp ngôn từ nói riêng
Đồng thời luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu và giảng dạy về lý luận văn hoá, văn hoá xã hội, văn hóa ngôn từ nói
chung và văn hoá ứng xử hoặc văn hoá ngôn từ của người Việt nói riêng
6 Ph*6ng pháp nghiên cu và ngu8n t* li9u
Do đây là một hiện tượng văn hóa - xã hội có độ phủ rộng, nên không thể nhìn nhận nói dối ở một góc độ cục bộ nào đó, mà phải nghiên cứu theo
cách tiếp cận liên ngành, tổng hợp từ các thành tựu của nhiều ngành như triết
Trang 12học, xã hội học, tâm lý học, ngôn ngữ học, khoa học giao tiếp, v.v dưới góc
nhìn văn hóa học
Để có thể đạt được mục đích nghiên cứu nêu trên, luận văn trước hết sử
dụng phương pháp quan sát thực địa để phân tích, tìm hiểu cách thức ứng xử
của con người và những dấu hiệu, đặc điểm ngôn từ khi thực hiện hành vi nói dối
Thứ hai, vận dụng phương pháp so sánh - loại hình để nghiên cứu cơ
sở hình thành và đặc điểm của hành vi nói dối trong các loại hình văn hoá, các nhóm chủ thể, các khu vực không gian và các giai đoạn thời gian khác nhau
Thứ ba, sử dụng phương pháp hệ thống - cấu trúc để phân tích - tổng
hợp, sắp xếp các hiện tượng nói dối vô cùng đa dạng, phức tạp vào các thành tố cấu thành để nghiên cứu, khái quát hóa lên thành một hệ thống chung
Ngoài ra, phương pháp thống kê cũng được sử dụng để hỗ trợ
Nguồn tư liệu để nghiên cứu nói dối mà chúng tôi sử dụng là những lời nói vốn chủ yếu tồn tại dưới dạng truyền miệng, song để thuân tiện cho việc thao tác, chúng đã được ghi lại, văn bản hóa dưới nhiều dạng khác nhau Internet với vô vàn các blog, trang web cá nhân là một nguồn tài liệu vô tận mà
chúng tôi đã cố gắng tận dụng một cách triệt để
7 B) cc ca lu n văn
Ngoài phần dẫn nhập, kết luận, luận văn được chia làm ba chương
Chương 1 có mục đích xây dựng một cơ sở lý luận về nói dối thông qua
hệ thống các khái niệm, đặc trưng, các bình diện và nguồn gốc của nói dối, để thấy được bản chất, quy luật, điều kiện hình thành hành vi nói dối như một
hành vi giao tiếp do con người sáng tạo và tồn tại cùng con người trong suốt các thời kỳ lịch sử, tính chất đa dạng và phức tạp của một hiện tượng bản năng như một thuộc tính của con người, nằm trong khu vực giáp ranh giữa văn hóa
và phi văn hóa
Trang 13Trên cơ sở hệ thống lý luận này, chương 2 và 3 sẽ đi vào trình bày hiện tượng nói dối trên hai mặt có liên quan mật thiết với nhau là mặt phi văn hoá và mặt văn hoá của nó Một số vấn đề tuy cũng mang tính lý luận chung, nhưng chủ yếu chỉ liên quan đến một trong hai mặt (văn hoá / phi văn hoá) của nói dối
sẽ được đưa vào trình bày trong phần đầu chương tương ứng
Chương 2 được dành để trình bày tính chất phi văn hóa của nói dối và
khởi đầu bằng những khái niệm về giá trị, giá trị văn hoá và phi văn hoá của
nói dối, khía cạnh đạo đức của nói dối, từ đó giúp người đọc hiểu nguyên nhân
vì sao nói dối bị cấm đoán và hạn chế sử dụng Trên cơ sở đó, luận văn đi vào
tìm hiểu một số ngành nghề chính có xu hướng đang tận dụng khía cạnh phi
văn hóa của nói dối để mưu lợi cho cá nhân hoặc tập thể nhỏ của mình, từ đó
phân tích các cách thức đối phó với nói dối trong đời sống xã hội hiện nay
Chương 3 sẽ trình bày mặt văn hóa của nói dối Nói dối được luận văn
nhận diện như những giá trị văn hoá và tìm hiểu vị trí thực sự của nó trong hệ thống giao tiếp, các chức năng của nói dối được tận dụng trong đời sống, các ngành nghề chính phát huy những ưu điểm của nói dối để phục vụ cộng đồng, phân tích những hiện tượng lưu luyến nói dối: lễ hội, biểu tượng để thông qua
đó giúp người đọc khẳng định rằng nói dối thực sự là một hiện tượng văn hóa
có giá trị mà con người đã và đang luôn mang theo trong hành trang cuộc sống của mình
Trang 141.1 Đ#nh nghĩa khái ni9m nói d)i
Trên thế giới có nhiều định nghĩa về nói dối chứa đựng các cách đánh giá khác nhau
Định nghĩa nói dối đơn giản nhất thuộc về từ điển tiếng Bồ Đào Nha
[Fernando J Da Silva 1984: 1041] giải thích mentir (nói dối) là “thiếu vắng sự
thật” (faltar a verdade) và từ điển tiếng Nga [Ожегов С.И., Шведова Н.Ю 1992] giải thích nói dối (обмануть, лгать, врать) là “đánh lạc hướng, nói không thật, vu khống” (Ввести в заблуждение, сказать неправду, клеветать)1
Tương tự như vậy, nói dối trong tiếng Anh được định nghĩa là “nói hoặc
viết điều gì đó mà biết là không đúng” (To lie = “to say or write something that
you know is not true”) [Oxford 2000: 741]
Trong tiếng Bồ Đào Nha, Từ điển thực hành có minh họa [Dicionário 1966: 295] giải thích từ mentir = fallar mentira (nói dối, nói láo, nói điêu)2 là
“nói hoặc khẳng định điều trái với điều xảy ra hoặc suy nghĩ” (dizer ou afirmar
o contrário do que se crê ou pensa) Thực chất là giải thích rõ hơn khái niệm
Trang 15thật/sự thật, đó là những điều thực tế xảy ra, hoặc đó chỉ là những suy nghĩ chưa được thể hiện ra ngòai
Trong tiếng Pháp từ mentir tương đương với “nói dối, nói láo, nói điêu”
trong tiếng Việt [Mentir Vdict.com] được giải thích là “Không nói sự thật Nói
điều trái sự thật Che giấu sự thật Cố ý đưa vào vòng tội lỗi” (Ne pas dire la vérité Dire quelque chose de contraire à la vérité Cacher la vérité Induire en erreur volontairement) [Mentir Fr.wiktionary.org] Trong tiếng Pháp, khái niệm nói dối được mở rộng ra cho cả những trường hợp không cho biết sự thật, che giấu sự thật hoặc làm người khác hiểu sai sự thật
Tầm nguyên tự điển Việt Nam của Lê Ngọc Trụ [1993] định nghĩa dối là
“khi dễ, không thật” (từ chữ di tiếng Hán nghĩa là không thật)3
Từ điển mở Wikitionary bổ sung thêm yếu tố ‘chủ tâm’, và định nghĩa nói dối là “chủ tâm nói cái gì đó không đúng” [Nói dối Vi.wiktionary.org]
1.1.2.1 Các định nghĩa về nói dối nêu trên của mọi ngôn ngữ đều rất đúng
khi tập trung sự chú ý vào đặc trưng coi nói dối là nói không đúng sự thật
Trọng tâm của thuật ngữ “nói dối” không nằm ở chữ “nói” mà nằm ở chữ
“dối”
Trong tiếng Việt, “nói dối” là một từ ghép gồm có hai bộ phận, trong đó,
về ngữ pháp, nói là thành phần chính chỉ họat động ngôn từ, và dối là phần phụ
chỉ tính chất, cách thức hoạt động; nhưng về mặt ngữ nghĩa thì ngược lại, dối
đóng vai trò chính chỉ tính chất đánh giá, đôi khi người ta sử dụng dối như một động từ tương đương với nói dối Ví dụ: “Dối mình, dối người, bị người dối
đều đau đớn” [Bebe Phạm 2006]; hoặc như trong lời bài dân ca Qua cầu gió
3 Từ này theo Lê Ngọc Trụ là từ “tiếng Việt chuyển gốc HánViệt” Nhưng trong các từ điển Hán Việt của Nguyễn Lân [1989], Đào Duy Anh [1992] và Viện Ngôn ngữ học [1991] chúng tôi đều không
-tìm thấy từ dối
Trang 16bay: “Yêu nhau, cởi áo í a trao nhau/ Về nhà, dối thầy í a dối mẹ/ Rằng a í a
qua cầu/ Tình tình tình gió bay ”
Cấu trúc của thuật ngữ “nói dối” được trình bày trong bảng 1.1
Bảng 1.1: Cấu trúc của thuật ngữ “nói dối”
1.1.2.2 Con người nói chung luôn hướng tới sự thật và cố gắng đạt tới chân lý để có được hiểu biết đúng Tuy nhiên, so với thực tế thì việc con người trình bày, miêu tả lại thực tế bao giờ cũng có khoảng cách nhất định, không phải lúc nào cũng đúng, chính xác Vì vậy trong hầu hết các trường hợp người nghe chỉ nhận được những thông tin không hoàn toàn thật, không chính xác như thực tế vốn có Tuy trọng tâm là “dối” nhưng hình thức trong đó cái “dối”
ấy diễn ra là “nói” Nói dối trước hết là một hoạt động giao tiếp ngôn từ - đặc
trưng này ít được các định nghĩa đã có để ý đến
Trong mô hình hành vi giao tiếp của mình, Trần Ngọc Thêm đã rất có lý khi giải thích điều này là do thông tin mà người phát tin định “truyền” tới người nhận tin trên thực tế đã không bao giờ được “truyền” đi cả, đơn giản vì thông tin là loại giá trị tinh thần, mà giá trị tinh thần là thuộc tính của cái vật chất là bộ não Nghĩa là thông tin ấy mãi mãi nằm lại trong bộ não của người phát tin Để làm cái việc không thể làm được là “truyền” tin, con người đã phát minh ra cách tạo nên một mô hình vật chất thay thế cho thông tin là lời nói/văn bản Nhờ việc nhận được lời nói/văn bản như một mô hình vật chất của thông
tin này mà người nhận tin đã tự mình tạo nên trong óc mình một thông tin gần
giống với thông tin có trong đầu người phát tin Như vậy, giao tiếp là một quá trình mà trong đó thông tin sản phẩm hình thành trong đầu người nhận tin không bao giờ đồng nhất hoàn toàn với thông tin gốc có trong đầu người phát
tin [Trần Ngọc Thêm 1989: 40-41] Có thể nói rằng việc thông tin không thể
Trang 17đúng được với sự thật (dù rất muốn) đã nằm ngay trong bản chất của hành vi giao tiếp con người có thể là một tiền đề cho việc nói dối
1.1.2.3 Nói sai sự thật chỉ thực sự trở thành nói dối khi con người cố tình
lợi dụng bản chất đó (thông tin không thể đúng được với sự thật) để đẩy cái
sai số cho phép của thông tin lên mức độ xã hội không chấp nhận được [x mục
1.4.1.1]
Như vậy, để phân biệt với hạn chế tự nhiên của năng lực nhận thức và giao tiếp, định nghĩa về nói dối cần được bổ sung thêm yếu tố “chủ tâm”, “cố ý” của chủ thể lời nói, “nhằm mục đích che giấu sự thật” để loại trừ phần lớn những thông tin không thật, không đúng thực tế do hạn chế về năng lực mà người phát tin có nhận thức sai lầm, ngộ nhận, hoặc khi giao tiếp thì diễn đạt
không đúng ý mình muốn nói (điều mà có một Từ điển mở Wikitionary chú ý
đến bằng việc bổ sung thêm yếu tố ‘chủ tâm’: nói dối là “chủ tâm nói cái gì đó không đúng” [Nói dối Vi.wiktionary.org])
Nói sai sự thật với mục đích dối luôn cố ý che giấu sự thật, cố ý sao cho
đối tượng giao tiếp không tìm ra sự thật, không biết được sự thật4, không hiểu được điều gì đã xảy ra trong thực tế
Với những bổ sung vừa nêu, đến đây chúng ta có thể định nghĩa nói dối như sau:
NÓI DỐI là một hoạt động giao tiếp ngôn từ có nội dung không đúng thực tế được người phát tin đưa ra một cách cố ý để che giấu sự thật
Định nghĩa này chứa đựng ba đặc trưng chính của nói dối như sau (x hình
1.1):
(1) Về hình thức, là giao tiếp ngôn từ (đặc trưng giống)
(2) Về tính chất của nội dung: không đúng với thực tế (đặc trưng loài 1)
4 Về mặt này, nói dối giống như mật mã, nói lái, ở chỗ che giấu sự thật, nhưng mật mã, nói lái không đánh lạc hướng đối tượng giao tiếp, mà sử dụng hình thức đặc biệt để che giấu
Trang 18(3) Về động cơ: cố ý che giấu sự thật (đặc trưng loài 2)
Hình 1.1: Các đặc trưng của nói dối
1.2 Nh n di9n hi9n t*+ng nói d)i
Sau khi định nghĩa đối tượng, việc quan trọng số một là phải nhận diện đối tượng Muốn nhận diện đối tượng thì phải phân biệt được nó với những hiện tượng có liên quan.Việc phân biệt nói dối với những hiện tượng có liên quan có thể thực hiện được căn cứ vào ba đặc trưng của nói dối đã được nêu ra trong định nghĩa
1.2.1.1 Giao tiếp ngôn từ5 là hoạt động giao tiếp sử dụng “ngôn ngữ được nói hay viết thành văn” [Hoàng Phê 1992: 683]
của nội dung:
Hoạt động giao tiếp
Cố ý che giấu sự thật
Không cố ý che giấu sự thật 3) Động cơ:
Không đúng thực tế
Trang 19Về cấu trúc của hoạt động giao tiếp, có nhiều mô hình, song mô hình của Trần Ngọc Thêm [1989] mà chúng tôi đã đề cập đến ở trên (mục 1.1.2.2) là chi tiết hơn cả Về các đặc trưng của giao tiếp ngôn từ, xin xem [Trần Ngọc Thêm 1989; 2004: 277-297; Hoàng Anh (chủ biên) 2007: 159-210] Ở đây, chỉ xin lưu ý một điều: các sản phẩm của hoạt động giao tiếp ngôn từ (văn bản và lời
nói) luôn bao gồm hai phần là phần lời/chữ và phần các đặc điểm ngoài
lời/chữ được gọi là cận ngôn ngữ học
Cận ngôn ngữ học (паралингвистика) là một chuyên ngành của ngôn
ngữ học nghiên cứu các phương tiện phi lời tham gia trong thành phần của thông báo ngôn từ và thể hiện thông tin ngữ nghĩa cùng với các phương tiện chữ/lời Có ba loại phương tiện cận ngôn ngữ học:
a) Các phương tiện âm học (phonic) như cao độ, trường độ, cường độ, tốc
độ, nhịp điệu, âm vực, âm sắc, đặc điểm phương ngữ, v.v
b) Các phương tiện hoạt động cơ thể (kinetic) như điệu bộ, cử chỉ, nét
mặt của người phát tin;
c) Các phương tiện văn tự (graphic) như đặc điểm chữ viết, các ký hiệu đi
kèm (như &, @, # v.v.) [Паралингвистика Ru.wikipedia]
1.2.1.2 Đặc trưng hình thức giao tiếp ngôn từ này giúp khu biệt nói dối
như một hành động (giao tiếp) ngôn từ với làm dối như một hành động (vật chất) chân tay tạo ra các sản phẩm vật thể là đồ giả (hàng giả, hoa giả, tóc giả,
ngực giả, màu sắc giả, tiếng động giả )
Hình thức ngôn từ này cũng giúp phân biệt nói dối với những dạng thức
tương tự nhưng có sự kết hợp cả lời nói và hành động (vật chất) chân tay như
lừa dối, lừa bịp, gian dối, lừa đảo Lừa dối, lừa bịp, gian dối, lừa đảo bao
gồm cả hai loại hành động là hoạt động (giao tiếp) ngôn từ và hành động (vật chất) chân tay Trong luận văn này, chúng tôi chủ yếu quan tâm đến phần ngôn
từ trong các hoạt động lừa dối, lừa bịp, gian dối, lừa đảo (bao gồm cả phần
lời/chữ và phần cận ngôn ngữ học ngoài lời/chữ) mà tạm bỏ qua không xét đến phần hành động (vật chất) chân tay trong chúng (x bảng 1.2)
Trang 20NÓI DỐI LỪA DỐI LÀM DỐI Chỉ có hành
động (giao tiếp)
ngôn từ
Hành động (giao tiếp) ngôn từ (nói
dối)
hành động (vật chất) chân tay (làm dối)
Chỉ có hành động (vật chất) chân tay
Phạm vi quan tâm của luận văn
Bảng 1.2: Phạm vi quan tâm của luận văn về nói dối
1.2.2.1 Nội dung không đúng thực tế là đặc trưng loài quan trọng giúp
phân biệt giữa thật với không thật (sai sự thật, dối)
Sai sự thật / dối, có thể là không đúng toàn bộ hoặc không đúng một phần (sai một hoặc một số chi tiết) Mức độ sai có thể là khác ít, khác nhiều, hoặc khác hoàn toàn Vì đây là cách nhìn nhận đánh giá mang tính chủ quan, nên sự
đánh giá có thể rất khác nhau: với người này, trong hoàn cảnh cụ thể này thì
việc nói sai một chi tiết trong toàn bộ sự thật bị coi là khác nhiều, khác nghiêm
trọng; nhưng với người khác, ít quan tâm hoặc không dính dáng gì về quyền lợi
thì lại có thể coi việc nói sai hoàn toàn là không quan trọng, không đáng để ý… Việc đánh giá là sai nhiều hay ít còn phụ thuộc vào đối tượng, sự việc và cách đưa đối tượng, sự việc ra để đánh giá Nếu sự việc gồm nhiều bộ phận,
chi tiết thì việc sai khác đi một/vài bộ phận, một/vài chi tiết thường được coi là khác ít Nếu chỉ xét riêng bộ phận, chi tiết ấy thôi thì việc nói khác đi lại bị coi
là lớn, là nói khác hoàn toàn Do vậy, đã là che giấu thì trong bất kỳ trường hợp
nào, dù là che giấu một phần hay toàn bộ sự thật thì cả hai trường hợp đều
thuộc về nói dối
1.2.2.2 Còn việc nói khác hoàn toàn thì có hai trường hợp đối ngược
nhau Trường hợp thứ nhất là từ một thực tế không có gì, người phát tin đã bịa
đặt, bịa chuyện, đặt điều ra thành một câu chuyện, đã nói không thành có Do
Trang 21vậy, nội dung lời nói trong trường hợp này sẽ không có mối liên hệ nào với sự thật, thực tế
Trường hợp ngược lại là thực tế có xảy ra, nhưng người phát tin cố tình
không muốn kể sự thật mà phủ nhận nó, nói có thành không – không thấy,
không nghe, không biết… mặc dù có biết hoặc có chứng kiến
Bịa đặt và phủ nhận nói riêng, hay nói khác ít và nói khác nhiều nói chung, đều là những biểu hiện cụ thể của nói dối
1.2.2.2 Ở đây cần phân biệt nói dối với các trường hợp nói lảng, nói
tránh, giữ bí mật, giấu thông tin…
Khi giữ bí mật, giấu thông tin, người phát tin không nói sai sự thật và không cố tình che giấu sự thật, vì đơn giản là sự thật đã không hề được nói ra
Do vậy, giữ bí mật, giấu thông tin không phải là nói dối
Còn khi nói lảng, nói tránh thì, vì lý do tế nhị nào đó, người phát tin đã không nói ra sự thật và lảng tránh sang chủ đề khác, khiến đối tượng giao tiếp phân tâm hoặc vì tế nhị mà bỏ qua chủ đề cũ Như vậy ở đây người phát tin có
cố tình che giấu sự thật nhưng không nói sai sự thật vì sự thật đã không hề được nói ra Về mặt này, nói lảng, nói tránh giống với giữ bí mật, giấu thông
tin
1.2.2.4 Ngoài ra, tính chất không đúng sự thật còn cho phép phân biệt
nói dối với hiện tượng nói nước đôi Nói nước đôi là cách nói mơ hồ khiến cho
nội dung truyền đạt đi có nhiều cách hiểu khác nhau Vì là nước đôi nên nó vừa đúng, vừa không đúng sự thật; sự thật chỉ có một, do vậy nó chỉ có thể có một
nghĩa đúng, còn các nghĩa khác là sai sự thật
&( )*+ $,-./
1.2.3.1 Mục đích, động cơ mang tính chủ tâm – cố ý che giấu sự thật –
là đặc trưng thứ ba của nói dối, cho phép khu biệt nó với những hình thức nói
Trang 22sai sư thật mang tính “ngộ nhận” do chủ thể “hiểu/nghĩ sao nói vậy”, nên
không đúng với thực tế khách quan
Nói sai sư thật mang tính “ngộ nhận” có thể xảy ra trong tranh luận khoa học (khi sự kiện được nói đến đã/đang xảy ra, tức là thuộc về quá khứ và/hoặc hiện tại); trong trường hợp dự đoán/dự báo/ cảnh báo sai và trong trường hợp hứa/dọa (khi sự kiện được nói đến thuộc phạm trù tương lai)
Trong tranh luận khoa học, tuy các nhà khoa học cùng bàn về một đề tài
và cùng hướng tới chân lý/sự thật, nhưng vẫn có thể nói ra những điều khác hẳn nhau hoặc thậm chí trái ngược nhau Điều này không có nghĩa là nhà khoa
học nói dối, mà là họ chỉ nói những điều họ tin là đúng (nhưng thực tế có thể sai) Đó là trường hợp nói sai sư thật mang tính “ngộ nhận” khi sự kiện được nói đến thuộc phạm trù quá khứ và/hoặc hiện tại
Còn dự đoán/dự báo/ cảnh báo sai (vd như dự báo thời tiết) là trường
hợp nói sai sư thật mang tính “ngộ nhận” khi sự kiện được nói đến thuộc phạm trù tương lai Dự đoán/dự báo/ cảnh báo sai rất hay bị nhầm lẫn với hiện tượng
nói dối, chúng giống với hiện tượng nói dối ở chỗ thông tin được nói ra không đúng với thực tế làm người nhận tin mất lòng tin, nhưng khác với nói dối ở chỗ người phát tin không cố ý nói sai sự thật
Cùng thuộc loại nói sai sư thật mang tính “ngộ nhận” khi sự kiện được
nói đến thuộc phạm trù tương lai là hiện tượng hứa/dọa (sai sự thật) Hứa và
dọa là hai hành động giống nhau về bản chất, chỉ khác nhau ở điểm: hứa là
mang đến lợi ích, còn dọa là đưa đến sự tổn hại
Đặc điểm chung của các hiện tượng hứa/dọa mà không thực hiện với dự đoán/dự báo/ cảnh báo sai là ở chỗ sự thật chỉ có thể kiểm chứng khi điều kiện thời gian đã thỏa mãn mà vẫn sự việc vẫn không xảy ra Điều này thường xảy
ra khi thực tế không đáp ứng các điều kiện cần và đủ cho việc thực hiện các ý muốn của người phát tin hoặc người phát tin không đủ thông tin, kinh nghiệm
để có thể tiên đoán hoặc thông báo về những gì có thể/ không có thể xảy ra sau lời nói của mình Đó không phải là cố ý nói sai sự thật
Trang 23Cần phân biệt hứa-dọa mà không thực hiện (không phải nói dối) với hứa
lèo và dọa già (là một loại nói dối) Hứa lèo và dọa già là những lời nói mà về
hình thức là hứa/dọa, song về thực chất lại là nói dối vì người phát tin biết chắc
là hành động được nói đến sẽ không thực hiện nhưng vẫn hứa/dọa nhằm đạt
được mục tiêu của mình đặt ra, nhằm tạm thời làm giảm căng thẳng, nhằm câu
thời gian, v.v., tức là đã cố ý hứa/dọa một việc trái với ý nghĩ, suy nghĩ thực sự
của mình Trong thực tế, có lẽ hầu hết các bậc cha mẹ đều “dọa” con cái của mình khi chúng không vâng lời và xem đó là một cách giáo dục khá bình
thường Chẳng hạn: “Nếu con không chịu ăn, mẹ cho bạn X ăn hết nhé!”, hoặc: “Nếu con không ăn nhanh, mẹ không cho con đi công viên vào chủ nhật tới đâu!”, hay: “Con mà còn hư như vậy, mẹ bỏ con luôn”… [Nếu bạn là 2008] Đó là những cách dọa, vì thường chúng ta không có ý định thực hiện điều đó, chẳng qua là muốn trẻ vì sợ điều đó mà vâng lời thôi
“[Mead Johnson lại có event [sự kiện] ở nhà trẻ (…).] Đến nơi, Cún thấy đông vui khoái chí quá chạy tùm lum, mẹ vừa chụp hình event vừa
để mắt trông chừng Cún Khổ ghê! Đến lúc mẹ xong việc rồi mà Cún vẫn
chưa chịu về, mẹ phải dụ là đi ăn kem thì Cún mới miễn cưỡng leo lên xe
mẹ Trên đường về, Cún thấy mẹ chạy theo hướng về nhà cứ nhắc "ăn
kem, ăn kem" Đến lúc rẽ vào nhà, Cún khóc và không chịu cho mẹ chạy
xe vào hẻm Mẹ xin lỗi, mẹ chỉ nói thế thôi chứ đâu có ý định cho con đi
ăn kem đâu, con còn phải về nhà tắm rửa và ăn tối nữa” [Hứa lèo
Uk.blog]
1.2.3.2 Đặc trưng cố ý che giấu sự thật cũng cho phép khu biệt nói dối
với các trường hợp nói dóc, nói trạng, nói khoác, nói phét, cường điệu, v.v
nhằm mục đích giải trí Đây là loại cố ý nói sai sự thật, nhưng không làm lạc hướng người nhận tin, do hành động nói sai ở đây được đi kèm với hành động
giải dối dưới hình thức giải thích (như dùng các từ/ngữ: thật ra là, nói thật là,
(nói) đùa đấy, bị/phải lừa rồi, theo tôi thì, ) hay gián tiếp dưới dạng sử dụng
các hình thức văn học nghệ thuật, yếu tố phi lý [x Trần Ngọc Thêm 1981:
Trang 2468-75] Hành động giải dối ở đây phải là những giải thích của chính người phát tin thì mới được xem là người phát tin không làm lạc hướng người nhận tin Tất cả các hình thức trên khác nói dối ở chỗ là không đánh lạc hướng đối tượng giao tiếp ra khỏi mục đích hiểu biết sự thật, mà dùng các yếu tố giải thích để giúp đối tượng giao tiếp hiểu rằng đây chẳng qua chỉ là những thông tin giả, người phát tin muốn người nhận tin nghe/đọc cho vui và để nghe xong suy ngẫm kỹ hơn sẽ thấy sự thật
Tuy nhiên, trong một số nghiên cứu ở Nga có cách hiểu nói dối tương đối rộng Theo đó, loại nói sai sự thật mang tính giải trí, nói điều sai sự thật nhưng không cố tình lừa người nhận tin vì có đưa ra thông tin giải dối kèm theo mà
chúng ta vừa nhắc tới cũng được xem là một loại nói dối [Ложь
Ru.wikipedia.org] V.Ja Propp gọi nó là “nói dối có giải dối”, “nói dối hài hước” (комичная ложь) [Пропп 1999: 109-110] Cách hiểu nói dối theo nghĩa rộng như thế này cho thấy thêm một công dụng của việc nói sai sự thật – đó là công dụng giải trí Tuy vậy, khác với V.Ja Propp, chúng tôi không xem hiện tượng này là một tiểu loại nói dối, mà chỉ là trường hợp giáp ranh cần phân biệt
1.2.3.3 Đặc trưng cố ý che giấu sự thật còn cho phép khu biệt nói dối với
trường hợp nói vòng - hình thức dùng những từ ngữ, các cấu trúc khiến cho đối
tượng giao tiếp hiểu được ẩn ý, hàm ý của chủ thể giao tiếp
Nói vòng có nhiều nét khá gần với nói dóc, nói trạng, nói khoác Chỗ
giống nhau giữa nói vòng với nói dóc là chúng đều là nói sai sự thật nhưng có kèm theo thông tin giải dối (vì vậy mà chúng không phải là nói dối), còn chỗ khác nhau là nói dóc chỉ nhằm mục đích giải trí, còn nói vòng có mục đích truyền đi một thông điệp bằng hàm ý
Có nhiều cách để nói vòng, mà một trong các cách ấy là cố ý sử dụng việc nói sai sự thật làm phương tiện Ví dụ: “Có anh giai mời "Mình đi uống nước nhé?", "Vâng, em rủ mấy cô bé cùng phòng đi cho vui nhé?", "Thôi chỉ anh với em chứ đông quá mất vui." (??!!!) "Dạ thôi, em lại bận mất rồi" ” [Lời đề nghị 2009] Ở đây rõ ràng là chủ thể lời nói (cô gái) đã nói không đúng
Trang 25sự thật, vì cùng một người cùng một thời điểm mà lúc trước thì nói có thể đi được, lúc sau lại nói bận rồi, song cuộc nói chuyện này hoàn toàn bình thường, không cố ý giấu điều gì hoặc không hề có ý định đánh lạc hướng đối tượng giao tiếp Chẳng qua người nói cố tình đưa ra những chi tiết mâu thuẫn nhau một cách vô lý để khiến cho đối tượng phải chú ý và suy luận ra hàm ý ẩn sau những lời nói đó Trong trường hợp này, người con trai cần hiểu ý cô gái là:
“Em không muốn đi riêng với anh”, sâu xa hơn nữa là “Em không/chưa quan tâm đến anh như một đối tác tình cảm”
Như vậy, nói vòng có thể sử dụng nói dối làm phương tiện, nhưng không
có chủ đích là đánh lạc hướng đối tượng giao tiếp, mà ngược lại, đã dùng nói
dối hiển nhiên tới mức phi lý, làm cho sự phi lý ấy trở thành yếu tố giải dối và
khiến đối tượng giao tiếp hiểu được hàm ý của chủ ngôn6
1.2.4.1 Việc nhận diện nói dối thông qua ba đặc trưng của nó được trình bày trong bảng 1.3 Bảng này cho phép phân biệt nói dối với các hiện tượng giáp ranh mà trong thực tế rất hay lẫn lộn
Đặc trưng Hiện tượng
1 Hình thức ngôn từ
2 Tính chất không đúng
sự thật
3 Động cơ
cố ý che giấu sự thật
Lừa dối, lừa đảo/ bịp, gian dối (+) + +
6 Nói vòng được nghiên cứu trong luận án tiến sĩ ngôn ngữ học của Nguyễn Đăng Khánh do GS Trần Ngọc Thêm hướng dẫn [2008]
Trang 26Hứa, dọa, dự báo +/- - -
Bảng 1.3: Nhận diện và phân biệt nói dối với các trường hợp giáp ranh
1.2.4.2 Trong “Từ điển trái nghĩa - đồng nghĩa tiếng Việt” của Dương
Kỳ Đức và Vũ Quang Hào, nói dối được xếp vào cùng với loạt từ sau: “ba hoa,
bày đặt (hiếm), bịa đặt, bóp méo, dối, dựng đứng, đặt, đặt để (hiếm), đặt điều, đơm đặt, nói dóc, nói dối, nói điêu, nói khoác, nói láo, nói phách, nói phét, nói
trạng, phịa (khẩu)" [1992: 164; 26] Với chuỗi đồng nghĩa này, các tác giả từ điển đã nhấn mạnh vào tính chất sai sự thật của nói dối
Sự thật thì chỉ có một, tuy nhiên sai sự thật thì rất nhiều Thêm vào hay bớt đi đều cùng làm cho sự thật biến dạng và không còn là sự thật nữa Do vậy, nếu chỉ liệt kê những trường hợp nói thêm vào như Dương Kỳ Đức, Vũ Quang Hào [1992] thì sẽ là vừa thừa, vừa thiếu
Thừa là vì trong nhóm từ này có những từ không phải là nói dối, như nói
phách, nói trạng, nói phét vì chúng có chứa yếu tố phi lý để gây cười, giải
trí, chúng là nói sai sự thật không cố ý vì đã có yếu tố giải dối đi kèm
Thiếu là vì, theo lý thuyết thì không đúng sự thật, sai sự thật là có sự
chênh lệch giữa thực tế với lời nói miêu tả Người phát tin nói tăng thêm một/một vài chi tiết, hay nói bớt, nói giảm đi về kiểu cách, mức độ là đã làm
sai sự thật Do vậy, nói sai là nói tăng lên hoặc giảm đi so với thực tế, nói sai
bao giờ cũng tồn tại dưới dạng những cặp đối lập đi kèm với nhau: Nói thêm
>< nói bớt, nói tăng >< nói giảm Tuy vậy, có lẽ vì các trường hợp nói giảm, nói bớt có vẻ như không phổ biến nên ta ít gặp các tên gọi được đặt riêng cho
chúng
Trang 271.3 Các bình di9n ca nói d)i
Nói dối là khái niệm bao quát một tập hợp các hiện tượng vô cùng phong phú Chúng có thể được xem xét, phân loại theo rất nhiều bình diện khác nhau
Ở đây, căn cứ vào các đặc trưng của nói dối nói riêng, và của văn hoá giao tiếp ngôn từ nói chung, chúng tôi xin đề xuất ba bình diện (= ba cách phân loại) các hiện tượng nói dối: (1) Nói dối xét theo phương thức giao tiếp, (2) Nói dối xét theo đối tượng tham gia giao tiếp, và (3) Nói dối xét theo tình huống
Xét theo phương thức thì giao tiếp có giao tiếp trực tiếp (các đối tượng giao tiếp cùng hiện diện) và giao tiếp gián tiếp (các đối tượng giao tiếp không hiện diện) Do vậy, theo phương thức giao tiếp, ta sẽ có hai loại nói dối là nói dối trực tiếp và nói dối gián tiếp
1.3.1.1 Nói dối trực tiếp
Nói dối trực tiếp là hình thức nói dối mà trong quá trình giao tiếp, người
phát tin và người nhận tin nói chuyện đối mặt với nhau Người phát tin dùng lời nói sai sự thật thể hiện bằng nội dung ngôn từ phát ra dưới hình thức âm thanh
có thể đo được cao độ, cường độ, trường độ, âm sắc Tùy theo nhu cầu của mình, người nói có thể trực tiếp làm sai lệch nội dung hay thay đổi thông số của các phương tiện cận ngôn ngữ học (như cao độ, cường độ, trường độ, âm sắc , x mục 1.2.1) để gián tiếp làm sai lệch nội dung lời nói
Trong giao tiếp trực tiếp, người tham gia giao tiếp có xu hướng giữ thể diện cho nhau, chiến lược giao tiếp chung thường gặp là “sử dụng các hành vi ngôn ngữ trong giao tiếp nhằm giữ thể diện và tránh đe doạ thể diện của người tham gia giao tiếp” [Nguyễn Thiện Giáp 2000: 107] Những lời nói thẳng, nói thật, tuy là đáng tin cậy, nhưng lại “có nguy cơ đe doạ thể diện cao nhất” [Tạ Thị Thanh Tâm 2008: 32]
Ngược lại với nói thẳng là nói vòng, nói tránh Ngược lại với nói thật là nói dối Như vậy, nói dối – cùng với nói vòng, nói tránh – là một trong những
Trang 28cách giao tiếp có tác dụng tránh đe dọa thể diện người khác và giữ thể diện cho mình
Nói dối trực tiếp thường có thêm các hình thức cận ngôn ngữ khác như cử chỉ, điệu bộ, ánh mắt phụ trợ, chúng đem lại hiệu quả gần như tức thời Do các tác dụng phụ của các yếu tố phi ngôn ngữ, người ta thường sử dụng các biện pháp quan sát để phát hiện nhằm ứng phó với nói dối
Nói dối trực tiếp còn có một đặc điểm quan trọng khác là có sự tương tác tại chỗ giữa người phát tin và người nhận tin Các thành viên giao tiếp có thể thay đổi vai giao tiếp với nhau thường xuyên, tạo nên những tác động bất ngờ làm thay đổi diễn tiến của hành động giao tiếp nói dối
1.3.1.2 Nói dối gián tiếp
Nói dối gián tiếp là hình thức nói dối mà quá trình giao tiếp được người
phát tin và người nhận tin thực hiện thông qua các phương tiện trung gian như văn tự hoặc các phương tiện kỹ thuật như điện thoại, video; các hệ thống thông tin hiện đại như mạng Internet
Nói dối qua hình thức văn tự là trường hợp nói dối gián tiếp đơn giản nhất và lâu đời nhất Những trường hợp thư từ giả, giấy tờ giả, hóa đơn giả, báo cáo sai thực tế… thuộc loại này
Bộ phim truyện Việt Nam “Bao giờ cho đến tháng mười” của đạo diễn
Đặng Nhật Minh sản xuất năm 1984 kể về Duyên, một cô gái thôn quê Việt Nam điển hình, “trở về nhà sau chuyến đi thăm chồng ở biên giới Tây Nam, mang trong mình nỗi đau khôn tả Duyên giấu chuyện chồng hi sinh với mọi người trong gia đình, đặc biệt là đối với người cha già đang có bệnh nặng Để
an ủi cha, Duyên nhờ thầy giáo Khang viết hộ những bức thư hỏi thăm gia đình
như khi chồng chị còn sống Những bức thư giả này chính là những lời nói dối
gián tiếp đã mang lại niềm vui cho gia đình, nhưng nỗi đau thì một mình cô phải chịu đựng, nước mắt nuốt vào trong Đến khi cảm thấy mình yếu, không còn sống được bao lâu, người bố chồng bảo Duyên gọi điện cho con trai về để
Trang 29gặp mặt lần cuối Đến lúc này, tin chồng mất mới lộ ra [Bao giờ… Vi.wikipedia.org]
Trong đời sống hiện đại, thường gặp nhất là hiện tượng nói dối gián tiếp qua các phương tiện kỹ thuật như điện thoại di động, internet, v.v (x mục 2.3.4)
Theo đối tượng tham gia giao tiếp có thể phân biệt nói dối xét theo chủ thể giao tiếp (người phát tin) và theo khách thể giao tiếp (người nhận tin) Theo chủ thể và theo khách thể giao tiếp đều có thể phân biệt trường hợp người tham gia giao tiếp là một cá nhân hoặc một tập thể Song trong giao tiếp vai trò của chủ thể quan trọng hơn, chi phối tới nội dung và hiệu quả của giao tiếp nhiều hơn, cho nên chúng tôi sẽ xem xét từ góc độ chủ thể là chính, vai trò của khách thể giao tiếp sẽ được xét đến như một tiêu chí bổ sung
1.3.2.1 Nói dối khi chủ thể là một cá nhân (nói dối cá nhân)
Đây là trường hợp thường xảy ra nhất vì chủ thể giao tiếp là người chủ động và vì vậy có thể giữ bí mật sự thật ở mức độ cao
Khi chủ thể và khách thể khác nhau, nếu khách thể cũng là cá nhân, tức
là khả năng bao quát vấn đề không rộng rãi, và nếu chủ thể lời nói lại nắm vững được tầm hiểu biết của khách thể thông qua các quan hệ xã hội của chủ thể và khách thể, thì khả năng nói dối trong trường hợp này dễ xảy ra và cũng ít
bị phát hiện
Trường hợp khách thể là tập thể, khả năng bao quát vấn đề tương đối
rộng, chủ thể giao tiếp khó có thể nắm được toàn bộ khả năng bao quát vấn đề của tất cả các thành viên, cho nên nếu nói dối sẽ dễ bị phát hiện Những nói dối kiểu này thường có nội dung là những chuyện cá nhân, riêng tư của chủ thể Ví
dụ như nói dối khi trả lời phỏng vấn về việc riêng tư của các diễn viên, ca sĩ, nhạc sĩ… để xây dựng hình ảnh với công chúng
Trang 30Trường hợp đặc biệt là khi chủ thể và khách thể là một người Đó là hiện
tượng dối lòng, dối mình, tự lừa dối xảy ra rất phổ biến trên toàn thế giới
(tiếng Pháp: se mentir à soi-même, tiếng Nga: самобман, сам обманываться) Tự lừa dối là hành động nói dối được thực hiện dưới dạng lời nói thành tiếng hoặc dưới dạng đối thoại nội tâm – lời nói dưới dạng ý nghĩ
trong quá trình tư duy Ngôn ngữ học và ngôn ngữ học thần kinh từ lâu đã xác định rằng con người ta tư duy bằng ngôn ngữ, người thường sử dụng ngôn ngữ nào sẽ tư duy bằng ngôn ngữ đó Trong trường hợp này, người nói dối sẽ phân thân thành hai nửa người nói và người nghe để “giao tiếp thầm” và “dối nhau” trong suy nghĩ mà thôi
Các cảm xúc về tự nói dối cũng khá đặc biệt, khiến cho các bài hát về
chúng được sáng tác khá nhiều Bài hát Self Deception (tự lừa dối) trong Album Comalies của ban nhạc “Metal Lacuna Coil” của Italy đã rất thành công tại châu Âu và Mỹ Bài hát Tự lừa dối (nhạc Hoa)7 cũng được ưa chuộng giống
như bài hát Việt Nam Trái tim không ngủ yên8 của nhạc sĩ Thanh Tùng được các bạn trẻ thích nghe và hát theo với các câu hát:
Nếu anh nói anh vẫn chưa yêu
Là thật ra anh đang dối mình
Còn anh nói đã trót yêu em rồi
Là hình như anh đang dối em
Ngay như ở Mỹ, với nền giáo dục lý tính rạch ròi, luôn phân biệt đúng sai, phải trái, thì ông J.C.Watts, chủ tịch GOPAC – một tổ chức đào tạo những người theo đuổi sự nghiệp chính trị tại Mỹ – trong bài diễn thuyết của mình trước toàn thể học sinh sinh viên ở Altus (bang Oklahoma), cũng đã từng cho
rằng có ba lời nói dối phổ biến ở đất Mỹ: "Tôi được quyền mắc lỗi”, "Chuyện
đó sẽ không bao giờ xảy ra với mình đâu", "Mình còn rất nhiều thời gian" [Ba
lời Mfonews.net] Đây là những lời nói (hoặc ý nghĩ thể hiện dưới dạng đối thoại nội tâm) đặc trưng nhất để tự bào chữa, động viên, an ủi Chúng giúp cho
7 Nghe tại http://www.nhaccuatui.com/nghe?M=UE7wPZb_DN
8 Nghe tại http://nhacvietplus.com.vn/vn/phainghe/16757/index.aspx
Trang 31con người tìm được sự bình an tạm thời trong lòng vào những thời điểm biến động Song nếu lạm dụng nó, sử dụng nhiều lần, con người sẽ trở nên thụ động, chây ỳ, mất khả năng hành động và sáng tạo
Với nội dung tương tự như trường hợp trên, một người Việt giấu tên đã tâm sự:
“Với tôi, hình như khi kinh nghiệm sống ngày càng tăng, tôi càng phải
tự lừa dối mình, trong nhiều hoàn cảnh
Theo ý kiến cá nhân mình thì hầu hết mọi người đều như vậy hoặc ít ra
là cũng đã từng như vậy Mình không có ý nói tất cả mọi người đều là
những kẻ dối trá mà điều mình muốn đưa ra ở đây là chúng ta đang sống trong một thế giới đầy rẫy sự dối trá, vì thế đôi khi chính bản thân chúng
ta đôi lúc tham gia vào nhưng lại không hề hay biết hoặc là không đế ý đến
Tôi nghĩ ai cũng từng tự lừa dối mình cả, chẳng qua là đôi khi nó hay
được nấp trong cái vỏ rất êm tai "tự an ủi" Nó cũng như một chất kích thích vậy Có thể tạo ra động lực vượt qua khó khăn (cơn đau) nhất thời Nhưng dùng nhiều thì ắt nghiện và khó bỏ, khi ấy thì dễ đánh mất mình Một con dao 2 lưỡi thực sự” [Các bạn 2007]
1.3.2.2 Nói dối khi chủ thể là một tập thể (nói dối tập thể)
Nói dối tập thể là trường hợp khá đặc biệt vì nhận thức của các cá nhân trong tập thể không giống nhau Để có được lời nói dối tập thể thì bao giờ cũng phải có sự bàn bạc, thỏa thuận trước, và đề cử cá nhân đại diện phát ngôn Hiện tượng nói dối khi cả chủ thể và khách thể đều là tập thể thì việc nói
dối này được gọi là nói dối chính thức Phương tiện và cách thức nói dối trong
trường hợp này thường được quy ước hoặc thể chế hóa
Khả năng giữ bí mật của nói dối tập thể phụ thuộc vào: (a) mức độ đồng nhất về lợi ích của các thành viên; (b) mức độ uy tín và uy quyền của người lãnh đạo; (c) mức độ nặng nề của hình phạt được đề ra cho những người vi
Trang 32phạm Tuy nhiên, do tính chất đa dạng và không nhất quán của tập thể, những trường hợp nói dối tập thể thường sớm muộn gì cũng đều bị đưa ra ánh sáng
Nói dối xét theo tình huống giao tiếp bao gồm nói dối chủ động và nói dối bị động
Phổ biến chủ yếu là những cuộc nói dối để lừa người khác nhằm mưu lợi
cá nhân Đây là loại nói dối phi văn hoá (phi giá trị) sẽ được bàn đến ở chương
hai Loại nói dối phi văn hoá này thường bị lên án kịch liệt Chủ thể lời nói
trong các trường hợp này thường cố tìm một lý do mang tính bắt buộc nào đó
để chuyển nói dối chủ động thành nói dối bị động nhằm giảm bớt cảm giác tội lỗi
1.3.3.2 Nói dối bị động
Nói dối bị động là hình thức giao tiếp mà trong đó, do bị hoàn cảnh giao tiếp thúc ép, người phát tin bị buộc phải cố ý nói sai sự thật nhằm đánh lạc hướng người nhận tin
Ranh giới giữa chủ động và bị động thực sự là một ranh giới mờ Trong tình huống cụ thể, người ta luôn có thể tìm ra lý do thích hợp để lý giải theo ý mình về tính chất chủ động hay bị động của hành động
Hoàn cảnh giao tiếp ở đây cũng rất đa dạng bởi quan hệ giao tiếp vốn không đồng nhất Chủ thể giao tiếp có thể bị thúc ép bởi vị thế giao tiếp, bởi thói quen nhún nhường, bởi không muốn gây hiềm khích với khách thể giao tiếp Việc bị uy hiếp bởi vũ lực hay quan niệm xã hội, áp lực cộng đồng, v.v
Trang 33cũng có thể trở thành những yếu tố khiến cho người ta rơi vào tình huống bắt buộc phải nói sai sự thật
Mặt khác, ở những nền văn hoá coi trọng danh dự và thể diện như Việt Nam [Trần Ngọc Thêm 2004: 280-281], con người luôn có nhu cầu thể hiện hình ảnh của mình trước người khác sao cho có lợi nhất Đôi khi phải tự tin mà giới thiệu quá lên, đôi khi lại phải khiêm tốn mà nhún nhường quá xuống, tạo nên ở xã hội phương Đông những con người có nhiều khuôn mặt: ở nhà khác ngoài đường, trong giới bạn bè thân quen khác ở nơi cần ngoại giao, chính thống, lâu rồi mọi người đều quen dần với sự giả dối Bởi vậy mà những lời nói dối bị động do hoàn cảnh quy định nói chung và đặc biệt là ở phương Đông nói riêng, thường được cộng đồng thông cảm và đồng tình; thậm chí trong một số trường hợp còn được khen ngợi và đánh giá cao Về cơ bản, nói dối bị động chính là hành vi giao tiếp ứng phó với môi trường xã hội, và trong phần lớn
trường hợp, nó là nói dối có văn hoá (sẽ được bàn đến ở chương ba)
Các bình diện của nói dối và các loại nói dối được trình bày trong bảng 1.4
Nói dối xét theo phương
thức giao tiếp
Nói dối trực tiếp Nói dối gián tiếp
Nói dối xét theo đối
tượng tham gia giao tiếp
Nói dối cá nhân chủ thể = cá nhân Nói dối tập thể chủ thể = tập thể Nói dối chính thức chủ thể + khách thể = tập thể
Nói dối xét theo tình
huống giao tiếp
Nói dối chủ động = Nói dối phi văn hoá Nói dối bị động = Nói dối có văn hoá
Bảng 1.4: Các bình diện của nói dối
Trang 341.4 Ngu8n g)c ca nói d)i
0123&34&5
Tiến hóa là một quá trình lâu dài và nó di truyền lại những bản năng tự bảo vệ để tồn tại trong không gian tự nhiên khắc nghiệt Theo các nhà tâm lý học thì “dối trá đúng là bản chất của con người, nó ăn sâu vào tiềm thức, như là kết quả của công cuộc tiến hóa, sinh tồn và ức chế bản năng nhất thiết phải diễn ra” [Thùy Ninh 2009]
Trải qua một quá trình tiến hóa lâu dài, động, thực vật càng ngày càng thích ứng tốt hơn với môi trường tồn tại của mình Các con vật do phải tự mưu sinh để giành giật sự sống nên quá trình thích ứng càng mạnh mẽ hơn Trong quá trình thích ứng đó, dối trá như một phẩm chất cần thiết cho cuộc sống xuất
hiện Ai cũng biết tắc kè là một loài động vật sinh tồn bằng cách thay đổi màu
da cho phù hợp với môi trường xung quanh để đánh lừa (= cung cấp thông tin sai lệch = dối trá) các con mồi Càng về sau, những con tắc kè con cháu càng thích ứng tốt hơn với điều kiện sống khắc nghiệt và chúng càng biến hóa được thành nhiều màu hơn để giống với môi trường nhiều hơn
Quá trình tiến hóa này diễn ra cả ở kẻ săn mồi và cả ở nạn nhân của nó Tắc kè “dối trá” để đánh lừa các côn trùng nhưng chính chúng lại bị rắn đánh lừa Để bắt được tắc kè, những con rắn đã “dối trá” bằng cách nằm yên bất động vờ như đang ngủ hoặc làm giống như một thanh củi, khúc cây trên đường
đi, đợi con tắc kè tới gần để tấn công
Và quá trình tiến hóa tương tự như vậy cũng xảy ra ở con người, nhưng có phần phức tạp hơn Con người, ngoài những cách thức áp dụng để sống sót thì
họ còn là một loài động vật biết tư duy và có rất nhiều ham muốn, ham muốn nhiều thứ khác ngoài các nhu cầu sinh học tối thiểu Con người còn có một công cụ hỗ trợ đắc lực cho việc dối trá – đó là ngôn ngữ và một xã hội phức tạp với những mối liên hệ vật chất và tinh thần đa dạng, phong phú
Trang 351.4.1.1 Tiền đề tự nhiên
Trong quá trình tiến hóa, từ sâu trong vô thức động vật của mình, con người đã có bản năng nói dối để tồn tại và phát triển Theo Nguyễn Hồi Loan9
thì “vô thức không được thỏa mãn đã thúc đẩy người ta nói dối Những ham
muốn bị vùi sâu trong vô thức là những ham muốn không chính đáng nên nó buộc phải bằng cách nào đó ngụy trang đi cái được coi là xấu xa” [Thùy Ninh 2009] Song việc nói dối sẽ không thể thực hiện được nếu không tồn tại một môi trường với những tiền đề thuận lợi cho sự phát triển
1.4.1.1.1 Trước hết là thế giới khách quan hết sức đa dạng và phong
phú Tất cả các sự vật, hiện tượng không tồn tại độc lập mà có quan hệ chặt chẽ, ràng buộc lẫn nhau, khiến cho con người không phải lúc nào cũng tách bạch được các sự vật, hiện tượng riêng biệt mà miêu tả, kể lại
Thêm nữa, các sự vật, hiện tượng cũng có hệ thống bên trong phức tạp khó có thể nắm bắt được một cách chi tiết, do vậy con người thường tìm cách nắm điểm, miêu tả điểm, tức là chỉ thông báo những điều cho là quan trọng, chứ không phải toàn bộ chi tiết Sự giống nhau giữa các thực thể khách quan: hình dáng, tính chất, nội dung… có thể gây nhầm lẫn giữa các sự vật, hiện tượng với nhau (hiểu nhầm)
Các sự vật, hiện tượng trong thế giới khách quan thường xuất hiện hoặc xảy ra theo một logic nhất định, tức là khó tách biệt, do vậy có những sự vật, hiện tượng giống nhau, tương tự nhau về cơ bản và chỉ khác nhau ở một hoặc một vài điểm, nhưng có thể khiến cho bản chất và tên gọi của chúng khác hẳn nhau Điều này cũng có thể là nguyên nhân dẫn đến nhầm lẫn và dối trá
1.4.1.1.2 Sự hạn chế của ngôn ngữ và quy luật truyền tin cũng góp
phần không nhỏ khiến người ta lợi dụng để nói sai sự thật
Ở mục 1.1.2 đã nói rằng giao tiếp là một quá trình mà trong đó thông tin sản phẩm hình thành trong đầu người nhận tin KHÔNG BAO GIỜ đồng nhất hoàn toàn với thông tin gốc có trong đầu người phát tin [Trần Ngọc Thêm
9 Giảng viên Khoa tâm lý Trường ĐH KHXH&NV thuộc ĐHQG Hà Nội
Trang 361989: 40-41] Ngôn ngữ lại bắt buộc phải trình bày sản phẩm dưới dạng tuyến tính (tính hình tuyến của ngôn ngữ), khó có thể lột tả hết được các chi tiết cụ
thể về sự vật, hiện tượng khách quan vốn xảy ra rất phức tạp và đa chiều Thêm vào đó, thông tin được thể hiện bằng ngôn ngữ trong giao tiếp
không phải bao giờ cũng được lặp nguyên vẹn mà có xu hướng bị cá nhân hóa
như chọn lọc, giản lược, rút bớt chi tiết hay cường điệu hóa, nhấn mạnh và đồng hóa thông tin theo thói quen, sở thích/thành kiến cá nhân [Nguyễn Quý Thanh 2006: 61-66]
Theo những quy luật trên, thông tin trong giao tiếp thường bị bóp méo một cách vô thức, và được dân gian đúc kết thành quy luật “tam sao thất bản”, “có
ít xít ra nhiều”, “có một đồn mười” Điều đó cũng có thể trở thành nguyên cớ
để người ta lợi dụng cố ý nói sai sự thật
1.4.1.1.3 Hạn chế về nhận thức của người phát tin có thể khiến anh ta
đưa ra một thông tin sai lệch, không đúng thực tế Việc phát tin sai thực tế như vậy mới đầu có thể khiến người phát tin chưa nhận thức được và tin rằng đó là
sự thực Sau này, khi hiểu ra rằng mình sai hoặc do kiểm tra lại mà biết rằng mình sai, người trung thực và có lương tâm thì sẽ đính chính, còn gặp trường hợp người sĩ diện thì tuy biết là sai nhưng do đã lỡ nói rồi nên thôi luôn mà không điều chỉnh lại nữa, khiến cho người nhận tin vẫn hiểu sai sự thật
Hành vi giao tiếp chỉ được liệt vào loại nói dối khi chủ thể lời nói biết chắc rằng nó không đúng với thực tế Tuy nhiên, người nghe không phải bao giờ cũng nhận biết được điều này, bởi sự kiện được nói tới xảy ra trong phạm
vi hẹp ít người biết, hoặc thuộc loại sự việc khó có thể kiểm chứng được 1.4.1.1.4 Nhưng tiền đề khách quan quan trọng nhất dẫn đến hiện tượng
nói dối là nhận thức non yếu, hay là sự thiếu hiểu biết, của người nhận tin
Cụ thể hơn, Phạm Minh Lăng cho rằng “sự lầm lẫn bổ sung cho sự ngu dốt một ảo ảnh về sự hiểu biết” [2003: 336] Người nói đã lợi dụng sự thiếu hiểu biết này để hình thành một cách thức giao tiếp có lợi cho mình: cố tình nói điều không đúng với sự thật
Trang 37Do vậy nói dối có thể xảy ra khi người nói đã nhận thức đúng vấn đề, nhưng vẫn cố tình đưa ra thông tin sai thực tế
1.4.1.1.5 Những kết quả nghiên cứu về ảnh hưởng những đặc điểmcủa
giới trong các vấn đề xã hội của một số học giả phương Tây cho thấy rằng đàn
ông và phụ nữ khác nhau từ cấu tạo sinh học, từ chức năng tồn tại cho tới cách
tư duy và ứng xử xã hội Ngay từ khi tượng hình trong bào thai, các thai nhi đã
có cấu tạo di truyền tương thích với giới tính sau này của mình và các tế bào đặc biệt này sẽ phát triển điều khiển việc sản sinh ra những kích thích tố giới tính tương ứng
Đàn ông thì giỏi săn bắn, đuổi bắt Đàn bà thì giỏi giao tiếp, bao quát gia đình Từ những đặc thù công việc, “đàn ông đi săn” luôn gặp phải hiểm nguy, nên tập trung cao độ, chỉ suy nghĩ, hành động theo một hướng, nên “nhận thức của các ông thường liên quan đến việc hoàn thành mục tiêu, địa vị và quyền lực, cạnh tranh thành công ” Do vậy người đàn ông thường hay dùng từ ngữ lớn lao, không muốn để người khác biết về những khiếm khuyết của mình, do vậy họ ít giao tiếp về các chủ đề riêng tư, hoặc giả nếu bắt buộc phải nói về chuyện cá nhân, họ sẽ biến nó thành những câu chuyện đùa và do vậy “đàn ông
thường nói dối để làm mình trông có vẻ hay hơn” [Thúy Nga (biên soạn) 2005
(tập II): 35, 60, 117, 166]
1.4.1.2 Tiền đề xã hội
1.4.1.2.1 Con người sinh ra có cấu tạo sinh học không hoàn toàn giống nhau Sức khỏe và trí tuệ không đồng đều Khả năng duy trì và phát triển đời sống cá nhân đã khiến cho các thành viên trong cộng đồng có các mức sinh hoạt và cách thức sống đa đạng
Khi bắt đầu hiểu được về sở hữu cá nhân, người ta bắt đầu có nhu cầu vun vén, tích lũy cho mình, và hiểu về mâu thuẫn quyền lợi giữa cá nhân này với cá nhân khác, mâu thuẫn giữa quyền lợi cá nhân với quyền lợi tập thể Người này được nhận thì người khác không Người ta có nhu cầu chiếm đoạt cho cá nhân mình bằng nhiều cách khác nhau tạo nên những mâu thuẫn về quyền lợi khiến con người luôn phải cân nhắc, đắn đo
Trang 38Trong khi đó, xã hội ngày càng phát triển, kích thước các cộng dồng ngày càng lớn, quy mô ngày càng to, số lượng ngày càng nhiều, các mối quan
hệ ngày càng đa dạng Các cá nhân có xu hướng độc lập hơn, không phụ thuộc lẫn nhau và không biết về nhau Trong bối cảnh đó, người ta có thể bóp méo sự thật hoặc thêu dệt vấn đề mà không lo bị phát giác Người xung quanh không ai biết rõ sự thật nên họ có thể sẽ tin lời bạn Do vậy, con người đã tận dụng nói dối như một công cụ phục vụ cho lợi ích cá nhân của mình
1.4.1.2.2 Việc “ứng xử với xã hội là một lĩnh vực hoàn toàn khó khăn và
có tính tế nhị của nó Quy luật xã hội rất khắc nghiệt Nó chấp nhận những gì hợp lý, phù hợp với cách cảm, cách nghĩ của dân tộc” [Phạm Vũ Dũng 1996:
186] Mỗi nền văn hoá tạo nên những khuôn mẫu tư duy của mình theo những
chuẩn mực ngầm định của cộng đồng “được truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác”, trong đó nổi bật là cách suy luận “họ giống tôi” hoặc “tôi giống họ”10[Nguyễn Quý Thanh 2006: 121, 125-129]
Các khuôn mẫu tư duy, đến lượt mình, là cơ sở tạo nên một loạt chuẩn mực trong các lĩnh vực Trong lĩnh vực giao tiếp, nền văn hoá nào cũng có
những chuẩn mực giao tiếp của mình như một thứ luật bất thành văn để các
thành viên hướng tới
Hệ thống chuẩn mực giao tiếp bao gồm các chuẩn mực về nội dung giao tiếp, hình thức giao tiếp, phương tiện giao tiếp, cách thức giao tiếp, v.v Bộ phận chính của hệ thống chuẩn mực về cách thức giao tiếp là nghi thức giao tiếp
Nghi thức giao tiếp là những hành vi giao tiếp quy ước mà mỗi cá nhân
tất yếu phải thực hiện nhằm biểu hiện sự tôn trọng người đối thoại và cũng để
tự giữ danh dự của mình Hệ thống nghi thức giao tiếp của các dân tộc chính là những khuôn mẫu cho phép người ta nói không đúng sự thật mà không bị bắt
bẻ Gặp một người quen khi đang rất bực dọc trong lòng, cư dân mọi dân tộc
vẫn có thể bật ra câu nói: “Rất vui được gặp anh” (Việt), “Nice to meet you”
10 Điều này trong nghiên cứu về dư luận xã hội, Leonard W Doob gọi là sự phóng chiếu và sự
đồng nhất hóa [dẫn theo Nguyễn Quý Thanh 2006: 125-129]
Trang 39(Anh), “Рад вас видеть” (Nga) Nghi thức giao tiếp là thứ người ta có thể sử
dụng như một thói quen mà không cần quan tâm tới nội dung hoặc sự thật diễn
ra Ở phương Tây, người ta hay sử dụng các nghi thức ngôn từ chính thức được cộng đồng công nhận như những công thức (các câu chào gặp mặt, chào tạm biệt, chúc ngủ ngon, xin lỗi, cám ơn, v.v.) Trong khi đó ở phương Đông hệ thống nghi thức này uyển chuyển hơn rất nhiều [Tạ Thị Thanh Tâm 2008: 193]
Hệ thống kính ngữ, khinh ngữ, nhã ngữ, uyển ngữ11 cực kỳ phong phú và phát triển trong các thứ tiếng Việt, Hoa, Hàn, Nhật [Trần Ngọc Thêm 2004:
283-287; Trần Thị Vân Yên 2009; Tiếng Nhật 2009; Kính ngữ tiếng Hàn -
web.hanu.vn]
Việc vận dụng hệ thống chuẩn mực giao tiếp tạo nên nghệ thuật giao tiếp Nghệ thuật giao tiếp “đã được hình thành tự phát trong lịch sử của nhân loại và của từng dân tộc, xuất phát từ những kinh nghiệm thành công và thất bại của nhiều thế hệ đã trở thành truyền thống văn hoá giao tiếp, thành thuần phong mỹ tục giao tiếp” [Trần Tuấn Lộ 1995: 131-132]
1.4.1.2.3 Trường hợp nói dối thực sự hay gặp nhất là những suy nghĩ
riêng tư được phát biểu dưới hình thức lời của người khác để tăng thêm tính
thuyết phục hoặc để trốn tránh trách nhiệm với những khuôn mẫu kiểu như
“người ta nói…”, “nghe nói rằng…” Dùng công cụ tìm kiếm Google trên
internet ngày 12/5/2009, với cụm từ khóa "nghe nói rằng" chúng tôi thu được kết quả là 22.900 lần xuất hiện, "người ta nói rằng” thu được 79.500 lần,
"người xưa nói rằng” thu được 805 lần Với cụm từ cùng nghĩa bằng tiếng Nga
"говорят, что” thu được 7.830.000 lần12 và cụm từ bằng tiếng Pháp “on dit que" thu được 1.530.000 lần
Điển hình cho trường hợp tăng thêm tính thuyết phục cho ý kiến của mình
là gán ý kiến ấy cho thần thánh vì con người vốn tin và nể sợ thần thánh
11 Khinh ngữ, uyển ngữ được coi là biện pháp sử dụng từ vựng với những sắc thái nâng cao, hạ thấp, mở rộng ý nghĩa để tránh dùng từ ngữ trực tiếp được coi là thô thiển hoặc vô lễ chiếu theo yếu tố văn hóa, tâm lý và chuẩn mực đạo đức xã hội [x thêm Trần Thị Vân Yên 2009: 36-70] “Nâng cao, hạ thấp, mở rộng ý nghĩa” đều là những hành vi nói sai sự thật một cách cố ý
12 Sở dĩ cụm từ vô nhân xưng này trong tiếng Nga có số lượng cao hơn hẳn so với các ngôn ngữ khác là một phần bởi vì nó có hình thức trùng với các trường hợp có chủ ngữ ở ngôi thứ ba số nhiều, ví dụ: cụm từ "они говорят, что” - 379.000 lần xuất hiện, là một bộ phận trong kết quả trên
Trang 40Trường hợp sự ra đời bài thơ “Nam quốc sơn hà” của Lý Thường Kiệt là một ví
dụ
Như vậy, để cho hoạt động giao tiếp đạt được hiệu quả tốt hơn, trong nhiều trường hợp người ta đã tránh nói thật mà tìm cách nói cái người nhận tin muốn nghe, hơn là cái người phát tin muốn nói Chính vì vậy mà những người thẳng tính, thật thà đôi khi vẫn bị xã hội chê trách bằng những nhận xét đại loại
như: “Anh này thật thà quá!” Khi một tập thể cử người đi họp hành, thương
lượng về những vấn đề liên quan tới quyền lợi, các cơ quan cũng thường tránh chọn những người ngây thơ, thật thà
0 3,%&6
Để cho hoạt động giao tiếp có thể tồn tại, ít nhất phải có sự tham gia của bốn yếu tố: chủ thể giao tiếp (người phát tin), khách thể giao tiếp (người nhận tin), nội dung giao tiếp và phương tiện giao tiếp
1.4.2.1 Phân tích mối quan hệ giữa ba yếu tố chủ thể giao tiếp, khách thể giao tiếp, và nội dung giao tíếp trên cơ sở phương tiện giao tiếp là ngôn ngữ, Joseph Luft và Harry Ingham đã xây dựng “Cửa số giao tiếp Joharri”13 (the Johari Window of Communication) với bốn vùng chính: VÙNG MỞ (là nơi mà
mình (chủ thể giao tiếp) và người khác (khách thể giao tiếp) cùng biết), VÙNG
MÙ (là nơi mà người khác biết nhưng mình không biết), VÙNG ẨN (là nơi mà mình biết nhưng người khác không biết) và VÙNG KHÔNG BIẾT, không thể nhận thức được (là nơi mà cả mình lẫn người khác đều không biết) [x Johari Window Mindtools.com; Chu Văn Đức 2005: 38]
13 Trong tên gọi “JOHARRI”, ‘Jo’ lấy từ Joseph Luft, còn ‘harri’ lấy từ Harry Ingham
... ngơn từ nói chung, chúng tơi xin đề xuất ba bình diện (= ba cách phân loại) tư? ??ng nói dối: (1) Nói dối xét theo phương thức giao tiếp, (2) Nói dối xét theo đối tư? ??ng tham gia giao tiếp, (3) Nói dối. ..Nói dối xét theo tình
huống giao tiếp
Nói dối chủ động = Nói dối phi văn hố Nói dối bị động = Nói dối có văn hố
Bảng 1.4: Các bình diện nói dối ...
Nói dối trực tiếp Nói dối gián tiếp
Nói dối xét theo đối
tư? ??ng tham gia giao tiếp
Nói dối cá nhân chủ thể = cá nhân Nói dối tập thể chủ thể = tập thể Nói dối