Tính cấp thiết của đề tài Giải quyết nguồn tin về tội phạm giữ vai trò rất quan trọng trong việc quyết định có hay không dấu hiệu tội phạm, là căn cứ quan trọng để khởi động quá trình g
Trang 1NGUYỄN THANH THẢO NHI
GIẢI QUYẾT NGUỒN TIN VỀ TỘI PHẠM:
NGHIÊN CỨU SO SÁNH LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ
LIÊN BANG NGA VÀ VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH LUẬT HÌNH SỰ VÀ TỐ TỤNG HÌNH SỰ
ĐỊNH HƯỚNG NGHIÊN CỨU
TP HỒ CHÍ MINH, NĂM 2020
Trang 2GIẢI QUYẾT NGUỒN TIN VỀ TỘI PHẠM:
NGHIÊN CỨU SO SÁNH LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ
LIÊN BANG NGA VÀ VIỆT NAM
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi, dưới sự hướng dẫn và giúp đỡ của Tiến sĩ Lê Huỳnh Tấn Duy Các trích dẫn trong luận văn đảm bảo độ tin cậy, chính xác và trung thực Những tài liệu tham khảo sử dụng trong luận văn đều được liệt kê đầy đủ, cụ thể Những kết luận khoa học của luận văn chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tác giả luận văn
Nguyễn Thanh Thảo Nhi
Trang 4DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Trang 5MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ SO SÁNH LUẬT VÀ GIẢI QUYẾT NGUỒN TIN VỀ TỘI PHẠM TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ LIÊN BANG NGA VÀ VIỆT NAM 8
1.1 Một số vấn đề lý luận về so sánh luật 8
1.1.1 Lợi ích của việc so sánh luật 8
1.1.2 Lý do lựa chọn, đối tượng và phạm vi so sánh với pháp luật tố tụng hình sự Liên bang Nga 11
1.2 Khái niệm, phân loại nguồn tin về tội phạm trong tố tụng hình sự 16
1.2.1 Khái niệm nguồn tin về tội phạm trong tố tụng hình sự 16
1.2.2 Phân loại nguồn tin về tội phạm trong tố tụng hình sự 21
1.3 Khái niệm, đặc điểm và vai trò của giải quyết nguồn tin về tội phạm trong tố tụng hình sự 27
1.3.1 Khái niệm giải quyết nguồn tin về tội phạm trong tố tụng hình sự 27
1.3.2 Đặc điểm của giải quyết nguồn tin về tội phạm trong tố tụng hình sự 28
1.3.3 Vai trò của giải quyết nguồn tin về tội phạm 30
Kết luận Chương 1 34
CHƯƠNG 2 SO SÁNH QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ LIÊN BANG NGA VÀ VIỆT NAM VỀ GIẢI QUYẾT NGUỒN TIN VỀ TỘI PHẠM 35
2.1 Thẩm quyền giải quyết nguồn tin về tội phạm 35
2.1.1 Thẩm quyền giải quyết nguồn tin về tội phạm theo pháp luật tố tụng hình sự Liên bang Nga 35
2.1.2 Thẩm quyền giải quyết nguồn tin về tội phạm theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam 43
2.1.3 So sánh quy định về thẩm quyền giải quyết nguồn tin về tội phạm theo pháp luật Tố tụng hình sự Liên bang Nga và Việt Nam 45
2.2 Các hoạt động giải quyết nguồn tin về tội phạm 49
2.2.1 Các hoạt động giải quyết nguồn tin về tội phạm theo pháp luật tố tụng hình sự Liên bang Nga 49
2.2.2 Các hoạt động giải quyết nguồn tin về tội phạm theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam 55
2.2.3 So sánh quy định về các hoạt động giải quyết nguồn tin về tội phạm theo pháp luật tố tụng hình sự Liên bang Nga và Việt Nam 57
Trang 62.3 Trình tự, thủ tục và thời hạn giải quyết nguồn tin về tội phạm 59
2.3.1 Trình tự, thủ tục và thời hạn giải quyết nguồn tin về tội phạm theo pháp luật tố tụng hình sự Liên bang Nga 59 2.3.2 Trình tự, thủ tục và thời hạn giải quyết nguồn tin về tội phạm theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam 62 2.3.3 So sánh trình tự, thủ tục và thời hạn giải quyết nguồn tin về tội phạm theo pháp luật tố tụng hình sự Liên bang Nga và Việt Nam 66
Kết luận Chương 2 69 CHƯƠNG 3 KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM VỀ GIẢI QUYẾT NGUỒN TIN VỀ TỘI PHẠM TRÊN CƠ SỞ HỌC TẬP PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ LIÊN BANG NGA 70 3.1 Đánh giá quy định của pháp luật tố tụng hình sự Liên bang Nga về giải quyết nguồn tin tội phạm 70
3.1.1 Ưu điểm của pháp luật tố tụng hình sự Liên bang Nga về giải quyết nguồn tin tội phạm 70 3.1.2 Hạn chế của pháp luật tố tụng hình sự Liên bang Nga về giải quyết nguồn tin tội phạm 74
3.2 Kiến nghị hoàn thiện quy định của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam
về giải quyết nguồn tin về tội phạm 77 Kết luận Chương 3 88 KẾT LUẬN 89 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 7LỜI NÓI ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Giải quyết nguồn tin về tội phạm giữ vai trò rất quan trọng trong việc quyết định có hay không dấu hiệu tội phạm, là căn cứ quan trọng để khởi động quá trình giải quyết vụ án hình sự, đồng thời mang ý nghĩa then chốt, tiền đề cho các cơ quan
có thẩm quyền tiến hành tố tụng thực hiện các hoạt động điều tra, truy tố, xét xử vụ
án được thuận lợi, hạn chế tối đa tình trạng oan sai, bỏ lọt tội phạm, hạn chế được
số vụ án phải trả hồ sơ điều tra bổ sung, giữ gìn sự nghiêm minh của pháp luật Trong bối cảnh Việt Nam đang thực hiện công cuộc cải cách tư pháp theo tinh thần Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 01/01/2002 của Bộ chính trị về “một số nhiệm vụ trọng tâm của cải cách tư pháp trong thời gian tới” đã nêu rõ “Nâng cao chất lượng công tác điều tra, thực hiện tốt công tác tiếp nhận xử lý tố giác, tin báo tội phạm…” nhằm không bỏ lọt tội phạm, không làm oan người vô tội Tiếp đó Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ chính trị về “Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020” mặc dù không trực tiếp đề cập đến công tác này, cũng đã nhấn mạnh đến việc “hoàn thiện các thủ tục tố tụng tư pháp”, trong đó có thủ tục giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố đồng thời yêu cầu các cơ quan có thẩm quyền phải hoàn thành các nhiệm vụ mà Nghị quyết 08 trước đó đã đề ra
Nhằm thể chế hóa chiến lược cải cách tư pháp của Bộ chính trị, BLTTHS
2015 đã có những thay đổi tiến bộ trong nội dung cũng như cách thức quy định đối với công tác giải quyết nguồn tin tội phạm như: quy định chi tiết các khái niệm; bổ sung cơ quan có thẩm quyền, đồng thời tăng thời hạn giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố; bổ sung một số quyết định mới: quyết định tạm đình chỉ, quyết định phục hồi hoạt động giải quyết tố giác, tin báo tội phạm, kiến nghị khởi tố; cùng một số quy định khác liên quan đến hoạt động này
Tuy nhiên, với các quy định của pháp luật hiện hành vẫn chưa xây dựng một
cơ chế giải quyết nguồn tin về tội phạm hữu hiệu, chặt chẽ giữa các CQĐT thuộc lực lượng Công an nhân dân và giữa CQĐT có thẩm quyền với các cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra; giữa các cơ quan có thẩm quyền tiếp nhận với các cơ quan có thẩm quyền giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố Bên cạnh đó, một số vấn đề như: Quy định bổ sung thêm VKS là chủ thể có thẩm quyền giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố (điểm c khoản 3 Điều 145) nhưng lại chưa hướng dẫn chi tiết đối với các trường hợp này, gây ra khó khăn cho VKS khi giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố, ảnh hưởng đến hiệu quả phòng ngừa tội phạm và lợi ích của người bị
Trang 8hại Bên cạnh đó, quá trình giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố, cần thực hiện một số các hoạt động điều tra (Điều 147 khoản 3) mà VKS không phải cơ quan chuyên môn trong lĩnh vực này, vậy làm thế nào để cơ quan này thực hiện có hiệu quả chức năng giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố? việc phối hợp với các cơ quan tiến hành điều tra thế nào? vấn đề này hiện nay vẫn cần được nghiên cứu thêm
Một quy định khác cũng gây ảnh hưởng đến thời hạn giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm là quy định về trách nhiệm tiếp nhận tố giác, tin báo tội phạm của công an xã sau khi tiếp nhận, tiến hành xác minh sơ bộ ban đầu phải chuyển ngay tố giác, tin báo đến CQĐT có thẩm quyền, nhưng không quy định cụ thể là bao nhiêu ngày Mặt khác Công an cấp xã theo quy định của BLTTHS năm 2015 không thuộc CQĐT hay cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra Chính
vì vậy chủ thể này không chịu sự kiểm sát của VKS dẫn đến trên thực tế có những
vụ, việc sau hơn 10 ngày Công an cấp xã mới chuyển lên CQĐT có thẩm quyền hoặc Công an cấp xã không chuyển tin dẫn đến gây nhiều bất cập cho việc giải quyết nguồn tin về tội phạm hoặc bỏ lọt tội phạm
Ngoài ra, một số vấn đề như: không lấy được lời khai của đối tượng có liên quan đến vụ việc phạm tội (do đối tượng bỏ trốn hoặc chưa xác định được đối tượng) mà đã hết thời hạn giải quyết; thẩm quyền Viện Kiểm sát giải quyết tố giác, tin báo tội phạm, kiến nghị khởi tố
Những hạn chế này phần nào ảnh hưởng tới hiệu quả của hoạt động giải quyết nguồn tin về tội phạm, dẫn đến hậu quả hành vi vi phạm pháp luật hình sự không bị phát hiện và xử lý kịp thời, gây bức xúc, làm mất niềm tin của nhân dân đối với vai trò quản lý của Đảng và Nhà nước
Việc nghiên cứu các quy định của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam hiện hành về công tác giải quyết nguồn tin về tội phạm để làm sáng tỏ về mặt khoa học, đồng thời nghiên cứu, so sánh pháp luật tố tụng hình sự nước ngoài nhằm học tập, đưa ra giải pháp hoàn thiện cho pháp luật Việt Nam, nâng cao hiệu quả của việc áp dụng các quy định trên thực tiễn có ý nghĩa quan trọng Qua tìm hiểu các quy định của pháp luật tố tụng hình sự nước ngoài về vấn đề giải quyết nguồn tin tội phạm, tác giả nhận thấy Liên bang Nga có nhiều nét tương đồng trong cách xây dựng, tổ chức hệ thống tư pháp hình sự với Việt Nam, bên cạnh đó có nhiều điểm tiến bộ trong vấn đề vấn đề giải quyết nguồn tin về tội phạm
Chính vì những lý do nêu trên, tác giả quyết định lựa chọn đề tài “Giải quyết
nguồn tin về tội phạm: Nghiên cứu so sánh luật tố tụng hình sự Liên bang Nga
và Việt Nam” làm đề tài luận văn thạc sĩ luật học
Trang 92 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Giải quyết nguồn tin tội phạm không phải vấn đề mới trong khoa học pháp luật TTHS Việt Nam, tuy nhiên đến những năm gần đây vấn đề này mới thật sự chính thức được quan tâm nhiều hơn Ngày càng có nhiều bài viết, công trình nghiên cứu, tạp chí khoa học của các chuyên gia luật học bàn luận về vấn đề này như:
Bài báo công bố trên các tạp chí khoa học:
Lê Ra (2012), “Cần thống nhất về nhận thức về các khái niệm tố giác, tin báo
tội phạm, kiến nghị khởi tố và các nguồn thông tin về tội phạm”, Tạp chí kiểm sát, số
20, tr 32-37 Bài viết làm rõ các khái niệm tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và các nguồn thông tin về tội phạm, đồng thời có sự phân biệt rạch ròi giữa nguồn tin tố giác, tin báo với các loại nguồn tin tội phạm, cụ thể theo tác giả nguồn tin tố giác, tin báo tội phạm chỉ bao gồm các nguồn tin: Do công dân trực tiếp đến VKS, CQĐT để tố giác và báo tin về tội phạm; tin báo của cơ quan nhà nước, tổ chức
xã hội; tin báo qua phản ánh trên các phương tiện thông tin đại chúng như báo đài…; người phạm tội tự thú Còn loại nguồn tin về tội phạm do CQĐT, VKS; Bộ đội biên phòng, Hả quan, Kiểm lâm, Lực lượng cảnh sát biển và các cơ quan khác của Công
an nhân dân, Quân đội nhân dân được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra trực tiếp phát hiện dấu hiệu của tội phạm, không gọi là nguồn tố giác, tin báo tội phạm mà gọi là nguồn tin về tội phạm Tóm lại, Nguồn tin về tội phạm có tính bao quát, rộng hơn nguồn tố giác, tin báo tội phạm, việc phân loại này giúp ích cho quá trình giải quyết nguồn tin về tội phạm được chính xác, khách quan và thuận lợi hơn
Hoàng Duy Hiệp (2015), “Góp ý chế định về tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin
báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố trong dự thảo Bộ luật tố tụng hình sự (sửa đổi)”, Tạp chí kiểm sát, số 07, Tr.31-34 Bài viết thể hiện quan điểm của tác giả về
vấn đề tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố (thẩm quyền, quyết định tạm đình chỉ giải quyết…) trong bản dự thảo BLTTHS sửa đổi
Phạm Văn Gòn (2015), “Một số ý kiến góp ý các quy định trong dự thảo Bộ luật
tố tụng hình sự (sửa đổi) về tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố”, Tạp chí
kiểm sát, số 09, Tr 36-38 Bài viết thể hiện ý kiến của tác giả về các vấn đề liên quan đến tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố trong dự thảo BLTTHS (sửa đổi)
Trương Văn Chung (2015), “Thực tiễn và những khó khăn vướng mắc trong
việc giải quyết tố giác, tin báo tội phạm và kiến nghị khởi tố”, Tạp chí kiểm sát, số
10, Tr.24-27 Bài viết đề cập đến những vấn đề khó khăn vướng mắc mà nghành kiểm sát gặp phải trong quá trình giải quyết tố giác, tin báo tội phạm và kiến nghị khởi tố, từ đó nêu ra quan điểm của tác giả về phương hướng giải quyết, khắc phục các khó khăn, vướng mắc trên
Trang 10Mai Đắc Biên (2015), “Vấn đề giải quyết tố giác, tin báo tội phạm và kiến
nghị khởi tố trong dự thảo bộ luật tố tụng hình sự sửa đổi”, Tạp chí kiểm sát, số 17,
Tr 27-32 Bài viết thể hiện quan điểm của tác giả về vấn đề tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố đặc biệt về thủ tục và thời hạn của hoạt động này theo quy định của dự thảo BLTTHS sửa đổi kết hợp nghiên cứu, so sánh một số điểm tiến bộ của tố tụng hình nước ngoài Qua đó khẳng định vai trò của hoạt động giải quyết tố giác, tin báo tội phạm và kiến nghị khởi tố và đưa ra những kiến nghị phù hợp
Vũ Văn Giang (2015), “Những nét cơ bản trong Bộ luật tố tụng hình sự một
số nước về tiếp nhận, giải quyết, tố giác, tin báo tội phạm và kiến nghị khởi tố”,
Tạp chí kiểm sát, số 22, Tr 53-55 Bài viết tổng cách quy định về vấn đề tiếp nhận, giải quyết, tố giác, tin báo tội phạm và kiến nghị khởi tố của một số BLTTHS nước ngoài, trong đó có Liên Bang Nga (quốc gia mà tác giả chọn để so sánh với Việt Nam làm đề tài luận văn thạc sỹ)
Phạm Thái (2016), “Một số điểm mới về tiếp nhận và giải quyết tố giác, tin
báo về tội phạm trong Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015”, Tạp chí Khoa học pháp
lý, trường Đại học Luật Tp.HCM, số 08, Tr 56-62 Bài viết phân tích những hạn chế của BLTTHS 2003 và tóm tắt, đánh giá những điểm mới trong việc tiếp nhận và giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm theo quy định của BLTTHS năm 2015
Luận án, luận văn:
Nguyễn Trọng Nga (2016), Tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm,
kiến nghị khởi tố thuộc thẩm quyền của cơ quan điều tra trong quân đội nhân dân,
Luận án tiến sĩ, Hà Nội Luận án thể hiện quan điểm của tác giả về các hoạt động tiếp nhận và giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố thuộc thẩm quyền của CQĐT trong quân đội nhân dân Phân tích các điểm mới của BLHS 2015
và đề xuất các giải pháp tăng cường tính hiệu quả của hoạt động tiếp nhận và giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố thuộc thẩm quyền của CQĐT trong quân đội nhân dân
Nguyễn Quang Hòa (2017), Thủ tục tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về
tội phạm, kiến nghị khởi tố trong Luật tố tụng hình sự Việt Nam trên cơ sở thực tiễn địa bàn tỉnh Phú Thọ, Luận văn thạc sĩ, Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội Luận
văn góp phần làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về thủ tục tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố; các nguyên tắc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố Luận văn đánh giá thực trạng pháp luật về thủ tục tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố tại tỉnh Phú Thọ và kiến nghị tiếp tục hoàn thiện quy định của BLTTHS năm 2015
Trang 11về thủ tục tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố, cũng như đưa ra các giải pháp bảo đảm áp dụng các quy định này
Tuy đã có một số luận văn, luận án và các bài báo, tạp chí khoa học bàn luận về hoạt động giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố Tuy nhiên đa số chỉ tạm dừng lại ở một số vấn đề thuộc hoạt động này, vẫn chưa có các công trình nghiên cứu khoa học, luận văn nghiên cứu chuyên sâu, toàn diện vấn đề Bên cạnh đó, việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố cũng mới chỉ là một phần của hoạt động giải quyết nguồn tin tội phạm và sự ra đời của BLTTHS năm 2015 cùng nhiều quy định mới đã mở ra nhiều vấn đề xung quanh hoạt động giải quyết nguồn tin tội phạm cần được nghiên cứu sâu như thẩm quyền, thời hạn, trình tự, thủ tục tiến hành, cùng các quyết định liên quan đến hoạt động này Chính vì vậy, việc nghiên cứu hoạt động giải quyết nguồn tin về tội phạm dưới góc độ so sánh luật mà tác giả thực hiện là cần thiết và không bị trùng lắp với các công trình nghiên cứu đã đề cập
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
Mục đích nghiên cứu:
Trên cơ sở nghiên cứu, đánh giá, so sánh các quy định của pháp luật TTHS Liên bang Nga và Việt Nam về giải quyết nguồn tin về tội phạm, luận văn đưa ra các kiến nghị nhằm hoàn thiện quy định pháp luật Việt Nam liên quan đến việc giải quyết nguồn tin về tội phạm trong TTHS
Nhiệm vụ nghiên cứu:
Để đạt được các mục đích nghiên cứu trên, luận văn cần thực hiện các nhiệm
vụ sau:
Thứ nhất, khái quát và hệ thống các vấn đề lý luận như khái niệm, đặc điểm,
vai trò, ý nghĩa của hoạt động giải quyết nguồn tin về tội phạm ở Liên bang Nga và Việt Nam
Thứ hai, nghiên cứu, phân tích, đánh giá các quy định của BLTTHS Liên bang
Nga và Việt Nam hiện hành về thẩm quyền, các hoạt động, trình tự, thủ tục thời hạn giải quyết nguồn thông tin về tội phạm So sánh, đánh giá quy định về các vấn đề này trong BLTTHS của hai nước
Thứ ba, phát hiện và đánh giá ưu, nhược điểm các quy định giải quyết nguồn thông
tin về tội phạm ở Liên bang Nga và Việt Nam Từ đó nghiên cứu, đưa ra một số kiến nghị, giải pháp nhằm hoàn thiện hoạt động giải quyết nguồn tin về tội phạm ở Việt Nam
4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu của luận văn
Đối tượng nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu những quy định của BLTTHS Liên bang Nga
và Việt Nam đối với việc giải quyết nguồn tin về tội phạm
Trang 12Phạm vi nghiên cứu
Về nội dung: Luận văn nghiên cứu và đánh giá những vấn đề xung quanh việc giải quyết nguồn tin về tội phạm (bao gồm thẩm quyền, hoạt động, thủ tục và thời hạn) tại Liên bang Nga và Việt Nam dưới góc độ các quy định của pháp luật TTHS hai nước (chủ yếu là BLTTHS)
Về không gian và thời gian: Luận văn nghiên cứu BLTTHS Liên Bang Nga hiện hành và BLTTHS Việt Nam (trọng tâm là BLTTHS 2003 và 2015), luận văn không nghiên cứu thực tiễn hoạt động giải quyết nguồn tin về tội phạm của các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng ở hai quốc gia
5 Phương pháp nghiên cứu của luận văn
Luận văn thực hiện trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác-Lê Nin,
tư tưởng Hồ Chí Minh, phương pháp này cho phép tác giả nhận thức rõ hơn về bản chất của vấn đề giải quyết nguồn tin tội phạm
Ngoài ra, luận văn còn sử dụng các phương pháp nghiên cứu khác như: Phương pháp so sánh, phân tích, tổng hợp, đối chiếu; Phương pháp lịch sử; Phương pháp thống kê Việc sử dụng các phương pháp này cho phép tác giả nhìn nhận, xem xét và đánh giá vấn đề từ nhiều góc độ khác nhau để có cái nhìn toàn diện, khách quan và sâu sắc vấn đề mà mình nghiên cứu
Cụ thể các phương pháp nghiên cứu được sửa dụng ở từng chương như sau: Chương 1: Tác giả sử dụng phương pháp nghiên cứu, phân tích, tổng hợp nhằm làm rõ một số vấn đề lý luận nghiên cứu so sánh pháp luật nước ngoài và các vấn đề chung về giải quyết nguồn tin về tội phạm theo quy định của luật TTHS Liên bang Nga và Việt Nam, bao gồm khái niệm nguồn tin về tội phạm, giải quyết nguồn tin về tội phạm; đặc điểm của việc giải quyết nguồn tin về tội phạm; vị trí, vai trò và
ý nghĩa của việc giải quyết nguồn tin về tội phạm Bên cạnh đó, tác giả còn sử dụng phương pháp nghiên cứu so sánh, tổng hợp, để đánh giá nội dung từng mục
Chương 2: Tác giả sử dụng kết hợp phương pháp phân tích, nghiên cứu so sánh với phương pháp tổng hợp, thống kê nhằm mục đích phân tích, so sánh và đánh giá những quy định của pháp luật TTHS Nga và Việt Nam dựa trên các nội dung: Thẩm quyền giải quyết nguồn tin về tội phạm, các hoạt động được thực hiện để giải quyết nguồn tin về tội phạm, trình tự, thủ tục và thời hạn giải quyết nguồn tin về tội phạm
Từ đó làm sáng tỏ những điểm giống và khác trong cách quy định ở hai quốc gia, làm tiền đề cho nhiệm vụ phân tích ưu, nhược điểm của các quy định này trong chương 3 Chương 3: Tác giả chủ yếu sử dụng phương pháp tổng hợp, phân tích, mục đích để đánh giá những ưu, nhược điểm của luật TTHS Nga trong các quy định đối với việc giải quyết nguồn tin về tội phạm, từ đó đề xuất một số kiến nghị, giải pháp
Trang 13hiệu quả nhằm hoàn thiện quy định của pháp luật TTHS Việt Nam về giải quyết nguồn tin về tội phạm
6 Đóng góp của luận văn
Về các phương diện: lập pháp, áp dụng pháp luật và nghiên cứu, giảng dạy, học tập
Luận văn là công trình khoa học đầu tiên nghiên cứu nghiên cứu so sánh quy định đối với vấn đề giải quyết nguồn tin về tội phạm trong luật tố tụng hình sự Nga
và Việt Nam Luận văn có những đóng góp mới như sau:
- Luận văn góp phần làm rõ những vấn đề lý luận về giải quyết nguồn tin về tội phạm theo quy định của luật tố tụng hình sự Nga và Việt Nam
- Nghiên cứu toàn diện và đầy đủ những quy định của luật tố tụng hình sự Nga
và Việt Nam về giải quyết nguồn tin về tội phạm trên các nội dung cụ thể được quy định tại luật tố tụng hình sự của hai nước
- Trên cơ sở phân tích, đối chiếu, tổng hợp các quy định của luật tố tụng hình
sự Nga và Việt Nam, luận văn đã so sánh, đánh giá những điểm giống và khác nhau
ở hai nước, từ đó tìm ra những điểm còn hạn chế trong quy định của luật tố tụng hình sự Việt Nam về giải quyết nguồn tin về tội phạm
- Ngoài ra, Luận văn đã có những phát hiện, đánh giá được những điểm tiến
bộ, ưu việt của pháp luật tố tụng hình sự Nga trong quy định đối với vấn đề giải quyết nguồn tin về tội phạm và đưa ra một số kiến nghị, giải pháp nhằm hoàn thiện những quy định pháp luật của Việt Nam về giải quyết nguồn tin về tội phạm được rút ra dựa trên quan điểm cá nhân và kết quả nghiên cứu của tác giả
- Cuối cùng, kết quả nghiên cứu của luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo trong việc nghiên cứu, giảng dạy và học tập trong các cơ sở đào tạo luật Luận văn cũng là tài liệu đóng góp bổ ích đối với việc hoàn thiện pháp luật tố tụng hình
sự Việt Nam và áp dụng pháp luật của cán bộ làm công tác thực tiễn
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tham khảo, nội dung luận văn được
bố cục thành ba chương:
Chương 1 Lý luận chung về so sánh luật và giải quyết nguồn tin về tội phạm
trong tố tụng hình sự Liên bang Nga và Việt Nam
Chương 2 So sánh quy định của pháp luật tố tụng hình sự Liên bang Nga và
Việt Nam về giải quyết nguồn tin về tội phạm
Chương 3 Kiến nghị hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam về
giải quyết nguồn tin về tội phạm trên cơ sở học tập pháp luật tố tụng hình sự Liên bang Nga
Trang 14CHƯƠNG 1
LÝ LUẬN CHUNG VỀ SO SÁNH LUẬT VÀ GIẢI QUYẾT NGUỒN TIN VỀ TỘI PHẠM TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ LIÊN BANG NGA VÀ VIỆT NAM 1.1 Một số vấn đề lý luận về so sánh luật
So sánh luật là một trong những phương pháp nghiên cứu phổ biến của khoa học pháp lý Phương pháp nghiên cứu so sánh pháp luật nước ngoài hướng đến nhà nước và quy phạm pháp luật ở các hệ thống pháp luật khác với hệ thống pháp luật
mà người ngiên cứu được học tập, đào tạo hoặc giữa các mô hình nhà nước khác nhau, nhằm mục đích phân tích, đối chiếu các hệ thống pháp luật để tìm ra sự tương đồng và khác biệt giữa các hệ thống pháp luật đó hướng đến mục tiêu giải thích nguồn gốc, đánh giá giải pháp của các đối tượng so sánh, phục vụ cho mục đích lý giải và hoàn thiện hệ thống pháp luật của các quốc gia được so sánh Nghiên cứu so sánh pháp luật được hiểu là hoạt động nghiên cứu có tính hệ thống về những quy định pháp luật và truyền thống pháp lý cụ thể trên nền tảng so sánh hoặc làm sáng
tỏ thông tin liên quan giữa hai hay nhiều hệ thống pháp luật, lý giải sự khác biệt và tăng tính hiểu biết của người nghiên cứu về các mô hình pháp luật thuộc đối tượng
động so sánh luật, ngược lại trong mối quan hệ biện chứng với nhau, luật so sánh chính là động lực, ý nghĩa của phương pháp nghiên cứu so sánh pháp luật nước ngoài; nhờ có các hoạt động đối chiếu, phân tích đánh giá, các thông tin có được từ nghiên cứu so sánh pháp luật nước ngoài trở nên có giá trị hơn2
Một luận văn nghiên cứu so sánh luật nước ngoài đòi hỏi phải có sự kết hợp của nhiều phương pháp nghiên cứu, trong đó so sánh chính là hoạt động chủ đạo Việc tìm hiểu về các giá trị, lợi ích khi nghiên cứu so sánh pháp luật nước ngoài, lựa chọn đối tượng pháp luật phù hợp để nghiên cứu so sánh và giới hạn phạm vi nghiên cứu là rất cần thiết nhằm giúp cho tác giả có các hướng đi đúng đắn trong việc nghiên cứu đề tài và hoàn thành luận văn
1.1.1 Lợi ích của việc so sánh luật
Hoạt động chính của so sánh luật nước ngoài là nghiên cứu về sự khác biệt và tương đồng giữa luật pháp của các quốc gia khác nhau Cụ thể hơn, nó liên quan đến việc nghiên cứu các hệ thống pháp luật khác nhau đang tồn tại trên thế giới, bao gồm tất cả hệ thống luật chung, thông luật, dân luật và luật tôn giáo Nó bao gồm việc mô tả
và phân tích các hệ thống pháp lý nước ngoài, ngay cả khi không có việc so sánh rõ
thuật nghiên cứu cơ bản trong khoa học pháp lý, NXB Đại học quốc gia TP.HCM, Tr 54,56
Kim Hoàng Nguyên (2017), Luật so sánh, tài liệu hướng dẫn học tập, NXB Lao động, tr 41, 42
Trang 15ràng được thực hiện3 Trong thời đại chủ nghĩa quốc tế, toàn cầu hóa kinh tế và dân chủ hóa hiện nay tầm quan trọng của luật so sánh đã tăng lên rất nhiều, không chỉ vì mục đích củng cố mối quan hệ hợp tác giữa các quốc gia trên thế giới mà còn bởi những lợi ích mà nó đem lại Một số lợi ích của việc nghiên cứu và so sánh luật nước ngoài:
Thứ nhất, mang lại giá trị tri thức nói chung, tạo cơ sở giúp hiểu biết sâu hơn
về nội luật
Có thể nói bất kỳ ngành khoa học nào trên thế giới cũng lấy tri thức là điểm đến trên con đường nghiên cứu của mình Tương tự như vậy, nghiên cứu, so sánh pháp luật nước ngoài trước hết nhằm cung cấp tri thức khoa học Tri thức về các lĩnh vực khoa học sẽ phát triển hơn rất nhiều thông qua quá trình so sánh
Trước hết nghiên cứu pháp luật nước ngoài cho chúng ta cái nhìn toàn diện về
hệ thống pháp luật của các quốc gia trên thế giới thông qua việc tìm hiểu, phân tích các mô hình pháp luật Tiếp theo đó, bằng lý thuyết về phân nhóm hệ thống pháp luật thành các mô hình khác nhau và nghiên cứu các mô hình pháp luật cơ bản, nghiên cứu so sánh sẽ giúp cho người nghiên cứu có một bức tranh toàn cảnh về các
hệ thống pháp luật trên thế giới cũng như có những nhận định chung về hệ thống pháp luật của mỗi quốc gia mà mình đang so sánh Từ đó, xác định được những điểm tương đồng và khác biệt giữa các hệ thống pháp luật
Bên cạnh đó nghiên cứu so sánh luật nước ngoài không chỉ giúp nhà nghiên cứu bổ sung tri thức về các hình thái, hệ thống pháp luật mới mà còn nâng cao sự hiểu biết của những tri thức có sẵn ở các mức độ khác nhau Đồng thời giúp các nhà nghiên cứu tiếp cận hệ thống pháp luật của nước mình theo cách thức khác với những gì đã quá quen thuộc với họ Ngoài những tri thức và hiểu biết về pháp luật, luật so sánh còn cung cấp những tri thức của nhiều lĩnh vực khoa học khác Trong quá trình tiến hành so sánh pháp luật, để hiểu được một cách đúng đắn các quy định của pháp luật nước ngoài cũng như phục vụ cho mục đích học tập, tìm ra các giải pháp pháp lý cho hệ thống luật của mình, người nghiên cứ buộc phải tìm hiểu các nhân tố ảnh hưởng đối với pháp luật như: chính trị, xã hội, lịch sử, điều kiện kinh
tế, vị trí địa lý; ngôn ngữ… Hơn nữa quá trình so sánh luật còn đòi hỏi người ngiên cứu phải đưa ra các kết luận về điểm tương đồng và khác biệt giữa các hệ thống pháp luật mà nguyên nhân cơ bản dẫn đến những tương đồng và khác biệt đó chính
là do sự khác biệt hoặc tương đồng về kinh tế, chính trị, xã hội, tôn giáo, lịch sử, địa lí… Chính vì vậy kiến thức có được từ những lĩnh vực khoa học khác vừa có ý nghĩa là nền tảng cho việc so sánh các hệ thống pháp luật nước ngoài đồng thời
19/08/2019
Trang 16cũng là những giá trị mà thông qua quá trình phân tích, nghiên cứu, đối chiếu pháp
luật, các nhà nghiên cứu so sánh, bổ sung và hoàn thiện được
Thứ hai, hội nhập và thống nhất pháp luật
Hài hòa hóa pháp luật và nhất thể hóa pháp luật là hai phương diện của quá trình liên kết pháp luật giữa các quốc gia khác nhau nhằm loại bỏ sự khác biệt giữa các lĩnh vực pháp luật cụ thể trong quá trình quốc tế hoá pháp luật4 Trong đó, hài hoà hoá pháp luật là quá trình nhằm làm giảm đi những khác biệt trong các lĩnh vực pháp luật cụ thể giữa các hệ thống pháp luật bằng cách xây dựng các luật mẫu và thực hiện các biện pháp để khuyến khích các quốc gia tiếp nhận và áp dụng Nhất thể hoá pháp luật là quá trình theo đó các quy phạm pháp luật mâu thuẫn của các hệ thống pháp luật khác nhau được thay thế bởi các quy phạm pháp luật chung nhất Nói cách khác là hội nhập và thống nhất pháp luật
Có thể nói hội nhập và thống nhất pháp luật là quá trình hết sức khó khăn và phức tạp, ngoài rào cản về địa lý, văn hoá, lịch sử, kinh tế chính trị, tâm lý liên quan đến tự tôn dân tộc cũng gây ra các trở ngại không nhỏ cho các nhà nghiên cứu, bởi việc chấp nhận các quy tắc hài hoà hoá và nhất thể hoá đồng nghĩa với việc các quốc gia sẽ phải
từ bỏ các quy phạm pháp luật trong hệ thống của mình Những rào cản này khi xuất hiện, chính là lúc vai trò của nghiên cứu, so sánh pháp luật nước ngoài được phát huy Trước hết phương pháp nghiên cứu so sánh pháp luật nước ngoài hỗ trợ các nhà nghiên cứu tiếp cận hệ thống quy phạm pháp luật nước ngoài thông qua việc thu thập các thông tin, tri thức pháp luật khác với hệ thống pháp luật mà họ được tiếp thu, học tập, giúp họ bước đầu nhận diện các khó khăn về kỹ thuật pháp lý Tiếp theo, bằng cách xác định các điểm chung và khác biệt giữa các hệ thống pháp luật, vận dụng các kiến thức
có được từ hoạt động nghiên cứu pháp luật trước đó lý giải nguyên căn của sự khác biệt, tìm ra các phương pháp giải quyết, đề xuất pháp lý nhằm loại bỏ chúng, từ đó tạo nền tảng cho việc xây dựng hệ thống luật mẫu hoặc các quy phạm chung được áp dụng Quan trọng hơn nữa, nghiên cứu, so sánh pháp luật nước ngoài còn cung cấp các tri thức pháp lý, kỹ năng, giúp các luật gia hiểu sâu sắc hơn về cả quá trình hình thành
và góc nhìn, tư duy luật của các quốc gia, giúp cho việc đàm phán được thuận lợi, cũng như dễ dàng tìm tiếng nói chung trong việc xây dựng hệ thống pháp luật chung Mặt khác, yêu cầu khách quan của hoạt động nghiên cứu, so sánh đòi hỏi các luật gia phải cân nhắc cẩn thận trong việc xây dựng hệ thống quy phạm chung, sao cho kết quả hệ thống lý thuyết về các lĩnh vực pháp luật có thể áp dụng được ở bất kỳ quốc gia nào và dung hoà được lợi ích các bên tham gia đàm phán, từ đó tránh được các quan điểm tiêu
chí luật học, số 02, tr.41
Trang 17cực về mối lo ngại tự tôn dân tộc hay tâm lý khó chấp nhận các rủi ro của việc hội nhập Mục đích của nghiên cứu, so sánh pháp luật nước ngoài không chỉ dừng lại ở việc khám phá, tiếp thu các tri thức pháp lý mới mà còn phục vụ cho mục đích xây dựng nhận thức của các quốc gia trên thế giới về nền tảng của các quy phạm pháp luật được áp dụng phù hợp với các quốc gia khác nhau ngay cả khi các quốc gia đó không cùng chung nền kinh tế, chính trị, lịch sử và xã hội Cuối cùng đi đến sự đồng thuận các quy tắc được áp dụng nhằm hội nhập và thống nhất pháp luật
Thứ ba, hoàn thiện pháp luật
Mục đích của nghiên cứu so sánh pháp luật nước ngoài luôn nhằm hướng đến việc tiếp cận sâu sắc và có quy mô các hiện tượng pháp luật, các quy phạm, hệ thống chế định của các quốc gia trên thế giới Việc nghiên cứu, đánh giá các hệ thống pháp luật nước ngoài bao giờ cũng được đặt trong mối quan hệ với sự phát triển nội luật của các quốc gia cụ thể, bao gồm quốc gia mà người nghiên cứu được học tập hoặc các quốc gia khác nằm trong đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu so sánh pháp luật nước ngoài đòi hỏi phải có sự liên hệ giữa các nguyên nhân, đặc thù sự phát triển các tập quán, hiện tượng pháp luật; hay những nhân tố làm thay đổi, ảnh hưởng đến việc soạn thảo những văn bản quy phạm pháp luật mới và thay đổi các văn bản quy phạm pháp luật đã được ban hành; cũng như các điều kiện thúc đẩy, kìm hãm hoặc cản trở việc thực hiện pháp luật cũng cần được nghiên cứu một cách toàn diện và có hệ thống
Bên cạnh đó, nghiên cứu so sánh các cơ chế bảo đảm thực hiện pháp luật ở nước ngoài như thẩm quyền xây dựng và áp dụng pháp luật của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền được quy định như thế nào và mức độ hiệu quả của các cơ quan này khi thực hiện quyền hạn của mình; hoạt động của các cơ quan tư pháp, của các cơ quan trợ giúp pháp lý, hỗ trợ tư pháp; thậm chí cả mức độ an toàn xã hội và tình hình tội phạm cũng được thể hiện qua quá trình nghiên cứu so sánh Chính vì vậy, nghiên cứu, so sánh pháp luật nước ngoài, tham khảo các kinh nghiệm pháp lý
sẽ giúp các nhà nghiên cứu có cái nhìn tổng quát về những khó khăn và hạn chế của nội luật, vẽ ra bức tranh toàn diện, cũng như dự đoán xu hướng phát triển; tính thích nghi của công dân đối với các quy phạm pháp luật hiện hành trong tương lai, làm cơ
sở cho việc hoạch định các kế hoạch phát triển phù hợp và hoàn thiện pháp luật
1.1.2 Lý do lựa chọn, đối tượng và phạm vi so sánh với pháp luật tố tụng hình
sự Liên bang Nga
1.1.2.1 Lý do lựa chọn pháp luật tố tụng hình sự Liên bang Nga để so sánh Thứ nhất, nhu cầu hợp tác quốc tế trong tố tụng hình sự giữa Việt Nam và Liên bang Nga
Trang 18Tích cực hội nhập quốc tế là một trong những định hướng mang tính chiến lược của Đảng và Nhà nước trong công cuộc xây dựng, đổi mới đất nước, trong đó hợp tác quốc tế về TTHS là một trong những nhiệm vụ cấp thiết nhất Đảng và Nhà nước đã sớm nhận thức tầm quan trọng về ý nghĩa chính trị - xã hội cũng như pháp lý của hợp tác quốc tế trong TTHS, tại Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 Bộ Chính trị
đã xác định nhiệm vụ: “Tổ chức thực hiện tốt các điều ước quốc tế mà Nhà nước ta
đã tham gia Tiếp tục ký kết hiệp định tương trợ tư pháp với các nước khác, trước hết
là với các nước láng giềng, các nước trong khu vực Tăng cường sự phối hợp chung trong hoạt động phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm có yếu tố quốc tế và khủng bố” Tiếp đó, năm 2010, Chỉ thị số 48-CT/TW về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng
đối với công tác phòng, chống tội phạm trong tình hình mới được ban hành, trong Chỉ
thị này Bộ chính trị nhấn mạnh: “Mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế trong công tác
phòng, chống tội phạm, trước hết là với các nuớc láng giềng, các nước có quan hệ truyền thống, các nước trong khu vực ASEAN Tổ chức thực hiện tốt các công ước quốc tế, hiệp định Tương trợ tư pháp, hiệp định hợp tác phòng, chống tội phạm mà Nhà nước ta đã ký kết hoặc gia nhập Tiếp tục nghiên cứu tham gia, ký kết các điều ưóc quốc tế khác liên quan đến công tác phòng, chống tội phạm” Để thực hiện có
hiệu quả nhiệm vụ trên của Bộ chính trị, trước hết cần phải xây dựng bộ máy tổ chức quản lý, các cơ quan có thẩm quyền chuyên trách, cùng với các chức năng, quyền hạn đặc thù trong lĩnh vực hình sự, phòng chống ngăn ngừa tội phạm là điều kiện tất yếu Trên phương diện pháp lý, hợp tác quốc tế trong TTHS góp phần nâng cao hiệu quả các hoạt động điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án đối với các vụ án hình
sự có yếu tố nước ngoài Đặc biệt trong bối cảnh tình hình tội phạm đang diễn ra ngày càng phức tạp về mức độ có tổ chức, quy mô xuyên quốc gia, hợp tác quốc tế TTHS chính là xu thế tất yếu mà mỗi quốc gia khi tham gia vào khối phát triển chung toàn cầu cần và buộc phải thực hiện Để hợp tác có hiệu quả và trên nguyên tắc “đôi bên đều có lợi” việc nghiên cứu và hiểu rõ hệ thống pháp luật giữa các nước tham gia hợp tác là ưu tiên hàng đầu của các nhà lãnh đạo, thể hiện qua các nội dung về nguyên tắc, phạm vi điều chỉnh, mức độ tương đồng, khác biệt khi áp dụng các quy phạm pháp luật…
Quan hệ Việt Nam và Liên bang Nga ngày nay kế thừa quan hệ Việt – Xô, bắt nguồn từ sự tương trợ trong chiến tranh giành độc lập của Việt Nam từ sau năm
1950, sự hỗ trợ về kinh tế, chính trị và quân sự của Liên Xô cũ là động lực to lớn giúp nhân dân Việt Nam đi đến thắng lợi cuối cùng giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước vào năm 1975 Sau chiến tranh, Liên Xô đóng vai trò là người thầy dẫn dắt Việt Nam trong quá trình xây dựng, củng cố chính phủ mới, nhiều cán bộ,
Trang 19chuyên gia, nhà nghiên cứu thuộc các lĩnh vực được sang Liên Xô đào tạo đã trở thành đội ngũ nòng cốt trong công cuộc đổi mới xây dựng đất nước của Việt Nam Với truyền thống quý báu cùng những thành quả to lớn của tình hữu nghị và hợp tác khởi nguồn từ những năm trước, Việt Nam và Liên bang Nga đã phát triển mối quan hệ Đối tác chiến lược nhiều năm từ 2001, nâng cấp lên quan hệ Đối tác chiến lược toàn diện từ 2012 đến nay Qua gần hai thập kỷ, Việt Nam và Liên bang Nga
đã thiết lập nhiều chính sách phát triển chung về kinh tế và chính trị - xã hội trên cơ
sở hợp tác song phương, trong đó bao gồm cả về phương diện lập pháp; nhiều tài liệu học thuật, công trình nghiên cứu khoa học ở Liên bang Nga được dịch sang tiếng Việt sử dụng cho mục đích tham khảo, học tập
Trong quá trình xây dựng BLTTHS Việt Nam năm 2015, bên cạnh một số các BLTTHS của Pháp, Đức, Anh, Hoa Kỳ, Nhật Bản, Trung Quốc… thì BLTTHS của Liên bang Nga được ban soạn thảo đánh giá là có nhiều quan điểm phù hợp với yêu
đó, đối với hoạt động giải quyết nguồn tin về tội phạm, ban soạn thảo cũng đánh giá BLTTHS Liên bang Nga quy định cụ thể, chặt chẽ về trình tự, thủ tục, thẩm quyền, trách nhiệm của các cơ quan trong tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm
và kiến nghị khởi tố: “…Điều này phù hợp với yêu cầu hoàn thiện BLTTHS và thực
tiễn hoạt động tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm nước ta thời gian qua Do đó đề xuất tiếp thu và quy định trong Dự thảo Bộ luật”6
Tuy nhiên, trong quá trình nghiên cứu BLTTHS 2015 đối với vấn đề giải quyết nguồn tin về tội phạm, tác giả nhận thấy vẫn có nhiều sự khác biệt, quan điểm đáng chú ý trong cách quy định về vấn đề này ở hai quốc gia mang giá trị học thuật cao cần được phân tích làm rõ Một số quy định về hoạt động, thẩm quyền, thời hạn, vấn đề bảo vệ chủ thể cung cấp thông tin về tội phạm cũng như một số các thủ tục trình tự giải quyết nguồn thông tin về tội phạm ở BLTTHS 2015 vẫn chưa được cụ thể, dẫn đến các nguy cơ tiêu cực, khó khăn trong quá trình áp dụng Chính vì vậy việc nghiên cứu thêm chế định giải quyết nguồn tin về tội phạm ở Liên bang Nga là cần thiết
Thứ hai, mức độ tương đồng và khác biệt giữa pháp luật TTHS Việt Nam và Liên bang Nga đối với vấn đề giải quyết nguồn tin về tội phạm
Cùng là các quốc gia theo mô hình TTHS pha trộn (hỗn hợp), chính vì vậy Liên bang Nga và Việt Nam có nhiều điểm tương đồng trong cách xây dựng pháp
=2&ved=2ahUKEwj58L2awvzkAhVIPnAKHQ0GAJEQFjABegQIAhAC&url=http%3A%2F%2Fduthaoonline quochoi.vn%2FDuThao%2FLists%2FDT_TAILIEU_COBAN%2FAttachments%2F1935%2FB16.08_TLTK_ph ap_luat_hinh_su_mot_so_nuoc.doc&usg=AOvVaw1gPod-KUIm9sd22Ai8NzYU, truy cập ngày 02/10/2019
Trang 20luật TTHS, thể hiện qua hệ thống các nguyên tắc, cơ chế kiểm tra, giám sát giữa các
cơ quan có thẩm quyền cũng như một số các quyền và nghĩa vụ của người tham gia
tố tụng… Bên cạnh đó, dựa trên mối quan hệ hợp tác song phương, toàn diện và lâu dài, nên giữa Liên bang Nga và Việt Nam có nhiều nét tương đồng trong đường lối phát triển và các quan điểm lập pháp BLTTHS Liên bang Nga hướng đến mục tiêu vừa phòng chống, ngăn ngừa tội phạm, đảm bảo tính thượng tôn pháp luật, lợi ích của nhà nước vừa bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân7 Tương tự, BLTTHS Việt Nam 2015 cũng thể hiện tư tưởng chủ đạo của TTHS, tập trung hai nhóm nguyên tắc cơ bản nhất là bảo đảm, bảo vệ quyền con người và các nguyên tắc chỉ đạo, chi phối các hoạt động TTHS đẩy mạnh đấu tranh phòng chống, ngăn
ngừa tội phạm Đối với vấn đề giải quyết nguồn tin về tội phạm, cả hai BLTTHS
đều quy định đây là hoạt động thuộc giai đoạn KTVAHS mà hệ quả của nó là việc xác định có hay không các dấu hiệu thực hiện tội phạm của các hành vi bị tố giác thông qua các hình thức luật định Liên bang Nga và Việt Nam đều có sự phân biệt các loại thông tin về tội phạm từ các nguồn khác nhau tương ứng với mỗi loại nguồn này là nhiệm vụ quyền hạn của các cơ quan có thẩm quyền chuyên biệt Bên cạnh đó là nguyên tắc kiểm tra giám sát giữa các cơ quan có thẩm quyền tố tụng, hệ thống cơ quan kiểm sát (Việt Nam) / công tố (Liên bang Nga) đóng vai trò chỉ đạo, giám sát đối với các hoạt động của (trong đó có giải quyết nguồn tin về tội phạm) được nhấn mạnh, thể hiện qua cơ chế kiểm tra, báo cáo chặt chẽ và chức năng giám
sát tư pháp
Mặt khác, do đặc điểm về tình hình kinh tế - chính trị và quá trình hình thành, phát triển lịch sử pháp lý, TTHS Liên bang Nga và Việt Nam vẫn mang những nét đặc thù riêng Cùng thuộc mô hình TTHS pha trộn, tuy nhiên thay vì mang đậm tính thẩm vấn như ở Việt Nam, bắt đầu từ BLTTHS năm 2001 (thay thế cho BLTTHS năm 1960 thời Xô Viết), pháp luật TTHS Liên bang Nga đã cho thấy sự chuyển đổi mang tính cách mạng và cơ bản của mô hình tư pháp hình sự từ một hệ thống tố tụng thẩm vấn chính thống sang hệ thống pha trộn Sau các lần bổ sung, hoàn thiện, đến năm 2006, pháp luật TTHS Nga đã ngày càng khẳng định các biểu hiệu là một
mô hình TTHS hỗn hợp thiên về hướng tranh tụng, thể hiện qua hệ thống các nguyên tắc cũng như cách tổ chức, trình tự, thủ tục trong hoạt động xử lý các vấn đề
về hình sự khác xa mô hình xét hỏi Do có định hướng về bản chất tố tụng khác Việt Nam, nên cơ cấu tổ chức các cơ quan có thẩm quyền ở Liên bang Nga được xây dựng theo cơ chế phân định rõ nét chức năng buộc tội, bào chữa và xét xử Điều này dẫn đến một số các quan điểm pháp luật hình sự, các trình tự, thủ tục giải quyết vụ
Trang 21
án hình sự hay cách quy định, sắp xếp, phân chia nhiệm vụ, quyền hạn ở các cơ quan có thẩm quyền ở Liên bang Nga cũng khác biệt so với Việt Nam Điển hình là
(ở Liên bang Nga là Viện công tố, ở Việt Nam là VKS) Tuy nhiệm vụ có điểm
tương đồng, nhưng bản chất của hai cơ quan này là không giống nhau)
Đối với vấn đề giải quyết nguồn tin về tội phạm cũng vậy, BLTTHS Liên bang Nga có cách quy định về trình tự, thủ tục xác minh nguồn tin tội phạm, thời hạn, thẩm quyền, trách nhiệm giải quyết thông tin về hành vi có dấu hiệu tội phạm rất cụ thể, chặt chẽ, đáng chú ý hơn là cơ chế bảo vệ tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm và tài sản của người cung cấp thông tin về tội phạm, cùng những người thân thích của họ, cũng như việc giải thích về trách nhiệm của người tố giác nếu họ cung cấp thông tin sai sự thật Tuy nhiên về kỹ thuật trình bày, trong khi BLTTHS Việt Nam quy định tập trung theo giai đoạn TTHS thì BLTTHS Liên bang Nga lại
có điểm hạn chế, đó là việc giải quyết nguồn tin về tội phạm được quy định rải đều trong các quy định về hoạt động điều tra hoặc trong phần thẩm quyền, khiến việc nghiên cứu, áp dụng gây nhiều khó khăn
Chính các điểm tương đồng và khác biệt trong cách quy định vấn đề giải quyết nguồn tin về tội phạm cùng với nhu cầu hợp tác quốc tế về TTHS giữa Việt Nam và Liên bang Nga đã tạo nên động lực cho tác giả lựa chọn BLTTHS của hai quốc gia làm đối tượng nghiên cứu, so sánh trong luận văn của mình
1.1.2.2 Đối tượng và phạm vi so sánh với pháp luật tố tụng hình sự Liên bang Nga
Một luận văn nghiên cứu so sánh pháp luật luôn có đối tượng nghiên cứu liên quan đến pháp luật và luật pháp trong phương pháp nghiên cứu so sánh được hiểu là các quy định pháp luật, khái niệm luật định, án lệ và các thiết chế pháp lý và trong một số trường hợp có thể bao hàm các điều kiện, bối cảnh của các điều kiện pháp luật cụ thể trong phạm vi chừng mực giới hạn Tuy nhiên trong phần lớp các đối
tội, thông qua việc phân loại hoạt động điều tra dự thẩm hoặc điều tra chuyên trách Các cơ quan có thẩm quyền điều tra dự thẩm bao gồm Bộ Nội vụ, Cảnh sát thuế vụ, Lực lượng biên phòng, Cơ quan thi hành án, Hải quan, Cơ quan cứu hỏa quốc gia và Viện công tố; các cơ quan có thẩm quyền điều tra chuyên trách bao gồm: Viện công tố, Bộ Nội vụ, Cơ quan an ninh liên bang và Cảnh sát thuế vụ
Còn công tố, Bộ Nội vụ, Cơ quan an ninh liên bang và Cảnh sát công tố, Bộ Nội vụ, Cơ quan an ninh liên
bang và Cảnh sát thuế vụ, Hải quan, Cơ quan cứu hỏa quốc gia và V(tý lucông tố, Bộ Nội vụ, Cơ quan an
ninh liên bang và Cảnh sát thuế vụ, Hải quan, Cơ quan cứu hỏa quốc gia và Viện công tốn loại hoạt động”
Bên công tố, Bộ Nội Cơ quan đitố, Bộ Nội vụ, Cơ quan an ninh liên bang có thquan đitố, Bộ Nội vụ, Cơ quan an ninh liên bang và Cảnh sát thuế vụ, Hải quan, Cơ quan cứu hỏa quốc gia và Viện công tốn loại hoạt động điều tra dự th trên có nhn đitố, Bộ Nội vụ, Cơ quan an ninh li [bài gin đitố, Bộ Nội vụ, Cơ quan an ninh liên bang và Cảnh sát, https://kiemsat.vn/noi-dung-co-ban-cua-luat-to-chuc-co-quan-dieu-tra-hinh-su-nam- 2015-45023.html, truy ckiemsat.vn/noi
Trang 22tượng được so sánh trong luận văn nghiên cứu so sánh chính là các quy phạm pháp luật (cấp độ nghiên cứu, so sánh thứ nhất)9
Không nằm ngoài phạm vi đó, đối tượng mà tác giả hướng đến khi trình bày luận văn này là các quy phạm pháp luật của TTHS Liên bang Nga và Việt Nam về giải quyết nguồn tin về tội phạm Nghiên cứu so sánh các quy phạm này trong phạm
vi các vấn đề như thẩm quyền, trình tự, thủ tục và các loại hoạt động mà cơ quạn tiến hành tố tụng Liên bang Nga được phép tiến hành để kiểm tra, xác minh các nguồn tin về tội phạm, từ đó đối chiếu với các quy định của TTHS Việt Nam trong cùng vấn đề giải quyết nguồn tin về tội phạm, phân tích ưu, nhược điểm của Liên bang Nga làm cơ sở để học tập, đề xuất cho Việt Nam
1.2 Khái niệm, phân loại nguồn tin về tội phạm trong tố tụng hình sự
1.2.1 Khái niệm nguồn tin về tội phạm trong tố tụng hình sự
Đối tượng của hoạt động giải quyết nguồn tin về tội phạm chính là các nguồn dữ kiện mà trong đó có chứa đựng các thông tin, dữ liệu về hành vi xâm phạm đến các mối quan hệ được pháp luật hình sự bảo vệ Chính vì vậy, để có thể nghiên cứu một cách đúng đắn và toàn diện bản chất pháp lý của vấn đề giải quyết nguồn tin về tội phạm, trước hết cần hiểu rõ thế nào là “nguồn tin về tội phạm” theo khoa học TTHS
Khái niệm nguồn tin về tội phạm:
Trong khoa học hình sự, “nguồn tin về tội phạm” là cơ sở quan trọng chứa đựng các thông tin về hành vi trái pháp luật hình sự, là tiền đề quyết định các hoạt động chứng minh, truy tố, xét xử và phòng ngừa tội phạm hiệu quả Trong hoạt động điều tra tội phạm, những thông tin này có thể tồn tại ở cả hình thức vật chất và
ý tưởng (tư tưởng phạm tội) tạo ra sự đa dạng của những dấu vết do tội phạm để lại trong môi trường xung quanh10
Khái niệm nguồn tin về tội phạm ở Việt Nam:
BLTTHS năm 2015, tại Điều 4 khoản 1 điểm d, giải thích từ ngữ “nguồn tin về
tội phạm” dưới dạng liệt kê các loại nguồn có chứa thông tin về tội phạm: “Nguồn tin
về tội phạm gồm tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố của cơ quan, tổ chức,
cá nhân, lời khai của người phạm tội tự thú và thông tin về tội phạm do cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng trực tiếp phát hiện” và mặc dù không có quy định cụ
BLTTHS Việt Nam đã ghi nhận “Chỉ được khởi tố vụ án khi đã xác định có dấu hiệu
tội phạm Việc xác định các dấu hiệu tội phạm dựa trên các căn cứ…”, sau đó liệt kê
các nguồn thông tin về tội phạm”, Tạp chí kiểm sát, số 20, tr.33
Trang 23các nguồn tin về tội phạm như đã đề cập tại Điều 4 khoản 1 điểm d Cách quy định này thể hiện quan điểm lập pháp của Việt Nam: Nguồn tin về tội phạm là cơ sở cho
Việc sử dụng hình thức liệt kê của BLTTHS năm 2015 khiến cho khái niệm
“nguồn tin về tội phạm” trong khoa khoa học pháp lý vẫn chưa thật sự thống nhất
và tồn tại nhiều quan điểm khác nhau về vấn đề này:
Theo Giáo sư Hoàng phê, chủ biên cuốn Từ điển tiếng Việt: “Nguồn tin về tội
phạm được thể hiện dưới dạng các tố giác, tin báo về tội phạm Tố giác, tin báo về tội phạm luôn được coi là nguồn quan trọng cung cấp thông tin để xác định có hay không có dấu hiệu tội phạm”.13 Khái niệm này thể hiện được vai trò của “nguồn tin
về tội phạm”14, tuy nhiên quan điểm “nguồn tin về tội phạm được thể hiện dưới dạng các tố giác, tin báo về tội phạm” có phần chưa đầy đủ Bởi căn cứ quy định tại BLTTHS, “nguồn tin về tội phạm” không chỉ giới hạn dưới dạng tố giác, tin báo về
tội phạm mà còn bao gồm các nguồn khác như: Kiến nghị khởi tố của cơ quan nhà
nước; Các thông tin mà cơ quan có thẩm quyền thông qua hoạt động của mình thu thập được (CQĐT, VKS, Tòa án, Bộ đội biên phòng, Hải quan, Kiểm lâm, lực lượng Cảnh sát biển và các cơ quan khác của Công an nhân dân, Quân đội nhân dân
được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra trực tiếp phát hiện) Trong
quan điểm của mình, tác giả Hoàng Phê đã đồng nhất khái niệm “nguồn tin về tội phạm” và “nguồn tố giác, tin báo về tội phạm” Đây là hai loại nguồn tin mang cùng vai trò nhằm xác định các dấu hiệu tội phạm nhưng khác nhau về bản chất “Nguồn
tố giác, tin báo về tội phạm” bao gồm tin báo của cá nhân; tố giác của cơ quan, cá nhân, tổ chức; tin báo trên các phương tiện thông tin đại chúng, về một hành vi có
một dạng đặc biệt là tin báo của một người về tội phạm do chính họ thực hiện
nước có thẩm quyền trực tiếp phát hiện trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, quyền
tội phạm là một hoạt động thuộc giai đoạn KTVAHS, nên tác giả nhận thấy cần làm rõ hai khái niệm cơ sở và căn cứ KTVAHS, theo đó: “Cơ sở Khởi tố vụ án hình sự là những nguồn tin mà dựa vào đó cơ quan có thẩm quyền khởi tố xác định có dấu hiệu tội phạm”; “Căn cứ Khởi tố vụ án hình sự là dấu hiệu tội phạm đã được xác
định trên những cơ sở khởi tố vụ án hình sự theo quy định của pháp luật” [Phạm Văn Huân (2013), Cơ sở và
căn cứ khởi tố vụ án hình sự, Luận văn thạc sĩ, Đại học Luật Hà Nội, tr 15,18.] Như vậy, cách quy định tại Điều
143 BLTTHS 2015 có phần chưa chuẩn xác về mặt từ ngữ theo quan điểm của khoa học pháp lý hình sự, nói cách khác BLTTHS 2015 đã “đánh đồng căn cứ và cơ sở Khởi tố vụ án hình sự ” [Lê Huỳnh Tấn Duy]
đầu tiên quyết định có hay không có việc xâm hại các khách thể của pháp luật hình sự
Trang 24hạn và các thông tin từ kiến nghị khởi tố của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, đây không phải “nguồn tố giác, tin báo tội phạm” mà là các “nguồn tin về tội phạm” nói
phải là các cơ quan nhà nước có thẩm quyền, chuyên môn và kiến thức pháp luật Chính vì vậy, khái niệm trên tuy đã thể hiện được vai trò của “nguồn tin về tội phạm” nhưng vẫn chưa chuẩn xác về mặt nội dung và bản chất vấn đề
Theo quan điểm của Thạc sĩ Lê Ra: “Nguồn thông tin về tội phạm có thể được
hiểu là phương tiện chứa đựng, cung cấp thông tin về tội phạm”.18 Khái niệm này quá rộng, chưa thể hiện được vai trò, chủ thể và các loại nguồn thông tin về tội phạm Giáo trình Luật TTHS Việt Nam của trường Đại học Luật TP.HCM dựa trên
quy định của BLTTHS năm 2015 đưa ra khái niệm nguồn tin về tội phạm là “những
cơ sở ban đầu để cơ quan có thẩm quyền kiểm tra, xác minh nhằm xác định dấu hiệu của tội phạm”.19 Khái niệm này đã thể hiện được vai trò của “nguồn tin về tội phạm” nhưng thiếu các chủ thể
Thạc sĩ Hồ Thị Hiền thì cho rằng: “Nguồn tin về tội phạm là những thông tin
về tội phạm được qui định trong BLHS do cá nhân, cơ quan Nhà nước… cung cấp bằng các hình thức khác nhau hoặc thông qua đưa tin trên các phương tiện thông tin đại chúng bằng văn bản, bằng miệng của người bị hại, người biết việc, của cơ quan, tổ chức, pháp nhân hoặc do người phạm tội tự thú cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền trách nhiệm tiếp nhận và giải quyết theo qui định của BLTTHS” 20
Cũng giống với tác giả Hoàng Phê, khái niệm trên chỉ mới đề cập đến “nguồn tố
giác, tin báo tội phạm” bao gồm “cá nhân, cơ quan Nhà nước… cung cấp… hoặc
thông qua đưa tin trên các phương tiện thông tin đại chúng… hoặc do người phạm tội tự thú…” thiếu các “nguồn tin về tội phạm” nói chung thuộc phạm vi của các
các cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong quá trình thực hiệm nhiệm vụ, quyền hạn của mình phát hiện được, bên cạnh đó khái niệm cũng chưa thể hiện được vai trò của “nguồn tin về tội phạm” trong TTHS
Nhìn chung, mỗi quan điểm có những đóng góp riêng, tuy nhiên vẫn chưa đầy
đủ, chuẩn xác Từ việc phân tích những quan điểm trên, tác giả đưa ra khái niệm
“nguồn tin về tội phạm” như sau:
“Nguồn tin về tội phạm là nơi chứa đựng những thông tin làm căn cứ cho việc xác định có hay không dấu hiệu tội phạm, được cung cấp bởi cá nhân, tổ chức, cơ
Nam”, luận văn Thạc sĩ, Đại học Luật TP.HCM, tr 8
Trang 25quan Nhà nước bằng các hình thức khác nhau của tố giác, tin báo, kiến nghị cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền tiếp nhận và giải quyết theo qui định của BLTTHS hoặc do chính cơ quan Nhà nước có thẩm quyền trực tiếp phát hiện trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình Nguồn tin về tội phạm là cơ sở của khởi tố
vụ án hình sự”
Khái niệm nguồn tin về tội phạm ở Liên bang Nga:
BLTTHS Liên bang Nga quy định tại Điều 5, khoản 43 giải thích: “Thông
tin về tội phạm: tố giác, tin báo về tội phạm, người phạm tội tự thú hoặc báo cáo
về việc phát hiện tội phạm từ các nguồn khác” 21 Để làm rõ quy định này, khoản
1 Điều 140 cũng có đề cập các lí do và căn cứ KTVAHS gồm có: “tố giác về tội
phạm; người phạm tội tự thú; Báo cáo từ những nguồn khác về tội phạm đã được thực hiện và chuẩn bị thực hiện và quyết định chuyển toàn bộ tài liệu về vụ việc có dấu hiệu tội phạm cho CQĐT để xác minh các căn cứ để khởi tố vụ án hình sự Căn cứ để khởi tố vụ án hình sự là có đủ những thông tin về các dấu hiệu của tội phạm” 22
Theo đó, ngoài tố giác, tin báo về tội phạm giống quy định của TTHS Việt
Nam, BLTTHS Liên bang Nga còn ghi nhận thêm loại nguồn tin là Báo cáo từ
những nguồn khác về tội phạm đã được thực hiện và chuẩn bị thực hiện và quyết định chuyển toàn bộ tài liệu về vụ việc có dấu hiệu tội phạm cho CQĐT để xác minh các căn cứ để khởi tố vụ án hình sự
Nhìn chung, cả hai BLTTHS của Việt Nam và Liên bang Nga khá tương đồng trong cách quy định vấn đề “nguồn tin về tội phạm” tuy có tồn tại một số điểm khác biệt trong cách lựa chọn thuật ngữ và nội dung Về thuật ngữ, thay vì “nguồn tin về tội phạm” như Việt Nam, Liên bang Nga sử dụng “thông tin về tội phạm” (communication on a crime) Về cơ bản “nguồn tin về tội phạm” và “thông tin về tội phạm” đều hướng đến đối tượng là các thông tin, dữ liệu về những hành vi có dấu hiệu tội phạm, tuy nhiên trong khi “nguồn thông tin về tội phạm” thể hiện bao quát, (“Nguồn” là một nơi cung cấp, chứa đựng các thông tin), thì “Thông tin về tội phạm” có phần hướng vào chi tiết nội dung, đề cập trực tiếp về các thông tin hành
vi có dấu hiệu vi phạm pháp luật hình sự Trong quá trình dự thảo BLTTHS Việt Nam, các nhà làm luật cũng đã từng đề cập đến một thuật ngữ tương tự “Thông tin
statement about a crime, the surrender or the report on the exposure of a crime;”
Institution of a Criminal Case 1 The following shall serve as the reasons for the institution of a criminal case: 1) an application on a crime: 2) giving oneself up; 3) communication on the committed or the prepared crime, received from other sources; 2 Seen as the ground for the institution of a criminal case shall be the existence of the sufficient data, pointing to the signs of a crime”
Trang 26về dấu hiệu tội phạm”23 hay trong khoa học pháp lý có quan điểm gọi là “các thông tin về hành vi có dấu hiệu tội phạm”24, tuy nhiên ở bản dự thảo BLTTHS 2015 chính thức, các thuật ngữ trên đã không còn được đề cập, thay vào đó là “Nguồn tin
về tội phạm”25
Về nội dung, “nguồn tin về tội phạm” ở Việt Nam bao gồm: “tố giác, tin báo về
tội phạm, kiến nghị khởi tố của cơ quan, tổ chức, cá nhân, lời khai của người phạm tội tự thú và thông tin về tội phạm do cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng trực tiếp phát hiện” còn “thông tin về tội phạm” ở Liên bang Nga bao gồm: “tố giác, tin báo về tội phạm, người phạm tội tự thú, báo cáo về việc phát hiện dấu hiệu tội phạm (thông tin về tội phạm từ những nguồn khác)” 26 Theo đó, BLTTHS Liên bang Nga
không đề cập đến “kiến nghị khởi tố của cơ quan, tổ chức, cá nhân” và “thông tin về
tội phạm do cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng trực tiếp phát hiện” mà gọi
chung thành các thông tin về tội phạm từ những nguồn khác (communication on the committed or the prepared crime, received from other sources)27
Mặc dù không được định nghĩa chính thức trong BLTTHS Liên bang Nga, tuy nhiên căn cứ vào các quy định liên quan về vấn đề “nguồn tin về tội phạm” ở nước này
và từ một số đánh giá quy định “nguồn tin về tội phạm” trong BLTTHS Liên bang Nga như trên, tác giả đưa ra khái niệm “nguồn tin về tội phạm” ở Liên bang Nga như sau:
“Thông tin về tội phạm là những thông tin về hành vi có dấu hiệu tội phạm đã
được thực hiện hoặc chuẩn bị thực hiện do Điều tra viên, CQĐT ban đầu, và Công tố viên nhà nước 28 thông qua tố giác, tin báo về tội phạm; tự thú của cá nhân; tin báo từ những nguồn khác nhau bằng hình thức lời nói hoặc văn bản, tiếp nhận, kiểm tra Thông tin có đầy đủ các dấu hiệu tội phạm là căn cứ để khởi tố vụ án hình sự”29
ngày 17/04/2015, Tr.8
http://duthaoonline.quochoi.vn/DuThao/Lists/DT_DUTHAO_LUAT/View_Detail.aspx?ItemID=561&TabIn dex=2&TaiLieuID=1939, truy cập 08/06/2019
khởi tố trong Dự thảo BLTTHS (sửa đổi)”, Tạp chí Kiểm sát, số 07, tr 32
thay đổi này, tuy nhiên theo quan điểm của tác giả, sự lựa chọn thuật ngữ ban đầu “Thông tin về dấu hiệu tội phạm” cho thấy sự tiếp thu pháp luật nước ngoài trong quá trình xây dựng BLTTHS 2015 của các nhà làm luật và có sự điều chỉnh thành “Nguồn tin về tội phạm” cho phù hợp với các quan điểm pháp lý tại Việt Nam
statement about a crime, the surrender or the report on the exposure of a crime;”
[Điều tra viên, CQĐT ban đầu, Dự thẩm viên và Công tố viên nhà nước có trách nhiệm tiếp nhận, kiểm tra tin báo về bất kỳ tội phạm nào đã được thực hiện hoặc chuẩn bị thực hiện và trong phạm vi thẩm quyền do
Bộ luật này quy định ra quyết định trong thời hạn không quá 3 ngày từ khi nhận được tin báo…]
[Căn cứ để khởi tố vụ án hình sự là có đủ những thông tin về các dấu hiệu của tội phạm]
Trang 271.2.2 Phân loại nguồn tin về tội phạm trong tố tụng hình sự
Mặc dù mỗi quốc gia quy định khác nhau nhưng nhìn chung nguồn tin về tội phạm được xác định với phạm vi khá rộng, bao quát nhiều chủ thể nhằm tăng khả năng phát hiện, khai báo và xử lý tội phạm tới mức tối đa, tránh trường hợp bỏ lọt tội phạm, không kịp thời ngăn chặn tội phạm
Có thể phân loại nguồn tin về tội phạm trong TTHS thành 02 nhóm cơ bản gồm: “tố giác, tin báo về tội phạm” và “nguồn tin khác về tội phạm” Trong đó, “tố giác, tin báo về tội phạm” là các loại thông tin chứa đựng hành vi có dấu hiệu tội phạm bị phát hiện do sự thông báo của cá nhân, cơ quan, tổ chức cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền tiếp nhận, giải quyết Trong khi đó, “nguồn tin khác về tội phạm” chính là các nguồn thông tin được thu thập, phát hiện bằng các hình thức khác ngoài tố giác, tin báo tội phạm
Tố giác, tin báo về tội phạm
Tố giác, tin báo về tội phạm được cả pháp luật Liên bang Nga và Việt Nam quy định là một trong những cơ sở để xác định dấu hiệu tội phạm Xét trong các căn
cứ KTVAHS ở cả hai nước có hơn một nửa căn cứ thuộc nguồn tố giác, tin báo về
tội phạm, bao gồm: tố giác của cá nhân; tin báo của cơ quan, tổ chức, cá nhân; tin
báo trên thông tin đại chúng (BLTTHS Liên bang Nga gọi chung là tố giác, tin báo
về tội phạm – The statement about the crime); người phạm tội tự thú Điều đó cũng
khẳng định rằng, cơ quan có thẩm quyền muốn KTVAHS phải bắt đầu từ những tin tức về tội phạm được chính thức thông báo (do các chủ thể xác định tố giác; từ những nguồn tin xác thực) chứ không phải là những lời đồn đại không có căn cứ Chủ thể báo tin, tố giác về tội phạm không nhất thiết phải là đối tượng trực tiếp bị tội phạm xâm hại và không chỉ các cơ quan Tư pháp như Tòa án, VKS, CQĐT, mà theo quy định pháp luật, các cơ quan, tổ chức khác, bất kể là cơ quan, tổ chức nào khi công dân tố giác về tội phạm đều có trách nhiệm tiếp nhận30
Trong khoa học pháp lý TTHS, khái niệm tố giác và tin báo về tội phạm được hiểu một cách tương đối, xét trong mối liên hệ với “nguồn tin về tội phạm” nói chung Trong khi, tố giác tội phạm là hành vi của công dân (có thể là người chứng kiến, nhận được thông tin về tội phạm, người liên quan hoặc là nạn nhân trực tiếp của tội phạm) cung cấp cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền tiếp nhận, giải quyết Thì ý nghĩa tin báo phản ánh mối liên hệ giữa một chủ thể có tính chất biết việc (được nghe lại, kể lại…), các cá nhân, pháp nhân – cơ quan, tổ chức truyền tin đi với một cơ quan có trách nhiệm trong hệ thống chủ thể thực hiện các
Mai Đắc Biên (2015), “Vấn đề giải quyết tố giác, tin báo tội phạm và kiến nghị khởi tố trong dự thảo
BLTTHS sửa đổi”, Tạp chí Kiểm sát, số 17, tr 27-32
Trang 28quyền năng TTHS Phạm vi thông tin về tội phạm được cung cấp bởi tin báo đa dạng hơn tố giác, bao gồm các thông tin được cung cấp bởi những người, cơ quan,
tổ chức biết thông tin về hành vi có dấu hiệu tội phạm; các thông tin thu được từ
sự chuyển tiếp giữa những cơ quan, tổ chức có trách nhiệm tiếp nhận với cơ quan
có thẩm quyền giải quyết nguồn tin về tội phạm; những thông tin được phản ánh bằng hoạt động truyền thông theo chức năng nghề nghiệp (các cơ quan thông tin đại chúng) hay loại tin báo đặc biệt, do cá nhân là người trực tiếp thực hiện tội phạm tự nguyện cung cấp thông tin cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền về chính
hành vi mà họ đã thực hiện (còn gọi là người phạm tội tự thú) Tố giác của công
dân và tin báo của cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân là tin có nguồn gốc cụ thể, do những chủ thể có thông tin, địa chỉ rõ ràng31 và được các cơ quan tổ chức tiếp nhận kiểm tra
BLTTHS Việt Nam năm 2015 có quy định khái niệm tố giác, tin báo tội phạm
tại Điều 144 khoản 1, 2: “1 Tố giác về tội phạm là việc cá nhân phát hiện và tố cáo
hành vi có dấu hiệu tội phạm với cơ quan có thẩm quyền; 2 Tin báo về tội phạm là thông tin về vụ việc có dấu hiệu tội phạm do cơ quan, tổ chức, cá nhân thông báo với cơ quan có thẩm quyền hoặc thông tin về tội phạm trên phương tiện thông tin đại chúng” Quy định trên cho thấy theo quy định của pháp luật Việt Nam, tố giác
về tội phạm và tin báo về tội phạm là hai nhóm căn cứ có đặc điểm khác nhau Thứ nhất là ở chủ thể cung cấp thông tin, chỉ có cá nhân mới có thể tiến hành tố giác tội phạm, còn tin báo về tội phạm có thể do cá nhân, cơ quan, tổ chức thông báo cho cơ quan có thẩm quyền hoặc thông tin về tội phạm trên các phương tiện thông tin đại chúng Thứ hai là sự khác biệt về yếu tố phát hiện hành vi: chủ thể tiến hành tố giác
về tội phạm phải là người phát hiện (có thể chính là bị hại hoặc người chứng kiến hành vi có dấu hiệu phạm tội đã hay sắp xảy ra) Trong khi đó, chủ thể của tin báo
về tội phạm chỉ cần có thông tin về vụ việc (được nghe lại, kể lại từ người khác,…)
có dấu hiệu phạm tội là có thể tiến hành thông báo cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc trên phương tiện thông tin đại chúng
Trong BLTTHS Liên bang Nga có đề cập đến một số đặc điểm tương tự như quy định của BLTTHS Việt Nam tại các quy định xử lý cụ thể của tố giác và tin báo
về tội phạm, tuy nhiên không có sự tách bạch rõ ràng như BLTTHS Việt Nam Pháp luật TTHS Liên bang Nga quy định chung tố giác và tin báo về tội phạm là một loại thông tin (The statement about the crime – Tuyên bố về một hành vi phạm tội)
thuộc “Thông tin về tội phạm” (communication on a crime)
[Tố giác nặc danh về tội phạm không thể là lý do để khởi tố vụ án hình sự]
Trang 29Theo quan điểm của tác giả, tố giác và tin báo là hai khái niệm không thể tách rời bởi dựa theo bản chất cùng hướng đến đối tượng chung là các hành vi có dấu hiệu vi phạm pháp luật hình sự do các chủ thể trong xã hội (công dân, pháp nhân, tổ chức không chuyên trách, không có nghiệp vụ xử lý hình sự) thông qua nhiều lý do (trực tiếp chứng kiến; bị tội phạm tác động; được nghe, kể lại) cung cấp cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền tiếp nhận và giải quyết bằng các hình thức khác nhau theo quy định của pháp luật Bên cạnh đó, tố giác và tin báo về tội phạm tuy luôn được coi là các nguồn quan trọng trong việc xác định các dấu hiệu tội phạm nhưng phần lớn chúng chỉ mang tính chất tương đối, cần qua quá trình điều tra, xác thực nguồn gốc, chứng minh tội phạm mới có thể kết luận chính xác Chính vì vậy, tố giác và tin báo về tội phạm có chung các đặc điểm và bản chất của một nguồn tin về tội phạm, nên được quy định chung, nhằm tạo điều kiện cho quá trình xác minh các loại nguồn tin về tội phạm được đơn giản thủ tục, góp phần phân loại các nguồn tin
về tội phạm theo đúng bản chất của chúng
Căn cứ vào những phân tích trên, có thể đưa ra khái niệm chung cho “nguồn tố
giác, tin báo về tội phạm” như sau: “Nguồn tố giác, tin báo về tội phạm là những
thông tin về tội phạm được quy định trong BLHS do người, cơ quan, tổ chức cung cấp bằng các hình thức thông tin khác nhau; do các phương tiện thông tin đại chúng nêu lên hoặc do người phạm tội tự thú để cho cơ quan có trách nhiệm tiếp nhận và giải quyết theo quy định của BLTTHS”
Nguồn tin khác về tội phạm
Như đã đề cập nguồn tin khác về tội phạm là các loại nguồn thông tin
nguồn này có tính chất bí mật nghiệp vụ cao, do các cơ quan có thẩm quyền, chuyên môn TTHS trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình trực tiếp phát hiện được33
Theo quy định của BLTTHS Việt Nam, các nguồn thông tin khác về tội phạm
bao gồm: Kiến nghị khởi tố của cơ quan nhà nước và Cơ quan có thẩm quyền tiến
hành tố tụng trực tiếp phát hiện dấu hiệu tội phạm
Kiến nghị khởi tố “là việc cơ quan nhà nước có thẩm quyền kiến nghị bằng văn
bản và gửi kèm theo chứng cứ, tài liệu liên quan cho CQĐT, VKS có thẩm quyền xem xét, xử lý vụ việc có dấu hiệu tội phạm” 34 Trong khoa học pháp lý hình sự Việt Nam
mạng lưới điều tra bí mật từ các trinh sát…; Các cơ quan nhà nước thông qua hoạt động thuộc nhiệm vụ của mình, thanh tra, kiểm tra, giám sát, xét xử… phát hiệu dấu hiệu tội phạm
Trang 30vẫn còn tồn tại quan điểm cho rằng kiến nghị khởi tố là một dạng đặc biệt của tin báo, theo đó loại căn cứ này phải thuộc phân loại của nguồn tố giác, tin báo về tội phạm Quan điểm này đã đánh đồng hai hoạt động của cơ quan nhà nước trong việc cung cấp các thông tin về tội phạm, dẫn đến phân loại không chuẩn xác Cụ thể, một bên là trường hợp cơ quan nhà nước thông qua công tác thanh tra, kiểm tra, xét xử… phát hiện hành vi có dấu hiệu tội phạm thì thu thập tài liệu, hồ sơ liên quan đến hành vi, kèm theo văn bản kiến nghị khởi tố gửi đến cho CQĐT, VKS cùng cấp đề nghị khởi
tố vụ án (cơ quan nhà nước đóng vai trò là chủ thể kiến nghị), còn lại là trường hợp
cơ quan nhà nước thông qua hoạt động quản lý hoặc công tác khác, phát hiện vi phạm
có dấu hiệu tội phạm trong lĩnh vực mình quản lý thì thông báo đến cơ quan có thẩm quyền xem xét giải quyết (cơ quan nhà nước đóng vai trò là chủ thể của tin báo) Cần phân biệt khi nào cơ quan nhà nước làm chủ thể kiến nghị khởi tố và khi nào làm chủ thể báo tin Bản chất của kiến nghị khởi tố theo BLTTHS Việt Nam quy định là hoạt động của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, không phải tất cả các cơ quan thuộc quản
lý của nhà nước đều có thể trở thành chủ thể của kiến nghị khởi tố Bên cạnh đó kiến nghị khởi tố đòi hỏi chủ thể cung cấp cần phải gửi chứng cứ, tài liệu liên quan về hành vi có dấu hiệu tội phạm kèm theo văn bản kiến nghị khởi tố Chính vì vậy, đây
là hoạt động đòi hỏi chuyên môn, nghiệp vụ, không phải mọi cơ quan nhà nước đều
có khả năng đáp ứng được
Một loại căn cứ khác thuộc nhóm thứ hai này là các thông tin về tội phạm do các cơ quan có thẩm quyền KTVAHS, bao gồm: CQĐT, VKS, Tòa án, Bộ đội biên phòng, Hải quan, Kiểm lâm, lực lượng Cảnh sát biển và các cơ quan khác của Công
an nhân dân, Quân đội nhân dân được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra, trong quá trình thực hiện công tác của mình (khám xét hiện trường, khám nghiệm
tử thi, các hoạt động điều tra, thu thập chứng cứ, kiểm sát, xét xử…) đã phát hiện các dấu hiệu tội phạm Đây là các cơ quan có chuyên môn, nghiệp vụ về hình sự, chính vì vậy thông tin về tội phạm của loại chủ thể này thường có độ tin cậy cao
Khác với Việt Nam, BLTTHS Liên bang Nga không quy định kiến nghị khởi
tố của cơ quan nhà nước và việc cơ quan có thẩm quyền trực tiếp phát hiện tội phạm làm căn cứ để xác định dấu hiệu tội phạm cũng như không đề cập đến hai
loại căn cứ này trong quy định “Thông tin về tội phạm” (communication on a crime), mà gọi chung là “Báo cáo về việc phát hiện các dấu hiệu tội phạm” (The
Report on the Exposure of Signs of a Crime) Bao gồm thông tin về tội phạm đã thực hiện hoặc đang chuẩn bị thực hiện mà CQĐT nhận được từ những nguồn
Trang 31
phát hiện các dấu hiệu tội phạm” phổ biến có thể kể đến là việc các thông tin về
vụ việc có dấu hiệu tội phạm được đăng tải trên truyền thông đại chúng; Các báo cáo của cơ quan nhà nước về tội phạm trong lĩnh vực hoạt động của mình (riêng đối với một số tội danh về Thuế, việc báo cáo về việc phát hiện các dấu hiệu tội phạm chỉ được xem là nguồn tin về tội phạm khi được cung cấp bởi Cơ quan có thẩm quyền về quản lý Thuế- tax authorities) Bên cạnh đó một loại nguồn tin về
tội phạm cũng được xem là “Báo cáo về việc phát hiện các dấu hiệu tội phạm”
được quy định trong BLTTHS Liên bang Nga có thể được sử dụng làm lý do để KTVAHS bắt nguồn từ chủ thể viện Công tố Liên bang Nga, gọi là quyền yêu cầu
trình kiểm tra, giám sát hoạt động tư pháp, nếu phát hiện có vi phạm pháp luật hoặc có các căn cứ khác gây ảnh hưởng đến kết quả xác minh nguồn tin về tội phạm, các Công tố viên có quyền viện dẫn Điều 37 khoản 2 điểm 12 quy định về các quyền của viện công tố, ra quyết định chuyển toàn bộ vụ việc bị tố giác, từ CQĐT hình sự thuộc cơ quan hành pháp - the preliminary investigation agency of
a federal executive body (under a federal executive body) sang CQĐT cấp cao hơn thuộc các Uỷ ban điều tra Liên bang Nga- The Investigation Committee of the Russian Federation trong mọi trường hợp mà không thể bị từ chối bởi bất kỳ lý do nào Việc chuyển giao này phải được gửi kèm tất cả tài liệu, vật chứng và các loại biên bản, quyết định liên quan đến việc xác minh thông tin về tội phạm của CQĐT hình sự trước đó, theo tinh thần của Điều 151 BLTTHS Liên bang Nga quy định
về thẩm quyền điều tra vụ án hình sự37
Các quyết định chuyển toàn bộ các vụ việc bị tố giác có dấu hiệu tội phạm từ CQĐT thuộc cơ quan hành pháp sang các CQĐT cấp cao hơn thuộc Ủy ban điều tra Liên bang Nga của Viện công tố Liên bang Nga, mang bản chất khác tin báo tố giác tội phạm và kiến nghị khởi tố của TTHS Việt Nam Trong hoạt động chuyển giao
vụ việc cần xác minh tội phạm, Viện công tố không đóng vai trò là chủ thể tố giác hoặc kiến nghị khởi tố bởi các vụ việc này đã được phát hiện, đã được giải quyết và kết quả giải quyết có các vấn đề không hiệu quả khiến cho Viện công tố trong quá trình kiểm tra, giám sát nhận định cần có sự chuyển giao vụ việc cho CQĐT cấp cao hơn giải quyết nhằm xác minh làm rõ các dấu hiệu tội phạm Viện công tố là CQTHTT có chức năng kiểm tra giám sát hoạt động tư pháp tại giai đoạn trước xét
xử, sử dụng các quyền của mình, yêu cầu CQĐT có thẩm quyền giải quyết nguồn tin về tội phạm phải chuyển giao vụ việc cho cấp cao hơn, trong các trường hợp có
Trang 32
sai phạm hoặc có các dấu hiệu sai thẩm quyền hoặc phát sinh các tình tiết khác mà việc chuyển giao là cần thiết
Đối chiếu quy định của BLTTHS hai nước trong cách quy định vấn đề nguồn
thông tin về tội phạm nói chung, nhận thấy, mặc dù Kiến nghị khởi tố của cơ quan nhà
nước; Cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng trực tiếp phát hiện dấu hiệu tội phạm
theo quy định của pháp luật TTHS Việt Nam và “Báo cáo về việc phát hiện các dấu
hiệu tội phạm” (The Report on the Exposure of Signs of a Crime) theo quy định của
BLTTHS Liên bang Nga có đối tượng giống nhau tuy nhiên chủ thể và phạm vi quy
định của BLTTHS Liên Bang nga rộng hơn rất nhiều Trong khi ở Việt Nam kiến nghị
khởi tố của cơ quan nhà nước; cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng trực tiếp phát hiện dấu hiệu tội phạm đòi hỏi chỉ có các chủ thể là cơ quan nhà nước, cơ quan có
thẩm quyền KTVAHS cung cấp, thì quy định của BLTTHS Liên bang Nga bao quát tất
cả các trường hợp có thể cung cấp thông tin về tội phạm, không chỉ riêng từ hoạt động chuyên môn của cơ quan nhà nước hay nghiệp vụ của các cơ quan có thẩm quyền KTVAHS (CQĐT, Viện công tố) mà còn có cả thông tin tội phạm có trong các trường hợp khởi tố theo yêu cầu người bị hại38 hoặc các vụ việc có dấu hiệu phạm tội nhưng
không xác định được đối tượng (Tố giác, tin báo về tội phạm không rõ đối tượng)39 Nhìn chung, mặc dù cách quy định và thuật ngữ có phần khác nhau, nhưng xét
về nội dung cả BLTTHS Liên Bang Nga và Việt Nam đều có sự tương đồng trong
cách phân loại nguồn tin về tội phạm khi cùng ghi nhận tố giác, tin báo về tội phạm (The statement about the crime) và thông tin về tội phạm từ các nguồn khác (the report on the exposure of a crime) là cơ sở để xác định dấu hiệu tội phạm, quyết
định việc KTVAH
tin về tội phạm, “Yêu cầu khởi tố của bị hại” chỉ có thể được thực hiện bởi cá nhân là người bị hại hoặc gia đình của họ trong trường hợp người này dưới 18 tuổi, có nhược điểm về tinh thần hoặc thể chất hoặc đã chết (Điều 155 khoản 1 BLTTHS Việt Nam 2015) “Yêu cầu khởi tố của bị hại” khác với tố giác về tội phạm ở chủ thể cung cấp thông tin, Tố giác tội phạm là khi một người phát hiện ra một hành vi có dấu hiệu tội phạm
và tố cáo cho cơ quan có thẩm quyền về hành vi đó, họ không nhất thiết là người bị hại hay gia đình của người bị hại, hành vi có dấu hiệu tội phạm bị tố giác có thể thuộc phạm vi của “khởi tố vụ án theo yêu cầu bị hại” hoặc không Còn “Yêu cầu khởi tố của bị hại” phải do người trực tiếp bị hậu quả của tội phạm tác động hoặc gia đình của họ (trong một số điều kiện đặc biệt) cung cấp cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền và chỉ một số tội danh bị hại được yêu cầu khởi tố Trong quy định của BLTTHS Việt Nam chưa yêu cầu khởi tố của người bị hại là một loại nguồn tin về tội phạm
dung của công tác thống kê tội phạm (các loại tội phạm ẩn đối tượng vẫn bị xem là tội phạm), đấu tranh phòng ngừa tội phạm hiệu quả, ví dụ một người đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền trình báo về việc chiếc xe của mình bị trộm mất, người này không biết đối tượng thực hiện hành vi, tuy nhiên vụ việc mất cắp là có diễn ra và việc trình báo với cơ quan nhà nước có thẩm quyền vẫn được xem là tin báo về tội phạm Trong quy định về tố giác, tin báo về tội phạm tại BLTTHS Việt Nam, khái niệm chỉ đề cập đến việc phát hiện hoặc có thông tin về
“hành vi có dấu hiệu tội phạm”, theo quan điểm của tác giả, đã là “hành vi” thì phải có “đối tượng” thưc hiện, cách quy định trên dễ dẫn đến cách hiểu sai trong quá trình xử lý, giải quyết nguồn tin về tội phạm khi chỉ xem các hành vi có đối tượng cụ thể là tin báo tội phạm còn các thông tin chưa rõ đối tượng thì không
Trang 331.3 Khái niệm, đặc điểm và vai trò của giải quyết nguồn tin về tội phạm trong tố tụng hình sự
1.3.1 Khái niệm giải quyết nguồn tin về tội phạm trong tố tụng hình sự
Trước hết, TTHS được hiểu là trình tự, thủ tục tiến hành giải quyết vụ án hình
sự theo quy định của pháp luật TTHS, bao gồm toàn bộ hoạt động của CQTHTT, người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng của cá nhân, cơ quan nhà nước khác
và tổ chức xã hội góp phần vào việc giải quyết vụ án theo quy định của luật TTHS40
Trong trình tự đó, “giải quyết nguồn tin về tội phạm” là một phần của quá trình
TTHS thuộc giai đoạn KTVAHS Về vấn đề này, BLTTHS quy định trách nhiệm, thẩm quyền của các CQTHTT trong việc tiếp nhận và giải quyết nguồn tin về tội phạm
để đảm bảo các nguyên tắc cơ bản trong giải quyết vụ án hình sự Cụ thể, các cơ quan
tổ chức khi phát hiện được hoặc nhận được thông tin về tội phạm phải lập tức triển khai các biện pháp luật định về lập biên bản, ghi nội dung, thực hiện kiểm tra sơ bộ các yếu
tố cần thiết để bảo đảm độ tin cậy khách quan của nguồn tin, sau đó không chậm trễ gửi thông báo cho CQĐT CQĐT, VKS, Tòa án nhận được tin báo về tội phạm cũng phải chuyển ngay những tố giác, tin báo tội phạm cho CQĐT có thẩm quyền giải quyết Đồng thời, pháp luật cũng quy định CQĐT phải thông báo kết quả giải quyết cho cơ quan, tổ chức, cá nhân đã cung cấp thông tin về tội phạm41 Ngoài ra, trách nhiệm của CQĐT là phải có biện pháp bảo đảm an toàn cho chủ thể cung cấp thông tin
về tội phạm và quyết định của CQĐT trong việc giải quyết nguồn thông tin về tội phạm mà cá nhân, cơ quan, tổ chức đã cung cấp, đây là kết quả xử lý ban đầu các nguồn tin về tội phạm Đối với tin báo về tội phạm trên các phương tiện thông tin đại chúng như báo chí, phát thanh, truyền hình… thì cơ quan có thẩm quyền có trách nhiệm xem xét và giải quyết tin báo đó theo quy định của pháp luật Tất cả các thủ tục, trình tự kiểm tra, xác minh thông tin về tội phạm do cá nhân, cơ quan, tổ chức cung cấp, cùng với toàn bộ những trách nhiệm, nghĩa vụ, thẩm quyền giải quyết nguồn tin tội phạm kể trên tạo thành hoạt động “giải quyết nguồn tin về tội phạm trong TTHS”
Bộ luật TTHS Liên bang Nga tương đồng với pháp luật TTHS Việt Nam khi không định nghĩa “Giải quyết nguồn tin tội phạm” trong luật mà quy định trực tiếp trình tự, thủ tục và thẩm quyền trong giải quyết nguồn tin tôi phạm Theo đó, thủ tục xem xét tin báo tội phạm; thông tin tội phạm được các cơ quan có thẩm quyền
nhận và xử lý
Oanh (chủ biên), NXB Hồng Đức
Trang 34Từ những phần phân tích trên có thể đưa ra khái niệm “giải quyết nguồn tin về tội phạm” như sau:
“Giải quyết nguồn tin về tội phạm là hoạt động thuộc giai đoạn Khởi tố vụ án
hình sự , tại đó cơ quan Nhà nước có thẩm quyền thực hiện các nghiệp vụ cần thiết
theo trình tự, thủ tục luật định, nhằm xác định dấu hiệu tội phạm của các hành vi trái pháp luật mà họ đã trực tiếp phát hiện hoặc các hành vi bị tố giác, báo tin, kiến nghị, làm căn cứ cho việc khởi tố vụ án hình sự”
1.3.2 Đặc điểm của giải quyết nguồn tin về tội phạm trong tố tụng hình sự
Là một phần của giai đoạn KTVAHS, giải quyết nguồn tin về tội phạm mang một số đặc điểm sau:
Thứ nhất, giải quyết nguồn tin về tội phạm là điều kiện cần của giai đoạn KTVAHS
Quá trình giải quyết vụ án hình sự bao gồm nhiều giai đoạn như: khởi tố vụ
án, điều tra, truy tố, xét xử Trong đó, giai đoạn phía trước là tiền đề của giai đoạn
kế tiếp và là cơ sở cho các giai đoạn còn lại Trong quy trình này, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm là một trong các bước mở đầu với nhiệm vụ chính là xác định có hay không có dấu hiệu tội phạm, tạo cơ sở ra quyết định khởi tố hay không KTVAHS Hay nói cách khác, giải quyết nguồn tin tội phạm là nội dung chính của giai đoạn khởi tố vụ án và là điều kiện cần để có các giai đoạn tiếp theo trong quá trình TTHS
Thứ hai, giải quyết nguồn tin về tội phạm là hoạt động thuộc thẩm quyền của CQTHTT
Trên cơ sở quy định về nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của các cơ quan
có thẩm quyền tiến hành tố tụng trong BLTTHS, tùy thuộc vào mô hình TTHS và cách tổ chức bộ máy pháp luật, mà Liên bang Nga và Việt Nam có sự phân định thẩm quyền giải quyết nguồn tin tội phạm cho các chủ thể khác nhau Tuy nhiên có thể nhận thấy ở BLTTHS của cả hai quốc gia đều trao thẩm quyền này chủ yếu cho các CQĐT hình sự, ở Việt Nam là: CQĐT, Cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra và VKS và ở Liên bang Nga là: CQĐT ban đầu, CQĐT
dự thẩm và Công tố viên nhà nước Tùy theo thẩm quyền địa bàn và lĩnh vực, các
cơ quan này sẽ thụ lý và giải quyết nguồn tin về tội phạm theo một trình tự riêng dưới sự kiểm tra, giám sát của cơ quan kiểm sát cùng cấp
Thứ ba, việc giải quyết nguồn tin về tội phạm chịu sự kiểm tra, giám sát của
cơ quan nhà nước có thẩm quyền
[Công tố viên nhà nước là công chức của văn phòng công tố nhân danh Nhà nước thực hiện việc buộc tội trước Toà án trong vụ án hình sự; Công tố viên Liên bang Nga không trực tiếp giải quyết nguồn tin về tội phạm, mà giữ vai trò kiểm tra giám sát, điều phối hoạt động kiểm tra,xác minh nguồn tin về tội phạm của CQTHTT]
Trang 35Hệ thống cơ quan VKS nhân dân theo Hiến pháp Việt Nam năm 2013 có thẩm quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp Một trong những nội dung quan trọng thực hành quyền kiểm sát hoạt động tư pháp là việc kiểm tra, giám sát việc tuân theo pháp luật của các chủ thể tham gia quan hệ pháp luật TTHS phát sinh trong quá trình giải quyết nguồn tin về tội phạm Hoạt động kiểm sát việc giải quyết nguồn tin về tội phạm của VKS có vị trí, vai trò và ý nghĩa tiên quyết để bảo đảm mọi hành vi phạm tội, người phạm tội đều được phát hiện và xử lý kịp thời, đúng pháp luật Thực tiễn thực hành quyền công tố cho thấy, kiểm sát tốt việc giải quyết nguồn tin về tội phạm
sẽ quyết định chất lượng thực hành quyền công tố, bước quan trọng để có thể khẳng định có hay không có hành vi tội phạm xảy ra Đồng thời, thông qua hoạt động này tạo cơ sở khẳng định việc khởi tố là đúng người, đúng tội và bảo đảm các căn cứ để
xử lý tội phạm, bảo đảm cho mọi hành vi phạm tội đều phải được xử lý theo quy định của pháp luật, tránh làm oan, sai và không bỏ lọt tội phạm Bên cạnh đó, Kiểm sát tốt việc giải quyết tin báo và tố giác tội phạm còn góp phần việc đồng ý hoặc hủy bỏ quyết định không khởi tố của VKS đối với CQĐT chính xác và có căn cứ
Tại Điều 160 BLTTHS năm 2015 quy định: VKS kiểm sát việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm thông qua các hoạt động kiểm sát tuân theo pháp luật đối với cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền trong TTHS thực hiện việc tiếp nhận, kiểm sát việc kiểm tra, xác minh và việc lập hồ sơ giải quyết nguồn tin về tội phạm của CQĐT; kiểm sát việc tạm đình chỉ, phục hồi giải quyết nguồn tin về tội phạm; kiểm sát việc phục hồi giải quyết nguồn tin về tội phạm; yêu cầu CQĐT cung cấp tài liệu liên quan để kiểm sát việc giải quyết nguồn tin về tội phạm Trường hợp khi phát hiện việc tiếp nhận, giải quyết nguồn tin về tội phạm không đầy đủ, vi phạm pháp luật thì yêu cầu CQĐT thực hiện các hoạt động, như: (1) tiếp nhận, kiểm tra, xác minh, ra quyết định giải quyết nguồn tin về tội phạm đầy
đủ, đúng pháp luật; (2) kiểm tra việc tiếp nhận, giải quyết nguồn tin về tội phạm
và thông báo kết quả cho VKS; (3) cung cấp tài liệu về vi phạm pháp luật trong việc tiếp nhận, giải quyết nguồn tin về tội phạm; (4) khắc phục vi phạm pháp luật
và xử lý nghiêm người vi phạm; (5) yêu cầu thay đổi Điều tra viên, Cán bộ điều tra; giải quyết tranh chấp về thẩm quyền giải quyết nguồn tin về tội phạm và thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn khác trong kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết nguồn tin
Đối với pháp luật TTHS Liên bang Nga, hoạt động giám sát giải quyết thông tin tội phạm cũng được thực hiện bởi cơ quan kiểm sát hoạt động tư pháp (Văn
giác, tin báo về tội phạm”, Tạp chí Kiểm sát, số 19
Trang 36phòng công tố -The prosecutor’s office), thông qua hoạt động thuộc thẩm quyền của các Công tố viên (The prosecutor)44
Liên bang Nga quy định các cơ quan có thẩm quyền điều tra (Điều tra viên; CQĐT ban đầu) và Văn phòng công tố có trách nhiệm giải quyết thông tin về tội phạm Trong đó Văn phòng công tố tại giai đoạn trước khi xét xử vụ án được giao nhiệm vụ kiểm tra, giám sát việc tiếp nhận, đăng ký và giải quyết các nguồn thông tin về tội phạm45 Cụ thể: Công tố viên giám sát các hoạt động điều tra, củng cố, xác minh Thông tin về tội phạm của các cơ quan có thẩm quyền, thông qua việc xem xét các quyết định khởi tố vụ án, quyết định không KTVAHS; Công tố viên có thẩm quyền yêu cầu CQĐT giải trình lý do không khởi tố vụ án, huỷ bỏ các các quyết định không có căn cứ hoặc trái pháp luật và yêu cầu CQĐT xác minh bổ sung
cho các cơ quan có thẩm quyền tiến hành hoạt động thu thập xác minh dấu hiệu tội phạm, đề ra các yêu cầu để CQĐT ban đầu tiến hành các biện pháp truy tìm nghiệp
vụ47; Văn phòng công tố có quyền quyết định chuyển thông tin theo thẩm quyền điều tra để xử lý (từ CQĐT ban đầu chuyển cho Dự thẩm viên hoặc từ Dự thẩm viên này cho Dự thẩm viên khác của Văn phòng công tố)48 cũng như không cho Điều tra viên và dự thẩm viên tiến hành các hoạt động xác minh dấu hiệu tội phạm nếu nhận thấy họ vi phạm các quy định của pháp luật TTHS trong quá trình giải quyết nguồn tin về tội phạm49
1.3.3 Vai trò của giải quyết nguồn tin về tội phạm
Thứ nhất, giải quyết nguồn tin về tội phạm là cơ sở để KTVAHS
Giải quyết nguồn tin về tội phạm là hoạt động đóng vai trò làm cơ sở cho việc KTVAHS, từ hoạt động này các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền tìm ra các căn cứ nhằm xác định dấu hiệu tội phạm để ra quyết định khởi tố hoặc quyết định không khởi tố vụ án hình sự Thể hiện ở việc ghi nhận những thông tin ban đầu về tội phạm được phát hiện từ các nguồn tin về tội phạm, kiểm tra xác minh nguồn tin đó
Công tố viên là người có chức vụ, quyền hạn, có quyền nhân danh Nhà nước thực hiện việc truy cứu trách nhiệm hình sự trong quá trình TTHS và kiểm sát hoạt động tố tụng của CQĐT ban đầu và CQĐT dự thẩm trong phạm vi thẩm quyền được quy định trong Bộ luật này…]
[Trong quá trình tố tụng đối với vụ án ở giai đoạn trước khi xét xử Công tố viên có thẩm quyền : 1) Kiểm sát việc tuân theo pháp luật liên bang trong việc tiếp nhận, đăng ký và giải quyết tin báo tố giác tội phạm;…]
[Khi xác định được quyết định không khởi tố vụ án hình là vi phạm pháp luật hoặc thiếu căn cứ, VKS có quyền huỷ bỏ quyết định này và ra quyết định khởi tố vụ án hình sự theo thủ tục quy định tại Mục này hoặc chuyển hồ sơ để xác minh bổ sung.]
Trang 37để xác định những căn cứ cần thiết cho việc khởi tố hay không khởi tố vụ án hình
sự Hoạt động này có nhiệm vụ làm rõ các tình tiết loại trừ tính trái pháp luật hình
sự đối với vụ việc, phòng ngừa và ngăn chặn tội phạm, bảo quản các dấu vết khách quan của vụ án theo những quy định chung của pháp luật tố tụng hình sự Nói cách khác đây chính là giai đoạn tạo ra các điều kiện cần thiết để thực hiện nhiệm vụ xác định người phạm tội, hành vi phạm tội và buộc tội ở các giai đoạn tố tụng tiếp theo Mặt khác, giải quyết nguồn tin về tội phạm cũng góp phần loại trừ các rủi ro trong hoạt động tư pháp hình sự, ngăn chặn kịp thời việc thông qua quyết định KTVAHS một cách thiếu cân nhắc, vội vàng dẫn tới việc kéo một loạt hậu quả tiêu cực tiếp theo trong việc truy cứu TNHS, điều tra, truy tố, xét xử (Điều tra không có căn cứ, khám xét, bắt, giam giữ, buộc tội, xét xử một cách vô căn cứ và trái pháp luật với những hành vi không chứa đựng dấu hiệu của tội phạm hoặc không diễn ra trong thực tế khách quan, làm oan người vô tội…)
Giải quyết nguồn tin về tội phạm là hoạt động tố tụng trong tâm của giai đoạn KTVAHS mà trong đó cơ quan tư pháp hình sự có thẩm quyền căn cứ vào các quy định của pháp luật TTHS tiến hành việc xác định có (hay không) các dấu hiệu của tội phạm trong hành vi nguy hiểm cho xã hội đã được thực hiện, làm căn cứ ban hành quyết định về việc khởi tố (hoặc không khởi tố) vụ án hình sự liên quan đến hành vi đó Với tính chất là một bước của giai đoạn đầu tiên của TTHS, giải quyết nguồn tin về tội phạm có chức năng thực hiện các nhiệm vụ cụ thể để xác định các tiền đề pháp luật về nội dung (hình sự) và pháp luật về hình thức (tố tụng) của việc điều tra vụ án hình sự; tuy là hoạt động thứ hai sau bước tiếp nhận nguồn tin về tội phạm nhưng trên thực tế, thời điểm của giải quyết nguồn tin về tội phạm đã được bắt đầu từ khi nhận được những thông tin đầu tiên về việc thực hiện hành vi phạm tội và kết thúc cùng giai đoạn KTVAHS bằng quyết định về việc khởi tố (hoặc không khởi tố) vụ án hình sự có liên quan đến hành vi đó
Chính vì là trọng tâm nội dung của giai đoạn KTVAHS nên giải quyết nguồn tin về tội phạm còn mang đăc điểm là sự phản ứng nhanh chóng từ phía Nhà nước đối với mỗi hành vi phạm tội nhằm góp phần phát hiện, điều tra và xử lý một cách
có căn cứ và đúng pháp luật hành vi phạm tội và người phạm tội, đồng thời không chỉ là hoạt động quan trọng trong hoạt động tư pháp hình sự, mà còn là phương
tiện cơ bản để thực hiện tốt nguyên tắc “Trách nhiệm khởi tố và xử lý vụ án hình
sự” trong thực tiễn áp dụng pháp luật TTHS, tránh bỏ lọt tội phạm Kết quả của
giải quyết nguồn tin tội phạm là khi có quyết định khởi tố hoặc không KTVAHS, loại quyết định có giá trị pháp lý được lập bởi những người tiến hành tố tụng có thẩm quyền theo những trình tự thủ tục luật định, chính thức thể hiện ý chí của
Trang 38Nhà nước trong việc giải quyết vụ việc có dấu hiệu tội phạm Bởi vậy, nguồn tin tội phạm có thể coi là những cơ sở quan trọng quyết định tính đúng đắn của Quyết định KTVAHS
Thứ hai, giải quyết nguồn tin về tội phạm là cơ sở để áp dụng các biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế nhằm hạn chế hậu quả từ hành vi tội phạm
Biện pháp ngăn chặn và biện pháp cưỡng chế là hai chế định pháp lý quan trọng, nằm trong nhóm các biện pháp mang tính cưỡng chế của Tố tụng hình sự, do người có thẩm quyền tiến hành tố tụng quyết định áp dụng đối với bị can, bị cáo, người phạm tội quả tang hoặc người bị nghi là phạm tội, nhằm ngăn chặn kịp thời hành vi nguy hiểm cho xã hội của họ, không để họ tiếp tục phạm tội mới hoặc cản trở việc điều tra, truy tố, xét xử, hoặc nhằm bảo đảm việc thi hành án Vì mang tính cưỡng chế, nên các biện pháp này có tác động trực tiếp rất lớn tới bản thân người bị
áp dụng, ảnh hưởng bất lợi tới quyền cơ bản, quyền công dân được ghi nhận trong Hiến Pháp và các văn bản pháp luật khác Chính vì vậy, quy trình áp dụng các biện pháp ngăn chặn, cưỡng chế đòi hỏi phải được thực hiện nhanh chóng, chính xác, đảm bảo công tác phòng chống, ngăn ngừa hậu quả từ hành vi tội phạm hoặc những hành vi tẩu tán tài sản phạm tội, bỏ trốn, hoặc các hành vi tội phạm tiếp theo có nguy cơ diễn ra, cũng như không gây ảnh hưởng đến các quyền cơ bản của công dân, quyền và lợi ích hợp pháp của người bị áp dụng đặc biệt đối với người bị tố giác, tin báo, kiến nghị khởi tố
Để đảm bảo việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế được đúng đắn, công tác xử lý, giải quyết nguồn tin về tội phạm nhanh chóng, chính xác
là rất cần thiết Việc xác minh các dấu hiệu ban đầu của tội phạm đóng vai trò làm
cở sở quan trọng để cơ quan có thẩm quyền tiến hành áp dụng các biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế và ngược lại các biện pháp ngăn chặn, cưỡng chế góp phần giúp cho công tác xác định dấu hiệu tội phạm được hiệu quả, rút ngắn thời gian giải quyết nguồn tin về tội phạm, kịp thời ngăn chặn sự xâm hại các mối quan
hệ xã hội đang diễn ra hoặc phòng ngừa những hậu quả có nguy cơ xảy ra do hành
cơ bản gồm: (1) Phát hiện, khắc phục, hạn chế và đi đến thủ tiêu các hiện tượng xã
Trang 39hội tiêu cực là những nguyên nhân, điều kiện của tình trạng phạm tội và phạm tội cụ thể Đây là hướng mang tính cơ bản, chiến lược và lâu dài và (2) Hạn chế đến mức thấp nhất hậu quả, tác hại khi tội phạm xảy ra Đây cũng là một hướng quan trọng không thể xem nhẹ, bởi trong thực tế những nguyên nhân, điều kiện làm phát sinh, phát triển tội phạm vẫn tồn tại, hoạt động phòng ngừa tội phạm còn bộc lộ nhiều khiếm khuyết nên tội phạm vẫn xảy ra Hướng này đòi hỏi các cơ quan chức năng phối hợp kịp thời phát hiện, điều tra, truy tố, xét xử tội phạm, cải tạo người phạm tội trở thành người công dân lương thiện
Giải quyết nguồn tin về tội phạm góp phần thực hiện cả hai phương thức này, tăng cường pháp chế, bảo vệ các quyền và tự do của công dân trước khi bị khởi tố
và áp dụng các biện pháp nghiệp vụ của giai đoạn điều tra, cùng với các giai đoạn TTHS khác góp phần có hiệu quả vào cuộc đấu tranh phòng và chống tội phạm trong toàn xã hội Từ đó, hoạt động đấu tranh phòng ngừa tội phạm sẽ nhận được sự ủng hộ, góp sức của quần chúng nhân dân Điều này cũng tạo điều kiện khuyến khích các hành vi tố giác tội phạm, ngăn chặn những hành vi bao che, giấu giếm hành vi tội phạm trong xã hội
Trang 40Kết luận Chương 1
Giải quyết nguồn tin về tội phạm là nhiệm vụ hết sức quan trọng, mở đầu cho các hoạt động TTHS Giải quyết nguồn tin về tội phạm đúng đắn, giúp xác định được có tội phạm hay không có tội phạm xảy ra, để quyết định khởi tố hay không khởi tố VAHS Giải quyết nguồn tin về tội phạm được hiểu là quá trình sau khi tiếp nhận vụ việc có dấu hiệu vi phạm pháp luật hình sự thông qua các hình thức tố giác, tin báo hay những nguồn thông tin khác về tội phạm Hoạt động này do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền chuyển giao hoặc trực tiếp kiểm tra, xử lý nhằm làm rõ các dấu hiệu tội phạm của hành vi bị tố cáo, thông báo, từ đó quyết định có hay không
sự xâm phạm các khách thể xã hội được pháp luật hình sự bảo vệ, đưa ra các hướng
xử lý đúng đắn cho quá trình giải quyết VAHS Từ các phân tích, nhận xét, đánh giá quy định trong BLTTHS Liên bang Nga và Việt Nam đối với hoạt động giải quyết nguồn tin về tội phạm, Chương 1 của luận văn đã làm rõ được một số vấn đề sau:
Thứ nhất, trình bày được một số quan điểm xung quanh khái niệm, phân loại
nguồn tin về tội phạm từ đó làm rõ và đưa khái niệm thống nhất về giải quyết nguồn tin về tội phạm theo quy định của pháp luật TTHS Việt Nam và Liên bang Nga
Thứ hai, phân tích được một số đặc điểm chung về lí luận của giải quyết
nguồn tin về tội phạm theo pháp luật TTHS Việt Nam và Liên bang Nga Giải quyết nguồn tin tội phạm là một nội dung trong giai đoạn KTVAHS, được thực hiện bởi các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng dưới sự kiểm tra, giám sát của VKS (Văn phòng công tố)
Thứ ba, phân tích vai trò, yêu cầu của vấn đề giải quyết nguồn tin về tội phạm
trong TTHS Liên bang Nga và Việt Nam; khẳng định ý nghĩa quan trọng của hoạt động này trong quá trình TTHS Giải quyết nguồn tin tội phạm có vai trò là điều kiện cần để thực hiện KTVAHS đồng thời là cơ sở để áp dụng các biện pháp cần thiết để ngăn ngừa hành vi tội phạm đóng góp vào mục tiêu đấu tranh, phòng ngừa tội phạm hiệu quả
Thứ tư, làm rõ một số vấn đề liên quan đến nghiên cứu, so sánh luật nước ngoài
và lí do lựa chọn luật TTHS Liên bang Nga làm đối tượng nghiên cứu so sánh luật Đây là những vấn đề lý luận được dùng làm cơ sở cho việc nghiên cứu, phân tích và so sánh quy định của BLTTHS hai nước Việt Nam và Liên bang Nga điều chỉnh hoạt động giải quyết nguồn tin về tội phạm ở Chương 2 của luận văn