Từ bỏ chính sách phiến diện nghiêng phương Tây của người tiền nhiệm để theo đuổi đường lối ngoại giao độc lập mang tính thực dụng vì lợi ích quốc gia, nước Nga dưới sự lãnh đạo của vị Tổ
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến các Thầy giáo, Cô giáo trong khoa Lịch sử, Trường Đại học sư phạm Hà Nội 2 đã dạy dỗ, chỉ bảo và truyền đạt kiến thức cho em trong suốt quá trình học tập và rèn luyện tại trường cũng như trong thời gian thực hiện khóa luận tốt nghiệp này
Đặc biệt, em xin chân thành cảm ơn Th.S Nguyễn Thị Nga đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ em trong suốt quá trình nghiên cứu, thực hiện khóa luận tốt nghiệp
Cuối cùng, em xin gửi lời cảm ơn đến gia đình, bạn bè và những người thân đã tạo mọi điều kiện thuận lợi để cho em hoàn thành tốt khóa luận của mình
Trong thời gian thực hiện khóa luận tốt nghiệp, do thời gian có hạn và bước đầu làm quen với phương pháp nghiên cứu khoa học nên không thể ttránh khỏi những thiếu xót, em rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của của các Thầy, Cô giáo và các bạn sinh viên
Em xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày tháng năm 2018
Sinh viên thực hiện
Hoàng Thị Nhạn
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Khóa luận tốt nghiệp “Quan hệ kinh tế của Liên bang Nga - EU giai đoạn 2000 – 2017” được hoàn thành dưới sự hướng dẫn tận tình của Th.S Nguyễn Thị Nga
Em xin cam đoan khóa luận này là kết quả nghiên cứu của bản thân em, không trùng lặp với bất kì kết quả nghiên cứu của tác giả nào khác Những kết quả thu được là hoàn toàn chân thực Nếu sai em xin chịu trách nhiệm
Hà Nội, ngày tháng năm 2018
Sinh viên thực hiện
Hoàng Thị Nhạn
Trang 5DANH MỤC VIẾT TẮT TRONG KHÓA LUẬN
ECB European Central Bank Ngân hàng Trung ương châu Âu
FDI Foreign Direct Investment Đầu tư trực tiếp nước ngoài GDP Gross Domestic Product Tổng sản phẩm quốc nội
IMF International Monetary Fund Qũy tiền tệ quốc tế
NATO North Atlantic Treaty
Trang 6MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2
3 Mục đích, đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4
4 Nhiệm vụ của đề tài 4
5 Ý nghĩa của đề tài 5
6 Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu 5
7 Bố cục của khóa luận 6
NỘI DUNG 7
Chương 1: NHỮNG NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN QUAN HỆ KINH TẾ CỦA LIÊN BANG NGA VÀ EU 7
GIAI ĐOẠN (2000 – 2017) 7
1.1 Nhân tố khách quan (Bối cảnh quốc tế) 7
1.2 Nhân tố chủ quan 10
1.2.1 Tì nh hì nh châu Âu và EU 10
1.2.2.Tình hình nước Nga 14
1.3 Vị trí của Nga trong chí nh sách kinh tế đối ngoại của EU 18
1.4 Vị trí của EU trong chí nh sách kinh tế đối ngoại của Nga 20
1.5 Khái quát về quan hệ kinh tế Nga – EU từ sau Chiến tranh lạnh đến trước thế kỉ XXI 22
Tiểu kết chương 1 25
Chương 2: TÌNH HÌNH QUAN HỆ KINH TẾ GIỮA LIÊN BANG NGA VỚI EU GIAI ĐOẠN (2000 – 2017) 26
2.1 Chí nh sách kinh tế của Nga đối với EU 26
2.2 Chí nh sách kinh tế của EU đối với Nga 27
2.3 Tì nh hì nh quan hệ kinh tế của Liên Bang Nga và EU 32
Trang 72.3.1 Về nông nghiệp 35
2.3.2 Về công nghiệp 36
2.3.3 Về thương mại và đầu tư 38
2.4 Nhận xét 46
2.4.1 Đặc điểm 46
2.4.2 Tác động 46
2.4.3 Triển vọng 50
Tiểu kết chương 2 52
KẾT LUẬN 53
TÀI LIỆU THAM KHẢO 57
Trang 8Quan hệ Nga – EU trong thập kỷ 90 của thế kỷ XX tương đối nồng
ấm Điều này xuất phát từ tình hình nước Nga lúc bấy giờ Tình trạng khủng hoảng và suy thoái kéo dài, nội bộ chính trị rối ren, vị thế trên trường quốc tế suy giảm khiến nước Nga phải nhượng bộ phương Tây trong mọi lĩnh vực từ
an ninh, quân sự đến các vấn đề về kinh tế Ngày 31/12/1999, V Putin lên thay B Yeltsin trở thành Tổng thống Liên bang Nga Từ bỏ chính sách phiến diện nghiêng phương Tây của người tiền nhiệm để theo đuổi đường lối ngoại giao độc lập mang tính thực dụng vì lợi ích quốc gia, nước Nga dưới sự lãnh đạo của vị Tổng thống mới đã bắt đầu khôi phục hình ảnh và vị thế cũng như bắt đầu có lập trường của riêng mình đối với nhiều vấn đề trong quan hệ với
EU Quan hệ Nga – EU được thiết lập từ tháng 9/1991 và được định hình theo khuôn khổ đối tác chiến lược bằng “Hiệp định đối tác và hợp tác” ký kết năm 1994, chính thức có hiệu lực từ tháng 12 năm 1997 [9, tr1]
Quan hệ kinh tế Nga – EU là mối quan hệ điển hình, nổi bật trong kinh tế quốc tế Là mối quan hệ kinh tế giữa Liên minh Châu Âu (EU) và quốc gia giáp biên giới lớn nhất về phía Đông - Nga Mối quan hệ của các quốc gia thành viên riêng lẻ của Liên minh châu Âu và Nga thay đổi, mặc dù một phác thảo chính sách đối ngoại chung vào năm 1990 đối với Nga là chính sách đối ngoại đầu tiên của EU đã đồng ý Hơn nữa, bốn không gian chung của Liên minh châu Âu – Nga được thống nhất như một khuôn khổ để thiết lập quan hệ tốt hơn
Trang 92
Tuy nhiên, mối quan hệ giữa Nga và EU Chưa bao giờ là ổn mà luôn
có những thăng trầm Sự việc đã bị đẩy lên đến căng thẳng cực điểm là khi
Mỹ, Canada, Australia cùng trên một nửa số thành viên Liên minh châu Âu đồng loạt tuyên bố trục xuất các nhà ngoại giao Nga để bày tỏ tình đoàn kết Bất chấp những mâu thuẫn và chia rẽ, Nga và phương Tây luôn có mối ràng buộc về kinh tế Tại châu Âu, Nga vẫn là một đối tác quan trọng trên cả góc
độ kinh tế lẫn an ninh, nếu đổi thành cuộc chiến thương mại hay kinh tế, sẽ kéo theo những hệ quả khôn lường với cả hai bên
Bài nghiên cứu “Quan hệ kinh tế Liên bang Nga – EU giai đoạn 2000 – 2017” góp phần giải thích nguyên nhân của những thăng trầm trong quan
hệ Nga – EU, chủ yếu trong giai đoạn cầm quyền của Tổng thống V.Putin Thông qua việc tìm hiểu quan hệ kinh tế của Nga với EU sẽ làm nổi bật những cơ hội và thách thức của chính sách ấy, cũng như triển vọng của mối quan hệ Nga – EU và lợi ích của mỗi bên trong quá trình thực hiện chính sách, nhằm phục vụ thiết thực cho mực tiêu kinh tế của mỗi bên
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
2.1.1 Tài liệu tiếng Việt
Là một mối quan hệ đa dạng, quan hệ Nga – EU đã thu hút sự quan tâm của nhiều học giả Nhiều công trình nghiên cứu về Nga, EU và các chính sách kinh tế, đối ngoại của Nga, EU đã được công bố, đem lại nguồn tài liệu quý báu cho độc giả
Các vấn đề liên quan đến quan hệ Nga – EU luôn được quan tâm Tiêu
biểu là cuốn “Liên bang Nga hai thập niên đầu thế kỷ 21” do Nguyễn An Hà
(chủ biên), Nguyễn Thanh Hương, Nguyễn Cảnh Toàn được NXB Khoa học
và Xã hội phát hành năm 2011 Cuốn sách đề cập đến một số vấn đề chính trị
và kinh tế nổi bật của Liên bang Nga hai thập niên đầu thế kỷ XXI, dự báo
Trang 103
về xu thế vận động cũng như giải quyết các vấn đề chính trị và kinh tế chủ yếu của Liên bang Nga tới năm 2020
Cuốn “Hợp tác kinh tế và thương mại EU” xuất bản năm 1995 của Ủy
ban Kế hoạch Nhà nước (nay là Bộ Kế hoạch và đầu tư) Cuốn sách cung cấp những thông tin về EU đặc biệt là các cơ sở kinh doanh, các tổ chức xuất khẩu muốn thâm nhập vào thị trường EU và tư nhân muốn hợp tác kinh doanh và sản xuất với các đối tác EU
Ngoài ra còn một số nghiên cứu khác về Nga và EU như cuốn “Hệ lụy
cúa những rào cản trong quan hệ Nga – EU” xuất bản năm 2007 của tác giả
Ngô Duy Ngọ đăng trên Tạp chí Viện Nghiên cứu châu Âu, cùng một số tài liệu trên các tạp chí khác như Tạp chí nghiên cứu châu Âu, tài liệu tham khảo của Thông tấn xã việt Nam và các tài liệu có trên Internet
2.1.2 Tài liệu tiếng Anh
Luận văn Thạc sĩ “Trade and Economic Relations Between Russia and
the EU” (Tạm dịch: Quan hệ thương mại và kinh tế giữa Nga và EU) của tác
giả Ksenia Mityukova đã nói lên sự quan tâm lẫn nhau trong sự hợp tác phát triển kinh tế giữa Nga và EU
Hay các tài liệu về EU, hội nghị EU – Nga, các phân tích nghiên cứu của các chuyên gia hàng đầu trong hội nhập châu Âu và chính trị toàn cầu, trang web của các tổ chức EU
Những nghiên cứu trên hầu hết là có phạm vi nghiên cứu rất rộng và bao quát rất nhiều những vấn đề có liên quan đến Nga và EU hoặc là rất khái quát về một khía cạnh nào đó trong quan hệ, chưa đi vào nghiên cứu quan hệ kinh tế của Nga và EU giai đoạn 2000 – 2017 Do vậy, tác giả chọn đề tài
“Quan hệ kinh tế của Liên bang Nga và EU giai đoạn 2000 – 2017” nhằm
tìm hiểu một cách toàn diện về quan hệ kinh tế của Liên bang Nga và EU trong những năm 2000 – 2017 Với các nội dung được đề cập ở đề tài này,
Trang 114
hy vọng sẽ là nguồn bổ sung nhỏ bé, góp phần làm phong phú thêm những thông tin về quan hệ kinh tế Nga – EU trong giai đoạn đầy biến động của
tình hình thế giới đầu thế kỷ XXI
3 Mục đích, đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của đề tài là:
- Phân tích các yếu tố tác động đến quan hệ kinh tế Nga – EU
- Làm rõ những thực trạng của quan hệ kinh tế Nga – EU từ năm 2000-2017
- Chỉ ra những đặc điểm trong quan hệ kinh tế Nga – EU
3.2 Đối tượng nghiên cứu
Đề tài tập trung phân tích về quan hệ kinh tế của Nga và EU thể hiện trên các lĩnh vực khác nhau
3.3 Phạm vi nghiên cứu
- Về không gian: Đề tài nghiên cứu về quan hệ kinh tế của Nga và EU
- Về thời gian: Đề tài tập trung nghiên cứu quan hệ kinh tế Nga – EU giai đoạn 2000 – 2017
4 Nhiệm vụ của đề tài
Đề tài tập trung làm nổi bật những vấn đề sau:
- Xác định các nhân tố ảnh hưởng đến quan hệ kinh tế của Nga và EU giai đoạn 2000 – 2017
- Phân tích những thành tựu cơ bản nhất trong quá trình hợp tác kinh
tế Nga – EU giai đoạn 2000 – 2017 trên nhiều phương diện hợp tác: nông nghiệp, công nghiệp, thương mại và đầu tư
Như vậy, đề tài tập trung nghiên cứu quan hệ kinh tế Nga – EU giai đoạn 2000 – 2017 Trong đó, mối quan hệ này được xem xét theo chiều hướng Nga là chủ thể, còn EU với tư cách là đối tượng
Trang 125.2 Ý nghĩa thực tiễn
Qua việc tìm hiểu quan hệ kinh tế Nga – EU người viết đã đưa ra một
số nhận xét khách quan về tính chất của mối quan hệ Nga – EU cũng như đặc điểm và tác động cuả mối quan hệ này tới hai chủ thể nói riêng và thế
giới nói chung
Trên cơ sở những bài học kinh nghiệm của quan hệ kinh tế Nga – EU giai đoạn 2000 – 2017 để rút ra bài học kinh nghiệm quý giá cho những giai đoạn tiếp sau
6 Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu
6.1 Nguồn tài liệu
Để thực hiện công trình nghiên cứu, tác giả đã tiến hành khảo sát nhiều nguồn tư liệu khác nhau, đó là:
- Tài liệu chuyên khảo có nội dung phản ánh về lịch sử Liên bang Nga, Liên minh châu Âu và lịch sử quan hệ Liên bang Nga – Liên minh châu
Âu
- Các luận án, luận văn
- Các bài báo, tạp chí
6.2 Phương pháp nghiên cứu
- Những nguyên lý, phương pháp luận cơ bản của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, hệ thống phương pháp luận sử học
mácxit (phương pháp lịch sử, phương pháp logic) là cơ sở hình thành cách tiếp cận phương pháp nghiên cứu đề tài
Trang 136
- Các phương pháp nghiên cứu cơ bản được sử dụng là phương pháp nghiên cứu lịch sử và nghiên cứu quan hệ quốc tế Trong đó phương pháp nghiên cứu lịch sử được sử dụng chủ yếu trong đề tài là phương pháp lịch sử
và phương pháp logic, sự kết hợp này là cần thiết nhằm đảm bảo tính khách quan trong nghiên cứu
- Ngoài ra đề tài còn sử dụng các phương pháp nghiên cứu khác như: phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh, tổng kết… để nghiên cứu
7 Bố cục của khóa luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, đề tài gồm hai chương chính:
Chương 1: Những nhân tố ảnh hưởng đến quan hệ kinh tế của Nga và
EU giai đoạn 2000 – 2017
Chương 2: Tình hình quan hệ kinh tế giữa Nga – EU giai đoạn 2000 –
2017
Trang 147
NỘI DUNG Chương 1: NHỮNG NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN QUAN HỆ
KINH TẾ CỦA LIÊN BANG NGA VÀ EU
GIAI ĐOẠN (2000 – 2017) 1.1 Nhân tố khách quan (Bối cảnh quốc tế)
Thời điểm Chiến tranh lạnh kết thúc vào đầu thập kỷ 90 của thế kỉ XX
có thể được coi là cột mốc đánh dấu sự thay đổi về chất của môi trường quan
hệ quốc tế Sau sự tan rã của Liên bang Xô viết, trật tự thế giới hai cực đã bị thay đổi và nước Mỹ ở vị trí siêu cường duy nhất Ở góc độ quốc gia, Mỹ chủ trương duy trì một nền chính trị đơn cực do Mỹ làm bá quyền Các cường quốc khác, đặc biệt là Nga và Trung Quốc thì chủ trương xây dựng một thế giới đa cực và phản đối tư tưởng bá quyền của Mỹ Từ đầu thế kỷ XXI, ngoài sự thay đổi về chính trị, kinh tế thế giới cũng có nhiều biến chuyển rõ nét, nổi bật là sự trỗi dậy của Trung Quốc và người ta cũng nói nhiều đến “kỷ nguyên châu Á” với khu vực châu Á – Thái Bình Dương sẽ vươn lên dẫn đầu nền kinh tế thế giới trong thế kỷ XXI
Đầu thế kỷ XXI, thế giới tiếp tục chứng kiến sự phát triển mạnh mẽ của xu thế toàn cầu hóa, là xu hướng phát triển chủ yếu của thế giới trong những thập niên đầu của thế kỷ XXI Đặc trưng của xu hướng này là sự phụ thuộc kinh tế ngày càng tăng giữa các nước trên thế giới do quy mô và sự đa dạng ngày càng tăng của các luồng hàng hóa, dịch vụ và vốn xuyên quốc gia cùng với sự phát triển như vũ bão của khoa học và công nghệ Điều quan trọng nhất là sự gia tăng về lượng mối quan hệ phụ thuộc lẫn nhau đó của các quốc gia lại diễn ra đồng thời với sự xuất hiện một chất lượng mới của các quan hệ kinh tế quốc tế Thế giới đang dần trở thành một cộng đồng thống nhất, trong đó các quốc gia dân tộc là những nhân tố cấu thành của một cơ cấu toàn cầu thống nhất
Trang 158
Có thể nói rằng, đặc điểm bao trùm của quan hệ quốc tế sau khi chiến tranh lạnh kết thúc cũng như những năm đầu của thế kỷ XXI là sự nổi trội của xu thế hòa bình, hợp tác phát triển cùng có lợi và chung sức giải quyết các vấn đề có tính toàn cầu, xu thế này được quyết định bởi lợi ích chung và đan xen lợi ích giữa các quốc gia, các khu vực trong bối cảnh tương đối hòa
bình Các tổ chức quốc tế và khu vực đều có cơ hội củng cố và mở rộng phát triển bên cạnh sự hình thành hàng loạt các tố chức khu vực và liên kết khu vực mới Chính sự củng cố các thiết chế đang tồn tại và việc thiết lập các cơ cấu hợp tác mới đã tạo cơ sở pháp lý vững chắc cho sự thúc đẩy quan hệ hợp tác cùng có lợi ngày càng được tăng cường Tuy nhiên, trong bối cảnh quốc
tế hiện nay, thế giới không chỉ chứng kiến xu thế hòa bình, hợp tác và phát triển mà còn đối mặt với những vấn đề mới nảy sinh tạo ra những thách thức cho các thiết chế hợp tác quốc tế như Liên Hợp Quốc và một số tổ chức quốc
tế khác cũng như quan hệ giữa các quốc gia Sau sự kiện ngày 11 tháng 9 năm 2001 ở nước Mỹ, nguy cơ chủ nghĩa khủng bố trở thành mối hiểm họa
đe dọa hầu hết các quốc gia, dân tộc Trong bối cảnh đó, nước Mỹ đã phát động cuộc chiến ở Afghanistan và Iraq Hoạt động khủng bố đã không chỉ xảy ra ở Mỹ và các đồng minh châu Âu của Mỹ mà ngay tại khu vực Đông Nam Á
Chủ nghĩa khủng bố là mối đe dọa lớn đối với nhân loại trong thập niên đầu của thế kỷ XXI Sự phức tạp của các quan hệ quốc tế trong bối cảnh mới và xu hướng ly khai, mâu thuẫn sắc tộc… làm cho nguy cơ khủng bố luôn thường trực trong cuộc sống hàng ngày với khả năng tinh vi hơn, nguy hiểm hơn Ngoài ra, có thể thấy còn hàng loạt các vấn đề nảy sinh từ thách thức an ninh phi truyền thống như buôn bán ma túy, rửa tiền, tội phạm xuyên quốc gia… Những vấn đề có tính thách thức toàn cầu này đang kéo các quốc gia lại với nhau trong quan hệ hợp tác ngày càng mở rộng bởi vì trong bối
Trang 16là nền kinh tế thế giới trải qua 3 cú sốc liên tiếp: khủng hoảng lương thực, khủng hoảng dầu mỏ và nổi bật là cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu Tình
hình phát triển kinh tế thế giới gặp nhiều khó khăn và thử thách dưới những diễn biến phức tạp và những tác động tiêu cực của cuộc khủng hoảng Bước sang năm 2009, cuộc khủng hoảng tài chính kéo theo suy thoái kinh tế làm cho nền kinh tế các nước càng trở nên trầm trọng
Theo báo cáo của Tổng cục Kinh tế - Tài chính của Ủy ban châu Âu (EC) vào tháng 3/2009, tăng trưởng của các nước thành viên đều ở mức tăng trưởng âm Từ năm 2005 đến năm 2007, tăng trưởng GDP của EU đều đạt trên 2%, cao hơn mức tăng trưởng của Mỹ và Nhật Bản Khủng hoảng tài chính toàn cầu xảy ra, tác động tiêu cực đến hầu hết các nước EU, làm tốc độ tăng trưởng GDP giảm Theo số liệu của Eurostat, tốc độ tăng trưởng GDP thực tế của EU trong năm 2008 đã giảm xuống còn 0.8% Tốc độ này tuy giảm mạnh so với tốc độ tăng trưởng 2.9% vào năm 2007 và 3.2% vào năm
2006 nhưng vẫn cao hơn tốc độ tăng trưởng 0.4% của Mỹ và -1.2% của Nhật [1, tr50]
Đặc biệt, trong bối cảnh hiện nay, Trung Quốc đang vươn lên mạnh
mẽ trở thành một siêu cường với tham vọng bá chủ thế giới Quy mô của nền kinh tế đã tăng gấp bốn lần kể từ khi bắt đầu cải cách thị trường vào cuối những năm 1970 và theo một số ước tính, sẽ tăng gấp đôi một lần nữa trong thập kỷ tới Nó đã trở thành một trong những trung tâm sản xuất lớn của thế giới và tiêu thụ khoảng một phần ba nguồn cung cấp sắt, thép và than toàn
Trang 1710
cầu Nó đã tích lũy dự trữ ngoại tệ khổng lồ, trị giá hơn 1 nghìn tỉ đô la vào cuối năm 2006 Chi tiêu quân sự của Trung Quốc đã tăng với tỷ lệ điều chỉnh lạm phát trên 18 phần trăm một năm, và ngoại giao của nó đã mở rộng phạm
vi của nó không chỉ ở châu Á mà còn ở Châu Phi, Mỹ Latinh và Trung Đông Trong khi Liên Xô cạnh tranh với Hoa Kỳ như một đối thủ cạnh tranh quân sự duy nhất, Trung Quốc đang nổi lên như một đối thủ quân sự và kinh
tế - đánh dấu một sự thay đổi sâu sắc trong việc phân phối quyền lực toàn cầu Đe dọa trực tiếp đến quyền lợi kinh tế của thế giới đặc biệt là châu Âu
1.2 Nhân tố chủ quan
1.2.1 Tì nh hì nh châu Âu và EU
Lịch sử thế kỷ XX đã chứng kiến châu Âu trở thành nơi tranh chấp, ảnh hưởng một cách quyết liệt giữa hai siêu cường hàng đầu trên thế giới Sau khi Chiến tranh Lạnh kết thúc, tình hình an ninh, chính trị của châu Âu
đã có những thay đổi căn bản Sự đối đầu của hai siêu cường Mỹ và Liên Xô với hai khối quân sự NATO – Vacsava không còn, do đó nguy cơ châu Âu bị biến thành chiến trường tranh chấp ảnh hưởng đã được đẩy lùi Tuy nhiên, an ninh châu Âu lại rơi vào một tình trạng mới không ổn định Liên Xô tan rã dẫn đến sự ra đời của một loạt các chủ thể với tư cách là các quốc gia châu
Âu, đồng thời dẫn đến sự phân hóa sâu sắc nội bộ các tầng lớp xã hội Liên
Xô cũng như các nước Đông Âu Những nhân tố này đang đe dọa nghiêm trọng đến sự ổn định của châu Âu Nguy cơ tiềm tàng của chiến tranh quy
mô lớn đến từ một phía trước đây giờ đã bị thay thế bởi sự uy hiếp và thách thức đến từ nhiều phía Trong bối cảnh đó, hợp tác Nga – EU không chỉ nhằm củng cố an ninh của cả hai bên, thúc đẩy hợp tác kinh tế, giải quyết các vấn đề buôn lậu và các vấn đề biên giới, lãnh thổ nhằm đảm bảo một châu
Âu an ninh, ổn định mà còn nhằm hạn chế ảnh hưởng của Mỹ ở châu Âu, phát huy vai trò của Nga cũng như EU trong nền an ninh châu lục [9, tr3]
Trang 1811
Ngày 7/2/1992, Hiệp ước Maastricht được kí kết là một bước ngoặt lớn ở Tây Âu, nó đánh dấu sự thành lập chính thức của Liên minh châu Âu (EU) Ra đời trong hoàn cảnh lịch sử mới sau khi Chiến tranh lạnh kết thúc,
EU có nhiều thuận lợi nhưng cũng gặp không ít những khó khăn [9, tr3]
- Thuận lợi: Hiệp ước Maastricht thể hiện chính sách thích nghi mới của Cộng đồng châu Âu khi quyết định đặt vấn đề nhất thể hóa châu Âu làm mục tiêu nền tảng cho sự phát triển trong kỷ nguyên mới, nhằm tạo dựng một liên minh ngày càng chặt chẽ giữa nhân dân các nước châu Âu Việc thống nhất thị trường của các nước thành viên EU với các nước trong hiệp hội mậu dịch tự do châu Âu trong một “không gian kinh tế châu Âu” cũng như sự nhất trí của các nước thành viên EU trao quyền đại diện cho ủy ban châu Âu trong WTO đã tạo nên một sức mạnh lớn chi phối các vấn đề kinh
tế, thương mại quốc tế Nhìn chung, thập niên đầu tiên của thời kỳ hậu Chiến tranh lạnh, EU đã xây dựng được những cơ sở làm tiền tệ cho quá trình nhất thể hóa của mình [9, tr3-4]
- Khó khăn: Về kinh tế, do có sự khác biệt giữa các nước thành viên trong nhiều vấn đề khác nhau nên vẫn còn tồn tại nhiều bất đồng liên quan đến tiến trình nhất thể hóa Về chính trị, các nước EU mặc dù đều có nền kinh tế phát triển nhưng bị phụ thuộc gần như hoàn toàn vào nguồn năng lượng từ bên ngoài Về mặt xã hội, dân số già kéo theo sự suy giảm sức sản xuất và gánh nặng về phúc lợi xã hội cũng như tỷ lệ thất nghiệp cao, chênh lệch khoảng cách giàu nghèo lớn, những nguyên nhân tiềm tàng gây bất ổn
xã hội đang lo lắng của chính phủ các nước EU Việc kết nạp thành viên mới, biên giới EU được mở rộng nhưng đồng thời cũng đẩy EU gián tiếp với nhiều khu vực bất ổn định Vấn đề xung đột sắc tộc, tôn giáo và các làn sống
ly khai cực đoan khiến tình hình ở những khu vực này trở nên bất ổn hơn bao giờ hết, đe dọa trực tiếp đến an ninh châu Âu, trong đó có EU [9, tr4]
Trang 19có nguyện vọng tham gia EU dâng cao [9, tr14]
Sau năm 2000, phong trào dân chủ đã diễn ra sôi nổi ở các nước Trung
và Đông Âu với sự giật dây của Mỹ và Tây Âu, được thể hiện qua các cuộc
“Cách mạng sắc màu” “Cách mạng sắc màu” nổi bật với sự tham gia của các tổ chức phi chính phủ (NGO) thu hút đông đảo số lượng sinh viên, học sinh, trí thức, quần chúng nhân dân… trong việc tổ chức các cuộc đấu tranh bất bạo động phức tạp, khó lường, đe dọa trực tiếp đến sự tồn vong, vững mạnh của chế độ chính trị cũng như với Nhà nước ở các quốc gia dân tộc Các cuộc Cách mạng sắc màu tiêu biểu bắt đầu là “Cách mạng nhung” tại Nam Tư năm 2000, “Cách mạng hoa hồng” ở Gruzia năm 2000, “Cách mạng màu cam” ở Ukraine năm 2004 v.v lan rộng ra toàn khu vực Trung Đông tạo
ra làn sóng dân chủ Làn sóng dân chủ là khái niệm về sự lan truyền của phong trào dân chủ hóa từ vùng này đến vùng khác như một làn sóng dâng cao thành một cao trào phổ biến Làn sóng dân chủ đầu tiên nổi lên ở phía Nam của châu Âu và sau đó lan nhanh đến các quốc gia lân cận Các phong trào dân chủ ở các quốc gia này thành công đã đưa đất nước phát triển theo con đường Tư bản Chủ nghĩa, chuyển đổi nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang kinh tế thị trường, tiến tới hội nhập kinh tế và thống nhất châu Âu Tổn thất và hậu quả của các phong trào dân chủ, Mùa xuân Ả Rập hiến địa chính trị ở Trung Đông hoàn toàn thay đổi, xu hướng Hồi giáo cực đoan hiện diện
Trang 20Năm 2010, cuộc khủng hoảng nợ công bùng nổ ở châu Âu, bắt đầu từ
Hy Lạp Hậu quả của của cuộc khủng hoảng là việc đồng Euro liên tục trượt giá so với các đồng tiền khác Điều này gây thiệt hại nặng nề cho tất cả các quốc gia thành viên trong khối Eurozone Thêm nữa, bên cạnh việc nhận viện trợ từ EU và IMF, các quốc gia này cũng phải tập trung nguồn lực tài kháo để chống chọi với cuộc khủng hoảng, trong khi dư âm từ cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008 vẫn chưa hoàn toàn được dập tắt Nền tài chính nhiều nước suy yếu nghiêm trọng và có thể mất nhiều năm mới phục hồi Các ngân hàng và các tổ chức tài chính cũng có nguy cơ phá sản hàng loạt nếu như khu vực đồng tiền chung châu Âu tan vỡ
Cuộc khủng hoảng nợ công châu Âu cũng có tác động lên nhóm quốc gia đang phát triển Sự tụt giá của đồng Euro làm cho giá trị xuất khẩu của các quốc gia này thụt giảm, dẫn đến suy giảm kinh tế Trường hợp tồi tệ nhất vẫn là việc đồng tiền chung châu Âu tan vỡ, điều này sẽ làm sụp đổ niềm tin
về việc hội nhập kinh tế thế giới Việc một khu vực kinh tế với các quốc gia phát triển mạnh và bền vững như khu vực đồng Euro rơi vào khủng hoảng sẽ rất khó để các quốc gia và khu vực đang phát triển có thể mơ ước vào một
hình thức hội nhập kinh tế cao hơn
Năm 2016, cử tri nước Anh bỏ phiếu rời khỏi Liên minh chấu Âu hay còn gọi là Brexit, đã tạo ra một cơn địa chấn trên toàn cầu Đối với EU, Brexit là một thất bại của tổ chức này và gây tác động mạnh, tiêu cực trên nhiều phương diện đối với EU Về văn hóa, Anh đại diện cho một phần văn hóa độc đáo và quan trọng của văn hóa châu Âu và tiếng Anh đã trở thành
Trang 2114
ngôn ngữ chính thức của Liên minh Về chính trị, do Anh là nước có ảnh hưởng ở châu Âu, đồng thời giữ vai trò Ủy viên thường trực Hội đồng Bảo
an Liên hợp quốc, nên sau Brexit, tiếng nói của EU tại các diễn đàn quốc tế
và khu vực sẽ suy giảm Về kinh tế, Brexit sẽ kéo theo những biến động về chính trị Các thành viên Trung và Đông Âu của EU sẽ dần tăng cường vai trò kinh tế, chính trị của tổ chức này, theo đó trung tâm chính trị của EU sẽ dịch chuyển dần sang phía Đông
1.2.2.Tình hình nước Nga
Cuối năm 1991, sau khi Liên bang Xô Viết với tư cách là một siêu cường quốc tan rã, nước Nga lại xuất hiện với tư cách là một quốc gia độc lập Liên bang Nga bước ra vũ đài quốc tế sau “Chiến tranh lạnh”, với quy chế đặc biệt: “quốc gia kế tục Liên Xô”[9, tr4]
Sau gần một thập kỷ thực hiện công cuộc cải tổ kinh tế thị trường với những sai lầm như Tổng thống Nga Putin đã chỉ ra: không đánh giá đúng mức thậm chí phủ nhận những thành tựu mà Liên bang Xô Viết đã đạt được; không thấy hết cái giá to lớn mà nhân dân phải trả cho công cuộc cải tổ; phải trả giá đắt cho việc sao chép nguyên bản mô hình trìu tượng của nước ngoài Thay cho độc quyền nhà nước trong nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung là
mô hình vai trò tối thiểu của nhà nước trong các lĩnh vực kinh tế - xã hội, dẫn tới tài sản quốc gia bị cướp bóc, làm phân hóa xã hội sâu sắc, nhân dân mất lòng tin vào nhà nước, tham nhũng, tội phạm hoành hành
Bước sang thế kỷ XXI, dưới sự lãnh đạo của Tổng thống Putin, nước
Nga đã và đang khẳng định được triết lý phát triển của mình: phát huy truyền
thống yêu nước, đoàn kết thống nhất xã hội, xây dựng một nhà nước hùng mạnh, tập trung phát triển kinh tế thị trường, nâng cao đời sống của nhân dân, bảo đảm an ninh quốc gia, toàn vẹn lãnh thổ, cải thiện vị thế nước Nga trên trường quốc tế
Trang 2215
Triết lý này được thể hiện qua các Thông điệp Liên bang hàng năm của Tổng thống Putin, một văn kiện quan trọng định hướng phát triển của Liên bang Nga
Ngày 8 tháng 6 năm 2000, Thông điệp Liên bang với nhan đề “Nhà nước Nga, con đường xây dựng một nhà nước hiệu quả”, Tổng thống Putin
đề ra nhiệm vụ xây dựng một nhà nước hùng mạnh, hiệu quả Tổng thống Putin đã nêu ra những nguy cơ chính đối với xã hội nước Nga thời điểm đó, cũng như những mối đe dọa đối với cơ cấu Nhà nước Liên bang
Trong thông điệp Liên bang ngày 3 tháng 4 năm 2001, Tổng thống Putin tiếp tục khẳng định việc cần thiết khôi phục quản lý nhà nước, nêu rõ ranh giới quyền hạn và sự gắn kết giữa trung ương và địa phương Nội dung
cơ bản của thông điệp là các vấn đề kinh tế xã hội Ông Putin khẳng định quyền sở hữu ở Nga được nhà nước đảm bảo, đồng thời kêu gọi tăng cường luật pháp, làm trong sạch hoạt động của doanh nghiệp, trong đó có phần thực hiện các biện pháp để các doanh nghiệp, trong đó có việc thực hiện các biện pháp để các doanh nghiệp thực hiện minh bạch, đúng luật pháp và đóng thuế đầy đủ
Chủ đề chính của Thông điệp Liên bang ngay 18 tháng 4 năm 2002 là nâng cao khả năng cạnh tranh của nước Nga trên thế giới Thông điệp này Tổng thống đã phê phán chính phủ một cách gay gắt vì thiếu quyết tâm nâng cao mức tăng trưởng kinh tế Ông Putin tuyên bố tiếp tục đẩy mạnh quá trình cải cách hành chính – nhà nước, xóa đói giảm nghèo, phấn đấu “xây dựng
nước Nga thành một đất nước ấm no, phồn thịnh, để người dân được sống thoải mái và an toàn”[3; tr43]
Trong Thông điệp liên bang ngày 16 tháng 5 năm 2003 Tổng thống Putin kêu gọi xây dựng nước Nga sánh vai với các nước hùng mạnh, nền kinh tế tiên tiến có ảnh hưởng lớn trên thế giới Thông điệp đề ra mục tiêu
Trang 23Trong Thông điệp Liên bang ngày 25 tháng 4 năm 2005 Tổng thống Putin đã đánh giá về tình hình nước Nga và nêu rõ quan điểm về những vấn
đề quan trọng nhất trong xã hội – từ tình trạng tham những của quan chức cho đến quyền hạn của các cơ quan nhà nước, từ việc tăng lương cho công chức đến thu hút vốn đầu tư nước ngoài Nhiệm vụ hàng đầu đặt ra là tiếp tục xây dựng Nhà nước hiệu quả và củng cố Liên bang
Thành tựu mà Liên bang Nga đạt được trong thời gian vừa qua là hết sức to lớn, đất nước Nga đã thoát khỏi khủng hoảng, phát triển với tốc độ tăng trưởng kinh tế đầy ấn tượng trong những năm đầu thế kỷ XXI, đời sống nhân dân ngày càng được cải thiện Liên bang Nga đã tham gia vào nhóm các nước công nghiệp phát triển G8, có vai trò quan trọng trong việc giải quyết các vấn đề toàn cầu như chống khủng bố, bảo đảm an ninh năng lượng, khủng hoảng hạt nhân ở Iran, Bắc Triều Tiên …
Về kinh tế, năm 2006 là một năm đột phá của kinh tế Nga, tốc độ tăng trưởng GDP đạt 6.7% dựa trên tăng cầu và tăng đầu tư, lương tăng 13.3%, thu nhập bình quân đầu người tăng 10%, lương hưu tăng 5.4% Tốc độ lạm phát giảm từ 10.9% năm 2005 xuống 9% năm 2006, việc giảm lạm phát nhờ vào chính sách điều tiết giá cả cứng rắn trong lĩnh vực độc quyền tự nhiên cũng như giá cả về nhà ở Tỷ lệ người nghèo giảm xuống còn 16% so với mức 18.4% năm 2005 [3; tr44]
Trang 24Thị trường tiền tệ trong nước năm 2006 khá ổn định, nhờ có nguồn thu nhập ngoại tệ từ xuất khẩu, các hoạt động trên thị trường vốn của các tổ chức
cá nhân và sự điều tiết của Ngân hàng Trung ương Nga có tính biến động của các loại ngoại tệ mạnh trên thị trường thế giới
Năm 2006, nông nghiệp Nga có những phát triển theo chiều hướng
tích cực Thu hoạch dầu hướng dương đạt kỉ lục với 6.7 triệu tấn, thịt gia súc đạt 7933 ngàn tấn, tăng 4.6%, ngũ cốc duy trì ở mức 78.4 triệu tấn (tăng 0.26% so với năm 2005), sản lượng sữa đạt 31.1 triệu tấn, tăng 0.6% [3, tr44]
Ngân sách nhà nước tiếp tục được củng cố, thu ngân sách năm 2006 đạt 6276.7 tỉ rúp (23.6% GDP), chi ngân sách là 4277.4% tỉ rúp (16.2% GDP), thặng dư ngân sách 7.5% GDP Qũy bình ổn tăng nhanh, đến 1/1/2007 đạt 39.4 tỉ USD, 30.82 tỉ Euro, 4.63 tỉ bảng Anh, tương đương 2340.92 tỉ rúp, cùng với tăng dự trữ ngoại tệ cho phép đất nước có thể vượt qua những khó khăn nếu như xảy ra khủng hoảng tài chính tiền tệ [3, tr44-46] Về an ninh quốc phòng, như đã khẳng định trong thông điệp Liên bang
về hiện đại hóa quân đội, những năm đầu thế kỷ XXI Nga đạt được nhiều thành tựu to lớn
Người phát ngôn Bộ Quốc phòng Nga Kostyshin cho biết, ngày 21/12, quân đội Nga đã phóng thành công tên lửa đạn đạo xuyên lục địa RS-20V Voevoda có thể bắn 10 đầu đạn hạt nhân được điều khiển riêng rẽ vào các
Trang 25- Về chính trị: xây dựng một nhà nước Liên bang hùng mạnh;
- Về kinh tế: phát triển kinh tế thị trường, hội nhập kinh tế quốc tế;
- Về xã hội: nâng cao đời sống nhân dân, đoàn kết thống nhất xã hội;
- Về đối ngoại: đảm bảo an ninh toàn vẹn lãnh thổ, cải thiện vị thế của Nga trên trường quốc tế
1.3 V ị trí của Nga trong chí nh sách kinh tế đối ngoại của EU
Xét về chiến lược mỗi bên, giữa Nga và EU vẫn tồn tại những bất đồng Nga hy vọng phát triển quan hệ với EU sẽ tranh thủ được nguồn hỗ trợ kinh tế công nghệ, hy vọng cùng EU tạo đối trọng cân bằng với Mỹ, tăng cường ảnh hưởng và tiếng nói của Nga trong các công việc của châu Âu và thế giới… Về phần mình, EU muốn thông qua quá trình hợp tác với Nga, hướng Nga tuân theo những quy luật của nền kinh tế, chính trị và xã hội của châu Âu, đẩy mạnh tiến trình nhất thể hóa châu Âu Trong tiến trình này, Nga đóng vai trò như các quốc gia bình thường và không được hưởng bất cứ đặc quyền nào Đây chính là những yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến quan hệ song phương Nga – EU nói chung cũng như chiến lược đối ngoại của Nga với khu vực này nói riêng thời gian tới Ngoài ra, khi thực lực kinh tế được tăng cường, ảnh hưởng quốc tế của Nga ngày càng được khôi phục và gia tăng mạnh mẽ thì những lĩnh vực và Nga và EU thực hiện mục tiêu hợp tác cùng có lợi có thể ngày càng ít đi, khiến tính cạnh tranh ngày càng trở nên gay gắt Đây chính là nguyên nhân ảnh hưởng tiêu cực đến quan hệ song phương Nga – EU
Trang 2619
Về mặt khách quan, cả EU và Nga đều có nhu cầu hợp tác phụ thuộc lẫn nhau Khí đốt của Nga có vai trò đặc biệt quan trọng đối với việc đảm bảo an ninh năng lượng của EU, khi EU có kế hoạch nâng cao tỉ trọng khíđốt trong toàn bộ năng lượng tiêu thụ xấp xỉ từ 40% năm 2000 lên mức 60% năm 2030
Các nước thành viên EU hiện đang có lợi ích khá giống nhau ở Nga Các thành viên EU đều muốn Nga phát triển thành một nền kinh tế hùng mạnh, đồng thời muốn Nga trở thành một nhà cung cấp năng lượng đáng tin cậy của họ EU muốn Nga trở thành đồng minh trong cuộc chiến tranh chống khủng bố, đồng thời mong Nga tôn trọng chủ quyền và độc lập chủ quyền của các nước có biên giới chung với EU
Nga là nước láng giềng lớn nhất của EU, vốn luôn được phản ánh trong sự hợp tác và trao đổi sâu rộng trong 25 năm trước cuộc khủng hoảng hiện nay Nga là một nhân tố quan trọng trong Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc và, do lịch sử, địa lý và các liên kết văn hóa, là một trong những người chơi chủ chốt ở châu Âu và khu vực lân cận Nga cũng là nhà cung cấp chính các sản phẩm năng lượng cho EU và một thị trường năng động, lớn cho hàng hóa và dịch vụ của EU, với sự tăng trưởng kinh tế đáng kể
Cả EU và Nga đều có mối quan hệ hợp tác lâu dài về các vấn đề song phương và quốc tế bao gồm biến đổi khí hậu, di cư, buôn bán ma túy, buôn bán người, tội phạm có tổ chức, chống khủng bố, quá trình hòa bình Trung Đông, và bảo vệ nhân quyền
Hơn nữa, EU phát triển một loạt các địa chỉ liên lạc hoạt động không chính thức cho phép hiểu chi tiết các ưu tiên và chính sách của Nga về các vấn đề quốc tế, cung cấp cảnh báo sớm về các vấn đề tiềm ẩn và hỗ trợ việc phối hợp lập kế hoạch chính sách
Trang 2720
1.4 Vị trí của EU trong chí nh sách kinh tế đối ngoại của Nga
Dưới thời Tổng thống V.Putin (2000 – 2008), tình hình chính trị nước Nga dần đi vào ổn định Với tư chất và tài năng lãnh đạo, Putin đã thi hành những chính sách đối nội cứng rắn, đồng thời là chính sách đối ngoại bản lĩnh Nhờ đó, các lực lượng chính trị đối lập cũng bị thu phục, các lực lượng tài phiệt từng lũng đoạn chính trị dưới thời Tổng thống Yelsin bị tấn công Điều này cho phép V.Putin đưa ra những phán quyết dứt khoát và thu nhận
được sự đồng thuận cao cùng với nỗ lực hiệu quả từ đông đảo quần chúng
Sự ổn định về chính trị dưới thời Tổng thống V.Putin đã tạo môi trường thuận lợi để tiếp tục cải cách kinh tế thị trường trên cơ sở đa dạng hóa chế độ sở hữu, tăng cường điều tiết vĩ mô của nhà nước, xây dựng nước Nga hùng mạnh có hệ thống chính quyền vững chắc, xây dựng chiến lược phát triển lâu dài và phát huy giá trị của Nga Nhờ sự ổn định chính trị trong nước, chính sách đối ngoại của Nga còn có cơ hội thực hiện mục tiêu khôi phục vị thế cường quốc thế giới
Châu Âu vốn là khu vực ưu tiên truyền thống của Nga Bên cạnh việc muốn phát triển hơn nữa Tổ chức hợp tác an ninh châu Âu, coi Liên minh châu Âu là đối tác kinh tế, chính trị chủ yếu
Như vậy, Việc Liên minh châu Âu mở rộng đã mở ra một giai đoạn mới trong quan hệ Nga – EU, trong thời gian tới hai bên có những bước đi thích hợp nhằm tăng cường quan hệ song phương được khẳng định trong Tuyên bố chung Nga – EU vào tháng 5 năm 2003 Đó là:
Thứ nhất, xây dựng cơ chế vừa hợp tác và đối thoại mới với đối tác chiến lược Nga – EU trong những năm đầu thế kỷ XXI, đó là tăng cường vai trò của “Hội đồng hợp tác” thành “Hội đồng đối tác thường trực”
Trang 2821
Thứ hai, hướng tới một không gian kinh tế chung: tiếp tục đàm phán vấn đề năng lượng và cải thiện môi trường đầu tư, thỏa thuận vấn đề an toàn hạt nhân, ủng hộ Nga ký nghị định thư Kyoto, ủng hộ Nga gia nhập WTO
Thứ ba, xây dựng quan hệ Nga – EU: láng giềng và đối tác
Thứ tư, hai bên tiếp tục hợp tác kiểm soát buôn bán ma túy, tội phạm
có tổ chức quốc tế, đồng thời xây dựng cơ chế chống lại chủ nghĩa khủng bố
và giải quyết vấn đề Chesnia
Thứ năm, đối tác trong quan hệ quốc tế, kiểm soát khủng hoảng và an ninh quốc tế
Hai bên đã thỏa thuận về bốn không gian chung là: không gian kinh tế; không gian an ninh bên ngoài; không gian về tự do, an ninh và tư pháp; cuối cùng là không gian về khoa học, giáo dục và văn hóa
Tại hội nghị thượng đỉnh Nga – EU: diễn ra ngày 4 – 5 tháng 10 năm
2005, ở Luân Đôn, Anh, Tổng thống Nga Putin và Thủ tướng Anh Tony Blair, chủ tịch luân phiên của EU đã ra tuyên bố khẳng định tăng cường hợp tác trong lĩnh vực xây dựng không gian kinh tế Nga – EU Hướng tới thị trường mở, liên kết hơn nữa Nga và EU, tạo điều kiện thuận lợi cho các hoạt động kinh tế, phát triển thương mại và đầu tư, tăng cường quan hệ trong lĩnh vực năng lượng, vận tải, nông nghiệp, môi trường, tăng cường hợp tác trong quá trình cải tổ kinh tế, thúc đẩy khả năng cạnh tranh của hai phía trên cơ sở không phân biệt đối xử, minh bạch và hiệu quả, thúc đẩy đối thoại giữa các doanh nghiệp Nga và châu Âu trong khuôn khổ hội nghị bàn tròn của các nhà công nghiệp châu Âu
Dưới góc độ kinh tế, EU là đối tác quan trọng nhất của Nga trong giai đoạn hiện nay và quan hệ thương mại Nga – EU phát triển khả quan nhất
Trang 29Cả Liên bang Nga và EU đều nhận thức được rằng, trong bối cảnh thế giới thời kỳ sau Chiến tranh Lạnh và trước sự tác động mạnh mẽ của xu thế toàn cầu hóa, việc phát triển quan hệ Nga – EU đáp ứng được kợi ích và nhu cầu của mỗi bên
*Đối với Liên bang Nga
Nước Nga cần mở rộng và tăng cường quan hệ hợp tác với EU bởi lẽ:
Thứ nhất, mặc dù trong suốt thập niên 90, Liên bang Nga đã đạt được
những bước tiến nhất định trong quá trình chuyển đổi nền kinh tế sang cơ chế thị trường, song do tụt hậu quá lớn về kinh tế và sự tách biệt với quá trình liên kết kinh tế thế giới, sự yếu kém trong việc ứng dụng những thành tựu của cuộc cách mạng khoa học – công nghệ hiện đại khiến cho nền kinh tế Nga gặp rất nhiều khó khăn Cuộc khủng hoảng kinh tế ở nước Nga trong suốt thập niên 90 có nguyên nhân trực tiếp từ thực trạng này Để vượt qua những khó khăn đó, nước Nga cần nguồn vốn đầu tư lớn, công nghệ hiện đại, phương pháp quản lý tiên tiến từ các nước công nghiệp phát triển mà các nước trong EU hoàn toàn có khả năng đáp ứng nhu cầu này của Nga Do đó, xét về quan hệ song phương, cải thiện, mở rộng và phát triển quan hệ với
EU, Liên bang Nga có thể khai thác nguồn lực của EU để khôi phục kinh tế -
xã hội ở trong nước
Hơn nữa, phần lớn các nước thành viên EU có vị trí và vai trò quan trọng trong nhiều tổ chức kinh tế, tài chính, thương mại quốc tế như IMF,
Trang 3023
WB, WTO Do đó tăng cường quan hệ với EU sẽ là một trong những điều kiện quan trọng để Liên bang Nga sớm tham gia đầy đủ và tích cực vào tổ chức này Cũng thông qua quan hệ hợp tác sâu rộng với EU, Liên bang Nga còn có điều kiện để mở rộng và tăng cường hợp tác với các nước thành viên
EU, trong đó những nước thành viên hàng đầu của EU như Đức, Pháp, Anh;
có những nước thành viên vốn là hàng bạn lớn của Liên bang Nga thời Liên
Xô như những nước Đông Âu
ra một lực đối trọng mới nhằm ngăn chặn Mỹ thực hiện ý đồ thiết lập một trật tự thế giới đơn cực do Mỹ chi phối và lãnh đạo Thực tiễn cho thấy, trong khi thực hiện tham vọng bá chủ của mình, một mặt, Mỹ tìm mọi cách
hạ thấp uy tín chính trị, bôi nhọ hình ảnh của Nga trên trường quốc tế, chỉ trích việc Nga phản đối NATO mở rộng sang phía Đông và Mỹ triển khai hệ thống tên lửa phòng thủ (NMD) ở một số nước Đông Âu là Nga muốn khống chế Đông Âu, coi Nga phát triển quan hệ với các nước bạn bè truyền thống như Iran, Cuba, Xiry… là “ủng hộ và dung túng các quốc gia không lương thiện” để “chĩa mũi nhọn” vào Mỹ, xây dựng mặt trận thống nhất Mỹ Mặt khác, Mỹ luôn tìm mọi cách lôi kéo một số nước Đông Âu vốn còn có những bất đồng với Nga như Ba Lan, Látvia…để chống lại Nga Do đó, tăng cường quan hệ với EU, tìm được tiếng nói chung với nhiều vấn đề liên quan của hai bên, khai thác những lợi ích song phương, thông qua đó tạo ra lực lượng quan trọng trong việc thiết lập một trật tự thế giới đa cực, thông qua EU với
tư cách là một tổ chức để giải quyết những bất động với một số nước Đông
Âu mà nay đã trở thành thành viên EU
có quan hệ gắn bó với châu Âu Tổng thống Nga Putin đã từng nhấn mạnh:
“Nga là một nước châu Âu từ trong bản chất cho đến nền văn hóa, vì vậy sự
Trang 3124
phát triển của Nga trong tương lai không tách rời sự phát triển của Châu Âu”
Nhìn chung, cải thiện tăng cường quan hệ với EU là điều kiện đầu tiên
để nước Nga nhanh chóng cơ cấu lại nền kinh tế vốn dựa chủ yếu vào khai thác tài nguyên, hiện đại hóa nền kinh tế thông qua hợp tác về công nghệ
EU, thoát khỏi sự cô lập về chính trị với châu Âu Đây cũng là cơ sở để Nga thoát khỏi sự cô lập với châu Âu Đây cũng là cơ sở để Nga xóa bỏ được tâm
lý lo sợ của nhiều nước châu Âu về “mối đe dọa từ Nga” vốn được hình thành từ thời kỳ Chiến tranh Lạnh
*Đối với EU
Tăng cường quan hệ hợp tác với Nga cũng là một nhu cầu tại vì: Nga
là thị trường rộng lớn thu hút sự quan tâm của các nhà đầu tư EU Tăng cường quan hệ với Nga, EU có điều kiện để thâm nhập vào thị trường rộng lớn trên 140 triệu dân Có nền kinh tế đang trong quá trình trỗi dậy và đang rất cần nguồn vốn đầu tư và công nghệ hiện đại mà phần lớn các nước thành viên EU có thể đáp ứng Điều quan trọng hơn là thông qua tăng cường quan
hệ với Nga, EU sẽ tiếp cận được thị trường cung cấp dầu mỏ và khí đốt một cách ổn định và lâu dài Là một nước chiếm 13% trữ lượng dầu mỏ và 36% trữ lượng khí đốt của thế giới và là nước xuất khẩu dầu mở lớn thứ hai thế giới sau Arập Xêút Liên bang Nga hoàn toàn có khả năng cung cấp dầu mỏ
và khí đốt cho EU – thị trường mà hơn 70% nhu cầu dầu mỏ phải nhập khẩu
Do đó, tăng cường quan hệ hợp tác kinh tế với Nga, EU sẽ có điều kiện đa dạng hóa nguồn cung cấp dầu mỏ, bảo đảm được an ninh năng lượng, tránh được rủi ro có thể xảy ra do tác động bên ngoài châu Âu
Có thể nói, mối quan hệ kinh tế Nga – EU sau Chiến tranh lạnh đến trước thế kỷ XXI tương đối ấm nồng, hợp tác đôi bên cùng có lợi
Trang 3225
Tiểu kết chương 1
Qua quá trình phân tích trên có thể thấy, mối quan hệ giữa Liên bang Nga và EU từ sau Chiến tranh Lạnh và xu hướng toàn cầu hóa đã tác động rất lớn đến chính sách đối ngoại cửa hai bên Cả Nga và EU đều có sự điều chỉnh chính sách kinh tế riêng của mình và đều ưu tiên mở rộng, đẩy mạnh quan hệ hợp tác với nhau
Việc mở rộng quan hệ với EU của Nga đã tạo điều kiện thuận lợi trong quan hệ hợp tác kinh tế Củng cố và tăng cường quan hệ để phát triển sâu rộng trên nhiều lĩnh vực khác nhau
Hoạt động đối ngoại của Nga đã có biến đổi về chất, phát huy đường lối đối ngoại đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ với các nước trong Liên minh châu Âu Việc thúc đẩy và tăng cường quan hệ với EU góp phần quan trọng và thiết thực vào sự phát triển đất nước Đồng thời góp phần củng cố hòa bình, ổn định, hợp tác và phát triển tại châu Âu và trên toàn thế giới
Trang 3326
Chương 2: QUAN HỆ KINH TẾ GIỮA LIÊN BANG NGA
VỚI EU GIAI ĐOẠN (2000 – 2017) 2.1 Chí nh sách kinh tế của Nga đối với EU
EU là đối tác kinh tế - thương mại lớn nhất của Nga, chiếm hơn 50% kim ngạch ngoại thương của Nga Trong bối cảnh EU và Nga đang chịu ảnh hưởng nặng nề bởi những khó khăn về kinh tế - tài chính, việc hai bên tăng cường hợp tác và phối hợp chính sách là điều kiện quan trọng đảm bảo phục hồi kinh tế bền vững
Nga và EU luôn tiến hành thảo luận về việc xây dựng mối quan hệ:
“đối tác chiến lược Nga – EU” nhằm mục đích thúc đẩy quan hệ trên bốn không gian chung gồm: kinh tế; tự do – an ninh – tư pháp; an ninh đối ngoại; nghiên cứu – giáo dục – văn hóa Tuy nhiên, phần lớn các cuộc thảo luận về những vấn đề trên đã gặp không ít khó khăn Không có tiến bộ nào đáng kể đạt được trong việc thiết lập “bốn không gian chung” đã nói ở trên ngoài việc thỏa thuận về hợp tác giáo dục, văn hóa và kinh tế từ trước
Hai bên vẫn còn những bất đồng về các vấn đề an ninh, đặc biệt là quan điểm trong việc giải quyết những xung đột tại các nước cộng hòa thuộc Liên Xô trước đây Nga không muốn EU gia tăng ảnh hưởng của mình ở khu vực này, xem nó như là khu vực lợi ích thân thiết mà Nga cần bảo vệ Vấn đề
an ninh nội địa và tư pháp cũng không có tiến triển, kể cả vấn đề liên quan tới bãi bỏ hạn chế Visa cho công dân hai bên
Sự khác biệt trong tầm nhìn chiến lược về dải đất phía Đông của lục địa châu Âu, là láng giềng của cả Nga và EU sau khi mở rộng qua cách giải quyết cuộc khủng hoảng ở Ukraine cho thấy, sự mong manh của quan hệ đối tác chiến lược mà Moscow và Brussel đang cố gắng xây dựng
Mặc dù cả EU và Nga đều không muốn làm cho quan hệ hai bên xấu
đi vì điều này rất nguy hiểm, nhưng rõ ràng là những khác biệt trong nhiều
Trang 3427
vấn đề khiến cho cả hai bên vẫn chưa thể có được tiếng nói chung Đặc biệt Nga vẫn coi các nước láng giềng ở biên giới phía Tây là không gian ảnh hưởng của Nga và cảm thấy bị đe dọa bởi chủ trương Đông tiến của cả NATO và EU trong thập kỷ qua
Điều duy nhất khiến cho quan hệ Nga – EU không đổ vỡ hoàn toàn chính là mối hợp tác kinh tế ngày càng chặt giữa hai bên Nga là đối tác thương mại lớn thứ tư của EU, cung cấp 1/3 nhu cầu nhập khẩu năng lượng của khối, trong khi EU là một đối tác chủ chốt của Nga, chiếm trên 50% tổng kim ngạch buôn bán của nước này
2.2 Chí nh sách kinh tế của EU đối với Nga
EU bắt đầu áp đặt chính sách trừng phạt đối với Nga vì cuộc khủng hoảng ở Ukraine – một cuộc khủng hoảng bùng lên từ hồi tháng Ba năm
2014 Ngày 14/12/2014, bên lề hội nghị thượng đỉnh EU, Chủ tịch Hội đồng Châu Âu Donald Tusk cho biết, lãnh đạo của cộng đồng này đoàn kết và thống nhất với nhau trong ý định kéo dài thời hạn áp đặt các biện pháp trừng phạt lên Nga Một nguồn tin ngoại giao Châu Âu giải thích với tờ Itar Tass rằng, điều đó có nghĩa là không có bất kỳ sự phản đối nào đối với việc EU tự động gia hạn thời gian thực hiện chính sách trừng phạt Nga
Các biện pháp trừng phạt kinh tế của EU nhằm vào Nga có hiệu lực đến cuối tháng 1 năm 2018 Vì vậy, các đại diện thường trực của EU sẽ kéo dài thời hạn của chính sách trừng phạt đến 31/7/2018 Những biện pháp trừng phạt đó bao gồm sự giới hạn về tài chính đối với các công ty năng lượng, quốc phòng hàng đầu của Nga cũng như các ngân hàng lớn có sự tham gia của nhà nước Nga Ngoài ra, EU còn áp đặt lệnh cấm xuất khẩu công nghệ năng lượng, quân sự và các thiết bị công nghệ cao cho Nga
Gói trừng phạt được gia hạn ở trên chỉ là một trong ba gói trừng phạt độc lập mà EU đang áp dụng với Nga Gói biện pháp trừng phạt kinh tế
Trang 3528
nhằm vào những ngành then chốt của nền kinh tế Nga được gia hạn 6 tháng một lần
Với quyết định đầy bất ngờ của EU tại hội nghị thượng đỉnh mới nhất,
có thể thấy liên minh này vẫn tiếp tục kiên trì theo đuổi chính sách trừng phạt, gây áp lực với Nga bất chấp việc các biện pháp trừng phạt đang gây tổn thất cho chính họ
Mục tiêu chung tạo ra một thị trường mở và tích hợp giữa EU và Nga Mục đích là đặt các điều kiện tại chỗ sẽ:
• Tăng cơ hội cho các nhà khai thác kinh tế,
• Thúc đẩy thương mại và đầu tư,
• Tạo thuận lợi cho việc thành lập và hoạt động của các công ty trên cơ
sở đối ứng,
• Tăng cường hợp tác trong nhiều lĩnh vực như năng lượng, giao thông, công nghệ thông tin và truyền thông, nông nghiệp, không gian, hàng không, nghiên cứu và phát triển, chính sách kinh tế vĩ mô, quyền sở hữu trí tuệ, mua sắm, đầu tư, tiêu chuẩn và môi trường,
• Củng cố hợp tác và cải cách kinh tế tổng thể,
• Nâng cao khả năng cạnh tranh của EU và Liên bang Nga
Nó cũng nhằm mục đích củng cố nền kinh tế EU và Nga, dựa trên các nguyên tắc không phân biệt đối xử, minh bạch và quản trị tốt, có tính đến đối thoại kinh doanh được thực hiện trong Bàn Tròn Công nghiệp EU – Nga (IRT)
- Chiến lược kinh tế của EU trong nửa cuối những năm 2000
Trong nửa cuối những năm 2000, các nước EU tập trung theo đuổi chiến lược thống nhất và hoàn thiện các thị trường Mốc quan trọng đánh dấu
về việc thực hiện chiến lược này là việc các nước EU ký kết “Định ước châu
Âu duy nhất” vào tháng 12/1985 (có hiệu lực từ tháng 7/1987), mục tiêu