Sau khi Liên Xô tan rã 1991, quan hệ hợp tác nhiều mặt, đôi bên cùng có lợi giữa Việt Nam và Liên bang Nga tiếp tục được coi trọng và phát triển.Bước sang những năm đầu thế kỷ XXI , tì
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu 2
3 Mục đích nghiên cứu 6
4 Nhiê ̣m vu ̣ nghiên cứu 6
5.Đối tượng nghiên cứu 6
6 Phạm vi nghiên cứu 7
7 Phương pháp nghiên cứu 7
8 Đóng go ́ p của nghiên cứu 7
9 Bố cu ̣c của luận văn 7
Chương I 8
CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN MỐI QUAN HỆ LIÊN BANG NGA - VIỆT NAM 8
§1.1 Bối cảnh quốc tế đầu thâ ̣p kỳ 1990 8
1.1.1 Tình hình chính trị, kinh tế, xã hội toàn cầu và khu vực 9
1.1.2 Xu hướng phát triển của thế giới 12
§1.2 Sơ lươ ̣c quan hê ̣ Liên Xô – Viê ̣t Nam 14
1.2.1 Giai đoạn 1950-1975 14
1.2.2 Giai đoạn cuối 1975-1991 21
§1.3 Mô ̣t số kế thừa trong quan hê ̣ Liên bang Nga – Viê ̣t Nam 25
1.3.1 Vấn đề nơ ̣ viên trơ ̣ 25
1.3.2 Vấn để lao động Việt Nam sang Liên Xô 26
1.3.3 Liên doanh dầu khi ́ Viê ̣t – Xô 28
1.3.4 Quân cảng Cam Ranh 30
Chương II 32
Trang 4QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN CỦA QUAN HỆLIÊN BANG NGA – VIỆT
NAM 32
§2.1 Quan hệ trong lĩnh vực chính trị - ngoại giao 32
§2.2 Quan hê ̣ trong li ̃nh vực quân sự - an ninh 44
§2.3 Quan hê ̣ trong li ̃nh vực kinh tế và thương mai 48
§2.4 Hơ ̣p tác dầu khí và năng lượng 57
§2.5 Quan hê ̣ hơ ̣p tác trong các lĩnh vực khác 62
2.5.1 Hơ ̣p tác trong lĩnh vực du li ̣ch 62
2.5.2 Hợp tác giáo dục 65
2.5.3 Hơ ̣p tác văn hoá 67
Chương III 69
ĐÁNH GIÁ VỀ MỐI QUAN HỆ LIÊN BANG NGA – VIỆT NAM 69
§3.1 Một số đặc điểm nổi bật trong quan hệ Liên bang Nga – Việt Nam 69
§3.2 Các khó khăn đối với quan hệ hai nước 75
3.2.1 Vấn đề Biển Đông 75
3.2.2 Vấn đề căn cư ́ quân sự Cam Ranh 78
3.2.3 Vấn đề người lao động nhập cư 80
3.2.4 Sự khác biệt của văn hóa 84
3.2.5 Rào cản ngôn ngữ 86
§3.3 Xu hướng của quan hệ Liên bang Nga – Viê ̣t Nam 87
KẾT LUẬN 95
TÀI LIỆU THAM KHẢO 98
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong thời Xô Viết , và cả trong thời đa ̣i hiê ̣n nay , hai nước luôn có quan hệ mâ ̣t thiết với nhau Mă ̣c dù li ̣ch sử quan hê ̣ Viê ̣t Nam và Nga không lâu dài như mô ̣t số nước Âu -Á khác, từ lúc thiết lập quan hê ̣ ngoa ̣i giao vào
30 tháng 1 năm 1950, hai nướ c trở thành những đối tác rất quan tro ̣ng và bền vững Liên Xô là một trong những nước đầu tiên trên thế giới công nhận và chính thức thiết lập quan hệ ngoại giao với Việt Nam, đặt nền móng cho tình hữu nghị bền chặt và quan hệ hợp tác tốt đẹp giữa hai nước sau này Trong những năm tháng khó khăn nhất của cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc , Việt Nam luôn nhận được sự ủng hộ của Liên Xô bằng tiền bạc , hiện vật, các chuyên gia Liên Xô còn sang tận nơi giúp Việt Nam phát triển kinh tế , giáo dục, v.v
Sau khi Liên Xô tan rã (1991), quan hệ hợp tác nhiều mặt, đôi bên cùng
có lợi giữa Việt Nam và Liên bang Nga tiếp tục được coi trọng và phát
triển.Bước sang những năm đầu thế kỷ XXI , tình hình chính trị và kinh tế của thế giới có nhiều biến động, đặc biệt là sự chuyển biến của tình hình mỗi nước
đã tác động không nhỏ tới mối quan hệ này Công cuộc ―Đổi mới‖ do Đảng Cộng Sản Việt Nam khởi xướng Đại hội VI (1986) được đẩy mạnh và phát triển, bước đầu đã có những thành tựu làm thay đổi lớn đời sống kinh tế , xã hội ở Việt Nam Ở Liên bang Nga, sau khi chính sách thân thiện với phương Tây bộc lộ những giới hạn không thể vượt qua , chính giới Nga đã đòi hỏi những nhà lãnh đạo phải điều chỉnh để tạo sự cân bằng trong chính sách đối ngoại vì lợi ích quốc gia Khi Tổng thống V.Putin lên cầm quyền, ông đã đưa
ra một loạt các chiến lược về đối ngoại, an ninh, quốc phòng, kinh tế… nhằm mục tiêu ―chấn hưng‖ nước Nga với mục đích sẽ lấy lại hình ảnh của nước Nga là một siêu cường như trong thời Liên Xô
Chính những thay đổi này của hai nước đã góp phần làm cho vai trò , vị thế trong khu vực và quốc tế của Việt Nam cũng như Liên bang Nga từng
Trang 6bước được nâng cao Quan hệ hai nước dần phục hồi và ngày càng phát triển mạnh mẽ, toàn diện Việc ký Hiệp ước về những nguyên tắc cơ bản của quan
hệ hữu nghị giữa CHXHCN Việt Nam và Liên bang Nga ngày 16.06.1994, nhân chuyến thăm Nga của Thủ tướng Võ Văn Kiệt, đã mở ra một giai đoạn phát triển mới trong quan hệ hai nước
Hiê ̣n nay Công hòa Xã hô ̣i chủ nghĩa Viê ̣t Nam và Liên bang Nga có quan hê ̣ đối tác chiến lược Hai Bên đồng quan điểm về nhiều vấn đề quốc tế
và khu vực, phối hợp chặt chẽ và ủng hộ nhau trên các diễn đàn quốc tế như Liên hợp quốc, APEC, ASEM, ARF, CICA v.v Tại Việt Nam hiện có gần 30
xí nghiệp liên doanh Nga-Việt, với tổng đầu tư gần 120 triệu USD hoạt động trong các ngành sản xuất cao su, khai thác và chế biến hải sản, vận chuyển hàng hóa Các doanh nghiệp Việt Nam cũng có 11 dự án đầu tư sang Nga với tổng vốn 33 triệu USD, chủ yếu trong lĩnh vực xuất nhập khẩu, chế biến thực phẩm, sản xuất vật liệu xây dựng Ngoài ra, hai bên cũng tăng cường hợp tác trong các lĩnh vực: kỹ thuật quân sự, văn hóa, giáo dục, khoa học, thể dục thể thao Mỗi năm, hàng trăm sinh viên Việt Nam tiếp tục sang Nga học tập Rõ ràng là quan hệ giữa Việt Nam và Nga tiếp tục phát triển rất t ích cực Tôi chọn chủ đề này để nghiên cứu và phân tích quá trình phát triển quan hệ giữa hai nước như một bộ phận của quá trình lịch sử Hơn nũa, sự nghiên cứu quá trình này có thể giúp nhà nghiên cứu làm dự đoán về tương lai quan hệ hainước và khảo sát ảnh hướng chính tri ̣, kinh tế, văn hoá của hai nước rồi sẽ đến đâu
2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu
Bình thường , nhà khoa học mà nghiên cứu vấn đề quan hệ giữa Việt Nam và Nga chú ý đến li ̣ch sử thế kỳ 20 (đă ̣c biê ̣t ở nước Nga ), vì quan hệ giữa hai nước trong thời gian nay bao gồm nhiều sự kiê ̣n hết sức quan tro ̣ng cho li ̣ch sử khu vực Đông -Nam Á nói riêng và cho quá trình li ̣ch sử thế giới nói chung Khi viết luâ ̣n văn này , tôi vẫn đọc n hiều tác phẩm khóa ho ̣c tuyê ̣t vời của các nhà nghiên cứu như G S Phạm Quang Minh, G.S Võ Đại Lược,
Trang 7G.S V.N.Kolotov, G.S V.M Mazyrin v v Tuy nhiên, nhiều tác phẩm chưa bao gồm sự kiê ̣n hiê ̣n đa ̣i nhất , đă ̣c biê ̣t sau năm 2015, do đó ngòai các cuốn sách và bài nghiên cứu trong các tạp chí tôi sử dụng một số tài liệu từ mạng Internet
Nhà nghiên cứu Việt Nam và Nga đã làm sáng tỏ về những đề tài sau:
- Quan hệ ngoa ̣i giao Viê ̣t Nam – Nga
- Quan hệ chính tri Viê ̣t Nam – Nga
- Hợp tác quân sự hai bên
- Hợp tác kinh tế, thương nghiê ̣p
- Sự so sánh con đường phát triển Viê ̣t Nam và Nga trong thời kỳ cải cách kinh tế v.v
Trong ấn phẩm ―Quan hệ Việt Nam - Liên Xô trong giai đoạn kháng chiến chống Mỹ (1954 - 1975)‖, TS Phạm Quang Minh phân tích những xu hướng chính trong chính sách đối ngoại của Liên Xô đối với Viê ̣t Nam và sự thay đổi của chính sách này trong những giai đoa ̣n : 1954 - cuối những năm 1950; cuối những năm 1950-1964; 1964-1973; 1973-1975 Tác giả kết luận như sau: Thứ nhất, Liên Xô không thể không ủng hộ và giúp đỡ Việt Nam-thành viên của phe XHCN Thứ hai, vì lợi ích chiến lược của mình và cũng vì lợi ích chung của cách mạng thế giới, Liên Xô đã tìm mọi cách để hạn chế quy mô chiến tranh, đưa vấn đề vào bàn thương lượng, để đi tới một giải pháp chính trị trên cơ sở nguyên trạng Thứ ba, trên cơ sở đó Liên Xô hy vọng cải thiện quan hệ với Mỹ nhằm giải quyết những vấn đề có tính chiến lược khác, đồng thời hạn chế vai trò của Trung Quốc
Trong cuốn sách ―Quan hệ Việt - Nga trong bối cảnh quốc tế mới‖ của tác giả Võ Đại Lược - Lê Bộ Lĩnh, Nhà xuất bản Thế giới (2005), tác giả đã nghiên cứu, phân tích mối quan hệ Việt Nam - Liên bang Nga trên nhiều lĩnh vực, dưới tác động của bối cảnh thế giới và khu vực nhưng tập trung nhất vẫn
là về kinh tế
Trang 8Trong bài nghiên cứu ― Российско-Вьетнамские отношения , реальность и перспективы //Quan hệ Việt Nam – Nga, Thực trạng và triển vọng‖ (2015), ông E.V.Kobelev phân tích quá trình phát triển quan hệ giữa Việt Nam và Liên bang Nga từ năm 1991 đến năm 2015 Tác giả kết luận rằng quan hệ hợp tác chiến lược toàn diện giữa hai bên có ý nghĩa rất lớn và hoàn toàn phù hợp với lợi ích chủ chốt của cả hai nước; sự hợp tác này phải trở thành một trong những chính sách chủ chốt của Liên bang Nga trong khu vực Đông Nam Á và châu Á-Thái Bình Dương
Trong ấn phẩm ―Quan hệ đối tác chiến lược Liên bang Nga - Việt Nam,(từ tháng 3/2001 đến nay)‖, Đinh Công Tuấn, tạp chí nghiên cứu Châu
Âu, số 3, (2010), tác giả đã làm nổi bật mối quan hệ hợp tác Việt Nam - Liên bang Nga trong lĩnh vực kinh tế trong giai đoạn 2001 - 2010 Bên cạnh các lĩnh vực hợp tác truyền thống như khai thác dầu khí , khai khoáng, luyện kim…hai nước đã có những hợp tác sâu rộng trong lĩnh vực kinh tế Sự hợp tác sâu rộng này đã đưa quan hệ hai nước trở nên thực chất hơn
Trong ấn phẩm ―Сотрудничество России и Вьетнама в нефтегазовой сфере; // Hợp tác Nga – Viê ̣t trong lĩnh vực dầu khí‖ ,(2012) tác giả Karapetyan K.S nghiên cứu những vấn đề và triển vọng của hợp tác chiến lược giữa Việt Nam và Nga trong lĩnh vực khai thác dầu khí Việc thăm dò khai thác dầu mỏ vẫn là một trong những bộ phận quan trọng nhất trong quan
hệ hai nước Tuy nhiên, hiện thực kinh tế quốc tế hiện đại luôn đòi hỏi các dự
án có triển vọng mới, bao gồm các dự án đầu tư
Bài viết ―Main Trends of Russia’s Foreign policy in Transforming East and Southeast Asia‖ (2008), của GS V.N.Kolotov đã phân tích những xu hướng chính trong chính sách đối ngoại của Nga tại khu vực Đông Á và Đông Nam Á Tác giả đề cập đến sự phát triển mạnh mẽ của Trung Quốc, Nhật bản cũng như sự ảnh hưởng của Mỹ và hai quốc gia trên tại khu vực này Bài viết nhận định Đông Nam Á là một khu vực kinh tế năng động, hấp dẫn thu hút nhiều nước lớn tham gia, trong đó phải kể đến Việt Nam - một quốc gia được
Trang 9đánh giá có vai trò đặc biệt quan trọng ở khu vực Đông Nam Á không chỉ bởi
vị trí chiến lược mà còn là quốc gia có trữ lượng dầu mỏ lớn ở Biển Đông Trước sự nổi dậy về kinh tế, sự bành trướng về lãnh thổ của Trung Quốc, cả
Mỹ và Nga đều muốn quan hệ hợp tác với Việt Nam đề kiềm chế sự phát triển của Trung Quốc
Trong ấn phẩm ―Liên bang Nga: Hai thập niên đầu thế kỷ XXI‖ do Nguyễn An Hà (chủ biên), Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội (2011), nhóm tác giả đã nêu ra một số những vấn đề chính trị và kinh tế nổi bật của Liên Bang Nga trong hai thập niên đầu thế kỷ XXI và đưa ra những dự báo về xu thế vận động của Liên bang Nga tới năm 2020 Đồng thời, nhóm tác giả cũng đánh giá những tác động của Liên bang Nga tới thế giới, khu vực và Việt Nam, từ
đó đưa ra những khuyến nghị nhằm thúc đẩy quan hệ hợp tác đối tác chiến lược Việt Nam - Liên bang Nga
Các bài viết ―Chính sách của Liên bang Nga đối với Việt Nam sau chiến tranh lạnh (1991 - 2008) - một số đặc điểm chủ yếu‖, Ths Bùi Thị Thảo, Tạp chí Nghiên cứu Châu Âu , số 5 (2012) tập trung phân tích và bước đầu rút ra một số đặc điểm chủ yếu về chính sách của Nga đối với Việt Nam thời kỳ 1991 - 2008; ―Thử phân tích chiến lược mới của Nga đối với ASEAN
và những vấn đề đặt ra đối với Việt Nam‖, TS Nguyễn Cảnh Toàn, Tạp chí Nghiên cứu Châu Âu , số 1 (2010) đã làm rõ vị trí của ASEAN trong chiến lược của Liên bang Nga và vai trò cầu nối của Việt Nam trong mối quan hệ Nga – ASEAN; ―Chiến lược hướng Đông của Nga‖, Lê Xuân Dương, số 21 Quý I (2013) đều tập trung phân tích sự chuyển hướng trong sách lược của Liên bang Nga trong tình hình mới và những thành tựu trong quan hệ giữa Việt Nam và Liên bang Nga
Cuốn sách ―Quan hệ Nga - Việt: Hiện tại và lịch sử - Cái nhìn từ hai phía‖ (2014) được xuất bản bằng tiếng Nga do Trung tâm Nghiên cứu Việt Nam và ASEAN, Viện Viễn Đông thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Nga phát hành Cuốn sách tập hợp 23 bài viết về mọi mặt của mối quan hệ hữu nghị,
Trang 10hợp tác Nga - Việt trong giai đoạn từ khi cuộc kháng chiến cứu nước diễn ra đến năm 1991 và từ sự kiện Liên Xô tan rã năm 1991 đến năm 2013 Cuốn sách đi sâu phân tích mọi khía cạnh của quan hệ Nga - Việt trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, giáo dục và triển vọng mối quan hệ song phương này
Có thể thấy với các cách tiếp cận ở nhiều mức độ khác nhau , tất cả công trình trên đã phân tích những nội dung về mối quan hệ hai nước trong các lĩnh vực Những công trình nghiên cứu của các tác giả nêu trên là nguồn tài liệu quý giá cho tác giả tham khảo để hoàn thành luận văn của chúng tôi
về triển vọng của quan hệ Liên bang Nga – Việt Nam trong tương lai
4 Nhiê ̣m vu ̣ nghiên cƣ́u
Phân tích sơ lược mối quan hệ Việt-Nga giai đoạn trước, nghiên cứu cụ thể quá trình, nội dung hợp tác giữa hai quốc gia trên từng lĩnh vực cụ thể, đồng thời so sánh những thế mạnh và điểm hạn chế của hai nước Từ đó đưa
ra dự báo về xu hướng phát triển của mối quan hệ Việt Nam- Liên Bang Nga trong những năm tiếp theo
5.Đối tƣợng nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu cơ sở hình thành , nội dung, thành tựu đạt được trong quá trình quá trình phát triển mối quan hê ̣ giữa Viê ̣t Na m và Liên bang Nga trên các lĩnh vực và triển vọng của quan hệ hai bên
Trang 116 Phạm vi nghiên cứu
Từ năm 1991 đến năm 2016 Tuy nhiên trong quá trình nghiên cứu sẽ
có sự liên hệ với các giai đoạn trước đó
7 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp điều tra, Phương pháp thu thập dữ liệu; Phương pháp tổng hợp, phân tích tư liệu
8 Đóng go ́ p của nghiên cứu
Cung cấp nguồn gốc hình thành mối quan hệ Việt Nam- Liên Bang Nga Đem đến cái nhìn toàn diện về khó khăn thuận lợi trong việc hợp tác giữa hai quốc gia qua việc phân tích cụ thể thực trạng hợp tác trên các lĩnh vực Đưa ra dự đoán về triển vọng phát triển trong mối quan hệ hai nước trong tương lai, đồng thời đưa ra những giải pháp nhằm góp phần thúc đẩy sự phát triển này
9 Bố cu ̣c của luận văn
Luâ ̣n văn bao gồm mở đầu , 3 chương, kết luận và danh sách tài liệu tham khảo:
- Mở đầu
- Chương I Quan hệ Việt Nam với Liên Xô
- Chương II Quá trình phát triển của quan hệ Liên bang Nga – Việt Nam -Chương III Triển vọng của quan hệ Liên bang Nga – Việt Nam
- Kết Luận
- Tài liệu tham khảo
Trang 12Chương I
CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN MỐI QUAN HỆ LIÊN BANG NGA -
VIỆT NAM
§1.1 Bối cảnh quốc tế đầu thâ ̣p kỳ 1990
Trong thập niên cuối thế kỷ 20, thế giới trải qua những biến động to lớn
về chính trị, kinh tế Đó là sự tan rã của hệ thống xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô
và các nước Đông Âu, chấm dứt thời kỳ Chiến tranh Lạnh đối đầu giữa hai phe Tư bản chủ nghĩa và Xã hội chủ nghĩa Từ chạy đua vũ trang, thế giới chuyển sang hợp tác và cạnh tranh về kinh tế, ngoài tiềm lực quốc phòng, sức mạnh, vị thế của mỗi quốc gia, khu vực được thể hiện qua tiềm lực về kinh tế,
về tài nguyên thiên nhiên Trật tự thế giới hai cực là Liên Xô và Mỹ chấm dứt Mỹ trở thành siêu cường duy nhất với sức mạnh vượt trội cả về kinh tế, chính trị và quân sự trong thập niên cuối cùng của thế kỷ 20 Tuy nhiên, bước sang thế kỷ 21, trong bối cảnh toàn cầu hóa kinh tế ngày càng gia tăng, sức mạnh kinh tế của các quốc gia, khu vực đang dần trở thành yếu tố quyết định
vị thế của họ trong cấu trúc quyền lực của thế giới Cục diện thế giới đã và đang trải qua những điểm biến động với sự nổi lên của các cường quốc về kinh tế và năng lượng
Nhìn chung, trong những năm đầu thế kỷ 21, sự vận động và phát triển của thế giới chịu tác động mạnh mẽ của các xu hướng sau đây:
Một là: Toàn cầu hóa là một xu thế khách quan, mang tính hai mặt: tích
cực và tiêu cực, đang lôi cuốn hầu hết mọi quốc gia, bất luận ở trình độ phát triển nào, tham gia vào quá trình này Toàn cầu hóa kinh tế với sự phổ biến nền kinh tế thị trường ở cấp độ toàn cầu diễn ra với cùng các quá trình tự do hóa kinh tế, tăng cường liên kết kinh tế khu vực, song phương và đa phương
Hai là: Cuộc cách mạng khoa học công nghệ mới phát triển nhanh, nền
kinh tế thế giới đang trong bước chuyển sang kinh tế tri thức và xu thế này cũng không còn là vấn đề riêng của các nước phát triển
Trang 13Ba là: Hòa bình, hợp tác và phát triển là xu thế chính, phổ biến của sự
phát triển thế giới kể từ sau kết thúc Chiến tranh Lạnh, mặc dù vậy, các cuộc chiến tranh cục bộ, xung đột vẫn còn xảy ra ở một số nơi, dưới nhiều hình thức khác nhau
Bốn là: Cấu trúc chiến lược quốc tế đang phát triển từ nhất siêu đa
cường sang đa cực hóa và sự trỗi dậy của Trung Quốc, Ấn Độ, LB Nga và Liên minh châu (EU) cùng với sự gia tăng của chủ nghĩa đơn cực của Mỹ
1.1.1 Tình hình chính trị, kinh tế, xã hội toàn cầu và khu vực
Sau khi trật tự hai cực tan rã, tình hình thế giới đã có nhiều diễn biến thay đổi với những nét nổi bật là:
Một là, thế giới phát triển nhanh chóng theo hướng đa cực, tuy vậy cục
diện đa cực chưa hẳn đã hình thành mà đang trải qua thời kỳ quá độ từ Trật tự
cũ để tiến tới một Trật tự mới Thế giới hiện đang trong tình hình "một siêu cường, nhiều cường quốc", đó là các nước Mỹ, Tây Âu (EU) Nhật Bản, Nga
và Trung Quốc
Hai là, sự tan rã của Liên Xô đã tạo ra cho Mỹ một lợi thế tạm thời Là
cực duy nhất còn lại, Mỹ ra sức củng cố vị trí siêu cường, mưu đồ giữ vai trò chi phối bá chủ thế giới Nhưng mặt khác, tuy là cực duy nhất còn lại, nhưng tình hình thế giới lại không phải là thế giới một cực Mỹ đã bị suy yếu tương đối, mâu thuẫn lớn nhất của Mỹ là giữa tham vọng bá chủ và khả năng thực hiện của nó Rõ ràng là Mỹ không muốn sự phát triển của thế giới theo chiều hướng đa cực, ra sức điều chỉnh chính sách đối nội và đối ngoại, tăng cường năng lực cạnh tranh, xây dựng Trật tự thế giới mới do Mỹ lãnh đạo, làm cho
sự thay đổi của thế giới đi theo quỹ đạo có lợi cho Mỹ
Ba là, hòa bình thế giới được củng cố, nguy cơ chiến tranh thế giới bị
đẩy lùi rõ rệt, nhưng hòa bình ở nhiều khu vực bị đe dọa, thậm chí ở nhiều nơi xung đột quân sự, nội chiến diễn ra ác liệt Đó là các mâu thuẫn về sắc tộc, tôn giáo, tranh chấp lãnh thổ vốn bị che đậy dưới thời chiến tranh lạnh nay
Trang 14bộc lộ thành xung đột gay gắt Phần lớn những mâu thuẫn, tranh chấp này đều
có căn nguyên lịch sử, nên việc giải quyết không thể nhanh chóng và dễ dàng
Mô ̣t trong những vấn đề đă ̣c biê ̣t quan tro ̣ng là vấn đề khủng bố Thế giới của những năm đầu thế kỷ 21, từng được mơ ước như một mảnh đất của hoà bình, đoàn kết và thịnh vượng, thực tế lại là một bức tranh đầy những thù địch, chiến tranh, đổ máu, xung đột, khủng bố và chống khủng bố Từ Bắc
Mỹ với cuộc tấn công 11.09, Châu Âu với các cuộc khủng bố ở Nga và mới đây nhất là Tây Ban Nha, Châu Phi với bạo loạn ở Haiti, châu Á với điểm nóng CHDCND Triều Tiên và eo biển Đài Loan Và điểm nóng nhất, tất nhiên, là Trung Đông, nơi luôn là điểm nóng của thế giới từ nhiều thập kỷ qua nếu không muốn nhắc đến lịch sử của vùng đất này Đông Nam Á là khu vực xếp thứ ba trên thế giới, sau Trung Đông và Nam Á, về tần suất và quy mô hoạt động của lực lượng khủng bố Những vụ đánh bom liên tiếp đã gây sốc lớn tại Indonesia, nền kinh tế lớn nhất Đông Nam Á Chỉ trong mấy năm, Đông Nam Á đã chấn động bởi hàng loạt vụ khủng bố, như vụ đánh bom tại đảo Bali (Indonesia) ngày 12.10.2002 khiến hơn 200 người thiệt mạng, hàng loạt vụ tấn công tại các khu vực tập trung đông người ở thủ đô Jakarta trong các năm 2003, 2004, 2009, 2015 và 2016 Nước này từ lâu đã phải chống chọi với sự nổi lên của chủ nghĩa cực đoan trong nước Những công nghệ mới như tiền ảo và các trang web đen cho phép những kẻ khủng bố giữ được mức độ nặc danh cao và chịu sự giám sát tối thiểu của cơ quan chức năng
Trong bối cảnh này, Liên bang Nga luôn khẳng định rằng những thành tựu mà Nga đạt được phụ thuộc rất nhiều vào những yếu tố quốc tế và khu vực Nước Nga chỉ có thể tồn tại và phát triển được trong biên giới hiện nay của mình như một cường quốc năng động, luôn thực thi các chính sách với mọi vấn đề đang hiện diện của thế giới trên cơ sở tính toán thực tế khả năng của mình Nước Nga cho rằng trong những năm gần đây, thế giới đang thật sự thay đổi với sự gia tăng của toàn cầu hóa.Bản thân nước Nga từ những năm cuối của thế kỷ 20 đến nay luôn phải đương đầu với chủ nghĩa khủng bố, ly
Trang 15khai diễn ra ở Che-xnhi-a, ở I-gu-xe-chi-a với các vụ nổ bom đẫm máu ở ngay Thủ đô Mát-xcơ-va và các thành phố lớn khác Rõ ràng là nhân loại đang tiến tới giới hạn của thời khắc cần thiết phải suy ngẫm về kiến trúc một hệ thống
an ninh toàn cầu mới, dựa trên sự cân đối lợi ích một cách sáng suốt của tất cả các chủ thể của cấu trúc đó Nga cần tạo ra những điều kiện bên ngoài thuận lợi cho công cuộc cải tổ bên trong và đồng thời việc tác động tích cực tới sự phát triển của thế giới, trước hết với chính lợi ích của nước Nga Liên bang Nga quan niệm rằng, trong những điều kiện như vậy vai trò và trách nhiệm của Liên bang Nga trong các công việc quốc tế ngày càng quan trọng Nước Nga ủng hộ cho một trật tự thế giới đa cực, cùng với những những nỗ lực phát triển kinh tế thị trường, tăng cường tiềm lực quốc phòng, Nga cũng luôn phải điều chỉnh quan hệ chính trị đối ngoại, tăng cường đồng minh, gia tăng ảnh hưởng, nâng cao vị thế quốc gia đối với khu vực và thế giới, tích cực hội nhập kinh tế thế giới để thực hiện những mục tiêu của chính mình
Bước sang thế kỷ XXI , với đặc điểm địa lý , nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú và tiềm năng phát triển to lớn , khu vực Châu Á - Thái Bình Dương tiếp tục trở thành trọng tâm địa chính trị toàn cầu Hiện nay,Đông Nam Á có vai trò đặc biệt quan trọng trên nhiều phương diện của đời sống thế giới, đã và đang là nơi hội tụ, giao thoa lợi ích chiến lược của tất cả các nước lớn Đây cũng là khu vực tập trung nhiều nền kinh tế hàng đầu của thế giới như Mỹ, Trung Quốc, Nhật Bản , Ấn Độ… Vì thế , các cường quốc thế giới đều mong muốn tăng cường ảnh hưởng tại khu vực quan trọng này ―Chính sách hướng Đông‖, ―Chính sách xoay trục‖ và sự can dự ngày càng sâu của các cường quốc thế giới vào Đông Nam Á đã đặt khu vực trước những cơ hội
và thách thức an ninh mới , đồng thời nói lên vai trò chiến lược của khu vực này trong thế kỷ XXI Liên bang Nga được lợi ích gì ở khu vực Đông Nam Á? Nhìn chung Đông Nam Á là kh u vực có thị trường lớn và phát triển năng động, tăng trưởng kinh tế cao và là động lực cho sự tăng trưởng kinh tế toàn cầu Do đó, xác lập và tăng cường vai trò của Nga ở khu vực Châu Á - Thái
Trang 16Bình Dương sẽ là điều kiện cần nhằm phục vụ cho sự phát tri ển nước Nga Hơn nữa, trong sự trỗi dậy của nhiều nước khu vực Đông Nam Á và Châu Á - Thái Bình Dương hiện nay , nhiều nước có nhu cầu nhập khẩu lớn về dầu mỏ
và khí đốt và Liên bang Nga là nước có khả năng cung cấp nhu cầu này Trong bối cảnh này, sự tăng cường quan hê ̣ với Viê ̣t Nam, nước hữu bang với lịch sử hợp tác rất thành đạt là chính sách hết sức quan trong
1.1.2 Xu hướng phát triển của thế giới
Quá trình toàn cầu hóa mặc dù có nhiều mâu thuẫn nhưng ngày càng được mở rộng, có những tác động tích cực đối với việc phân chia nguồn lực phát triển kinh tế một cách công bằng hơn, tạo ra nền tảng cho một cấu trúc
đa cực trong quan hệ quốc tế Tính tập thể và luật pháp trong quan hệ quốc tế được tiếp tục củng cố trên cơ sở thừa nhận những hiểm họa chung của nhân loại Trong nền chính trị thế giới có ý nghĩa của yếu tố năng lượng ngày càng tăng, vị thế của Liên bang Nga như một cường quốc năng lượng càng được củng cố Mô hình phát triển, định hướng phát triển được quan niệm như một thước đo của nền văn minh và là đối tượng gây nên cạnh tranh, xung đột Những giá trị cơ bản của dân chủ và thị trường được ghi nhận như là một nền tảng của đời sống xã hội và đời sống kinh tế Việc thực hiện chúng có nhiều cách thức, phụ thuộc vào đặc thù lịch sử, văn hóa của các dân tộc cũng như mức độ phát triển kinh tế, xã hội của mỗi quốc gia
Bên cạnh những mặt tích cực, toàn cầu hóa cũng có nhiều mặt tiêu cực như:
Sự lan rộng các không gian xung đột trong nền chính trị thế giới, sự xuống cấp trong giải trừ vũ khí cũng như kiểm soát vũ khí Trong những năm gần đây, việc sử dụng vũ lực để giải quyết những vấn đề về lợi ích chính trị, không tuân thủ luật lệ quốc tế có chiều hướng gia tăng Sau sự kiện khủng bố ngày 11.09.2001, nhân loại phải đương đầu với chủ nghĩa khủng bố, chủ nghĩa Hồi giáo cực đoan và chủ nghĩa ly khai lan rộng trên cấp độ toàn cầu Cùng với các cuộc chiến ở Áp-ga-ni-xtan và I-rắc, xung đột, khủng bố diễn ra
Trang 17khắp mọi nơi Dưới khẩu hiệu đấu tranh chống lại ác hiểm họa mới, một số nước tiếp tục âm mưu xây dựng thế giới đơn cực, ép buộc các nước khác tuân thủ theo hệ thống chính trị và mô hình phát triển của mình, phớt lờ các đặc thù lịch sử, văn hóa, khu vực và các đặc điểm phát triển của các nước trên thế giới, tự do áp đặt và xâm phạm các luật lệ và nguyên tắc quốc tế Một số nước liên kết với nhau tự cho mình một trách nhiệm mới trong lĩnh vực an ninh và giải trừ vũ khí, tác động tiêu cực làm chậm quá trình giải trừ vũ khí, trong khi một số các nước khác lại tăng cường vũ khí giết người hàng loạt; coi đây như một giải pháp đảm bảo an ninh cho mình Việc quân sự hóa các quan hệ quốc
tế đang tạo nên những đe dọa chia rẽ thế giới mới, thậm chí dẫn tới xung đột giữa các nền văn minh Tình hình càng trở nên phức tạp hơn và nó đang diễn
ra trên mặt trận chống chủ nghĩa khủng bố quốc tế, nơi đòi hỏi phải có sự đối thoại giữa các nền văn hóa và văn minh Bên cạnh đó, thế giới cũng trải qua các cuộc khủng hoảng về lương thực, năng lượng, nghèo đói và dịch bệnh diễn ra tràn lan cùng với sự gia tăng về bất bình đẳng giàu nghèo
Trong bối cảnh toàn cầu hóa và lệ thuộc lẫn nhau đang tăng lên, với tư duy mới về an ninh và phát triển và kinh nghiệm đau thương về chiến tranh,
có thể nói ít có khả năng xảy ra đụng độ lớn về quân sự giữa các cường quốc trong những thập kỷ tới, dù cho đấu tranh giữa các nước lớn sắp xếp lại trật tự thế giới có thể diễn ra phức tạp và căng thẳng Xung đột cục bộ có khả năng ngày càng phức tạp hơn Tình trạng nước lớn đánh nước nhỏ, các nước lớn
―xung đột‖ ở khu vực ―ngoại vi‖, xung đột về biên giới, lãnh thổ, chiến tranh giữa các nước nhỏ diễn ra một cách phổ biến Mâu thuẫn sắc tộc và tình trạng bạo loạn cũng diễn ra phổ biến ở nhiều nước.Tình hình nội trị của nhiều nước sẽ tiếp tục có nhiều phát triển phức tạp.Trào lưu dân chủ hóa thông qua các hình thức bầu cử và các diễn biến chính trị khác như đảo chính quân sự, phong trào ly khai, sự trỗi dậy của chủ nghĩa dân tộc và tôn giáo cực đoan sẽ tiếp tục diễn ra ở nhiều nước
Trang 18§1.2 Sơ lươ ̣c quan hê ̣ Liên Xô – Viê ̣t Nam
1.2.1 Giai đoạn 1950-1975
Ngày 23.01.1950, thay mặt Chính phủ Việt Nam, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Hoàng Minh Giám đã gửi công hàm tới Bộ trưởng Bộ ngoại giao Liên
Xô, đề nghị hai nước kiến lập quan hệ ngoại giao chính thức và trao đổi đại
sứ Đáp lại thiện chí trên, ngày 30.01.1950, Bộ Ngoại giao Liên Xô đã gửi cho Bộ Ngoại giao Việt Nam công hàm thông báo Chính phủ Liên Xô chấp thuận thiết lập quan hệ ngoại giao với Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và trao đổi công sứ Ngày 03.02.1950, từ Bắc Kinh, Chủ tịch Hồ Chí Minh đi tàu hỏa đến Mát-xcơ-va Người đã có cuộc gặp gỡ và hội đàm với các nhà lãnh đạo Đảng và nhà nước Liên Xô Về viện trợ quân sự, chúng ta có thể tham khảo
số liệu như sau: ―Đầu năm 1950, Liên Xô viện trợ cho Việt Nam số cao xạ 37
li đủ trang bị cho một trung đoàn, một số xe vận tải Mô-lô-tô-va và thuốc quân y Đến cuối năm 1950, Việt Nam nhận được 3983 tấn hàng viện trợ quốc tế, trong đó có 1020 tấn súng đạn, 161 tấn quân trang, 20 tấn thuốc và dụng cụ quân y, 71 tấn hàng quân giới, 30 xe vận tải Mô-lô-tô-va và 2634 tấn gạo Từ tháng 5-1950 đến tháng 6-1954, Việt Nam nhận được 21.517 tấn hàng viện trợ quốc tế, trị giá 54 triệu rúp, trong đó số pháo cao xạ 37 li (76 khẩu), toàn bộ hỏa tiễn H6 (Cachiusa) 12 khẩu, toàn bộ tiểu liên K50, phần lớn ô tô vận tải (685 chiếc trên tổng số 745 chiếc) và phần lớn thuốc Quinine
là của Liên Xô‖1
Theo đề nghị của chính phủ Việt Nam, Liên Xô đã đồng ý để ta thành lập sứ quán ở thủ đô Mát-xcơ-va Tháng 02.1952, Sứ quán Việt Nam Dân chủ Cộng hòa bắt đầu hoạt động Tại phiên họp thường kì của Hội đồng bảo an 09.1952, đại diện Chính phủ Liên Xô đã đưa ra kiến nghị xét đơn và kết nạp Việt Nam Dân chủ Cộng hòa vào Liên hiệp quốc Đại diện Liên Xô trình bày
1 Trịnh Vương Hồng, ―Sự giúp đỡ nhiệt tình, to lớn, hiệu quả của Liên Xô với
hai cuộc kháng chiến của nhân Việt Nam (1945 – 1975)‖, Hà Nội, tr.11
Trang 19lập trường của Chính phủ Liên Xô về vấn đề trên và khẳng định ở Việt Nam hiện nay chỉ có Chính phủ Hồ Chí Minh là chính phủ hợp pháp
01.1954, ngoại trưởng 4 nước Liên Xô, Mỹ, Anh và Pháp đã họp tại Beclin và quyết định sẽ triệu tập một hội nghị quốc tế ở Giơnevơ để giải quyết hai vấn đề: chiến tranh tại Triều Tiên và lập lại hòa bình ở Đông Dương 26.04.1954, khi Quân đội nhân dân Việt Nam kết thúc chiến dịch tấn công đợt 2 ở Điện Biên Phủ thì Hội nghị Giơnevơ bắt đầu được khai mạc Tham dự hội nghị có đại diện của: Việt Nam, Liên Xô, Trung Quốc, Anh, Pháp, Mỹ , chính quyền Bảo Đại, Campuchia và Lào Phái đoàn Việt Nam do ông Phạm Văn Đồng làm Trưởng đoàn cùng với 2 phái đoàn của Campuchia
và Lào chính thức tham gia 17h 30 07.05.1954, tin thất bại của thực dân Pháp
ở chiến trường Điện Biên Phủ gửi về Hội nghị từ Đông Dương Do đó mà sáng 08.05.1954, vấn đề Đông Dương sớm được đưa lên bàn nghị sự Đại diện Chính phủ Việt Nam do ông Phạm Văn Đồng dẫn đầu đến dự hội nghị với tư thế của một dân tộc chiến thắng Bản đề nghị 8 điểm nổi tiếng của Phạm Văn Đồng cũng được đưa ra làm cơ sở thảo luận tại Hội nghị, bởi nó có ảnh hưởng rất lớn đến nhân dân các nước thuộc địa và các nước thực dân, đặc biệt là đối với nhân dân và chính phủ Pháp Nhìn vào thành phần tham gia Hội nghị, Việt Nam có hai đồng minh lớn là Liên Xô và Trung Quốc, nhưng lại phải đấu tranh với 6 bên còn lại Do lập trường giữa các đoàn có một khoảng cách khá lớn nên các cuộc đàm phán tiến triển rất chậm chạp Kết quả
là, do Đoàn Pháp vẫn giữ lập trường cứng rắn, nội các của thủ tướng Laniel bị nhân dân Pháp lên án, buộc phải từ chức ngày 12.06.1954 Trải qua 8 phiên họp toàn thể và 23 phiên họp hẹp rất căng thẳng, với thiện chí của phái đoàn Việt Nam, ngày 20.07.1954, Hiệp định Giơnevơ về đình chỉ chiến tranh ở Đông Dương được ký kết
Mục tiêu của Liên Xô là không để cho Hội nghị thất bại Cuộc chiến tranh Đông Dương phải được giải quyết bằng thương lượng và đi đến đình chiến Thiết chế đồng Chủ tịch đã tạo cơ sở thuận lợi để Liên Xô thúc đẩy Hội
Trang 20nghị tiến triển có hiệu quả Với tư cách là đồng Chủ tịch, Ngoại trưởng Liên
Xô V.M Molotov đã tham gia điều hành Hội nghị Nhờ có sức mạnh của Liên Xô, các mưu toan của các nước đế quốc định tiến hành các cuộc đàm phán dựa trên sức mạnh đã không thực hiện được Liên Xô đã hợp tác chặt chẽ với Việt Nam và các nước khác trong phe dân chủ làm thất bại âm mưu của đối phương phá Hội nghị Giơnevơ
Ngày 14-5, Bộ trưởng Ngoại giao Liên Xô V.M Molotov đã nêu rõ quan điểm của Liên Xô về vấn đề Việt Nam rằng: ở Đông Dương và trước hết
ở Việt Nam cuộc chiến tranh đang diễn ra, về phía Pháp đó là cuộc chiến tranh xâm lược, đối với nhân dân Đông Dương đấu tranh vì tự do, độc lập khỏi ách áp bức thực dân, đó là cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc Nhân dân Việt Nam đang nêu tấm gương đấu tranh giành độc lập dân tộc cho các dân tộc bị thực dân, đế quốc áp bức nô dịch Liên Xô cho rằng nhiệm vụ của Hội nghị là phải đấu tranh để nhanh chóng chấm dứt các hành động quân sự của Đông Dương và phải ký kết được một bản Hiệp định, thoả mãn những yêu cầu hợp pháp của nhân dân Đông Dương về độc lập dân tộc và các quyền dân chủ Đoàn đại biểu Xô viết đánh giá cao những đề nghị của Việt Nam dân chủ Cộng hoà và bày tỏ sự đoàn kết nhất trí đối với quan điểm của phái đoàn Việt Nam
07.1955, nhân chuyến thăm chính thức của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Chính phủ Liên Xô đã ký với Việt Nam một số hiệp định cho vay và viện trợ không hoàn lại, nhằm giúp Việt Nam khôi phục kinh tế sau kháng chiến chống thực dân Pháp 18.07.1955, theo thoả thuận giữa hai chính phủ, Liên
Xô đã viện trợ cho Việt Nam 400 triệu rúp để thực hiện kế hoạch 3 năm (1955-1957) Trong đó có 171 triệu rúp để nhập các thiết bị toàn bộ phục vụ ngành công nghiệp, trước hết là xây dựng các nhà máy điện và hệ thống đường dây điện, trạm biến thế, đài khí tượng…; 229 triệu rúp để nhập các máy móc lẻ và hàng hoá phục vụ nông nghiệp và cải thiện đời sống Trong thời gian từ 1955-1960, Liên Xô đã cử 1547 chuyên gia các ngành sang công
Trang 21tác tại Việt Nam và nhận 420 thực tập sinh và 1267 sinh viên Việt Nam sang học tập tại Liên Xô
11.1960, Liên Xô đã tổ chức Hội nghị của 81 đảng cộng sản và công nhân quốc tế thế giới Đoàn Đại biểu Đảng Lao động Việt Nam do Chủ tịch
Hồ Chí Minh dẫn đầu đã đến tham dự Hội nghị Tại cuộc họp, mâu thuẫn giữa hai đoàn đại biểu Đảng Cộng sản Liên Xô và Trung Quốc bộc lộ gay gắt Hội nghị hầu như tan vỡ, không kí được tuyên bố chung Với sự nỗ lực thuyết phục của các đảng cộng sản, trong đó có Chủ tịch Hồ Chí Minh, Trưởng đoàn đại biểu Đảng Cộng sản Liên Xô và Trưởng đoàn đại biểu Đảng Cộng sản Trung Quốc đã đồng ý thỏa thuận và kí Tuyên bố chung của Hội nghị 81 đảng
Khi Việt Nam thực hiện kế hoạch 5 năm lần thứ nhất (1961-1965), Liên
Xô đã ký với Việt Nam nhiều hiệp định trợ giúp về kinh tế và kỹ thuật, như: Hiệp định về việc Liên Xô giúp Việt Nam thực hiện kế hoạch phát triển kinh
tế quốc dân những năm từ 1961-1965 (ký 23.12.1960); Hiệp định về việc Liên
Xô giúp đỡ về kinh tế và kỹ thuật, cung cấp thiết bị và vật liệu cho Việt Nam trong việc xây dựng và mở rộng một số xí nghiệp và công trình công nghiệp (ký 15.09.1962) v.v Theo tinh thần các hiệp định này, Liên Xô giúp Việt Nam 460 triệu rúp, bao gồm các khoản cho vay tín dụng dài hạn và viện trợ không hoàn lại; hỗ trợ Việt Nam các thiết bị kỹ thuật, vật liệu để xây dựng các nhà máy và nhiều công trình dân dụng khác Ngoài ra, Liên Xô còn giúp Việt Nam xây dựng 21 đài khí tượng thuỷ văn, 156 trạm thuỷ văn các cấp, cho Việt Nam vay 350 triệu rúp để mua trang thiết bị máy móc và xây dựng một số nông trường, trông cây nhiệt đới theo hiệp định 14.06.19602 Cho đến cuối năm 1964, Liên Xô đã giúp Việt Nam cải tạo và xây dựng 90 xí nghiệp
và công trình dân dụng, bao gồm 43 công trình công nghiệp, 46 nông trường quốc doanh và một số trường đại học, bệnh viện Trong số các công trình
2 Trịnh Vương Hồng, ―Sự giúp đỡ nhiệt tình, to lớn, hiệu quả của Liên Xô với
hai cuộc kháng chiến của nhân Việt Nam (1945 – 1975)‖, Hà Nội, tr.14
Trang 22công nghiệp được Liên Xô hỗ trợ 100% vốn và vật tư, kỹ thuật, đáng chú ý nhất là 7 nhà máy điện (Vinh, Thanh Hoá, Lào Cai, Phú Thọ, Phả Lại, Tà Sa,
Nà Ngần) với tổng công suất là 71.300 ki-lô-oát và 8 đường dây tải điện dài
130 kilômét3 Nhiều công trình khai khoáng và xí nghiệp chế biến thực phẩm khác, như: mỏ thiếc Tĩnh Túc Cao Bằng, mỏ apatít Lào Cai, nhà máy cá hộp Hải Phòng v.v cũng được Liên Xô hỗ trợ, đầu tư xây dựng trong thời kỳ này
Mă ̣t khác, trong lĩnh vực chính tri ̣ ngo ̣ai giao, Liên Xô muốn Việt Nam phấn đấu giành thắng lợi trong xây dựng miền Bắc để động viên và thúc đẩy đấu tranh chính trị ở miền Nam, giải quyết vấn đề miền Nam bằng thương lượng, bằng con đường hoà bình Do vậy Liên Xô ít đề cập đến đấu tranh vũ trang và đấu tranh chính trị ở miền Nam Các phương tiện thông tin đại chúng của Liên Xô rất ít đưa tin về thắng lợi quân sự của nhân dân miền Nam và cũng không lên án thẳng chính quyền Mỹ trong các hoạt động ở miền Nam
Lý do Liên Xô có thái độ trên đây theo Đảng Lao động Việt Nam là sau khi Stalin mất, Khruschev lên thay đã đi vào con đường xét lại Năm 1956, tại Đại hội lần thứ XX, Đảng Cộng sản Liên Xô đã đưa ra đường lối ―cùng tồn tại hoà bình‖, ―quá độ hoà bình‖, ―thi đua hòa bình‖ và chương trình đầy tham vọng ―đuổi kịp và vượt Mỹ‖ về sản xuất sản phẩm tính theo đầu người trong thời gian ngắn nhất‖ Khruschov gây sức ép với Việt Nam, doạ cắt khoản viện trợ quân sự vốn đã ít ỏi (02.1964), có những tín hiệu để Việt Nam hiểu rằng
―sẽ không có triển vọng cho việc hợp tác chặt chẽ giữa hai nước, nếu Hà Nội không thay đổi lập trường‖4 Khi Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam ra đời (12.1960), Liên Xô không muốn đề cao vai trò của của Mặt trận, phản ứng thận trọng trước sự kiện Vịnh Bắc Bộ (08.1964).Các chuyến viếng thăm của Liên Xô tới Việt Nam do Ponomarinov, Bí thư trung ương Đảng dẫn đầu vào tháng 2 năm 1962 và đoàn do Andropov, Bí thư trung ương Đảng dẫn đầu
3 Trịnh Vương Hồng, ―Sự giúp đỡ nhiệt tình, to lớn, hiệu quả của Liên Xô với
hai cuộc kháng chiến của nhân Việt Nam (1945 – 1975)‖, Hà Nội tr.16
4
Gaiđuk V.I (1998), Liên bang Xô-viết và chiến tranh Việt Nam, Nxb Công an nhân dân,
Hà Nội, tr 53
Trang 23vào tháng 1 năm 1963, đều nhằm lôi kéo tranh thủ Việt Nam Trong lá thư gửi Trung ương đảng Lao động Việt Nam ngày 06.07.1964, Trung ương đảng cộng sản Liên Xô đã đề nghị Trung ương đảng Lao động Việt Nam phải ―thay đổi lập trường‖ Trong bối cảnh bất đồng Xô-Trung bộc lộ công khai, Liên
Xô quan tâm nhiều hơn đến việc tranh thủ các nước lớn khác trong khu vực như Inđônêxia, Ấn Độ, nhằm tranh giành ảnh hưởng với Mỹ và Trung Quốc Tuy nhiên , Liên Xô đã không cắt quan hệ với Việt Nam như đã làm với Albani và Trung Quốc Có thể nói, về mă ̣t quan hê ̣ ngoa ̣i giao giai đoạn 1955-
1965 là xấu nhất trong lịch sử hai nước
Vào những năm 1965 - 1969, tình hình trong nước và trên thế giới có biến động phức tạp Sau khi chiến lược ―Chiến tranh đặc biệt‖ thất bại, Mĩ chuyển sang một hình thức chiến tranh mới đó là ―Chiến tranh cục bộ‖ Từ năm 1965 trở đi, Liên Xô tăng cường quan hệ hữu nghị, hợp tác chặt chẽ với Việt Nam, dành cho Việt Nam sự ủng hộ to lớn và toàn diện Đảng và Nhà nước Liên Xô khẳng định lại vai trò ―đồng Chủ tịch Hội nghị Giơneve‖ về Đông Dương 02.1965, Đoàn đại biểu Liên Xô viết do Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Liên Xô A.N.Kosưgin dẫn đầu thăm chính thức Việt Nam Trong cuộc gặp gỡ, Liên Xô và Việt Nam cũng nhất trí về những biện pháp nhằm củng cố khả năng phòng thủ của Việt Nam DCCH Quan điểm này của Liên Xô được đưa ra đúng vào thời điểm Mỹ bắt đầu ném bom dữ dội miền Bắc Việt Nam
Kể từ thời điểm này, mối quan hệ Việt Nam – Liên Xô bước vào một giai đoạn phát triển mới về chất Hàng loạt các chuyến thăm viếng ngoại giao giữa hai nước đã chứng minh nhận định trên Theo thống kê, từ năm 1965-1975, giữa Việt Nam và Liên Xô đã có 51 cuộc gặp gỡ cấp cao từ uỷ viên Bộ Chính trị trở lên
Năm 1968, Liên Xô đã nỗ lực triệu tập Hội nghị bốn bên tại Paris để tìm một giải pháp chính trị cho vấn đề Việt Nam Từ năm 1970-1975, trên các diễn đàn quốc tế, trong Đại hội các Đảng Cộng sản và Công nhân quốc tế, hoặc nhân các chuyến trao đổi đoàn đại biểu các cấp với các nước khác, Liên
Trang 24Xô thường xuyên nêu lên và ủng hộ cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân Việt Nam Liên Xô cũng tích cực giúp đỡ Việt Nam vận động các đoàn thể chính trị thế giới, tổ chức nhiều hội nghị quốc tế, tranh thủ sự đồng tình của các lực lượng tiến bộ đối với Việt Nam
Một trong những ủng hộ kịp thời và giá trị của Liên Xô đối với cuộc kháng chiến chống Mỹ của nhân dân Việt Nam trong những năm 1965-1975
là viện trợ quân sự Tên lửa ―đất đối không‖ của Liên Xô đã được sử dụng lần đầu tiên tại Việt Nam vào ngày 24.07.1965 và đã bắn rơi máy bay Mỹ Trong giai đoạn 1965-1968, số hàng viện trợ quân sự của Liên Xô lên 226.969 tấn Trong năm 1968, Liên Xô đã viện trợ quân sự và kinh tế cho Việt Nam ước tính khoảng 543,3 triệu rúp (tương đương với 608,1 triệu USD).Viện trợ của Liên Xô cho Việt Nam trong năm 1968 đạt mức cao nhất, chiếm khoảng 50% viện trợ của các nước XHCN5 Cùng với viện trợ quân sự, Liên Xô còn tích cực đào tạo giúp Việt Nam đội ngũ cán bộ quân sự giỏi, có thể vận hành được những vũ khí hiện đại do Liên Xô cung cấp Riêng năm 1966, có 2.600 sĩ quan Việt Nam được đào tạo tại Liên Xô Đồng thời, nhiều chuyên gia quân
sự của Liên Xô cũng đã sang chiến trường Việt Nam trực tiếp giúp bộ đội Việt Nam về mặt kỹ thuật
Từ năm 1965 đến năm 1975, Liên Xô đã ký với Việt Nam 12 Hiệp định, trong đó có tới 7 Hiệp định về việc Liên Xô cam kết ―giúp đỡ thêm‖,
―viện trợ thêm không hoàn lại‖ cho Việt Nam, như: Hiệp định về việc Chính phủ Liên bang cộng hoà xã hội chủ nghĩa Xô Viết viện trợ thêm không hoàn lại về kinh tế cho Chính phủ nước Việt Nam dân chủ cộng hoà (ký ngày 10 tháng 7 năm 1965); Hiệp định giữa Chính phủ nước Việt Nam dân chủ Cộng hoà và Chính phủ Liên bang cộng hoà xã hội chủ nghĩa Xô Viết về việc giúp
đỡ thêm về kỹ thuật cho nước Việt Nam dân chủ cộng hoà (ký ngày 21 tháng
12 năm 1965); Hiệp định về việc Chính phủ Liên bang cộng hoà xã hội chủ
5
Gaiđuk V.I (1998), Liên bang Xô-viết và chiến tranh Việt Nam, Nxb Công an nhân dân,
Hà Nội, tr 125
Trang 25nghĩa Xô Viết viện trợ không hoàn lại về kinh tế cho Chính phủ nước Việt Nam dân chủ cộng hoà trong năm 1966 (ký ngày 21 tháng 12 năm 1965); Hiệp định về việc Chính phủ Liên bang cộng hoà xã hội chủ nghĩa Xô Viết viện trợ không hoàn lại cho Chính phủ nước Việt Nam dân chủ cộng hoà (ký ngày 25 tháng 11 năm 1968) Trên tinh thần các hiệp định đã ký kết, Liên Xô cho Việt Nam vay khoản tiền ưu đãi là 152 triệu rúp không phải trả lãi Năm
1973, Liên Xô đã xoá cho Việt Nam các khoản nợ cũ từ năm 1973 trở về trước (khoảng 1,3 tỷ rúp)
Trong khoảng 20 năm, từ tháng 7 năm 1955 đến hết năm 1975, Chính phủ Liên Xô đã ký với Chính phủ Việt Nam 19 Hiệp định, 1 Hiệp ước và 1 Nghị định thư Trong đó có trên 50% là hiệp định về việc Liên Xô viện trợ, giúp đỡ Việt Nam trên hầu hết các lĩnh vực, đặc biệt là trong lĩnh vực kinh tế, văn hoá
và khoa học, kỹ thuật Các hiệp định, hiệp ước và nghị định này là cơ sở pháp
lý để Chính phủ Liên Xô xúc tiến các hoạt động chi viện, giúp đỡ Việt Nam thực hiện các kế hoạch khôi phục kinh tế, phát triển văn hoá, tăng cường tiềm lực quốc phòng, đẩy mạnh cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước đi đến thắng lợi
1.2.2 Giai đoạn cuối 1975-1991
Năm 1975 là năm có ý nghĩa lịch sử trọng đại đối với nhân dân Việt Nam Cuộc đấu tranh giành độc lập, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ thu được thắng lợi trọn vẹn Sau chiến thắng mùa xuân 1975, Bí thư thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam Lê Duẩn đã dẫn đầu Đoàn đại biểu Đảng và Chính phủ đi thăm hữu nghị chính thức Liên Xô (từ 27 đến 31.10.1975) Một trong những sự kiện diễn ra sau đó chứng minh cho lời tuyên bố trên là hai nước đã kí ―Hiệp ước Hữu nghị và Hợp tác‖ vào ngày 03.11.1978 tại Moscow Bản hiệp ước gồm 9 điều khoản, có giá trị trong 25
Trang 26năm, là một ―văn kiện có ý nghĩa chính trị xuất sắc‖ (lời Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô L.I.Brejnev)6
Ngày 3 tháng 11 năm 1978, hai nước ký Hiệp ước hữu nghị và hợp tác toàn diện Xô - Việt Đây được coi là đỉnh cao của sự hợp tác Xô - Việt và đánh dấu một sự kiện quan trọng trong chính sách đối ngoại của Việt Nam Quan hệ hai nước phát triển về mọi mặt: quan hệ giữa hai Nhà nước, hai Đảng, quan hệ kinh tế thương mại, hợp tác về khoa học kỹ thuật, giáo dục đào tạo… Hiệp ước này, về sâu xa, nhằm bảo vệ cho Việt Nam với tư cách là đồng minh chiến lược của Liên Xô Cũng trong giai đoạn này hợp tác kinh tế
- thương mại - đầu tư giữa Việt Nam và Liên Xô không ngừng phát triển
Trong khi Việt Nam thực hiện các kế hoạch 5 năm (1976 - 1981), (1981
- 1985), Liên Xô đã viện trợ cho Việt Nam về nguồn vốn để phát triển nông nghiệp, xúc tiến công nghiệp hóa và tạo điều kiện cho Việt Nam xuất khẩu các sản phẩm nông sản nhiệt đới , hàng công nghiệp và thủy sản như gạo , cà phê, hồ tiêu, than đá, dầu khí, sắt, cá ngừ Trong khi đó Việt Nam nhập khẩu của Liên Xô các sản phẩm công nghiệp như máy móc , thiết bị dùng cho phát triển nông nghiệp và công nghiệp Trong giai đoạn này một loạt các công trình công nghiệp, nhà máy, xí nghiệp và hệ thống giao thông vận tải của Việt Nam cũng được xây dựng nhờ vào sự giúp đỡ của Liên Xô như: Thủy điện Hòa Bình, cầu Thăng Long , Cung Văn hóa hữu nghị Việt - Xô, bảo tàng Hồ Chí Minh và Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh , nhà máy xi măng Bỉm Sơn Nhiều
dự án khai thác dầu khí cũng được triển khai góp phần giúp Việt Nam phát triển được kinh tế , dần thoát khỏi nhữn g khủng hoảng về kinh tế sau chiến tranh Đặc biệt , Liên Xô đã nhận đào tạo hàng vạn cán bộ , sinh viên, công nhân quốc phòng, cán bộ kỹ thuật của Việt Nam Rất nhiều trong số họ hiện
đã trở thành những nhà lãnh đạo của chính trị , giáo dục, kinh tế hàng đầu của Việt Nam
6
Gaiđuk V.I (1998), Liên bang Xô-viết và chiến tranh Việt Nam, Nxb Công an nhân dân,
Hà Nội, tr 131
Trang 27Trên lĩnh vực kinh tế, quan hệ Việt - Xô giai đoạn 1975-1990 có quy
mô lớn hơn nhiều so với thời kỳ 1950-1975 Trao đổi hàng hóa tăng nhanh về
số lượng Trong những năm 1976-1980, xuất nhập khẩu giữa hai nước tăng 2,5 lần so với những năm 1971-1975 Tính đến năm 1982, kim ngạch xuất nhập khẩu tăng 60 lần so với năm 1958 Từ năm 1981 đến 1985, trao đổi hàng hóa theo hiệp định thương mại đạt 5400 triệu rúp, từ 1986 đến 1990 đạt
7800 triệu rúp Liên Xô cung cấp cho Việt Nam những mặt hàng thiết yếu đối với sản xuất và đời sống của nhân dân như: kim loại, sản phẩm dầu mỏ, phân bón, máy móc thiết bị và nhiều mặt hàng tiêu dùng khác Đổi lại, Việt Nam xuất sang Liên Xô một số khoáng sản, các sản phẩm nông nghiệp, hàng thủ công mỹ nghệ, hàng gia công…Bên cạnh hoạt động trao đổi hàng hóa, hai bên còn mở rộng và phát triển các hình thức hợp tác khác Ngày 19/6/1981, Việt Nam và Liên Xô ký hiệp định thành lập xí nghiệp liên doanh thăm dò và khai thác dầu khí ở thềm lục địa phía nam Việt Nam (Vietsopetro) Liên doanh này bắt đầu khai thác dầu từ năm 1986 Tháng 1/1985, hai bên ký hiệp định hợp tác sản xuất rau quả Ngoài ra, quan hệ trực tiếp giữa bạn hàng hai nước cũng được khuyến khích Năm 1989, kim ngạch trao đổi hàng hóa trực tiếp đạt khoảng 30 triệu rúp
Cũng theo đó , Việt Nam cho Liên Xô thuê cảng Cam Ranh trong 25 năm cho đến năm 2004 để làm căn cứ quân sự, trạm theo dõi trên biển, duy trì
sự có mặt chiến lược ở khu vực Đông Nam Á, đối trọng với các căn cứ quân
sự của Mỹ ở Philippin Đối với Việt Nam sự hiện diện của lực lượng hải quân Liên Xô trên lãnh thổ của mình giúp Việt Nam đảm bảo an ninh trên biển , chống lại những mối đe dọa quân sự từ Mỹ, Trung Quốc
Bước sang thập niên 80, quan hệ Việt Nam-Liên Xô vẫn diễn ra khá tốt đẹp Tuy nhiên, do sự khủng hoảng về kinh tế-xã hội cũng như sự điều chỉnh chính sách đối ngoại ở cả hai nước, mà trước hết là Liên Xô, từ giữa thập niên
80 trở đi, mối quan hệ hữu nghị này bắt đầu gặp phải những khó khăn, thử thách Liên Xô hướng đến việc cải thiện quan hệ với các nước lớn như Mỹ và
Trang 28Trung Quốc Đáng chú ý là Liên Xô đã có nhiều nhượng bộ đối với Mỹ và các nước phương Tây khác Tháng 12.1987, Tổng bí thư Đảng CS Liên Xô Gorbachev đã thăm Mỹ và ký hiệp định hủy bỏ vũ khí hạt nhân tầm trung Sau đó, Tổng thống Mỹ R.Regean cũng viếng thăm Liên Xô và ký một số thoả ước hợp tác (30/5-02/6/1988) Liên Xô cũng bình thường hóa quan hệ với Trung Quốc và Gorbachev đã viếng thăm chính thức nước này vào tháng 5-1989 Tháng 12 năm 1989, Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Liên Xô Gorbachev
và Tổng thống Mỹ G.Bush (cha) đã có cuộc gặp không chính thức ở đảo Malta Tại cuộc gặp, hai nhà lãnh đạo đã đạt được một số thoả thuận về vấn
đề giải trừ quân bị và tuyên bố chấm dứt tình trạng chiến tranh lạnh giữa hai nước Về phần mình, Việt Nam cũng cố gắng bình thường hoá quan hệ với các nước lớn như Mỹ và Trung Quốc, hướng đến cải thiện quan hệ với các nước ASEAN Tại ―Diễn đàn kinh tế thế giới‖ ở Davos-Thụy Sĩ (02.1990), Phó Chủ tịch HĐBT Võ Văn Kiệt tuyên bố ―Chúng tôi sẵn sàng bình thường hóa các mối quan hệ với Hoa Kỳ…thiết tha mong muốn nối lại quan hệ láng giềng…với Trung Quốc Chúng tôi mong muốn mở rộng mối quan hệ hợp tác với tất cả các nước trên thế giới…‖
Tóm lại, quan hệ Việt Nam - Liên Xô (1950 - 1991) có thể coi là hình mẫu của quan hệ quốc tế giữa các nước XHCN trong thế kỷ XX Đặc biệt trong hoàn cảnh Việt Nam gặp nhiều khó khăn, sự ủng hộ và giúp đỡ chí tình
và đầy hiệu quả về chính trị , kinh tế và quân sự của nhân dân Liên Xô dành cho nhân dân Việt Nam trong công cuộc đấu tranh giành độc lập , tự do và thống nhất đất nước đã góp phần quan trọng giúp nhân dân Việt Nam đi đến thắng lợi cuối cùng với Đại thắng mùa Xuân năm 1975 Trong công cuộc xây dựng lại đất nước sau chiến tranh, Việt Nam tiếp tục nhận được sự giúp đỡ to lớn và toàn diện của Liên Xô
Hàng chục ngàn cán bộ, chuyên gia Việt Nam được đào tạo tại Liên
Xô đã trở thành lực lượng nòng cốt trong công cuộc đổi mới của Việt Nam Với sự hỗ trợ của Liên Xô, các ngành chủ chốt của nền kinh tế quốc dân Việt
Trang 29Nam như năng lượng, công nghiệp, nông nghiệp, khoa học - kỹ thuật, văn hóa
- giáo dục đã được xây dựng và không ngừng phát triển, phục vụ đắc lực cho công cuộc kiến thiết đất nước
Bước vào những năm cuối của thập niên 80 do những sai lầm trong đường lối lãnh đạo của Gorbachev dẫn đến sự sụp đổ chế độ XHCN ở Liên
Xô Sự kiện này đã ảnh hưởng sâu sắc đến mối quan hệ hai nước Tuy vậy, mối quan hệ thủy chung nghĩa tình giữa Việt Nam và Liên Xô mãi mãi trong lòng nhân dân hai nước và là nền móng cho mối quan hệ Việt Nam - Liên bang Nga sau này
§1.3 Mô ̣t số kế thƣ̀a trong quan hê ̣ Liên bang Nga – Viê ̣t Nam
1.3.1 Vấn đề nơ ̣ viên trơ ̣
Năm 2001, Nga đã xóa 85% số nợ 11 tỷ đô la viện trợ cho miền Bắc Việt Nam trong cuộc Kháng chiến chống Mỹ cứu nước, 15% còn lại (1,65 tỷ
đô la) Việt Nam phải trả trong vòng 23 năm
Thời còn Liên Xô , Việt Nam được Liên Xô viện trợ rất nhiều về quân
sự nhưng lại phải vay tiền rúp của nước này theo một tỷ giá giả tạo , vì tiền đó chẳng thể được trao đổi tự do với các nền kinh tế khác Khi Liên xô tan rã, đồng rúp mất giá gấp ngàn lần mới rớt đến hối suất thực tế của nó, và Việt Nam bị kẹt, không biết phải trả Liên bang Nga kế tục Liên xô bao nhiêu tiền mới là đủ với các khoản nợ trời ơi của thời trước Vấn đề rắc rối đó làm vẩn đục quan hệ Nga-Việt từ nhiều năm nay
Hai nước đã ký kết thỏa thuận này nhân dịp Thủ tướng Phan Văn Khải của Hà Nội viếng thăm Liên bang Nga trong bốn ngày Và thỏa ước sẽ mở ra giai đoạn tốt đẹp hơn trong quan hệ đôi bên Cần nói rằng Nga đang cố tranh thủ lại ảnh hưởng quá sa sút của mình tại Đông Nam Á, và cử chỉ đẹp với Hà Nội lần này, có thể giúp cho mục tiêu đó Thủ tướng Nga Mikhail Kasyanov tóm tắt sự việc đó, bằng câu nói, là quan hệ đôi bên lại đang khởi sắc, dù tốc
độ có còn chậm
Trang 30Nhờ thỏa thuận này Việt Nam có thể đi vay thêm mà không làm các chủ nợ phân vân e sợ vì chẳng biết Việt Nam còn mắc nợ Liên bang Nga là bao nhiêu và bao giờ phải trả Khi được biết đôi bên đồng ý về ngạch số khoản nợ là một tỷ bảy, sẽ trả từng đợt trong 23 năm, người ta cũng tính ra hàng năm, bao nhiêu tiền là nợ đáo hạn
1.3.2 Vấn để lao động Việt Nam sang Liên Xô
Những năm 80 của thế kỷ XX do thiếu sức lao động, Liên Xô đã ký kết Hiệp định với Việt Nam đưa công nhận Việt Nam sang lao động Hiệp định giữa hai Chính phủ được ký kết 02.04.1981 mở đầu cho những làn sóng di dân lao động Việt Nam sang Liên Xô Theo Hiệp định này Liên Xô đã tiếp nhận 103 nghìn người sang 307 nhà máy thuộc 7 nước cộng hòa Liên Xô, chủ yếu Liên bang Nga (chiếm 83%) Ở riêng từng nhà máy người Việt Nam chiếm khoảng 10-15% số lượng công nhân7 Lợi ích của hình thức hợp tác nayy đối với Nga là khá rõ Thời kỳ đầu, chỉ có 4 bộ Liên Bang tiếp nhận công nhân Việt Nam, sau một thời gian ngắn đã có tới 30 bộ và nghành tiếp nhận Đào tạo được tiến hành theo 70 nghề nghiệp Khoảng 50% công dân Việt Nam làm việc ở nghành công nghiệp nhẹ và dệt may, 15% làm việc ở nghành chế tạo cơ khí, 16% - nghành xây dựng, những người còn lại làm việc trong những nhà máy than, hóa chất và các nghành khác Cơ cấu ngành và việc làm của người Việt Nam di cư khá ổn định trong suốt giai đoạn tuyển dụng họ ở Liên Xô Những trung tâm chính tuyển dụng lao động Việt Nam được học hình thành ở vùng Trung tâm, vùng Vôn-ga và Xi-bê-ri8
Từ năm 1991, do Liên Xô tan rã, phía Việt Nam ngừng gửi lao động di
cư mới Hợp đồng lao động kết thúc 4 năm đối với phụ nữ và 6 năm đối với nam giới có thể kéo dài thêm không quá một thời hạn, điều này đảm bảo quay vòng cán bộ Sau khi hết hạn làm việc và kết thúc học tập những người này
Trang 31trở về Việt Nam Vào năm 1991 Liên Xô có khoảng 150 nghìn người Việt Nam Khi Liên Xô tan rã những người này không có công việc và vốn liếng
để sinh sống Khác với Cộng hòa dân chủ Đức, Liên bang Nga không mua vé cho họ và giúp họ trở về, cho dù nhiều người không đăng ký lại, và sinh sống bất hợp pháp ở Nga và buộc phải ra chợ buôn bán Đến đầu năm 1996 người cuối cùng Việt Nam sang làm việc ở các nhà máy đã hết hạn thời gian cư trú,
và ở các nhà máy Nga không còn công nhân Việt Nam nữa Cả hai chính phủ Nga và Việt Nam đã không thực hiện cam kết trả tiền vé cho những người làm việc trở về (hầu hết các nhà máy không có tiền mua vé máy bay về Việt Nam và không có hình phạt nào đối với lãnh đạo các nhà máy này)
Có khoảng 81 nghìn người trở về nước về hình thức, thực tế thi nhiều người trong số họ đã ở lại Nga bắt hợp pháp Có thể ước lượng số người không trở về là 10-15 nghìn người
Hiệp định thứ nhất về lao động tạm thời của công dân Việt Nam ở Nga và công dân Nga ở Việt Nam Hiệp định này lần đầu tiên thể chế hóa rõ ràng vấn
đề thu hút lao động di cư, đảm bảo quyền hạn và tự do của họ Ngoài ra, cùng với Hiệp định này còn ký kết Nghị định thư cho phép điều chỉnh quy chế người Việt Nam di cư sang lãnh thổ Nga sau khi Liên Xô tan rã, mà đã lâu không có quy chế chính thức Trong Nghị định thư đưa ra 3 điều kiện: công dân Việt Nam đến Liên Xô làm việc theo Hiệp định 02.04.1981 có thể tiếp tục lao động ở Nga Họ cần nhận giấy phép làm việc ở Nga, đăng ký di dân theo luật pháp Nga, đăng ký ở Đại sứ quán Việt Nam
Hiệp định liên Chính phủ lần thứ hai được ký kết ngày 29.09.1992 về nguyên tắc gửi và tiếp nhận công dân Việt Nam sang làm việc ở Nga Thực chất Hiệp định không được thì hành do những thay đổi cơ cấu trong nền kinh
tế Nga, tái tổ chức lại các bộ và ngành Việt Nam chỉ gửi 1,3 nghìn công nhân sang Nga theo Hiệp định này và từ năm 1994 Việt Nam ngừng gửi công nhân sang Nga Công nhân Việt Nam cần kí kết hợp đồng lao động với các chủ nhà máy với khối lượng công việc được Bộ quản lý liên bang và các dân tộc cho
Trang 32phép (hiện nay Bộ này không còn ở Nga) Tuy vậy, trong điều kiện thay đổi của nền kinh tế, nhiều nhà máy nơi có công nhân Việt Nam đến làm việc đã đóng cửa Nhiều người lao động di cư đăng ký hộ khẩu với mục đích làm thẻ
để hợp pháp hóa cư trú Do không có việc làm trong nhà máy công nghiệp, nhiều người Việt Nam đã làm thương mại, kinh doanh Trong Hiệp định này thể hiện mong muốn của Liên bang Nga và Việt Nam thực hiện biện pháp ngăn chặn di dân bắt hợp pháp Một phần di dân từ Việt Nam là bất hợp pháp
Vì vậy, rất quan trọng trong vấn đề này là Nga thành công thuyết phục chính quyền Việt Nam không chỉ có trách nhiệm trong việc phối hợp hành động chống di dân bất hợp pháp, mà còn áp dụng những biện pháp ngăn chặn những dòng di cư này
Hiệp định liên chính phủ lần thứ ba được ký kết ngày 18.08.2003 về hoạt động lao động tạm thời của công dân Việt Nam ở Nga Nhược điểm chính của Hiệp định này là không nêu lên số lượng người tiếp nhận Hiệp định này thừa nhận sự cư trú hợp pháp của công dân Việt Nam sang theo Hiệp định ký ngày 02.04.1981 với điều kiện họ đăng ký ở Đại sứ quán Việt Nam và nhận giấy phép làm việc ở Nga Phần quan trọng của Hiệp định là quy định cho công dân Việt Nam tự tìm việc trên lãnh thổ Nga Hiệp định thứ ba - Hiệp định về chuyển giao cho cơ quan thẩm quyền của quốc gia những người di cư đang ở trên lãnh thổ của quốc gia khác mà vi phạm pháp luật Văn kiện này cho phép giải quyết các vấn đề liên quan đến người di cư xuất cảnh bất hợp pháp qua lãnh thổ Nga sang các quốc gia tây Âu Hướng này của chính sách di cư này
có thể gọi là ―đột phá‖ trong quan hệ di cư Việt Nam - Nga
1.3.3 Liên doanh dầu khi ́ Viê ̣t – Xô
Liên doanh Việt – Nga Vietsovpetro (trước đây là Xí nghiê ̣p Liên doanh dầu khí Viê ̣t – Xô, gọi tắt là Vietsovpetro) được thành lập năm 1981 trên cơ
sở Hiệp định Liên Chính phủ giữa Việt Nam và Liên Xô về hợp tác thăm dò địa chất và khai thác dầu khí ở thềm lục địa phía Nam Việt Nam Từ năm
1993, Liên bang Nga tiếp nhận nghĩa vụ và quyền lợi của Liên Xô trong Liên
Trang 33doanh Hiện nay, Vietsovpetro đang hoạt động theo Hiệp định Liên Chính phủ Việt Nam và Liên bang Nga ký ngày 27/12/2010 về tiếp tục hợp tác trong lĩnh vực thăm dò địa chất và khai thác dầu khí tại thềm lục địa Việt Nam Lĩnh vực hoạt động chính của Vietsovpetro là nghiên cứu khoa học, khảo sát, khoan thăm dò địa chất, thiết kế phát triển xây dựng mỏ, khai thác dầu và khí, thu gom xử lý dầu, khí và condensate tại Lô 09-1 Những năm gần đây, Vietsovpetro đã mở rộng hoạt động tìm kiếm, thăm dò và khai thác dầu khí ra một số lô khác ở thềm lục địa Việt Nam đạt được một số kết quả quan tro ̣ng Ngoài ra, Vietsovpetro đã và đang đẩy ma ̣nh viê ̣c cung cấp các dịch vụ dầu khí cho các đối tác ở Việt Nam và trong khu vực
Sau 37 năm xây dựng và phát triển, đến nay Vietsovpetro có cơ cấu tổ chức gồm Bộ máy điều hành với 18 phòng ban chức năng , 16 đơn vị thành viên và một số ban quản lý dự án với đội ngũ lao động quốc tế gồm hơn năm nghìn cán bộ khoa học , kỹ thuật, quản lý và công nhân có trình độ chuyên môn cao, đủ năng lực thực hiện hầu hết các khâu phục vụ tìm kiếm thăm dò
và khai thác dầu khí cho không chỉ Vietsovpetro mà còn cho các đối tác hoạt động trong lĩnh vực tìm kiếm, thăm dò và khai thác dầu khí
Đến nay, Vietsovpetro đã khai thác trên 229 triệu tấn dầu thô từ Lô
09-1, thu gom và vận chuyển về bờ trên 33 tỷ mét khối khí đồng hành, doanh thu bán dầu đạt gần 78 tỷ USD, nộp Ngân sách Nhà nước và lợi nhuận phía Việt Nam trên 48 tỷ USD, lợi nhuận phía Liên bang Nga trên 11 tỷ USD9
Vietsovpetro đến nay là Liên doanh hoạt động hiệu quả nhất trong tìm kiếm thăm dò và khai thác dầu khí, có đóng góp to lớn cho nền kinh tế Việt Nam, góp phần củng cố mối quan hệ hữu nghị truyền thống và đối tác chiến lược toàn diện giữa Việt Nam và Liên bang Nga, đã được Nhà nước Việt Nam hai lần phong tặng danh hiệu Anh hùng Lao động thời kỳ Đổi Mới, được tặng thưởng Huân chương Hồ Chí Minh và Huân chương Sao Vàng
9
Vietsovpetro: Thành tựu 37 năm xây dựng và phát triển
http://nangluongvietnam.vn
Trang 341.3.4 Quân cảng Cam Ranh
Sau khi hai miền Bắc Nam thống nhất thì cảng Cam Ranh được dùng làm căn cứ hải quân quan trọng của Hạm đội Thái Bình Dương của Liên Xô trong bối cảnh Chiến tranh lạnh giữa khối Liên Xô và Hoa Kỳ Chính phủ Liên Xô chính thức ký năm 1978 một thỏa thuận với Việt Nam để thuê hải cảng này trong thời gian 25 năm Căn cứ này đã trở thành căn cứ quân sự lớn nhất của Liên Xô bên ngoài biên giới của mình Sau khi Liên Xô tan rã, chính phủ Nga nhận kế thừa hợp đồng đó cho tới năm 1993 Một hiệp định mới cho phép Nga tiếp tục có mặt tại Cam Ranh nhưng chủ đích căn cứ này chuyển sang làm nơi thám thính, theo dõi hoạt động của Trung Quốc còn các chiến cụ
và quân nhân được rút về Nga Còn lại là nhân viên kỹ thuật tình báo
Trong cuộc điều đình kéo dài thời hạn thuê quân cảng Cam Ranh thì Việt Nam đòi Nga phải trả tiền thuê hằng năm là 200 triệu Mỹ kim Chính phủ Nga không chịu điều khoản này nên ngày 2 tháng 5 năm 2002, lá cờ Nga được hạ xuống lần cuối cùng tại căn cứ Cam Ranh Trong năm 2014, với sự cho phép rõ ràng từ phía Việt Nam, máy bay tiếp dầu Nga bắt đầu hoạt động
từ Cam Ranh Nhiệm vụ của chúng là tiếp dầu cho các máy bay ném bom chiến lược có khả năng mang vũ khí hạt nhân đang thực hiện các chuyến tuần tra mở rộng trên Thái Bình Dương
Tiêu kết
Trong chương I, tôi đã nói về li ̣ch sử quan hê ̣ Viê ̣t Nam – Liên Xô ngày trước: Bối cảnh quốc tế và sự kiê ̣n quan tro ̣ng nhất của đầu thâ ̣ p kỳ 1990 để chúng ta hiểu biểt rõ hơn tình hình quốc tế trong đó sự thành lập của quan hệ mới đã phát hiê ̣n ; Sơ lược quan hê ̣ Viê ̣t Nam – Liên Xô, để rõ ràng ra lịch sử phát triển quan hệ trước giai đoạn 1991-2016; các hiệp ước, hiê ̣p đi ̣nh Viê ̣t Nam – Liên Xô xác đi ̣nh nền quan hê ̣ hai nước đã sử du ̣ng để thành lâ ̣p quan
hê ̣ mới này, cuô ̣c viếng thăm lãnh đa ̣o cấp cao của hai bên v.v
Lịch sử cho thấy mối quan hệ giữa Việt Nam với Liên Xô trước đây, và với Liên bang Nga ngày nay luôn nồng ấm, tin cậy, vượt qua mọi thử thách
Trang 35của thời gian và sự biến động của lịch sử.Quan hệ Việt-Nga được xây dựng và phát triển trên nền tảng của tình hữu nghị gắn bó giữa hai dân tộc và đã được kiểm chứng bởi thời gian Tiếp tục củng cố, phát triển quan hệ hữu nghị truyền thống, sự hợp tác nhiều mặt giữa Việt Nam và Liên bang Nga trên tinh thần đối tác chiến lược, không chỉ vì lợi ích của nhân dân hai nước mà còn góp phần vì hòa bình, ổn định, hợp tác, phát triển ở khu vực và trên thế giới
Trang 36Chương II QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN CỦA QUAN HỆ
LIÊN BANG NGA – VIỆT NAM
Trong chương này chúng ta sẽ xem xét các mốc chốt quan trọng trong quan hệ giữa hai nước.Vị trí của hai nước trong tình hình chính trị toàn cầu nói chung và khu vực nói riêng, sự quan trọng của quan hệ hữu nghị hai nước trong bối cảnh chính trị hiện nay, tinh thần hỗ trợ và giúp đỡ lẫn nhau trong việc phát triển các lĩnh vực mà nước bạn còn đang yếu và chung nhau luôn củng cố và phát triển quan hệ hữu nghị giữa hai nước Đầu tiên hãy xem xét quan hệ trong lĩnh vực chính trị
§2.1 Quan hệ trong lĩnh vực chính trị - ngoại giao
Cuô ̣c tan rã của Liên Xô vào năm 1991 có nghĩa là một chủ thể trong quan hệ quốc tế đã biến mất và Hiệp ước hữu nghị và hợp tác giữa Việt Nam với Liên xô ký ngày 03.11.1978 có thời hạn hiệu lực 25 năm cũng không còn giá trị nữa Vậy hai nước tiếp tục duy trì quan hệ với nhau như thế nào, trên
cơ sở gì và dựa theo những nguyên tắc nào
16.06.1994 hai bên Việt Nam và Liên bang Nga ký kết Hiệp định về
các cơ sở quan hệ hữu nghị giữa nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Liên bang Nga Nền của bản Hiệp định về các cơ sở quan hệ hữu
nghị giữa nước CHXHCN Việt Nam và Liên bang Nga là các nguyên tắc như sau:
- Tôn trọng độc lập chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của nhau,
- Không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau,
- Hữu nghị hợp tác bình đẳng và cùng có lợi
Đó là cơ sở bền vững, lâu dài, là nền tảng của mọi sự hợp tác,những nguyên tắc pháp lý làm cơ sở vững chắc, ổn định, lâu dài cho quan hệ hai nước Những nguyên tắc đó chẳng những được công nhận rộng rãi giữa các quốc gia trong cộng đồng quốc tế mà còn được ghi nhận trong Hiến chương
Trang 37Liên Hợp Quốc Hai nước Việt Nam - Liên bang Nga sau khi ký Hiệp định về các cơ sở quan hệ hữu nghị với nhau đã có điều kiện phục hồi và phát triển quan hệ từng bước Các chuyến thăm hữu nghị, thăm làm việc, các chuyến đi nghiên cứu ở các cấp giữa hai nước lại được khởi động Các kỳ họp của Uỷ ban Liên chính phủ về hợp tác kinh tế - thương mại, khoa học kỹ thuật lại được tiến hành Các nhà lãnh đạo Nga thuộc các cơ quan lập pháp và hành pháp lần lượt sang thăm Việt Nam như chủ tịch Duma Nga (thăm Việt Nam đầu năm 1997); phó Thủ tướng, Thủ tướng Nga (thăm Việt Nam cuối năm 1997) Quan hệ thương mại giữa hai nước bước đầu được khởi sắc
Đỉnh cao của sự phát triển quan hệ hai nước ở giai đoạn những năm 90
là chuyến thăm chính thức Liên bang Nga của Chủ tịch nước Trần Đức Lương tháng 08.1998 Hai bên đã ký Tuyên bố chung và mô ̣t số Hiệp định quan trọng khác trên nhiều lãnh vực Lần đầu tiên, Tổng thống Nga Boris Yeltsin khẳng định Nga coi Việt Nam là đối tác chiến lược ở Đông Nam Á
Năm 2001, Tổng thống Putin thăm Việt Nam lần đầu tiên Tuyên bố
chung về quan hệ đối tác chiến lƣợc Việt Nam - Liên bang Nga ra đời.Hai
người lãnh đạo cao nhất của hai nước tuyên bố:
- Việc phát triển mối quan hệ trên tất cả các mặt với Việt Nam được chúng tôi coi là một trong những hướng ưu tiên trong chính sách đối ngoại của Liên bang Nga ở châu Á
- Việt Nam coi việc củng cố và tăng cường quan hệ hữu nghị truyền thống với Liên bang Nga là định hướng chiến lược lâu dài
- Nga và Việt Nam ―đang phối hợp hành động trên tất cả các hướng then chốt: chính trị, kinh tế, quân sự, khoa học kỹ thuật văn hoá‖
- Cả hai nước đều nhận thức và coi trọng việc phát triển quan hệ kinh tế thương mại, khoa học kỹ thuật và đầu tư trong việc thúc đẩy quan hệ Việt Nga, cố gắng tìm ra các biện pháp đa dạng để dẩy mạnh việc trao đổi hàng hoá, nhằm tăng kim ngạch buôn bán lên cao hơn nữa Nhà nước sẽ hỗ trợ các doanh nghiệp hai nước, các tỉnh của Việt Nam và các chủ thể của Liên bang
Trang 38Nga để thúc đẩy việc buôn bán và sự hợp tác về kinh tế kỹ thuật văn hoá giữa hai bên Hai nước cũng sẽ tăng cường hợp tác về trang bị quốc phòng phù hợp với yêu cầu an ninh của Việt Nam và Liên bang Nga và không nhằm chống lại nước thứ ba
- Trên bình diện khu vực châu Á – Thái Bình Dương và Đông Nam Á các vấn
đề như bảo đảm an ninh và củng cố lòng tin, hiệp ước về khu vực Đông Nam Á không có vũ khí hạt nhân, các diễn đàn ASEAN, APEC, ARF, ASEM, chương trình hành động Hà Nội tại hội nghị cấp cao ASEAN 06.12.1998, vấn
đề bán đảo Triều Tiên…vv quan điểm của Nga cũng tương đồng, trùng hợp với Việt Nam, Nga ủng hộ, tham gia hợp tác nhất là các dự án trong lãnh vực khoa học công nghệ, giao thông vận tải, năng lượng và khai thác dầu
Trên bình diện song phương cũng như bình diện quốc tế, trên các vấn
đề có tầm chiến lược, Việt Nam và Liên bang Nga đang phát triển hợp tác tốt đẹp, đúng như tổng thống Putin nhận định: ―Nga và Việt Nam đang phối hợp hành động trên tất cả các hướng then chốt‖
Tháng 9 năm 2007, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng thăm Liên bang Nga vừa trên cương vị Thủ tướng nước CHXHCN Việt Nam Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng và Thủ tướng Fradkov đã hội đàm về những vấn đề quan trọng trong quan hệ song phương, khu vực và quốc tế Hai thủ tướng đã chứng kiến
lễ ký kết giữa Bộ Công thương Việt Nam và Bộ Công nghiệp Liên bang Nga
về Nghị định thư bổ sung Hiệp định liên chính phủ về xí nghiệp liên doanh Vietxopetro ký năm 1991; Bộ Ngoại giao Việt Nam ký với Bộ Ngoại giao Liên bang Nga về kế hoạch hợp tác năm 2007-2008; Petro Việt Nam và Zarubezhneft ký thoả thuận về lập liên doanh thăm dò và khai thác dầu khí ở Liên bang Nga và ở các nước thứ ba Ngoài ra các cơ quan hữu quan hai nước đang soạn thảo các chương trình hành động chung để tiếp tục triển khai quan
hệ đối tác chiến lược trên các lãnh vực cụ thể khác cho tương xứng với quan
hệ hữu nghị truyền thống và tiềm năng hai nước
Trang 39Nhận lời mời của Tổng thống Liên bang Nga Vladimir Putin, Chủ tịch nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam Trương Tấn Sang thăm chính thức Liên bang Nga từ ngày 26 đến ngày 30.07.2012 Ngày 28.07 hai bên đã
ký Tuyên bố chung về tăng cường quan hệ đối tác chiến lược toàn diện
Nguyên thủ hai nước ủng hộ đẩy nhanh việc tìm kiếm và cụ thể hóa các khả năng mới về chất nhằm thúc đẩy thương mại hai chiều, bao gồm thông qua biện pháp đa dạng hóa và tự do hóa thương mại, thúc đẩy hợp tác giữa các tổ chức tài chính và ngân hàng hai nước, mở rộng hợp tác đầu tư và tín dụng, cũng như quy mô hợp tác trong các lĩnh vực khai thác và chế biến khoáng sản, chế tạo máy, nhiên liệu, năng lượng và các lĩnh vực khác Hai bên khẳng định mục tiêu nâng kim ngạch thương mại hai chiều lên 5 tỷ USD vào năm 2015 Nhằm đạt được mục tiêu trên, hai bên cho rằng cần tăng cường quan hệ kinh tế - thương mại giữa Việt Nam và các nước thành viên Liên minh thuế quan (Liên bang Nga, Cộng hòa Belarus, Cộng hòa Kazhakhstan) Hai bên khẳng định đẩy nhanh việc xây dựng hình thức hợp tác tối ưu, bảo đảm được lợi ích của tất cả các bên tham gia, trong đó có tính đến Báo cáo tổng kết của Nhóm nghiên cứu khả thi về ký kết Hiệp định mậu dịch tự do giữa Việt Nam và Liên minh thuế quan Hai bên đánh giá cao kết quả hoạt động của các doanh nghiệp và công ty liên doanh dầu khí hai nước.Việt Nam
và Liên bang Nga khẳng định sẽ tiếp tục tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động của các doanh nghiệp và công ty liên doanh Việt - Nga, như Liên doanh
―Rusvietpetro‖, ―Vietsovpetro‖, ―Gazpromviet‖ và ―Vietgazprom‖, ―TNK-BP Management‖, ―Lukoil Overseas‖, mở rộng các khu vực thăm dò và khai thác dầu khí ở Việt Nam, Nga và các nước thứ ba Hai bên ghi nhận rằng hợp tác
kỹ thuật quân sự và quan hệ đối tác trong lĩnh vực quốc phòng - an ninh không ngừng phát triển, phù hợp với các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế và góp phần cùng nhau đối phó với các thách thức và nguy cơ an ninh mới, vì hòa bình, ổn định và phát triển bền vững ở khu vực châu Á-Thái Bình Dương Hai bên khẳng định cần thiết mở rộng hợp tác trong các lĩnh vực khoa
Trang 40học - công nghệ, giáo dục - đào tạo, tính đến nhu cầu ngày càng lớn của Việt Nam về chuyên gia trình độ cao phục vụ cho các ngành công nghệ cao của nền kinh tế, trong đó có năng lượng hạt nhân Trên tinh thần đó, hai bên chú trọng sớm thành lập Trường Đại học Công nghệ Việt - Nga tại Hà Nội, duy trì
và nâng cao hiệu quả hoạt động của Trung tâm khoa học công nghệ và nghiên cứu nhiệt đới Việt - Nga
Hiệp định thương mại tự do giữa Việt Nam và Liên minh Kinh tế Á
- Âu (bao gồm: Nga, Belarus, Kazakhstan, Armenia và Kyrgyzstan) đã được
hai Bên khởi động từ tháng 3 năm 2013 Qua 2 năm đàm phán với 8 phiên chính thức và nhiều phiên họp giữa kỳ, ngày 29 tháng 5 năm 2015 Thủ tướng Chính phủ các nước đã chính thức ký Hiệp định này tại Burabay, Kazakhstan Sau khi Hiệp định được ký kết, Việt Nam đã khẩn trương triển khai thủ tục phê duyệt nội bộ Ngày 19 tháng 8 năm 2015 Chủ tịch nước Trương Tấn Sang
đã ký Quyết định số 1805/QĐ-CTN về việc phê chuẩn Hiệp định Ngày 12 tháng 8 năm 2016, sau khi Ủy ban Kinh tế Á - Âu có công hàm về việc các nước thành viên Liên minh đã hoàn tất việc phê chuẩn Hiệp định, Bộ Ngoại giao Việt Nam đã trao đổi công hàm với Ủy ban Kinh tế Á - Âu về ngày hiệu lực theo đó thống nhất Hiệp định Viet Nam - EAEU FTA chính thức có hiệu lực từ ngày 05 tháng 10 năm 2016
Kể từ sau năm 1991, LB Nga và Việt Nam đã ký hơn 80 thỏa thuận hợp tác ,
mô ̣t số quan tro ̣ng nhất chúng tôi được đề câ ̣p tren đây Hợp tác nghị viện giữa hai nước cũng phát triển mạnh mẽ Lãnh đạo cấp cao thường xuyên trao đổi chuyến thăm lẫn nhau Trình bày dưới đây là danh sách cuộc thăm chính thức của lãnh đạo cấp cao hai nước:
Lãnh đạo cấp cao Việt Nam thăm Nga
- Chuyến thăm chính thức củ a Chủ tịch nước Trần Đức Lương (08.1998) Hai bên đã ký Tuyên bố chung và một số Hiệp định quan trọng khác trên nhiều lãnh vực