Tình hình nghiên cứu của đề tài Trên thế giới, việc nghiên cứu về vấn đề người bị thiệt hại nạn nhân, bị hại… trong tố tụng hình sự được các nhà khoa học quan tâm nhiều hơn kể từ khi Đạ
Trang 1QUYỀN CỦA BỊ HẠI: NGHIÊN CỨU SO SÁNH PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ LIÊN BANG NGA
VÀ KINH NGHIỆM CHO VIỆT NAM
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn thạc sỹ luật học với đề tài “Quyền của bị hại: Nghiên
cứu so sánh pháp luật tố tụng hình sự Liên Bang Nga và kinh nghiệm cho Việt Nam” là công trình nghiên cứu của riêng tôi, dưới sự định hướng và hướng dẫn của
Tiến sĩ Lê Nguyên Thanh – Giảng viên Khoa luật hình sự Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh Nội dung luận văn có tham khảo và sử dụng các tài liệu, thông tin được đăng trong các sách, tạp chí, website theo danh mục tài liệu tham khảo của khóa luận
Tác giả
Đỗ Cao Ngọc Hân
Trang 4MỤC LỤC PHẦN MỞ ĐẦU 1 CHƯƠNG I LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUYỀN CỦA BỊ HẠI VÀ NHU CẦU SO SÁNH VỚI LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ LIÊN BANG NGA 6 1.1 Cơ sở xây dựng hệ thống quyền của bị hại trong tố tụng hình sự 6
1.1.1 Vị trí, vai trò, chức năng của bị hại trong tố tụng hình sự 6 1.1.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến việc quy định về bị hại, quyền của bị hại trong pháp luật tố tụng hình sự của Việt Nam 8
1.1.2.1.Khía cạnh lịch sử pháp luật 8 1.1.2.2.Truyền thống pháp luật 11
1.1.3 Thực tiễn tham gia tố tụng của bị hại và giải quyết các yêu cầu của bị hại 13
1.2 Nhu cầu so sánh luật về quyền của bị hại với luật tố tụng hình sự của Liên Bang Nga 14
1.2.1 Khía cạnh hợp tác quốc tế về xây dựng pháp luật và truyền thống hợp tác với Liên Bang Nga trong lĩnh vực lập pháp 14 1.2.2 Sự tương đồng và khác biệt của tố tụng hình sự nói chung và chủ thể bị hại nói riêng của Việt Nam và Liên Bang Nga 16 1.2.3 Những kinh nghiệm lập pháp có thể đem lại ở góc độ so sánh luật 17
TIỂU KẾT CHƯƠNG I 19 CHƯƠNG II SO SÁNH QUYỀN CỦA BỊ HẠI GIỮA PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM VÀ PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ LIÊN BANG NGA 20 2.1 Nhóm quyền có tính chất buộc tội 20
2.1.1 Quyền yêu cầu khởi tố vụ án hình sự đối với những vụ án được khởi tố theo yêu cầu của bị hại 20 2.1.2 Quyền có tính chất buộc tội đối với những vụ án được khởi tố không phụ thuộc yêu cầu của bị hại 31
2.1.2.1.Quyền cung cấp chứng cứ có nội dung buộc tội 31 2.1.2.2.Quyền đề nghị xét hỏi, trình bày ý kiến, tranh luận có nội dung buộc tội tại phiên tòa 34 2.1.2.3.Quyền kháng cáo phần trách nhiệm hình sự đối với bị cáo 38
2.2 Quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại 40
Trang 52.3 Quyền được bảo đảm giải quyết vụ án vô tư, khách quan, công bằng, tôn
trọng danh dự, nhân phẩm, đối xử tế nhị, riêng tư, an toàn 44
2.3.1 Quyền được tham gia phiên tòa 44
2.3.2 Quyền có người đại diện hợp pháp tham gia tố tụng 45
2.3.3 Quyền đề nghị thay đổi người có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người giám định, người định giá tài sản, người phiên dịch, người dịch thuật 47
2.3.4 Quyền được thông tin 48
2.3.4.1.Quyền được thông báo, giải thích về quyền và nghĩa vụ của bị hại 49
2.3.4.2.Quyền được thông báo về thời gian, tiến trình và cách thức giải quyết các vấn đề của vụ án 49
2.3.5 Quyền khiếu nại, tố cáo quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng 52
2.3.6 Quyền được tôn trọng danh dự, nhân phẩm, đối xử công bằng, tế nhị, riêng tư 53
2.3.7 Quyền tự bảo vệ hoặc có người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp; quyền đề nghị bảo vệ tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tài sản, người thân thích 56 2.3.7.1.Quyền tự bảo vệ hoặc có người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp 56
2.3.7.2.Quyền đề nghị bảo vệ tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tài sản, người thân thích 58
TIỂU KẾT CHƯƠNG II 60
CHƯƠNG III NHỮNG KIẾN NGHỊ NHẰM HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM VỀ QUYỀN CỦA BỊ HẠI NHÌN Ở GÓC ĐỘ SO SÁNH LUẬT VỚI LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ LIÊN BANG NGA 61
3.1 Về vị trí pháp lý của bị hại trong hệ thống các chủ thể 61
3.2 Kiến nghị về các quyền cụ thể của bị hại 64
TIỂU KẾT CHƯƠNG 3 75
KẾT LUẬN 76 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 6PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Chủ thể trong quan hệ pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam được chia thành hai nhóm gồm cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng Xuất phát từ mục đích đấu tranh phòng, chống tội phạm mà các bộ luật tố tụng hình
sự trước đây có xu hướng quy định rõ về quyền của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng trong khi các quy định về quyền của người tham gia tố tụng vẫn chưa hoàn thiện Một trong những quan hệ được luật tố tụng hình sự điều chỉnh là quan hệ giữa Nhà nước – chủ thể mang quyền lực công với đầy đủ lực lượng, công
cụ để thực thi quyền lực đó và trấn áp, cưỡng chế khi cần thiết với một bên là cá nhân thì quyền con người đặc biệt dễ bị vi phạm, điển hình là người bị buộc tội Do đó, quyền của người bị buộc tội được các nhà lập pháp đặc biệt quan tâm Trong đó, người bị thiệt hại cũng là chủ thể cần được quan tâm đúng mực, bởi hơn ai hết họ là người bị thiệt hại về tính mạng, tinh thần, tài sản, các quyền, lợi ích hợp pháp khác
do tội phạm gây ra nhưng dường như lại “bị bỏ quên” trong TTHS1 Bị hại và người thân thích của họ đôi khi phải trải qua quá trình tâm lý phức tạp, chịu nhiều tổn thương, mất mát Thiệt hại của bị hại đôi khi không thể tính bằng vật chất mà còn ảnh hưởng đến cuộc đời, tương lai của họ, ví dụ như bị hại là người chưa thành niên Vì vậy, quyền của bị hại cần được quy định đầy đủ nhất trên cơ sở phù hợp với điều kiện thực tế của mỗi quốc gia bởi đó là những gì bị hại xứng đáng được hưởng Việc quy định đầy đủ và có cơ chế để đảm bảo các quyền của bị hại được thực hiện thực tế chính là để bù đắp, xoa dịu nỗi đau, mất mát mà bị hại phải gánh chịu Tuy nhiên, chế định bị hại trong các Bộ luật tố tụng hình sự của nước ta từ trước đến nay chưa thực
sự được quan tâm đúng mực và thể hiện hết tinh thần cải cách tư pháp hình sự trên thế giới về vấn đề bị hại
Ngoài quy định pháp luật, thực tiễn giải quyết vụ án hình sự cũng cho thấy tình trạng vi phạm quyền của bị hại vẫn còn phổ biến Điển hình như nhiều cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng chưa xem bị hại là một bên trong quá trình tranh tụng;
bị hại không được thông báo về người có thẩm quyền tiến hành tố tụng; không có cơ hội trình bày ý kiến, tranh luận tại phiên tòa; không được thông báo về diễn biến, kết
1 Lê Nguyên Thanh (2012), Người bị thiệt hại do tội phạm gây ra trong tố tụng hình sự Việt Nam, Luận án tiến
sĩ luật học, trang 2
Trang 7quả giải quyết vụ án hình sự; bị hại bị đe dọa tính mạng nhưng không được bảo vệ kịp thời; các yêu cầu bồi thường được giải quyết chưa hợp lý…
Hiện nay, cải cách địa vị pháp lý của bị hại là một vấn đề quan trọng trong cải cách tư pháp hình sự trên thế giới Pháp luật của các nước đang tiến tới xu hướng sửa đổi các quy định về bị hại để khẳng định vai trò quan trọng của bị hại trong giải quyết
vụ án hình sự, mở rộng phạm vi quyền của bị hại cũng như đảm bảo cơ chế để thực thi các quyền đó trên thực tế Sau khi trở thành thành viên của Liên Hợp Quốc, Việt Nam tham gia hầu hết các điều ước quốc tế về quyền con người như Công ước quốc
tế về Quyền dân sự và chính trị năm 1966, Công ước về Quyền trẻ em năm 1989…
Vì vậy, nghiên cứu pháp luật của các quốc gia về quyền con người nói chung và quyền của bị hại nói riêng, đặc biệt là những quốc gia có đặc điểm, truyền thống pháp luật gần gũi với Việt Nam như Liên Bang Nga để đúc kết những kinh nghiệm nhằm hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự trong nước trên cơ sở có chọn lọc, giúp pháp luật
tố tụng hình sự của Việt Nam bắt kịp xu hướng cải cách tư pháp hình sự trên thế giới, góp phần bảo vệ quyền con người là việc làm cần thiết
Từ các lý do trên, tác giả lựa chọn đề tài: “Quyền của bị hại: Nghiên cứu so
sánh pháp luật tố tụng hình sự Liên Bang Nga và kinh nghiệm cho Việt Nam” làm
luận văn thạc sỹ luật học, chuyên ngành Luật Hình sự và Tố tụng Hình sự của mình
2 Tình hình nghiên cứu của đề tài
Trên thế giới, việc nghiên cứu về vấn đề người bị thiệt hại (nạn nhân, bị hại…) trong tố tụng hình sự được các nhà khoa học quan tâm nhiều hơn kể từ khi Đại hội đồng Liên Hợp Quốc ban hành “Tuyên bố những nguyên tắc cơ bản về tư pháp hình
sự đối với nạn nhân của tội phạm và nạn nhân của lạm dụng quyền lực” năm 1985 Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu về bị hại trên thế giới vẫn còn hạn chế hơn nhiều so với các vấn đề khác trong tố tụng hình sự, đặc biệt là người bị buộc tội
Ở Việt Nam, các công trình nghiên cứu về bị hại và quyền của bị hại còn khá ít, chủ yếu là khóa luận tốt nghiệp, luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ và những bài viết đăng trên các tạp chí chuyên ngành gồm Tạp chí Kiểm sát, Tạp chí Khoa học pháp
lý, Tạp chí Luật học… Có thể kể đến một số công trình tiêu biểu như “Người bị hại hay là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án” của tác giả Nguyễn Quang Lộc (Tạp chí Tòa án nhân dân, số 11, 2002), “Chức năng buộc tội và hoạt động thực hiện chức năng buộc tội của người bị hại” của tác giả Lương Thị Thùy Dương (Luận văn thạc sĩ luật học, 2004), “Một số vấn đề người bị hại, nguyên đơn dân sự trong
Trang 8Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003” của tác giả Trần Quang Tiệp (Tạp chí Kiểm sát,
số 4, 2006), “Người bị hại trong tố tụng hình sự” của tác giả Lê Tiến Châu (Tạp chí khoa học pháp lý, số 1, 2007), “Bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người bị hại trong pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam” của tác giả Vũ Gia Lâm (Tạp chí luật học,
số 11, 2011), “Người bị thiệt hại trong tố tụng hình sự Việt Nam” của tác giả Lê Nguyên Thanh (Luận án tiến sĩ luật học, 2012), “Quyền của người bị hại trong tố tụng hình sự Việt Nam” của tác giả Đinh Thị Mai (Luận án tiến sĩ luật học, 2014)…
Ngoài ra còn có Giáo trình Luật Tố tụng hình sự Việt Nam của Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh, các cuốn bình luận khoa học về Bộ luật TTHS có đề cập đến vấn đề bị hại Tuy nhiên, các tài liệu này chủ yếu bàn về bị hại theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam mà chưa có điều kiện nghiên cứu theo hướng so sánh luật Như vậy, nhìn chung tình hình nghiên cứu về bị hại trong tố tụng hình sự ở nước
ta hiện nay vẫn còn hạn chế và tập trung chủ yếu vào các vấn đề sau:
Một là, tiếp cận địa vị pháp lý, quyền và nghĩa vụ của bị hại dưới góc độ luật
thực định Các bài viết thường chỉ liệt kê các quyền của bị hại trong BLTTHS nhưng chưa lý giải nguồn gốc, bản chất và cơ sở để quy định các quyền và nghĩa vụ đó
Hai là, các công trình đa phần tập trung nghiên cứu một số quyền điển hình của
bị hại như quyền yêu cầu khởi tố vụ án hình sự, quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại…
mà chưa nghiên cứu hệ thống tổng thể các quyền của bị hại, gồm cả quyền của bị hại
là cá nhân và cơ quan, tổ chức cũng như so sánh hệ thống các quyền đó với bộ luật
tố tụng hình sự của một quốc gia khác
Ba là, còn thiếu vắng các công trình nghiên cứu về quyền của bị hại là người
chưa thành niên, người bị mất năng lực hành vi dân sự, người có nhược điểm về thể chất và tâm thần Do đặc điểm về thể chất, tâm thần của họ có sự khác biệt hơn so với người bình thường nên pháp luật tố tụng hình sự cần có những quy định riêng với các đối tượng này để bảo đảm quyền lợi tốt nhất cho họ
Từ những hạn chế trên đã mở ra hướng nghiên cứu mới đối với việc quy định
về chế định bị hại trong Bộ luật tố tụng hình sự Việt Nam 2015 cho luận văn này
3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
Thông qua việc nghiên cứu, so sánh giữa BLTTHS 2001 của Liên Bang Nga và BLTTHS 2015 của Việt Nam trong các quy định về bị hại và hệ thống các quyền của
bị hại để tìm ra những ưu điểm, hạn chế trong quy định của mỗi nước; từ đó rút ra những kinh nghiệm và đề xuất các kiến nghị cụ thể nhằm góp phần hoàn thiện hệ thống quy định của BLTTHS 2015 của Việt Nam về bị hại
Trang 9Để đạt được mục tiêu trên, luận văn tập trung nghiên cứu những vấn đề sau:
Một là, nghiên cứu vị trí, vai trò, chức năng của bị hại trong TTHS; phân tích
cơ sở của việc quy định các quyền cụ thể của bị hại; nghiên cứu những yếu tố ảnh hưởng đến việc quy định về bị hại, quyền của bị hại trong BLTTHS Việt Nam như lịch sử, truyền thống pháp luật, thực tiễn tham gia giải quyết vụ án của bị hại…; lý
do lựa chọn so sánh quyền của bị hại giữa BLTTHS số 101/2015/QH13 của Việt Nam
(được Quốc hội Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII, kỳ họp thứ 10 thông qua ngày 27/11/2015, có hiệu lực từ ngày 01/01/2018) và BLTTHS năm 2001
của Liên Bang Nga (được ĐUMA Quốc gia thông qua ngày 22/11/2001, được Quốc hội phê chuẩn ngày 05/12/2001, có hiệu lực từ ngày 01/7/2002)2
Hai là, nghiên cứu khái quát các quy định về quyền của bị hại trong BLTTHS
2001 của Liên Bang Nga; so sánh các quy định về từng quyền của bị hại giữa BLTTHS 2015 của Việt Nam với BLTTHS 2001 của Liên Bang Nga; rút ra những
ưu điểm, hạn chế trong quy định về các quyền cụ thể của bị hại ở mỗi nước
Ba là, rút ra những kinh nghiệm lập pháp và đề xuất các kiến nghị nhằm hoàn
thiện pháp luật TTHS Việt Nam về quyền của bị hại, cụ thể là BLTTHS năm 2015
4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu bản chất, đặc điểm và quy định của pháp luật về các quyền
tố tụng cụ thể của bị hại Nghiên cứu khía cạnh so sánh quyền của bị hại trong BLTTHS Việt Nam và BLTTHS Liên Bang Nga
Luận văn chủ yếu tập trung nghiên cứu quyền của bị hại theo BLTTHS của Việt Nam năm 2015 và so sánh với quy định của BLTTHS Liên Bang Nga năm 2001
4.2 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn thực hiện dựa trên quan điểm phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử; chủ trương của Đảng, chính sách hình
2 Luận văn sử dụng Bản dịch BLTTHS 2001 của Liên Bang Nga, đã qua các lần bổ sung, sửa đổi bởi Luật liên bang (sau đây viết tắt là LLB) số 58/LLB ngày 29/5/2002, LLB số 98/LLB ngày 24/7/2002, LLB số 103/LLB ngày 24/7/2002, LLB số 112/LLB ngày 25/7/2002, LLB số 133/LLB ngày 31/10/2002, LLB 86/LLB ngày 30/6/2003, LLB số 92/LLB ngày 04/7/2003, LLB số 94/LLB ngày 04/7/2003, LLB số 111 ngày 07/7/2003, LLB số 161/LLB ngày 08/12/2003, LLB số 12/LLB ngày 11/3/2004, LLB số 18/LLB ngày 22/4/2004, LLB
số 58/LLB ngày 29/6/2004, LLB số 154/LLB ngày 02/12/2004, LLB số 187/LLB ngày 28/12/2004, LLB số 54/LLB ngày 01/6/2005, LLB số 13/LLB ngày 09/01/2006, LLB số 33/LLB ngày 03/3/2006, LLB số 72/LLB ngày 03/6/2006, LLB số 97/LLB ngày 03/7/2006, LLB số 98/LLB ngày 03/7/2006, LLB số 153/LLB ngày 27/7/2006 - cập nhật đến ngày 01/10/2006; được dịch từ Bộ luật tố tụng hình sự của Liên Bang Nga nguyên bản tiếng Nga (Ugolovno-Prosseualnưy Kodeks Rossiskoy Federassy) bởi hai tác giả là Lê Minh Tuấn, công tác tại Vụ thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra án hình sự về trật tự xã hội (Vụ 1A) thuộc Viện Kiểm sát nhân dân tối cao và Bùi Quang Thạch, công tác tại Viện kiểm sát Quân sự Trung ương
Trang 10sự của nhà nước ta về bị hại Các phương pháp nghiên cứu cụ thể sau được sử dụng
để thu thập, phân tích, xử lý thông tin nhằm giải quyết các nhiệm vụ nghiên cứu: Phương pháp so sánh lịch sử được sử dụng để tìm kiếm điểm tương đồng và khác biệt về truyền thống pháp luật của hai quốc gia, làm cơ sở để lý giải về sự giống nhau và khác nhau trong việc quy định về quyền của bị hại trong BLTTHS hiện hành của hai nước Việt Nam và Liên Bang Nga
Phương pháp so sánh quy phạm được sử dụng để so sánh các quy định pháp luật
về bị hại trong BLTTHS 2015 của Việt Nam với BLTTHS 2001 của Liên Bang Nga,
từ đó rút ra những ưu điểm, hạn chế của hai BLTTHS trong việc quy định về từng quyền cụ thể của bị hại
Phương pháp phân tích, tổng hợp được sử dụng để nhận thức và khái quát các vấn đề cần nghiên cứu và rút ra kết luận cuối cùng
Phương pháp tổng kết kinh nghiệm được sử dụng để rút ra những kinh nghiệm
và đề xuất kiến nghị cụ thể đối với việc quy định các quyền của bị hại trong pháp luật
tố tụng hình sự của Việt Nam sau khi nghiên cứu, so sánh các quy định về quyền của
bị hại trong BLTTHS 2001 của Liên Bang Nga
5 Những đóng góp mới về khoa học
Đây là luận văn thạc sỹ nghiên cứu một cách tổng quát và hệ thống các quy định
về bị hại, quyền của bị hại giữa BLTTHS 2015 của Việt Nam và BLTTHS năm 2001 của Nga Vì vậy, kết quả nghiên cứu của luận văn có thể làm tư liệu tham khảo cho sinh viên, học viên, cán bộ tư pháp… muốn nghiên cứu về vấn đề bị hại
6 Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục chữ viết tắt, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm ba chương:
Chương 1 Lý luận chung về quyền của bị hại và nhu cầu so sánh với luật tố tụng hình sự Liên Bang Nga
Chương 2 So sánh quyền của bị hại giữa pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam
và pháp luật tố tụng hình sự Liên Bang Nga
Chương 3 Những kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam về quyền của bị hại nhìn ở góc độ so sánh luật với luật tố tụng hình sự Liên Bang Nga
Trang 11CHƯƠNG I
LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUYỀN CỦA BỊ HẠI VÀ NHU CẦU SO SÁNH VỚI
LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ LIÊN BANG NGA
1.1 Cơ sở xây dựng hệ thống quyền của bị hại trong tố tụng hình sự
1.1.1 Vị trí, vai trò, chức năng của bị hại trong tố tụng hình sự
Bị hại hay người bị hại là một khái niệm mang tính tương đối trong khoa học pháp lý về TTHS Tùy theo truyền thống pháp luật, quan điểm của nhà làm luật qua các thời kỳ mà pháp luật TTHS của mỗi nước sẽ quy định khác nhau về khái niệm bị hại Có thể nói, bị hại chỉ là một trong số những chủ thể bị thiệt hại trong TTHS bởi
có rất nhiều chủ thể bị thiệt hại về vật chất lẫn phi vật chất do tội phạm gây ra Ở các nước có truyền thống pháp luật Châu Âu lục địa (Civil law) thường xem người bị thiệt hại là nạn nhân của tội phạm hoặc bên bị thiệt hại, có thể có sự phân biệt giữa
bị hại và nguyên đơn dân sự Đối với các nước thuộc hệ thống thông luật (Common law) cũng đa phần gọi chung người bị thiệt hại do tội phạm gây ra là nạn nhân (victim), quy định các điều kiện để một chủ thể được công nhận là nạn nhân của tội phạm và cũng không phân biệt các khái niệm khác nhau như người bị hại, nguyên đơn dân sự… Ngoài ra, chính khái niệm bị hại cũng có những quan điểm khác nhau như có quốc gia chỉ coi bị hại là cá nhân nhưng cũng có quốc gia cho rằng bị hại gồm
cả tổ chức, pháp nhân
Trong khoa học pháp lý cũng như luật thực định của Việt Nam và Liên Bang Nga đều quy định một chủ thể chỉ được xem là bị hại khi chủ thể đó bị thiệt hại trực tiếp từ hành vi phạm tội, nghĩa là thiệt hại đó phải có mối quan hệ nhân quả trực tiếp với hành vi phạm tội Ngoài ra, BLTTHS 2015 của Việt Nam cũng cho phép nếu một
cá nhân bị hành vi phạm tội đe dọa gây thiệt hại về thể chất, tinh thần, tài sản hoặc
cơ quan, tổ chức bị hành vi phạm tội đe dọa gây thiệt hại về tài sản, uy tín thì chủ thể
đó cũng có thể được xem là bị hại Một vụ việc được xem là VAHS khi nó có xảy ra hành vi đã vi phạm pháp luật hình sự và gây thiệt hại cho nhà nước, tổ chức, cá nhân hoặc xã hội Tuy nhiên, thực tế có những VAHS không có bị hại như tội gây rối trật
tự công cộng, tội không tố giác tội phạm… dù những tội phạm này cũng có thể gây thiệt hại đối với một số chủ thể nhất định Những chủ thể có thiệt hại được phát sinh gián tiếp từ hành vi phạm tội hoặc thiệt hại gián tiếp từ một thiệt hại trực tiếp do hành
vi phạm tội gây ra đều không được công nhận là bị hại Lúc này, họ chỉ có thể tham gia vào quá trình tố tụng với tư cách là nguyên đơn dân sự nếu có yêu cầu về bồi
Trang 12thường thiệt hại Dựa trên quan điểm này, BLTTHS 2015 của Việt Nam định nghĩa
bị hại là cá nhân trực tiếp bị thiệt hại về thể chất, tinh thần, tài sản hoặc cơ quan, tổ chức bị thiệt hại về tài sản, uy tín do tội phạm gây ra hoặc đe dọa gây ra Như vậy, bị hại khác với các chủ thể cũng bị thiệt hại khác ở chỗ thể chất, tinh thần, tài sản, các quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại chính là đối tượng gây thiệt hại của tội phạm, là cái mà tội phạm mong muốn tác động đến để thông qua đó đạt được mục đích của hành vi phạm tội Nhận thức và phân biệt rõ khái niệm giữa bị hại với những chủ thể
bị thiệt hại khác có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định tư cách của bị hại trong TTHS Tuy nhiên để được xem là bị hại thì ngoài việc bị thiệt hại trực tiếp do tội phạm gây ra, chủ thể đó còn phải được cơ quan có thẩm quyền giải quyết vụ án hình
sự công nhận là bị hại
Vị trí pháp lý của bị hại cũng không giống nhau theo pháp luật TTHS của các nước Pháp luật TTHS Việt Nam cho rằng TTHS là quy trình thực hiện những hoạt động của các cơ quan THTT, người THTT và người TGTT nhằm giải quyết đúng đắn VAHS theo quy định của pháp luật3 Bên cạnh chủ thể có thẩm quyền THTT gồm các
cơ quan, cá nhân được nhà nước trao quyền để thực hiện các công việc chuyên môn nghiệp vụ như điều tra, khởi tố, xét xử mang tính chuyên nghiệp nhằm giải quyết VAHS thì còn có các chủ thể khác tham gia vào quá trình tố tụng như người bị buộc tội, bị hại, người làm chứng… để giúp cơ quan, người có thẩm quyền THTT giải quyết vụ án Trong khi pháp luật TTHS Liên Bang Nga dựa trên ba chức năng cơ bản của TTHS để quy định về địa vị pháp lý của các chủ thể và xây dựng hệ thống các quyền cho chủ thể thì pháp luật TTHS Việt Nam căn cứ vào yếu tố quyền lực nhà nước để phân chia các nhóm chủ thể trong quan hệ pháp luật TTHS Việc dựa vào yếu tố quyền lực nhà nước để phân chia chủ thể trong TTHS vô hình chung làm mờ nhạt và đánh đồng vị trí, chức năng của bị hại cũng như các chủ thể tham gia tố tụng khác trong quá trình giải quyết VAHS Nhìn chung, định hướng tố tụng của bị hại tương đối giống với VKS, đó là mong muốn truy cứu trách nhiệm hình sự người phạm tội, yêu cầu người phạm tội bồi thường thiệt hại… nhưng ý kiến, quan điểm buộc tội của bị hại không phải lúc nào cũng giống VKS, đôi khi còn mâu thuẫn Vì vậy, có thể khẳng định bị hại có vị trí độc lập khi tham gia TTHS thể hiện qua việc bị hại có mục đích và lợi ích độc lập với các chủ thể còn lại khi tham gia TTHS
3 Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh (2012), Giáo trình Luật Tố tụng hình sự Việt Nam, TS Võ Thị Kim
Oanh chủ biên, NXB Hồng Đức – Hội Luật gia Việt Nam, trang 19
Trang 13Để xác định vai trò của bị hại trước tiên cần xác định mục đích của bị hại khi tham gia TTHS Bị hại là chủ thể bị thiệt hại do đó họ tham gia tố tụng với mong muốn làm sáng tỏ vụ án, đòi lại công bằng cho mình Vì thế, bị hại thường tố cáo người đã có hành vi xâm hại đến tính mạng, sức khỏe, tài sản, quyền và lợi ích hợp pháp của mình và yêu cầu bồi thường thiệt hại Để đạt được động cơ, mục đích này,
bị hại tham gia TTHS để tố cáo, buộc tội nhân danh cá nhân và yêu cầu bồi thường thiệt hại như một nguyên đơn dân sự Ngoài ra, bị hại còn tham gia tố tụng với vai trò tương tự như một người làm chứng bởi hơn ai hết, bị hại là người có thể biết rõ
về vụ án Do đó, bị hại không chỉ tham gia TTHS để bảo vệ lợi ích của mình mà còn
có thể đưa ra những chứng cứ đáng tin cậy, giúp cơ quan có thẩm quyền THTT giải quyết vụ án đúng đắn, khách quan và toàn diện hơn Đối với các vụ án được khởi tố theo yêu cầu của bị hại thì bị hại còn đóng vai trò là chủ thể trình bày lời buộc tội tại phiên tòa Thậm chí với các vụ án còn lại, bị hại vẫn có quyền tư tố nhưng thể hiện ở mức độ hạn chế hơn như quyền được nêu ra ý kiến của mình đối với bản cáo trạng về tội danh, quyền đề nghị mức hình phạt, quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại…
Từ hai vai trò chính nêu trên có thể suy ra trong TTHS, bị hại là chủ thể thực hiện chức năng buộc tội thể hiện ở các quyền như quyền yêu cầu khởi tố vụ án hình
sự, quyền trình bày ý kiến, tranh luận, quyền kháng cáo bản án, quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại…; các quyền của bị hại đều mang tính chất đối kháng với nhóm chủ thể thực hiện chức năng bào chữa Do đó có thể khẳng định bị hại thuộc nhóm chủ thể thực hiện chức năng buộc tội
1.1.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến việc quy định về bị hại, quyền của bị hại trong pháp luật tố tụng hình sự của Việt Nam
1.1.2.1 Khía cạnh lịch sử pháp luật
Khái niệm bị hại lần đầu tiên được quy định tại Thông tư số 16-TATC ngày
27/9/1974 của Tòa án nhân dân tối cao Theo đó “người bị hại là công dân đã bị kẻ phạm tội trực tiếp xâm hại đến thể chất, tài sản hoặc xâm hại về tinh thần (như bị lăng nhục, đánh, giết, trộm cắp, lừa đảo…)” Như vậy, theo Thông tư 16-TATC thì
bị hại phải là công dân, tức là người có quốc tịch Việt Nam và không được là tổ chức
Bị hại là người bị thiệt hại trực tiếp do hành vi phạm tội gây ra Khái niệm bị hại trong văn bản này tuy còn chưa đầy đủ nhưng là dấu mốc quan trọng trong việc quy định địa vị pháp lý của bị hại trong pháp luật TTHS Việt Nam; làm nền tảng cho các
quy định về địa trí pháp lý của bị hại trong các văn bản pháp lý sau này
Trang 14Sau thành công của cuộc cách mạng giải phóng và thống nhất đất nước năm
1975, một yêu cầu lớn đặt ra là phải có một BLHS và BLTTHS để ngăn chặn, đấu tranh với các hành vi phạm tội nhằm bảo vệ những thành quả cách mạng và nhà nước non trẻ Nhu cầu lớn nhất lúc bấy giờ chính là kiểm soát tội phạm Do đó, quy định
về bị hại ở thời điểm này chưa được các nhà lập pháp quan tâm Sau đó, vào những năm cuối thập niên 80 của thế kỷ XX, công cuộc Đổi Mới do Đảng Cộng sản Việt Nam đề ra với mục đích cải cách toàn diện từ kinh tế đến mọi mặt trong đời sống xã hội, trong đó có cải cách tư pháp cũng như sự ra đời của Hiến pháp 1980 đã trở thành động lực để Việt Nam xây dựng một BLTTHS nhằm thực hiện những yêu cầu, nhiệm
vụ bảo vệ Tổ quốc, đấu tranh phòng, chống tội phạm trong tình hình mới Với những
lý do trên, ngày 28/6/1988, BLTTHS đầu tiên của Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa
Việt Nam đã được Quốc hội thông qua, tại Điều 39 quy định “Người bị hại là người
bị thiệt hại về thể chất, về tinh thần hoặc về tài sản do tội phạm gây ra” So với khái
niệm về bị hại tại Thông tư số 16-TATC thì BLTTHS 1988 đã bỏ dấu hiệu “bị thiệt hại trực tiếp” do hành vi phạm tội gây ra BLTTHS 1988 cũng quy định bị hại là cá nhân, tức gồm cả người nước ngoài, người không quốc tịch thay vì chỉ là công dân Việt Nam như quy định tại Thông tư số 16-TATC BLTTHS 1988 chính là bộ luật đã đặt nền móng cho việc xây dựng hệ thống quyền của bị hại trong các BLTTHS sau này Bộ luật đã có các quy định mới nhằm đảm bảo quyền của bị hại và nâng cao tính tranh tụng tại phiên tòa như quy định bị hại không những được tham gia phiên tòa mà còn được tham gia tranh luận, trình bày ý kiến tại phiên tòa để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình (khoản 3 Điều 191) Tuy quy định này chưa được xem là việc công nhận bị hại có vai trò thực hiện chức năng buộc tội tại phiên tòa nhưng cũng được xem là bước ngoặc đánh dấu vai trò của bị hại tại phiên tòa nói riêng và trong quá trình giải quyết VAHS nói chung Quy định này đã giúp bị hại từ chỗ chỉ là chủ thể TGTT với vai trò chủ yếu là cung cấp lời khai khi cơ quan có thẩm quyền THTT yêu cầu, đôi lúc còn là chủ thể “bị bỏ quên” trở thành một bên đối trọng trong quá trình tranh tụng tại phiên tòa dù vẫn còn mờ nhạt Ngoài ra, Bộ luật TTHS 1988 cũng quy định các quyền cơ bản của bị hại như quyền khởi tố vụ án đối với một số tội nhất định, quyền đưa ra chứng cứ và yêu cầu, quyền tham gia phiên tòa, quyền khiếu nại quyết định của cơ quan THTT, thay đổi người THTT, quyền kháng cáo… Tuy nhiên, qua 03 lần sửa đổi, bổ sung vào các năm 1990, năm 1992 và năm 2000, BLTTHS
1988 của Việt Nam vẫn không có các quy định mới nào đối với chế định bị hại
Trang 15Năm 2002 đánh dấu mốc quan trọng trong công cuộc cải cách tư pháp khi Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 quy định một số nhiệm
vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới Cùng với yêu cầu sửa đổi toàn diện BLTTHS 1988 để giải quyết các vấn đề bức xúc với tình hình thực tiễn mới và để đồng bộ, phù hợp với BLHS 1999 mới ban hành, VKSND tối cao đã trình Quốc hội khóa XI thông qua Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 vào ngày 26/11/2003 BLTTHS
2003 gần như kế thừa toàn bộ BLTTHS 1988 về khái niệm pháp lý lẫn các quyền của
bị hại khi vẫn xem bị hại chỉ là cá nhân Việc BLTTHS 1988 và BLTTHS năm 2003
bỏ dấu hiệu “bị thiệt hại trực tiếp” ra khỏi khái niệm pháp lý về bị hại là một quy định
có phần chưa hợp lý bởi “người bị thiệt hại do tội phạm gây ra” có thể rất nhiều nhưng không phải ai cũng được xem là bị hại, điển hình là nguyên đơn dân sự Trong khi
đó, việc phân biệt dấu hiệu pháp lý giữa bị hại và nguyên đơn dân sự là rất quan trọng bởi nó ảnh hưởng đến vấn đề xác định tư cách tố tụng và việc quy định quyền, nghĩa
vụ của chủ thể Tuy vậy, BLTTHS 2003 cũng đã bổ sung một số quy định rõ ràng hơn nhằm nâng cao vai trò của bị hại như quyền trình bày ý kiến, quyền tranh luận tại phiên tòa bởi BLTTHS 1988 tuy có quy định bị hại được tham gia tranh luận trong Chương xét xử nhưng lại không quy định quyền này ở Điều luật quy định về bị hại trong Chương người tham gia tố tụng của BLTTHS 1988
Năm 2013, Việt Nam ban hành bản Hiến pháp mới và cũng nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong giai đoạn mới, trong đó có yêu cầu bảo đảm quyền con người, quyền công dân Bên cạnh đó, thực tiễn áp dụng BLHS 1999, sửa đổi, bổ sung năm 2009 cũng bắt đầu bộc lộ những vấn đề không còn phù hợp với hiện tại Tương
tự, thực tiễn xét xử theo BLTTHS 2003 cũng bộc lộ những thiếu sót, sai lầm Xuất phát từ những lý do trên đã đặt ra yêu cầu phải sửa đổi nhiều vấn đề trong BLTTHS
2003 Vì vậy, ngày 27/11/2015, BLTTHS 2015 đã được Quốc hội thông qua ngoài mục đích ưu tiên hàng đầu là giải quyết nhanh chóng, đúng đắn vụ án, kiểm soát tội phạm thì còn có mục đích bảo vệ quyền con người, quyền công dân, tăng cường các quy định về nguyên tắc tranh tụng BLTTHS 2015 đã có những quy định thay đổi quan trọng về chủ thể bị thiệt hại trong TTHS Lần đầu tiên trong lịch sử TTHS của Việt Nam, pháp nhân hay tổ chức bị thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra được công nhận là “bị hại” Đây là quy định tiến bộ, thể hiện sự tiếp thu những ý kiến đóng góp, học hỏi pháp luật thế giới về chủ thể bị thiệt hại trong TTHS, giúp các tổ chức bị thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra có thể bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình một cách tốt nhất Tư cách “người bị hại” cũng được thay thế thành “bị hại” Ngoài ra,
Trang 16BLTTHS 2015 tiếp tục bổ sung một số quyền nhằm mở rộng hơn quyền của bị hại, giúp bị hại tham gia quá trình tố tụng tích cực, chủ động hơn để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình và góp phần giúp cơ quan có thẩm quyền THTT tìm ra sự thật vụ
án, xét xử công bằng đúng người, đúng tội
Có thể nhận thấy từ trước đến nay, các BLTTHS của Việt Nam đều có hai nhóm mục đích chính Nhóm mục đích thứ nhất là “phát hiện chính xác, nhanh chóng, kịp thời mọi hành vi phạm tội, phòng ngừa, ngăn chặn tội phạm và không để lọt người phạm tội” Nhóm mục đích thứ hai là “góp phần bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo
vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, tổ chức, cá nhân” Các BLTTHS của nước ta từ trước đến nay đều được ban hành gắn liền với sự thay đổi quan trọng trong hệ thống pháp luật, điển hình là sự ra đời của các bản Hiến pháp trong từng giai đoạn nhằm đáp ứng yêu cầu thay đổi trong tình hình mới Tuy mỗi thời kỳ, giai đoạn đều bổ sung những mục tiêu ưu tiên khác nhau nhưng yêu cầu chính vẫn là bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội Đây được xem là nhiệm vụ hàng đầu của cách mạng Việt Nam trong tất cả các thời kỳ Vì vậy, trong suốt lịch sử về pháp luật TTHS của nước ta, việc giải quyết nhanh chóng vụ án, trừng trị người phạm tội, kiểm soát tội phạm luôn được đề cao và quy định rõ mà chưa chú ý nhiều đến các quy định về quyền của người TGTT nói chung và quyền của bị hại nói riêng Mặc dù trong BLTTHS vẫn quy định về các quyền cơ bản của bị hại nhưng nhìn chung vẫn còn nhiều bất cập, chưa hoàn thiện và thiếu cơ chế thực hiện trên thực tế Hệ thống quyền của bị hại trong các BLTTHS chưa được quan tâm, quy định rõ ràng và đầy đủ dẫn đến vai trò, vị trí của bị hại từ trước đến nay rất mờ nhạt, chưa thể hiện đúng chức năng của bị hại trong TTHS, làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của họ Do đó, tiếp tục nghiên cứu hệ thống quyền của bị hại để tăng cường vai trò của bị hại trong TTHS, bảo đảm quyền và lợi ích của bị hại là việc làm cần thiết
1.1.2.2 Truyền thống pháp luật
Hiện nay, chưa có một công trình nghiên cứu nào chính thức khẳng định hệ thống pháp luật Việt Nam thuộc truyền thống pháp luật nào trên thế giới Pháp luật Việt Nam bị ảnh hưởng và pha trộn bởi nhiều truyền thống pháp luật khác nhau xuất phát từ lịch sử chiến tranh xâm lược, đô hộ bởi nhiều quốc gia Lịch sử tư pháp Việt Nam hiện đại nói chung, tư pháp hình sự nói riêng bắt đầu từ sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 cùng với sự ra đời của Nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam Á Sau năm 1945, nền tư pháp hình sự hiện đại đã phát triển mạnh mẽ, được đánh dấu
Trang 17bằng những thời điểm cải cách tư pháp vào các năm 1946, 1950, 1960 và gần đây là năm 2002 Tuy vậy, có thể chia thành hai giai đoạn lớn trước và sau năm 1960 Trước năm 1960, với sự tồn tại của “Tòa án cấp sơ cấp”, “Tòa án cấp đệ nhị”, “Biện lý” hay
“Ủy viên tư pháp công an” trong hệ thống tư pháp, có thể thấy rằng hệ thống tư pháp thời điểm đó vẫn mang nhiều đặc điểm của hệ thống tư pháp của Pháp Từ sau năm
1960, với sự ra đời của Hiến pháp năm 1959, Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân
1960, Luật tổ chức Tòa án nhân dân 1960 và các văn bản pháp luật khác, hệ thống tư pháp hình sự nước ta đã hoàn toàn thay đổi theo mô hình tố tụng và pháp luật XHCN của Liên Xô cũ và các nước Đông Âu trước đây4 Như vậy, có thể nói nền tư pháp hình sự hiện đại của nước ta (sau năm 1945) mang nhiều đặc điểm của hệ thống pháp luật của Pháp và hệ thống pháp luật của Liên Xô cũ - hai hệ thống pháp luật có nguồn gốc từ hệ thống pháp luật Châu Âu lục địa Từ Hiến pháp năm 1959 đến Hiến pháp
1980, nguyên tắc tổ chức, hoạt động, mô hình của hệ thống cơ quan tư pháp và hệ thống pháp luật của nước ta đã chịu sự tác động, ảnh hưởng của khoa học pháp lý và
mô hình nhà nước Xô Viết5 - một nhà nước đặc trưng của pháp luật xã hội chủ nghĩa Một trong những đặc điểm của pháp luật xã hội chủ nghĩa là sự ưu tiên lợi ích tập thể lên trên lợi ích cá nhân Vì lý do này mà các quy định về bị hại, sự tham gia của bị hại trong quá trình giải quyết VAHS của các BLTTHS nước ta từ trước đến nay vẫn còn mờ nhạt, chưa thật sự được coi trọng Bị hại tham gia tố tụng chủ yếu là thực hiện nghĩa vụ khai báo và yêu cầu bồi thường thiệt hại Về mô hình tố tụng, theo học giả Reichel, mô hình tố tụng xã hội chủ nghĩa có nguồn gốc từ hệ thẩm cứu trong truyền thống luật lục địa6 Do đó có thể khẳng định, hệ thống tư pháp hình sự Việt Nam về
cơ bản mang nhiều đặc điểm và thuộc hệ tố tụng thẩm cứu7 Thực tế, mô hình TTHS của Việt Nam từ trước đến nay có đặc điểm thiên về mô hình tố tụng thẩm vấn Đặc trưng đề cao vai trò của cơ quan, người có thẩm quyền THTT trong quá trình giải quyết VAHS của mô hình tố tụng thẩm vấn cũng là một trong những nguyên nhân
4 Trần Đại Thắng (2009), “Mô hình tố tụng hình sự thẩm cứu và đề xuất hoàn thiện mô hình tố tụng hình sự Việt Nam”, Tài liệu Hội thảo khoa học mô hình luật tố tụng hình sự Việt Nam thuộc Dự án Hỗ trợ cải cách
pháp luật và tư pháp – Giai đoạn III của Viện kiểm sát nhân dân tối cao
5 Nguyễn Thái Phúc (2009), “Mô hình tố tụng hình sự pha trộn”, Tài liệu Hội thảo khoa học mô hình luật tố
tụng hình sự Việt Nam thuộc Dự án Hỗ trợ cải cách pháp luật và tư pháp – Giai đoạn III của Viện kiểm sát nhân dân tối cao
6 Thông tin khoa học pháp lý (Số chuyên đề về tư pháp hình sự so sánh) (1999), Viện nghiên cứu khoa học pháp lý - Bộ tư pháp, trang 120
7 Phạm Hồng Hải (2009), Tiến tới xây dựng tố tụng hình sự ở Việt Nam theo kiểu tranh tụng, Thông tin khoa
học pháp lý (Số chuyên đề về hoàn thiệt Bộ luật tố tụng hình sự trong bối cảnh cải cách tư pháp), Viện khoa học kiểm sát – Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Số 5+6/2002, trang 11
Trang 18ảnh hưởng đến việc quy định vị trí, vai trò, quyền của bị hại trong các BLTTHS của nước ta Sau khi BLTTHS 1988 được ban hành, mô hình TTHS nước ta đã dần chuyển sang mô hình TTHS hỗn hợp khi vẫn giữ nguyên mô hình tố tụng thiên về thẩm vấn nhưng có tiếp thu những đặc điểm tiến bộ của mô hình TTHS tranh tụng phù hợp với đặc điểm của nền TTHS Việt Nam Hiện nay, các quốc gia trên thế giới cũng đang cải cách tư pháp bằng cách dần thay đổi mô hình TTHS theo hướng giữ nguyên mô hình tố tụng truyền thống nhưng có tiếp thu những đặc điểm tiến bộ của mô hình tố tụng khác nhằm hoàn thiện mô hình TTHS quốc gia Do đó, Việt Nam cần tiếp tục nghiên cứu pháp luật các nước trên thế giới để tăng cường hơn nữa vai trò của bị hại trong TTHS, đặc biệt là các nước có truyền thống pháp luật gần gũi, tương đồng với Việt Nam nhằm học hỏi, rút kinh nghiệm để hoàn thiện pháp luật TTHS, đảm bảo quyền con người nói chung, quyền của bị hại nói riêng và đảm bảo nguyên tắc tranh tụng nhằm đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp hình sự trên thế giới về vấn đề bị hại
1.1.3 Thực tiễn tham gia tố tụng của bị hại và giải quyết các yêu cầu của
bị hại
Trước BLTTHS 2015, thực tiễn tham gia của bị hại đối với các vụ án được khởi
tố theo yêu cầu của bị hại cũng như các vụ án khác đều không có sự khác nhau rõ rệt khi Viện kiểm sát đều thực hiện việc buộc tội còn bị hại chỉ tham gia với vai trò rất thụ động Bị hại chỉ tham gia trình bày để bảo vệ quyền và lợi ích của mình chứ không trình bày lời buộc tội tại phiên tòa Về sự có mặt của bị hại tại phiên tòa, các BLTTHS
của Việt Nam từ trước đến nay đều quy định: “Trong trường hợp bị hại hoặc người đại diện của họ vắng mặt thì tùy từng trường hợp, Hội đồng xét xử quyết định hoãn phiên tòa hoặc vẫn tiến hành xét xử” Qua quá trình quan sát thực tiễn xét xử tại các
Tòa án, tác giả ghi nhận bị hại luôn là chủ thể có tâm lý muốn vụ án được giải quyết công bằng, đúng pháp luật, được bồi thường thiệt hại xứng đáng và bị cáo bị trừng trị
do đó họ thường ít khi vắng mặt tại phiên tòa, trừ số ít trường hợp như bị hại mặc cảm hoặc đã được bồi thường thỏa đáng trước đó… Ngoài ra, đối với trường hợp bị hại đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt và có lý do chính đáng như đau ốm, tai nạn… mà không thể có mặt tại phiên toà thì Toà án thường hoãn phiên tòa Nếu phiên tòa vẫn tiến hành thì thông thường HĐXX sẽ không ra bản án hoặc quyết định bất lợi cho họ Đối với trường hợp HĐXX nhận thấy có thể ra bản án, quyết định theo hướng không có lợi cho bị hại thì phải hoãn phiên toà Ngược lại, trường hợp bị hại đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt mà không có lý do chính đáng thì Toà án có quyền xét xử vắng mặt bị hại và có thể ra bản án, quyết định theo hướng bất lợi cho họ
Trang 19Trước khi tiến hành xét xử, Tòa án đều thực hiện việc gửi quyết định đưa vụ án ra xét
xử cho bị hại Bị hại khi nhận quyết định đưa vụ án ra xét xử phải ký nhận để đảm bảo họ đã nhận được quyết định Tuy vậy, thực tiễn xét xử cũng cho thấy sự vắng mặt của bị hại không ảnh hưởng nhiều đến việc giải quyết vụ án Chỉ trong những trường hợp như lời khai của bị cáo có mâu thuẫn liên quan đến bị hại; cần sự có mặt của bị hại để đối chất; việc vắng mặt của bị hại gây trở ngại cho việc giải quyết bồi thường… thì Tòa án mới quyết định hoãn phiên tòa
Tuy pháp luật đã quy định bị hại hoặc người đại diện hợp pháp của họ được quyền trình bày ý kiến để bảo vệ quyền và lợi ích của mình, nếu những người này có luật sư bảo vệ quyền lợi thì luật sư trình bày trước, bị hại và người đại diện của họ được quyền bổ sung sau nhưng trên thực tế có nhiều trường hợp do bị hạn chế về mặt thời gian mà bị hại không được trình bày hoặc trình bày không hết ý kiến của mình Đây là những vi phạm điển hình phần nào nói lên được thực tiễn tham gia của bị hại tại phiên tòa hiện nay và cho thấy vai trò của bị hại trong quá trình giải quyết vụ án vẫn còn nhiều vấn đề cần xem xét lại Tuy vậy, đây chỉ là những quan sát thực tiễn của tác giả bởi hiện tại, ngành tư pháp chưa quy định một loại báo cáo chính thức nào
về tình hình tham gia phiên tòa của bị hại Do đó, việc nghiên cứu về thực tiễn tham gia của bị hại tại phiên tòa hình sự vẫn còn tương đối khó khăn
1.2 Nhu cầu so sánh luật về quyền của bị hại với luật tố tụng hình sự của Liên Bang Nga
1.2.1 Khía cạnh hợp tác quốc tế về xây dựng pháp luật và truyền thống hợp tác với Liên Bang Nga trong lĩnh vực lập pháp
Việt Nam đang trên đường hội nhập sâu rộng với thế giới trên tất cả các lĩnh vực, trong đó có tư pháp hình sự Trong những thập kỷ trở lại đây, các tội phạm về công nghệ cao, tội phạm quốc tế, tội phạm có tổ chức hoạt động ngày càng phát triển, tinh vi đã làm thúc đẩy nhu cầu hợp tác giữa các quốc gia không chỉ trong lĩnh vực thực thi pháp luật mà còn trong cả lĩnh vực xây dựng pháp luật Việc hợp tác quốc tế trong lĩnh vực lập pháp đòi hỏi chúng ta phải sẵn sàng cho sự thay đổi các quan niệm pháp lý truyền thống để tiếp thu những vấn đề mới, tiến bộ mặc dù có những vấn đề còn xa lạ và chưa được chấp nhận nhiều ở Việt Nam Hợp tác quốc tế về xây dựng pháp luật không chỉ bao gồm việc ký kết các thỏa thuận, điều ước quốc tế mà còn bao gồm cả việc hoàn thiện hệ thống pháp luật trong nước thông qua việc nghiên cứu, học hỏi kinh nghiệm xây dựng pháp luật của các nước khác, đặc biệt là những nước có lịch sử hay truyền thống pháp luật tương đồng với nhau Tiếp thu kinh nghiệm xây
Trang 20dựng pháp luật của các nước nhưng vẫn giữ bản sắc, giá trị cốt lõi của hệ thống pháp luật Việt Nam chính là chủ trương của Đảng và Nhà nước ta về vấn đề hợp tác quốc
tế trong lĩnh vực lập pháp
Việt Nam và Liên Bang Nga là hai nước có truyền thống quan hệ ngoại giao thân thiết Năm 2001, Việt Nam và Liên Bang Nga thiết lập quan hệ đối tác chiến lược và nâng tầm trở thành quan hệ đối tác chiến lược toàn diện vào năm 2012 Trong mối quan hệ đối tác chiến lược, hai quốc gia xác định gắn bó lợi ích lâu dài, hỗ trợ lẫn nhau, thúc đẩy sự hợp tác sâu rộng và toàn diện trên tất cả các lĩnh vực mà các bên cùng có lợi Cũng trong mối quan hệ đó, Việt Nam luôn quan tâm và coi trọng việc hợp tác với Liên Bang Nga trong lĩnh vực lập pháp trên tinh thần mong muốn nhận được sự hợp tác, chia sẻ kinh nghiệm và hỗ trợ từ Liên Bang Nga trong quá trình hoàn thiện hệ thống pháp luật nói chung và trong quá trình xây dựng Bộ luật TTHS năm 2015 nói riêng
Trong quá trình soạn thảo BLTTHS 2015, Việt Nam đã biên dịch và tham khảo BLTTHS của nhiều nước đại diện cho nhiều mô hình TTHS khác nhau như Trung Quốc, Nga, Đức, Pháp, Anh, Hoa Kỳ, Nhật Bản, Singapore… Ngoài ra, Việt Nam cũng tổ chức các đoàn công tác ra nước ngoài để nghiên cứu, tham khảo kinh nghiệm lập pháp của các nước thể hiện trong các báo cáo như Báo cáo pháp luật TTHS của các nước trên thế giới của VKSND tối cao ngày 20/4/2015 trình Quốc hội cho ý kiến tại kỳ hợp thứ chín, Quốc hội Khóa XIII; Báo cáo những nội dung cơ bản về đề xuất sửa đổi, bổ sung BLTTHS và một số vấn đề lớn còn có ý kiến khác nhau của Ban soạn thảo dự án BLTTHS sửa đổi do VKSND tối cao chủ trì Tuy nhiên, khi nghiên cứu các tài liệu về dự án sửa đổi BLTTHS 20038, tác giả nhận thấy vấn đề tiếp thu kinh nghiệm lập pháp trên thế giới đối với các quy định về bị hại dường như vẫn còn chưa được quan tâm nhiều BLTTHS mới chỉ tập trung bổ sung khái niệm của bị hại như quy định bị hại còn có thể là cơ quan, tổ chức; bổ sung thêm một số quyền của
bị hại và người đại diện của bị hại như quyền đưa ra chứng cứ, quyền được thông báo kết quả giải quyết vụ án, quyền đề nghị thay đổi người dịch thuật, quyền được đề nghị chủ tọa phiên tòa hỏi bị cáo và những người tham gia phiên tòa, yêu cầu cơ quan có thẩm quyền THTT bảo vệ tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tài sản của mình hoặc của người thân thích khi bị đe dọa; quy định rõ hơn nghĩa vụ và trách nhiệm của
8 http://duthaoonline.quochoi.vn/DuThao/Lists/DT_DUTHAO_LUAT/View_Detail.aspx?ItemID=561&TabI ndex=2 (truy cập ngày 14/3/2018)
Trang 21bị hại trong việc phối hợp với cơ quan có thẩm quyền THTT phát hiện, xử lý tội phạm Tuy nhiên, dự thảo BLTTHS sửa đổi vẫn chưa đề cập đến việc quy định vị trí pháp lý của bị hại trên cơ sở các chức năng cơ bản của TTHS để có thể giải quyết bản chất những vướng mắc, khó khăn trong việc áp dụng chế định bị hại Do đó, cần tiếp tục nghiên cứu việc lập pháp của Liên Bang Nga về bị hại và quyền của bị hại
1.2.2 Sự tương đồng và khác biệt của tố tụng hình sự nói chung và chủ thể
bị hại nói riêng của Việt Nam và Liên Bang Nga
Liên Bang Nga đang xây dựng nhà nước pháp quyền dân chủ theo hình thức liên bang Về TTHS, nước Nga đã ban hành BLTTHS năm 2001 thay thế cho BLTTHS năm 1960 thời Xô Viết BLTTHS 2001 đã xây dựng dựa trên mục đích đề cao việc đảm bảo các quyền tự do dân chủ của con người bên cạnh mục đích xử lý tội phạm BLTTHS 2001 của Liên Bang Nga là sự thay đổi cơ bản của mô hình tố tụng hình sự thiên về thẩm vấn sang mô hình tố tụng mang các đặc điểm của mô hình
tố tụng tranh tụng, đảm bảo tính bình đẳng và công bằng nhằm bảo vệ các quyền cá nhân Tòa án từ đóng vai trò tích cực trong việc buộc tội đã chuyển sang vai trò trọng tài, chỉ thực hiện chức năng xét xử Tương tự như vậy, với chủ trương cải cách tư pháp mạnh mẽ, Việt Nam cũng đã ban hành BLTTHS 2015 trên tinh thần phát huy dân chủ, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo đảm nguyên tắc tranh tụng trong TTHS bên cạnh mục tiêu phòng ngừa, đấu tranh và xử lý tội phạm Việt Nam cũng dần hoàn thiện mô hình TTHS theo hướng vẫn giữ nguyên mô hình tố tụng truyền thống nhưng có tiếp thu những đặc điểm của mô hình tố tụng tranh tụng trên
cơ sở phù hợp với thực tiễn tố tụng và điều kiện thực tế của Việt Nam
Đối với tư cách bị hại, do ảnh hưởng của pháp luật TTHS Xô Viết nên cả pháp luật TTHS Việt Nam và Liên Bang Nga đều có sự phân chia người bị thiệt hại trong TTHS thành hai khái niệm khác nhau là bị hại và nguyên đơn dân sự đồng thời xây dựng hệ thống quyền riêng cho hai chủ thể Vấn đề phân chia khái niệm bị hại và nguyên đơn dân sự có những ưu và nhược điểm nhất định Chẳng hạn, nếu phân biệt
rõ khái niệm bị hại và nguyên đơn dân sự sẽ phân hóa được mức độ tham gia TTHS của hai chủ thể này Việc này tránh trường hợp có quá nhiều chủ thế được chỉ định là
bị hại tham gia phiên tòa một cách không cần thiết, chẳng hạn như trường hợp một người chỉ bị thiệt hại về vật chất và không muốn tham gia tố tụng nhưng vẫn bị triệu tập và phiên tòa phải hoãn nếu họ không có mặt Tuy nhiên, vấn đề phân định khái niệm bị hại và nguyên đơn dân sự cũng tương đối phức tạp Do đó, BLTTHS nhất thiết phải quy định khái niệm, đặc điểm pháp lý rõ ràng của hai chủ thể này để tránh
Trang 22việc xác định sai tư cách chủ thể trong quá trình giải quyết vụ án làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của người bị thiệt hại trong tố tụng hình sự
Tuy vậy, pháp luật TTHS của Việt Nam và Liên Bang Nga cũng có những đặc điểm khác nhau Trong khi BLTTHS 2001 của Nga có sự chuyển đổi mạnh mẽ từ hệ thống tố tụng thẩm vấn sang hệ thống tố tụng mang nhiều đặc điểm đặc trưng của mô hình tố tụng tranh tụng thì Việt Nam dường như vẫn chưa có sự thay đổi lớn Các BLTTHS Việt Nam trước đây vẫn giữ nguyên chất của mô hình TTHS thẩm vấn như đặt nặng việc xét hỏi, đề cao vai trò của cơ quan, người có thẩm quyền THTT trong việc giải quyết vụ án nhằm hướng tới mục đích đấu tranh, kiểm soát tội phạm cho dù cũng đã có sự xuất hiện các đặc điểm của mô hình tố tụng tranh tụng Tuy rằng cả hai nước đều đang xây dựng mô hình tố tụng hình sự theo xu hướng giữ nguyên mô hình
tố tụng cũ và tiếp thu những đặc điểm của mô hình tố tụng hình sự khác phù hợp với truyền thống, thực tiễn tố tụng trong nước nhưng có thể nhận thấy sự khác biệt rõ nét trong việc thay đổi giữa BLTTHS 2001 và BLTTHS 2015 Ví dụ, Liên Bang Nga có
sự khác biệt rõ với Việt Nam về quyền buộc tội nhân danh cá nhân (quyền tư tố) Sự tương đồng và khác biệt trong TTHS của mỗi nước chính là động lực, lý do để mở ra
ý tưởng so sánh BLTTHS năm 2015 của Việt Nam và BLTTHS năm 2001 của Liên Bang Nga về bị hại
1.2.3 Những kinh nghiệm lập pháp có thể đem lại ở góc độ so sánh luật
Nghị quyết 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về chiến lược cải cách
tư pháp đến năm 2020 nêu rõ: “Cải cách tư pháp phải kế thừa truyền thống pháp lý dân tộc, những thành tựu đã đạt được của nền tư pháp xã hội chủ nghĩa Việt Nam; tiếp thu có chọn lọc những kinh nghiệm của nước ngoài phù hợp với hoàn cảnh nước
ta và yêu cầu chủ động hội nhập quốc tế; đáp ứng được xu thế phát triển của xã hội trong tương lai” Để đạt được yêu cầu này, nghiên cứu hệ thống các quy định về một
vấn đề pháp lý của nước ngoài nhằm tìm ra điểm tương đồng và khác nhau, lý giải và đánh giá cách giải quyết vấn đề của nước khác trên các khía cạnh về lịch sử, quan điểm pháp lý, truyền thống pháp luật… đem lại sự hiểu biết toàn diện, khách quan nhằm rút ra kinh nghiệm để hoàn thiện các quy định về vấn đề tương tự trong nước
là việc cần thiết Hoạt động này sẽ giúp rút ngắn thời gian xây dựng, không chỉ giảm thiểu chi phí và rủi ro cho hoạt động lập pháp mà còn tạo tính ổn định cho các văn bản pháp luật, giúp pháp luật tạo ra sẽ phù hợp với thực tế vì đã tham khảo kinh nghiệm của các nước trên thế giới
Trang 23Vì vậy việc nghiên cứu, so sánh BLTTHS của Liên Bang Nga với BLTTHS hiện hành của Việt Nam có thể đem lại những kinh nghiệm lập pháp sau cho Việt Nam:
Một là, việc nghiên cứu quy định khái niệm pháp lý của bị hại, hệ thống quyền
của bị hại đem lại kinh nghiệm lập pháp đó là Việt Nam cần dựa vào vị trí, vai trò, chức năng của bị hại trong TTHS để xây dựng hệ thống quyền của bị hại, tránh bỏ sót các quyền cơ bản của bị hại khi tham gia TTHS; tiếp tục đặt nguyên tắc tranh tụng
là nguyên tắc nền tảng để xây dựng và phát triển các quy định của pháp luật về bị hại trong tố tụng hình sự
Hai là, việc nghiên cứu, so sánh BLTTHS năm 2001 của Liên Bang Nga với
BLTTHS năm 2015 của Việt Nam về các quyền cụ thể của bị hại giúp Việt Nam tìm
ra những điểm giống nhau, khác nhau trong quy định của mỗi nước; từ đó rút ra các
ưu, nhược điểm để đúc kết kinh nghiệm nhằm hoàn thiện các quy định về quyền cụ thể của bị hại trên cơ sở tiếp thu có chọn lọc; từng bước hoàn thiện quy định về quyền của bị hại trong pháp luật TTHS Việt Nam; nâng cao vai trò của bị hại trong quá trình giải quyết VAHS theo tinh thần cải cách tư pháp mà Đảng và Nhà nước ta đã đặt ra
Trang 24TIỂU KẾT CHƯƠNG I
Bị hại là chủ thể thực hiện chức năng buộc tội nhân danh cá nhân và đóng vai trò tương tự như một người làm chứng trong tố tụng hình sự Sự tham gia của bị hại không chỉ nhằm bảo vệ quyền lợi của họ, thỏa mãn yêu cầu về bảo đảm sự công bằng của xã hội mà còn giúp phiên tòa hình sự diễn ra cân bằng, dân chủ, khách quan, góp phần giúp cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng nhanh chóng tìm ra sự thật, giải quyết đúng đắn vụ án Tuy vậy, do ảnh hưởng từ các yếu tố như lịch sử phát triển của hệ thống tư pháp hình sự trong suốt thời kỳ dựng nước và giữ nước, sự ảnh hưởng của pháp luật các nước… mà từ trước đến nay các quy định về bị hại của Việt Nam chưa được quan tâm và hoàn thiện Điều này không những làm mất đi vai trò quan trọng vốn có của bị hại trong quá trình giải quyết vụ án hình sự mà còn làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của họ Từ thiếu xót trong các quy định của BLTTHS về bị hại đã dẫn đến những bất cập trong việc áp dụng BLTTHS trên thực
tế như quyền của bị hại vẫn còn bị vi phạm trong thực tiễn xét xử Thực tế, bị hại thường tham gia giải quyết vụ án rất thụ động, chủ yếu thực hiện nghĩa vụ khai báo khi cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng yêu cầu Việc nghiên cứu, hoàn thiện các quy định của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam về quyền của bị hại là việc làm cần thiết nhằm bảo đảm quyền công dân, quyền con người theo yêu cầu của Đảng
và Nhà nước ta về cải cách tư pháp Để làm được việc này, Việt Nam cần nghiên cứu các quy định về quyền của bị hại của các nước trên thế giới nhằm so sánh sự tương đồng và khác biệt trong quy định của các nước đó với pháp luật trong nước; rút ra ưu điểm, hạn chế trong quy định của mỗi nước để làm kinh nghiệm hoàn thiện hệ thống quyền của bị hại trong pháp luật tố tụng hình sự của Việt Nam Trong số các nước trên thế giới, Liên Bang Nga là quốc gia cần ưu tiên nghiên cứu bởi pháp luật của Liên Bang Nga nói chung và tư pháp hình sự nói riêng có nhiều đặc điểm tương đồng với pháp luật Việt Nam do cùng ảnh hưởng bởi hệ thống pháp luật xã hội chủ nghĩa Mặt khác, Liên Bang Nga cũng là nước có quan hệ ngoại giao gần gũi, thân thiết với Việt Nam, luôn hỗ trợ, giúp đỡ Việt Nam trong lĩnh vực lập pháp Vì vậy, việc lựa chọn nghiên cứu, so sánh các quy định của BLTTHS 2015 của Việt Nam và BLTTHS
2001 của Liên Bang Nga là phù hợp
Trang 25từ phía người bị buộc tội trong quá trình tố tụng; quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại
và các quyền khác nhằm bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại khi tham gia TTHS BLTTHS 2015 của Việt Nam & BLTTHS 2001 của Liên Bang Nga quy định quyền của bị hại bằng hình thức liệt kê các quyền cùng một điều khoản dự liệu Với mục đích so sánh quyền của bị hại trong BLTTHS 2015 của Việt Nam và BLTTHS
2001 của Liên Bang Nga, Chương hai sẽ chia các quyền của bị hại thành ba nhóm gồm nhóm quyền có tính chất buộc tội, quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại và nhóm quyền được bảo đảm giải quyết vụ án vô tư, khách quan, công bằng, tôn trọng danh
dự, nhân phẩm, đối xử tế nhị, riêng tư, an toàn để tiến hành nghiên cứu, so sánh
2.1 Nhóm quyền có tính chất buộc tội
2.1.1 Quyền yêu cầu khởi tố vụ án hình sự đối với những vụ án được khởi
tố theo yêu cầu của bị hại
Buộc tội là hoạt động tố tụng mà nội dung, mục đích của nó là hướng đến xác định có tội phạm, người thực hiện hành vi phạm tội, lỗi của tội phạm, thiệt hại do tội phạm gây ra, các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự và hình phạt được áp dụng đối với người phạm tội Trong khoa học pháp lý cũng như luật thực định ở hầu hết các quốc gia đều có quy định về hai chế độ buộc tội là công tố (public prosecution)
và tư tố (private prosecution) Dựa trên đặc điểm của mỗi chế độ, luật thực định quy định chủ thể và các quyền của chủ thể để thực hiện chức năng công tố hoặc tư tố Công tố là hoạt động của tổ chức hoặc cá nhân được nhà nước trao quyền để thực hiện việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với một người đã thực hiện hành vi
Trang 26phạm tội Công tố có thể được thực hiện vì lợi ích công cộng (lợi ích của Nhà nước hoặc lợi ích chung của xã hội) hoặc được thực hiện vì chính lợi ích của cá nhân cụ thể đã bị tội phạm xâm phạm Quyền công tố bao gồm các hoạt động của cơ quan nhà nước có thẩm quyền như khởi tố vụ án hình sự, điều tra, truy tố người đã thực hiện hành vi phạm tội ra trước Tòa án để xét xử nhằm hướng tới mục đích cuối cùng là truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người đã thực hiện hành vi phạm tội
Trước khi nhà nước xuất hiện, trách nhiệm đối với những thiệt hại do một người gây ra là trách nhiệm của người đó đối với cá nhân bị thiệt hại Lẽ đương nhiên, việc người có hành vi sai trái phải chịu trừng phạt và bồi thường hay không do chính người
bị thiệt hại quyết định Kể từ khi nhà nước và pháp luật về hình sự xuất hiện thì chế
độ công tố dần được lập nên Tuy nhiên, ban đầu tất cả việc truy tố một người ra cơ quan xét xử cũng đều do cá nhân thực hiện Việc cáo buộc một người đã thực hiện hành vi phạm tội và truy tố người đó ra cơ quan có thẩm quyền xét xử hoàn toàn do người bị hại quyết định Nếu không có tư tố thì không có xét xử Luật La Mã còn cho phép cá nhân có quyền tự xử lý hành vi vi phạm pháp luật bằng sức mạnh bạo lực Sau này theo sự phát triển khách quan của nhà nước và xã hội, để có thể quản lý và duy trì trật tự xã hội và bảo đảm sự tồn tại của mình, quyền truy tố dần được chuyển giao cho nhà nước là đại diện thực hiện Tuy vậy, quyền truy tố nhân danh cá nhân vẫn không bị triệt tiêu hoàn toàn Chẳng hạn, ở nhà nước chiếm hữu nô lệ Hy Lạp cổ đại vào thế kỷ V trước công nguyên có hai hình thức tố tụng – công tố (hoạt động tố tụng đối với các vụ án mà trong đó động chạm trực tiếp hay gián tiếp đến các lợi ích của Nhà nước khi mà người đại diện của nó bị thiệt hại do sự vi phạm pháp luật) và
tư tố (hoạt động tố tụng đối với các vụ án xảy ra do sự vi phạm đến các lợi ích riêng của ai đó); còn ở La Mã cổ đại trong thời kỳ tan rã của nền dân chủ quân sự và hình thành Nhà nước chiếm hữu nô lệ thì công tố đã được tiến hành đối với cả các vụ án quan trọng nhất trực tiếp xâm hại (hoặc đe dọa nghiêm trọng) đến trật tự xã hội – các lợi ích công cộng (delicta publica), khác với các vụ án động chạm đến các lợi ích cá nhân (delicta privata).9
Dù khó tìm ra định nghĩa chính thức về chế độ tư tố cũng như chế độ tư tố bao gồm những quyền gì, được thực hiện ở giai đoạn nào nhưng có thể hiểu một cách khái quát thì tư tố là việc một cá nhân nhân danh chính mình để thực hiện các hoạt
9 Lê Cảm, Những vấn đề lý luận về chế định quyền công tố (Nhìn nhận từ góc độ nhà nước pháp quyền),
http://tks.edu.vn/WebThongTinKhoaHoc/Detail/672?idMenu=119 (truy cập ngày 05/3/2019)
Trang 27động nhằm truy tố một người ra trước Tòa án xét xử với mục đích cuối cùng là truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người đó Tư tố được thực hiện không có mục đích
gì khác là bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của chính người đã bị tội phạm gây thiệt hại Do đó, quyền tư tố là một quyền cơ bản và đặc trưng của người bị thiệt hại do tội phạm gây ra Tuy nhiên cần lưu ý rằng chỉ những chủ thể bị thiệt hại trực tiếp bởi tội phạm gây ra (tính mạng, sức khỏe, tài sản, các quyền, lợi ích khác của họ là đối tượng tác động trực tiếp của tội phạm) thì mới có quyền tư tố Các chủ thể chỉ bị thiệt hại gián tiếp hoặc thiệt hại về tài sản do tội phạm gây ra thì không có quyền tư tố hoặc chỉ có quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại Việc áp dụng chế độ tư tố ở phạm vi nào phụ thuộc vào các điều kiện xã hội, đặc điểm, truyền thống và tư duy pháp lý của một quốc gia Nếu như Việt Nam, Nhật Bản, Mỹ… thì quyền truy tố hoàn toàn thuộc về nhà nước, bị hại không có quyền nhân danh chính mình truy tố bị cáo ra Tòa án xét
xử thì một số quốc gia như Đức, Pháp, Trung Quốc, Liên Bang Nga… lại cho phép
bị hại được quyền truy tố người phạm tội ra trước Tòa án trong một số trường hợp nhất định Tuy vậy, dù phạm vi áp dụng chế độ tư tố rộng hay hẹp thì chế độ công tố vẫn đóng vai trò chủ yếu ở hầu hết các quốc gia Tư tố là một khái niệm sánh ngang với công tố, nghĩa là bị hại, đại diện của họ tự truy tố bị cáo theo quy định của pháp luật mà không cần cơ quan công tố nhà nước thực hiện đối với các vụ án áp dụng tư
tố Hiện nay, quyền buộc tội nhân danh cá nhân (tư tố) được thể hiện chủ yếu ở hai quyền là quyền yêu cầu khởi tố VAHS và quyền thực hiện việc truy tố người có hành
vi phạm tội ra trước cơ quan Tòa án để xét xử bằng một lời buộc tội chính thức Mặc dù chế độ công tố giữ vai trò chính nhưng tư tố vẫn có vai trò và ý nghĩa nhất định trong việc giải quyết VAHS xuất phát từ một số lý do sau:
Thứ nhất, các tội xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự, các
quyền tự do, dân chủ và một số quyền mang tính chất cá nhân khác của bị hại cũng đồng thời xâm phạm đến trật tự xã hội nói chung – lợi ích mà nhà nước muốn bảo vệ Tuy nhiên, xét về thiệt hại mà tội phạm gây ra đối với xã hội trong những trường hợp này là không lớn so với thiệt hại gây ra đối với bị hại Với những tội phạm này, đôi lúc việc giải quyết VAHS có thể làm bị hại tiếp tục tổn thương hoặc ảnh hưởng đến danh dự, nhân phẩm, sự riêng tư, tế nhị mà bị hại muốn giữ bí mật Mặt khác, với những tội phạm này nếu bị hại không tố cáo hoặc không muốn đưa ra xét xử thì việc phát hiện hoặc điều tra, giải quyết vụ án của cơ quan nhà nước cũng rất khó khăn Vì vậy, xét đến lợi ích của bị hại, pháp luật trao cho bị hại được quyền tự do quyết định
Trang 28người phạm tội có bị truy tố hay không, thể hiện sự tôn trọng lợi ích riêng của bị hại
mà nhà nước nhượng bộ đối với một số loại tội phạm nhất định
Thứ hai, với những vụ án mà người phạm tội và bị hại có quan hệ đặc biệt như
quan hệ hôn nhân, huyết thống, tình cảm… thì việc cho phép hai bên có thể hòa giải
sẽ có tác dụng giáo dục, cảm hóa người phạm tội tốt hơn đồng thời cũng phù hợp với mong muốn, nguyện vọng của bị hại
Thứ ba, bị hại là chủ thể trực tiếp bị tội phạm xâm phạm Do đó, mục đích truy
cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội, làm sáng tỏ sự thật vụ án là mục đích chính của bị hại khi tham gia tố tụng Trong quá trình giải quyết vụ án, việc tích cực tham gia buộc tội của bị hại đóng vai trò quan trọng, giúp cơ quan tố tụng nhanh chóng tìm ra sự thật, giải quyết vụ án đúng đắn Luật TTHS của một số nước trên thế giới còn xem sự tham gia buộc tội của bị hại là phụ tố (subsidiary prosecution, accessory procecution)
Trong luật thực định Việt Nam, chế độ tư tố được áp dụng với một phạm vi hẹp thể hiện ở quyền của bị hại trong việc tự do yêu cầu hoặc rút yêu cầu khởi tố VAHS đối với một số tội phạm thuộc loại ít nghiêm trọng xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm và một số quyền tự do cá nhân khác Việc giải quyết những
vụ án này chỉ được khởi động khi có yêu cầu khởi tố VAHS của bị hại Các hoạt động tiếp theo như điều tra, truy tố, xét xử vẫn do cơ quan tố tụng thực hiện Tuy BLTTHS
2015 của Việt Nam không quy định trực tiếp nhưng theo khoa học pháp lý, những vụ
án này được xem là vụ án tư - công tố bởi vụ án có sự tham gia của bị hại và cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các hoạt động có tính chất buộc tội Quyền khởi tố VAHS theo yêu cầu của bị hại được quy định tại Điều 155 BLTTHS 2015 và được
áp dụng với cả cá nhân, cơ quan, tổ chức là bị hại Điều 155 quy định bị hại có quyền yêu cầu khởi tố VAHS đối với khoản 1 các tội trong BLHS 2015 gồm: cố ý gây thương tích hoặc tổn hại cho sức khỏe của người khác (Điều 134); cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh (Điều 135); cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng hoặc do vượt quá mức cần thiết khi bắt giữ người phạm tội (Điều 136); vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (Điều 138); vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác do vi phạm quy tắc nghề nghiệp hoặc quy tắc hành chính (Điều 139); hiếp dâm (Điều 141); cưỡng dâm (Điều 143); làm nhục người khác (Điều 155); vu khống (Điều 156); xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp (Điều 226) Tương tự, Liên
Trang 29Bang Nga cũng ghi nhận quyền yêu cầu khởi tố VAHS của bị hại tại Điều 20 BLTTHS 2001 Tuy nhiên, các tội mà BLTTHS 2001 của Nga quy định có phần rộng
và đa dạng hơn so với Việt Nam Theo đó, bị hại không chỉ được yêu cầu khởi tố đối với các tội phạm xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, quyền sở hữu trí tuệ mà còn bao gồm các tội xâm phạm đến quyền hiến định và tự do của con người, của công dân như tội xâm phạm sự bình đẳng về quyền và tự do của con người
và công dân (Điều 136); tội xâm phạm quyền bất khả xâm phạm về cuộc sống riêng
tư (Điều 137); tội xâm phạm bí mật thư tín, điện thoại, các thông tin bưu chính, viễn thông và các thông tin khác (Điều 138) trong BLHS 1996 của Liên Bang Nga
Đối với các vụ án được khởi tố theo yêu cầu của bị hại thì việc trình bày lời buộc tội tại phiên tòa được xem là một thủ tục bắt buộc bởi đây là đặc điểm để phân biệt vụ án được khởi tố theo yêu cầu của bị hại với vụ án khác Hiện nay, quyền trình bày lời buộc tội tại phiên tòa đều được pháp luật Việt Nam và Liên Bang Nga quy
định trong BLTTHS hiện hành Khoản 3 Điều 62 BLTTHS 2015 của Việt Nam quy
định: “Trường hợp vụ án được khởi tố theo yêu cầu của bị hại thì bị hại hoặc người đại diện của họ trình bày lời buộc tội tại phiên tòa” Tuy nhiên, khoản 4 Điều 320
BLTTHS 2015 quy định về trình tự, thủ tục tranh tụng lại chỉ ghi nhận bị hại được
quyền “trình bày, bổ sung ý kiến sau khi Kiểm sát viên trình bày luận tội” mà không
quy định bị hại được trình bày “lời buộc tội” Như vậy, giữa hai Điều 62 và Điều 320
trong BLTTHS 2015 không có sự thống nhất trong việc quy định về quyền trình bày lời buộc tội tại phiên tòa của bị hại Một câu hỏi đặt ra là, việc trình bày lời buộc tội
và việc trình bày, bổ sung ý kiến sau khi Kiểm sát viên trình bày luận tội có khác nhau không? Tác giả cho rằng, việc trình bày lời buộc tội và việc trình bày, bổ sung ý kiến sau khi Kiểm sát viên trình bày lời luận tội là hai vấn đề khác nhau Quy định tại Điều
320 BLTTHS 2015 đã tạo ra cách hiểu rằng sau khi nghe KSV trình bày lời luận tội thì bị hại chỉ được trình bày ý kiến bằng miệng như đồng ý hay không đồng ý với lời luận tội của KSV và bổ sung ý kiến (nếu có) mà không được trình bày “lời buộc tội” một cách chính thức và chuyên nghiệp Lời buộc tội chính thức của bị hại nên được thể hiện bằng văn bản, trong đó đưa ra lập luận, chứng cứ, cơ sở pháp lý chặt chẽ…
để chứng minh tội phạm đã thực hiện và những tình tiết khác có nội dung buộc tội bị cáo bằng ý chí và quan điểm riêng của bị hại ngay từ đầu Quy định này đã làm quyền
trình bày lời buộc tội của bị hại tại phiên tòa chỉ còn tính hình thức, không có nhiều
ý nghĩa để HĐXX căn cứ vào đó giải quyết vụ án mà chỉ có lời luận tội của KSV mới đóng vai trò quyết định đến việc xét xử tại phiên tòa Trong khi đó, việc trình bày “lời
Trang 30buộc tội” tại phiên tòa của bị hại phải được xem như là một thủ tục bắt buộc khi xét
xử những vụ án được khởi tố theo yêu cầu của bị hại Do luật TTHS Việt Nam chưa ghi nhận bị hại là chủ thể TGTT với chức năng buộc tội – chức năng có tính chất đối trọng với bên bào chữa trong VAHS nói chung và tại phiên tòa nói riêng nên vẫn chưa mạnh dạn quy định bị hại được quyền trình bày “lời buộc tội” tại phiên tòa Bởi, một chủ thể không được xem là chủ thể thuộc bên buộc tội, không có vai trò thực hiện chức năng buộc tội thì không thể trình bày “lời buộc tội” tại phiên tòa Ngoài ra, BLTTHS 2015 cũng không quy định nội dung “lời buộc tội” của bị hại trong các vụ
án khởi tố theo yêu cầu của bị hại Điều này sẽ dẫn đến tình trạng mỗi bị hại sẽ trình bày “lời buộc tội” một cách khác nhau, có thể thừa hoặc thiếu các nội dung cần thiết, không có tính chuyên nghiệp và giá trị làm căn cứ để HĐXX giải quyết vụ án Lúc này, việc HĐXX chỉ có thể dựa trên lời luận tội của KSV để xét xử Một vấn đề khác
nữa là, BLTTHS 2015 cũng không quy định “việc trình bày, bổ sung ý kiến sau khi Kiểm sát viên trình bày luận tội” sau khi kết thúc phần xét hỏi và mở đầu phần tranh luận đối với vụ án khởi tố theo yêu cầu của bị hại và “việc trình bày, ý kiến có tính chất buộc tội (ý kiến về tội phạm thực hiện, áp dụng loại hình phạt, mức hình phạt, tình tiết tăng nặng, mức bồi thường thiệt hại)” của bị hại ở phần tranh luận trong các
vụ án thông thường có gì khác nhau không
Khác với BLTTHS 2015 của Việt Nam, BLTTHS 2001 của Nga phân chia vụ
án khởi tố theo yêu cầu của bị hại thành hai loại là vụ án công – tư tố và vụ án tư tố Đối với vụ án công – tư tố, BLTTHS Nga quy định tương tự BLTTHS của Việt Nam Khoản 1 Điều 273 BLTTHS 2001 Liên Bang Nga quy định ngay khi mở đầu phần điều tra tại Tòa án (tương tự phần xét hỏi trong phiên toà hình sự ở Việt Nam) thì công tố viên sẽ công bố “lời buộc tội” Theo giải thích tại khoản 22 Điều 5 BLTTHS
2001 thì “Buộc tội là khẳng định một người đã thực hiện hành vi bị luật hình sự cấm
và được tiến hành theo thủ tục do Bộ luật này quy định” Trong khi theo pháp luật
Việt Nam, bản cáo trạng là văn bản pháp lý do Viện kiểm sát lập ra nhằm khẳng định việc truy tố bị can ra trước tòa án để xét xử Bản cáo trạng ghi rõ diễn biến hành vi phạm tội; những chứng cứ xác định hành vi phạm tội của bị can, thủ đoạn, động cơ, mục đích phạm tội, tính chất, mức độ thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra… Phần kết luận của bản cáo trạng ghi rõ tội danh và điều khoản, điểm của Bộ luật hình sự được
áp dụng (Điều 243 BLTTHS 2015) Có thể thấy “lời buộc tội” do công tố viên công
bố theo khoản 1 Điều 273 BLTTHS 2001 của Nga cũng có nội dung và vai trò, ý nghĩa tương tự như bản cáo trạng trong BLTTHS của Việt Nam khi cả hai đều là văn
Trang 31bản có nội dung khẳng định một người đã thực hiện một hành vi phạm tội nhằm truy
tố người đó trước Tòa án để xét xử Sau khi kết thúc phần điều tra tại Tòa án thì bị hại bắt đầu trình bày, phát biểu ý kiến của mình tại phần tranh luận Điều 292
BLTTHS 2001 của Nga quy định: “Tranh luận của các bên bao gồm phát biểu của người buộc tội và của người bào chữa” Về thủ tục trình bày phần tranh luận thì khoản 3 Điều 292 tiếp tục quy định: “Trong mọi trường hợp người buộc tội phát biểu đầu tiên, bị cáo và người bào chữa của họ phát biểu sau cùng” Theo luật TTHS Liên
Bang Nga, chủ thể buộc tội có công tố viên và bị hại, người đại diện hợp pháp của bị hại Trong khi đó, Điều 320 BLTTHS 2015 của Việt Nam quy định trình tự, thủ tục trình bày lời luận tội là Kiểm sát viên trình bày lời luận tội đầu tiên, tiếp theo là bị cáo và người bào chữa rồi mới đến bị hại Như vậy, về thời điểm trình bày “lời buộc tội” trong vụ án khởi tố theo yêu cầu của bị hại ở Việt Nam và vụ án công – tư tố của Nga có điểm tương đồng khi cùng quy định công tố viên (Kiểm sát viên) trình bày trước rồi sau đó đến phần điều tra tại phiên tòa (phần xét hỏi) Tuy nhiên, tại phần tranh luận lại có sự khác nhau khi pháp luật Nga quy định người buộc tội (trong đó
có bị hại) sẽ phát biểu trước Trong khi Việt Nam quy định Kiểm sát viên trình bày lời luận tội trước, sau đó đến bị cáo và người bào chữa rồi mới đến bị hại (Điều 320 BLTTHS 2015) Quy định này cho thấy Việt Nam vẫn xem bị hại là người TGTT chứ chưa thực sự là chủ thể thực hiện chức năng buộc tội Do đó, trình tự tranh luận trong phiên tòa hình sự của Việt Nam sẽ là bên buộc tội (Kiểm sát viên) trình bày trước rồi đến bên bào chữa (bị cáo và người bào chữa) sau đó mới đến những người TGTT khác (bị hại) tranh luận, phát biểu ý kiến Nhìn chung, đối với quy định về thời điểm, trình tự, thủ tục trình bày “lời buộc tội” giữa vụ án khởi tố theo yêu cầu của bị hại ở Việt Nam với vụ án công – tư tố của Nga đa phần tương tự nhau Theo đó, dù được khởi tố theo yêu cầu của bị hại nhưng cơ quan THTT của nhà nước (đại diện là công tố viên, kiểm sát viên) vẫn giữ vai trò chủ đạo trong hoạt động buộc tội
Tuy nhiên, khi so sánh vụ án được khởi tố theo yêu cầu của bị hại ở Việt Nam với vụ án tư tố của Liên Bang Nga lại có sự khác nhau căn bản BLTTHS 2001 Liên Bang Nga quy định đối với vụ án tư tố, bị hại được quyền buộc tội một cách tuyệt đối như một công tố viên10 Tuy nhiên, BLTTHS của Nga cũng không quy định cụ thể nội dung “lời buộc tội” của bị hại gồm những gì tương tự như Việt Nam Về trình tự, thủ tục tố tụng tại Tòa án thì phần điều tra tại Tòa án bắt đầu bằng việc tư tố viên (bị
10 Khoản 59 Điều 5 và Điều 22 BLTTH 2001 Liên Bang Nga
Trang 32hại) công bố lời buộc tội tại phiên tòa Đối với vụ án tư tố, trường hợp bị hại vắng mặt mà không có lý do chính đáng thì vụ án bị đình chỉ (khoản 3 Điều 249 BLTTHS Nga 2001) Trong khi đó đối với vụ án được khởi tố theo yêu cầu của bị hại ở Việt Nam, nếu bị hại vắng mặt thì tùy trường hợp, HĐXX quyết định hoãn phiên tòa hoặc vẫn tiến hành xét xử (Điều 292 BLTTHS 2015) Như vậy, việc bị hại vắng mặt dù có
lý do chính đáng thì vẫn không phải là cơ sở để HĐXX hoãn phiên tòa mà việc hoãn phiên tòa sẽ phụ thuộc vào ý chí chủ quan của HĐXX trên cơ sở đánh giá sự quan trọng trong việc có mặt của bị hại đối với vụ án cụ thể Với vụ án tư tố của Nga, bị hại có quyền buộc tội một cách chủ động và tuyệt đối thể hiện ở chỗ bị hại sẽ là người chịu trách nhiệm buộc tội trước tòa án mà không có sự tham gia của công tố viên (chủ thể truy tố nhân danh nhà nước) Trong khi đó, đối với vụ án được khởi tố theo yêu cầu của bị hại ở Việt Nam thì quyền của bị hại chỉ dừng lại ở việc yêu cầu cơ quan
có thẩm quyền khởi tố vụ án còn việc quyết định khởi tố vụ án hay không, điều tra, truy tố bị can thế nào vẫn do cơ quan có thẩm quyền THTT thực hiện Việc vắng mặt của bị hại dù có lý do chính đáng cũng không phải là căn cứ quyết định để HĐXX hoãn phiên tòa Bị hại tuy có tham gia vào việc trình bày “lời buộc tội” thông qua việc trình bày, bổ sung ý kiến sau khi KSV trình bày lời luận tội nhưng như đã phân tích, việc trình bày của bị hại không đóng vai trò quyết định để HĐXX xem xét, đánh giá làm căn cứ xét xử như đối với vụ án tư tố của Liên Bang Nga Lý do của sự khác nhau này là, luật TTHS của Nga quy định rất rõ vị trí, chức năng của bị hại trong TTHS đó là chủ thể thuộc bên buộc tội Do đó, việc trao cho bị hại được quyền công
bố “lời buộc tội” trong vụ án được khởi tố theo yêu cầu của bị hại là điều đương nhiên Hơn nữa, đối với vụ án tư tố, bị hại là chủ thể duy nhất thực hiện chức năng buộc tội nên “lời buộc tội” của bị hại lúc này đóng vai trò quan trọng trong quá trình xét xử tại Tòa án, là căn cứ để HĐXX giải quyết vụ án Ngược lại, luật TTHS của
Việt Nam không quy định bị hại là chủ thể thực hiện chức năng buộc tội mà chỉ là
người TGTT Bị hại chỉ tham gia vào quá trình giải quyết vụ án nhằm giúp cơ quan
có thẩm quyền THTT giải quyết sáng tỏ vụ án Do đó, ngay cả đối với những vụ án được khởi tố theo yêu cầu của bị hại thì các quy định về trình bày “lời buộc tội” của
bị hại vẫn còn mờ nhạt và mang tính hình thức
Một điểm khác nhau nữa giữa vụ án được khởi tố theo yêu cầu của bị hại của Việt Nam và Liên Bang Nga (cả vụ án công – tư tố và vụ án tư tố) là việc đình chỉ giải quyết vụ án BLTTHS 2015 quy định trong trường hợp bị hại rút yêu cầu khởi tố thì vụ án phải được đình chỉ, kể cả tại phiên tòa Việc cho phép bị hại rút yêu cầu
Trang 33khởi tố tại phiên tòa sẽ đảm bảo được quyền lợi của bị hại hơn Qua xét hỏi, tranh luận công khai và quá trình kiểm tra, đánh giá chứng cứ, bị hại có cơ hội thực hiện quyền của mình một cách dân chủ, khách quan và đúng đắn hơn bởi lúc này họ có thể không bị ép buộc, cưỡng bức hay vì một sự đe dọa, áp lực nào Tuy nhiên, BLTTHS
2015 của Việt Nam lại không quy định bị hại có được quyền rút yêu cầu khởi tố khi HĐXX nghị án hoặc khi Toà án tuyên án hay không cũng như được rút yêu cầu khởi
tố ở cấp xét xử nào Theo tác giả, tuy pháp luật trao cho bị hại được quyền tự do rút yêu cầu khởi tố vụ án nhưng cũng cần ràng buộc chặt chẽ về thời điểm rút yêu cầu để
bị hại suy nghĩ cẩn trọng hơn, tránh trường hợp tùy tiện rút yêu cầu khởi tố cũng như không làm mất thời gian, công sức của cơ quan THTT Quy định rõ thời điểm được quyền rút yêu cầu khởi tố sẽ đảm bảo sự hài hòa giữa quyền tự do rút yêu cầu khởi tố
vụ án của bị hại với việc tiết kiệm thời gian, chi phí của Nhà nước vì kể từ khi có yêu cầu khởi tố VAHS của bị hại thì cả một hệ thống các cơ quan Nhà nước đã khởi động
để tham gia vào quá trình tố tụng Do đó, BLTTHS 2015 nên quy định bị hại chỉ được rút yêu cầu khởi tố vụ án trước khi HĐXX vào nghị án Đồng thời, việc rút yêu cầu khởi tố chỉ được thực hiện ở cấp sơ thẩm bởi khi vụ án được giải quyết theo cấp phúc thẩm, giám đốc thẩm hoặc tái thẩm thì có thể các hậu quả pháp lý nặng nề đã phát sinh như người phạm tội đang thụ án hoặc cơ quan THTT và những người TGTT khác đã bỏ ra quá nhiều công sức, thời gian, chi phí vào việc giải quyết vụ án Khác BLTTHS 2015, BLTTHS 2001 Liên Bang Nga không quy định về việc rút yêu cầu khởi tố VAHS của bị hại mà chỉ quy định về việc thỏa thuận giữa bị hại
và bị can Tuy nhiên, để tránh yêu cầu khởi tố tùy tiện, BLTTHS 2001 của Nga chỉ chấp nhận sự thỏa thuận trước khi Tòa án tiến hành nghị án để tuyên án Theo đó, đối với những vụ án tư tố, cơ quan THTT sẽ ghi nhận việc hòa giải thành công giữa bị hại và bị can và lúc này vụ án sẽ được đình chỉ Trong vụ án tư tố, việc hòa giải chỉ được thực hiện trước khi Tòa án tiến hành nghị án để tuyên án (khoản 2 Điều 20) Đối với vụ án công – tư tố, pháp luật cũng cho phép bị hại có quyền yêu cầu đình chỉ
vụ án nếu được Viện kiểm sát đồng ý trong trường hợp hòa giải thành với người bị nghi ngờ hoặc bị buộc tội (nghĩa là sau khi đã bị Tòa án tuyên án) Trong trường hợp này, người phạm tội được xem là miễn trách nhiệm hình sự Như vậy, có thể hiểu trường hợp cơ quan THTT không đình chỉ vụ án là khi người bị buộc tội không hòa giải hoặc hòa giải không thành với bị hại Tuy nhiên, việc chỉ ghi nhận về sự thỏa thuận của hai bên mà không quy định về quyền rút yêu cầu khởi tố vụ án của bị hại
sẽ dẫn đến việc một khi đã yêu cầu khởi tố vụ án thì việc thay đổi ý định khởi tố vụ
Trang 34án của bị hại sẽ không còn phụ thuộc hoàn toàn vào ý chí của bị hại nữa Quy định này sẽ phần nào ảnh hưởng đến quyền tự do yêu cầu khởi tố của bị hại cũng như mục đích ban đầu của các nhà làm luật khi cho phép bị hại được quyền tự do khởi tố hoặc rút yêu cầu khởi tố VAHS Khác với BLTTHS 2001 của Nga, luật TTHS Việt Nam không ghi nhận việc hòa giải giữa bị hại và người phạm tội Do đó, việc hòa giải của
bị hại với người phạm tội nếu có cũng không được công nhận mà cơ quan THTT chỉ quan tâm đến việc bị hại có rút yêu cầu khởi tố hay không mà thôi
Ngoài ra, khoản 4 Điều 20 BLTTHS 2001 của Nga cũng cho phép Kiểm sát viên, Dự thẩm viên, Điều tra viên khi có sự đồng ý của VKS có quyền khởi tố VAHS
về bất kì tội phạm nào thuộc trường hợp khởi tố VAHS theo yêu cầu của bị hại, nếu như tội phạm đó xâm phạm đến người đang ở trong tình trạng bị lệ thuộc hoặc do những nguyên nhân khác mà người đó không có khả năng tự mình sử dụng các quyền của mình BLTTHS 2015 của Việt Nam không có quy định cơ quan có thẩm quyền THTT được quyền khởi tố vụ án trong trường hợp vì lí do khách quan mà bị hại không khởi tố VAHS được Trên thực tế nhiều trẻ em lang thang cơ nhỡ, người vô gia cư bị nhược điểm về tâm thần, thể chất, bị hại đã chết… không có nơi cư trú, người thân thích, không được một tổ chức nào bảo trợ Đây là những đối tượng sống không có nơi cư trú ổn định, không có người giám hộ theo quy định của pháp luật về dân sự11 Với những trường hợp này, mặc dù khi có tin báo từ quần chúng nhân dân, phương tiện truyền thông… hoặc tự phát hiện ra nhưng CQĐT hay VKS đều không được khởi
tố VAHS vì không có yêu cầu của bị hại Như vậy, trong trường hợp này đã bỏ lọt tội phạm và quyền, lợi ích hợp pháp của bị hại không được bảo vệ trong khi họ vẫn là công dân Việt Nam
Có thể thấy, khác với Việt Nam vẫn quy định KSV là chủ thể giữ vai trò chủ đạo trong việc thực hiện chức năng buộc tội đối với các vụ án được khởi tố theo yêu cầu của bị hại thì luật TTHS Nga trao cho bị hại quyền buộc tội tại phiên tòa như một
tư tố viên đối với những vụ án tư tố Với quan điểm chủ thể có quyền thực hiện chức năng buộc tội chỉ có thể là VKS, hoạt động buộc tội của VKS có tính chất chuyên nghiệp cao hơn so với bị hại đồng thời mục đích buộc tội của bị hại chỉ mang tính chất vì lợi ích cá nhân nên BLTTHS 2015 của Việt Nam vẫn chỉ quy định bị hại được
thực hiện quyền trình bày lời buộc tội thông qua việc trình bày, bổ sung ý kiến sau
11 Điều 54 BLDS 2015 quy định về việc cử người giám hộ trong trường hợp không có ai là người thân thích để giám hộ thì trường hợp cuối cùng là UBND xã, phường, thị trấn nơi người đó cư trú sẽ cử người giám hộ
Trang 35khi VKS trình bày lời luận tội Ngoài ra, lý giải cho việc BLTTHS 2015 vẫn chưa
mạnh dạn trong việc quy định bị hại được quyền nhân danh chính cá nhân thực hiện quyền truy tố người phạm tội bởi hiện nay, trình độ hiểu biết và nhận thức về pháp luật của đại đa số người Việt Nam còn chưa cao Bên cạnh đó, tỷ lệ luật sư ở Việt Nam còn khá thấp so với các nước trong khu vực và trên thế giới (Việt Nam có tỷ lệ luật sư trên tổng số dân là 1/14.000, một tỷ lệ thấp so với các nước như Mỹ (1/250), Pháp và Singaore (1/1.100), Thái Lan (1/1.526), Nhật Bản (1/4.546))12 Ngoài ra, không phải bị hại nào cũng có khả năng tài chính để nhờ đến luật sư Đội ngũ luật sư cũng chỉ tập trung chủ yếu ở các thành phố lớn như Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh Do đó, nếu quy định bị hại là chủ thể duy nhất thực hiện “lời buộc tội” tại phiên tòa giống BLTTHS 2001 của Liên Bang Nga mà không có sự tham gia của cơ quan nhà nước chuyên nghiệp trong điều kiện thực tế của Việt Nam hiện nay thì chất lượng hoạt động buộc tội sẽ không đảm bảo, gây mất thời gian, công sức của cơ quan giải quyết vụ án cũng như gây khó khăn cho chính bị hại
Tóm lại, phạm vi áp dụng chế độ tư tố (thông qua việc cho phép bị hại được quyền yêu cầu khởi tố VAHS) ở Liên Bang Nga rộng hơn so với Việt Nam Theo pháp luật Nga, đối với vụ án công – tư tố thì nhà nước (Viện kiểm sát) vẫn đóng vai trò truy tố, buộc tội bị cáo tại phiên tòa còn đối với vụ án tư tố thì bị hại tự mình thực hiện việc buộc tội bị cáo trước tòa Lúc này, bên buộc tội chỉ có bị hại Trong khi đó, luật TTHS Việt Nam chỉ quy định về quyền khởi tố theo yêu cầu của bị hại mà không
có quy định nào đề cập đến “quyền tư tố” hay “vụ án tư tố” bởi tất cả VAHS của Việt Nam đều được xem là vụ án công tố (do cơ quan nhà nước thực hiện chức năng buộc tội) Điều này cho thấy chức năng buộc tội trong luật TTHS thực định của Việt Nam vẫn được xem thuộc về cơ quan nhà nước và chỉ có cơ quan nhà nước mới có quyền truy tố người phạm tội, ngay cả trong vụ án được khởi tố theo yêu cầu của bị hại Quy định như vậy cũng dẫn đến cách hiểu rằng vai trò của bị hại khi tham gia tố tụng
không phải là“Chủ thể thuộc bên buộc tội, có chức năng thực hiện việc buộc tội” –
một chức năng đối trọng với chức năng bào chữa và các chủ thể thuộc bên bào chữa như pháp luật TTHS của Liên Bang Nga mà chỉ được thực hiện một số quyền mang tính chất buộc tội được suy ra từ các quyền tố tụng cụ thể quy định trong BLTTHS
Từ đó làm cho vai trò của bị hại trở nên mờ nhạt, vẫn chưa được xem là chủ thể có
12 Thanh Tùng, “Phát triển nghề luật sư: Cần chất hơn lượng!”, Báo Pháp luật Thành phố Hồ Chí Minh, 22/8/2011
Trang 36vai trò chính trong việc thực hiện chức năng buộc tội, thậm chí trong chính vụ án
được khởi tố theo yêu cầu của bị hại Mặt khác, do pháp luật Nga quy định rõ bị hại
là chủ thể thực hiện chức năng buộc tội ngay trong BLTTHS nên việc quy định bị hại
có các quyền cân bằng, đối trọng với bên chủ thể thực hiện chức năng bào chữa trong
vụ án được khởi tố theo yêu cầu của bị hại là điều có thể hiểu được Giải thích cho sự khác nhau này là bởi BLTTHS 2001 của Nga áp dụng những ràng buộc theo yêu cầu của Công ước Châu âu về bảo vệ nhân quyền và các quyền tự do cơ bản (ECHR) năm
1953 Do đó, BLTTHS 2001 của Nga ưu tiên mục đích “bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của các cá nhân và tổ chức, của những người bị thiệt hại do tội phạm gây ra” bên cạnh mục đích “phát hiện và xử lý nhanh chóng, chính xác tội phạm và người phạm tội” Trong khi đó, mục đích được ưu tiên hàng đầu của pháp luật TTHS Việt Nam vẫn là “bảo đảm phát hiện chính xác và xử lý công minh, kịp thời mọi hành vi phạm tội, phòng ngừa, ngăn chặn tội phạm, không để lọt tội phạm” Chính quan điểm này đã dẫn đến sự khác nhau trong việc quy định về quyền yêu cầu khởi tố vụ án hình
sự của bị hại giữa pháp luật TTHS của hai nước Việt Nam và Liên Bang Nga
2.1.2 Quyền có tính chất buộc tội đối với những vụ án được khởi tố không phụ thuộc yêu cầu của bị hại
BLTTHS Việt Nam hiện hành không quy định chính thức bị hại thuộc nhóm chủ thể có quyền thực hiện chức năng buộc tội, ngoại trừ quy định bị hại được quyền
“trình bày lời buộc tội tại phiên tòa” đối với vụ án khởi tố theo yêu cầu của bị hại (khoản 3 Điều 63 BLTTHS 2015) Do đó, quyền buộc tội của bị hại trong TTHS ở Việt Nam chủ yếu được suy ra từ nội dung của các quyền tố tụng cụ thể quy định trong BLTTHS Không chỉ những vụ án được khởi tố theo yêu cầu của bị hại thì bị hại mới có quyền buộc tội mà đối với những vụ án khác, bị hại vẫn được luật TTHS cho phép thực hiện một số quyền nhằm thực hiện chức năng buộc tội, trong đó có quyền cung cấp chứng cứ có nội dung buộc tội đối với người đã thực hiện hành vi phạm tội; quyền đề nghị xét hỏi, trình bày ý kiến, tranh luận có nội dung buộc tội tại phiên tòa và quyền kháng cáo phần trách nhiệm hình sự đối với bị cáo
2.1.2.1 Quyền cung cấp chứng cứ có nội dung buộc tội
Quyền cung cấp chứng cứ có nội dung buộc tội giúp bị hại đưa ra những đồ vật, tài liệu… có ý nghĩa trong việc chứng minh hành vi phạm tội, người phạm tội, tính chất, mức độ thiệt hại do tội phạm gây ra, những tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình
sự và những tình tiết khác có nội dung buộc tội Dựa vào đó, cơ quan có thẩm quyền THTT sẽ tiếp nhận, xem xét, đánh giá những chứng cứ có ý nghĩa trong việc định tội
Trang 37và truy cứu TNHS đối với bị cáo Vì vậy, quyền cung cấp chứng cứ có nội dung buộc tội giúp bị hại bảo vệ được quyền, lợi ích hợp pháp của mình cũng như giúp cơ quan, người có thẩm quyền THTT giải quyết vụ án khách quan, toàn diện
Mặc dù bị hại có quyền cung cấp tài liệu, đồ vật để giúp cơ quan có thẩm quyền THTT giải quyết vụ án nhưng dễ dàng nhận ra bị hại thường có khuynh hướng đưa
ra những chứng cứ có nội dung buộc tội Trong khi đó, cơ quan có thẩm quyền THTT (kể cả Cơ quan điều tra, Viện Kiểm sát) đều phải thu thập cả chứng cứ gỡ tội và chứng
cứ buộc tội Mặc dù đây là những cơ quan thực hiện chức năng buộc tội khi tham gia
tố tụng tuy nhiên mục đích cuối cùng của các cơ quan này là đại diện cho nhà nước làm sáng tỏ sự thật và giải quyết đúng đắn vụ án Vậy, một câu hỏi đặt ra là liệu bị hại khi cung cấp chứng cứ có nội dung “gỡ tội” có được xem là bên bào chữa không? Tác giả cho rằng dù có đưa ra chứng cứ có nội dung “gỡ tội” thì bị hại vẫn là chủ thể thuộc “bên buộc tội” bởi mục đích chính của bị hại khi TGTT vẫn là mong muốn truy cứu TNHS đối với người phạm tội, yêu cầu bồi thường thiệt hại để dành lại công bằng cho mình Do đó, dù bị hại đưa ra chứng cứ có nội dung “gỡ tội” cũng chỉ với mục đích giúp cơ quan THTT giải quyết vụ án khách quan, công bằng, đúng đắn
Về chứng cứ, cả hai BLTTHS của Việt Nam và Nga đều có quy định chứng cứ gồm vật chứng, lời khai, lời trình bày của người bị buộc tội và người TGTT, các kết luận của cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền như kết luận giám định, định giá tài sản, các biên bản trong hoạt động khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án
Bộ luật TTHS Việt Nam và Liên Bang Nga hiện hành đều quy định về quyền cung cấp chứng cứ của bị hại tại điểm b khoản 2 Điều 62 BLTTHS 2015 và điểm 4 khoản 2 Điều 42 BLTTHS 2001 Các chứng cứ mà bị hại cung cấp có thể bao gồm
cả chứng cứ buộc tội, tăng nặng trách nhiệm hình sự và chứng cứ gỡ tội, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự Ngoài ra, BLTTHS của hai nước đều không giới hạn về thời điểm bị hại có thể cung cấp chứng cứ Do đó, bị hại có thể đưa ra chứng cứ ngay từ khi có tội phạm xảy ra Tiếp đó, khoản 1 Điều 322 BLTTHS 2015 của Việt Nam cũng quy định bị hại có quyền trình bày ý kiến, đưa ra chứng cứ, tài liệu và lập luận của mình để đối đáp với KSV về những chứng cứ xác định có tội, chứng cứ xác định vô tội; tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội…”
Đối với quyền thu thập chứng cứ, BLTTHS 2015 Việt Nam và BLTTHS 2001 của Nga có quy định tương tự nhau BLTTHS 2015 của Việt Nam quy định bị hại và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại được quyền đưa ra chứng cứ nhưng lại không quy định các biện pháp hợp pháp mà các chủ thể này được thực hiện để thu
Trang 38thập chứng cứ Trong khi đó, khoản 2 Điều 88 BLTTHS 2015 quy định rõ những hoạt động thu thập chứng cứ hợp pháp mà người bào chữa của người bị buộc tội được thực hiện Quy định này đã gián tiếp hạn chế quyền cung cấp chứng cứ nói chung và cung cấp chứng cứ có nội dung buộc tội của bị hại nói riêng bởi nếu không quy định các biện pháp thu thập chứng cứ hợp pháp của bị hại, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại thì những tài liệu, đồ vật… có nội dung buộc tội do họ thu thập được
có thể sẽ không được cơ quan có thẩm quyền THTT chấp nhận là chứng cứ Tương
tự BLTTHS 2015 của Việt Nam, BLTTHS 2001 của Liên Bang Nga quy định bị hại
và những người đại diện của họ có quyền “thu thập và đưa ra những tài liệu bằng văn bản và những vật để đưa vào hồ sơ vụ án với tư cách là chứng cứ” Tuy nhiên,
quyền thu thập chứng cứ của bị hại và người đại diện của họ trong luật TTHS Liên Bang Nga cũng có phạm vi hạn chế hơn so với quyền thu thập chứng cứ của người bào chữa Trong khi khoản 3 Điều 86 BLTTHS 2001 của Nga quy định người bào
chữa có quyền thu thập chứng cứ bằng các cách như “thu thập những vật, tài liệu và những thông tin khác; hỏi ý kiến những người khác nếu được họ đồng ý; tìm hiểu các chứng cứ, bản nhận xét và những tài liệu khác từ các cơ quan quyền lực nhà nước, các cơ quan tự quản địa phương, các tổ chức xã hội mà cơ quan, tổ chức này có nghĩa vụ cung cấp những tài liệu hoặc bản sao tài liệu theo yêu cầu” thì bị hại và những người đại diện của họ chỉ được quyền thu thập những tài liệu bằng văn bản và những vật để đưa vào hồ sơ vụ án mà không được thực hiện các hoạt động thu thập
chứng cứ nêu trên tương tự như người bào chữa (khoản 2 Điều 86) Bên cạnh đó, BLTTHS 2001 của Nga cũng không quy định bị hại được quyền thu thập những tài liệu bằng văn bản và vật đó bằng cách nào, theo trình tự, thủ tục nào Sở dĩ BLTTHS
2015 của Việt Nam không quy định các biện pháp hợp pháp để bị hại, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại thu thập chứng cứ bởi luật TTHS Việt Nam quy
định rõ “Trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc về cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng” (Điều 15 BLTTHS 2015) Bị hại chỉ là người TGTT giúp cho cơ quan
có thẩm quyền THTT giải quyết vụ án chứ chưa được xem là chủ thể thực hiện chức năng buộc tội do đó họ không có trách nhiệm thu thập chứng cứ để chứng minh tội phạm Bị hại, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại chỉ có thể cung cấp những chứng cứ mà họ có cho cơ quan có thẩm quyền THTT để xem xét, kiểm tra, đánh giá và quyết định sử dụng để chứng minh các tình tiết cần làm sáng tỏ trong vụ
án Trong khi đó, pháp luật cần quy định các hoạt động thu thập chứng cứ hợp pháp
mà người bào chữa có thể thực hiện nhằm giúp họ bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp
Trang 39của người bị buộc tội trước sự buộc tội của các cơ quan có thẩm quyền THTT (Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát) Đối với Liên Bang Nga, do đã quy định rõ bị hại là chủ thể thực hiện chức năng buộc tội nên pháp luật TTHS Liên Bang Nga cho phép bị hại
có quyền thu thập chứng cứ để phục vụ cho hoạt động buộc tội của mình tuy rằng phạm vi được quyền thu thập vẫn còn hạn chế do việc thu thập chứng cứ buộc tội đã
có sự trợ giúp lớn và được thực hiện từ phía cơ quan có thẩm quyền THHT
Ngoài ra, bị hại còn có quyền trình bày ý kiến về chứng cứ, tài liệu, đồ vật liên
quan và yêu cầu người có thẩm quyền THTT kiểm tra, đánh giá (điểm c khoản 2 Điều
62 BLTTHS 2015 của Việt Nam) Quy định này tạo điều kiện cho quyền cung cấp
chứng cứ, trong đó có quyền cung cấp chứng cứ buộc tội của bị hại được thực hiện tốt hơn, giúp bị hại tham gia phiên tòa tích cực hơn cũng như giúp cơ quan, người có thẩm quyền THTT giải quyết vụ án khách quan, toàn diện và dân chủ hơn Có thể hiểu bị hại không chỉ có quyền đưa ra ý kiến đối với chứng cứ, tài liệu, đồ vật do mình cung cấp mà còn có quyền trình bày ý kiến đối với chứng cứ, tài liệu, đồ vật do những người TGTT khác đưa ra và yêu cầu người có thẩm quyền THTT kiểm tra, đánh giá Về quyền này, BLTTHS hiện hành của Nga không có quy định cụ thể tuy nhiên theo khoản 15 Điều 42 BLTTHS 2001 của Nga cho thấy bị hại hoàn toàn có
thể trình bày ý kiến về chứng cứ, tài liệu, đồ vật thông qua quyền phát biểu ý kiến tranh luận tại phiên tòa Ngoài ra, cũng có thể hiểu pháp luật TTHS Nga có cho phép
bị hại được quyền trình bày ý kiến của mình về chứng cứ thông qua quy định: “Những người tham gia tranh luận không có quyền dựa vào những chứng cứ không được xem xét tại phiên tòa hoặc những chứng cứ mà Tòa án không chấp nhận” để tranh luận
quy định tại khoản 4 Điều 292 BLTHS 2001 Liên Bang Nga
2.1.2.2 Quyền đề nghị xét hỏi, trình bày ý kiến, tranh luận có nội dung buộc tội tại phiên tòa
Ngoài quyền được tham gia phiên tòa, luật TTHS của Việt Nam và Liên Bang Nga đều quy định bị hại có quyền trình bày ý kiến, đề nghị chủ tọa xét hỏi bị cáo và những chủ thể khác, tranh luận về các vấn đề có nội dung buộc tội tại phiên tòa Các quyền này chính là cơ chế pháp lý đảm bảo cho bị hại thực hiện tốt chức năng buộc tội của mình, chứng minh cho những chứng cứ, yêu cầu đưa ra là có căn cứ và hợp
lý Hơn ai hết, bị hại là chủ thể mong muốn vụ án được giải quyết đúng đắn nên sẽ là chủ thể tích cực trình bày ý kiến, đề nghị xét hỏi và tranh luận tại phiên tòa
Điểm h khoản 2 Điều 62 BLTTHS 2015 của Việt Nam quy định bị hại có quyền
“tham gia phiên tòa; trình bày ý kiến, đề nghị chủ tọa hỏi bị cáo và người tham gia
Trang 40phiên tòa; tranh luận tại phiên tòa để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình; xem biên bản phiên tòa” Các quyền này sau đó tiếp tục được quy định tại Chương
xét xử Trong khi đó, BLTTHS 2001 của Liên Bang Nga không quy định cụ thể các quyền này trong Điều luật quy định chung về quyền của bị hại mà chỉ có thể suy ra
từ nội dung của các quy định tại Phần Thủ tục xét xử trong BLTTHS 2001
Quyền đề nghị xét hỏi là việc bị hại được quyền đề nghị chủ tọa phiên tòa hỏi
bị cáo, những người có mặt tại phiên tòa về các vấn đề, chứng cứ còn chưa rõ, mâu thuẫn và cần làm sáng tỏ nhằm thực hiện chức năng buộc tội của mình Đối với quyền
đề nghị xét hỏi, đoạn 2 khoản 2 Điều 307 BLTTHS 2015 của Việt Nam quy định
“Người TGTT tại phiên tòa có quyền đề nghị chủ tọa phiên tòa hỏi thêm về những tình tiết cần làm sáng tỏ” Tuy BLTTHS 2015 không quy định cụ thể đó là những
tình tiết gì nhưng theo tác giả, bị hại có quyền đề nghị hỏi về bất cứ vấn đề gì, bao gồm những tình tiết định tội, loại hình phạt, khung hình phạt, tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ TNHS, bồi thường thiệt hại, về việc thực hiện thủ tục tố tụng của những người THTT, về nhân chứng… mà không chỉ là các tình tiết liên quan đến bị hại Tuy
khoản 2 Điều 309 BLTTHS 2015 có quy định “Người TGTT tại phiên tòa có quyền
đề nghị chủ tọa phiên tòa hỏi thêm về những tình tiết liên quan đến họ” nhưng quy
định này không mẫu thuẫn với Điều 307 bởi Điều 307 là quy định chung về quyền hỏi của bị hại đối với tất cả những người TGTT, còn Điều 309 là quy định về việc hỏi của bị hại đối với bị cáo Về quyền này, khoản 1 Điều 275 BLTTHS 2001 của
Nga quy định “Nếu bị cáo đồng ý đưa ra lời khai thì người bào chữa, những người tham gia xét xử thuộc bên bào chữa hỏi bị cáo, sau đó đến lượt công tố viên và những người tham gia xét xử thuộc bên buộc tội” Ngoài ra, BLTTHS 2001 cũng cho phép
bị hại được quyền hỏi người làm chứng trong quá trình lấy lời khai người làm chứng tại phiên tòa trong trường hợp bị hại có yêu cầu triệu tập người làm chứng (khoản 3 Điều 278) hay bị hại cũng có quyền yêu cầu Tòa án triệu tập người giám định để lấy lời khai người giám định đã đưa ra kết luận giám định trong quá trình điều tra để làm sáng tỏ hoặc bổ sung kết luận giám định mà họ đã đưa ra (khoản 1 Điều 282) Trình bày ý kiến là trình bày quan điểm, nhận xét về các tình tiết của vụ án và
về việc giải quyết vụ án Bị hại có thể trình bày ý kiến bằng lời nói kèm việc đưa ra chứng cứ, tài liệu để chứng minh cho ý kiến, quan điểm có nội dung buộc tội của mình là có căn cứ Quyền được trình bày ý kiến của bị hại đặc biệt được các nhà làm luật Việt Nam quan tâm, thể hiện ở rất nhiều quy định trong phần xét xử, tranh luận Ngay từ Điều 250 BLTTHS 2015 quy định về nguyên tắc xét xử tại phiên tòa, luật đã