1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Pháp luật về đối tượng chịu thuế tiêu thụ đặc biệt

87 8 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Pháp luật về đối tượng chịu thuế tiêu thụ đặc biệt
Tác giả Cao Thị Thùy Như
Người hướng dẫn TS. Nguyễn Văn Tuyến
Trường học Trường Đại Học Luật TP. Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Luật kinh tế
Thể loại Luận văn thạc sĩ luật học
Năm xuất bản 2012
Thành phố TP. Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 87
Dung lượng 675,26 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Việc quy định loại hàng hóa, dịch vụ nào là đối tượng chịu thuế tiêu thụ đặc biệt và mức thuế suất thuế tiêu thụ đặc biệt là một vấn đề hết sức quan trọng, có ảnh hưởng đến nhiều mặt của

Trang 1

CAO THỊ THÙY NHƯ

PHÁP LUẬT VỀ ĐỐI TƯỢNG CHỊU THUẾ

TIÊU THỤ ĐẶC BIỆT

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

TP HỒ CHÍ MINH, NĂM 2012

Trang 2

CAO THỊ THÙY NHƯ

PHÁP LUẬT VỀ ĐỐI TƯỢNG CHỊU THUẾ

Trang 3

học nào khác Các số liệu, ý tưởng khoa học tham khảo từ các tài liệu khác được trích dẫn nguồn gốc rõ ràng Tôi xin chịu trách nhiệm về tính trung thực của luận văn

TP Hồ Chí Minh, ngày 26 tháng 11 năm 2012 Tác giả

Cao Thị Thùy Như

Trang 4

2 Thuế giá trị gia tăng Thuế GTGT

4 Thuế thu nhập doanh nghiệp Thuế TNDN

5 Thuế xuất khẩu, nhập khẩu Thuế XNK

Trang 5

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC BAN HÀNH PHÁP LUẬT VỀ

ĐỐI TƯỢNG CHỊU THUẾ TIÊU THỤ ĐẶC BIỆT 6

1.1 Khái quát về thuế tiêu thụ đặc biệt 6

1.1.1 Khái niệm thuế tiêu thụ đặc biệt 6

1.1.2 Đặc điểm của thuế tiêu thụ đặc biệt 7

1.1.3 Vai trò của thuế tiêu thụ đặc biệt 8

1.1.4 Vị trí, tầm quan trọng của đối tượng chịu thuế trong cấu trúc thuế tiêu thụ đặc biệt 10

1.2 Những vấn đề lý luận về đối tượng chịu thuế tiêu thụ đặc biệt 10

1.2.1 Quan niệm về đối tượng chịu thuế tiêu thụ đặc biệt 10

1.2.2 Đặc điểm của đối tượng chịu thuế tiêu thụ đặc biệt 12

1.2.3 Những tiêu chí cơ bản để xác định hàng hóa, dịch vụ là đối tượng chịu thuế tiêu thụ đặc biệt 16

1.2.4 Mối quan hệ giữa đối tượng chịu thuế tiêu thụ đặc biệt với thuế suất và giá tính thuế tiêu thụ đặc biệt 23

1.3 Nguyên lý điều chỉnh bằng pháp luật đối với đối tượng chịu thuế tiêu thụ đặc biệt 26

1.3.1 Quyền ấn định đối tượng chịu thuế tiêu thụ đặc biệt 26

1.3.2 Nguyên tắc và quy trình xác định đối tượng chịu thuế tiêu thụ đặc biệt 26 1.3.3 Hiệu lực pháp lý của quy định về đối tượng chịu thuế tiêu thụ đặc biệt 33 Kết luận chương 1 36

Trang 6

MỘT SỐ KIẾN NGHỊ 37 2.1 Cơ sở thực tiễn của việc hoàn thiện pháp luật về đối tượng chịu

thuế tiêu thụ đặc biệt ở Việt Nam 37 2.1.1 Đánh giá thực trạng pháp luật về đối tượng chịu thuế tiêu thụ đặc biệt

ở Việt Nam hiện nay 37 2.1.2 Thực tiễn áp dụng pháp luật về đối tượng chịu thuế tiêu thụ đặc biệt

ở nước ta trong thời gian qua 56

2.2 Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về đối tượng chịu thuế tiêu thụ đặc biệt 67 2.2.1 Những loại hàng hóa, dịch vụ là đối tượng chịu thuế tiêu thụ đặc biệt

cần sửa đổi cho phù hợp 67 2.2.2 Những loại hàng hóa, dịch vụ là đối tượng chịu thuế tiêu thụ đặc biệt cần đưa ra khỏi diện chịu thuế 70 2.2.3 Những loại hàng hóa, dịch vụ cần được bổ sung vào diện chịu thuế

tiêu thụ đặc biệt 71

Kết luận chương 2 75 KẾT LUẬN CHUNG 76

 

Trang 7

LỜI MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Trong xu thế hội nhập kinh tế thế giới như hiện nay, với việc thực thi các cam kết quốc tế về cắt giảm thuế quan thì thuế tiêu thụ đặc biệt đã trở thành công cụ quan trọng và hữu hiệu góp phần cùng với thuế xuất khẩu, nhập khẩu thực hiện chính sách điều tiết thu nhập, định hướng tiêu dùng và xa hơn là quản lý vĩ mô nền kinh tế

Thuế tiêu thụ đặc biệt là loại thuế gián thu, đánh vào một số loại hàng hóa, dịch vụ mà Nhà nước không khuyến khích tiêu dùng, bởi nhiều nguyên nhân: đó là những mặt hàng xa xỉ không thật cần thiết cho cuộc sống của người dân, không phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội của đất nước; hoặc do tác hại của việc sử dụng hàng hóa, dịch vụ đối với sức khỏe, môi trường, xã hội; hoặc chỉ do Nhà nước cần điều tiết một phần thu nhập của người sử dụng hàng hóa, dịch vụ vào ngân sách nhà nước

Việc quy định loại hàng hóa, dịch vụ nào là đối tượng chịu thuế tiêu thụ đặc biệt và mức thuế suất thuế tiêu thụ đặc biệt là một vấn đề hết sức quan trọng, có ảnh hưởng đến nhiều mặt của nền kinh tế, nhất là đối với hoạt động của các doanh nghiệp sản xuất những loại hàng hóa, kinh doanh trong những ngành nghề thuộc đối tượng chịu thuế, ảnh hưởng đến nhu cầu tiêu dùng của người dân, và xa hơn là ảnh hưởng đến khả năng đầu tư nước ngoài vào những ngành nghề đó tại Việt Nam Tuy nhiên, việc đưa những loại hàng hóa, dịch vụ nào vào nhóm đối tượng chịu thuế và loại những đối tượng nào ra khỏi nhóm đối tượng chịu thuế không chỉ dựa vào lợi ích kinh tế và nhu cầu của người dân mà còn phải căn cứ vào chính sách thuế của từng thời kỳ, căn cứ vào tình hình kinh tế - xã hội của đất nước và xu hướng chung của pháp luật ở nhiều quốc gia trên thế giới

Luật thuế tiêu thụ đặc biệt được ban hành ở Việt Nam lần đầu tiên vào năm

1990, đến nay đã qua năm lần sửa đổi, bổ sung Nhóm đối tượng chịu thuế cũng có

sự thay đổi qua các lần sửa đổi, bổ sung này Có những đối tượng được loại ra bởi

nó không còn là mặt hàng xa xỉ, cũng có những đối tượng được bổ sung thêm bởi sự phát triển của xã hội đã sinh ra nó Trên thực tế, có rất nhiều vấn đề phát sinh từ nhóm đối tượng chịu thuế mà khi ban hành luật, các nhà làm luật chưa dự liệu được Chẳng hạn có một số mặt hàng mới xuất hiện tương tự như những mặt hàng thuộc

Trang 8

diện chịu thuế, được sử dụng thay thế mặt hàng cũ nhằm tránh thuế tiêu thụ đặc biệt; hay có những hàng hóa, dịch vụ được quy định là đối tượng chịu thuế nhưng qua thực tiễn áp dụng pháp luật lại không phù hợp Từ những nguyên nhân trên dẫn đến tình trạng chính sách thuế nói chung và chính sách thuế tiêu thụ đặc biệt ở nước ta nói riêng thường xuyên thay đổi, gây khó khăn cho các doanh nghiệp trong việc lập kế hoạch kinh doanh và hạn chế đầu tư nước ngoài vào Việt Nam, cản trở

sự phát triển kinh tế

Xuất phát từ tầm quan trọng của việc quy định đối tượng chịu thuế tiêu thụ đặc biệt và thực trạng thường xuyên thay đổi của nhóm đối tượng này, với mục tiêu là tìm hiểu những quy định của pháp luật liên quan đến đối tượng chịu thuế tiêu thụ đặc biệt, đặc điểm của những đối tượng này, lý do mà nó được quy định vào nhóm đối tượng chịu thuế, những thay đổi qua chính sách thuế từng thời kỳ; thực trạng áp dụng quy định của pháp luật về nhóm đối tượng này trên thực tế, xem xét những quy định đó đã thật sự phù hợp hay chưa, còn những vướng mắc, bất cập gì và làm thế nào để hoàn thiện hơn những quy định đó Đây chính là những lý do cơ bản thúc

đẩy tác giả chọn đề tài “Pháp luật về đối tượng chịu thuế tiêu thụ đặc biệt” làm

đề tài luận văn thạc sĩ của mình

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Pháp luật về thuế tiêu thụ đặc biệt mà nhất là đối tượng chịu thuế là vấn đề rất được xã hội quan tâm kể từ khi luật thuế tiêu thụ đặc biệt đầu tiên của nước ta được ban hành vào năm 1990 Việc quy định những đối tượng nào là đối tượng chịu thuế

và tính hợp lý của những đối tượng này đã và đang là đề tài gây tranh cãi giữa các bên có liên quan: Nhà nước, doanh nghiệp, người tiêu dùng

Trên các phương tiện thông tin đại chúng đã có nhiều bài viết liên quan đến đối tượng chịu thuế tiêu thụ đặc biệt, đa phần là các bài báo mang tính thời sự, bình luận về tính hợp lý của một số loại hàng hóa, dịch vụ tiêu biểu trong nhóm đối tượng chịu thuế, hoặc đưa tin về sự thay đổi của nhóm đối tượng chịu thuế khi pháp luật có thay đổi

Nội dung liên quan đến đối tượng chịu thuế tiêu thụ đặc biệt cũng được thể hiện trong các giáo trình, tập bài giảng dành cho sinh viên tại các trường đào tạo chuyên ngành Luật hoặc các trường thuộc khối kinh tế Các tài liệu này thường đề cập đến thuế tiêu thụ đặc biệt cũng như đối tượng chịu thuế của nó với tư cách là

Trang 9

một nội dung trong hệ thống cấu trúc thuế, mang tính khái quát, học thuật, không đi sâu vào từng vấn đề cụ thể

Về công trình nghiên cứu, đã có một số công trình nghiên cứu liên quan đến nội dung đề tài, chẳng hạn như:

- “Pháp luật thuế tiêu thụ đặc biệt trước xu hướng hội nhập WTO”, khóa luận

tốt nghiệp cử nhân Luật của Phùng Thị Ngọc Thư, Trường Đại học Luật thành phố

Hồ Chí Minh, năm 2006

- “Thuế tiêu thụ đặc biệt, công cụ pháp lý hữu hiệu trong việc hạn chế tiêu thụ thuốc lá tại Việt Nam”, Khóa luận tốt nghiệp cử nhân Luật của Nguyễn Thị Thanh

Hằng, Trường Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh, năm 2008

Từ kết quả khảo sát ban đầu đối với các nghiên cứu trên đây, có thể rút ra một

số nhận xét như sau:

- Công trình nghiên cứu của Phùng Thị Ngọc Thư nghiên cứu một cách khái quát những nội dung liên quan đến pháp luật thuế tiêu thụ đặc biệt, như đối tượng chịu thuế, căn cứ tính thuế, thuế suất, chế độ miễn giảm thuế , chủ yếu tập trung nghiên cứu vai trò của thuế tiêu thụ đặc biệt khi nước ta gia nhập tổ chức thương mại thế giới

- Công trình nghiên cứu của Nguyễn Thị Thanh Hằng nghiên cứu về những nội dung liên quan đến một đối tượng chịu thuế cụ thể là thuốc lá, chủ yếu tập trung vào những tác hại của thuốc lá và vai trò của thuế tiêu thụ đặc biệt trong việc hạn chế tiêu thụ thuốc lá

Nhìn chung, các công trình nghiên cứu trên đều tập trung vào vai trò của thuế tiêu thụ đặc biệt và tập trung vào những mục tiêu cụ thể, chủ yếu đi sâu vào vai trò của thuế hơn là những quy định của pháp luật về thuế Riêng đối với đề tài “Pháp luật về đối tượng chịu thuế tiêu thụ đặc biệt” thì có thể khẳng định đây là đề tài mới

và không trùng lặp với các công trình khoa học đã công bố

3 Mục đích nghiên cứu của đề tài

Việc nghiên cứu đề tài nhằm một số mục đích sau:

- Tìm hiểu, nghiên cứu những vấn đề pháp lý cơ bản về đối tượng chịu thuế tiêu thụ đặc biệt và những trường hợp không chịu thuế tiêu thụ đặc biệt

Trang 10

- Làm rõ mục tiêu điều tiết của Nhà nước đối với những loại hàng hóa, dịch vụ thuộc đối tượng chịu thuế tiêu thụ đặc biệt

- Đưa ra các tiêu chí đánh giá và tiến hành đánh giá tính hợp lý của các quy định pháp luật hiện hành về đối tượng chịu thuế tiêu thụ đặc biệt

- Đề xuất những quan điểm nhận thức mới về đối tượng chịu thuế tiêu thụ đặc biệt và hoàn thiện cơ sở lý luận cho việc ban hành chính sách thuế nói chung và pháp luật về thuế tiêu thụ đặc biệt nói riêng ở nước ta trong bối cảnh toàn cầu hóa

và hội nhập quốc tế

4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu của đề tài và phương pháp nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là những quy định pháp luật về đối tượng

chịu thuế tiêu thụ đặc biệt và tình hình thực tiễn áp dụng pháp luật về đối tượng chịu thuế tiêu thụ đặc biệt ở Việt Nam thời gian qua

Với đối tượng nghiên cứu như vậy, tác giả xác định phạm vi nghiên cứu của

đề tài chỉ bao gồm những vấn đề sau:

- Những vấn đề lý luận chung về đối tượng chịu thuế tiêu thụ đặc biệt

- Các quy định pháp luật liên quan đến đối tượng chịu thuế tiêu thụ đặc biệt và những trường hợp không chịu thuế tiêu thụ đặc biệt

- Sự thay đổi của nhóm đối tượng chịu thuế qua các lần luật sửa đổi, bổ sung

và các nguyên nhân cơ bản dẫn đến sự thay đổi đó

- Những thành tựu đạt được cũng như hạn chế của việc áp dụng những quy định pháp luật về đối tượng chịu thuế tiêu thụ đặc biệt trên thực tế

Như vậy, các vấn đề khác về thuế tiêu thụ đặc biệt như căn cứ tính thuế, trình

tự thu nộp thuế, chế độ hoàn thuế, miễn giảm thuế, việc chế tài sự vi phạm pháp luật thuế nói chung và thuế tiêu thụ đặc biệt nói riêng không thuộc phạm vi nghiên cứu của đề tài này Trong quá trình nghiên cứu, có thể tác giả sẽ đề cập đến những nội dung trên nhưng với mục đích là để góp phần làm rõ thêm đối tượng nghiên cứu chính là các quy định về đối tượng chịu thuế tiêu thụ đặc biệt mà thôi

Về phương pháp nghiên cứu, trong quá trình hoàn thành luận văn, tác giả dự

kiến sẽ sử dụng một số phương pháp nghiên cứu sau đây:

- Phương pháp phân tích, tổng hợp và khái quát hóa: Phương pháp này được

Trang 11

sử dụng để làm rõ một số vấn đề lý luận về đối tượng chịu thuế tiêu thụ đặc biệt và nguyên tắc điều chỉnh bằng pháp luật đối với đối tượng chịu thuế tiêu thụ đặc biệt

- Phương pháp khảo sát, thống kê, điều tra xã hội học: Phương pháp này được

sử dụng để khảo sát một số mô hình pháp luật của các nước; thống kê làm rõ thực trạng và thực tiễn áp dụng pháp luật về đối tượng chịu thuế tiêu thụ đặc biệt ở Việt Nam thời gian qua để từ đó đưa ra các ý kiến nhận xét, đánh giá và kết luận khoa học về thực trạng pháp luật Việt Nam về đối tượng chịu thuế tiêu thụ đặc biệt

- Phương pháp so sánh, đối chiếu pháp luật: Được sử dụng để phân tích làm rõ

sự tương đồng và khác biệt giữa pháp luật Việt Nam với pháp luật của một số nước trên thế giới về đối tượng chịu thuế tiêu thụ đặc biệt, trên cơ sở đó rút ra các kết luận khoa học cho việc hoàn thiện pháp luật Việt Nam về đối tượng chịu thuế tiêu thụ đặc biệt

5 Ý nghĩa khoa học và giá trị thực tiễn của đề tài

Sau khi được hoàn thành, đề tài sẽ làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn pháp lý về thuế tiêu thụ đặc biệt nói chung và đối tượng chịu thuế tiêu thụ đặc biệt nói riêng, góp phần làm phong phú thêm cơ sở lý luận và thực tiễn cho việc xây dựng và thực hiện pháp luật thuế về tiêu thụ đặc biệt ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay và trong tương lai

Kết quả nghiên cứu của đề tài luận văn cũng có thể được xem là tài liệu tham khảo hữu ích cho sinh viên chuyên ngành Luật trong việc học tập cũng như nghiên cứu những nội dung liên quan đến thuế tiêu thụ đặc biệt; đồng thời góp phần trang

bị thêm kiến thức cho những người quan tâm đến lĩnh vực pháp luật này

6 Bố cục của luận văn

Ngoài lời mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được bố cục thành 2 chương với nội dung cơ bản như sau:

Chương 1: Cơ sở lý luận của việc ban hành pháp luật về đối tượng chịu thuế tiêu thụ đặc biệt

Chương 2: Cơ sở thực tiễn của việc hoàn thiện pháp luật về đối tượng chịu thuế tiêu thụ đặc biệt và một số kiến nghị

Trang 12

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC BAN HÀNH PHÁP LUẬT VỀ ĐỐI

TƯỢNG CHỊU THUẾ TIÊU THỤ ĐẶC BIỆT 1.1 Khái quát về thuế tiêu thụ đặc biệt

1.1.1 Khái niệm thuế tiêu thụ đặc biệt

Thuế là khoản thu nộp mang tính bắt buộc mà các tổ chức hoặc cá nhân phải nộp cho nhà nước khi có đủ những điều kiện nhất định.1

Ở mỗi quốc gia, do đặc thù về điều kiện chính trị, kinh tế, xã hội khác nhau nên hệ thống thuế cũng có sự khác nhau, trong đó bao gồm cả thuế tiêu thụ đặc biệt (thuế TTĐB)

Trên thực tế, khó có thể tìm thấy một sự giải nghĩa chính thức nào về cụm từ

“tiêu thụ đặc biệt” để từ đó đi đến định nghĩa về thuế tiêu thụ đặc biệt Tuy nhiên, ở mức khái quát có thể hiểu cụm từ này ngụ ý chỉ hành vi tiêu dùng một loại hàng hóa

“đặc biệt” hoặc dịch vụ “đặc biệt” nào đó của người tiêu dùng là tổ chức, cá nhân trong xã hội Tính chất “đặc biệt” của hàng hóa hay dịch vụ này thể hiện ở chỗ, do không phải là những loại hàng hóa, dịch vụ thiết yếu cho cuộc sống hằng ngày của đại đa số người dân nên Nhà nước không khuyến khích sản xuất và tiêu dùng và thậm chí còn hạn chế bằng những biện pháp khác nhau, trong đó có biện pháp đánh thuế đối với tiêu dùng các hàng hóa, dịch vụ này Lý do là ở chỗ: Hành vi tiêu dùng các hàng hóa, dịch vụ này có thể dẫn đến sự lãng phí, xa hoa hoặc có thể gây ra những ảnh hưởng nhất định cho bản thân người sử dụng, cho người khác hoặc rộng hơn là cho toàn xã hội

Có nhiều cách diễn đạt khác nhau về khái niệm thuế TTĐB, tùy theo từng cách tiếp cận khác nhau Tuy nhiên, có thể chấp nhận khái niệm về thuế TTĐB được nêu trong Giáo trình Luật Thuế Việt Nam của Trường Đại học Luật Hà Nội,

theo đó: “Thuế TTĐB là loại thuế đánh vào một số loại hàng hóa dịch vụ đặc biệt

cần điều tiết mạnh, nhằm hướng dẫn sản xuất và tiêu dùng đồng thời tăng nguồn thu cho ngân sách nhà nước”2 Theo tác giả luận văn, khái niệm này tuy chưa thật

Trang 13

chính xác hoàn toàn nhưng có thể xem là tương đối đầy đủ, thể hiện rõ bản chất của thuế TTĐB và mục tiêu điều tiết của nhà nước

1.1.2 Đặc điểm của thuế tiêu thụ đặc biệt

Về phương diện lý luận, thuế TTĐB có những điểm khác biệt so với một số loại thuế khác trong hệ thống thuế quốc gia, chẳng hạn như:

Xét về bản chất thì thuế TTĐB là một loại thuế gián thu, nghĩa là nó được cấu thành trong giá bán của hàng hóa, dịch vụ chịu thuế và khi người mua hàng hóa, dịch vụ đã có thuế thì khi đó thuế được chuyển cho người tiêu dùng gánh chịu Ngoài ra, thuế TTĐB còn có những đặc điểm đặc trưng riêng phân biệt với các loại thuế gián thu khác trong cùng hệ thống thuế (ví dụ thuế XNK, thuế GTGT, thuế tài nguyên…) Cụ thể như sau:

Thứ nhất, thuế TTĐB có diện đánh thuế hẹp Xuất phát từ bản chất là đánh

vào hành vi tiêu dùng những loại hàng hóa, dịch vụ đặc biệt, thuế TTĐB có diện đánh thuế khá hẹp, chỉ tập trung điều tiết một số mặt hàng và dịch vụ đặc biệt nhất định có ảnh hưởng lớn đến nền kinh tế và đời sống của người dân, sự an toàn của xã hội và không được nhà nước khuyến khích tiêu dùng Vấn đề này sẽ được phân tích

kỹ hơn trong phần sau - phần đặc điểm của đối tượng chịu thuế TTĐB

Thứ hai, thuế suất thuế TTĐB có thể là thuế suất cố định hoặc thuế suất tỷ lệ

và thường cao hơn so với thuế suất của các loại thuế gián thu khác Do thuế TTĐB

có diện đánh thuế hẹp, chủ yếu là các mặt hàng và dịch vụ xa xỉ hoặc gây ảnh hưởng xấu đến sức khỏe, môi trường và xã hội, đồng thời chủ thể sử dụng các loại hàng hóa, dịch vụ này thường là một bộ phận người có thu nhập cao nên việc điều tiết mạnh đối với các đối tượng này là cần thiết Mặt khác, vì thuế TTĐB có mục đích hạn chế tiêu dùng những hàng hóa, dịch vụ không khuyến khích sản xuất và tiêu dùng trong xã hội nên việc đánh thuế cao chính là cách để hạn chế tiêu dùng Ngoài ra, thuế suất thuế TTĐB còn có thể là thuế suất cố định hay thuế suất tính theo tỷ lệ phần trăm trên đơn vị giá trị của đối tượng chịu thuế Trên thế giới,

có một số nước áp dụng thuế suất cố định như Mỹ, Nhật, một số nước Châu Âu và Philippines3; cũng có một số nước áp dụng đồng thời cả thuế suất cố định và thuế

3 Trường Đại học Luật Hà Nội, tlđd số 1, tr 103

Trang 14

suất tỷ lệ như Thái Lan Riêng ở Việt Nam, thuế suất thuế TTĐB là thuế suất tỷ lệ,

tỷ lệ này không đổi ngay cả khi giá tính thuế thay đổi theo biến động của thị trường Vấn đề điều chỉnh mức thu chỉ được đặt ra khi chủ trương, chính sách thuế của nhà nước có thay đổi nhằm hướng dẫn hoạt động sản xuất, kinh doanh, tiêu dùng hay thay đổi tỷ lệ động viên vào ngân sách nhà nước

Thứ ba, thuế TTĐB chỉ được thu một lần trong suốt quá trình lưu thông của

hàng hóa, dịch vụ và thu ở khâu sản xuất hoặc nhập khẩu Khác với thuế GTGT là loại thuế có thể thu nhiều lần trên phần giá trị tăng thêm của hàng hóa, dịch vụ trong quá trình lưu thông, thuế TTĐB chỉ điều tiết một lần duy nhất trong suốt quá trình lưu thông của hàng hóa, dịch vụ, ở khâu sản xuất ra hàng hóa, cung ứng dịch vụ nếu hàng hóa, dịch vụ có nguồn gốc từ Việt Nam, và ở khâu nhập khẩu nếu hàng hóa, dịch vụ có nguồn gốc từ nước ngoài Điều này xuất phát từ bản chất của thuế TTĐB

là loại thuế đánh trên toàn bộ giá trị của hàng hóa, dịch vụ nhằm mục tiêu hướng dẫn hoạt động sản xuất và tiêu dùng hàng hóa, dịch vụ trong xã hội

1.1.3 Vai trò của thuế tiêu thụ đặc biệt

Xuất phát từ khái niệm và những đặc điểm cơ bản của thuế TTĐB, có thể đưa

ra ba vai trò cơ bản của thuế TTĐB như sau:

Thứ nhất, thuế TTĐB là công cụ để nhà nước thực hiện mục tiêu điều tiết thu

nhập và định hướng tiêu dùng Đây có thể được xem là vai trò cơ bản của thuế TTĐB Như đã trình bày, thuế TTĐB là loại thuế đánh vào hành vi tiêu dùng những sản phẩm là hàng hóa, dịch vụ đặc biệt mà nhà nước không khuyến khích tiêu dùng

Do đó, vai trò đầu tiên của thuế TTĐB là định hướng tiêu dùng, tức là nhà nước định hướng cho người dân tiêu dùng hợp lý, tiết kiệm, hiệu quả Với mức thuế suất khá cao làm cho giá cả hàng hóa, dịch vụ tăng cao, chưa kể đối với hàng nhập khẩu, giá tính thuế TTĐB còn bao gồm cả thuế nhập khẩu với mức thuế tương đối cao, người tiêu dùng sẽ phải cân nhắc khi sử dụng hàng hóa, dịch vụ Đồng thời, với giá

cả tăng cao như thế, chỉ một bộ phận người dân có thu nhập cao mới có khả năng tiêu dùng, qua đó nhà nước điều tiết một phần thu nhập của họ vào ngân sách nhà nước Nói đến điều tiết thu nhập thì thuế TTĐB không giữ vai trò chủ đạo như các loại thuế trực thu, đặc biệt là thuế TNCN, nhưng nó cũng phần nào đảm đương được vai trò này Tuy nhiên, thuế TTĐB là một loại thuế nội địa, chỉ điều chỉnh

4 Trường Đại học Luật Hà Nội, tlđd số 1, tr 104

Trang 15

hành vi tiêu dùng trên lãnh thổ quốc gia nên vai trò cơ bản của thuế TTĐB là điều tiết thu nhập và định hướng tiêu dùng cho người dân trên lãnh thổ quốc gia của nước ban hành

Thứ hai, thuế TTĐB là công cụ để nhà nước thực hiện chính sách quản lý,

định hướng đối với các cơ sở sản xuất, kinh doanh và nhập khẩu hàng hóa, dịch vụ chịu thuế

Đối với các cơ sở sản xuất, kinh doanh mặt hàng thuộc diện chịu thuế TTĐB, qua việc thu thuế ở khâu sản xuất, nhà nước có thể quản lý được số lượng, năng lực sản xuất kinh doanh của các cơ sở này, từ đó mà có cơ chế điều chỉnh hợp lý nhằm đảm bảo sự ổn định của nền kinh tế Bên cạnh đó, với số tiền thuế lớn ảnh hưởng đến khả năng tiêu thụ sản phẩm, các sơ sở sản xuất, kinh doanh sẽ phải cân nhắc khi quyết định đầu tư vào sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ chịu thuế Cộng với chính sách ưu đãi, miễn giảm thuế rất hạn chế, gần như là không có, cũng phần nào ảnh hưởng đến quyết định đầu tư Như vậy, nhà nước đã thực hiện được mục tiêu định hướng hoạt động sản xuất, kinh doanh đối với các cơ sở này, hạn chế họ đầu tư vào những lĩnh vực nhà nước không khuyến khích, hướng họ đầu tư vào những lĩnh vực khác có lợi hơn cho nền kinh tế quốc gia, bởi những mặt hàng mà nhà nước không khuyến khích tiêu dùng thì tất yếu cũng không được khuyến khích sản xuất Đối với các cơ sở nhập khẩu mặt hàng thuộc diện chịu thuế TTĐB, tương tự như đối với các cơ sở sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ trong nước, thông qua việc thu thuế ở khâu nhập khẩu, nhà nước có thể quản lý hoạt động nhập khẩu những mặt hàng đặc biệt này Đồng thời, thuế TTĐB đánh vào hàng nhập khẩu với giá tính thuế bao gồm cả thuế nhập khẩu một mặt góp phần hạn chế tiêu dùng hàng nước ngoài, khuyến khích sử dụng hàng nội địa tương tự, bảo hộ sản xuất trong nước, mặt khác cũng góp phần hạn chế kinh doanh nhập khẩu các mặt hàng mà nhà nước không khuyến khích

Thứ ba, thuế TTĐB là công cụ để ổn định và đảm bảo nguồn thu cho ngân

sách nhà nước Với mức thuế suất khá cao so với các loại thuế gián thu khác, thuế TTĐB đã động viên một khoản tiền thuế đáng kể vào ngân sách nhà nước, mặc dù diện đánh thuế rất hẹp Trong tương lai, do sự phát triển kinh tế trong nước và quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, phạm vi đánh thuế có xu hướng được mở rộng đặc biệt là về đối tượng chịu thuế nên vai trò ổn định và đảm bảo nguồn thu cho ngân

Trang 16

sách nhà nước của thuế TTĐB sẽ càng được khẳng định, góp phần tạo điều kiện tài chính để thực hiện các mục tiêu quan trọng khác của nhà nước

1.1.4 Vị trí, tầm quan trọng của đối tượng chịu thuế trong cấu trúc thuế tiêu thụ đặc biệt

Xét về cấu trúc, thuế TTĐB được tạo thành từ nhiều yếu tố khác nhau nhưng quan trọng nhất vẫn là hai yếu tố: đối tượng chịu thuế, căn cứ tính thuế (bao gồm giá tính thuế và thuế suất) Trong đó, có thể nói đối tượng chịu thuế (cùng với thuế suất thuế TTĐB) được xem là “linh hồn” của thuế TTĐB Các yếu tố này có vị trí trung tâm, là cốt lõi tạo nên cấu trúc thuế TTĐB Đối với một số loại thuế khác như thuế GTGT, thuế XNK có diện đánh thuế rất rộng, gần như tất cả các loại hàng hóa, dịch vụ lưu thông trên thị trường thì cái mà người ta quan tâm nhất không phải là đối tượng chịu thuế mà là thuế suất, bởi đó mới là yếu tố quan trọng cấu thành nên

số tiền thuế phải nộp Còn đối với thuế TTĐB có diện đánh thuế hẹp, được liệt kê rõ ràng từng loại hàng hóa, dịch vụ chịu thuế thì cái mà người ta quan tâm nhất là đối tượng chịu thuế, kế đến mới là thuế suất Bởi đối tượng nào được quy định trong nhóm đối tượng chịu thuế thì mới hình thành nghĩa vụ thuế TTĐB đối với chủ thể

sử dụng đối tượng đó Ngoài ra, với bản chất của thuế TTĐB là đánh vào hành vi tiêu dùng các hàng hóa và dịch vụ đặc biệt nên việc xác định hàng hóa, dịch vụ nào

là đối tượng chịu thuế để đảm bảo sự phù hợp với bản chất của thuế là vấn đề không đơn giản, có thể sẽ vấp phải sự phản ứng quyết liệt từ phía dư luận nếu lý do giải trình không thỏa đáng

Do đó, có thể khẳng định đối tượng chịu thuế TTĐB có tầm quan trọng đặc biệt trong cấu trúc hệ thống thuế TTĐB Nó vừa là “vật chuẩn” để căn cứ vào đó mà Nhà nước tiến hành thu thuế, vừa phản ánh được bản chất của thuế TTĐB là loại thuế đánh vào hành vi tiêu dùng xa xỉ, không thiết yếu và do đó không được khuyến khích thực hiện trong xã hội

1.2 Những vấn đề lý luận về đối tượng chịu thuế tiêu thụ đặc biệt

1.2.1 Quan niệm về đối tượng chịu thuế tiêu thụ đặc biệt

Về phương diện lý thuyết, đối tượng chịu thuế của một sắc thuế là những hàng hóa, dịch vụ; tài sản; thu nhập đang tồn tại khách quan trong đời sống kinh tế xã hội

và có liên quan trực tiếp đến người nộp thuế là tổ chức, cá nhân Khi nhà nước muốn đánh thuế đối với ai (người nộp thuế và người chịu thuế) vì mục đích gì thì

Trang 17

nhất thiết phải tác động vào đối tượng chịu thuế là những hàng hóa, dịch vụ; tài sản; thu nhập có liên quan đến người nộp thuế hoặc người chịu thuế đó

Trong các công trình nghiên cứu về thuế và pháp luật thuế, tuy các học giả không đưa ra một khái niệm chính thức về đối tượng chịu thuế nhưng đều có những phân tích liên quan đến việc làm rõ bản chất của đối tượng chịu thuế là gì Chẳng hạn, theo tác giả Michel Bouvier trong tác phẩm “Nhập môn Luật thuế đại cương và

lý thuyết thuế” đã cho rằng: đối tượng chịu thuế; sự kiện phát sinh thuế và người nộp thuế chính là 3 yếu tố cơ bản để hình thành nên cơ sở tính thuế đối với một loại thuế nhất định5 Trong tác phẩm này, ông cũng cho rằng việc xác định đối tượng chịu thuế vốn dĩ thuộc thẩm quyền của nhà lập pháp Căn cứ vào các quy định của luật thuế về đối tượng chịu thuế, cơ quan quản lý thuế chỉ có trách nhiệm xác định đối tượng chịu thuế cụ thể của người nộp thuế là gì và mức thuế suất tương ứng áp dụng cho đối tượng chịu thuế đó là bao nhiêu để từ đó tính ra số tiền thuế phải nộp cho người nộp thuế là bao nhiêu

Đối với thuế TTĐB, mục đích đánh thuế của nhà nước là hạn chế việc các tổ chức, cá nhân tiêu dùng những hàng hóa, dịch vụ có thể gây bất lợi cho chính họ và cho nền kinh tế cũng như cho xã hội Vì vậy, Nhà nước phải xác định rõ đối tượng chịu thuế sẽ là những hàng hóa nào, dịch vụ nào và được tiêu dùng ở đâu, trong thời gian nào thì sẽ bị đánh thuế

Từ sự phân tích khái quát như trên, có thể đưa ra một định nghĩa tổng quát về đối tượng chịu thuế TTĐB như sau:

Đối tượng chịu thuế TTĐB là những loại hàng hóa, dịch vụ không khuyến khích tiêu dùng, được nhà nước quy định là đối tượng chịu thuế TTĐB và là cơ sở

để tính thuế TTĐB đối với các chủ thể có hành vi sản xuất hoặc nhập khẩu và tiêu thụ những loại hàng hóa, dịch vụ này trên thị trường

Về phương diện lý luận, thiết nghĩ cũng cần phân biệt khái niệm “đối tượng chịu thuế TTĐB” với khái niệm “người chịu thuế TTĐB” Như đã phân tích ở trên,

“đối tượng chịu thuế TTĐB” được hiểu là các “hàng hóa, dịch vụ đặc biệt” thuộc diện bị nhà nước đánh thuế TTĐB để hạn chế tiêu dùng vì lợi ích quốc gia cũng như

vì lợi ích của chính bản thân người tiêu dùng các hàng hóa, dịch vụ đó; còn “người

5 Xem thêm: Michel Bouvier, Nhập môn Luật thuế đại cương và lý thuyết thuế (sách tham khảo), NXB chính

trị quốc gia, Hà Nội, tr 52

Trang 18

chịu thuế TTĐB” phải được hiểu là tổ chức, cá nhân mua hàng hóa, dịch vụ chịu thuế TTĐB để chính mình sử dụng Mặt khác, cũng cần phân biệt rõ khái niệm

“người chịu thuế TTĐB” với khái niệm “người nộp thuế TTĐB”, theo đó, người chịu thuế TTĐB là người thực tế phải dùng thu nhập của mình để trả thuế TTĐB cho Nhà nước thông qua việc mua hàng hóa, dịch vụ đã có thuế TTĐB; còn người nộp thuế TTĐB chỉ là người làm thủ tục kê khai, nộp thuế đối với Nhà nước thay cho người tiêu dùng chứ không thực sự phải dùng thu nhập của mình để trả thuế TTĐB cho Nhà nước Nói như vậy có nghĩa là đối với thuế TTĐB – với tư cách là một loại thuế gián thu, người chịu thuế (người tiêu dùng hàng hóa, dịch vụ chịu thuế TTĐB) mới thực sự là người phải đóng thuế TTĐB cho nhà nước

1.2.2 Đặc điểm của đối tượng chịu thuế tiêu thụ đặc biệt

Xuất phát từ bản chất của thuế TTĐB như đã phân tích ở phần trước, có thể rút

ra một số đặc điểm riêng của đối tượng chịu thuế TTĐB như sau:

Thứ nhất, đối tượng chịu thuế TTĐB có phạm vi hẹp và số lượng xác định

Đây là đặc điểm đầu tiên giúp phân biệt đối tượng chịu thuế TTĐB với đối tượng chịu thuế của các loại thuế gián thu khác Vì thuế TTĐB chỉ đánh vào các loại hàng hóa, dịch vụ cần hạn chế tiêu dùng, mà trên thực tế, số lượng các loại hàng hóa, dịch này thường ít hơn nhiều so với số lượng các loại hàng hóa, dịch vụ thông thường đáp ứng nhu cầu sinh hoạt của người dân nên nếu so với các sắc thuế gián thu khác thì đối tượng chịu thuế TTĐB có phạm vi rất hẹp Theo pháp luật hiện hành, chỉ có 10 nhóm hàng hóa và 6 nhóm dịch vụ được quy định là đối tượng chịu thuế TTĐB Mỗi nhóm bao gồm một hoặc nhiều đối tượng khác nhau nhưng giữa chúng có sự tương đồng với nhau về đặc điểm hoặc tính chất tác động đến các yếu

tố mà nhà nước cần bảo vệ Do có phạm vi hẹp nên trong các văn bản pháp luật thuế TTĐB, phương pháp được sử dụng để quy định nhóm đối tượng này là phương pháp liệt kê, xác định rõ những loại hàng hóa, dịch vụ nào là đối tượng chịu thuế chứ không quy định một cách chung chung như trong các loại thuế gián thu khác

Từ đó mà ta có thể biết chính xác tên và số lượng các loại hàng hóa, dịch vụ chịu thuế, làm cơ sở để thực hiện nghĩa vụ thu và nộp thuế

Thứ hai, đối tượng chịu thuế TTĐB là những loại hàng hóa, dịch vụ khi tiêu

dùng có thể gây ra những hậu quả bất lợi cho nền kinh tế và đời sống con người, hoặc có thể gây ảnh hưởng xấu đến môi trường sống và sự phát triển bền vững của

Trang 19

quốc gia

Đây là đặc điểm cơ bản của đối tượng chịu thuế TTĐB và cũng là dấu hiệu đặc trưng để phân biệt với đối tượng chịu thuế của các loại thuế gián thu khác như thuế GTGT, thuế XNK và các loại thuế tiêu dùng khác Phù hợp với tên gọi của sắc thuế, đối tượng chịu thuế TTĐB không thể là những hàng hóa, dịch vụ thiết yếu phục vụ cho cuộc sống thường ngày của người dân, mà đó phải là những loại hàng hóa, dịch vụ xa xỉ hoặc có thể gây tác hại xấu cho môi trường, sức khỏe, trật tự xã hội Tuy nhiên, đây không phải là những hàng hóa, dịch vụ bị cấm sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng mà thông qua việc đánh thuế với thuế suất cao, Nhà nước muốn hạn chế người dân tiêu dùng những loại hàng hóa, dịch vụ này

Trong lịch sử thuế tiêu dùng đã từng có loại thuế đánh vào tất cả các loại hàng hóa, kể cả các loại hàng hóa thiết yếu, đó là thuế hàng hóa - tiền thân của thuế TTĐB được áp dụng từ sau những năm 1951 đến khi Luật thuế TTĐB lần đầu tiên được ban hành vào năm 1990 Theo đó, thuế đánh vào những mặt hàng thiết yếu như dầu ăn, giấy, miến đến những mặt hàng không thiết yếu như mỹ phẩm, thuốc

lá, cà phê 6 Tuy nhiên, cách đánh thuế như vậy không còn phù hợp với xã hội hiện nay, khi mà nhà nước chủ trương nâng cao mức sống nhân dân Những loại hàng hóa, dịch vụ thiết yếu không còn bị đánh thuế để tạo điều kiện cho người dân được tiếp cận và sử dụng, thỏa mãn nhu cầu sinh hoạt hằng ngày của họ Việc thỏa mãn nhu cầu cũng cần phải đảm bảo sự phát triển bền vững và lành mạnh của xã hội và mọi con người trong xã hội Bên cạnh đó, trong tình hình đất nước còn nhiều khó khăn như hiện nay, sự tiêu dùng cũng phải đảm bảo tiết kiệm, hợp lý, những hành vi tiêu dùng vượt quá mức sống của đại đa số người dân cần phải được điều tiết Do

đó, đối với những loại hàng hóa, dịch vụ xa xỉ, những nhu cầu vui chơi giải trí không lành mạnh, có thể ảnh hưởng xấu về nhiều mặt thì việc thu thuế để hạn chế là điều cần thiết Điều này cũng phù hợp với pháp luật của các nước trên thế giới trong

xu hướng toàn cầu hóa hiện nay

Thứ ba, đối tượng chịu thuế TTĐB là những hàng hóa, dịch vụ không bị cấm

lưu thông nhưng nhà nước không khuyến khích tiêu dùng

Hàng hóa, dịch vụ bị cấm lưu thông là những hàng hóa, dịch vụ gây tác hại

6 Xem thêm: Điều lệ thuế hàng hóa được ban hành kèm theo Nghị quyết số 487/NQ-QHK4 ngày 26/9/1974 của Ủy ban thường vụ Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa

Trang 20

nghiêm trọng và rõ rệt đến con người và xã hội, không được phép sản xuất, lưu thông, tiêu dùng Các loại hàng hóa, dịch vụ là đối tượng chịu thuế TTĐB không phải là những hàng hóa, dịch vụ bị cấm lưu thông, kinh doanh và tiêu dùng bởi tác hại của nó đối với xã hội không quá lớn và rõ rệt, có thể kiểm soát và khắc phục được nếu có sự quản lý tốt Thế nhưng nhà nước vẫn không khuyến khích tổ chức,

cá nhân tiêu dùng những mặt hàng này bởi chúng không phải là những mặt hàng có lợi cho sức khỏe, môi trường và xã hội, cho nền kinh tế quốc dân mà ngược lại việc

sử dụng chúng sẽ gây ra những tác hại nhất định, và hậu quả để lại có thể ảnh hưởng đến thế hệ tương lai Do đó, bên cạnh việc đánh thuế TTĐB để hạn chế tiêu dùng thì hoạt động sản xuất, kinh doanh các đối tượng này đa phần được quy định

là ngành nghề kinh doanh có điều kiện Chủ thể kinh doanh phải đáp ứng đủ những điều kiện nhất định để được cấp Giấy phép kinh doanh trong lĩnh vực đó Quy định này một mặt đảm bảo những điều kiện cần thiết cho hoạt động sản xuất, kinh doanh, hạn chế thấp nhất những tác hại, tiêu cực có thể xảy ra, đảm bảo sự quản lý của nhà nước đối với các lĩnh vực nhạy cảm; mặt khác cũng nhằm hạn chế hoạt động đầu tư của nhà đầu tư vào các lĩnh vực mà nhà nước không khuyến khích, hướng họ đầu tư vào những lĩnh vực có lợi hơn cho sự phát triển đất nước Tùy điều kiện kinh tế - xã hội trong từng thời kỳ và từng địa phương mà nhà nước có thể điều chỉnh, định hướng quy hoạch các hoạt động sản xuất, kinh doanh này cho phù hợp

Xét riêng về mặt tác hại của các hàng hóa, dịch vụ là đối tượng chịu thuế TTĐB, mặc dù đã lường trước được những hệ lụy có thể có khi kinh doanh các hàng hóa, dịch vụ này nhưng Nhà nước không thể đưa chúng vào diện cấm kinh doanh mà chỉ đặt ra những điều kiện để quản lý và đánh thuế TTĐB nhằm hạn chế tiêu dùng, vì các lý do sau:

¾ Các mặt hàng đó là nhu cầu của người dân và chúng không bị cấm kinh doanh ở các nước lân cận, do đó nếu chúng ta cấm kinh doanh những mặt hàng đó thì sẽ hạn chế quyền được tiêu dùng chính đáng của người dân, đồng thời dẫn đến tình trạng hàng nước ngoài chiếm lĩnh thị trường hoặc tình trạng nhập lậu hàng hóa

từ các nước láng giềng vào Việt Nam

¾ Do xu hướng hội nhập và phát triển du lịch - một trong những tiềm năng của nước ta trong điều kiện đất nước có nhiều cảnh quan thiên nhiên đẹp và một nền chính trị ổn định, nên vấn đề đặt ra là cần đáp ứng nhu cầu vui chơi giải trí của người nước ngoài khi họ đến tham quan Việt Nam nhằm thu hút khách du lịch và

Trang 21

đồng thời cũng tạo công ăn việc làm cho người dân bản địa

¾ Có những loại hình dịch vụ mang bản chất tốt, nhưng do biến tướng từ việc con người sử dụng nó vào những mục đích không tốt, nên vấn đề là nhà nước phải quản lý chặt chẽ nhằm xóa bỏ các hình thức biến tướng mà vẫn duy trì mặt tích cực của các loại hình dịch vụ này

Thứ tư, đối tượng chịu thuế TTĐB phụ thuộc vào ý chí chủ quan của Nhà

nước và điều kiện kinh tế - xã hội trong từng thời kỳ

Thuế TTĐB là loại thuế nội địa, mặc dù được áp dụng phổ biến trên thế giới

và mang bản chất tương tự nhau, nhưng quan điểm của mỗi quốc gia trong việc quy định đối tượng chịu thuế thường không đồng nhất với nhau Xét về tính xa xỉ, có quốc gia cho rằng mặt hàng này là xa xỉ, cần đưa vào diện chịu thuế, nhưng cũng có quốc gia khác cho rằng mặt hàng đó là thiết yếu và không cần phải đưa vào diện chịu thuế Do đó, các mặt hàng xa xỉ thuộc diện chịu thuế TTĐB có sự khác nhau khá lớn giữa các quốc gia Chẳng hạn ở Thái Lan, thuế TTĐB (excise tax) đánh vào các mặt hàng xa xỉ như đồ thủy tinh (crystal glasses), nước hoa (perfume), mỹ phẩm (cosmetic products) 7 , nhưng ở Việt Nam thì những mặt hàng này không thuộc diện chịu thuế Điều này phụ thuộc hoàn toàn vào quan điểm cũng như điều kiện kinh tế và mức độ phát triển của từng quốc gia Nhưng xét về mặt tác hại của đối tượng chịu thuế thì hầu như các quốc gia đều có quan điểm tương đối giống nhau, cho nên có một số mặt hàng đặc biệt là đối tượng chịu thuế trong pháp luật thuế TTĐB của hầu hết các quốc gia, chẳng hạn như mặt hàng xăng dầu, thuốc lá, rượu, bia , một số nước tiêu biểu quy định các mặt hàng này là Pháp8, Thổ Nhĩ Kỳ9, Jamaica10

Không những phụ thuộc vào quan điểm của từng quốc gia, việc quy định đối tượng chịu thuế còn phụ thuộc vào tình hình kinh tế - xã hội của đất nước trong từng thời kỳ Thật vậy, ở mỗi thời điểm khác nhau, khi mà xã hội phát triển ở những mức độ khác nhau thì quan niệm về tính xa xỉ của hàng hóa, về tính thiết yếu của cuộc sống sẽ khác nhau Một ví dụ cho trường hợp này đó là mặt hàng mỹ phẩm Trước đây, mỹ phẩm từng bị đánh thuế mạnh trong Điều lệ thuế hàng hóa ban hành

7 "A summary of Thailand's tax law": www.worldservicesgroup.com/

8 "Excise duties in France": http://www.cfe-eutax.org/taxation/excise-duties/france

9 "Turkish taxation system": http://www.gib.gov.tr/index.php?id=469

10 "Principle tax types": http://www.mof.gov.jm/taxpolicy/policies-and-services/principal-tax-types

Trang 22

năm 1974 với tư cách là một mặt hàng xa xỉ Nhưng hiện nay, mỹ phẩm đã trở thành mặt hàng thiết yếu, phục vụ cho nhu cầu làm đẹp của phụ nữ Như vậy có thể nói tính thiết yếu hay không thiết yếu chỉ mang tính tương đối và có thể thay đổi cùng với sự phát triển của xã hội Một khía cạnh khác, khi kinh tế - xã hội phát triển

sẽ kéo theo sự xuất hiện của một số loại hàng hóa, dịch vụ xa xỉ mà trong giai đoạn trước không hề tồn tại Và tất yếu những mặt hàng này sẽ được bổ sung vào nhóm đối tượng chịu thuế gắn liền với đặc điểm xã hội đã sinh ra nó

Như vậy, có thể nói việc xem xét một loại hàng hóa, dịch vụ nào đó là đối tượng chịu thuế TTĐB cần phải đặt nó trong một hoàn cảnh cụ thể, trong một địa điểm và thời gian nhất định để có cái nhìn đúng đắn hơn về đối tượng này

1.2.3 Những tiêu chí cơ bản để xác định các hàng hóa, dịch vụ là đối tượng chịu thuế tiêu thụ đặc biệt

Đối tượng chịu thuế TTĐB có thể là những hàng hóa, dịch vụ được sản xuất trong nước hoặc được nhập khẩu từ nước ngoài Để xác định một loại hàng hóa, dịch vụ nào đó là đối tượng chịu thuế TTĐB cần dựa trên những tiêu chí nhất định, đảm bảo việc đánh thuế TTĐB đối với các đối tượng này là phù hợp với bản chất của thuế TTĐB, đồng thời phù hợp với điều kiện của đất nước Ở mức độ khái quát,

có thể hình dung một số tiêu chí cơ bản như sau:

Thứ nhất, tính xa xỉ, không thật cần thiết cho kinh tế - xã hội của hàng hóa,

dịch vụ là đối tượng chịu thuế TTĐB

Như đã trình bày ở các phần trước, hàng hóa và dịch vụ chịu thuế TTĐB hầu hết là những loại hàng hóa, dịch vụ có tính xa xỉ Tiêu chí này được sử dụng ở hầu hết các nước để làm cơ sở quy định đối tượng chịu thuế TTĐB Mặt hàng xa xỉ là những mặt hàng tiêu tốn nhiều tiền nhưng không hoặc chưa thật cần thiết cho cuộc sống, mà đáp ứng nhu cầu hưởng thụ nhiều hơn Hàng xa xỉ là những mặt hàng đắt tiền và thường chỉ dành cho những người có thu nhập cao và có khả năng tài chính

để mua sắm Tuy nhiên, quan niệm hàng xa xỉ chỉ dành cho tầng lớp khá giả chỉ mang tính tương đối, bởi ngoài yếu tố thu nhập, còn phụ thuộc vào các yếu tố khác như sở thích, chất lượng hay văn hóa tiêu dùng Những mặt hàng được xem là xa

xỉ có thể được sử dụng vào nhiều mục đích khác nhau tùy chủ thể sử dụng nó Có người sử dụng vào mục đích thư giãn, giải trí, có người sử dụng để phục vụ cho công việc, cũng có người đơn giản chỉ thỏa mãn nhu cầu và tự thể hiện bản thân

Trang 23

Xét ở một góc độ nào đó, việc tiêu dùng các loại hàng hóa, dịch vụ xa xỉ là nhu cầu chính đáng của người dân khi họ có điều kiện, thúc đẩy quan hệ cung - cầu, góp phần phát triển kinh tế Nhưng xét ở một góc độ khác, khi mà đất nước ta vẫn còn là một nước nghèo, rất nhiều mục tiêu vẫn chưa thực hiện được vì thiếu nguồn lực tài chính, thu nhập người dân ở một số địa phương vẫn còn thấp, chưa đáp ứng

đủ nhu cầu tiêu dùng cơ bản thì việc tiêu dùng quá mức ở một bộ phận người dân là

có phần không thỏa đáng và cần phải được cân nhắc Việc nhà nước lấy tiêu chí tính

xa xỉ là tiêu chí đầu tiên để làm cơ sở quy định đối tượng chịu thuế TTĐB trước hết nhằm hạn chế tiêu thụ những loại hàng hóa, dịch vụ này Số tiền đó thay vì tiêu xài vào những mục đích không cần thiết có thể dùng để đầu tư vào nền kinh tế, góp phần phát triển đất nước, hoặc chia sẻ với cộng đồng Mặt khác, việc thu thuế đối với hành vi tiêu thụ hàng xa xỉ cũng nhằm điều tiết một phần thu nhập của người sử dụng - những người có thu nhập cao trong xã hội vào ngân sách nhà nước để phân phối lại cho xã hội, đảm bảo công bằng xã hội Tuy nhiên, việc sử dụng tiêu chí này cần phải được đặt trong mối tương quan với điều kiện kinh tế - xã hội trong từng thời kỳ cụ thể và với thu nhập chung của đại đa số người dân Xác định một cách đúng đắn, phù hợp mặt hàng nào là mặt hàng xa xỉ, cần điều tiết rất quan trọng trong việc quy định đối tượng chịu thuế TTĐB, có ảnh hưởng rất lớn đến tính hợp

lý của pháp luật

Thứ hai, tác hại của đối tượng đối với môi trường, sức khỏe con người

Hiện nay, đối với hầu hết các nước trên thế giới, tiêu chí này được đặt lên hàng đầu trong việc quy định đối tượng chịu thuế TTĐB, quan trọng hơn cả tiêu chí thứ nhất là tính xa xỉ của hàng hóa, dịch vụ Bởi xã hội càng phát triển thì càng có nhiều sản phẩm hàng hóa và dịch vụ mới ra đời đáp ứng nhu cầu của con người Không thể phủ nhận mặt tích cực mà các sản phẩm này mang lại cho con người trong cuộc sống, nhưng những mặt trái mà nó gây ra cho môi trường, sức khỏe con người cũng không phải là nhỏ Do đó, Nhà nước đã đánh thuế TTĐB để nhằm hạn chế việc sử dụng quá mức những sản phẩm này, đảm bảo sử dụng tiết kiệm, hợp lý, vào những mục tiêu thật sự cần thiết, đồng thời một phần tiền thuế thu được sẽ dùng để khắc phục phần nào hậu quả do việc sử dụng các sản phẩm đem lại

Ở các nước trên thế giới, các mặt hàng gây ảnh hưởng đến môi trường, sức khỏe như xăng dầu, xe ô tô, thuốc lá, rượu, bia được liệt kê đầu tiên trong danh sách các đối tượng chịu thuế TTĐB, bên cạnh đó, các mặt hàng này còn phải chịu các

Trang 24

loại thuế khác nhằm hạn chế đến mức thấp nhất sự tiêu thụ chúng Chẳng hạn thuế TTĐB ở Pháp, các nhóm hàng hóa tiêu biểu thuộc diện chịu thuế bao gồm: thức uống có cồn (the alcoholic beverages), thuốc lá (tobaco), xăng dầu (gasoline)11, hay

ở Thổ Nhĩ Kỳ, danh sách các nhóm đối tượng chịu thuế TTĐB được liệt kê theo thứ

tự sau: nhóm 1 là các sản phẩm dầu mỏ (petroleum products), khí thiên nhiên (natural gas), dầu bôi trơn (lubricating oil), dung môi và các chất dẫn xuất của dung môi (solvents and derivatives of solvents); nhóm 2 gồm xe ô tô và các loại xe khác (automobiles and other vehicles), xe mô tô (motorcycles), máy bay (planes), trực thăng (helicopters) và du thuyền (yachts); nhóm 3 gồm thuốc lá và các sản phẩm thuốc lá (tobaco and tobaco products), thức uống có cồn và nước cola (alcoholic baverages and cola); và nhóm cuối cùng mới là các loại hàng hóa xa xỉ (luxury products)12 Đồng thời, ở Pháp, hành vi gây ô nhiễm không khí từ việc sử dụng các phương tiện vận tải còn phải chịu một loại thuế khác đó là thuế môi trường (environmental taxes)13

Tóm lại, trong xã hội hiện đại, vấn đề sức khỏe, môi trường là vấn đề được quan tâm hàng đầu, cho nên tiêu chí này được xem là tiêu chí quan trọng để làm cơ

sở quy định đối tượng chịu thuế TTĐB Nếu như đối với các mặt hàng xa xỉ, thuế TTĐB được thu nhằm mục đích chính là điều tiết thu nhập thì đối với các mặt hàng gây tác hại, mục đích chính của việc thu thuế là nhằm hạn chế tiêu dùng - mục tiêu

cơ bản của thuế TTĐB

Thứ ba, ảnh hưởng bất lợi của hàng hóa, dịch vụ là đối tượng chịu thuế TTĐB

đến trật tự xã hội

Đây là tiêu chí thường được sử dụng để xác định đối tượng chịu thuế là các sản phẩm dịch vụ Trước đây, nhất là trong giai đoạn đầu xây dựng đất nước, cuộc sống người dân còn khó khăn, họ chủ yếu chỉ lo cái ăn cái mặc, chưa quan tâm đến các nhu cầu vui chơi giải trí Nhưng hiện nay, nhu cầu thư giãn, giải trí ngày càng được nâng cao và trở thành nhu cầu không thể thiếu của mỗi người dân Vì vậy, nhiều loại hình dịch vụ đã ra đời đáp ứng nhu cầu đó Tuy nhiên, bên cạnh những loại hình giải trí lành mạnh, bổ ích thì cũng có một số loại hình giải trí kém lành mạnh, chỉ mang tính chất hoang phí, trong đó còn tiềm ẩn nguy cơ gây mất trật tự

11 "Excise duties in France", tlđd số 8

12 "Turkish taxation system", tlđd số 9

13 "Environmental taxes in France":http://www.cfe-eutax.org/taxation/environmental-taxes/france

Trang 25

xã hội, dẫn đến nhiều tệ nạn, trái với thuần phong mỹ tục, đi ngược lại với truyền thống văn hóa của người Việt Nam Vì trật tự xã hội là một nhân tố quan trọng đảm bảo sự ổn định trong xã hội, là yếu tố mà nhà nước luôn quan tâm và bảo vệ, nên những hành vi kinh doanh, tiêu dùng nào có thể gây ảnh hưởng đến yếu tố này đều không được khuyến khích

Nếu như trong Điều lệ thuế hàng hóa trước đây và Luật thuế TTĐB đầu tiên năm 1990, tiêu chí trật tự xã hội ít được các nhà làm luật quan tâm thì từ luật thuế TTĐB năm 1998 đến nay, tiêu chí này ngày càng được quan trọng hóa Bên cạnh những mặt hàng truyền thống đã được quy định trong luật cũ, hàng loạt các loại hình dịch vụ mới phát triển tiềm ẩn nhiều tệ nạn xã hội như nạn trộm cắp, mại dâm,

ma túy cũng được đưa vào diện chịu thuế Có thể bản chất của các dịch vụ này không xấu, có thể phục vụ nhu cầu giải trí lành mạnh nếu được sử dụng một cách đúng đắn và có chừng mực, nhưng do việc sử dụng quá mức và biến tướng của con người nên chúng có thể dẫn đến nhiều hệ lụy xã hội Công cụ thuế TTĐB được nhà nước sử dụng như một biện pháp kinh tế, bên cạnh các biện pháp quản lý hành chính, tác động đến chủ thể sử dụng sản phẩm cũng như chủ thể kinh doanh sản phẩm nhằm hạn chế kinh doanh, tiêu dùng Trong tương lai, tiêu chí này sẽ ngày càng được áp dụng nhiều hơn trong việc xác định đối tượng chịu thuế TTĐB, bởi sự phát triển xã hội luôn tiềm ẩn những yếu tố làm mất an toàn xã hội

Thứ tư, điều kiện kinh tế - xã hội của đất nước

Ngoài ba tiêu chí chủ yếu trên, điều kiện kinh tế - xã hội của đất nước tại thời điểm ban hành luật cũng là một nhân tố quan trọng quyết định đến tính chất “đặc biệt” của hàng hóa, dịch vụ được xem xét, nhất là đối với tính xa xỉ Tiêu chí này có thể được phân tích thông qua các yếu tố sau:

¾ Sự phát triển của xã hội và mức sống của người dân Trong một đất nước

có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn, việc tiêu dùng những loại hàng hóa, dịch vụ

có giá trị cao hơn mức thu nhập bình quân chung sẽ được xem là hành vi tiêu dùng

xa xỉ và chịu thuế TTĐB Nhưng ngược lại, trong một đất nước phát triển, giàu mạnh thì tiêu dùng những loại hàng hóa, dịch vụ như vậy là bình thường, phù hợp với mức thu nhập chung của người dân, và do đó không phải chịu thuế

¾ Cơ sở hạ tầng và những công trình công cộng phục vụ cuộc sống nhân dân

Đây không phải là hàng hóa, dịch vụ, cũng không ảnh hưởng đến bản chất của hàng

Trang 26

hóa, dịch vụ được xem xét, nhưng nó là nhân tố gián tiếp, góp phần quyết định tính đặc biệt của việc sử dụng hàng hóa, dịch vụ Với một điều kiện cơ sở hạ tầng tốt, hàng hóa, dịch vụ sẽ được sử dụng một cách dễ dàng và thuận tiện hơn, không gây ảnh hưởng đến các quan hệ xã hội khác, và do đó nó sẽ không bị hạn chế tiêu dùng

¾ Trình độ của nền sản xuất trong nước Một đất nước có trình độ công nghệ

cao, có khả năng đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong nước thì tất yếu các loại hàng hóa sản xuất ra sẽ được nhà nước khuyến khích tiêu dùng Đồng thời, giá thành của hàng hóa cũng sẽ tương xứng với giá trị thực tế của nó do không phải chịu thêm các khoản thuế, phù hợp với nhu cầu và mức thu nhập của người dân Ngược lại, với phương châm bảo hộ sản xuất trong nước, các hàng hóa có nguồn gốc nước ngoài sẽ không được khuyến khích và người dân cũng không có khả năng sử dụng, mặc dù nhu cầu trong nước là có thực

¾ Khả năng quản lý của nhà nước Như đã trình bày, có một số loại hàng hóa,

dịch vụ mà bản chất của nó không xấu, nhưng do tính nhạy cảm và qua hành vi sử dụng không đúng mục đích của con người làm cho hàng hóa, dịch vụ tiềm ẩn nguy

cơ gây ảnh hưởng đến trật tự xã hội Do đó, nếu một nhà nước có trình độ quản lý tốt, có khả năng điều chỉnh hành vi của người sử dụng thì hàng hóa, dịch vụ đó sẽ không còn là đối tượng bị điều chỉnh bởi luật thuế TTĐB Ngược lại, hàng hóa, dịch

vụ sẽ vẫn mang bản chất là hàng hóa, dịch vụ nhạy cảm cần hạn chế tiêu dùng Tất cả các yếu tố trên hợp thành điều kiện kinh tế - xã hội ảnh hưởng đến chủ trương, chính sách pháp luật thuế TTĐB của nhà nước đối với một loại hàng hóa, dịch vụ cụ thể Nếu điều kiện kinh tế - xã hội phù hợp cho việc sử dụng hàng hóa, dịch vụ và nếu điều đó phục vụ nhu cầu chính đáng của người dân thì nhà nước sẽ khuyến khích và tạo điều kiện cho người dân tiếp cận và sử dụng Ngược lại, nếu điều kiện kinh tế - xã hội không phù hợp thì nhà nước sẽ không khuyến khích và sẽ dùng một hoặc nhiều biện pháp để hạn chế, trong đó có biện pháp đánh thuế TTĐB bằng cách đưa hàng hóa, dịch vụ đó vào diện chịu thuế

Trên đây là các tiêu chí cơ bản để xác định một loại hàng hóa, dịch vụ là đối tượng chịu thuế TTĐB Nhưng cần lưu ý rằng các loại hàng hóa, dịch vụ thỏa mãn các tiêu chí này chỉ trở thành đối tượng chịu thuế TTĐB nếu nó được sản xuất ra bởi các cơ sở sản xuất, kinh doanh nhằm mục đích lợi nhuận và được đưa vào lưu thông trên thị trường Theo đó, các sản phẩm cùng loại nhưng không phải do cơ sở

Trang 27

kinh doanh tạo ra mà chỉ do các cá nhân hoặc gia đình tự sản xuất và chỉ dùng trong gia đình hoặc làm quà biếu, quà tặng thì không phải là đối tượng chịu thuế TTĐB Tuy nhiên, để hạn chế tình trạng lách luật, pháp luật quy định trong trường hợp hàng hóa thuộc diện chịu thuế TTĐB do cơ sở sản xuất tạo ra, mặc dù không được bán ra thị trường nhằm mục đích lợi nhuận mà chỉ để tiêu dùng nội bộ thì vẫn phải chịu thuế TTĐB Đây là một số trường hợp đặc biệt liên quan đến việc xác định đối tượng chịu thuế TTĐB

Như vậy, phải chăng mọi hàng hóa, dịch vụ thỏa mãn các tiêu chí nêu trên đều

có thể được coi là đối tượng chịu thuế TTĐB?

Câu trả lời là không phải như vậy, bởi vì nếu những hàng hóa, dịch vụ thỏa mãn các tiêu chí trên nhưng chúng không được tiêu thụ tại Việt Nam, hoặc hàng hóa, dịch vụ thuộc một trong các trường hợp Nhà nước không đánh thuế thì cũng không phải là đối tượng chịu thuế TTĐB

Trên nguyên tắc, những hàng hóa, dịch vụ có tên trong danh mục hàng hóa, dịch vụ chịu thuế TTĐB nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây thì không phải chịu thuế TTĐB:

- Không được tiêu thụ tại Việt Nam Thuế TTĐB là một loại thuế nội địa, chỉ

áp dụng đối với những hàng hóa, dịch vụ được tiêu thụ trên thị trường nội địa để hạn chế tiêu dùng và bảo vệ lợi ích quốc gia Do đó, bất kể sản phẩm được sản xuất trong nước hay sản xuất ở nước ngoài, miễn đó là sản phẩm nằm trong danh mục các sản phẩm thuộc diện chịu thuế và được tiêu thụ tại Việt Nam thì phải thực hiện nghĩa vụ thuế TTĐB với nhà nước Việt Nam Ngược lại, sản phẩm có nguồn gốc, xuất xứ từ Việt Nam hoặc từ nước ngoài được nhập khẩu vào Việt Nam nhưng thực

tế không được tiêu thụ tại Việt Nam thì không phải chịu thuế TTĐB Lý do tồn tại của quy định này là do thuế TTĐB là loại thuế nội địa, chỉ có hiệu lực áp dụng trên lãnh thổ Việt Nam và chỉ sử dụng để điều chỉnh hành vi tiêu dùng được thực hiện trên lãnh thổ Việt Nam Những hành vi tiêu dùng đối tượng chịu thuế ngoài lãnh thổ Việt Nam sẽ được điều chỉnh bởi pháp luật nước ngoài nơi hành vi tiêu dùng được thực hiện

Tiêu chí này có thể được sử dụng để loại trừ hàng hóa ra khỏi diện chịu thuế TTĐB trong các trường hợp như: hàng hóa xuất khẩu; hàng hóa được sử dụng trong các khu phi thuế quan của Việt Nam; hàng hóa có mặt trên lãnh thổ Việt Nam

Trang 28

nhưng không nhằm mục đích tiêu thụ tại thị trường Việt Nam (ví dụ: hàng tạm nhập khẩu, tái xuất khẩu; tạm xuất khẩu, tái nhập khẩu; hàng chuyển khẩu, hoặc quá cảnh, mượn đường qua cửa khẩu Việt Nam); hàng hóa được bán trên lãnh thổ Việt Nam nhưng không tiêu thụ ở Việt Nam như hàng được bán tại các cửa hàng miễn thuế ở sân bay, bến cảng, nhà ga nơi có cửa khẩu quốc tế

- Không mang tính thương mại, không tác động đến hoạt động sản xuất và tiêu dùng trong nước Mục tiêu chính của thuế TTĐB là nhằm điều chỉnh hoạt động sản

xuất, kinh doanh và tiêu dùng trong nước, hướng dẫn người dân tiêu dùng một cách hợp lý Tuy nhiên, ở một mức độ nhất định, sự tiêu dùng các mặt hàng thuộc đối tượng chịu thuế không cần phải được điều chỉnh bởi nó ít tác động đến hoạt động sản xuất và tiêu dùng trong nước Thông thường, những đối tượng chịu thuế được cho là ngoại lệ trong trường hợp này là các loại quà biếu, quà tặng của tổ chức, cá nhân nước ngoài cho cá nhân ở Việt Nam, hoặc các loại hàng hóa là hành lý mang theo của những người nhập cảnh vào Việt Nam theo định mức Đây đều là các loại hàng hóa có nguồn gốc từ nước ngoài và được sử dụng ở Việt Nam với số lượng rất nhỏ nên không cần thiết phải thu thuế TTĐB để định hướng sản xuất và tiêu dùng, cũng nhằm mục đích là đảm bảo quyền tự do của người dân đối với những vật dụng mang tính chất cá nhân, phi thương mại và tránh tình trạng thuế chồng thuế

- Nhà nước là người trực tiếp sử dụng hàng hóa, dịch vụ đó Về nguyên tắc,

người sử dụng các hàng hóa, dịch vụ thuộc diện chịu thuế TTĐB sẽ là người chịu thuế TTĐB Thông thường, người chịu thuế là tổ chức, cá nhân nhưng trong một số trường hợp đặc biệt, Nhà nước lại chính là người trực tiếp sử dụng các hàng hóa, dịch vụ này Đây là trường hợp các cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, đơn vị vũ trang nhân dân của nhà nước nhận được quà biếu, quà tặng là các mặt hàng thuộc đối tượng chịu thuế TTĐB từ các tổ chức, cá nhân nước ngoài Để thực hiện nghĩa vụ thuế, các đơn vị này sẽ phải trích một phần nguồn quỹ của đơn vị mình để nộp vào ngân sách nhà nước, mà thực chất nguồn tiền này cũng từ ngân sách nhà nước giao cho đơn vị làm kinh phí hoạt động Do đó, thay vì lấy tiền của Nhà nước để nộp vào cho ngân sách nhà nước một cách không ý nghĩa thì Nhà nước quy định trường hợp này không phải chịu thuế

- Được sử dụng vào mục đích nhân đạo Trong quá trình toàn cầu hóa hiện

nay, sự giúp đỡ qua lại lẫn nhau giữa các quốc gia trở nên phổ biến và cần thiết

Trang 29

thông qua hình thức viện trợ nhân đạo hoặc viện trợ không hoàn lại, thể hiện tinh thần nhân đạo, tương thân tương ái giữa các quốc gia, tạo điều kiện để quốc gia gặp khó khăn giải quyết các vấn đề trước mắt và đáp ứng mục tiêu phát triển kinh tế trong tương lai Để thực hiện chính sách ưu đãi qua công cụ thuế, các nước trên thế giới đều không thu thuế đối với hàng hóa được sử dụng vào mục đích này Lý do là

vì đối tượng tiêu dùng hàng hóa viện trợ thường là những chủ thể cần được hưởng chính sách đãi ngộ từ nhà nước, hoặc có thể hàng hóa được sử dụng vào mục tiêu phát triển đất nước Đây không phải là những hành vi tiêu dùng mang tính xa xỉ mà

là những hành vi tiêu dùng cần thiết, cho nên việc thu thuế trong trường hợp này sẽ không đúng với bản chất của thuế TTĐB và mục tiêu điều tiết của nhà nước Bên cạnh đó, đối với hàng viện trợ nhân đạo, chủ thể tiếp nhận và sử dụng hàng hóa này

là Nhà nước, do đó nếu thu thuế trong trường hợp này thì Nhà nước sẽ là người chịu thuế, dẫn đến sự không hợp lý như ở trường hợp thứ ba đã phân tích

- Được sử dụng nhằm phục vụ lợi ích công cộng Lợi ích công cộng có thể

được hiểu là những lợi ích chung dành cho mọi người và cho xã hội Trong một nhà nước nói chung và nhà nước xã hội chủ nghĩa nói riêng, lợi ích công cộng luôn được quan tâm và đề cao Nhà nước ta không ngừng hoàn thiện cơ sở vật chất xã hội để nâng cao mức sống cho người dân, nỗ lực đáp ứng một cách tốt nhất nhu cầu vật chất và tinh thần của nhân dân Theo đó, các loại hàng hóa, dịch vụ phục vụ lợi ích chung của cộng đồng đều được nhà nước khuyến khích và tạo điều kiện phát triển, trong đó có chính sách ưu đãi về thuế Đối với thuế TTĐB, Nhà nước cũng thực hiện chính sách này Các mặt hàng thuộc diện chịu thuế TTĐB nếu không phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng cá nhân mà phục vụ lợi ích cộng đồng hoặc phục vụ mục đích chung của tập thể thì sẽ được loại ra khỏi các trường hợp chịu thuế Có thể

kể đến một số loại hàng hóa thuộc trường hợp này như các phương tiện vận chuyển hàng hóa, hành khách, hoặc phục vụ cho hoạt động sản xuất của doanh nghiệp trong phạm vi nội bộ

1.2.4 Mối quan hệ giữa đối tượng chịu thuế tiêu thụ đặc biệt với thuế suất và giá tính thuế tiêu thụ đặc biệt

Nếu tiếp cận một cách độc lập thì đối tượng chịu thuế, giá tính thuế và thuế suất thuế TTĐB là ba nội dung khác nhau trong cấu trúc thuế TTĐB Chúng mang bản chất hoàn toàn khác nhau, mỗi nội dung giữ một chức năng và vai trò nhất định của mình Tuy nhiên, nếu xét một cách tổng quát thì ba nội dung trên có sự liên hệ

Trang 30

chặt chẽ với nhau, đều nằm chung trong cấu trúc của thuế TTĐB Mỗi nội dung giữ một chức năng, nhiệm vụ khác nhau nhưng tựu trung lại đều nhằm phục vụ mục tiêu điều chỉnh các quan hệ pháp luật thuế nói chung và thuế TTĐB nói riêng Mối quan hệ giữa ba yếu tố này được thể hiện ở các khía cạnh sau:

Thứ nhất, đối tượng chịu thuế, giá tính thuế và thuế suất thuế TTĐB đều

hướng vào việc xác định nghĩa vụ thuế của một chủ thể nhất định Đối tượng chịu thuế TTĐB quy định các loại hàng hóa, dịch vụ nào chịu sự điều chỉnh của pháp luật thuế TTĐB (bị đánh thuế TTĐB), giá tính thuế quy định cách thức xác định giá trị của hàng hóa và dịch vụ, còn thuế suất thì quy định mức thuế phải nộp trên một đơn vị hàng hóa, dịch vụ chịu thuế theo một tỷ lệ phần trăm nhất định Như vậy, tuy quy định về những vấn đề khác nhau nhưng cả ba nội dung trên đều cùng hướng đến mục tiêu chung là xác định số thuế TTĐB phải nộp đối với những chủ thể là người chịu thuế, từ đó thực hiện điều tiết thu nhập và định hướng hành vi tiêu dùng của những chủ thể này

Thứ hai, việc xác định giá tính thuế và thuế suất thuế TTĐB đều dựa trên căn

cứ cơ bản (hay vật chuẩn) là hàng hóa, dịch vụ (với tư cách là đối tượng chịu thuế TTĐB)

Đối với yếu tố giá tính thuế TTĐB, pháp luật các nước thường có xu hướng quy định đó là giá bán thực tế trên thị trường của hàng hóa, dịch vụ chịu thuế TTĐB Điều này có nghĩa là mỗi loại hàng hóa, dịch vụ chịu thuế TTĐB sẽ có giá tính thuế TTĐB khác nhau, dù rằng trên thực tế giá tính thuế của các hàng hóa, dịch

vụ đó được xác định theo những nguyên tắc chung

Đối với yếu tố thuế suất thuế TTĐB, do mục đích của Nhà nước là muốn điều tiết ở mức độ khác nhau đối với từng loại hàng hóa, dịch vụ chịu thuế TTĐB nên mức thuế suất có thể sẽ khác nhau giữa các loại hàng hóa, dịch vụ chịu thuế, căn cứ vào tính chất và mức độ ảnh hưởng của việc tiêu dùng hàng hóa, dịch vụ đó đối với lợi ích của Nhà nước, xã hội, nền kinh tế và mỗi người tiêu dùng

Thứ ba, sự thay đổi của đối tượng chịu thuế TTĐB sẽ dẫn đến sự thay đổi giá

tính thuế và thuế suất thuế TTĐB Như đã trình bày, đối tượng chịu thuế là cơ sở để quy định giá tính thuế và thuế suất thuế TTĐB Do đó tất yếu là sự thay đổi của đối tượng chịu thuế sẽ dẫn đến sự thay đổi của hai yếu tố còn lại Mối tương quan này được thể hiện qua các trường hợp sau:

Trang 31

¾ Khi quy luật cung - cầu đối tượng chịu thuế trên thị trường thay đổi, giá cả

hàng hóa, dịch vụ chịu thuế thay đổi thì sẽ dẫn đến giá tính thuế TTĐB đối với hàng hóa, dịch vụ đó thay đổi Giá tính thuế TTĐB có sự liên hệ mật thiết với đối tượng chịu thuế TTĐB không chỉ ở bản thân đối tượng chịu thuế mà còn với thị trường nơi mà đối tượng chịu thuế lưu thông và được tiêu thụ

¾ Khi tính chất, mức độ tác động của đối tượng chịu thuế TTĐB đối với xã

hội thay đổi thì thuế suất thuế TTĐB cũng có sự thay đổi tương ứng Quan niệm về tính xa xỉ hay những tác động tiêu cực của hàng hóa, dịch vụ thuộc đối tượng chịu thuế đến xã hội không phải là bất biến mà nó có thể thay đổi theo tình hình thực tế của xã hội Và khi sự thay đổi đó diễn ra dù theo chiều hướng tăng hay giảm đều dẫn đến sự thay đổi trong thuế suất thuế TTĐB tương ứng với mức độ điều tiết của nhà nước đối với đối tượng chịu thuế

¾ Khi một loại hàng hóa, dịch vụ mới được bổ sung vào nhóm đối tượng chịu thuế TTĐB thì sẽ phát sinh giá tính thuế và thuế suất thuế TTĐB mới Ngược lại, nếu một loại hàng hóa, dịch vụ nào đó bị loại ra khỏi nhóm đối tượng chịu thuế thì

sẽ không còn tồn tại giá tính thuế và thuế suất đối với đối tượng đó trong hệ thống pháp luật thuế TTĐB

Thứ tư, sự thay đổi giá tính thuế và thuế suất thuế TTĐB có thể ảnh hưởng đến

khả năng tiêu thụ của đối tượng chịu thuế trên thị trường Theo đó, thông qua việc điều chỉnh khả năng tiêu thụ hàng hóa, dịch vụ bằng giá cả, Nhà nước sẽ tăng thuế suất thuế TTĐB đối với hàng hóa, dịch vụ chịu thuế nếu cần điều tiết mạnh hành vi tiêu dùng hàng hóa, dịch vụ đó; ngược lại Nhà nước sẽ hạ thuế suất nếu cần nới lỏng chính sách, khi đó tình hình tiêu thụ hàng hóa, dịch vụ sẽ được chuyển biến tốt Như vậy, qua phân tích mối quan hệ giữa yếu tố đối tượng chịu thuế TTĐB với yếu tố giá tính thuế và yếu tố thuế suất thuế TTĐB, có thể thấy đối tượng chịu thuế TTĐB tuy là một thành tố độc lập trong cấu trúc thuế TTĐB nhưng nó không tồn tại một cách cô lập, riêng lẽ, tách rời với các nội dung khác trong cùng hệ thống

mà giữa chúng luôn có sự liên hệ, tác động qua lại và phụ thuộc lẫn nhau Trong đó,

có thể nói đối tượng chịu thuế TTĐB là cơ sở, là nền tảng, có tác động rất lớn đến các yếu tố còn lại

Trang 32

1.3 Nguyên lý điều chỉnh bằng pháp luật đối với đối tượng chịu thuế tiêu thụ đặc biệt

1.3.1 Quyền ấn định đối tượng chịu thuế tiêu thụ đặc biệt

Việc ban hành pháp luật được ghi nhận như là một quyền đặc trưng và duy nhất chỉ có ở Nhà nước Ở nước ta, quyền ban hành pháp luật để điều chỉnh các quan hệ xã hội được ghi nhận cụ thể trong Hiến pháp và Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật, theo đó chỉ Quốc hội mới có thẩm quyền ban hành và sửa đổi các đạo luật14 Không nằm ngoài nguyên tắc trên, các nội dung của đạo luật thuế TTĐB (trong đó có nội dung về đối tượng chịu thuế) đều do cơ quan lập pháp ấn định

Cơ sở khoa học của việc quy định quyền ấn định đối tượng chịu thuế TTĐB của cơ quan lập pháp được thể hiện ở chỗ: Nhà nước ta là nhà nước xã hội chủ nghĩa do nhân dân làm chủ, tất cả quyền lực thuộc về nhân dân Do đó, những vấn

đề quan trọng của đất nước trong đó có việc ban hành pháp luật điều chỉnh các quan

hệ xã hội nói chung và quy định pháp luật thuế TTĐB nói riêng đều phải do Quốc Hội - cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân quyết định, một mặt phù hợp với ý chí

và nguyện vọng của nhân dân, đảm bảo quyền và lợi ích chính đáng của nhân dân, mặt khác đảm bảo mục tiêu quản lý của nhà nước và lợi ích của toàn dân tộc Theo

đó, quyền ấn định đối tượng chịu thuế TTĐB của Quốc hội - cơ quan lập pháp được hiểu là, ngoài việc lựa chọn và đưa một số loại hàng hóa, dịch vụ nào đó vào diện chịu thuế, còn có thể sửa đổi, bổ sung một số loại hàng hóa, dịch vụ cho phù hợp hoặc loại bỏ một số loại hàng hóa, dịch vụ ra khỏi diện chịu thuế nếu cần thiết Tuy nhiên, quyền ấn định này không phải được sử dụng một cách tùy tiện, chủ quan mà luôn phải tuân theo những nguyên tắc nhất định Nhà nước ta là nhà nước pháp quyền, do đó đòi hỏi pháp luật nói chung và pháp luật thuế TTĐB nói riêng phải đảm bảo tính công bằng, hợp lý, minh bạch và khả thi để có thể đạt được những mục tiêu mà nhà nước hướng tới khi áp dụng trên thực tế

1.3.2 Nguyên tắc và quy trình xác định đối tượng chịu thuế tiêu thụ đặc biệt

Như đã khẳng định ở trên, đối tượng chịu thuế TTĐB là do Nhà nước mà đại

14 Điều 83 Hiến pháp năm 1992 sửa đổi, bổ sung năm 2001 quy định Quốc hội là cơ quan duy nhất có quyền lập hiến và lập pháp Đồng thời, Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2008 cũng quy định nội dung này tại điều 2 và điều 11 Theo đó, chỉ có Quốc hội mới có quyền ban hành luật quy định các vấn đề cơ bản thuộc các lĩnh vực kinh tế, xã hội, quốc phòng, an ninh, tài chính, tiền tệ, ngân sách, thuế Các cơ quan khác không có quyền ban hành luật mà chỉ có thể ban hành các văn bản dưới luật thuộc thẩm quyền và phù hợp với lĩnh vực quản lý của mình

Trang 33

diện là cơ quan lập pháp ấn định dựa trên những tiêu chí cụ thể Tuy nhiên, vì đối tượng chịu thuế có vai trò rất quan trọng trong hệ thống cấu trúc thuế TTĐB nên việc xác định đối tượng chịu thuế một cách đúng đắn, hợp lý và mang tính khả thi cao là vấn đề quan trọng, đòi hỏi các cơ quan có thẩm quyền không thể tiến hành một cách tùy tiện, sơ sài mà phải tuân theo những nguyên tắc và quy trình chặt chẽ

1.3.2.1 Nguyên tắc xác định đối tượng chịu thuế tiêu thụ đặc biệt

Nguyên tắc xác định đối tượng chịu thuế TTĐB là những tư tưởng nền tảng được đặt ra để làm cơ sở cho việc xác định đối tượng chịu thuế TTĐB một cách đúng đắn Các nguyên tắc này có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hướng sự điều chỉnh của pháp luật thuế TTĐB đến những đối tượng cần thiết, phù hợp với bản chất của thuế TTĐB và mục tiêu điều tiết của nhà nước, đảm tính thống nhất

và hợp pháp, tính minh bạch, tính công bằng, tính hợp lý và tính khả thi

Về tính thống nhất và hợp pháp

Việc xác định đối tượng chịu thuế TTĐB phải đảm bảo quy định về các đối tượng này không được trái với Hiến pháp và các quy định khác của pháp luật hiện hành; quy định về các vấn đề liên quan trong văn bản dưới luật phải phù hợp với văn bản luật mà nó hướng dẫn, đảm bảo hệ thống các quy định về đối tượng chịu thuế TTĐB trong các văn bản pháp luật riêng lẽ không được chồng chéo, mâu thuẫn nhau Đồng thời, đối tượng chịu thuế được xác định phải là các loại hàng hóa, dịch

vụ được lưu thông hợp pháp trên thị trường, không thể đưa một loại hàng hóa, dịch

vụ bị cấm lưu thông vào diện chịu thuế TTĐB, như vậy vô hình trung thừa nhận

tính hợp pháp của hàng hóa, dịch vụ

Về tính minh bạch

Tính minh bạch của đối tượng chịu thuế TTĐB thể hiện ở chỗ:

¾ Các đối tượng chịu thuế TTĐB phải được liệt kê rõ ràng từng loại hàng hóa,

dịch vụ với tên gọi chuẩn xác; các trường hợp không chịu thuế phải được quy định

cụ thể Điều này giúp cho quá trình áp dụng pháp luật được dễ dàng Các cơ quan thuế có thể nhận diện chính xác các loại hàng hóa, dịch vụ chịu thuế để tiến hành việc thu thuế; các chủ thể sản xuất kinh doanh có thể nắm bắt các yếu tố tác động đến sản phẩm mà mình kinh doanh để lập kế hoạch kinh doanh cho phù hợp; người tiêu dùng cũng có thể biết nghĩa vụ thuế phát sinh từ việc sử dụng sản phẩm để có

Trang 34

hướng lựa chọn tiêu dùng phù hợp Đồng thời, sự minh bạch trong quy định về đối tượng chịu thuế còn tránh được sự nhầm lẫn trong quá trình thực thi pháp luật

¾ Cần có sự giải thích rõ ràng đối với các nhóm đối tượng chịu thuế mà trong

đó còn có sự nhập nhằng Đối với các loại hàng hóa, dịch vụ chịu thuế mà trong đó phân thành nhiều loại hàng hóa nhỏ hoặc nhiều loại dịch vụ phụ trợ khác nhau thì cần phải có sự giải thích về sự phức tạp đó Cụ thể nhóm đối tượng chịu thuế bao gồm các loại hàng hóa, dịch vụ nào, trong đó loại nào chịu thuế, loại nào không chịu thuế Có như vậy mới không xảy ra tình trạng lúng túng, không thống nhất giữa các địa phương trong quá trình áp dụng pháp luật

Về tính công bằng

Đây là nguyên tắc chủ đạo trong pháp luật thuế nói chung và pháp luật thuế TTĐB nói riêng Việc xác định đối tượng chịu thuế TTĐB phải đảm bảo sự bình đẳng giữa các loại hàng hóa, dịch vụ có cùng tính chất với nhau và mức độ ảnh hưởng tương đương nhau Theo đó:

¾ Các hàng hóa, dịch vụ cùng loại nếu phù hợp với các tiêu chí đặt ra thì phải được xác định là đối tượng chịu thuế TTĐB và được điều chỉnh bằng pháp luật thuế TTĐB, không phân biệt hàng hóa, dịch vụ đó là của ai, xuất xứ từ đâu, phương cách thể hiện ra bên ngoài như thế nào , trừ các đối tượng thỏa mãn các tiêu chí để trở thành đối tượng không chịu thuế

¾ Các loại hàng hóa, dịch vụ tương tự, có cùng tính năng, công dụng với đối tượng chịu thuế TTĐB, có thể được sử dụng thay thế cho đối tượng chịu thuế cũng phải được xác định là đối tượng chịu thuế

¾ Các loại hàng hóa, dịch vụ khác nhau về chủng loại, công dụng nhưng có cùng mức độ xa xỉ hoặc cùng mức độ ảnh hưởng đến xã hội đều phải được quy định

là đối tượng chịu thuế TTĐB Mức độ giới hạn của sự xa xỉ hay khả năng gây tác hại của hàng hóa, dịch vụ để đưa chúng vào diện chịu thuế phụ thuộc vào ý chí của Nhà nước, có thể căn cứ vào giá trị của hàng hóa, dịch vụ so với mức thu nhập trung bình chung hoặc căn cứ vào những thiệt hại thực tế đã xảy ra từ việc sử dụng hàng hóa, dịch vụ mà nhà nước xét thấy cần thiết phải điều chỉnh Và như vậy, tất

cả các loại hàng hóa, dịch vụ trong cùng mức độ cần điều chỉnh hoặc trên mức độ

đó đều thuộc diện chịu thuế TTĐB

Trang 35

Về tính hợp lý

Để đảm bảo tính hợp lý của quy định pháp luật về đối tượng chịu thuế TTĐB, việc xác định đối tượng chịu thuế phải tuân thủ các nguyên tắc sau:

¾ Việc xác định đối tượng chịu thuế TTĐB phải dựa trên điều kiện khách

quan của xã hội Sự phù hợp với điều kiện khách quan luôn là yếu tố cơ bản quyết định tính hợp lý của một quy định pháp luật Đối với thuế TTĐB, nguyên tắc này lại càng quan trọng hơn, khi thuế TTĐB là loại thuế phản ánh rõ rệt sự phát triển của

xã hội Do đó, trong quá trình xác định đối tượng chịu thuế TTĐB cần tuân thủ các yêu cầu cơ bản như: (i) Căn cứ vào tình hình xã hội hiện tại để quyết định có đưa hàng hóa, dịch vụ vào diện chịu thuế hay không, tuyệt đối không áp đặt một cách cảm tính, dựa trên tình hình xã hội ở giai đoạn trước hoặc sao chép theo pháp luật nước ngoài mà không tính toán đến điều kiện trong nước; (ii) Lấy thực tiễn xã hội làm nơi để kiểm tra tính đúng đắn của việc quy định về đối tượng chịu thuế TTĐB

và có thể phải chỉnh sửa, bổ sung các quy định này nếu cần thiết cho phù hợp với nhu cầu thực tiễn xã hội

¾ Việc xác định đối tượng chịu thuế TTĐB phải dựa trên các tiêu chí nhất

định phù hợp với bản chất của thuế TTĐB Các tiêu chí đặt ra có vai trò quan trọng,

là kim chỉ nam cho việc xác định đối tượng chịu thuế TTĐB Nó như là một hình ảnh mẫu về đối tượng, từ đó giúp xác định đối tượng một cách đúng đắn, phù hợp với bản chất của thuế TTĐB Các tiêu chí này đã được phân tích cụ thể ở phần 1.2.3 Theo đó, chỉ những loại hàng hóa, dịch vụ nào thỏa mãn một trong các tiêu chí đã được xác định trước thì mới có thể trở thành đối tượng chịu thuế TTĐB Nếu việc xác định đối tượng chịu thuế được tiến hành một cách tùy tiện, cảm tính, không theo bất kỳ một tiêu chí nào thì sẽ dẫn đến mất phương hướng, không thể xác định được hàng hóa, dịch vụ nào nên là đối tượng chịu thuế; đồng thời hàng hóa, dịch vụ được xác định cũng sẽ không phù hợp với bản chất của thuế TTĐB, làm mất đi tính hợp lý của pháp luật

¾ Việc xác định hàng hóa, dịch vụ chịu thuế TTĐB phải đảm bảo đạt được mục tiêu đề ra Mỗi sắc thuế ban hành đều hướng đến những mục tiêu riêng, do đó việc xác định đối tượng chịu thuế phải đảm bảo rằng nếu thu thuế đối với đối tượng

sẽ đạt được mục tiêu đề ra Đối với thuế TTĐB, việc thu thuế nhằm hai mục tiêu chính là điều tiết thu nhập và định hướng tiêu dùng đối với các chủ thể sử dụng các

Trang 36

loại hàng hóa, dịch vụ mà nhà nước không khuyến khích; sâu xa hơn là hạn chế những tác động tiêu cực có thể xảy ra Như vậy, khi xác định một loại hàng hóa, dịch vụ là đối tượng chịu thuế TTĐB cần phải tính đến khả năng có thể đạt được mục tiêu điều tiết hay không Nếu có khả năng đạt được mục tiêu thì nên đưa vào diện chịu thuế, còn ngược lại thì nên điều chỉnh bằng biện pháp khác hữu hiệu hơn

Về tính khả thi

Trên thực tế, mỗi loại hàng hóa, dịch vụ đều có một phương thức sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng riêng, phương thức này có ảnh hưởng đến sự quản lý của nhà nước đối với hàng hóa, dịch vụ Cho nên trước khi xác định hàng hóa, dịch vụ

là đối tượng chịu thuế TTĐB, các nhà làm luật cần cân nhắc đến tính khả thi của việc thu thuế Nếu chưa có khả năng quản lý tốt các khâu trong quá trình sản xuất, kinh doanh, phân phối làm cơ sở cho việc thu thuế thì không nên xác định hàng hóa, dịch vụ là đối tượng chịu thuế ngay mà cần có thời gian để tìm biện pháp thích hợp

Vì nếu đưa hàng hóa, dịch vụ vào diện chịu thuế mà trên thực tế không thu được tiền thuế thì sẽ càng làm cho biểu thuế nặng nề thêm mà lại không đạt được mục tiêu điều tiết của sắc thuế

Như vậy, có thể nói các nguyên tắc trên là cơ sở, là nền tảng cho việc xác định đối tượng chịu thuế TTĐB một cách đúng đắn Nó giúp các loại hàng hóa, dịch vụ được xác định thật sự là những đối tượng chịu thuế phù hợp, thể hiện đúng bản chất của sắc thuế thu vào hành vi tiêu dùng đặc biệt Việc xác định đối tượng chịu thuế một cách đúng đắn có ý nghĩa rất quan trọng, không chỉ ảnh hưởng đến các chủ thể tiêu dùng hàng hóa, dịch vụ chịu thuế mà còn ảnh hưởng đến các chủ thể sản xuất, kinh doanh trong lĩnh vực đó, đồng thời ảnh hưởng đến khả năng đầu tư nước ngoài vào Việt Nam Do đó, việc xác định đối tượng chịu thuế TTĐB cần có sự cân nhắc, tính toán giữa cái được và cái mất để có quyết định phù hợp

1.3.2.2 Quy trình xác định đối tượng chịu thuế tiêu thụ đặc biệt

Trong phạm vi đề tài, tác giả không đi sâu phân tích thẩm quyền cũng như trình tự thủ tục ban hành văn bản quy phạm pháp luật thuế TTĐB một cách chi tiết,

cụ thể mà chỉ trình bày một cách sơ lược các bước xác định đối tượng chịu thuế TTĐB để làm rõ thêm cho đối tượng nghiên cứu của luận văn Từ trình tự, thủ tục

Trang 37

chung của việc ban hành một văn bản quy phạm pháp luật , có thể rút ra quy trình riêng cho việc xác định đối tượng chịu thuế TTĐB như sau:

Bước 1: Xem xét sự cần thiết phải xác định đối tượng chịu thuế TTĐB

Trước khi quyết định đưa một loại hàng hóa, dịch vụ vào diện chịu thuế TTĐB, cần phải xem xét kỹ lưỡng việc hàng hóa, dịch vụ đó có cần thiết phải chịu

sự điều chỉnh của pháp luật thuế TTĐB không, hay có thể quản lý bằng biện pháp khác, đâu là biện pháp tối ưu nhất Có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng đến việc xác định đối tượng chịu thuế TTĐB, như đặc tính của hàng hóa, dịch vụ; điều kiện kinh tế -

xã hội của đất nước; chính sách của Đảng và Nhà nước đối với hàng hóa, dịch vụ; ảnh hưởng của việc thu thuế đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh, đầu tư Chỉ khi nắm bắt một cách toàn diện sự tác động của việc điều chỉnh bằng pháp luật thuế TTĐB đối với hàng hóa, dịch vụ thì mới có thể đánh giá chính xác sự cần thiết phải đưa hàng hóa, dịch vụ đó vào diện chịu thuế

Bước 2: Lựa chọn những đối tượng cho là phù hợp và đưa vào bản dự thảo

Trong bước này, các nhà làm luật sẽ chọn ra những loại hàng hóa, dịch vụ được cho là cần thiết phải điều chỉnh bằng thuế TTĐB dựa trên kết quả của quá trình nghiên cứu, xem xét các yếu tố tác động đã nêu ở bước thứ nhất để đưa vào bản dự thảo Đây là văn bản ghi nhận những đối tượng mà nhà nước dự kiến sẽ điều chỉnh bằng pháp luật thuế TTĐB Những đối tượng này có thể là những đối tượng mới phát sinh trên thực tế cần thiết phải điều chỉnh, cũng có thể là những đối tượng

đã được quy định trong các văn bản luật trước cần phải sửa đổi, bổ sung, hoặc đưa

ra khỏi diện chịu thuế Bản dự thảo này được xem như một bản nháp thể hiện ý kiến riêng của cơ quan soạn thảo và sẽ được đưa ra lấy ý kiến rộng rãi của các cơ quan nhà nước, các tổ chức xã hội, các doanh nghiệp và mọi công dân để hoàn thiện hơn bản dự thảo trước khi đưa ra quyết định cuối cùng

Bước 3: Thẩm tra, lấy ý kiến của các chủ thể khác nhau về danh mục hàng

hóa, dịch vụ là đối tượng chịu thuế TTĐB được lựa chọn trong bản dự thảo

Trang 38

Mặc dù bản dự thảo về đối tượng chịu thuế TTĐB đã được lập ra trên cơ sở nghiên cứu, khảo sát, đánh giá toàn diện thực trạng các quan hệ xã hội có liên quan nhưng đó vẫn chỉ là ý kiến chủ quan từ phía cơ quan soạn thảo Để đảm bảo hợp lý, bản dự thảo phải được sự xem xét của các cơ quan thẩm tra, tập hợp ý kiến đóng góp của các đại biểu Quốc hội, các tổ chức hữu quan, các nhà khoa học, các đối tượng chịu sự tác động của việc thu thuế và cả dư luận xã hội Nội dung được đưa

ra thẩm tra và lấy ý kiến là tính hợp hiến, hợp pháp, tính thống nhất, hợp lý, khả thi,

sự phù hợp với chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước của các hàng hóa, dịch

vụ được xác định là đối tượng chịu thuế nêu trong bản dự thảo Đây là một bước khá quan trọng trong quy trình xác định đối tượng chịu thuế TTĐB, nó tạo cho việc xác định đối tượng chịu thuế được tiến hành một cách khách quan, công bằng Việc thẩm tra sẽ giúp xác định lại một lần nữa sự phù hợp của đối tượng chịu thuế từ phía các cơ quan nhà nước; việc lấy ý kiến từ xã hội và phân tích tất cả những ý kiến trái chiều về vấn đề sẽ giúp bổ sung thêm những nội dung còn thiếu sót, từ đó

đi đến quan điểm thống nhất, đồng thời thể hiện tính dân chủ trong việc ban hành pháp luật Tuy nhiên cần lưu ý rằng đối với các chủ thể chịu sự tác động trực tiếp từ việc quy định đối tượng chịu thuế như doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh đối tượng

dự kiến sẽ chịu thuế và người tiêu dùng thì những ý kiến của họ sẽ thiên về hướng bảo vệ quyền lợi của họ, do đó việc tiếp nhận ý kiến đóng góp của những đối tượng này là cần thiết nhưng cần có sự chọn lọc cho phù hợp

Bước 4: Ấn định đối tượng chịu thuế TTĐB

Đây là bước cuối cùng trong quy trình xác định đối tượng chịu thuế TTĐB Sau khi nghiên cứu sự cần thiết của việc xác định đối tượng chịu thuế, lựa chọn những đối tượng chịu thuế thích hợp, thẩm tra và tập hợp ý kiến đóng góp của nhân dân thì Quốc hội - cơ quan có thẩm quyền ban hành luật sẽ ấn định một số loại hàng hóa, dịch vụ thích hợp vào diện chịu thuế TTĐB Sự ấn định này sẽ kết thúc quy trình xác định đối tượng chịu thuế TTĐB, kết quả của nó là đưa ra những quy định pháp luật cụ thể về đối tượng chịu thuế

Như vậy, quy trình xác định đối tượng chịu thuế TTĐB cơ bản được tiến hành qua 4 bước, mỗi bước có một vai trò khác nhau nhưng tựu trung lại đều nhằm xác định được những đối tượng chịu thuế thích hợp, đáp ứng yêu cầu của xã hội và trong tương lai sẽ hoàn thành những mục tiêu mà nhà nước đặt ra

Trang 39

1.3.3 Hiệu lực pháp lý của quy định về đối tượng chịu thuế tiêu thụ đặc biệt

Cũng như tất cả các quy định pháp luật trong hệ thống pháp luật, hiệu lực pháp

lý của quy định về đối tượng chịu thuế TTĐB bao gồm hiệu lực theo thời gian, hiệu lực về không gian và đối tượng tác động

1.3.3.1 Hiệu lực theo thời gian

Hiệu lực theo thời gian của quy định về đối tượng chịu thuế TTĐB được xác định từ thời điểm phát sinh hiệu lực đến khi chấm dứt hiệu lực của nó

Thời điểm phát sinh hiệu lực 16 của quy định về đối tượng chịu thuế TTĐB được xác định trong các văn bản pháp luật thuế TTĐB, bao gồm luật thuế TTĐB, các nghị định và thông tư hướng dẫn thi hành có liên quan đến đối tượng chịu thuế Đối với luật thuế TTĐB, sau khi được thông qua, văn bản này sẽ có hiệu lực từ thời điểm được quy định ngay trong văn bản Đối với các nghị định và thông tư hướng dẫn thi hành, hiệu lực của chúng cũng được nêu rõ trong văn bản, thường là cùng hoặc sau thời điểm có hiệu lực của văn bản Luật Do đó, khi luật thuế TTĐB có hiệu lực thì các loại hàng hóa, dịch vụ được xác định sẽ chịu sự điều chỉnh của pháp luật thuế TTĐB; những vấn đề liên quan được điều chỉnh sau ngày Luật có hiệu lực

sẽ được áp dụng căn cứ vào thời điểm nêu trong văn bản điều chỉnh Tuy nhiên, không phải tất cả các đối tượng chịu thuế được quy định trong cùng một văn bản pháp luật thuế đều có hiệu lực vào cùng một thời điểm như nhau mà có thể một số quy định có hiệu lực sau Đó là các đối tượng đặc biệt mà sự điều chỉnh của pháp luật thuế TTĐB dự kiến sẽ gây ra những ảnh hưởng mạnh mẽ đến chủ thể sản xuất, kinh doanh đối tượng, ảnh hưởng đến nền kinh tế Cho nên pháp luật cho phép gia hạn thời điểm có hiệu lực của các quy định này để chủ thể sản xuất, kinh doanh có thời gian khắc phục khó khăn và chuẩn bị những điều kiện cần thiết cho sự điều chỉnh của pháp luật Thời điểm có hiệu lực của các đối tượng đặc biệt cũng được quy định cụ thể trong văn bản pháp luật thuế TTĐB Đến thời điểm đó, các quy định về đối tượng chịu thuế sẽ tự động có hiệu lực mà không cần bất kỳ quy định nào khác từ phía cơ quan nhà nước

Cũng như các quy định pháp luật khác, quy định về đối tượng chịu thuế TTĐB

có thể bị tạm ngưng hiệu lực 17 thi hành trong một số trường hợp nếu có phát hiện

16 Xem điều 78 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2008

17 Xem điều 80 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2008

Trang 40

tính không hợp hiến hoặc không hợp pháp trong quá trình áp dụng Khi đó, quy định sẽ bị tạm ngưng hiệu lực và không được tiếp tục áp dụng cho đến khi có quyết định xử lý của cơ quan nhà nước có thẩm quyền Nếu cơ quan này ra quyết định hủy bỏ thì quy định về đối tượng chịu thuế TTĐB sẽ chấm dứt hiệu lực thi hành, ngược lại thì sẽ tiếp tục có hiệu lực Thời điểm ngưng hiệu lực, có hiệu lực trở lại hoặc chấm dứt hiệu lực của quy định bị đình chỉ thi hành sẽ được nêu rõ trong các quyết định đình chỉ thi hành và quyết định xử lý của cơ quan nhà nước có thẩm quyền

Cuối cùng, quy định về đối tượng chịu thuế TTĐB cũng sẽ hết hiệu lực 18 trong các trường hợp sau:

¾ Văn bản pháp luật quy định đối tượng chịu thuế TTĐB được sửa đổi, bổ sung hoặc thay thế bằng một văn bản mới Khi đó, các quy định về đối tượng chịu thuế TTĐB được sửa đổi, bổ sung sẽ chấm dứt hiệu lực, có thể là một phần hoặc toàn bộ, song song đó, những quy định mới trong văn bản sửa đổi, bổ sung sẽ có hiệu lực Thời điểm hết hiệu lực của quy định cũ cũng như thời điểm có hiệu lực của quy định mới đều được nêu cụ thể trong văn bản quy phạm pháp luật mới

¾ Văn bản pháp luật chứa đựng quy định về đối tượng chịu thuế TTĐB bị hủy

bỏ hoặc bãi bỏ bằng một văn bản của cơ quan nhà nước có thẩm quyền do phát hiện

có vi phạm tính hợp hiến, hợp pháp trong quá trình áp dụng

Khi quy định về đối tượng chịu thuế TTĐB trong văn bản luật hết hiệu lực thì quy định về đối tượng chịu thuế trong các văn bản hướng dẫn thi hành cũng hết hiệu lực, trừ trường hợp quy định đó được giữ lại theo quyết định của cơ quan nhà nước

có thẩm quyền vì còn phù hợp với văn bản pháp luật mới

1.3.3.2 Hiệu lực về không gian và đối tượng tác động

Phạm vi áp dụng theo không gian của quy định về đối tượng chịu thuế TTĐB

là trên toàn lãnh thổ Việt Nam, xuất phát từ các nguyên nhân sau:

¾ Quy định về đối tượng chịu thuế TTĐB có nguồn gốc từ văn bản luật và các

18 Xem điều 81 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2008 Theo quy định tại điều này, còn một trường hợp nữa đó là văn bản quy phạm pháp luật hết hiệu lực khi hết thời hạn có hiệu lực được quy định trong văn bản Nhưng đối với văn bản pháp luật thuế nói chung và thuế TTĐB nói riêng thường không quy định thời hạn hết hiệu lực, trường hợp này thường chỉ áp dụng cho những văn bản quy phạm pháp luật được ban hành để giải quyết những vấn đề cấp bách, mang tính tạm thời, không ổn định

Ngày đăng: 20/04/2021, 16:20

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
11. Luật thuế TNDN số 14/2008/QH12 của Quốc hội khóa XII, kỳ họp thứ 3, thông qua ngày 03/6/2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật thuế TNDN số 14/2008/QH12
Nhà XB: Quốc hội khóa XII
Năm: 2008
29. Thông tư 119/2003/TT-BTC ngày 12/12/2003 của Bộ Tài chính hướng dẫn thi hành Nghị định 149/2003/NĐ-CP ngày 04/12/2003 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật thuế TTĐB và các luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế TTĐB Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư 119/2003/TT-BTC
Tác giả: Bộ Tài chính
Nhà XB: Chính phủ
Năm: 2003
31. Thông tư 64/2009/TT-BTC ngày 27/3/2009 của Bộ Tài chính hướng dẫn thi hành Nghị định 26/2009/NĐ-CP ngày 16/3/2009 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật thuế TTĐB năm 2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư 64/2009/TT-BTC
Tác giả: Bộ Tài chính
Nhà XB: Chính phủ
Năm: 2009
33. Dương Thị Nhi (2012), Những điểm mới về thuế tiêu thụ đặc biệt năm 2012, Tài chính, (4), tr. 34-36 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những điểm mới về thuế tiêu thụ đặc biệt năm 2012
Tác giả: Dương Thị Nhi
Nhà XB: Tài chính
Năm: 2012
34. Huỳnh Huy Quế (2008), "Luật thuế TTĐB: Nên sửa đổi theo hướng nào?", Tài chính, (7), tr. 27-30 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật thuế TTĐB: Nên sửa đổi theo hướng nào
Tác giả: Huỳnh Huy Quế
Năm: 2008
1. Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992, sửa đổi, bổ sung năm 2001 Khác
2. Luật thuế TTĐB năm 1990 của Quốc hội khóa VIII, kỳ họp thứ 7, thông qua ngày 30/6/1990 Khác
3. Luật số 21-L/CTN của Chủ tịch nước ngày 05/7/1993 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế TTĐB Khác
4. Luật số 43-L/CTN của Chủ tịch nước ngày 28/10/1995 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế TTĐB Khác
5. Luật thuế TTĐB số 05/1998/QH10 của Quốc hội khóa X, kỳ họp thứ 3, thông qua ngày 20/5/1998 Khác
6. Luật số 08/2003/QH11 của Quốc hội khóa XI, kỳ họp thứ 3, ngày 17/6/2003 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế TTĐB Khác
7. Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu số 45/2005/QH11 của Quốc hội khóa XI, kỳ họp thứ 7, thông qua ngày 14/6/2005 Khác
8. Luật số 57/2005/QH11 của Quốc hội khóa XI, kỳ họp thứ 8, ngày 29/11/2005 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế TTĐB và luật thuế GTGT Khác
9. Luật thuế thu nhập cá nhân số 04/2007/QH12 của Quốc hội khóa XII, kỳ họp thứ 2, thông qua ngày 21/11/2007 Khác
10. Luật thuế GTGT số 13/2008/QH12 của Quốc hội khóa XII, kỳ họp thứ 3, thông qua ngày 03/6/2008 Khác
12. Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật số 17/2008/QH12 của Quốc hội khóa XII, kỳ họp thứ 3, thông qua ngày 03/6/2008 Khác
13. Luật thuế TTĐB số 27/2008/QH12 của Quốc hội khóa XII , kỳ họp thứ 4, thông qua ngày 28/11/2008 Khác
14. Luật thuế bảo vệ môi trường số 57/2010/QH12 của Quốc hội khóa XII, kỳ họp thứ 8, thông qua ngày 15/11/2010 Khác
15. Nghị định 97/1995/NĐ-CP ngày 27/12/1995 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật thuế TTĐB và các luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế TTĐB Khác
16. Nghị định 84/1998/NĐ-CP ngày 12/10/1998 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật thuế TTĐB năm 1998 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w