1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Tác động của việc thay đổi chính sách thuế tiêu thụ đặc biệt đối với mặt hàng xăng lên sản xuất nông nghiệp tại việt nam

93 399 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 93
Dung lượng 1,54 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phát triển nông nghiệp gắn với cơ giới hóa sản xuất sẽ phụ thuộc nhiều hơn vào giá xăng dầu khi lượng cầu xăng dầu sẽ càng tăng theo nhu cầu cơ giới hóa nông nghiệp Agheli, 2015, đồng th

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH CHƯƠNG TRÌNH GIẢNG DẠY KINH TẾ FULBRIGHT

-

ĐẶNG THỊ ÁNH DƯƠNG

TÁC ĐỘNG CỦA VIỆC THAY ĐỔI CHÍNH SÁCH THUẾ TIÊU THỤ ĐẶC BIỆT ĐỐI VỚI MẶT HÀNG XĂNG LÊN SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP TẠI VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG

TP HỒ CHÍ MINH, NĂM 2017

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH CHƯƠNG TRÌNH GIẢNG DẠY KINH TẾ FULBRIGHT

-

ĐẶNG THỊ ÁNH DƯƠNG

TÁC ĐỘNG CỦA VIỆC THAY ĐỔI CHÍNH SÁCH THUẾ TIÊU THỤ ĐẶC BIỆT ĐỐI VỚI MẶT HÀNG XĂNG LÊN SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP TẠI VIỆT NAM

Chuyên ngành: Chính sách công

Mã số: 60340402

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC

TS LÊ VIỆT PHÚ

TP HỒ CHÍ MINH, NĂM 2017

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan, luận văn này hoàn toàn do tôi thực hiện Các trích dẫn và nguồn số liệu

sử dụng trong luận văn đều được dẫn nguồn và có độ chính xác cao nhất trong khả năng hiểu biết của tôi Đây là nghiên cứu chính sách của cá nhân, do đó không nhất thiết phản ánh quan điểm của Trường Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh hay Chương trình giảng dạy kinh tế Fulbright

TP Hồ Chí Minh, ngày 27 tháng 07 năm 2017 Tác giả

Đặng Thị Ánh Dương

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin chân thành cảm ơn Chính phủ Hoa Kỳ và Trường Đại học Kinh tế Thành Phố Hồ Chí Minh đã tạo điều kiện cho tôi được tham gia chương trình Thạc sỹ chính sách công trong hai năm; cảm ơn các Thầy, Cô và các nhân viên của Chương trình giảng dạy kinh tế Fulbright đã tận tình giảng dạy, hướng dẫn và giúp đỡ tôi hoàn thành khóa học cũng như luận văn tốt nghiệp Đặc biệt, tôi xin đặc biệt cảm ơn Thầy Lê Việt Phú đã nhiệt tình hướng dẫn, giúp đỡ và góp ý trong suốt quá trình làm luận văn tốt nghiệp Bên cạnh đó, tôi cũng xin cảm ơn Thầy Huỳnh Thế Du và Thầy Đỗ Thiên Anh Tuấn đã nhận xét và góp ý cho tôi thực hiện luận văn tốt nghiệp Ngoài ra, tôi cũng đặc biệt cảm ơn các bạn Quách Dương Tử, Nguyễn Thị Huệ, Nguyễn Anh Thư, Thạch Phước Hùng, Chu Phạm Đăng Quang cùng tập thể lớp MPP8 đã đồng hành, cổ vũ, động viên tinh thần cho tôi trong suốt hành trình thực hiện luận văn và hai năm học tập tại trường

TP Hồ Chí Minh, ngày 27 tháng 07 năm 2017 Tác giả

Đặng Thị Ánh Dương

Trang 5

TÓM TẮT

Xăng dầu là một trong những nguồn năng lượng đầu vào quan trọng cho quá trình sản xuất nông nghiệp theo nhu cầu cơ giới hóa nông nghiệp hiện nay Do đó, biến động giá xăng dầu ảnh hưởng trực tiếp đến chi phí sản xuất của nông hộ Hiện nay, thuế phí chiếm hơn 50% trong cấu phần giá bán lẻ xăng dầu trên thị trường và được chính phủ sử dụng như một công cụ điều hành giá xăng dầu, gia tăng nguồn thu ngân sách Nghị định số 100/2016/NĐ-CP ra đời thay đổi cơ sở tính thuế TTĐB đối với xăng từ đánh trên giá nhập khẩu và thuế nhập khẩu sang đánh trên giá bán lẻ xăng chưa có thuế GTGT và thuế BVMT Điều này đã gây ra nhiều tranh luận cho rằng việc mở rộng cơ sở thuế TTĐB sẽ tác động lớn đến hoạt động sản xuất nông nghiệp sử dụng xăng dầu làm đầu vào sản xuất Thay đổi cơ sở thuế TTĐB làm gia tăng gánh nặng chi phí sản xuất nông nghiệp của nông

hộ, ảnh hưởng đến sinh kế của nông dân thuộc nhóm có thu nhập thấp nhất trong xã hội, trong khi khoảng 47% dân số cả nước là lực lượng lao động trong ngành nông nghiệp Chính vì thế, nghiên cứu được thực hiện để xác định tác động của việc thay đổi chính sách thuế TTĐB lên hoạt động sản xuất của nông hộ Dựa trên bộ dữ liệu VHLSS 2014 và hàm chi phí Translog, tác giả ước lượng độ co dãn cầu xăng dầu theo giá và độ co dãn thay thế của các yếu tố đầu vào khác cho hoạt động trồng trọt Kết quả ước lượng cho thấy cầu xăng dầu cho trồng trọt là hàm cầu kém co dãn theo giá và xăng dầu khó có thể được thay thế bởi những hàng hóa đầu vào khác Tuy nhiên, kết quả tính toán dựa trên đường cung và cầu xăng dầu cho hoạt động trồng trọt cho thấy việc mở rộng cơ sở thuế không ảnh hưởng nhiều đến chi phí sản xuất của nông hộ, đồng thời lại tăng nguồn thu thuế cho chính phủ Phân tích dựa trên khung lý thuyết kinh tế học về thuế cho thấy việc thay đổi cơ sở thuế TTĐB là một chính sách đạt được tính hiệu quả kinh tế do tổn thất vô ích của xã hội thấp, giúp chính phủ tăng nguồn thu ngân sách và không làm cho người dân cảm nhận được sự gia tăng thuế TTĐB trong giá bán lẻ xăng trên thị trường Dựa trên kết quả nghiên cứu, tác giả đề xuất hai khuyến nghị chính sách như sau: (1) Chính phủ không nên áp dụng mức thuế suất thấp hơn hoặc miễn thuế đối TTĐB đối với xăng cho khu vực nông nghiệp, đặc biệt trong lĩnh vực trồng trọt; và (2) Chính phủ nên gia tăng nguồn ngân sách cho nông nghiệp thông qua các chính sách nông nghiệp nhằm đảm bảo tính công bằng xã hội và thúc đẩy phát triển nông nghiệp theo hướng cơ giới hóa

Trang 6

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

TÓM TẮT iii

MỤC LỤC iv

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT vi

DANH MỤC BẢNG vii

DANH MỤC HÌNH viii

CHƯƠNG 1 - GIỚI THIỆU 1

1.1 Bối cảnh nghiên cứu và xác định vấn đề chính sách 1

1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2

1.3 Câu hỏi nghiên cứu 2

1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2

1.5 Khung phân tích, phương pháp nghiên cứu và dữ liệu nghiên cứu 3

1.6 Ý nghĩa thực tiễn của nghiên cứu 3

1.7 Cấu trúc luận văn 3

CHƯƠNG 2 – CƠ SỞ LÝ THUYẾT 4

2.1 Khung lý thuyết kinh tế học về thuế 4

2.1.1 Tính hiệu quả kinh tế 4

2.1.2 Tính công bằng 4

2.1.3 Tính đơn giản 5

2.2 Thuế TTĐB và thuế TTĐB áp lên mặt hàng xăng dầu 5

2.2.1 Chính sách thuế TTĐB đối với mặt hàng xăng tại Việt Nam 6

2.2.2 Chính sách thuế TTĐB của các nước thành viên ASEAN 6

2.3 Lý thuyết hàm sản xuất 8

2.4 Tác động của thuế TTĐB lên cung cầu xăng dầu 9

2.4.1 Tác động của thuế TTĐB lên cung, cầu xăng dầu cả nước 9

2.4.2 Tác động của thuế TTĐB lên cung, cầu xăng dầu cho sản xuất nông nghiệp 11

2.5 Tổng quan các nghiên cứu có liên quan 13

2.5.1 Các nghiên cứu trong nước 13

2.5.2 Các nghiên cứu nước ngoài 14

Trang 7

CHƯƠNG 3 – MÔ HÌNH KINH TẾ LƯỢNG VÀ DỮ LIỆU NGHIÊN CỨU 17

3.1 Lựa chọn mô hình nghiên cứu 17

3.2 Hàm chi phí Translog 17

3.3 Xây dựng mô hình nghiên cứu, dữ liệu nghiên cứu và phương pháp ước lượng 18

3.3.1 Xây dựng mô hình nghiên cứu, giả thuyết và dữ liệu nghiên cứu 18

3.3.2 Phương pháp ước lượng 22

3.4 Các giả thuyết nghiên cứu 23

CHƯƠNG 4 – KẾT QUẢ PHÂN TÍCH VÀ THẢO LUẬN 24

4.1 Tổng quan về thị trường xăng dầu 24

4.2 Đường cung xăng dầu Việt Nam 26

4.3 Xác định độ co dãn của cầu xăng dầu theo giá riêng và độ co dãn thay thế giữa các yếu tố đầu vào 27

4.4 Phân tích tác động của việc thay đổi chính sách thuế TTĐB lên giá bán lẻ của xăng và phúc lợi của nông dân 32

4.5 Phân tích chính sách thuế TTĐB lên mặt hàng xăng 34

4.5.1 Phân tích về tính hiệu quả kinh tế của thuế TTĐB đối với hoạt động trồng trọt 34

4.5.2 Phân tích tính công bằng của thay đổi chính sách thuế TTĐB đối với mặt hàng xăng đến nông hộ trồng trọt 35

4.5.3 Tính đơn giản của chính sách thuế TTĐB đối với xăng 36

4.6 Tóm tắt chương 37

CHƯƠNG 5 – KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ CHÍNH SÁCH 38

5.1 Kết luận 38

5.2 Khuyến nghị chính sách 38

5.3 Hạn chế của nghiên cứu và hướng nghiên cứu tiếp theo 39

TÀI LIỆU THAM KHẢO 40

PHỤ LỤC 45

Trang 8

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

DWL Deadweight Loss Tổn thất vô ích của xã hội

SUR Seemingly Unrelated Regression Hồi quy dường như không liên quan

CIF Cost, Insuranrce and Freight Giá thành, bảo hiểm và cước

PSE Producer Support Estimate Ước tính hỗ trợ nhà sản xuất

Trang 9

DANH MỤC BẢNG

Bảng 2.1: Giá bán lẻ và thuế TTĐB các quốc gia Đông Nam Á 7

Bảng 3.1 - Các biến đưa vào mô hình 19

Bảng 3.2 - Thống kê mô tả các dữ liệu đầu vào cho hoạt động trồng trọt 21

Bảng 4.1 - Nguồn cung xăng dầu Việt Nam giai đoạn 2010 - 2014 24

Bảng 4.2-Tình hình sản xuất của nhà máy lọc dầu Dung Quất 25

Bảng 4.3 - Kết quả hồi quy hệ phương trình 28

Bảng 4.4 - Kết quả kiểm định Breusch-Pagan và kiểm định Chi-Square 30

Bảng 4.5 - Độ co dãn theo giá riêng của các đầu vào hoạt động trồng trọt 31

Bảng 4.6 - Độ co dãn thay thế của xăng dầu với các đầu vào khác 31

Bảng 4.7 - Ước tính tác động kinh tế của việc thay đổi chính sách thuế TTĐB 33

Trang 10

DANH MỤC HÌNH

Hình 2.1: Hai cách tiếp cận hàm chi phí sản xuất 9

Hình 2.2: Đường cung, cầu xăng dầu cả nước 11

Hình 2.3: Tác động của thuế TTĐB khi cung hoàn toàn không co dãn 12

Hình 2.4: Tác động của thuế TTĐB khi cung co dãn hoàn toàn 12

Hình 2.5: Tác động của thuế TTĐB khi cung co dãn 13

Hình: 4.1: Tương quan giữa giá dầu thô thế giới và giá bán lẻ xăng từ năm 2011 đến tháng 06/2017 27

Hình 4.2: Đồ thị cung, cầu xăng dầu khi chính phủ mở rộng cơ sở tính thuế TTĐB 32

Trang 11

CHƯƠNG 1 - GIỚI THIỆU 1.1 Bối cảnh nghiên cứu và xác định vấn đề chính sách

Năng lượng được xem như chìa khóa quan trọng cho quá trình cơ giới hóa nông nghiệp, giúp tăng hiệu quả sản xuất, giảm tổn thất sau thu hoạch, nâng cao giá trị gia tăng và chất lượng sản phẩm nông nghiệp (CEMA, 2014) Phát triển nông nghiệp gắn với cơ giới hóa sản xuất sẽ phụ thuộc nhiều hơn vào giá xăng dầu khi lượng cầu xăng dầu sẽ càng tăng theo nhu cầu cơ giới hóa nông nghiệp (Agheli, 2015), đồng thời, xăng dầu lại đóng góp vào chi phí sản xuất các yếu tố đầu vào khác cho nông nghiệp như phân bón, thuốc trừ sâu, chất hóa học, máy móc nông nghiệp1 nên giá xăng dầu ảnh hưởng vừa trực tiếp, vừa gián tiếp lên chi phí sản xuất nông nghiệp của nông dân (Lambert and Gong, 2010)

Xăng dầu là mặt hàng chịu sự ảnh hưởng mạnh từ giá xăng dầu thế giới2 và các chính sách thuế xăng dầu của chính phủ khi thường được sử dụng như một công cụ điều hành giá và đảm bảo nguồn thu ngân sách (Alper vàTorul, 2009) Trong đó, chính sách thuế TTĐB đối với xăng dầu được khá nhiều quốc gia trên thế giới áp dụng để khắc phục những ngoại tác tiêu cực mà nó gây ra đối với môi trường và sức khỏe con người Hiện nay, chính phủ các nước có xu hướng áp thuế TTĐB trên giá bán ra của xăng với mục đích buộc người tiêu dùng phải là đối tượng gánh chịu thuế Tại Việt Nam, người dân thường xuyên đối mặt với nhiều đợt điều chỉnh giá xăng dầu liên tiếp Đặc biệt, đợt điều chỉnh ngày 05/09/2016 theo Nghị định 100/2016/NĐ-CP thay đổi cơ sở tính thuế TTĐB của mặt hàng xăng thay đổi từ việc áp thuế lên giá đầu vào sang áp lên giá bán ra (bao gồm chi phí kinh doanh định mức, lợi nhuận định mức và phần trích lập quỹ bình ổn giá xăng dầu) khiến giá bán lẻ xăng đội lên gần 200 đồng/lít xăng so với quy định cũ (Anh Minh, 2016)

Trước thực trạng trên, một số ý kiến cho rằng việc tăng giá xăng do mở rộng cơ sở tính thuế TTĐB theo Nghị định 100/2016/NĐ-CP sẽ làm tăng gánh nặng chi phí cho khu vực sản xuất nông nghiệp, cụ thể là tác động đến phần lớn lao động trong cả nước hoạt động trong lĩnh vực này và nhu cầu phát triển nông nghiệp theo hướng cơ giới hóa Với khoảng 47% dân số làm việc trong lĩnh vực nông nghiệp (Tổng cục thống kê, 2015), giá xăng dầu

Trang 12

tăng do thay đổi chính sách thuế TTĐB có thể ảnh hưởng đến hoạt động sinh kế của nông dân, đối tượng chiếm 72,5% trong nhóm hộ nghèo cùng cực của Việt Nam (World Bank, 2012) Bên cạnh đó, mục đích hạn chế tiêu dùng bằng công cụ thuế TTĐB sẽ phần nào làm chậm tiến trình cơ giới hóa nông nghiệp và phát triển nông thôn

Hiện nay, để làm giảm chi phí cho khu vực sản xuất nông nghiệp, chính phủ các nước có nền nông nghiệp phát triển thường hỗ trợ tín dụng thuế hoặc hoàn thuế TTĐB trên lượng xăng dầu sử dụng cho hoạt động canh tác trong các trang trại Tuy nhiên, Việt Nam và các quốc gia trong khu vực chưa từng thực hiện chính sách hỗ trợ thuế đối với xăng dầu cho mục đích sản xuất nông nghiệp, mà chỉ hỗ trợ thông qua các chính sách nông nghiệp Vì thế, nghiên cứu này sẽ xác định mức độ tác động của việc mở rộng cơ sở thuế TTĐB đối với xăng lên sản xuất nông nghiệp; từ đó, xem xét liệu các chính sách hỗ trợ thuế cho sản xuất nông nghiệp có phù hợp để áp dụng tại Việt Nam hay không

1.2 Mục tiêu nghiên cứu

Mục tiêu của nghiên cứu này để đánh giá tác động của việc thay đổi cơ sở tính thuế TTĐB trên giá bán ra của xăng lên hoạt động sản xuất nông nghiệp và doanh thu thuế của nhà nước từ việc thay đổi cách đánh thuế TTĐB, từ đó đề xuất một số kiến nghị về phương án

hỗ trợ cho hoạt động sản xuất của nông hộ, đặc biệt nông hộ trong khu vực trồng trọt

1.3 Câu hỏi nghiên cứu

Nghiên cứu tiến hành trả lời các câu hỏi sau: (1) Tác động của việc thay đổi chính sách thuế TTĐB lên giá bán lẻ của xăng? (2) Tác động của giá bán lẻ xăng tăng lên do thay đổi chính sách thuế đến thặng dư tiêu dùng của nông hộ sử dụng xăng làm đầu vào cho sản xuất nông nghiệp và doanh thu thuế tăng lên mà chính phủ thu được do mở rộng cơ sở tính thuế TTĐB?

1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Nghiên cứu tập trung vào phân tích tác động của chính sách thuế TTĐB lên mặt hàng xăng đối với hoạt động trồng trọt trong nông nghiệp của nông hộ Đồng thời, để đánh giá tác động của thuế TTĐB đối áp lên mặt hàng xăng đối với hoạt động trồng trọt, những yếu tố đầu vào khác như lao động, đất đai, máy móc cũng được đưa vào nghiên cứu

Trang 13

1.5 Khung phân tích, phương pháp nghiên cứu và dữ liệu nghiên cứu

Nghiên cứu chủ yếu sử dụng khung lý thuyết kinh tế học về thuế của Stiglitz (1986), đánh giá một chính sách thuế tốt phải đảm bảo ba khía cạnh: tính hiệu quả, tính công bằng và tính đơn giản

Nghiên cứu thực hiện phân tích định lượng thông qua mô hình kinh tế lượng để ước lượng được độ co dãn theo giá riêng và độ co dãn thay thế của xăng dầu và các đầu vào khác của hoạt động trồng trọt; từ đó, xác định ảnh hưởng phúc lợi của nông dân, nhà sản xuất, nhà phân phối xăng dầu và doanh thu thuế của chính phủ Bộ dữ liệu điều tra chi tiêu hộ gia đình VHLSS 2014 được thu thập trên 9.399 hộ gia đình thuộc 63 tỉnh thành của Việt Nam

do Tổng cục thống kê khảo sát và những thông tin khác được thu thập trên các website của Hiệp hội xăng dầu, Tổng cục thống kê, Tổ chức năng lượng thế giới và các trang thông tin

có liên quan

1.6 Ý nghĩa thực tiễn của nghiên cứu

Nghiên cứu thực hiện đánh giá tác động của việc thay đổi chính sách thuế TTĐB lên mặt hàng xăng đến hoạt động sản xuất của nông hộ để xác định những tổn thất phúc lợi mà nông dân phải gánh chịu khi thay đổi giá tính thuế TTĐB làm tăng giá bán lẻ xăng trên thị trường và số thuế tăng lên mà chính phủ thu được do thay đổi chính sách thuế TTĐB Để

từ đó, các cơ quan quản lý nhà nước có thêm cơ sở để chính phủ thực hiện các chính sách

hỗ trợ đối với khu vực sản xuất nông nghiệp

1.7 Cấu trúc luận văn

Luận văn bao gồm năm chương Chương một giới thiệu về bối cảnh hình thành vấn đề chính sách, mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi chính sách, đối tượng, phạm vi và phương pháp nghiên cứu Chương hai trình bày khung lý thuyết vận dụng cho phân tích chính sách thuế

và tác động của thuế đến sản xuất của nông hộ Chương ba trình bày mô hình kinh tế lượng

và các vấn đề ước lượng, dữ liệu nghiên cứu và cách thức xử lý biến Chương bốn trình bày kết quả nghiên cứu và các thảo luận dựa trên khung phân tích kinh tế học về thuế Chương năm thể hiện các kết luận của tác giả về thuế TTĐB và tác động của thuế TTĐB đối với sản xuất nông nghiệp và đề xuất một số khuyến nghị chính sách

Trang 14

CHƯƠNG 2 – CƠ SỞ LÝ THUYẾT 2.1 Khung lý thuyết kinh tế học về thuế

Theo Stiglitz (1986), một sắc thuế tốt phải đạt được ba tiêu chí sau: (1) Tính hiệu quả kinh tế; (2) Tính công bằng và (3) Tính đơn giản

2.1.1 Tính hiệu quả kinh tế

Tính hiệu quả kinh tế thể hiện là hệ thống thuế gây ra tổn thất vô ích nhỏ nhất, không gây biến dạng thị trường Khi chính phủ đánh thuế lên hàng hóa, người tiêu dùng bị thiệt do với một mức thu nhập cũ, họ phải đứng trước hai lựa chọn: (i) cắt giảm lượng tiêu thụ; hoặc (ii) chuyển sang sử dụng hàng hóa khác thay thế khi giá hàng hóa tiêu dùng đắt hơn một cách tương đối so với hàng hóa khác Đây lần lượt là hai hiệu ứng mà người tiêu dùng phải đối mặt: hiệu ứng thu nhập và hiệu ứng thay thế Như vậy, một hệ thống thuế hiệu quả khi

sự can thiệp của thuế làm tối thiểu hóa tổn thất vô ích của xã hội

Tổn thất vô ích của xã hội được xác định không chỉ dựa trên độ co dãn của cung và cầu xăng mà thuế đánh trên xăng làm tăng giá cũng góp phần làm thay đổi phúc lợi của các thành phần của nền kinh tế Theo Jr Hines (2007), những hàng hóa có cầu càng kém co dãn, tổn thất xã hội gây ra càng thấp do việc tăng thuế tác động không đáng kể đến hành vi của người tiêu dùng, ngược lại, tổn thất vô ích của xã hội sẽ càng cao nếu cầu hàng hóa càng co dãn, khi đó, người tiêu dùng sẽ phản ứng mạnh với sự tăng lên của giá hàng hóa do thuế

2.1.2 Tính công bằng

Theo Stiglitz (1986) một hệ thống thuế phải đảm bảo tính công bằng hàng ngang và công bằng hàng dọc Tính công bằng hàng ngang khi những cá nhân như nhau trên mọi phương diện được đối xử như nhau Tính công bằng hàng dọc khi những cá nhân ở vị thế đóng thuế cao hơn so với người khác nên đóng thuế cao hơn Hay những người có khả năng chi trả cao hơn sẽ phải đóng thuế nhiều hơn khi sử dụng nhiều hàng hóa hơn Những hàng hóa có

độ co dãn của cầu theo thu nhập cao hơn càng đảm bảo tính công bằng hàng dọc Thuế TTĐB đánh lên xăng mang tính chất thoái lui, khi thuế đánh trên tỷ lệ phần trăm trên giá bán, những người có thu nhập càng cao sẽ đối mặt với số thuế TTĐB chi trả trên tổng thu nhập càng thấp, ngược lại, những người tiêu dùng có thu nhập thấp, tỷ trọng thuế TTĐB

Trang 15

đối với xăng mà họ gánh chịu càng cao Theo hàm phúc lợi xã hội Rawlsian, chính sách thuế đảm bảo tính công bằng khi chính phủ thực hiện tăng thuế suất đối với tất cả những mọi người, trừ những người thiệt thòi nhất

2.1.3 Tính đơn giản

Một hệ thống thuế đạt được tính khả thi về mặt hành chính khi đơn giản trong việc quản lý với chi phí thấp nhất, nhưng vẫn đảm bảo sự tuân thủ dễ dàng của người chịu thuế Trong các khoản chi phí hành thu, những chi phí của việc tuân thủ thuế thường lớn hơn nhiều lần

so với chi phí điều hành của cơ quan thuế Chi phí tuân thủ càng cao khi hệ thống thuế càng phức tạp và khó hiểu đối với những người chịu ảnh hưởng của các quy định thuế Đồng thời, một hệ thống thuế với nhiều mức thuế suất phân biệt sẽ càng giảm động cơ tuân thủ thuế dẫn đến những người chịu thuế có động cơ chuyển nghĩa vụ nộp thuế sang những mức thuế suất thấp hơn và gây thất thoát nguồn thu thuế của chính phủ Ngược lại, một hệ thống thuế được thiết kế càng đơn giản và càng dễ hiểu thì các đối tượng chịu thuế sẽ biết được chính xác nghĩa vụ nộp thuế của họ, đồng thời hạn chế được những hành vi né thuế, hay chuyển sang những mức thuế suất thấp hơn Như vậy, một chính sách thuế đạt được tính khả thi về mặt hành chính khi doanh thu thuế thu được cao hơn chi phí hành thu để thực hiện chính sách đó

2.2 Thuế TTĐB và thuế TTĐB áp lên mặt hàng xăng dầu

Thuế TTĐB là một loại thuế gián thu đánh vào lên một số hàng hóa, dịch vụ thuộc đối tượng chịu thuế theo quy định của luật thuế TTĐB Thuế TTĐB được cấu thành trong giá bán lẻ của hàng hóa, dịch vụ và do người tiêu dùng chịu khi mua hàng hóa, dịch vụ thuộc diện chịu thuế TTĐB

Thuế TTĐB được thiết kế để đánh lên những hàng hóa xa xỉ hoặc những hàng hóa không khuyến khích tiêu dùng như xăng dầu, ô tô, thuốc lá, bia, rượu,… mà việc sử dụng nó gây

ra ngoại tác tiêu cực cho môi trường, sức khỏe người dân Theo Jr Hines (2007), thuế TTĐB được nhiều quốc gia sử dụng bởi bốn nguyên nhân sau: (i) việc đánh thuế TTĐB sẽ làm tăng thu ngân sách của chính phủ; (ii) thuế TTĐB có thể được thay đổi để áp đặt gánh nặng thuế lên những người hưởng lợi từ các dịch vụ mà chính phủ tài trợ bằng thuế TTĐB; (iii) thuế TTĐB còn được dùng để kiểm soát ngoại tác tiêu cực, chẳng hạn như những loại

Trang 16

thuế hóa chất phá hủy tầng ozone; (iv) thuế TTĐB có thể được thiết kế để hạn chế sự tiêu thụ quá mức các hàng hóa có hại cho môi trường, sức khỏe cộng đồng, cá nhân

2.2.1 Chính sách thuế TTĐB đối với mặt hàng xăng tại Việt Nam

Tại Việt Nam, chính phủ áp thuế TTĐB lên cả khâu đầu vào và đầu ra của xăng dầu Trong

đó, thuế TTĐB đầu vào đánh trên nguyên liệu, hàng hóa đầu vào thuộc đối tượng chịu thuế TTĐB ở khâu sản xuất, nhập khẩu; thuế TTĐB đầu ra được áp lên giá bán xăng chưa có thuế BVMT và thuế GTGT Trước khi Nghị định 100/2016/NĐ ra đời, thuế TTĐB chỉ áp lên khâu nhập khẩu theo hướng dẫn của Nghị định 195/2015/NĐ-CP (giá tính thuế TTĐB bao gồm giá tính thuế nhập khẩu cộng với thuế nhập khẩu) Sau đó, thuế TTĐB đối với xăng được tính trên giá bán đầu ra chưa bao gồm thuế GTGT và thuế BVMT cho cả xăng sản xuất trong nước và xăng nhập khẩu Nhà sản xuất và nhập khẩu kê khai và nộp thuế TTĐB, được khấu trừ thuế TTĐB đã nộp ở khâu đầu vào khi xác định số thuế TTĐB phải nộp ở khâu bán ra Đối với số thuế TTĐB không được khấu trừ, nhà sản xuất, nhập khẩu được tính vào chi phí khi xác định số thuế TNDN phải nộp Hiện nay, chính phủ chỉ áp thuế TTĐB trên các mặt hàng xăng với mức thuế suất 10%, tuy nhiên, xăng sinh học có thuế suất thuế TTĐB thấp hơn3 (Xem chi tiết ở phụ lục 8)

2.2.2 Chính sách thuế TTĐB của các nước thành viên ASEAN

Hầu hết các nước thuộc khu vực ASEAN đều áp thuế TTĐB lên các mặt hàng xăng dầu, ngoại trừ Indonesia, Malaysia và Brunei Trong đó, các nước ASEAN chủ yếu áp dụng mức thuế tỷ lệ trên giá bán mỗi lít xăng dầu (Lào: từ 5% đến 25%; Myanmar: 8% và 10%; Việt Nam: 10%; Cambodia:20%) trong khi Phillipines, Thái Lan hay Singapore áp thuế đơn vị trên mỗi lít xăng bán ra Theo thông tin từ World Bank, giá bán lẻ xăng dầu của Việt Nam thuộc hàng thấp nhất khu vực khi chỉ có hơn 9% giá bán lẻ xăng dầu được đóng góp từ thuế TTĐB, đây là một tỷ lệ khá nhỏ so với tỷ lệ bình quân các nước ASEAN (NTRC Tax Research Journal, 2017)

3 Theo Luật thuế TTĐB năm 2014, xăng sinh học E5 có mức thuế suất thuế TTĐB là 8%, xăng sinh học E10

có thuế suất thuế TTĐB là 7% Xăng sinh học chỉ mới được bán từ tháng 12 năm 2014

Trang 17

Bảng 2.1: Giá bán lẻ và thuế TTĐB các quốc gia Đông Nam Á

Quốc gia Giá bán lẻ

(USD)

Thuế TTĐB Tỷ trọng thuế

TTĐB trong giá bán lẻ (%)

so với các loại xăng dầu khác bị áp thuế TTĐB như Việt Nam, Thái Lan, Singapore, Myanmar4

Hiện nay, một số nước trong khu vực có xu hướng chuyển sang áp thuế TTĐB từ đầu vào sang giá bán ra của xăng dầu Ví dụ, chính phủ Thái Lan vừa ban hành Luật Thuế TTĐB mới vào ngày 18/3/2017 thay đổi căn cứ tính thuế TTĐB áp trên giá bán lẻ đề nghị thay vì

Trang 18

theo giá xuất xưởng theo Luật Thuế TTĐB cũ5 Trong đó, giá bán lẻ đề nghị được các nhà sản xuất, nhập khẩu đề xuất bao gồm các chi phí sản xuất, chi phí quản lý và lợi nhuận định mức, sau đó Vụ Tiêu dùng phê duyệt và dựa trên mức giá bán lẻ đề xuất để xác định giá bán lẻ xăng dầu áp dụng trên thị trường Ngoài ra, chính phủ Campuchia cũng áp thuế TTĐB trên giá bán ra của các loại xăng dầu dùng cho các phương tiện giao thông vận tải (cả thông thường và cao cấp) và các loại dầu với giá tính thuế của xăng dầu sản xuất trong nước là giá trên hóa đơn mà nhà sản xuất bán ra trên thị trường, trong khi đó, cơ sở tính thuế của xăng dầu nhập khẩu bao gồm tất cả các chi phí nhập khẩu, thuế nhập khẩu và các nghĩa vụ thuế khác, chưa bao gồm thuế TTĐB và thuế tiêu thụ

2.3 Lý thuyết hàm sản xuất

Hàm sản xuất biểu hiện mối quan hệ về mặt kỹ thuật giữa các yếu tố sản xuất khác nhau theo một công nghệ đã lựa chọn nhất định để tối đa hóa đầu ra với dạng tổng quát như sau:

Q = f(x1, x2,…, xn)

Với Q là sản lượng đầu ra, và x1, x2,…, xn là các yếu tố sản xuất đầu vào

Hàm sản xuất Cobb – Douglas được Charles Cobb and Paul Douglas (1928) chứng minh bằng dữ liệu thống kê trong giai đoạn 1899-1922 để mô phỏng sự tăng trưởng của nền kinh

tế Mỹ dựa trên hàm chi phí sản xuất của Knut Wicksell đề xuất để mô tả mối quan hệ giữa các sản lượng đầu ra với hai yếu tố đầu vào của quá trình sản xuất là lao động (L) và vốn (K) tương ứng với một trình độ kỹ thuật nhất định Với một lượng đầu vào không đổi, nếu

kỹ thuật được cải tiến sẽ cho mức sản lượng đầu ra cao hơn

Dạng hàm sản xuất Cobb – Douglas có dạng Q = f(K,L)= a

Trong đó:

Q là tổng sản lượng đầu ra (giá trị tiền tệ của tất cả hàng hóa sản xuất ra trong một năm)

L là lao động đầu vào (tổng số giờ lao động trên số người làm việc trong một năm)

K là vốn đầu vào (tổng giá trị tiền tệ cho tất cả các máy móc, thiết bị, và vật kiến trúc)

Trang 19

Hàm chi phí sản xuất Cobb – Douglas được xây dựng dựa trên hai cách tiếp cận cho bài toán tối ưu hóa sản xuất Cách thứ nhất, tối đa hóa sản lượng đầu ra với các yếu tố đầu vào

cố định theo các cách kết hợp K và L với hàm sản xuất được xây dựng là Max Q=Q(K,L) với điều kiện ràng buộc là wl+rk=C0 Cách tiếp cận thứ hai theo hướng tối thiểu hóa chi phí với các cách kết hợp K và L sao cho chi phí sản xuất là nhỏ nhất cho một mức sản lượng đầu ra cố định Hàm sản xuất có dạng: Min C = wl + rk với điều kiện ràng buộc là Q (K,L)=Q0

Điều kiện tối ưu được đảm bảo khi đường đẳng phí tiếp xúc với đường đẳng lượng và độ dốc đường đẳng phí bằng với độ dốc của đường đẳng lượng

dK/dL = -w/r , MRTSLK=w/r , MPL/w = MPK/r

Hình 2.1: Hai cách tiếp cận hàm chi phí sản xuất

(Nguồn: Đặng Văn Thanh, 2011)

2.4 Tác động của thuế TTĐB lên cung cầu xăng dầu

2.4.1 Tác động của thuế TTĐB lên cung, cầu xăng dầu cả nước

Đánh thuế TTĐB lên giá bán ra sẽ làm tăng giá bán lẻ mà người tiêu dùng phải trả (hoặc làm tăng chi phí đầu vào của các hoạt động sản xuất sử dụng xăng làm nhiên liệu), có khả năng làm thay đổi lượng tiêu dùng, tùy thuộc vào độ co dãn cung, cầu xăng Hiện nay, nguồn cung xăng dầu trong nước bao gồm: xăng dầu sản xuất trong nước và nhập khẩu

Trang 20

Chính vì thế, đường tổng cung xăng dầu bao gồm đường cung sản xuất trong nước và

đường cung nhập khẩu

Đường cung sản xuất trong nước: Cung xăng dầu trong nước hiện nay chỉ được sản xuất

và cung ứng bởi nhà máy lọc dầu Dung Quất (thuộc Công ty TNHH MTV lọc hóa dầu Bình Sơn – đơn vị trực thuộc Tổng công ty dầu Việt Nam PV Oil – Tập đoàn dầu khí Việt Nam PVN) Xăng dầu sản xuất bởi Dung Quất được phân phối thông qua các đầu mối kinh doanh xăng dầu Do đó đường cung sản xuất trong nước chính là đường chi phí biên của nhà máy lọc dầu Dung Quất Đường cung của nhà sản xuất trong nước cắt đường giá đầu vào của hệ thống phân phối để xác định mức sản lượng sản xuất của nhà máy

Đường cung của nhà nhập khẩu: Do Việt Nam là nước nhỏ, xăng dầu thành phẩm sản

xuất trong nước lại chỉ được bán trong thị trường nội địa nên không ảnh hưởng đến giá xăng dầu thế giới, ngược lại, giá xăng trong nước được xác định theo giá xăng dầu thế giới6 nên đường cung xăng dầu nhập khẩu chính là đường giá thế giới Điều này phù hợp theo quy định của liên Bộ Tài chính – Công thương khi giá xăng dầu nhập khẩu được tính theo giá được giao dịch trên thị trường Singapore (theo quy định của Nghị định 84/2009/NĐ-CP)

Đường giá bán lẻ xăng dầu trong nước: Giá bán lẻ được quyết định dựa trên giá cơ sở

mà các đầu mối kinh doanh xăng dầu đề xuất Chênh lệch giữa giá bán lẻ và khoản chiết khấu cho từng cấp đại lý phân phối chính là giá bán buôn của đầu mối kinh doanh xăng dầu, hoặc các đơn vị phân phối ở cấp cao hơn Lợi nhuận của các trung gian phân phối là phần chênh lệch giữa mức giá bán ra với giá bán buôn đầu vào và các khoản chi phí sau khi loại trừ các nghĩa vụ thuế đối với nhà nước

6 Giá xăng dầu thế giới để xác định giá cơ sở của xăng dầu là theo giá của thị trường Singapore theo quy định của Bộ Tài chính

Trang 21

Hình 2.2: Đường cung, cầu xăng dầu cả nước

(nguồn: tác giả tự tổng hợp từ nhiều nguồn)

2.4.2 Tác động của thuế TTĐB lên cung, cầu xăng dầu cho sản xuất nông nghiệp

Theo lý thuyết kinh tế học, tác động của thuế lên giá bán lẻ, lên thặng dư sản xuất, thặng

dư tiêu dùng và doanh thu thuế của chính phủ sẽ tùy thuộc vào độ co dãn của cung và cầu xăng dầu theo giá Hàng hóa có cầu càng kém co dãn, tổn thất vô ích gây ra càng thấp, lượng tiêu dùng thay đổi do tăng giá càng ít và phần lớn gánh nặng thuế được chuyển giao cho người tiêu dùng Ngược lại, hàng hóa có cầu càng co dãn, thì phản ứng của người tiêu dùng đối với việc tăng giá xăng dầu càng lớn và lượng tiêu thụ xăng dầu sẽ thay đổi nhiều Nếu cung xăng dầu không co dãn, toàn bộ gánh nặng thuế được chuyển sang nhà sản xuất, tổn thất vô ích của xã hội bằng không Nếu cung xăng dầu co dãn hoàn toàn thì toàn bộ thuế tăng lên sẽ được chuyển hết vào giá bán lẻ Nếu cung xăng dầu co dãn thì gánh nặng thuế sẽ được phân bổ cho cả nhà sản xuất và người tiêu dùng

Trang 22

Hình 2.3: Tác động của thuế TTĐB khi cung hoàn toàn không co dãn

(nguồn: tác giả tự vẽ)

Hình 2.4: Tác động của thuế TTĐB khi cung co dãn hoàn toàn

(nguồn: Tác giả tự vẽ)

Trang 23

Hình 2.5: Tác động của thuế TTĐB khi cung co dãn

(Nguồn: tác giả tự vẽ)

2.5 Tổng quan các nghiên cứu có liên quan

2.5.1 Các nghiên cứu trong nước

Hiện nay, trên thế giới và ở Việt Nam chưa có nghiên cứu nào đánh giá tác động của việc thay đổi chính sách thuế TTĐB đối với mặt hàng xăng dầu lên hoạt động sản xuất nông nghiệp Các nghiên cứu phổ biến thường chỉ thực hiện ước lượng hàm cầu các yếu tố đầu vào cho hoạt động sản xuất như sản xuất các ngành công nghiệp, nông nghiệp Trong đó, các nghiên cứu thường chỉ nghiên cứu nhu cầu về năng lượng (bao gồm nhiều loại năng lượng khác nhau sử dụng cho sản xuất) mà chưa nghiên cứu về nhu cầu sử dụng xăng, dầu cho sản xuất Chính vì thế, tác giả dựa trên những nghiên cứu về hàm chi phí đầu vào cho hoạt động sản xuất để xây dựng mô hình nghiên cứu để ước lượng hàm cầu xăng dầu cho hoạt động trồng trọt của các nông hộ ở Việt Nam

Các nghiên cứu điển hình trong nước như Phạm Văn Hùng (2010) xác định những yếu tố ảnh hưởng đến khả năng sản xuất của nông hộ thông qua ước lượng khả năng sản xuất của các hộ nông dân ở Hà Tây và Yên Bái với các yếu tố đầu vào được đưa vào mô hình như giống, phân bón, lao động, chi phí bằng tiền và các biến đặc tính của nông hộ như số mảnh

Trang 24

ruộng, quy mô đất canh tác, trình độ học vấn của chủ hộ, tuổi chủ hộ, các biến giả về số vụ gieo trồng, sự thay đổi trong sử dụng đất Ông sử dụng hàm chi phí Translog và cho ra kết quả lao động là yếu tố ảnh hưởng trực tiếp tới khả năng sản xuất của nông hộ nhưng theo hướng ngược chiều do vấn đề dư thừa lao động gia đình quá mức ở nông thôn Việt Nam hiện nay

Một nghiên cứu khác của Phạm Đức Chính (2016) về tác động của thay đổi chính sách thuế GTGT đối với mặt hàng phân bón ở Việt Nam Sử dụng hàm chi phí Translog với những yếu tố đầu vào bao gồm phân bón, máy móc, đất đai, lao động và các yếu tố khác cho hoạt động trồng trọt, đồng thời vận dụng mô hình cân bằng cung cầu riêng phần trên thị trường cung cầu phân bón, nghiên cứu cho thấy nếu chính phủ bãi bỏ thuế GTGT 5% đối với phân bón sẽ giảm bớt gánh nặng thuế và tăng thặng dư cho các nông hộ, đặc biệt, nếu chính phủ áp mức thuế suất 0% đối với phân bón hóa học sẽ tối đa hóa phúc lợi xã hội

2.5.2 Các nghiên cứu nước ngoài

Các nghiên cứu về cầu đầu vào cho nông nghiệp được thực hiện phổ biến trên thế giới Khởi phát cho nghiên cứu cầu đầu vào sản xuất nông nghiệp là nghiên cứu của Binswanger (1973) ứng dụng hàm chi phí Translog và hàm sản xuất Cobb – Douglas để ước lượng hàm cầu phân bón trong nông nghiệp để tính toán độ co giãn theo giá riêng và độ co giãn thay thế giữa các yếu tố đầu vào Các biến đưa vào mô hình bao gồm đất đai, lao động, máy móc, phân bón và các đầu vào khác được xử lý trên bộ dữ liệu bảng được thu thập từ 39 bang trong các năm 1949, 1954, 1959 và 1964 Kết quả nghiên cứu của Binswanger đã cho thấy các yếu tố đầu vào sử dụng cho sản xuất nông nghiệp đều kém co giãn theo giá, đồng thời, độ co giãn thay thế giữa các yếu tố đầu vào thấp Theo sau Becker, các nghiên cứu về cầu đầu vào cho ngành nông nghiệp tiếp tục sử dụng hàm chi phí Translog để phân tích tác động của giá cả đầu vào đến đầu ra của nông nghiệp Một số nghiên cứu như MacDonald (2003), Becker (2010), Dong Hee Suh (2015)

Nghiên cứu của Becker (2010) cũng tiếp cận hàm chi phí Translog để xác định khả năng thay thế của các yếu tố đầu vào cho sản xuất nông nghiệp thông qua tính toán độ co dãn thay thế của các đầu vào ngành nông nghiệp cũng như phản ứng của nông hộ đối với việc tăng giá năng lượng Bộ dữ liệu bảng trong nghiên cứu được thu thập trong 15 năm từ 1992 đến 2007 theo bang Các biến đầu vào được đưa vào mô hình của Becker bao gồm: lao

Trang 25

động, vốn, đất đai, nhiên liệu, phân bón, hóa chất và các đầu vào khác như cây giống, con giống và hạt giống Kết quả nghiên cứu cho thấy độ co dãn của các đầu vào cho nông nghiệp đều kém co dãn và độ co dãn thay thế giữa các đầu vào cho thấy khả năng thay thế thấp giữa năng lượng và các yếu tố đầu vào khác, đặc biệt độ co dãn thay thế giữa nhiên liệu và lao động gần như bằng không Như vậy, giá nhiên liệu tăng không làm thay đổi lượng nhiên liệu tiêu thụ cho sản xuất nông nghiệp vì sự hạn chế trong các đầu vào có thể thay thế được cho nhiên liệu

Một nghiên cứu khác phân tích tác động của giá nông sản và chi phí lương thực của Paul

và MacDonald (2003) thông qua bốn yếu tố đầu vào như lao động, vốn, năng lượng và nhiên liệu thô Kết quả nghiên cứu cho thấy, tất cả các đầu vào cho nông nghiệp đều kém

co dãn ở mọi mức sản xuất cho thấy các trang trại hay hộ sản xuất nông nghiệp sẽ không thay đổi sự kết hợp của các mức tiêu thụ các yếu tố đầu vào cho sản xuất nông nghiệp, đồng thời một phát hiện trong nghiên cứu của hai ông là với một sự tăng lên của nhu cầu lương thực sẽ dẫn đến một sự tỷ lệ gia tăng lớn hơn trong nhu cầu sử dụng năng lượng cho sản xuất nông nghiệp

Nghiên cứu của Dong Hee Suh (2015) về khả năng thay thế năng lượng đối với ngành nông nghiệp sử dụng mô hình chi phí Translog với dữ liệu nghiên cứu của 48 bang của Mỹ trong giai đoạn từ 1960 đến 2004 Kết quả nghiên cứu từ phương trình tỷ phần chi phí vốn, lao động và năng lượng, so với lao động và vốn, cầu năng lượng co dãn hơn với độ co dãn theo giá riêng của năng lượng dao động trong khoảng một phần trăm, cho thấy độ co dãn theo giá riêng của năng lượng trong nghiên cứu này co dãn hơn so với kết quả của các nghiên cứu trước Điều này cho thấy nông dân sẽ cắt giảm mức tiêu thụ năng lượng khi giá năng lượng tăng theo hai cách: nâng cao hiệu quả sử dụng năng lượng bằng cách sử dụng công nghệ tiết kiệm năng lượng hoặc buộc phải cắt giảm sản lượng đầu ra hoặc thu hẹp sản xuất Bên cạnh đó, kết quả tính toán độ co dãn thay thế giữa lao động, vốn và năng lượng cho thấy nông hộ sẽ sử dụng nhiều năng lượng hơn khi giá lao động và chi phí sử dụng vốn tăng lên, tuy nhiên, mức độ thay thế giữa năng lượng với hai yếu tố vốn và lao động không đáng kể

Bên cạnh đó, có khá nhiều những nghiên cứu khác sử dụng các mô hình khác để ước lượng hàm cầu năng lượng/ nhiên liệu cho sản xuất nông nghiệp như Agheli (2015) nghiên cứu

về cầu diesel trong ngành nông nghiệp ở Iran cũng cho kết luận cầu diesel kém co dãn với

Trang 26

sự thay đổi của giá diesel (-0,33), nên cho dù chính phủ có cắt giảm trợ cấp đối với diesel cũng không làm giảm lượng diesel tiêu thụ Ngược lại, nếu chính phủ trợ cấp cho diesel sẽ làm tăng nhu cầu cơ giới hóa nông nghiệp dẫn tới tăng nhu cầu sử dụng diesel trong nông nghiệp Do đó, nghiên cứu đề xuất nên chuyển đổi sản xuất nông nghiệp theo hướng cải tiến công nghệ thay thế diesel, sử dụng máy móc hiện đại để quản lý việc sử dụng nhiên liệu

Nghiên cứu của Capps at al (1978) về cầu xăng và diesel sử dụng trong nông nghiệp ở

Virginia sử dụng phân tích IO (Input-Output) để phân tích ảnh hưởng của giá năng lượng cao và sự giới hạn về số lượng tiêu thụ trong hoạt động năng lượng và mô hình tĩnh với phương pháp LP (Linear programming) để ước lượng hàm cầu xăng và diesel đầu vào cho sản xuất nông nghiệp Kết quả nghiên cứu cho thấy, xăng và diesel là hai hàng hóa có thể thay thế cho nhau trong nông nghiệp Ngoài ra, yếu tố lao động và đất cũng là hai đầu vào

có thể thay thế cho xăng và diesel, khi giá đất và giá lao động tăng lên sẽ tác động lên lượng sử dụng xăng và diesel Mặt khác, lượng tiêu thụ xăng và diesel lại bị ảnh hưởng bởi diện tích đất trồng trọt hay quy mô sản xuất

Từ những nghiên cứu vừa nêu, tác giả rút ra được một số kết luận sau: (1) Cầu đầu vào của các yếu tố đầu vào cho hoạt động trồng trọt đều kém co dãn và hạn chế trong khả năng thay thế nên giá nhiên liệu tăng ảnh hưởng sản xuất nông nghiệp; (2) Các nghiên cứu thực nghiệm về cầu năng lượng đều thực hiện ước lượng độ co dãn của năng lượng/ nhiên liệu

mà chưa nghiên cứu về cung xăng dầu; (3) Chưa có nghiên cứu nào về tác động của thay đổi chính sách thuế TTĐB lên mặt hàng xăng dầu/ năng lượng lên sản xuất nông nghiệp trên thế giới

Dựa trên các nghiên cứu trước, nghiên cứu áp dụng hàm chi phí Translog để xây dựng đường cầu xăng dầu cho hoạt động nông nghiệp Đồng thời, kết luận từ những nghiên cứu

đi trước sẽ làm cơ sở để tác giả hình thành giả thuyết nghiên cứu về độ co dãn cầu xăng dầu cho sản xuất nông nghiệp của Việt Nam Mặt khác, việc xây dựng mô hình ước lượng đường cung xăng dầu cho nông nghiệp không được thực hiện trong nghiên cứu này bởi sự giới hạn tiếp cận thông tin phía cung Do đó, tác giả chỉ xây dựng giả định về đường cung xăng dầu cho nông nghiệp dựa trên những thông tin thị trường thu thập được làm cơ sở xác định tổn thất phúc lợi của các phía trên thị trường cung, cầu xăng dầu cho nông nghiệp Việt Nam

Trang 27

CHƯƠNG 3 – MÔ HÌNH KINH TẾ LƯỢNG VÀ DỮ LIỆU NGHIÊN CỨU 3.1 Lựa chọn mô hình nghiên cứu

Hàm chi phí Translog do Christensen và cộng sự (1973) đề xuất được sử dụng phổ biến trong các nghiên cứu về hàm cầu các yếu tố đầu vào trong ngành nông nghiệp như Becker (2010), Binswanger (1973), cũng như các nghiên cứu về mô hình năng lượng và cầu nhiên liệu Woodland (1975), Berndt và Wood (1979), Debertin (1990) bởi những ưu điểm sau: Thứ nhất, hàm chi phí Translog là một hệ thống các phương trình tỷ phần chi phí đầu vào với các ràng buộc về tính đồng nhất và tính đối xứng được áp đặt đối với các thông số trong các phương trình tỷ phần chi phí Khi đó, hành vi của doanh nghiệp thể hiện trên tổng chi phí sản xuất, mức sản lượng đầu ra và giá của các yếu tố đầu vào (tổng chi phí các yếu tố đầu vào thay đổi theo tỷ phần chi tiêu cho các yếu tố đầu vào sản xuất) Điều này phù hợp với thực tế do tỷ phần chi phí cho các yếu tố đầu vào sẽ thay đổi theo thời gian, tùy thuộc vào sự phát triển công nghệ sản xuất và tùy theo đặc điểm của từng ngành Trong khi đó, hàm sản xuất Cobb – Douglas là một phương trình đơn ước lượng các yếu tố đầu vào sản xuất với một trình độ công nghệ cố định không đổi theo quy mô và trình độ công nghệ, nghĩa là khi chi phí trung bình tăng lên, chi phí biên cũng sẽ tăng lên theo cùng một

tỷ lệ cố định, tỷ phần chi phí của các đầu vào trong hàm sản xuất Cobb – Douglas là hằng

số Bên cạnh đó, hàm chi phí Translog được sử dụng bởi vì nó là một xấp xỉ thứ hai (Second Order Approximation) cho bất kỳ hàm chi phí tùy ý nào và nó không áp đặt các ràng buộc về giá trị của độ co dãn thay thế

3.2 Hàm chi phí Translog

Hàm chi phí Translog được Christensen và cộng sự (1973) phát triển dựa trên lý thuyết kinh tế hoc vi mô, sử dụng đạo hàm riêng của hàm chi phí Translog Logarithmic và bổ đề Shephard Phương pháp này xuất phát từ hàm sản xuất có dạng: Y=f(X1, X2, …., Xi) Hàm cầu cho đầu vào thứ i được viết như sau:

Trang 28

C là một hàm theo chi phí theo X và P Trong đó, với mỗi mức sản lượng đầu ra Y và mức giá đầu vào Pi cho trước chỉ xác định được một mức chi phí tối ưu nhất Hoặc với một mức chi phí C tối ưu và các mức giá cho trước chỉ xác định được một mức sản lượng Y tối ưu duy nhất Hàm chi phí tối ưu có dạng: Cmin = C*= f (Pi,j , Y)

Đối với mô hình Translog, C* được viết dưới dạng: lnC* = f(lnY, lnP1, lnP2, …., lnPn)

Sử dụng chuỗi triển khai Taylor bậc hai:

lnC* =

Lấy đạo hàm riêng phần của lnC* theo các biến lnPi được các tỷ phần chi phí của các yếu

tố đầu vào:

Si = + Hàm chi phí Translog được ràng buộc bởi các điều kiện: là một hàm tuyến tính thuần nhất với giá đầu vào không đổi, là hàm lõm với biến sản lượng và không giảm theo giá đầu vào Các thiết lập về tính đồng nhất và tính đối xứng như sau:

Mô hình nghiên cứu được xây dựng dựa trên nghiên cứu các nghiên cứu trước về hàm chi

phí đầu vào trong nông nghiệp, cụ thể, nghiên cứu của Shouraki at al (2013), MacDonald

(2003), Becker (2010), Dong Hee Suh (2015), Phạm Đức Chính (2016) đều sử dụng các đầu vào cho nông nghiệp bao gồm vốn (máy móc), lao động, đất đai, năng lượng, phân bón, hóa chất và các đầu vào khác Để xây dựng hàm cầu xăng dầu đầu vào cho hoạt động trồng trọt, tác giả xác định các đầu vào trong mô hình bao gồm: xăng dầu, máy móc, lao

Trang 29

động, đất đai và các đầu vào khác Các đầu vào khác như hạt giống, cây giống, phân bón, hóa chất, thuốc trừ sâu là những đầu vào quan trọng cho hoạt động trồng trọt được gộp lại thành biến các đầu vào khác cho hộ trồng trọt

Bảng 3.1 - Các biến đưa vào mô hình

Biến phụ thuộc

S_i Tỷ phần chi phí đầu vào (i=

xd: xăng dầu, m: máy móc, l:

lao động, d: đất đai, others:

Ln(P_i) Logarith cơ số tự nhiên của

giá đầu vào của các yếu tố đầu vào (i= xd: xăng dầu, m: máy móc, l: lao động, d: đất đai, others: đầu vào khác)

Binswanger (1973), Becker

(2010), Shouraki et al (2013),

Phạm Đức Chính (2016)

Định lượng

Ln(Y) Logarith cơ số tự nhiên của

tổng thu nhập đầu ra (đại diện cho tổng sản lượng đầu ra)

Ln(Sdat) Logarith cơ số tự nhiên của

diện tích đất nông nghiệp

Yeager at al (2011), Phạm

Đức Chính (2016), Phạm Văn Hùng (2010)

Định lượng

Ln(SoLD) Logarith cơ số tự nhiên của số

người tham gia hoạt động trồng trọt

Yeager at al (2011), Phạm

Đức Chính (2016), Phạm Văn Hùng (2010)

Định lượng

(Nguồn: tác giả tự tổng hợp)

Hệ phương trình tỷ phần chi phí các yếu tố đầu vào nêu trên được thực hiện theo hàm chi

phí Translog do Christensen at al (1973) đề xuất có dạng:

S_xd = + lnP_xd + lnP_m + lnP_dat + lnP_ld + lnP_others + lnY+ lnSoLD + lnSdat + (1)

Trang 30

S_m= + lnP_m + lnP_xd + lnP_dat + lnP_ld + lnP_others + lnY+ lnSoLD + lnSdat + (2) S_ld= + lnP_ld + lnP_xd + lnP_dat + lnP_m + lnP_others + lnY+ lnSoLD + lnSdat + (3) S_dat= + lnP_dat + lnP_xd + lnP_ld + lnP_m +

lnP_others + lnY+ lnSoLD + lnSdat + (4) S_others= + lnP_others + lnP_xd + lnP_ld +

xử lý dữ liệu trong bộ VHLSS 2014 cho được một file dữ liệu chéo với 2.285 quan sát có thống kê mô tả như sau:

Trang 31

Bảng 3.2 - Thống kê mô tả các dữ liệu đầu vào cho hoạt động trồng trọt

bình

Độ lệch chuẩn

Giá trị nhỏ nhất

Giá trị lớn nhất Biến phụ thuộc

S_xd: tỷ phần chi phí xăng dầu % 0,002 0,002 0,000 0,029 S_m: tỷ phần chi phí máy móc % 0,020 0,013 0,000 0,120 S_ld: tỷ phần chi phí lao động % 0,868 0,084 0,361 0,989 S_dat: tỷ phần chi phí đất trồng trọt % 0,046 0,052 0,001 0,484 S_others: tỷ phần chi phí đầu vào

Biến độc lập

đồng/lít 24,074 0,948 18,13 25,17

P_dat: giá đất đai

Nghìn đồng/

m2

1,131 0,443 0,029 4,444

P_ld: giá lao động

Nghìn đồng/

Biến đặc tính hộ (quy mô hộ)

SoLD: số lao động tự làm của hộ Người 3,0380 1,0916 1 8 Sdat: diện tích đất trồng trọt m2 4.820 5.786 100 64.000

U i : là các sai số ngẫu nhiên của các phương trình tỷ phần chi phí các yếu tố đầu vào cho trồng trọt với giả định các u i đều tuân theo phân phối chuẩn với giá trị trung bình bằng không và phương sai không đổi

(Nguồn: tác giả tự thực hiện)

Trang 32

Mô tả các biến:

(1) Biến phụ thuộc:

S_i: Tỷ phần chi phí cho đầu vào thứ i trong năm yếu tố đầu vào được đưa vào mô hình (bao gồm: xăng dầu, lao động, máy móc, đất đai và các yếu tố đầu vào khác) Các tỷ phần của từng yếu tố đầu vào được xác định bằng cách lấy chi tiêu cho đầu vào thứ i chia cho tổng chi phí đầu vào

SoLD: Tổng số lao động tham gia vào sản xuất trồng trọt của hộ

Sdat: Tổng diện tích đất canh tác của hộ

Kiểm tra độ vững của mô hình

Thực hiện kiểm tra độ vững của mô hình thông qua xác định số lượng các quan sát ngoại vi cho thấy, mô hình đảm bảo không có sự thiên lệch nghiêm trọng các giá trị của các biến trong mô hình Số lượng các quan sát ngoại vi tối đa của biến Sdat là 57 quan sát chiếm tỷ trọng 2,4% tổng số quan sát trong mô hình (được tính toán trong khoảng +/- hai độ lệch chuẩn của dữ liệu từng biến)

3.3.2 Phương pháp ước lượng

Các giả định về tính đồng nhất trong giá các yếu tố đầu vào và các giới hạn về tính đối xứng dẫn đến việc buộc phải loại bỏ một tỷ phần của một yếu tố đầu vào khi thực hiện ước lượng để tránh gây ra một ma trận hiệp phương sai suy biến Để thỏa mãn tính đối xứng, cần phải kết hợp các phương trình tỷ phần chi phí vào một hệ phương trình đồng thời duy nhất Do các phương trình tỷ phần chi phí là một tập hợp các phương trình tỷ phần chi phí nên nghiên cứu sử dụng phương pháp SUR (Seemingly Unrelated Regression) vì phương pháp này hiệu quả hơn khi được thiết lập với các điều kiện ràng buộc đối với các hệ số hồi quy của hệ thống các phương trình đồng thời

Trang 33

3.4 Các giả thuyết nghiên cứu

Các nghiên cứu trước về cầu đầu vào đối với hoạt động nông nghiệp đều cho kết quả độ co dãn của các yếu tố đầu vào cho nông nghiệp như máy móc, đất đai, lao động, năng lượng/nhiên liệu đều kém co dãn Chính vì thế, trong nghiên cứu này, tác giả xây dựng hai giả thuyết:

(1) Độ co dãn theo giá riêng của xăng dầu và các yếu tố đầu vào cho trồng trọt kém co giãn, giá trị tuyệt đối nhỏ hơn một;

(2) Độ co dãn thay thế của xăng dầu với các đầu vào khác đều nhỏ hơn một Trong đó, độ

co dãn thay thế của xăng dầu và máy móc được kỳ vọng mang dấu âm, thể hiện là hai hàng hóa bổ sung cho nhau

Trang 34

CHƯƠNG 4 – KẾT QUẢ PHÂN TÍCH VÀ THẢO LUẬN

Chương 4 thực hiện mô tả tổng quan về thị trường xăng dầu ở Việt Nam bao gồm các thông tin về tình hình sản xuất và kinh doanh xăng dầu, các thông tin về giá và sản lượng tiêu thụ của từng loại xăng dầu Sau đó, ước tính độ co dãn theo giá riêng của cầu xăng dầu

và dựa trên kịch bản giả định về độ co dãn cung xăng dầu trong nước để xác định thay đổi phúc lợi của người tiêu dùng (nông hộ), nhà sản xuất và doanh thu thuế của chính phủ

4.1 Tổng quan về thị trường xăng dầu

Hiện nay, nguồn cung xăng dầu Việt Nam lệ thuộc nhiều vào nhập khẩu dù sản lượng tự sản xuất trong nước có xu hướng tăng lên Xăng dầu cho tiêu dùng nội địa của Việt Nam chủ yếu từ hai nguồn: xăng dầu nhập khẩu và sản xuất trong nước từ nhà máy lọc dầu Dung Quất trực thuộc Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (Petrovietnam)

Bảng 4.1 - Nguồn cung xăng dầu Việt Nam giai đoạn 2010 - 2014

Nhu cầu trong

nước Nghìn tấn 14.013 19.353 17.733 15.618 14.668 13.448 -Nhập khẩu Nghìn tấn 12.499 13.661 11.760 9.994 8.393 8.113 8

- Sản xuất Nghìn tấn 1.514 5.692 5.973 5.624 6.275 5.335 9 Nhu cầu trong

(nguồn: tổng hợp từ Energy Balanced of non-OECD Countries, Tổng cục thống kê, Hiệp

hội xăng dầu Việt Nam)

Về phía cung nhập khẩu xăng dầu, sản lượng xăng dầu nhập khẩu có xu hướng giảm từ khi nhà máy Dung Quất đi vào hoạt động từ năm 200910 Các đầu mối kinh doanh xăng dầu được phép nhập khẩu theo hạn ngạch tối thiểu quy định bởi Bộ Công thương, được tự do

7 Ước tính

8 Số liệu tính đến ngày 15/12/2014 của Hiệp hội xăng dầu Việt Nam

9 Số liệu của nhà máy lọc dầu Dung Quất

10 Phần trăm xăng dầu nhập khẩu năm 2009 từ 89,20% xuống còn khoảng 40% năm 2014

Trang 35

nhập khẩu từ các nước có giá xăng dầu rẻ hơn và được hưởng ưu đãi thuế suất từ các hiệp định thương mại Các thị trường nhập khẩu chủ yếu từ ASEAN bao gồm Singapore, Malaysia, Thái lan và các nước lân cận như Hàn Quốc, Trung Quốc, Đài Loan, Nga,… Trong số 19 đầu mối kinh doanh xăng dầu, Tập đoàn xăng dầu Việt Nam (Petrolimex) được giao hạn ngạch nhập khẩu xăng dầu nhiều nhất với tổng hạn ngạch chiếm đến 50% lượng xăng dầu nhập khẩu cả nước11 nên có thị phần cung ứng xăng dầu lớn nhất nước

Về nguồn cung trong nước, nhà máy lọc dầu Dung Quất trực thuộc PVN là đơn vị lọc dầu duy nhất trong nước đảm nhận vai trò sản xuất xăng dầu cung ứng cho thị trường nội địa nhằm hạn chế phụ thuộc vào xăng dầu nhập khẩu Nhà máy lọc dầu Dung Quất có khả năng cung ứng gần 40% nhu cầu xăng dầu cả nước (Khánh Huyền, 2016) và chỉ được phép xuất khẩu ra thị trường bên ngoài khi lượng cung trong nước vượt lượng cầu nội địa Tuy nhiên, giá bán lẻ của xăng dầu Dung Quất cũng được quy định theo giá bán lẻ của xăng dầu nhập khẩu

Bảng 4.2-Tình hình sản xuất của nhà máy lọc dầu Dung Quất

(Nguồn: Kế hoạch sản xuất kinh doanh và đầu tư phát triển 05 năm giai đoạn 2016-2020

của công ty TNHH MTV lọc hóa dầu Bình Sơn)

11 Theo Bộ Công thương, Tập đoàn xăng dầu Việt Nam được giao hạn mức nhập khẩu năm 2015 là bốn triệu tấn trong tổng hạn mức cấp hạn ngạch của tất cả các đầu mối kinh doanh xăng dầu là 8,18 triệu tấn

Trang 36

4.2 Đường cung xăng dầu Việt Nam

Thị trường phân phối xăng dầu ở Việt Nam được nhận định là thị trường độc quyền nhóm

Thứ nhất, thị trường phân phối xăng dầu chỉ bao gồm một nhóm nhỏ các doanh nghiệp

đầu mối cùng hoạt động (theo số liệu của Bộ Công thương năm 2014 có 19 đầu mối kinh doanh xăng dầu hoạt động trên thị trường), trong đó Petrolimex chiếm 50% thị phần bán lẻ, PVOil chiếm khoảng 20% thị phần, Sài Gòn Petro chiếm khoảng 12% thị phần Đây là ba doanh nghiệp đầu mối thống lĩnh thị trường bán lẻ xăng dầu với số lượng các đại lý phân phối lên đến vài ngàn đại lý (bao gồm cả đại lý trực thuộc hệ thống và ngoài hệ thống phân

phối của các đầu mối kinh doanh xăng dầu) Thứ hai, sản phẩm xăng dầu gần như không

có sự khác biệt và người tiêu dùng khó có khả năng phân biệt được sự khác biệt giữa các loại xăng có thành phần pha chế khác nhau được nhập khẩu từ nhiều nguồn khác nhau Chính vì thế, xăng dầu phân phối trên thị trường được cho là đồng nhất về mặt chất lượng

Thứ ba, xăng dầu là ngành kinh doanh có điều kiện nên có sự giới hạn nhất định về sự gia

nhập thị trường của các đầu mối kinh doanh xăng dầu mới Tuy nhiên, số lượng các đầu mối kinh doanh xăng dầu tham gia trên thị trường phân phối xăng dầu có xu hướng tăng qua các năm (năm 2016 có 29 đầu mối kinh doanh xăng dầu hoạt động trên thị trường)

Cuối cùng, giá bán lẻ xăng dầu được quyết định bởi liên Bộ Tài chính – Công thương dựa

trên giá cơ sở đề xuất bởi các đầu mối kinh doanh xăng dầu trong nước nhằm hạn chế sức mạnh độc quyền trên thị trường phân phối xăng dầu

Đối với nghiên cứu này, do giới hạn dữ liệu về thị trường như mức giá và sản lượng của từng đầu mối nhập khẩu trong từng giai đoạn nên nghiên cứu không ước lượng hàm cung xăng dầu và xác định độ co dãn cung xăng dầu theo giá Nghiên cứu chỉ tiến hành phân tích cung, cầu xăng dầu cho hoạt động trồng trọt, sự thay đổi phúc lợi của nông hộ trồng trọt và số thuế mà chính phủ thu được mà không đi sâu phân tích ảnh hưởng của thay đổi chính sách thuế đối với các hệ thống sản xuất, phân phối trong nước

Đường cung xăng dầu Việt Nam trong ngắn hạn được nhận định là đường cung co dãn hoàn toàn theo giá bán lẻ xăng dầu trên thị trường tại mức sản lượng cân bằng của thị trường xăng dầu cho hoạt động trồng trọt bởi giá bán lẻ xăng dầu được quy định bởi chính phủ Đồng thời, sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp đầu mối kinh doanh xăng dầu trên thị trường không quyết định giá bán lẻ nên đường cung xăng dầu được giả định là đường giá bán lẻ xăng dầu trên thị trường

Trang 37

Hình 4.1 thể hiện mối quan hệ tương quan giữa giá bán lẻ xăng dầu trên thị trường với giá dầu thô thế giới12 Theo đồ thị ScatterPlot, giá bán lẻ xăng của Việt Nam có tương quan đồng biến với giá dầu thô thế giới với độ tương quan là 93,67%, giá bán lẻ xăng Việt Nam

có xu hướng tăng lên theo giá dầu thô thế giới13 Điều này cho thấy giá xăng Việt nam điều chỉnh theo sự biến động giá dầu thô thế giới bởi giá bán lẻ được xác định trên giá của xăng dầu nhập khẩu

Hình: 4.1: Tương quan giữa giá dầu thô thế giới và giá bán lẻ xăng từ năm 2011 đến

(Nguồn: Tác giá tự vẽ dựa trên nguồn số liệu thu thập được)

4.3 Xác định độ co dãn của cầu xăng dầu theo giá riêng và độ co dãn thay thế giữa các yếu tố đầu vào

Nghiên cứu sử dụng phương pháp SUR để ước lượng hệ phương trình tỷ phần chi phí các đầu vào cho hoạt động trồng trọt: xăng dầu, lao động, đất đai, máy móc và các đầu vào khác Trước khi ước lượng các hệ số hồi quy, tác giả tiến hành gán các điều kiện ràng buộc

về tính đồng nhất và tính đối xứng theo hàm chi phí Translog Để thực hiện ước lượng SUR, tác giả loại bỏ một phương trình tỷ phần chi phí của đầu vào khác (s_others) để tránh tạo ra một ma trận hiệp phương sai suy biến

Trang 38

Bảng 4.3 - Kết quả hồi quy hệ phương trình

*** chỉ mức ý nghĩa 1%, ** chỉ mức ý nghĩa 5%, * chỉ mức ý nghĩa 10%

(Nguồn: Tác giả tự thực hiện)

Nhận xét về kết quả hồi quy:

Kết quả ước lượng hệ phương trình tỷ phần các chi phí đầu vào cho trồng trọt cho thấy hầu hết các hệ số hồi quy đều có ý nghĩa thống kê ở mức 1% Trong đó, do loại bỏ phương trình tỷ phần chi phí đầu vào khác khi ước lượng SUR, nên các hệ số hồi quy của phương trình tỷ phần chi phí đầu vào khác được xác định dựa trên các điều kiện ràng buộc Các quan sát không có chi tiêu cho xăng dầu được loại bỏ để tránh được sự thiên lệch mẫu trong quá trình ước lượng

Nhận xét về dấu của các hệ số hồi quy trong các phương trình tỷ phần chi phí:

• Các biến độc lập quan trọng như biến logarithm cơ số tự nhiên của các biến giá (lnP_i), ý nghĩa kinh tế được thể hiện thông qua độ co dãn theo giá, trong khi dấu của các hệ số này không thể hiện mối quan hệ về mặt kinh tế nhiều

Trang 39

dương cho thấy khi thu nhập của hộ tăng lên, tỷ phần chi tiêu cho xăng dầu, máy móc và các đầu vào khác tăng lên Trong khi dấu của biến ln_Y trong các phương trình tỷ phần chi phí lao động và đất đai mang dấu âm cho thấy khi thu nhập hộ tăng lên tỷ phần chi tiêu cho đất đai và lao động giảm xuống

o Diện tích đất trồng trọt: dấu của biến lnSdat trong các phương trình tỷ phần chi phí xăng dầu, đất đai và đầu vào khác mang dấu dương cho thấy khi diện tích đất canh tác tăng lên tỷ phần chi phí xăng dầu, đất đai và đầu vào khác tăng lên Ngược lại, dấu của biến lnSdat trong các phương trình tỷ phần chi phí lao động và máy móc mang dấu âm, phù hợp theo tính kinh tế nhờ quy mô khi số diện tích đất càng tăng, phần trăm chi phí lao động và máy móc sẽ càng giảm

o Số lao động tự làm: dấu của biến lnSoLD trong phương trình tỷ phần chi phí lao động mang dấu dương cho thấy khi số lao động tự làm tăng lên, tỷ phần chi phí cho xăng dầu, đất đai và máy móc tăng lên

Thực hiện kiểm định Breusch-Pagan về sự tương quan giữa các phần dư của các phương trình tỷ phần chi phí và kiểm định Chi-Square về tính đồng nhất của các biến giá của mô hình Translog

Kiểm định Breusch-Pagan về sự tương quan giữa các phần dư của các phương

trình tỷ phần chi phí xăng dầu, máy móc, đất đai, lao động

Giả thiết H0: không có sự tương quan giữa các phần dư trong các phương trình

Kết luận: Kết quả kiểm định Breusch-Pagan cho thấy giá trị Chi- Square = 1.506,410 với giá trị P = 0.0000, hay bác bỏ giả thiết H0, có sự tự tương quan giữa các phần dư trong các

phương trình tỷ phần chi phí, điều này cho thấy việc sử dụng phương pháp SUR là hợp lý

Thực hiện kiểm định Chi-Square đối với các ràng buộc về tính đồng nhất của mô

hình Translog

Giả thiết H0: các hệ số beta đều bằng 0

Trang 40

Kết luận: Các giá trị P_value của kiểm định Chi-Square đều nhỏ hơn mức 1% và 10% nên bác bỏ giả thiết H0 Như vậy, kết quả kiểm định các điều kiện ràng buộc về tính đồng nhất cho thấy tính khác 0 của các hệ số beta trong các phương trình tỷ phần chi phí (S_i)

Bảng 4.4 - Kết quả kiểm định Breusch-Pagan và kiểm định Chi-Square

*** chỉ mức ý nghĩa 1%, ** chỉ mức ý nghĩa 5%, * chỉ mức ý nghĩa 10%

(nguồn: tác giả tự thực hiện)

Kết quả tính toán độ co dãn theo giá riêng và độ co dãn thay thế của các đầu vào cho hoạt động trồng trọt

Độ co dãn theo giá riêng và độ co dãn thay thế của các yếu tố đầu vào được tính theo công thức (3.1) và (3.2) Kết quả tính toán được thể hiện trong bảng sau:

Kiểm định Breusch-Pagan về tính tương

quan của các phần dư 1.506,41***

Các phần dư của s_xd, s_m, s_d,

và s_ld có tương quan với nhau

Kiểm tra tính đồng nhất Bậc nhất với giá các yếu tố đầu vào

218,31*** ở mức ý nghĩa 1%

3,0* ở mức ý nghĩa 10% 30,22*** ở mức ý nghĩa 1%

Ngày đăng: 30/08/2017, 12:26

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w