1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

pháp luật về đối tượng nộp thuế thu nhập – thực trạng và giải pháp

65 392 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 65
Dung lượng 815,84 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy nhiên, trong phạm vi đề tài này người viết chỉ tập trung nghiên cứu những trường hợp mà nội hàm khái niệm người nộp thuế và đối tượng nộp thuế là giống nhau đối với những quy định về

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ

Giảng viên hướng dẫn: Sinh viên thực hiện:

Luật Thương mại 1 - K37

Cần Thơ, 12/2014

Trang 2

NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN

Cần Thơ, ngày… Tháng 12 năm 2014

Giảng viên hướng dẫn

Trang 3

NHẬN XÉT CỦA HỘI ĐỒNG PHẢN BIỆN

Cần Thơ, ngày….tháng 12 năm 2014

Hội đồng phản biện

Trang 4

Lời cảm ơn

Để hoàn thành bài nghiên cứu luận văn như hôm nay, bản thân người viết hiểu rằng đó là thành quả chung của nhiều người không chỉ riêng của người viết Việc hoàn thành đề tài nghiên cứu luận văn cũng là lúc đánh dấu những bước ngoặc quan trọng trong cuộc đời người viết, là lúc kết thúc những năm tháng Đại học, khép lại những trang ký ức đầy kỷ niệm và in dấu những trải nghiệm khó quên khi

xa nhà, xa gia đình và sống tự lập

Với niềm cảm kích chân thành, trước tiên người viết xin dành lời cảm ơn đến gia đình là điểm tựa là động lực đã tạo mọi điều kiện, giúp đỡ và động viên người viết về mọi mặt

Xin chân thành cảm ơn quý thầy, quý cô là giảng viên khoa Luật, trường Đại học Cần Thơ đã truyền đạt những kiến thức, những kinh nghiệm quý báu trong suốt thời gian theo học tại trường, đặc biệt, người viết xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc đến giảng viên giảng dạy, hướng dẫn, giảng viên chính cô Lê Thị Nguyệt Châu đã giúp đỡ, hướng dẫn tận tình để người viết hoàn thành đề tài nghiên cứu luận văn tốt nghiệp này

Xin cảm ơn các tác giả của những bài viết, sách, báo, tạp chí mà người viết đã

sử dụng làm tài liệu nghiên cứu luận văn

Và sau cùng xin cảm ơn bạn bè những người đã chia sẻ, đã giúp đỡ người viết trong quá trình nghiên cứu luận văn tốt nghiệp, trong học tập và trong suốt chặn đường đã qua theo học tại Trường

Trong quá trình nghiên cứu, mặc dù có nhiều cố gắng song kiến thức của bản thân còn nhiều hạn chế và chưa có kinh nghiệm, nên sẽ không tránh khỏi những thiếu sót, vì vậy người viết mong quý thầy cô, độc giả bỏ qua những thiếu sót ấy và đóng góp thêm những ý kiến để hoàn thiện đề tài Người viết chân thành đón nhận, tiếp thu và cố gắng hoàn thiện

Một lần nữa người viết xin chân thành cảm ơn!

Cần thơ, ngày 9 tháng 12 năm 2014

Trang 5

MỤC LỤC

Trang

LỜI NÓI ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

3 Mục tiêu nghiên cứu 2

4 Phương pháp nghiên cứu 2

5 Kết cấu luận văn 3

CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT VỀ ĐỐI TƯỢNG NỘP THUẾ THU NHẬP 4

1.1 Khái quát chung về thuế thu nhập 4

1.1.1 Khái quát về thuế thu nhập cá nhân 4

1.1.2 Khái quát về thuế thu nhập doanh nghiệp 5

1.2 Mối quan hệ giữa thuế thu nhập cá nhân và thuế thu nhập doanh nghiệp 7

1.2.1 Thuế thu nhập cá nhân và thuế thu nhập doanh nghiệp, nguồn thu chủ yếu của Ngân sách Nhà nước 7

1.2.2 Thuế Thu nhập cá nhân và thuế Thu nhập doanh nghiệp góp phần phân bổ lại nguồn lực nhằm thực hiện tốt chương trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế 8

1.2.3 Thuế thu nhập cá nhân và thuế thu nhập doanh nghiệp có mối quan hệ bổ trợ cho nhau 10

1.3 Khái quát chung về Hiệp định tránh đánh thuế hai lần 11

1.3.1 Khái niệm Hiệp định tránh đánh thuế hai lần 11

1.3.2 Sự cần thiết của Hiệp định tránh đánh thuế hai lần và phạm vi áp dụng Hiệp định tránh đánh thuế hai lần 14

1.3.3 Các loại thuế được quy định trong Hiệp định tránh đánh thuế hai lần 15

1.3.4 Nguyên tắc áp dụng Hiệp định tránh đánh thuế hai lần 15

1.3.6 Thuế thu nhập cá nhân và thuế thu nhập doanh nghiệp trong mối quan hệ với Hiệp định tránh đánh thuế hai lần 16

1.4 Khái quát chung về đối tượng nộp thuế 16

1.4.1 Khái niệm về đối tượng nộp thuế 16

Trang 6

1.4.2 Quyền và nghĩa vụ của đối tượng nộp thuế 18

1.4.2.1 Quyền của đối tượng nộp thuế 18

1.4.2.2 Nghĩa vụ của đối tượng nộp thuế 20

1.5 Khái quát chung về người đối tượng thuế thu nhập 21

1.5.1 Đối tượng nộp thuế thu nhập cá nhân 21

1.5.2 Đối tượng nộp thuế thu nhập doanh nghiệp 22

1.5.3 Đối tượng cư trú của một Nước ký kết trong Hiệp định tránh đánh thuế hai

lần 22

1.6 Người nộp thuế thu nhập qua các thời kỳ 22

1.6.1 Đối tượng nộp thuế thu nhập cá nhân 23

1.6.1.1 Trước khi có luật thuế thu nhập cá nhân 23

1.6.1.2 Sau khi có luật thuế thu nhập cá nhân 24

1.6.2 Đối tượng nộp thuế thu nhập doanh nghiệp 24

1.6.2.1 Trước khi có luật thuế thu nhập doanh nghiệp 24

1.6.2.2 Sau khi có luật thuế thu nhập doanh nghiệp 24

CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG NỘP THUẾ THU NHẬP THEO QUY ĐỊNH HIỆN HÀNH – THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP 26

2.1 Đối tượng nộp thuế thu nhập cá nhân 26

2.1.1 Theo quy định của luật thuế thu nhập cá nhân 26

2.1.1.1 Đối tượng nộp thuế là cá nhân cư trú, cá nhân không cư trú 27

2.1.1.2 Đối tượng nộp thuế trong một số trường hợp cụ thể 29

2.1.2 Theo Hiệp định tránh đánh thuế hai lần 31

2.1.2.1 Đối tượng cư trú của Việt Nam 31

2.1.2.2 Đối tượng vừa là đối tượng cư trú của Việt Nam vừa là đối tượng cư trú của Nước ký kết Hiệp định với Việt Nam 31

2.1.3 Thực trạng 32

2.1.4 Đánh giá 32

2.1.4.1 Thành tựu 32

2.1.4.2 Hạn chế 34

Trang 7

2.1.5 Giải pháp hoàn thiện 36

2.2 Đối tượng nộp thuế thu nhập doanh nghiệp 37

2.2.1 Theo quy định của Luật thuế thu nhập doanh nghiệp 37

2.2.1.1 Doanh nghiệp được thành lập theo quy định của pháp luật Việt Nam 38

2.2.1.2 Doanh nghiệp được thành lập theo quy định của pháp luật nước ngoài (sau đây gọi là doanh nghiệp nước ngoài) có cơ sở thường trú hoặc không có cơ sở thường trú tại Việt Nam 38

2.2.1.3 Tổ chức được thành lập theo Luật hợp tác xã 39

2.2.1.4 Đơn vị sự nghiệp được thành lập theo quy định của pháp luật Việt Nam 39

2.1.1.5 Tổ chức khác có hoạt động sản xuât, kinh doanh có thu nhập 40

2.2.2 Theo Hiệp định tránh đánh thuế hai lần 41

2.2.2.1 Đối tượng cư trú của Việt Nam 41

2.2.2.2 Đối tượng vừa là đối tượng cư trú của Việt Nam vừa là đối tượng cư trú của Nước ký kết Hiệp định với Việt Nam 41

2.2.3 Thực trạng 42

2.2.4 Đánh giá 43

2.2.4.1 Thành tựu 43

2.2.4.2 Hạn chế 46

2.2.5 Giải pháp hoàn thiện 48

2.3 Đánh giá và đề xuất chung 49

2.3.1 Đánh giá và đề xuất chung về tên gọi đối tượng nộp thuế thu nhập và tên gọi người nộp thuế 49

2.3.1.1 Đánh giá 49

2.3.1.2 Đề xuất 50

2.3.2 Đánh giá và đề xuất chung về đối tượng nộp thuế 51

2.3.2.1 Đánh giá 51

2.3.2.2 Đề xuất 52

2.3.2.3 Kinh nghiệm từ quy định thuế thu nhập của Hoa Kỳ 52

KẾT LUẬN 54

Trang 8

LỜI NÓI ĐẦU

tế, chính trị, xã hội nhất định Tuy nhiên cũng không nằm ngoài xu thế chung của thế giới, trong những năm gần đây Nhà nước đã quan tâm đến việc điều tiết trực tiếp vào thu nhập của các chủ thể có thu nhập Sự đóng góp của thuế thu nhập ngày càng chiếm tỷ trọng cao trong tổng nguồn thu Ngân sách Nhà nước Khi đất nước phát triển, thu nhập theo đầu người và số lượng doanh nghiệp cùng tăng lên thì thuế thu nhập cá nhân và thuế thu nhập doanh nghiệp cũng tăng theo Tại Việt Nam, thuế

trò quan trọng như thế, nên Luật Thuế thu nhập cá nhân và Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp luôn giành được sự quan tâm không chỉ của các nhà làm luật mà còn của đối tượng nộp thuế Tuy cùng là nhóm thuế đánh vào thu nhập của đối tượng nộp thuế song việc phân định đối tượng nào là đối tượng nộp thuế thu nhập cá nhân

và đối tượng nào là đối tượng nộp thuế thu nhập doanh nghiệp là hết sức cần thiết, tránh tình trạng đánh thuế hai lần và ngăn ngừa việc trốn thuế

Trong bối cảnh vai trò của thuế thu vào hàng hóa ngày càng giảm xuống (do yêu cầu của quá trình hội nhập cũng như chính sách khuyến khích nền kinh tế hàng hóa phát triển) thì thuế thu vào thu nhập giữ vai trò ngày càng quan trọng là điều tất

yếu, nên việc nghiên cứu “Pháp luật về đối tượng nộp thuế thu nhập” sẽ có ý

nghĩa cả về mặt lý luận cũng như thực tiễn Đây cũng là lý do người viết chọn đề tài này cho luận văn tốt nghiệp của mình

2 Phạm vi nghiên cứu

Trong quá trình nghiên cứu đề tài, do tính dàn trải của đề tài nên số tài liệu tham khảo cũng như sử dụng trong quá trình nghiên cứu tương đối nhiều song nội dung dùng cho việc nghiên cứu thì tương đối ít, việc đi sâu phân tích cụ thể từng

1 Trường Đại học Luật TP Hồ Chí Minh, Giáo trình Luật thuế, NXB Hồng Đức – Hội Luật gia Việt Nam,

năm 2012, Tr 259

Trang 9

vấn đề gặp nhiều khó khăn, theo quy định của Luật Quản lý thuế năm 2006 nội dung người nộp thuế bao gồm đối tượng nộp thuế và các đối tượng khác như: tổ chức, cá nhân khấu trừ thuế; tổ chức cá nhân làm thủ tục về thuế thay người nộp thuế Tuy nhiên, trong phạm vi đề tài này người viết chỉ tập trung nghiên cứu những trường hợp mà nội hàm khái niệm người nộp thuế và đối tượng nộp thuế là giống nhau đối với những quy định về đối tượng nộp thuế thu nhập cá nhân trong Luật Thuế thu nhập cá nhân, đối tượng nộp thuế thu nhập doanh nghiêp trong Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp và đối tượng cư trú của một nước ký kết trong các Hiệp định tránh đánh thuế hai lần mà Việt Nam đã ký

3 Mục tiêu nghiên cứu

Trước hết, người viết nghiên cứu đề tài này nhằm làm rõ quy định pháp luật về đối tượng nộp thuế thu nhập cá nhân và đối tượng nộp thuế thu nhập doanh nghiệp, thông qua đó độc giả, đặc biệt là các cá nhân và doanh nghiệp hiểu hơn về nội dung đối tượng nộp thuế thu nhập Trong quá trình nghiên cứu, Người viết ghi nhận những điểm chưa phù hợp, tồn tại về đối tượng nộp thuế thu nhập giữa các quy định trong Luật thuế thu nhập cá nhân, Luật thuế thu nhập doanh nghiệp Cuối cùng đưa

ra những kiến nghị, giải pháp đối với những vấn đề tồn tại Mục đích cuối cùng và lớn nhất của việc nghiên cứu này là đóng góp một phần nhỏ trong việc hoàn thiện

hệ thống pháp luật về đối tượng nộp thuế thu nhập để đảm bảo quyền lợi và tạo sự bình đẳng đối với cá nhân và doanh nghiệp trong việc thực hiện nghĩa vụ thuế

4 Phương pháp nghiên cứu

Trong mỗi bài nghiên cứu đều có những phương pháp nghiên cứu khác nhau

để đưa đến kết quả như mong muốn của quá trình nghiên cứu, cũng không ngoại lệ, trong đề tài này người viết sử dụng phương pháp liệt kê; phương pháp phân tích luật viết, phương pháp so sánh, tổng hợp; phương pháp thu thập và xử lý thông tin; phương pháp nghiên cứu tài liệu Cụ thể người viết đã liệt kê các Hiệp định mà Việt Nam đã ký kết cũng như liệt kê các đối tượng nộp thuế thu nhập, quyền và nghĩa vụ của người nộp thuế, phân tích những quy định đối tượng nộp thuế của Luật thuế thu nhập và đối tượng cư trú của Việt Nam trong các Hiệp định, sau đó so sánh, đánh giá sự thống nhất, mâu thuẫn của các quy định đó, bên cạnh phương pháp nghiên cứu tài liệu cũng cần phải thu thập, tổng hợp và xử lý thông tin từ những nguồn tài liệu khác nhau để hoàn thành đề tài Ngoài ra, người viết cũng sử dụng các phương

Trang 10

pháp phân tích luật viết như phương pháp xây dựng tam đoạn luận, phương pháp suy lý mạnh để nghiên cứu đề tài này

5 Kết cấu luận văn

Bên cạnh lời cảm ơn, lời mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo thì nội dung luận văn gồm 2 chương như sau:

Chương 1: Khái quát về đối tượng nộp thuế thu nhập

Chương 2: Đối tượng nộp thuế thu nhập theo quy định hiện hành – Thực trạng

và giải pháp

Trang 11

CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT VỀ ĐỐI TƯỢNG NỘP THUẾ

THU NHẬP

Ở chương này, người viết trình bày khái quát về thuế thu nhập, về Hiệp định tránh đánh thuế hai lần qua đó đánh giá một cách tổng quát mối quan hệ giữa thuế thu nhập cá nhân và thuế thu nhập doanh nghiệp, cũng như thuế thu nhập doanh nghiệp và thuế thu nhập cá nhân trong mối quan hệ với Hiệp định tránh đánh thuế hai lần Quan trọng hơn, người viết sẽ trình bày một cách khái quát về đối người nộp thuế nói chung và đối tượng nộp thuế thu nhập nói riêng, nhằm làm rõ các quy định pháp luật hiện hành về đối tượng nộp thuế thu nhập Bên cạnh đó, người viết cũng trình bày về đối tượng nộp thuế thu nhập qua các thời kỳ trước và sau khi có Luật thuế thu nhập cá nhân và Luật thuế thu nhập doanh nghiệp để thấy được sự hình thành và phát triển của đối tượng nộp thuế thu nhập

1.1 Khái quát chung về thuế thu nhập

Thuế thu vào thu nhập được xem là loại thuế mà Nhà nước đánh vào thu nhập thực tế của các chủ thể nhằm điều tiết một phần thu nhập của các tổ chức, cá nhân vào Ngân sách Nhà nước với mục đích tạo nguồn thu cho Ngân sách Nhà nước và thực hiện công bằng xã hội

1.1.1 Khái quát về thuế thu nhập cá nhân

Thuế thu nhập cá nhân là loại thuế trực thu điều tiết vào thu nhập chịu thuế của

Thuế thu nhập cá nhân có những đặc điểm sau đây:

Thứ nhất, Thuế thu nhập cá nhân là loại thuế trực thu nên đối tượng nộp thuế

cũng là đối tượng chịu thuế Vì vậy, đối tượng nộp thuế khó có thể chuyển gánh

vì nó liên quan trực tiếp đến lợi ích của đối tượng nộp thuế

2 Trường Đại học Luật TP Hồ Chí Minh , Giáo trình Luật thuế, NXB Hồng Đức - Hội Luật gia Việt Nam,

năm 2012, Tr 301

Trang 12

Thứ hai, Thuế thu nhập cá nhân mang tính chất lũy tiến so với thu nhập, thuế

suất được thiết kế theo lũy tiến từng phần nhằm đảm bảo tính công bằng giữa những đối tượng nộp thuế

Thứ ba, Thuế thu nhập cá nhân là một loại thuế phức tạp Việc quản lý thuế,

thu thuế, đòi hỏi trình độ kỹ thuật cao, chi phí quản lý lớn Cơ quan quản lý thuế phải nắm được các nguồn thu nhập của đối tượng chịu thuế, tình trạng cư trú của họ

Thứ tư, Thuế thu nhập cá nhân có diện đánh thuế rất rộng, thể hiện trên hai

khía cạnh: một là, đối tượng đánh thuế thu nhập cá nhân là toàn bộ các khoản thu nhập của cá nhân thuộc diện đánh thuế, không phân biệt thu nhập đó có nguồn gốc phát sinh trong nước hay ở nước ngoài; hai là, đối tượng phải kê khai nộp thuế thu nhập cá nhân là toàn bộ những người có thu nhập, bao gồm tất cả công dân của nước sở tại và những người nước ngoài cư trú thường xuyên hay không thường xuyên nhưng có số ngày có mặt, làm việc, có thu nhập theo mức độ quy định của pháp luật về thuế thu nhập cá nhân

Thứ năm, Nhà nước có thể sử dụng loại thuế này để khuyến khích làm việc

hay nghỉ ngơi thông qua biểu thuế Ví dụ như, Nhà nước có thể khuyến khích người lao động làm thêm giờ, tăng thu nhập bằng cách đánh thuế nhẹ hoặc không đánh thuế lên khoảng thu nhập tăng thêm do làm thêm giờ hoặc có thể khuyến khích nghỉ ngơi bằng cách đánh thuế nặng lên khoản thu nhập này Nhà nước cũng có thể khuyến khích người dân đầu tư hay không đầu tư, tiết kiệm hay không tiết kiệm thông qua việc đánh thuế thu nhập đối với thu nhập từ hoạt động đầu tư, thu nhập từ lãi tiết kiệm

1.1.2 Khái quát về thuế thu nhập doanh nghiệp

Dưới góc độ pháp lý, pháp luật thuế thu nhập doanh nghiệp là tập hợp các quy phạm pháp luật do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành hoặc thừa nhận điều chỉnh những quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình thực hiện các quyền và nghĩa

3 Lê Thị Nguyệt Châu, Giáo trình Luật Tài chính, Khoa Luật, Trường Đại học Cần Thơ, năm 2009, Tr 26

4 Lê Thị Nguyệt Châu, Giáo trình Luật Tài chính, Khoa Luật, Trường Đại học Cần Thơ, năm 2009, Tr 51

Trang 13

vụ thuế đối với những khoản thu nhập có được từ hoạt động sản xuất kinh doanh

Thuế thu nhập doanh nghiệp có những đặc điểm sau đây:

Thứ nhất, Thuế thu nhập doanh nghiệp là loại thuế trực thu, đánh vào thu nhập

chịu thuế trong kỳ tính thuế của doanh nghiệp, đối tượng nộp thuế thu nhập doanh nghiệp là các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác nhau đồng thời cũng

là đối tượng chịu thuế Được xem là loại thuế trực thu nhưng đôi khi đối tượng nộp thuế thu nhập doanh nghiệp có thể chuyển gánh nặng về thuế cho các đối tượng khác Thuế thu nhập doanh ngiệp có thể chuyển qua cho cổ đông, cho người tiêu dùng hoặc cho cả người lao động trong doanh nghiệp

Thứ hai, Thuế thu nhập doanh nghiệp đánh vào lợi nhuận của doanh nghiệp

Đó là phần thu nhập hợp pháp từ hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ

và các hoạt động khác của doanh nghiệp sau khi đã trừ đi các chi phí hợp lý Vì thuế thu nhập doanh nghiệp là loại thuế đánh vào lợi nhuận của các cơ sở sản xuất kinh doanh nên mức động viên của Ngân sách Nhà nước đối với loại thuế này phụ thuộc rất lớn vào hiệu quả kinh doanh cũng như quy mô lợi nhuận của doanh nghiệp Doanh nghiệp có thu nhập chịu thuế cao sẽ phải nộp thuế nhiều, ngược lại những doanh nghiệp có thu nhập thấp hoặc gặp khó khăn sẽ được nộp thuế ít, thậm chí được giảm thuế, miễn thuế Ngoài ra, thuế thu nhập doanh nghiệp thường gắn với chính sách kinh tế - xã hội của đất nước trong từng thời kỳ do đó thuế thu nhập doanh nghiệp có tính ổn định không cao

Thứ ba, Ở các nước đang phát triển như Việt Nam, thuế thu nhập doanh

nghiệp dễ thu hơn so với thuế thu nhập cá nhân Việc quản lý thuế đối với doanh nghiệp có thể dựa trên hồ sơ đăng ký kinh doanh và số lượng doanh nghiệp bao giờ

ít hơn số lượng cá nhân trong quốc gia cho nên dễ quản lý Ở các nước phát triển,

nhập cá nhân Ở các quốc gia này, doanh nghiệp hầu hết là doanh nghiệp tư nhân và công ty cổ phần cho nên người chịu thuế thực tế là chủ doanh nghiệp tư nhân hoặc

cổ đông Những người này chỉ nhận được lợi tức từ hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp sau khi doanh nghiệp đã nộp thuế thu nhập doanh nghiệp cho Nhà

5 Trường Đại học Luật TP Hồ Chí Minh ,Giáo trình Luật thuế , NXB Hồng Đức - Hội Luật gia V iệt Nam,

năm 2012, Tr 269

Trang 14

nước Khoản lợi tức nhận được từ thu nhập của doanh nghiệp sẽ được tính vào thu nhập chịu thuế thu nhập cá nhân Để giảm tình trạng thuế chồng thuế thì các quốc gia có thể cho phép khấu trừ phần thuế thu nhập doanh nghiệp đã đóng hoặc đánh

1.2 Mối quan hệ giữa thuế thu nhập cá nhân và thuế thu nhập doanh nghiệp

1.2.1 Thuế thu nhập cá nhân và thuế thu nhập doanh nghiệp, nguồn thu chủ yếu của Ngân sách Nhà nước

Xuất phát từ nguồn gốc xuất hiện thuế và vai trò của thuế trong kết cấu nguồn thu ngân sách, bất kỳ quốc gia nào cũng mong muốn đạt tới số thu từ thuế ngày càng tăng Qua kết quả nghiên cứu về lịch sử phát triển của thuế qua các thời kỳ của các quốc gia, có thể thấy, nguồn thu từ thuế chiếm phần lớn trong tổng số thu Ngân sách Nhà nước Hệ thống pháp luật thuế đang tạo cơ sở pháp lý cho việc hình thành nguồn thu ổn định với tỷ trọng ngày càng tăng trong tổng số thu Ngân sách Nhà nước Nguồn thu từ thuế đã góp phần đảm bảo được nguyên tắc cân đối các khoản thu từ thuế, phí, lệ phí và các khoản thu bắt buộc khác, không những đảm bảo chi trả cho toàn bộ các khoản chi thường xuyên mà còn đáp ứng được một phần cho chi đầu tư phát triển Tuy nhiên, với việc nước ta đã, đang và sẽ thực hiện những cam kết về kinh tế với quốc tế trong thời gian sắp tới, nguồn thu từ thuế có nguy cơ sẽ bị giảm mạnh Đặc biệt, khi Việt Nam đã là thành viên chính thức của tổ chức Thương mại thế giới (WTO), hàng loạt các loại thuế như thuế xuất khẩu, nhập khẩu, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế giá trị gia tăng bị giảm nguồn thu đáng kể Do đó, việc ban hành Luật Thuế thu nhập cá nhân năm 2007 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2012 và Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp năm 2008 sửa đổi, bổ sung năm 2013 đã góp phần giải quyết được khó khăn trên Trước hết, hai luật thuế thu nhập trên đã đảm bảo được nguồn thu cho Ngân sách Nhà nước trước tình trạng cắt giảm thuế quan như hiện nay Bên cạnh đó, Luật Thuế thu nhập cá nhân và Luật thuế Thu nhập doanh nghiệp đã có nhiều sửa đổi, bổ sung so với trước đây Với việc thay đổi Pháp lệnh thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao, Luật Thuế thu nhập cá nhân đã bổ sung thêm nhiều nguồn thu mà trước đó Pháp lệnh chưa điều chỉnh như các khoản thu từ cho vay, chuyển nhượng vốn… Đồng thời, việc áp dụng cách tính thuế, và mức thuế suất khác nhau đối với những khoản thu nhập khác nhau như thu nhập từ

6 Lê Thị Nguyệt Châu, Giáo trình Luât Tài chính 2 (Thuế), Khoa luật, Trường Đại học Cần Thơ, năm 2009,

Tr 51

Trang 15

đầu tư vốn, thu nhập từ chuyển nhượng vốn đã góp phần điều tiết hợp lý nguồn thu

từ cá nhân, doanh nghiệp cho Ngân sách Nhà nước và ngày càng phù hợp hơn với thông lệ quốc tế về việc điều tiết thu nhập trong dân cư Riêng đối với thu nhập doanh nghiệp, mặc dù, mức thuế suất áp dụng của Luật này hiện là 22%, thấp hơn mức thuế suất tương ứng trong Luật thuế Thu nhập doanh nghiệp năm 2003 la 28% nhưng khoản thu được từ thuế Thu nhập doanh nghiệp có phần tăng hơn so với trước đây.7

Hiện nay, nước ta đang trong giai đoạn đẩy nhanh phát triển kinh tế, vận động mọi công dân thực hiện kinh tế tư nhân, hộ gia đình Do đó, Nhà nước đã đưa ra nhiều chính sách ưu đãi đầu tư, nhằm thu hút các nhà đầu tư trong và ngoài nước đầu tư vào những ngành, lĩnh vực mà Nhà nước đang cần Chính vì vậy, các nguồn thu từ thuế thu nhập cá nhân và thuế thu nhập doanh nghiệp phải là nguồn thu cơ bản và chủ đạo của ngân sách, đảm bảo nguồn tài chính dồi dào cho Ngân sách Nhà nước

1.2.2 Thuế Thu nhập cá nhân và thuế Thu nhập doanh nghiệp góp phần phân

bổ lại nguồn lực nhằm thực hiện tốt chương trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế

Trước hết, ta cần làm rõ khái niệm cơ cấu kinh tế là gì Vì sao nước ta phải thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế Theo Karl Marx (1818 – 1883) cơ cấu kinh tế của xã hội là toàn bộ những quan hệ sản xuất phù hợp với quá trình phát triển nhất định của các lực lượng sản xuất vật chất Đồng thời, Marx cũng nhấn mạnh, khi phân tích cơ cấu, phải chú ý đến cả hai khía cạnh là chất lượng và số lượng, cơ cấu chính là sự phân chia về chất và tỉ lệ về số lượng của những quá trình sản sản xuất

xã hội Như vậy, cơ cấu kinh tế là tổng thể các ngành, lĩnh vực, bộ phận kinh tế với

vị trí, tỉ trọng tương ứng của chúng và mối quan hệ hữu cơ tương đối ổn định hợp thành

Các nhân tố ảnh hưởng đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế

Thứ nhất, Nhóm nhân tố tác động từ bên trong

+ Nhân tố thị trường và nhu cầu tiêu dùng của xã hội;

+ Trình độ phát triển của lực lượng sản xuất;

7 Báo cáo ngân sách hàng năm,

http://www.mof.gov.vn/portal/page/portal/mof_vn/1351583/2126549/2117088 , [Truy cập ngày 02/12/2014]

Trang 16

+ Quan điểm chiến lược, mục tiêu phát triển kinh tế của đất nước trong mỗi giai đoạn nhất định;

+ Cơ chế quản lý ảnh hưởng đến quá trình hình thành và chuyển dịch cơ cấu kinh tế

Mọi hoạt động của nền kinh tế đều có sự điều tiết của Nhà nước, song không phải Nhà nước can thiệp trực tiếp vào quá trình sản xuất, kinh doanh của các đơn vị kinh tế Nhà nước điều hành thông qua hệ thống pháp luật và các chính sách kinh tế Đối với những sản phẩm, ngành, lĩnh vực cần khuyến khích, Nhà nước giảm thuế hoặc quy định thuế suất thấp để người sản xuất có lợi nhuận cao, còn đối với những ngành, nghề, lĩnh vực cần hạn chế, Nhà nước sẽ quy định mức thuế suất cao nhằm hạn chế các nhà đầu tư, đầu tư phát triển Những ngành, nghề hoặc lĩnh vực không

ai muốn đầu tư, sản xuất nhưng sản phẩm của nó rất cần cho xã hội thì Nhà nước tự đầu tư, tự tổ chức sản xuất Nhà nước cũng có thể khuyến khích lao động chuyển đến các nơi có tài nguyên, có nhu cầu lao động thông qua các chính sách kinh tế -

xã hội Ngược lại, khi Nhà nước muốn hạn chế tình trạng di dân thì phải đầu tư phát triển các thị xã, thị trấn đề có điều kiện sinh hoạt vật chất và tinh thần tương đương như các đô thị lớn

Sự tác động của cơ chế quản lý sẽ thực hiện được cơ cấu sản xuất, cơ cấu dân

cư, tạo ra sự cân đối lực lượng lao động và thu nhập giữa các vùng và giảm bớt khoảng cách giàu nghèo giữa thành thị và nông thôn

Thứ hai, Nhóm nhân tố tác động từ bên ngoài

+ Xu thế chính trị, xã hội trong khu vực và thế giới ảnh hưởng đến sự hình thành và chuyển dịch cơ cấu kinh tế;

+ Xu thế toàn cầu hóa kinh tế, quốc tế hóa hoạt động sản xuất

Một đất nước muốn phát triển được toàn diện, bền vững phải có một cơ cấu kinh tế hợp lý, do đó, mục tiêu mà chuyển dịch cơ cấu kinh tế hướng tới là thu nhập của các chủ thể kinh tế của quốc gia không ngừng tăng lên, rút ngắn khoảng cách giàu nghèo giữa thành thị và nông thôn, phát triển kinh tế đất nước Muốn làm được điều đó, Nhà nước phải có nhiều đòn bẩy có hiệu quả để đẩy nhanh quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa – hiện đại hóa, đặc biệt là với chính sách của thuế thu nhập cá nhân và thuế thu nhập doanh nghiệp

Trang 17

Với việc thiết kế và xây dựng hệ thống chính sách thuế có sự phân biệt theo ngành, vùng khác nhau, Nhà nước có thể thúc đẩy phát triển nhiều ngành nghề kinh

tế mũi nhọn, then chốt và các vùng kinh tế trọng điểm, góp phần khuyến khích chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa – hiện đại hóa

Thuế thu nhập doanh nghiệp là loại thuế mà Nhà nước có thể sử dụng để khuyến khích đầu tư, đổi mới công nghệ Với chính sách ưu đãi qua thuế suất, thời gian miễn, giảm thuế của thuế thu nhập doanh nghiệp, Nhà nước có thể khuyến khích các nhà đầu tư trong nước cũng như nhà đầu tư nước ngoài đầu tư vào những ngành, lĩnh vực, địa bàn ưu đãi đầu tư như các cơ sở mới thành lập, đầu tư ở miền núi, hải đảo và các vùng có nhiều khó khăn để khuyến khích thực hiện định hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế của Đảng và Nhà nước

Bên cạnh đó, với chính sách thuế thu nhập cá nhân, Nhà nước có thể sử dụng

để điều tiết vĩ mô nền kinh tế bằng cách khuyến khích làm việc hay nghỉ ngơi thông qua việc thu hay không thu thuế đối với những khoản thu nhập tư kinh doanh, đầu tư… Đồng thời, với thuế suất lũy tiến từng phần, cá nhân có thu nhập đến mức chịu thuế mới nộp thuế và thu nhập càng cao thì mức thuế suất áp dụng cũng càng cao, góp phần điều tiết thu nhập trong dân cư, hạn chế việc phân hóa giàu nghèo trong

đối tượng chịu thuế là thu nhập có được của các cá nhân bao gồm thu nhập từ hoạt động sản xuất, kinh doanh, thu nhập từ tiền lương, tiền công, thu nhập từ đầu tư

8 Luật thuế thu nhập doanh nghiệp năm 2008 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của luật thuế thu nhập

doanh nghiệp năm 2013, Điều 3

Trang 18

vốn, thu nhập từ chuyển nhượng vốn…9 Mỗi sắc thuế đều hướng đến cho mình một đối tượng điều chỉnh riêng, độc lập với nhau, tuy nhiên, cả thuế thu nhập cá nhân và thuế thu nhập doanh nghiệp cùng tham gia điều chỉnh đối với thu nhập từ kinh doanh, thu nhập từ đầu tư vốn và thu nhập từ chuyển nhượng vốn của cá nhân và tổ chức Do đó, giữa hai sắc thuế đều có mối liên hệ, liên kết với nhau và bổ trợ cho nhau nhằm giúp cả hai được hoàn chỉnh và thực thi có hiệu quả hơn trên thực tế, tránh tình trạng bỏ sót nguồn thu cho Ngân sách Nhà nước cũng như tránh được tình trạng đánh chồng thuế, đảm bảo được tính thống nhất cho hệ thống pháp luật về thuế thu nhập.10

1.3 Khái quát chung về Hiệp định tránh đánh thuế hai lần

1.3.1 Khái niệm Hiệp định tránh đánh thuế hai lần

Về phương diện pháp luật: là một cam kết quốc tế, hay một văn bản pháp lý

song phương do hai quốc gia hay vùng lãnh thổ ký kết, quy định giới hạn quyền đánh thuế của từng nước tham gia Hiệp định trong khuôn khổ pháp lý của Hiệp định đối với một đối tượng nộp thuế trên cùng một khoản thu nhập chịu thuế, khi đối tượng nộp thuế thực hiện các hoạt động vượt ra khỏi phạm vi lãnh thổ của một nước

Về phương diện kinh tế: Hiệp định tránh đánh thuế hai lần là một thỏa thuận

được ký kết giữa một bên là nước đầu tư với Việt Nam với tư cách là nước tiếp nhận đầu tư và ngược lại, nhằm phân chia nguồn thu của Ngân sách Nhà nước Việt Nam với nước đầu tư hay tiếp nhận đầu tư từ thuế đối với các khoản thu nhập phát sinh từ hoạt động đầu tư; chuyển giao công nghệ và phân công lao động

Về phương diện quản lý: Hiệp định tránh đánh thuế hai lần là biện pháp mở

rộng quan hệ ngoại giao, tăng cường hợp tác giao lưu kinh tế, văn hóa – xã hội giữa các quốc gia ký kết, và nâng cao hiệu quả quản lý Nhà nước trên phạm vi quốc tế Hiệp định có quy định: Với chức năng hợp tác trong việc quản lý các tổ chức kinh doanh xuyên quốc gia cần trao đổi thông tin quản lý và xử lý tranh chấp giữa các

9 Luật thuế thu nhập cá nhân năm 2007 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế thu nhập cá nhân năm 2012, Điều 3

10 Sẽ được trình bày cụ thể ở Chương 2

11 Trường Đại học luật Hà Nội: Giáo trình luật thuế Việt Nam, NXB Tư pháp, năm 2005, Tr 227

Trang 19

quốc gia Đây là biện pháp khởi đầu không những đối với chính sách thuế mà còn năng cao hiệu quả quản lý của Việt Nam

Hiệp định tránh đánh thuế hai lần là văn kiện pháp lý song phương trong đó đưa ra một khuôn khổ để các nước phân chia quyền lợi về thuế từ đối tượng nộp thuế hoạt động qua phạm vi lãnh thổ của một nước

Các Hiệp định tránh đánh thuế hai lần giữa Việt Nam và các nước: Đến tháng

5 năm 2013, theo thống kê của Tổng Cục Thuế thì Việt Nam đã ký kết Hiệp định tránh đánh thuế hai lần giữa Việt Nam với 69 quốc gia, vùng lãnh thổ (cả Hiệp định đang có hiệu lực và chưa có hiệu lực) nhằm tạo ra một môi trường pháp lý về thuế

Các Hiệp định tránh đánh thuế hai lần đã ký kết:

Trang 20

Bê-ga-oan (Bru-nây)

01/01/2009

Trang 21

1.3.2 Sự cần thiết của Hiệp định tránh đánh thuế hai lần và phạm vi áp dụng Hiệp định tránh đánh thuế hai lần

Bắt đầu từ thế kỷ XX, cùng với sự phát triển của cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật, nền kinh tế thế giới đã có sự chuyển biến sâu sắc, sự áp dụng các thành tựu khoa học, kỹ thuật là động lực cơ bản làm thay đổi và tăng nhanh năng suất lao động, lực lượng sản xuất ngày càng phát triển và mang tính xã hội hóa cao Các quốc gia đã nhận thức rõ sự phát triển của mỗi dân tộc phải đặt trong sự phát triển chung của thời đại trong mối quan hệ kinh tế toàn cầu Đầu tư quốc tế là sự di chuyển các phương tiện đầu tư như tiền vốn, tài sản, kỹ thuật công nghệ… từ nước này sang nước khác để kinh doanh tìm kiếm lợi nhuận Các nhà đầu tư sẽ quyết định đầu tư vào những nơi thu được nhiều lợi nhuận cũng như có khả năng chiếm lĩnh được thị trường… Do đó, chính sách thuế là một nhân tố quan trọng được các nhà đầu tư quan tâm Bởi lẽ, nghĩa vụ về thuế của nhà đầu tư không chỉ được quy

Trang 22

định bởi chính sách, pháp luật thuế tại quốc gia, vùng lãnh thổ mà họ đến đầu tư Như vậy, về mặt pháp lý, nhà đầu tư vừa thực hiện nghĩa vụ nộp thuế đối với quốc gia của mình, vừa phải thực hiện nghĩa vụ thuế đối với quốc gia nơi thực hiện đầu

tư, dẫn đến việc các nhà đầu tư phải chịu thuế nhiều lần đối với một khoản thu nhập Để bảo đảm quyền lợi của nhà đầu tư cũng như phân chia quyền lợi về thuế giữa các quốc gia liên quan, họ cần có một giải pháp hợp lý để xử lý vấn đề này Trong bối cảnh đó, Chính phủ các nước thống nhất ký kết Hiệp định tránh đánh thuế hai lần và ngăn ngừa việc trốn thuế đối với thuế đánh vào thu nhập và tài sản Hiệp định nhằm không thu thuế trùng đối với thu nhập của nhà đầu tư ở các quốc gia khác nhau Loại thuế được áp dụng trong Hiệp định là thuế trực thu như thuế thu nhập cá nhân, thuế thu nhập doanh nghiệp… Nội dung của Hiệp định tránh đánh thuế hai lần còn đề cập việc xác định quyền đánh thuế được phân chia giữa hai nước như thế nào hoặc quyền đánh thuế được dành hoàn toàn cho một trong hai nước (nếu áp dụng biện pháp miễn thuế) Khi quyền đánh thuế được phân định trong Hiệp định, hai nước căn cứ vào luật của nước có quyền đánh thuế để xác định chế độ đánh thuế trên thu nhập đó

1.3.3 Các loại thuế được quy định trong Hiệp định tránh đánh thuế hai lần

sản được quy định cụ thể tại từng Hiệp định

Trong trường hợp của Việt Nam, các loại thuế thuộc phạm vi áp dụng Hiệp định là:

+ Thuế thu nhập cá nhân

+ Thuế thu nhập doanh nghiệp

Trong trường hợp của nước ký kết Hiệp định với Việt Nam, các loại thuế áp dụng Hiệp định được quy định cụ thể tại Điều 2 của Hiệp định (thường là khoản 3 của Điều 2)

1.3.4 Nguyên tắc áp dụng Hiệp định tránh đánh thuế hai lần

13 Thông tư số 205/2013/TT-BTC ngày 24 tháng 12 năm 2013 hướng dẫn thực hiện các Hiệp định tránh đánh thuế hai lần và ngăn ngừa việc tronns lậu thuế đối với các loại thuế đánh vào thu nhập và tài sản giữa Việt Nam với các nước và vùng lãnh thổ có hiệu lực thi hành tại Việt Nam, Chương I Mục 2

Trang 23

+ Trường hợp có sự khác nhau giữa quy định tại Hệp định và các quy định tại luật thuế trong nước, quy định Hiệp định sẽ được ưu tiên áp dụng

+ Hiệp định không tạo ra các nghĩa vụ thuế mới, khác, hoặc nặng hơn so với luật thuế trong nước Ví dụ, trường hợp tại Hiệp định có các quy định mà theo đó Việt Nam có quyền thu thuế đối với một loại thu nhập nào đó nhưng Luật thuế Việt Nam chưa có quy định thu thuế đối với thu nhập đó hoặc quy định thu với mức thấp hơn thì áp đụng theo quy định của Luật thuế Việt Nam

+ Khi Việt Nam thực hiện các quy định tại Hiệp định, vào từng thời điểm nhất định các từ ngữ chưa được định nghĩa trong Hiệp định sẽ có nghĩa như quy định tại Luật của Việt Nam theo mục đích tại thời điểm đó, trừ trường hợp ngữ cảnh đòi hỏi

có sự giải thích khác

1.3.6 Thuế thu nhập cá nhân và thuế thu nhập doanh nghiệp trong mối quan

hệ với Hiệp định tránh đánh thuế hai lần

Hiệp định tránh đánh thuế hai lần dùng để xác định đối tượng cư trú các nước

ký kết Hiệp định Đồng thời, Hiệp định chủ yếu điều chỉnh thuế đánh vào thu nhập Các Hiệp định tránh đánh thuế nhằm loại bỏ hoặc giảm việc đánh thuế hai lần đối với một số khoản thu của đối tượng nộp thuế Việc đánh thuế trùng được xem như rào cản thương mại, là trở ngại đối với tự do hóa giao lưu, hợp tác kinh tế Vì vậy, với mục đích là loại bỏ trở ngại trên, Hiệp định tránh đánh thuế hai lần góp phần thúc đẩy hoạt động đầu tư, trao đổi thương mại, kinh tế giữa các nước ký kết

1.4 Khái quát chung về đối tượng nộp thuế

Đối tượng nộp thuế là một chủ thể tham gia quan hệ pháp luật thuế Việc quy định rõ ràng về đối tượng nộp thuế có ý nghĩa quan trọng trong việc thực hiện tốt các quyền và nghĩa vụ thuế của chủ thể này

1.4.1 Khái niệm về đối tượng nộp thuế

Đối tượng nộp thuế là các chủ thể có nghĩa vụ nộp thuế theo luật định Nếu

không thực hiện nghĩa vụ này hoặc thực hiện không đúng sẽ chịu các chế tài pháp luật.14

14 Trường Đại học Luật TP Hồ Chí Minh , Giáo trình Luật Thuế, NXB Hồng Đức – Hội Luật gia Việt Nam,

năm 2012, Tr 50

Trang 24

Việc xác định đâu là đối tượng nộp thuế là việc không hề dễ dàng trong các văn bản pháp luật về thuế Để nhận diện sự khác biệt giữa đối tượng nộp thuế và các

Thứ nhất, Mỗi sắc thuế khác nhau có đối tượng nộp thuế khác nhau phụ thuộc

vào bản chất của sắc thuế đó

Thứ hai, Để trở thành đối tượng nộp thuế của một sắc thuế cụ thể, chủ thể đó

phải có hành vi tác động lên đối tượng chịu thuế làm phát sinh nghĩa vụ thuế

Thứ ba, Theo pháp luật thuế Việt Nam, đối tượng nộp thuế là các tổ chức và cá

nhân Sở dĩ pháp luật không sử dụng thuật ngữ “pháp nhân và cá nhân” bởi không phải mọi tổ chức đều là pháp nhân, tức là tư cách pháp nhân của tổ chức không phải

là yếu tố bắt buộc để tổ chức đó trở thành đối tượng nộp thuế Một số trường hợp tổ chức không có tư cách pháp nhân vẫn có thể là đối tượng nộp thuế (trường hợp hộ kinh doanh, doanh ngiệp tư nhân, tổ hợp tác…) Các chi nhánh của pháp nhân, các đơn vị phụ thuộc của pháp nhân theo luật thuế Việt Nam vẫn là đối tượng nộp thuế, cho dù các chi nhánh và các đơn vị phụ thuộc này không có tư cách pháp nhân Tuy nhiên, các chủ thể nói trên không là các đối tượng nộp thuế độc lập khi thực nhiện nghĩa vụ nộp thuế Việc thực hiện nghĩa vụ nộp thuế của các chi nhánh, với tư cách

là đại diện còn nghĩa vụ nộp thuế cuối cùng là nghĩa vụ của công ty Vấn đề này có

ý nghĩa trong thực tiễn khi xác định loại thuế nào có thể nộp thông qua đại diện (thuế xuất nhập khẩu, thuế giá trị gia tăng) và loại thuế nào không thể nộp thông qua các chi nhánh (thuế thu nhập doanh nghiệp)

Thứ tư, Khái niệm đối tượng nộp thuế không hoàn toàn đồng nhất với chủ thể

thực hiện hành vi nộp thuế vào Ngân sách Nhà nước mà trong Luật Quản lý thuế ngày 29 tháng 11 năm 2006 đề cập với tên gọi là “người nộp thuế” Cụ thể khoản 1 Điều 2 Luật Quản lý thuế quy định người nộp thuế gồm:

“a) Tổ chức, hộ gia đình, cá nhân nộp thuế theo quy định của pháp luật về thuế;

b) Tổ chức, hộ gia đình, cá nhân nộp các khoản thu khác thuộc Ngân sách Nhà nước (sau đây gọi chung là thuế) do cơ quan quản lý thuế thu theo quy định của pháp luật;

15 Trường Đại học Luật TP Hồ Chí Minh , Giáo trình Luật Thuế, NXB Hồng Đức – Hội Luật gia Việt Nam,

năm 2012, Tr 50

Trang 25

c) Tổ chức, cá nhân khấu trừ thuế; tổ chức, cá nhân làm thủ tục về thuế thay người nộp thuế.”

Như vậy, khái niệm người nộp thuế trong Luật Quản lý thuế có thể tạm chia thành hai nhóm chủ thể chính:

+ Đối tượng nộp thuế: đối tượng nộp thuế là chủ thể có nghĩa vụ đăng ký, kê khai, nộp thuế được quy định trong từng sắc thuế cụ thể Đối với nhóm chủ thể này được quy định cụ thể trong các đạo luật thuế

+ Tổ chức, cá nhân khấu trừ thuế; tổ chức, cá nhân làm thủ tục về thuế thay người nộp thuế

Thứ năm, Đối tượng nộp thuế không phải lúc nào cũng đồng nhất với khái

niệm đối tượng chịu thuế Khái niệm “đối tượng chịu thuế” không được đề cập trong các văn bản pháp luật thuế Trong thuế trực thu đối tượng nộp thuế và đối chịu thuế là đồng nhất, trong thuế gián thu đối tượng chịu thuế và đối tượng nộp thuế là khác nhau

Thứ sáu, Một chủ thể có thể đồng thời là đối tượng nộp thuế của hai hoặc

nhiều loại thuế khác nhau nếu họ tác động lên nhiều đối tượng chịu thuế của nhiều sắc thuế

1.4.2 Quyền và nghĩa vụ của đối tượng nộp thuế

sinh nghĩa vụ thuế không phải có nguồn gốc từ thỏa thuận bình đẳng do luật định Tuy nhiên, điều này không đồng nghĩa là người nộp thuế hoàn toàn không là chủ thể mang quyền trong quan hệ thuế

Theo Luật Quản lý thuế hiện hành, có quy định về quyền và nghĩa vụ của người nộp thuế Nhưng theo người viết thì những quy định này chủ yếu hướng đến đối tượng nộp thuế hơn là hướng tới “tổ chức, cá nhân khấu trừ thuế; tổ chức, cá

nhân làm thủ tục về thuế thay người nộp”

1.4.2.1 Quyền của đối tượng nộp thuế

Quyền của đối tượng nộp thuế được ghi nhận trong trường hợp: với tư cách là một công dân, một tổ chức trong quan hệ ngân sách nhà nước; và với tư cách là chủ

Trang 26

thể thực hiện hàng loạt các hành vi qua nhiều giai đoạn khác nhau để hướng đến mục tiêu cuối cùng là nộp thuế vào Ngân sách Nhà nước

Đối tượng nộp thuế có những quyền sau:

“1 Được hỗ trợ, hướng dẫn thực hiện việc nộp thuế; cung cấp thông tin, tài liệu để thực hiện nghĩa vụ, quyền lợi về thuế

2 Yêu cầu cơ quan quản lý thuế giải thích về việc tính thuế, ấn định thuế; yêu cầu cơ quan hải quan xác định trước mã số, trị giá hải quan, xác nhận trước xuất

xứ hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu trước khi làm thủ tục hải quan theo quy định của Chính phủ; yêu cầu cơ quan, tổ chức giám định số lượng, chất lượng, chủng loại hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu

3 Được giữ bí mật thông tin theo quy định của pháp luật

4 Hưởng các ưu đãi về thuế, hoàn thuế theo quy định của pháp luật về thuế

5 Ký hợp đồng với tổ chức kinh doanh dịch vụ làm thủ tục về thuế

6 Nhận văn bản kết luận kiểm tra thuế, thanh tra thuế của cơ quan quản lý thuế; yêu cầu giải thích nội dung kết luận kiểm tra thuế, thanh tra thuế; bảo lưu ý kiến trong biên bản kiểm tra thuế, thanh tra thuế

7 Được bồi thường thiệt hại do cơ quan quản lý thuế, công chức quản lý thuế gây ra theo quy định của pháp luật

8 Yêu câu cơ quan quản lý thuế xác nhận việc thực hiện nghĩa vụ nộp thuế của mình

9 Khiếu nại, khởi kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính liên quan đến quyền và lợi ích hợp pháp của mình

10 Tố cáo các hành vi vi phạm pháp luật của công chức quản lý thuế và tổ chức, cá nhân khác.” 16

Như vậy, quyền của đối tượng nộp thuế có thể chia làm ba nhóm:

Nhóm 1, Quyền được bảo đảm từ phía Nhà nước để thực hiện đúng và chính

xác nghĩa vụ nộp thuế (quyền số 1)

16 Luật Quản lý thuế năm 2006 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Quản lý thuế năm 2012, Điều

6

Trang 27

Nhóm 2, Quyền được Nhà nước bảo đảm các lợi ích kinh tế trong quá trình

thực hiện nghĩa vụ thuế nhằm duy trì công bằng, chính xác ( quyền số 2, 3, 4, 5, 7, 8)

Nhóm 3, Nhóm các quyền năng của người nộp thuế trong khâu kiểm tra, thanh

tra, xử phạt vi phạm hành chính (quyền số 6, 9, 10)

1.4.2.2 Nghĩa vụ của đối tượng nộp thuế

Đối tượng nộp thuế có các nghĩa vụ sau:

“1 Đăng ký thuế, sử dụng mã số thuế theo quy định của pháp luật

2 Khai thuế chính xác, trung thực, đầy đủ và nộp hồ sơ thuế đúng thời hạn; chịu trách nhiệm trước pháp luật về tính chính xác, trung thực, đầy đủ của hồ sơ thuế

3 Nộp tiền thuế đầy đủ, đúng thời hạn, đúng địa điểm

4 Chấp hành chế độ kế toán, thống kê và quản lý, sử dụng hóa đơn, chứng từ theo quy định của pháp luật

5 Ghi chép chính xác, trung thực, đầy đủ những hoạt động phát sinh nghĩa vụ thuế và giao dịch phải kê khai thông tin về thuế

6 Lập và giao hóa đơn, chứng từ cho người mua theo đúng số lượng chủng loại, giá trị thực thanh toán khi bán hàng hóa, cung cấp dịch vụ theo quy định của pháp luật

7 Cung cấp chính xác, đầy đủ, kịp thời thông tin, tài liệu liên quan đến việc xác định nghĩa vụ thuế, số liệu và nội dung giao dịch của tài khoản mở tại ngân hàng thương mại, tổ chức tín dụng khác; giải thích việc tính thuế, khai thuế, nộp thuế theo yêu cầu của cơ quan quản lý thuế

8 Chấp hành quyết định, thông báo, yêu cầu của cơ quan quản lý thuế, công chức quản lý thuế theo quy định của pháp luật

Trang 28

9 Chịu trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ thuế theo quy định của pháp luật trong trường hợp người đại diện theo pháp luật hoặc đại diện theo ủy quyền thay mặc người nộp thuế thực hiện thủ tục về thuế sai quy định

10 Trường hợp người nộp thuế là tổ chức kinh doanh tại địa bàn có cơ sở hạ tầng về công nghệ thông tin phải thực hiện kê khai, nộp thuế, giao dịch với cơ quan quản lý thuế thông qua phương tiện điện tử theo quy định của pháp luật về giao dịch điện tử.” 17

Có thể thấy nghĩa vụ ở đây được hình thành khi đối tượng nộp thuế có đủ điều kiện chứ không phải là khi đối tượng nộp thuế tham gia quan hệ pháp luật thuế mới

có nghĩa vụ Tức là khi các tổ chức cá nhân có đủ các điều kiện để nộp thuế thì lập tức họ phải thực hiện các nghĩa vụ mà luật quy định, nghĩa vụ này phát sinh đồng

việc thu thuế Tính tự chủ, chủ động và chịu trách nhiệm của đối tượng nộp thuế được luật hóa cụ thể

1.5 Khái quát chung về người đối tượng thuế thu nhập

Đối tượng nộp thuế thu nhập là các tổ chức, cá nhân mà thu nhập của các cá nhân, tổ chức này trở thành thu nhập chịu thuế trên cơ sở quy định của pháp luật là

bộ phận thu nhập được Nhà nước thừa nhận, hợp pháp và phù hợp với tiêu chí mà Nhà nước đặt ra khi điều tiết

1.5.1 Đối tượng nộp thuế thu nhập cá nhân

Đối tượng nộp thuế thu nhập cá nhân là cá nhân cư trú có thu nhập chịu thuế

phát sinh trong và ngoài lãnh thổ Việt Nam và cá nhân không cư trú có thu nhập

Là sắc thuế điều tiết vào thu nhập của cá nhân, đối tượng nộp thuế thu nhập cá nhân phải là cá nhân Khái niệm cá nhân là đối tượng nộp thuế thu nhập cá nhân

Trang 29

đình20 Các chủ thể này không phải tổ chức kinh doanh mà thực hiện hoạt động kinh doanh (nếu có) với tư cách cá nhân

1.5.2 Đối tượng nộp thuế thu nhập doanh nghiệp

Người nộp thuế thu nhập doanh nghiệp là tổ chức hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ (sau đây gọi là doanh nghiệp) có thu nhập chịu thuế theo

Đối chiếu với khái niệm người nộp thuế quy định tại khoản 1 Điều 2 Luật Quản lý thuế năm 2006 thì khái niệm người nộp thuế trong luật thuế thu nhập doanh nghiệp có nội hàm hẹp hơn theo hướng chỉ đề cập đến đối tượng có nghĩa vụ nộp thuế theo luật định trước Nhà nước Do đó, khái niệm người nộp thuế được quy định ở đây thực chất chính là nội hàm của khái niệm đối tượng nộp thuế

1.5.3 Đối tượng cư trú của một Nước ký kết trong Hiệp định tránh đánh thuế hai lần

Theo các hiệp định thì đối tượng nộp thuế thu nhập được xác định theo tiêu chí

cư trú Theo đó, một cá nhân được xem là cá nhân cư trú khi có nhà ở, có thời gian

cư trú tại nước đó hoặc có tính chất tương tự

Tiêu chí cư trú của doanh nghiệp theo các Hiệp định dựa trên việc doanh nghiệp có trụ sở điều hành, trụ sở đăng ký, hoặc được thành lập tại nước đó hoặc các tiêu thức có tính chất tương tự

1.6 Người nộp thuế thu nhập qua các thời kỳ

Việc xác lập các sắc thuế cụ thể tùy thuộc vào mục tiêu phát triển và chính sách kinh tế - xã hội của từng thời kỳ Xã hội ngày càng phát triển thì các sắc thuế thu nhập càng phong phú Có thể điều đó sẽ được điều chỉnh bởi các sắc thuế độc lập tương ứng với loại thu nhập hình thành nhưng cũng có thể điều chỉnh trong một sắc thuế với biểu hiện là sự mở rộng của đối tượng chịu thuế Ở Việt Nam, theo quy định hiện hành, có hai sắc thuế điều tiết vào thu nhập của các chủ thể có phát sinh thu nhập gồm thuế thu nhập cá nhân và thuế thu nhập doanh nghiệp Tuy nhiên, để đạt được thành quả như hiện nay đó là cả một quá trình hình thành và phát triển của Luật Thuế thu nhập

20 Bộ luật Dân sự năm 2005, Điều 106, 111

21 Luật thuế thu nhập doanh nghiệp năm 2008, Điều 2 khoản 1

Trang 30

1.6.1 Đối tượng nộp thuế thu nhập cá nhân

thuế thu nhập cá nhân điều tiết vào cá thể nhỏ nhất – cá nhân trong xã hội nên khả năng bảo đảm công bằng cao hơn so với các sắc thuế khác

1.6.1.1 Trước khi có luật thuế thu nhập cá nhân

Thuế thu nhập cá nhân lần đầu tiên được Ủy ban thường vụ Quốc hội ban hành dưới hình thức Pháp lệnh thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao vào ngày 27/12/1990 và chính thức có hiệu lực ngày 01/4/1991 Kể từ đó đến nay, Pháp lệnh này đã nhiều lần được sửa đổi, bổ sung; lần sửa đổi cuối cùng là năm 2004 và được thay thế bởi Luật Thuế thu nhập cá nhân 2007 có hiệu lực vào 01/01/2009

Khi hình thành, Pháp lệnh thuế thu nhập cá nhân của Việt Nam có tên gọi là thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao nên phạm vi điều chỉnh hạn hẹp, chỉ với “thu nhập cá nhân là cao” do phần lớn dân cư lúc ấy có thu nhập từ thấp đến

Thu nhập cá nhân ra đời thay thế Pháp lệnh thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao để có thể bao quát hết các dạng thu nhập cá nhân, điều chỉnh phù hợp hơn với các loại thu nhập mà cá nhân có được, không phân biệt mức độ cao thấp như trước.22

Ngoài ra, trước khi có Luật Thuế thu nhập cá nhân thì cá nhân có thu nhập còn

là đối tượng nộp thuế các luật khác: Luật số 35-L/CTN ngày 22 tháng 6 năm 1994 của Quốc hội về thuế chuyển quyền sử dụng đất quy định đối tượng nộp thuế là tổ chức, hộ gia đình, cá nhân có quyền sử dụng đất và vật kiến trúc trên đó, khi chuyển quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật phải nộp thuế chuyển quyền sử dụng đất, trừ các trường hợp không thuộc diện chịu thuế chuyển quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật; quy định về thuế thu nhập doanh nghiệp đối với cá nhân sản xuất, kinh doanh không bao gồm doanh nghiệp tư nhân theo quy định của Luật thuế thu nhập doanh nghiệp số 09/2003/QH11

22 Năm 2003 khoảng cách giữa nhóm người có thu nhập cao nhất và nhóm người có thu nhập thấp nhất là 3,7 lần, đến năm 2006 con số này là 14,8 lần

Trang 31

1.6.1.2 Sau khi có luật thuế thu nhập cá nhân

Sau khi Luật thuế thu nhập cá nhân được ban hành thì bãi bỏ các văn bản, quy định sau đây: Pháp lệnh thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao số 35/2001/PL-UBTVQH10 đã được sửa đổi bổ sung một số điều theo Pháp lệnh số 14/2004/PL-UBTVQH11; Luật thuế chuyển quyền sử dụng đất ban hành ngày 22 tháng 6 năm 1994 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo luật số 17/1999/QH10; Quy định về thuế thu nhập doanh nghiệp đối với cá nhân sản xuất, kinh doanh không bao gồm doanh nghiệp tư nhân theo quy định của Luật thuế thu nhập doanh nghiệp số 09/2003/QH11; các quy định về thuế đối với thu nhập của cá nhân trái với quy định của Luật Thuế thu nhập cá nhân

Theo quy định của Luật Thuế thu nhập cá nhân, bất kể cá nhân nào, có thu nhập chịu thuế đều trở thành đối tượng nộp thuế thu nhập cá nhân

1.6.2 Đối tượng nộp thuế thu nhập doanh nghiệp

hóa và xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa thì doanh nghiệp đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế nên việc xây dựng chính sách thuế thu nhập doanh nghiệp phù hợp với từng giai đoạn phát triển của từng thời kỳ là yêu cầu cần thiết

1.6.2.1 Trước khi có luật thuế thu nhập doanh nghiệp

Tiền thân của thuế thu nhập doanh nghiệp là thuế lợi tức được áp dụng vào trước năm 1990 và áp dụng cho các cơ sở kinh tế ngoài quốc doanh (các cơ sở kinh

tế quốc doanh áp dụng chế độ trích nộp lợi nhuận) Thực hiện chiến lược cải cách thuế bước một, năm 1990, Quốc hội ban hành Luật Thuế lợi tức áp dụng thống nhất chung đối với tất cả các tổ chức, cá nhân có hoạt động sản xuất, kinh doanh thuộc mọi thành phần kinh tế Luật Thuế lợi tức sau tám (8) năm thực hiện đã bộc lộ nhiều nhược điểm, không còn phù hợp với những thay đổi trong thời kỳ mới, có sự phân

1.6.2.2 Sau khi có luật thuế thu nhập doanh nghiệp

Ngày 10/5/1997, Quốc hội Việt Nam đã thông qua Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp thay cho Luật Thuế lợi tức, chính thức có hiệu lực áp dụng ngày 01/01/1991 Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp đã mở rộng phạm vi điều chỉnh, đưa nghĩa vụ

Trang 32

thuế của chủ thể kinh doanh về điều chỉnh trong cùng một văn bản Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp 1997 mang nhiệm vụ mới là tạo ra môi trường bình đẳng cho các chủ thể kinh doanh Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp 1997 nhanh chóng được thay thế bởi Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp 2003 (có hiệu lực từ ngày 01/01/2004) do yêu cầu sửa đổi những quy định chưa phù hợp

Tuy nhiên, đứng trước yêu cầu của quá trình hội nhập kinh tế Thế giới, một lần nữa thuế thu nhập doanh nghiệp lại được đặt ra trước yêu cầu sửa đổi Luật Thuế thu nhập 2008 ra đời thực hiện điều tiết một cách bình đẳng đối với thu nhập của nhà đầu tư nước ngoài và nhà đầu tư trong nước phù hợp với yêu cầu đặt ra trong cam kết WTO về vấn đề không phân biệt đối xử trong thuế, trừ một số trường hợp đặc biệt được bảo lưu Điểm nổi bật của Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp 2008 là

sự thay đổi trong quy định đối tượng nộp thuế trong nội hàm điều chỉnh phù hợp

cứ vào đặc tính của chủ thể sở hữu thu nhập

Tóm lại, trong chương này người viết đã giới thiệu một cách tổng quát nhất về thuế thu nhập và đối tượng nộp thuế thu nhập làm cơ sở cho việc nghiên cứu tiếp chương 2 Bởi lẽ, nếu muốn nghiên cứu về đối tượng nộp thuế thu nhập, trước hết cần nắm vững những khái niệm chung nhất cũng như phải có cái nhìn tổng quan nhất về thuế thu nhập

Ngày đăng: 03/10/2015, 04:43

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w