1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tư tưởng yêu nước của phan châu trinh

138 79 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 138
Dung lượng 1,06 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong đó có nội dung tư tương yêu nước của ông, nó xuyên suốt trong quan điểm của ông về các vấn đề chính trị - xã hội, nhân sinh, văn hóa và giáo dục, nhưng nhìn chung có thể khái quát

Trang 1



NGUYỄN THỊ THU HƯỜNG

TƯ TƯỞNG YÊU NƯỚC CỦA PHAN CHÂU TRINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH – 2019

Trang 2



NGUYỄN THỊ THU HƯỜNG

TƯ TƯỞNG YÊU NƯỚC CỦA PHAN CHÂU TRINH

Chuyên ngành: TRIẾT HỌC

Mã số: 8229001

LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC

Người hướng dẫn khoa học

TS CAO XUÂN LONG

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH – 2019

Trang 3

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, dưới sự hướng dẫn của TS Cao Xuân Long Các trích dẫn, lập luận, phân tích trong luận văn là khách quan, trung thực, đảm bảo tính khoa học và có nguồn gốc xuất xứ rõ ràng

Tp Hồ Chí Minh, ngày 17 tháng 12 năm 2019

Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Thu Hường

Trang 4

MỤC LỤC

1.1 ĐIỀU KIỆN HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG YÊU NƯỚC CỦA PHAN CHÂU TRINH 13

1.1.1 Điều kiện thế giới cuối thế kỷ XIX nửa đầu thế kỷ XX với sự hình thành tư tưởng yêu nước của Phan Châu Trinh 13 1.1.2 Điều kiện Việt Nam nửa cuối thế kỷ XIX nửa đầu thế kỷ XX với sự hình thành tư tưởng yêu nước của Phan Châu Trinh 21

1.2 TIỀN ĐỀ LÝ LUẬN VỚI SỰ HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG YÊU NƯỚC CỦA PHAN CHÂU TRINH 30

1.2.1 Truyền thống văn hóa Việt Nam với sự hình thành tư tưởng yêu nước Phan Châu Trinh 30 1.2.2 Tư tưởng Nho giáo, Đạo giáo, Phật giáo cho sự hình thành tư tưởng yêu nước Phan Châu Trinh 36 1.2.3 Tư tưởng Tân thư cho sự hình thành tư tưởng yêu nước Phan Châu Trinh 44

1.3 QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH, PHÁT TRIỂN TƯ TƯỞNG YÊU NƯỚC CỦA PHAN CHÂU TRINH 50

1.3.1 Quá trình hình thành, phát triển tư tưởng yêu nước của Phan Châu Trinh qua cuộc đời và sự nghiệp 50 1.3.2 Quá trình hình thành, phát triển tư tưởng yêu nước của Phan Châu Trinh qua các tác phẩm tiêu biểu 55 KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 61

CỦA TƯ TƯỞNG YÊU NƯỚC CỦA PHAN CHÂU TRINH 62

Trang 5

2.1 NỘI DUNG VÀ ĐẶC ĐIỂM TRONG TƯ TƯỞNG YÊU NƯỚC CỦA

PHAN CHÂU TRINH 62

2.1.1 Quan điểm về yêu nước và chủ thể yêu nước 62

2.1.2 Quan niệm về nội dung yêu nước của Phan Châu Trinh 72

2.1.3 Phương pháp yêu nước của Phan Châu Trinh 81

2.1.4 Đặc điểm chủ yếu trong tư tưởng yêu nước của Phan Châu Trinh 103

2.2 GIÁ TRỊ VÀ HẠN CHẾ TRONG TƯ YÊU NƯỚC CỦA PHAN CHÂU TRINH 111

2.2.1 Giá trị cơ bản trong tư tưởng yêu nước của Phan Châu Trinh 111

2.2.2 Về hạn chế cơ bản trong tư tưởng yêu nước của Phan Châu Trinh 114

2.3 Ý NGHĨA LỊCH SỬ TRONG TƯ YÊU NƯỚC CỦA PHAN CHÂU TRINH 118

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 125

KẾT LUẬN CHUNG 127

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 130

Trang 6

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong quá trình phát triển của lịch sử Việt Nam, ngay từ buổi đầu dựng nước, dân tộc ta luôn phải đương đầu với thiên tai, đồng thời lại phải liên tiếp đấu tranh chống lại các thế lực xâm lược hùng mạnh để bảo vệ chủ quyền đất nước và khẳng định nền độc lập, tự chủ của dân tộc Chính trong tiến trình lịch

sử đó đã tạo nên những trang sử vẻ vang của dân tộc, hun đúc nên một nền văn hóa rực rỡ, mang đậm bản sắc truyền thống dân tộc, mà sợi chỉ đỏ xuyên suốt đó

là chủ nghĩa yêu nước, là tinh thần “thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ” (Hồ Chí Minh, 2002; T7, tr.534) Cùng với quá trình lịch sử ấy, dân tộc ta đã sản sinh ra những vị anh hùng hào kiệt, những nhà tư tưởng lớn như: Lý Công Uẩn, Lý Thường Kiệt, Trần Thánh Tông, Tuệ Trung Thượng Sỹ, Trần Nhân Tông, Trần Quốc Tuấn, Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Lê Quý Đôn, Lê Hữu Trác, Ngô Thì Nhậm, Nguyễn Trường Tộ, Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh, Hồ Chí Minh Hiện nay, bước vào thời kỳ đổi mới và hội nhập quốc tế, cùng với việc xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, xây dựng hệ thống chính trị và xây dựng nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vì dân Điều này thể hiện bản chất của chế

độ xã hội chủ nghĩa, đây là điều hệ trọng đòi hỏi phải kế thừa những tinh hoa tư tưởng, đặc biệt là tư tưởng chính trị, tư tưởng đạo đức của dân tộc và nhân loại Bên cạnh đó, Đảng cộng sản Việt Nam đã chỉ ra những tiêu chẩn đạo đức cần phải có của con người mới đó là “Có tinh thần yêu nước, tự cường dân tộc, phấn đấu vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, có ý chí vươn lên đưa nước ta thoát khỏi nghèo nàn lạc hậu, đoàn kết với nhân dân thế giới trong sự nghiệp đấu tranh

vì hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội Có ý thức tập thể, đoàn kết, phấn đấu vì lợi ích chung” (Đảng Cộng sản, Vk.hội nghị lần thứ 5, BCHTW

8, tr.58 – 59) Chính những điều kiện xã hội hiện tại của đất nước và thế giới đặt

ra yêu cầu để tác giả nghiên cứu vấn đề một trong những vấn đề then chốt và nổi trội trong mỗi giai đoạn đó là chủ nghĩa yêu nước Dù trong thời chiến hay thời bình thì vấn đề này đều rất được quan tâm, nó là nền tảng tinh thần của đất nước,

Trang 7

là kim chỉ nam để giúp các nhà tư tưởng cách mạng Việt Nam trong từng giai đoạn khác nhau

Lịch sử Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX là giai đoạn có nhiều biến động, trong đó nổi lên những tư tưởng như về giải phóng dân tộc, giải phóng con người, giải phóng đất nước và nhiều nhà tư tưởng như Phan Bội Châu, Nguyễn An Ninh, Phan Văn Trường, Phan Châu Trinh Và Phan Châu Trinh đã phải chứng kiến lịch sử đau thương của dân tộc, thực dân Pháp lúc này đã đánh chiếm xong toàn bộ miền Nam, ráo riết tiến hành cho việc thôn tính cả Việt Nam Trước cảnh nước mất nhà tan, trước cảnh nhân dân lầm than dưới gót giày của bọn đế quốc phong kiến, nhà yêu nước nhà tư tưởng Phan Châu Trinh đã không ngừng học hỏi, tìm tòi con đường cho cách mạng Việt Nam suốt những năm ông bôn ba ở nước ngoài Khi ông về nước đến cả khi ông nhắm mắt xuôi tay, ta vẫn thấy toát lên ở con người ấy một nhân cách, một tấm lòng mà lúc đó và đến mãi sau này nó vẫn như một ngọn đèn sáng soi rọi vào lịch sử dân tộc để đến ngày hôm nay những giá trị trong tư tưởng của ông vẫn còn ý nghĩa trong công cuộc xây dựng đất nước ta hiện nay

Băn khoăn trước các ngã rẽ để tìm con đường cho cách mạng Việt Nam, trước sự thất bại của các phong trào yêu nước lúc bấy giờ với chủ trương bạo động, trước những kiến thức lịch sử văn minh thế giới mà giai đoạn ông lao động

và học tập các nước tư bản tiến bộ, Phan Châu Trinh đã chọn con đường cho cách mạng tư sản dân chủ Tư tưởng yêu nước của ông được thể hiện rõ nét và bao quát trên tất cả các lĩnh vực của thực tiễn xã hội Việt Nam lúc bấy giờ Tuy

nó không đạt đến được mục tiêu cuối cùng là tìm ra con đường giải phóng dân tộc, con đường đến với độc lập tự do của toàn thể nhân dân nhưng tư tưởng yêu nước của ông đã thể hiện rõ vai trò to lớn của nó trong việc đưa nước ta dần đến với con đường cách mạng mà sau này Hồ Chí Minh đã lựa chọn

Đại tướng Võ Nguyên Giáp từng có nhận xét về Phan Châu Trinh như sau:

“Cụ Phan Châu Trinh là một người chí sĩ có bản lĩnh yêu nước rất kiên cường “ba tấc lưỡi, mà gươm, mà súng”

Trang 8

không sợ chết Muốn lật đổ bọn quyền phải dựa vào những người Pháp – đương nhiên có phân biệt người Pháp tiến bộ với người Pháp không tiến bộ để làm nên làn sóng dân quyền, dân chủ, mở ra con đường đi đến tự lực, tự cường, nâng cao dân trí, giải quyết vấn đề dân sinh, đưa nước ta đến một nước mà các cụ gọi là phồn thịnh” (Phan Châu Trinh, Chương Thâu biên soạn, 2005, T1, tr.53)

Hay là Trần Đình Hượu từng nói về Phan Châu Trinh: “Phan Châu Trinh

là một nhà dân chủ, yêu nước và cách mạng Nhưng Phan Châu Trinh c ng là một nhà nho Nhà nho có thể yêu nước mà đề xướng chế độ dân chủ như một lý tưởng xã hội đ p đẽ” (Phan Châu Trinh, Chương Thâu biên soạn, 2005, T1, tr.55)

Nhiều nhà tư tưởng, nhà yêu nước khác c ng có những nhận xét về sự cống hiến của Phan Châu Trinh Qua việc tìm hiểu thì tác giả thấy đây là đề tài cần thiết để tìm hiểu phân tích c ng như vận dụng vào công cuộc xây dựng nước nhà trong điều kiện hiện nay

Chính vì vậy mà việc nghiên cứu toàn bộ lịch sử tư tưởng của dân tộc và thế giới để từ đó rút ra bài học, ý nghĩa cho quá trình phát triển đất nước là việc làm hết sức cần thiết Nghiên cứu tư tưởng dân tộc Việt Nam nói chung và nghiên cứu quan điểm của một nhà tư tưởng nói riêng, tư tưởng yêu nước của Phan Châu Trinh, là một việc làm quan trọng, có ý nghĩa lý luận sâu sắc và ý

nghĩa thực tiễn thiết thực Do đó, tác giả đã chọn đề tài “Tư tưởng yêu nước của

Phan Châu Trinh” làm đề tài nghiên cứu cho luận văn thạc sĩ của mình

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu

Phan Châu Trinh là một nhà tư tưởng, một nhà cách mạng, một nhà duy tân lớn của Việt Nam vào cuối thế kỷ XIX đầu thế kỉ XX Qua khối lượng tác phẩm của ông để lại, ta có thể thấy nội dung mà nó đề cập có nhiều quan điểm, giá trị đặc sắc, hầu khắp các vấn đề của xã hội Việt Nam lúc bấy giờ như: quan điểm khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh; quan điểm giáo dục con người, quan điểm đạo đức, quan điểm dân quyền, quan điểm về thế giới Cuộc đời và sự

Trang 9

nghiệp của ông là nguồn đề tài đặc sắc mà rất nhiều nhà khoa học nghiên cứu dưới các góc độ khác nhau Trong đó có nội dung tư tương yêu nước của ông, nó xuyên suốt trong quan điểm của ông về các vấn đề chính trị - xã hội, nhân sinh, văn hóa và giáo dục, nhưng nhìn chung có thể khái quát thành một số hướng nghiên cứu như sau:

Hướng nghiên cứu thứ nhất, những công trình nghiên cứu về điều kiện, tiền đề, quá trình hình thành tư tưởng yêu nước của Phan Châu Trinh, và nghiên cứu Phan Châu Trinh trong tiến trình lịch sử Việt Nam

Tiêu biểu cho hướng này trước hết phải kể đến công trình Lịch sử tư

tưởng Việt Nam do Viện Triết học thực hiện gồm 2 tập, với tổng số 944 trang

Nhìn chung đây là công trình khá toàn diện, phong phú và sâu sắc về các nội

dung tư tưởng Việt Nam Trong đó, với tiêu đề Lịch sử tư tưởng Việt Nam, tập I

do PGS Nguyễn Tài Thư (chủ biên), Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1993 Đây

là thành quả sau 20 năm nghiên cứu của nhóm tác giả Trong cuốn sách này đã được tập thể tác giả kết cấu thành 7 phần, 23 chương

Trong Phần hai với tiêu đề Tư tưởng Việt Nam trước một vấn đề của thực

tiễn bảo vệ tổ quốc hồi nửa cuối thế kỷ XIX Nội dung của phần này được giải

quyết trong 8 chương, từ việc giải quyết những vấn đề cụ thể của lịch sử xã hội đặt ra cho các nhà tư tưởng Việt Nam giải quyết như: vấn đề về chủ quyền quốc gia, đất nước thống nhất, hay vấn đề về nước, vua và trung vua yêu nước thương dân, những tư tưởng về đạo làm người, đến vấn đề nhận diện kẻ thù… công trình

đã trình bày phân tích những nhà tư tưởng tiêu biểu như Đặng Đức Tuấn, V Phạm Khải, Nguyễn Xuân Ôn, từ việc trình bày những nội dung, phân tích những giá trị và hạn chế công trình c ng đã chỉ ra rằng đối diện với sự xâm lược của chủ nghĩa thực dân phương Tây, tư tưởng Việt Nam “đang cần được nâng nên một tầm mới, và - muốn vậy - đang cần một hệ tư tưởng mới cao hơn hệ tư tưởng phong kiến truyền thống”

C ng với hướng nghiên cứu trên, còn phải kể đến hai tập Lịch sử tư tưởng

Việt Nam văn tuyển do Trần Nguyên Việt, Viện triết học Việt Nam chủ biên

Trang 10

Hay tác phẩm “Đại cương lịch sử Việt Nam”, (Toàn tập, Nhà xuất bản

Giáo dục, Hà Nội, 2003), của GS Trương Hữu Quýnh, GS Đinh Xuân Lâm, PGS Lê Mậu Hãn (Chủ biên) Trong tác phẩm này, các tác giả đã nghiên cứu và trình bày một cách khá hệ thống về đời sống xã hội như: kinh tế, chính trị, văn hóa, tư tưởng,… của giai đoạn từ cuối thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX Nghiên

cứu về sự phát triển tư tưởng Việt Nam giai đoạn này còn có công trình “Sự phát

triển của tư tưởng ở Việt Nam từ thế kỷ XIX đến Cách mạng Tháng Tám”, gồm 3

tập, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1996 của GS Trần Văn Giàu Đây

là một công trình nghiên cứu đồ sộ đề cập quá trình chuyển biến của ba hệ tư tưởng nối tiếp nhau, xen kẽ và đấu tranh với nhau, đó là: hệ ý thức phong kiến;

hệ ý thức tư sản; hệ ý thức vô sản Nghiên cứu nội dung tư tưởng Việt Nam nói

chung và tư tưởng Phan Châu Trinh thời kỳ này còn có tác phẩm “Nho giáo và

văn học Việt Nam trung cận đại”, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 1999, GS Trần Đình

Hượu; tác giả c ng đã nghiên cứu tư tưởng triết lý Nho giáo, qua một số nhà tư tưởng tiêu biểu của Việt Nam thời kỳ trung đại và cận đại Trong công trình

nghiên cứu “Nho giáo xưa và nay”, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1991, của

tập thể tác giả

Nghiên cứu theo hướng này còn có tác phẩm Bước chuyển tư tưởng Việt

Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX do Trương Văn Chung, Doãn Chính (đồng

chủ biên), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2005 và đề tài Tư tưởng Việt Nam

cuối thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX qua một số chân dung tiêu biểu, (Mã số: B2004 - 18b - 06) do V Văn Gầu làm chủ nhiệm đề tài Thông qua một số nhà tư tưởng

tiêu biểu giai đoạn cuối thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX trong đề tài các tác giả của các đề tài trên đã phân tích nêu bật được những vấn đề như: Tiền đề xuất hiện tư tưởng Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX; nội dung, đặc điểm và bài học lịch sử của tư tưởng Việt Nam ở thời kỳ này Trong các công trình viết về giai

đoạn cuối thế kỷ XIX còn có cuốn Tư tưởng cải cách ở Việt Nam nửa cuối thế kỷ

XIX của Lê Thị Lan, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 2002, tác giả đã trình bày

khá sâu sắc các điều kiện xuất hiện các tư tưởng cải cách Việt Nam cuối thế kỷ XIX; một số đóng góp căn bản trên phương diện tư tưởng của các nhà canh tân

Trang 11

và có sự so sánh các tư tưởng này của Việt Nam với Nhật Bản, Thái Lan để làm sáng tỏ những nguyên nhân cơ bản dẫn tới việc các đề nghị cải cách không được hiện thực hóa; qua đó tác giả c ng đã nêu lên vị trí, ý nghĩa của tư tưởng canh tân cuối thế kỷ XIX trong lịch sử c ng như trong hiện tại; hay trong luận án tiến sĩ

Bước chuyển tư tưởng chính trị Việt Nam từ cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX - giá trị và bài học lịch sử của Phạm Đào Thịnh, tác giả đã làm rõ ba vấn đề: một là,

tìm hiểu hoàn cảnh lịch sử thế giới; những điều kiện kinh tế, chính trị - xã hội, văn hóa, khoa học - kỹ thuật ở nước ta; những tiền đề lý luận và yếu tố chủ quan của các nhà tư tưởng tạo nên bước chuyển tư tưởng chính trị Việt Nam từ cuối

thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX; hai là, từ những tiền đề hình thành tư tưởng chính trị,

tác giả đã trình bày khái quát nội dung, đặc điểm của bước chuyển tư tưởng chính trị Việt Nam từ cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX thông qua tư tưởng của của các nhà tư tưởng, các nhà cách mạng tiêu biểu như: Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, Nguyễn An Ninh, Huỳnh Thúc Kháng, và thông qua các trào lưu tư tưởng

Duy Tân, Đông Kinh Nghĩa Thục; ba là, trên cơ sở nội dung và đặc điểm tác giả

đã rút ra giá trị và bài học lịch sử của tư tưởng yêu nước của Phan Châu Trinh với nhận thức nói chung và công cuộc đổi mới ở Việt Nam hiện nay

Hướng nghiên cứu thứ hai là những công trình nghiên cứu những khía cạnh trong nội dung tư tưởng Phan Châu Trinh nói chung và Tư tưởng yêu nước của Phan Châu Trinh nói riêng Tiêu biểu hướng này phải kể đến những công

trình như: Tiêu biểu hướng này phải kể đến những công trình như: Tuyển tập

Phan Châu Trinh, Nguyễn Văn Dương (biên soạn), Nxb Đà Nẵng, 1995; Phan Chu Trinh toàn tập, gồm 3 tập, Nxb Đà Nẵng, năm 2005 Nhân kỷ niệm 79 năm

ngày mất của người chí sĩ yêu nước Phan Châu Trinh (24/03/2005), Hội khoa học lịch sử Việt Nam mà trực tiếp là các Giáo sư Chương Thâu, nhà sử học Dương Trung Quốc và bà Phan Thị Minh – hậu duệ của cụ Phan Châu Trinh – đã sưu tập toàn bộ trước tác của cụ Phan và lần đầu tiên công bố đầy đủ nhất trong

ba tập sách với tổng cộng hơn 2000 trang in khổ lớn Với 3 tập của tác phẩm Phan Châu Trinh toàn tập, Nxb Đà Nẵng, (…), 2005 này, người đọc sẽ có cái

Trang 12

nhìn tổng thể về sự nghiệp văn chương và tư tưởng chính trị của nhà chí sĩ Phan Châu Trinh qua số lượng lớn tác phẩm của ông còn để lại

Trong tập 1 của bộ sách sẽ giới thiệu các tác phẩm văn vần bao gồm thơ, phú và câu đối Ngoài số lượng thơ chữ Hán được xem là các sáng tác hàn lâm của một nhà nho, các tập thơ quan trọng của Phan Châu Trinh đều được tập hợp

ở đây như: Tây hồ thi tập với 74 bài thơ thất ngôn nhiều nội dung chủ đề: thơ thù tạc với bạn, làm khi cảm khái thế sự nhân tình, nói chuyện với ông nghè Trương Gia Mô, xướng hoạ với một số thi hữu Đặc biệt trong tập thơ này còn có 20 bài liên hoàn hoạ vận 10 bài tự thuật của Tôn Thọ Tường đủ thấy sự bức xúc của Phan Châu Trinh trước thái độ theo Pháp của Tôn Thọ Tường lúc bấy giờ Ngoài

ra, trong tập 1 còn có tập thơ đồ sộ Santé thi tập với hơn 220 bài thơ ông viết trong thời gian mười tháng bị giam ở nhà ngục Santé của Pháp từ tháng 09/1914 đến tháng 07/1915 Điểm đặc biệt của tập thơ này là cụ Phan đã dùng thơ thất ngôn bát cú Đường luật để chú giải, vịnh những câu ca dao tục ngữ, thành ngữ của Việt Nam Hơn nữa, phẩm Giai nhân kì ngộ diễn ca c ng được in đầy đủ với phần dịch của cụ Phan 8 hồi và của ông Trần Tiêu 7 hồi

Tập 2 của bộ sách chủ yếu là các tác phẩm chính luận của cụ Phan, đặc biệt có những chuyên khảo quan trọng như Đầu Pháp chính phủ thư (thư gửi toàn quyền Đông Dương), Đông Dương chính trị luận, Điều trần gửi hội nhân quyền

và Trung kỳ dân biến tụng oan thỉ mạt ký (đây là bài ký quan trọng kể lại đầu đuôi vụ dân biến ở Trung kỳ vào năm 1908), ngoài ra còn có một số thư tín và bài báo

Tập 3 giới thiệu các bức thư quan trọng của Phan Châu Trinh trong quãng đời hoạt động cách mạng Lại có cả các mật báo của chỉ điểm Pháp, ghi lại những

tư liệu quan trọng như: cuộc gặp gỡ giữa Phan Châu Trinh, Nguyễn Văn Vĩnh và Phạm Quỳnh tại Marseille, thư gửi Phan Văn Trường, thư gửi Sarraut năm 1922 Ngoài ra còn có tác phẩm Thư thất điều gửi đương kim hoàng đế An Nam và một

số bài báo Đặc biệt, trong cuốn tập 3 này còn ghi lại hai bài diễn thuyết của Phan Châu Trinh tại Sài Gòn đó là: Đạo đức và luân lý Đông Tây và Quân trị chủ nghĩa và dân trị chủ nghĩa

Trang 13

Trong bộ sách đồ sộ này còn sưu tập các bài viết, các ý kiến của những nhà cách mạng, những nhà nghiên cứu trong và ngoài nước viết về Phan Châu Trinh Có thể nói đây là tập sách đầu tiên sưu tầm khảo cứu toàn bộ trước tác của

cụ Phan Châu Trinh, dựa vào nguồn di cảo của gia đình, các nguồn tư liệu từ rất nhiều người đi trước đã từng nghiên cứu về Phan Châu Trinh – là một công trình giá trị đánh dấu những nỗ lực của hậu thế trong việc gìn giữ di sản văn hoá, tư

tưởng, tài liệu của một nhà cách mạng tiền bối; Phan Châu Trinh, thân thế và sự

nghiệp, của Huỳnh Lý, Nxb Đà Nẵng, 1992; Tìm hiểu tư tưởng dân chủ của Phan Châu Trinh, của Đỗ Thị Hòa Hới, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1996; Phan Châu Trinh qua những tài liệu mới, quyển 1, tập 1, Nxb Đà Nẵng, 2001, Phan Châu Trinh qua những tài liệu mới, tập 2, của Lê Thị Kinh (tức Phan Thị

Minh), Nxb Đà Nẵng, 2003; Phan Châu Trinh cuộc đời và tác phẩm, của

Nguyễn Quang Thắng, Nxb Tp Hồ Chí Minh, 1997 Như vậy, qua những công trình kể trên các nhà khoa học đã nghiên cứu khá phong phú và sâu sắc tư tưởng yêu nước của Phan Châu Trinh dưới nhiều khía cạnh, góc độ khác nhau và đa phần các tác giả lồng ghép tư tưởng yêu nước của Phan Châu Trinh trong dòng chảy lịch sử tư tưởng Việt Nam

Hướng nghiên cứu thứ ba là những công trình nghiên cứu về đặt điểm giá trị, hạn chế và ý nghĩa lịch sử trong tư tưởng yêu nước của Phan Châu Trinh, khi

nói đến hướng này trước tiên cần kể đến công trình của tác giả Đỗ Thị Hòa Hới với các bài: Tìm hiểu tư tưởng dân chủ của Phan Châu Trinh với tư tưởng tự do -

bình đẳng - bác ái của cách mạng Pháp 1789 (Tạp chí Triết học, số 4 - 1989);

Tư tưởng canh tân đất nước dưới triều Nguyễn của tác giả Đỗ Bang (Nxb Thuận

Hóa, Huế, 1999); Tư tưởng canh tân sáng tạo đầu thế kỷ XX của chí sỹ Phan

Châu Trinh (Tạp chí Triết học, số 3 - 2000), Phan Châu Trinh và sự thức tỉnh dân tộc đầu thế kỷ XX (Tạp chí Triết học, số 4 - 1992); tác giả Chương Thâu với

bài: Tinh thần dân tộc và dân chủ của Phan Châu Trinh qua Tỉnh quốc hồn ca (Số 11 - 2002); Ảnh hưởng của “Tân thư” trong tư tưởng của Phan Bội Châu và

Phan Châu Trinh (Tạp chí Triết học, số 2 -1997); Xu hướng canh tân – phong trào duy tân – sự nghiệp đổi mới từ giữa thế kỷ XIX đến cuối thế kỷ XX của tác

Trang 14

giả Thái Nhân Hòa (Nhà xuất bản Đà Nẵng, 2005); Quá trình chuyển biến tư

tưởng chính trị Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX qua các nhân vật tiêu biểu (Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, 2007) Tư tưởng đạo đức Phan Châu Trinh (tạp chí Triết học, số 6-2016) Tư tưởng giáo dục của Phan Châu Trinh

(Tạp chí Khoa học Chính trị số 6-2016)

Như vậy, các công trình nghiên cứu trên đã đề cập đến tất cả các nội dung với nhiều hướng nghiên cứu khác nhau về cuộc đời và sự nghiệp của Phan Châu Trinh, đặc biệt là tư tưởng yêu nước của ông Những nguồn tài liệu quý giá đó là

cơ sở để các nhà nghiên cứu sau này, trong đó có tác giả đi sâu, phân tích, tìm tòi thêm những nội dung mới, nhất là việc rút ra ý nghĩa và vận dụng nó trong công cuộc xây dựng và phát triển đất nước Do vậy, tư tưởng yêu nước của Phan Châu Trinh vẫn là vấn đề luôn được đặt ra và đòi hỏi sự nghiên cứu với góc nhìn lịch

sử của Việt Nam trong giai đoạn hiện nay

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu đề tài

Mục đích của đề tài, là nhằm làm rõ nội dung, đánh giá và rút ra ý nghĩa

trong tư tưởng yêu nước của Phan Châu Trinh

Để thực hiện mục đích trên thì nhiệm vụ của đề tài được tác giả xác định chính là:

Thứ nhất, trình bày, lý giải những điều kiện, tiền đề và quá trình hình

thành tư tưởng yêu nước của Phan Châu Trinh

Thứ hai, phân tích những nội dung cơ bản trong tư tưởng yêu nước của

Phan Châu Trinh

Thứ ba, rút ra những đặc điểm, giá trị, hạn chế và ý nghĩa lịch sử của tư

tưởng yêu nước của Phan Châu Trinh

4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

Về đối tượng nghiên cứu, trọng tâm nghiên cứu của đề tài là cuộc đời, tư

tưởng của Phan Châu Trinh và ý nghĩa của nó trong lịch sử phát triển của dân tộc

Trang 15

Về phạm vi nghiên cứu, luận văn tập trung làm rõ những nội dung chủ yếu

trong tư tưởng yêu nước của Phan Châu Trinh, từ đó rút ra những giá trị, hạn chế

và ý nghĩa lịch sử của nó đối với công cuộc xây dựng và phát triển đất nước trong giai đoạn hiện nay

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

Về cơ sở lý luận, tác giả dựa trên cơ sở thế giới quan, phương pháp luận

của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam về vấn đề văn hóa nhằm định hướng cho việc nghiên cứu đề tài này

Về phương pháp nghiên cứu, tác giả đã sử dụng các phương pháp cụ thể

như: lịch sử - logic, phân tích - tổng hợp, quy nạp - diễn dịch, so sánh - đối chiếu… và các góc độ tiếp cận của đề tài là từ góc độ giá trị, góc độ lịch sử triết học

6 Ý nghĩa về khoa học và thực tiễn của đề tài

Ý nghĩa khoa học, đề tài góp phần làm rõ tư tưởng yêu nước của Phan

Châu Trinh, đồng thời nhận thấy rõ những giá trị, hạn chế mà tư tưởng đó đem lại

Ý nghĩa thực tiễn, trên cơ sở phân tích những nội dung chủ yếu trong tư

tưởng yêu nước của Phan Châu Trinh luận văn sẽ rút ra những ý nghĩa lịch sử cho quá trình xây dựng và phát triển đất nước trong giai đoạn hiện nay Luận văn

có thể làm tài liệu tham khảo cho những ai quan tâm đến đề tài này

7 Kết cấu của luận văn

Luận văn ngoài phần: mục lục, phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung được kết cấu thành 2 chương, 6 tiết và 13 tiểu tiết

Trang 16

Chương 1

CƠ SỞ HÌNH THÀNH VÀ QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN TƯ TƯỞNG YÊU

NƯỚC CỦA PHAN CHÂU TRINH

1.1 ĐIỀU KIỆN HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG YÊU NƯỚC CỦA PHAN CHÂU TRINH

Trên cơ sở thế giới quan, phương pháp luận của Chủ nghĩa Mác – Lênin thì

để hiểu rõ, đúng đắn tư tưởng thì cần phải xuất phát từ điều kiện vật chất và tiền

đề hình thành tư tưởng đó Đúng như, C.Mác đã khẳng định rằng: “Các triết gia không mọc lên như nấm từ trái đất, họ là sản phẩm của thời đại mình, của dân tộc mình, mà dòng sữa tinh tế nhất, quý giá và vô hình được tập trung lại trong những tư tưởng triết học” (C.Mác - Ăngghen (1995), T1, tr.156) Không nằm ngoài quy luật chung ấy; cuộc đời, sự nghiệp và tư tưởng yêu nước của Phan Châu Trinh gắn liền với những điều kiện lịch sử - xã hội phức tạp của dân tộc Việt Nam và thế giới nửa cuối thế kỷ XIX nửa đầu thế kỷ XX Những đặc điểm

và điều kiện lịch sử - xã hội ấy đã quy định nội dung tư tưởng yêu nước của ông Chính vì vậy, nghiên cứu tư tưởng yêu nước của Phan Châu Trinh, chúng ta không thể không tìm hiểu về những đặc điểm của hoàn cảnh lịch sử và điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa dân tộc Việt Nam, thế giới nửa cuối thế kỷ XIX nửa đầu thế kỷ XX; c ng như những tiền đề lý luận hình thành tư tưởng yêu nước của ông

1.1.1 Điều kiện thế giới cuối thế kỷ XIX nửa đầu thế kỷ XX với sự hình thành tư tưởng yêu nước của Phan Châu Trinh

Tình hình thế giới vào nửa cuối thế kỷ XIX nửa đầu thế kỷ XX, chủ nghĩa

tư bản phát triển và chuyển dần sang giai đoạn chủ nghĩa đế quốc, để mở rộng thị trường và củng cố vị trí của mình, chủ nghĩa tư bản tiến hành xâm lược các dân tộc phương Đông Do đó đã tác động trực tiếp lên đời sống xã hội Việt Nam c ng như tư tưởng yêu nước của Phan Châu Trinh

Trang 17

Về kinh tế, ở thời kỳ này có những sự biến đổi hết sức to lớn, nhanh chóng

so với các hình thái kinh tế trước đó trong lịch sử xã hội, Đúng như C.Mác đã nhận định: chủ nghĩa tư bản tạo ra lực lượng sản xuất lớn làm thay đổi diện mạo của đời sống xã hội “Giai cấp tư sản trong quá trình thống trị giai cấp chưa đầy một thế kỉ, đã tạo ra những lực lượng sản xuất nhiều hơn và đồ sộ hơn lực lượng sản xuất của tất cả các thế hệ trước gộp lại” (C.Mác và Ph.Ăngghen, 1995, T5, tr.603) “Trong quá trình phát triển kinh tế của chủ nghĩa tư bản thì do sự phát triển không đồng đều nên dẫn đến các cuộc khủng hoảng kinh tế vào những năm

1900 – 1903, sau đó tổng khủng hoảng và cuộc chiến tranh thế giới lần thứ nhất

đã diễn ra” (Doãn Chính, 2013, tr.837) Trước thực trạng như vậy, nên các nước

tư bản phải đưa ra các phương án mở rộng thị trường bằng cách thực hiện xâm lược và áp dụng phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa vào các dân tộc phương Đông Do đó, làm biến đổi sâu sắc các mặt của đời sống xã hội như kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội…của hầu hết các dân tộc thuộc địa Những biến đổi ấy tác động trực tiếp và gián tiếp vào nước ta, đặc biệt là tác động đến tư tưởng Việt Nam

Về chính trị, “giai cấp tư sản thực hiện cuộc cách mạng xã hội lật đổ chế

độ phong kiến, thiết lập chế độ tư bản chủ nghĩa và xây dựng nền dân chủ tư sản, tạo nên bước chuyển đổi từ chế độ quân chủ sang dân chủ; từ quân quyền sang pháp quyền” (Doãn Chính, 2013, tr.837) Sự phát triển của chủ nghĩa tư bản đã tạo tiền đề cho sự phát triển nhanh chóng của giai cấp công nhân Đội ngủ công nhân ở các nước này tăng lên một cách đáng kể lên đến hàng triệu người, trở thành lực lượng xã hội rất quan trọng, không thể thiếu, đại diện cho lực lượng sản xuất mới Trong xã hội tư bản chủ nghĩa, mâu thuẫn cơ bản nhất là mâu thuẫn giữa tư sản và vô sản, nhất là sự thống trị và bóc lột của giai cấp tư sản đã tạo nên phong trào đấu tranh của giai cấp vô sản chống lại giai cấp tư sản Sau thất bại của Công xã Pari (1871), phong trào công nhân tiếp tục được củng cố, ở thời kỳ đã bắt đầu tập hợp lực lượng, chuẩn bị cho cuộc đấu tranh mới chống chủ nghĩa tư bản Dưới sự phát triển ngày càng sâu rộng của chủ nghĩa Mác, phong trào công nhân ngày một phát triển mạnh mẽ, nhiều tổ chức đảng vô sản, đảng xã

Trang 18

hội có xu hướng tiến bộ cách mạng của giai cấp công nhân xuất hiện tại Đức, Pháp, Mỹ, Anh

“Trước tình hình đó, những người mác xít đã triệu tập một cuộc họp thành lập Quốc tế II tại Pari (1889) dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Ph.Ăngghen nhằm tổ chức và lãnh đạo các phong trào của công nhân để chống lại chủ nghĩa tư bản Sau này, khi Ph.Ăngghen mất (1895) Quốc tế II bị các phần tử cơ hội l ng đoạn và mất vai trò lịch sử, đến 1919, V.I.Lênin đã thành lập Quốc tế III, phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân tiếp tục được củng cố và phát triển” (Doãn Chính,

2013, tr.838) Cho nên các phong trào cách mạng vô sản ở các nước tư bản đã ảnh hưởng mạnh mẽ đến các nhà tư tưởng tiến bộ ở các nước phong kiến, làm cho tư tưởng chính trị chuyển hướng sang dân chủ tư sản, điển hình trong

đó có Phan Châu Trinh

Về văn hóa, khoa học kỹ thuật, “vào cuối thế kỷ XIX đầu thể kỷ XX là

thời kỳ nổ rộ nhiều thành tựu khoa học, kỹ thuật ở các nước tư bản phát triển, tạo điều kiện thuận lợi cho con người nâng cao nhận thức về thế giới xung quanh, hiểu biết tự nhiên xã hội sâu sắc hơn” (Doãn Chính, 2013, tr.838) Và c ng nhờ

đó, mà tư duy và nhận thức của con người ngày càng phát triển hơn về mặt tư tưởng được củng cố thêm về thế giới quan duy vật, tạo điều kiện cho việc tiếp thu các trào lưu tư tưởng tiến bộ

Sau khi chủ nghĩa tư bản xâm lược, các nước tư bản chủ nghĩa đã buộc các nước phương Đông chuyển sang phương thức sản xuất mới đó là phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa, mặc dù trong lòng xã hội mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất phong kiến chưa sâu sắc, để xuất hiện nhu

cầu giải quyết mâu thuẫn, phát triển lên phương thức sản xuất mới Trong Tuyên

ngôn của Đảng Cộng sản, Các Mác và Ăngghen cho rằng sự bành trướng và lớn

mạnh của các nước tư bản phương Tây sang phương Đông

Trang 19

“Nó buộc tất cả các nước dân tộc phải thực hành phương thức sản xuất tư bản nếu không sẽ bị tiêu diệt; nó buộc tất cả các dân tộc phải du nhập cái gọi là văn minh, nghĩa là phải trở thành tư sản Nói tóm lại, nó tạo ra cho nó một thế giới theo hình dạng của nó”; “bắt phương Đông phải phụ thuộc vào phương Tây” (C.Mác và Ph.Ăngghen, 1995, T4, tr.602) Chính quá trình xâm lược của chủ nghĩa tư bản đã để lại những hệ quả tiêu cực và tích cực cho các dân tộc thuộc địa, trong đó chủ yếu là những tệ nạn, những vấn đề tiêu cực

Về hệ quả tiêu cực, chủ nghĩa tư bản tạo ra ở hầu hết các dân tộc thuộc địa

là một nền kinh tế què quặt, trì trệ, thậm chí là không phát triển, lệ thuộc hoàn toàn vào các nước tư bản; nền kinh tế thuộc địa biến đổi theo xu hướng phá hoại, bóp chết một số ngành tiểu thương công nghiệp truyền thống có giá trị và có tiềm năng phát triển; phá vỡ hoàn toàn quan hệ hỗ trợ và giúp đỡ lẫn nhau giữa các vùng, miền, xé nhỏ nền kinh tế của các dân tộc thuộc địa; phá vỡ quan hệ kinh tế làng xã cổ truyền đã có truyền thống lâu đời, phá vỡ các thiết chế của xã hội truyền thống nhưng không mang tính cách mạng và triệt để mà mang tính chất nửa vời, áp đặt, làm tăng tính phụ thuộc vào thực dân; nền văn hóa chỉ mang tính

nô lệ, lai căng, phức tạp, nền y tế, giáo dục thấp kém, đời sống nhân dân ngày càng khổ cực hơn với tình cảnh một cổ hai tròng áp bức

Bên cạnh đó, các cuộc xâm lược của chủ nghĩa tư bản c ng để lại cho các dân tộc thuộc địa nhiều những hệ quả tích cực, mà những giá trị nằm ngoài ý muốn của chủ nghĩa tư bản Đó là phương thức sản xuất tư bản đã phá vỡ các quan hệ sản xuất c , tạo nên sự phát triển cơ sở vật chất kỹ thuật; mở mang thêm một số ngành nghề mới, xóa bỏ tình trạng bế quan tỏa cảng của chế độ phong kiến; các nước thuộc địa bắt đầu tiếp thu tư tưởng dân chủ, chính thể dân chủ đại nghị, những giá trị về tư tưởng pháp quyền; những yếu tố kinh tế tạo nên cơ sở cho xã hội tiến hành các cuộc cải cách, xóa bỏ những hủ tục lạc hậu đã c kỷ lâu đời, những sinh hoạt cổ xưa, xây dựng đời sống văn minh, hiện đại, và c ng với

Trang 20

những giá trị trên là tiếp thu những ảnh hưởng tích cực của văn hóa, ngôn ngữ phương Tây, …

Trước hết, Cuộc cách mạng Tân Hợi bùng nổ ở Trung Quốc vào tháng 10 năm 1911 Chỉ 5 hoặc 6 tháng sau khi Phan Châu Trinh sang Pháp (chuyến tàu ngày 1 tháng 4 năm 1911)

“Mặc dù cuộc cách mạng diễn ra phức tạp, thành quả hạn chế, song nó đã hoàn thành sứ mạng lịch sử vĩ đại là lật đổ chế độ phong kiến đã tồn tại ở đây hàng mấy nghìn năm và

là một trong những biểu hiện cụ thể, sinh động của sự thức tỉnh của Châu Á về một nền dân chủ tiến bộ như nhận định, đánh giá của Lênin Hiện không có tài liệu nào nói về phản ứng của Phan Châu Trinh đối với cuộc cách mạng này, song trong rất nhiều buổi diễn thuyết của ông trước đồng bào mình, Phan Châu Trinh thường nêu lên trường hợp của Trung Quốc và Nhật Bản như một ví dụ điển hình về sự thức tỉnh của Châu Á và thường nói rằng hiện nay ở Châu Á chỉ còn Việt Nam và Philippin là đang mê ngủ Ông tha thiết kêu gọi mọi người hãy nhận ra điều đó, hãy thức tỉnh và làm cho

cả nước thức tỉnh để tiến vào con đường văn minh và tiến bộ theo gương Nhật Bản và Trung Quốc” (Phan Châu Trinh, Chương Thâu biên soạn, 2005, T2, tr.7)

Qua đó, ta thấy chính là do quá trình xâm lược của chủ nghĩa tư bản đã biến các dân tộc độc lập, tự chủ trở thành dân tộc phụ thuộc, mất quyền tự quyết

Để chống lại sự xâm lược đó, bảo vệ độc lập dân tộc, buộc các dân tộc phải đứng lên đấu tranh và đã hình thành nên phong trào giải phóng dân tộc Các cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc ở các nước Á, Phi, Mỹ Latinh khi thực dân phương Tây xâm lược diễn ra ở những thời điểm khác nhau ở giai đoạn cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX có hình thức và phương pháp cách mạng khác nhau nhưng tất cả đều hướng đến nhiệm vụ quan trọng và chủ yếu là để chống lại thực dân, giành độc lập dân tộc

Trang 21

“Có hai loại hình thức chủ yếu đã diễn ra trong phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc: một là, đấu tranh v trang bao gồm cả triều đình phong kiến, sỹ phu, nhân dân, các hình thức này diễn ra ở Trung Quốc, Ấn Độ, Triều Tiên, các nước Đông Nam Á Hai là, phương pháp đấu tranh hòa bình bằng các cuộc cải cách xã hội, bất hợp tác với thực dân, hình thức này diễn ra rất ít, chủ yếu ở Ấn Độ thời kỳ đầu” (Doãn Chính, 2013, tr.840)

Các hình thức đấu tranh như vậy, đã ít nhiều tác động nhất định lên việc lựa chọn phương pháp cách mạng của Phan Châu Trinh và các nhà tư tưởng cùng thời trong cuộc cách mạng nhằm giải phóng dân tộc Quy mô của phong trào giải phóng dân tộc diễn ra khá rộng, trên hầu hết các nước bị xâm lược cho nên nó trở thành một xu thế của thời đại, dù muốn hay không, ít hay nhiều các dân tộc đều chịu sự ảnh hưởng của phong trào này

Sau 3 năm khi Phan Châu Trinh sang Pháp, cuộc Chiến tranh thế giới thứ lần thứ I bùng nổ mà Pháp là một trong số nước tham chiến sớm và trực tiếp Để

hỗ trợ chiến tranh, chính phủ Pháp đã mở những chiến dịch để nhằm mục đích huy động người và của cải ở các thuộc địa Đông Dương, mà chủ yếu là ở Việt Nam để có sự đóng góp quan trọng nhất

“Trong thư gửi cho Đại úy Roux ngày 15 – 10 – 1913, Phan Châu Trinh cho biết ông tán thành việc huy động binh lính Việt Nam sang chiến đấu bên cạnh lính Pháp và cho rằng việc đó chứng tỏ người Việt Nam có sự gắn bó với người Pháp và xứng đáng được nước Pháp coi trọng và có sự đối

xử tốt để nâng đỡ người Việt Nam ngày càng tiến bộ […] Có thể nói Chiến tranh thứ I là cơ hội để Phan Châu Trinh khai thác cuộc vận động của ông với chính phủ Pháp nhằm làm cho họ thay đổi cách nhìn nhận, đánh giá đối với người Việt Nam, qua đó thay đổi chính sách cai trị ở thuộc địa”(Phan Châu Trinh, Chương Thâu biên soạn, 2005,T1, tr.8)

Trang 22

Tính đa dạng, phong phú của phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc đã

được thể hiện trong sự hình thành các khuynh hướng chính sau: một là, phong trào giải phóng mang ý thức hệ phong kiến; hai là, phong trào giải phóng dân tộc

mang khuynh hướng vô sản, tầng lớp sỹ phu đã sớm nhận thức xu thế lịch sử hiện tại, lãnh đạo dân tộc đứng lên đấu tranh giải phóng dân tộc, họ chủ trương đi

theo khuynh hướng tư sản; ba là, phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc theo ý

thức hệ tư sản và do giai cấp tư sản lãnh đạo Các cuộc cách mạng giải phóng dân tộc theo các con đường nêu trên c ng đạt được những kết quả nhất định trong việc cải cách xã hội, tuy nhiên, bên cạnh những kết quả tích cực thì chưa có cuộc cách mạng nào thành công triệt để Có thể thấy rõ ràng là, ở châu Á phong trào giải phóng dân tộc có những phương án lựa chọn con đường cách mạng khác nhau, điều đó đã tác động trực tiếp đến việc lựa chọn con đường cách mạng của các nhà tư tưởng chính trị Việt Nam, nhất là giai đoạn cuối thế kỷ XIX đầu thế

kỷ XX, trong đó có nhà tư tưởng cách mạng Phan Châu Trinh

Trong lịch sử thế giới thì Cách mạng tháng Mười Nga (1917) thành công, góp phần quan trọng cho phong trào giải phóng dân tộc chuyển sang con đường cách mạng mới - cách mạng vô sản Cuộc cách mạng này là cuộc cách mạng triệt

để nhất, đã giải quyết mâu thuẫn giữa độc lập dân tộc với chủ nghĩa đế quốc, mâu thuẫn giữa giai cấp vô sản, giữa nhân dân lao động với giai cấp tư sản, địa chủ Giai cấp vô sản trở thành giai cấp lãnh đạo với chính đảng là Đảng Cộng sản, lực lượng cách mạng là công nhân và nông dân Chính thắng lợi vang dội của cách mạng vô sản đã chứng tỏ, chỉ có giải phóng dân tộc dưới ngọn cờ vô sản và dưới

sự lãnh đạo của giai cấp công nhân, với lực lượng cách mạng là liên minh giai cấp trong đó lấy liên minh công – nông – trí làm nền tảng thì cuộc cách mạng đó mới có thể thành công Sự ảnh hưởng của Cách mạng tháng Mười Nga, trong tư tưởng chính trị của Phan Châu Trinh đã bắt đầu xuất hiện khuynh hướng chuyển sang cách mạng vô sản

“Cách mạng tháng 10 Nga thành công cùng với việc thành lập chính quyền Xô Viết nhằm xây dựng Chủ nghĩa xã hội dường như không gây được ấn tượng mạnh đối với tư tưởng

Trang 23

và đường lối chính trị của Phan Châu Trinh – Tuy nhiên, nhiều lần trong các cuộc diễn thuyết hoặc phát biểu ý kiến, ông đã bày tỏ tình cảm tốt với mục tiêu nhân đạo của cuộc cách mạng này là xây dựng một xã hội tự do và công bằng không có sự phân biệt giàu nghèo, giai cấp” (Phan Châu Trinh, Chương Thâu biên soạn, 2005, T1, tr.8)

Như vậy, vào nửa cuối thế kỷ XIX nửa đầu thế kỷ XX, lịch sử thế giới có nhiều chuyển biến to lớn, chủ nghĩa tư bản phát triển nhanh chóng, chuyển từ giai đoạn tự do cạnh tranh sang giai đoạn độc quyền của chủ nghĩa đế quốc và trở thành một hệ thống thế giới Các nước đế quốc ra sức mở rộng xâm chiếm thuộc địa, tranh giành, xâu xé, nô dịch, áp bức các dân tộc nhỏ yếu, làm xuất hiện hàng loạt các mâu thuẫn ngày càng gay gắt: mâu thuẫn giữa giai cấp vô sản với giai cấp

tư sản ở các nước đế quốc; mâu thuẫn giữa các dân tộc thuộc địa với đế quốc thực dân; mâu thuẫn giữa quần chúng nhân dân lao động - chủ yếu là nông dân với giai cấp địa chủ phong kiến, triều đình phong kiến ở các nước phương Đông, mâu thuẫn giữa giai cấp công nhân ở các nước thuộc địa với giai cấp tư sản bản xứ và giai cấp tư sản thực dân; mâu thuẫn giữa các nước đế quốc với nhau trong phân chia thị trường… Những mâu thuẫn đó đặt nhân loại trước yêu cầu bức thiết phải giải quyết, từ đó làm xuất hiện nhiều phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc, giải phóng con người; trong đó nổi bật là thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười Nga đã đưa nhân dân Nga từ thân phận nô lệ bước lên làm chủ vận mệnh và cuộc sống của mình, biến chủ nghĩa xã hội từ một lý luận khoa học trở thành hiện thực, cổ v mạnh mẽ các dân tộc bị áp bức đứng lên tự giải phóng mình Bên cạnh đó, trên thế giới xuất hiện ngày càng nhiều tư tưởng giải phóng, bảo vệ và phát triển đất nước; nổi bật là thành công của Nhật Bản và Trung Quốc trên con đường canh tân, thúc đẩy mạnh mẽ sự phát triển xã hội, hay như tư tưởng khai sáng Pháp,… Thực tiễn tình hình thế giới đặt ra cho dân tộc Việt Nam câu hỏi phải bằng con đường cách mạng nào để giải phóng dân tộc, giải phóng con người, xây dựng và phát triển đất nước theo kịp các quốc gia trong khu vực Chính những điều kiện lịch sử - xã hội

Trang 24

của thế giới như thế đã ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình hình thành tư tưởng yêu nước của Phan Châu Trinh

1.1.2 Điều kiện Việt Nam nửa cuối thế kỷ XIX nửa đầu thế kỷ XX với sự hình thành tư tưởng yêu nước của Phan Châu Trinh

Tư tưởng yêu nước của Phan Châu Trinh được hình thành và phát triển từ yêu cầu xã hội Việt Nam nửa cuối thế kỷ XIX nửa đầu thế kỷ XX, nhà Nguyễn tiếp tục thiết lập và duy trì chế độ phong kiến quan liêu chuyên chế cực đoan của mình Để duy trì và củng cố chế độ đó, triều đình nhà Nguyễn một mặt ra sức bóc lột dã man, nặng nề, khiến dân tình oán giận, thù ghét; mặt khác, triều đình nhà Nguyễn lại chủ trương bảo thủ, đóng cửa với thế giới bên ngoài, không cải cách

để đưa nước ta thoát khỏi khủng hoảng lúc bấy giờ Trong khi đó, các nước phương Tây ráo riết để trở thành những nước đế quốc chủ nghĩa, càng ráo riết chạy đua tìm kiếm thị trường ở các nước phương Đông, những vùng đất chưa bị thôn tính, trong đó có Việt Nam đều bị đe dọa nghiêm trọng Khi thấy nước Việt Nam có nhiều tài nguyên phong phú thì thực dân Pháp đã nhắm đến và Việt Nam trở thành đối tượng xâm lược của thực dân Pháp Triều đình nhà Nguyễn không

có một phương án nào để đưa đất nước thoát khỏi tình cảnh khó khăn này nên hậu quả là tiềm lực đất nước ngày càng suy yếu, kiệt quệ và mối nguy cơ đe dọa

từ bên ngoài càng gia tăng, tạo điều kiện cho thực dân Pháp xâm lược nước ta vào nửa sau thế kỷ XX

Năm 1858, Pháp đã chính thức bắn phát súng để xâm lược Việt Nam, với

lí do mà thực dân Pháp đã đưa ra là triều đình Huế ngược đãi các giáo sĩ, và cự tuyệt không nhận quốc thư của Pháp đòi tự do buôn bán Thực dân Pháp xâm lược nước ta với Hiệp ước Hácmăng (1883) và Hiệp ước Patơnốt (1884), triều đình nhà Nguyễn đã yếu mềm lui dần từng bước rồi cuối cùng là đầu hàng nhục nhã trước thực dân Pháp Sau khi hoàn thành chiến tranh xâm lược và bình định, thực dân Pháp đã ráo riết và đẩy mạnh khai thác thuộc địa rồi dần dần làm chuyển hóa xã hội nước ta, từ một xã hội phong kiến thành xã hội thuộc địa nửa phong kiến tiến hành từng bước để nước ta phải làm theo đúng yêu cầu và mong muốn của chúng Pháp tước bỏ quyền lực của nhà Nguyễn, chia nước ta thành ba

Trang 25

xứ: Bắc Kì, Trung Kì và Nam Kì, mỗi kì một chế độ chính trị riêng và nhập ba

kỳ đó với Lào và Campuchia để lập ra liên bang Đông Dương thuộc Pháp, nhằm xóa tên nước ta trên bản đồ thế giới Tính chất của xã hội thuộc địa nửa phong kiến được biểu hiện trên các mặt về kinh tế, chính trị - xã hội, văn hóa, khoa học – kỹ thuật

Về kinh tế: sau thực dân Pháp xâm lược và bình định xong việt Nam,

chúng tiến hành khai thác thuộc địa, làm thay đổi căn bản tình hình kinh tế Việt Nam Để bóc lột tối đa và khai thác riệt để những thuận lợi nhất của tài nguyên thiên nhiên nước ta, thực dân Pháp tiếp tục thực hiện chính sách tiếp tục sử dụng phương thức sản xuất phong kiến lạc hậu kết hợp với phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa Về nông nghiệp: với trình độ sản xuất thấp, sản xuất theo kiểu phong kiến, chủ yếu ở các hộ gia đình và tập trung sản xuất nguyên liệu, chưa coi trọng về chế biến, năng xuất thấp Thực dân Pháp phát triển kinh tế Việt Nam với mục đích thu vét của cải, chưa quan tâm đến ứng dụng, phát triển khoa học trong nông nghiệp Nền kinh tế kém phát triển, đời sống nông dân và các tầng lớp lao động khác rất khổ cực, nông nghiệp chưa tạo ra nền tảng cho sự phát triển kinh tế quốc dân bền vững Nhìn chung, tính chất sản xuất nhỏ, độc canh, lạc hậu của nền nông nghiệp Việt Nam vẫn rất nặng nề Hệ quả của việc thực dân khai thác thuộc địa và sự thay đổi trong lĩnh vực nông nghiệp dẫn đến phân hóa rất lớn trong xã hội Việt Nam, làm xuất hiện những tầng lớp mới: tư sản, vô sản Đồng thời, c ng làm cho mâu thuẫn về lợi ích giữa các tầng lớp, giai cấp trong xã hội

“Trong công nghiệp, thực dân Pháp tăng cường cướp đoạt ruộng đất, mở thêm đồn điền, vơ vét nông phẩm xuất khẩu Sau khi chiếm được ruộng đất, chúng đua nhau lập ra những đồn điền rộng lớn để sản xuất gạo phục vụ cho xuất khẩu kiếm lời Ngoài việc chiếm đoạt ruộng đất, chúng còn thi nhau chiếm thêm những vùng đất đỏ ở Trung Kỳ và Nam

Kỳ để lập nhiều đồn điền cao su, cà phê, chè, mía, bông gòn

và hồ tiêu v.v… để phục vụ cho xuất khẩu” (Nguyễn Quang

Lê, 2001, tr.314)

Trang 26

Các ngành công nghiệp khai khoáng, công nghiệp nh và chế biến quặng được hình thành và ngày càng phát triển: các công ty than ở Hạ Long, Đông Triều, Tuyên Quang, nhà máy tơ sợi và dệt ở Hà Nội, Nam Định, Sài Gòn Sự phát triển của các ngành công nghiệp đã tạo nên sự phân hóa xã hội Làm thay đổi tư duy, nếp nghĩ, phong cách làm việc của người lao động, các quan hệ kinh

tế - xã hội, những yếu tố này tác động rất lớn đến ý thức, tư tưởng của người Việt Nam “Tư bản Pháp tiếp tục đẩy mạnh khai thác mỏ nhằm vơ vét tài nguyên khoáng sản, đồng thời mở thêm một số xí nghiệp công nghiệp chế biến để tăng cường bóc lột nguồn nhân công rẻ mạt tại chỗ mà không gây ảnh hưởng gì đến nền công nghiệp chính quốc” (Nguyễn Quang Lê, 2001, tr.314)

Về thủ công nghiệp,

“là ngành kinh tế phụ như dệt vải, đan lát, chế biến nông sản, nghề mộc, sửa chữa nhỏ ngày càng phát triển rộng rãi Những ngành nghề này có tác dụng hỗ trợ cho kinh tế nông nghiệp, công nghiệp nhưng vẫn nằm trong khuôn khổ phương thức sản xuất phong kiến, mặc dù có phát triển nhưng chưa đủ sức phá vỡ quan hệ sản xuất phong kiến lạc hậu” (Doãn Chính, 2013, tr.859)

Sự phát triển các ngành công nghiệp đã tạo nên sự phân hóa xã hội, đó là

sự xuất hiện giai cấp công nhân, giai cấp tư sản, sự phát triển của tầng lớp thợ thủ công, buôn bán Đồng thời, c ng làm thay đổi tư duy, nếp nghĩ, phong cách làm việc của người lao động, các quan hệ kinh tế - xã hội, những yếu tố này tác động rất lớn đến ý thức, tư tưởng người Việt Nam

Giao thông vận tải là ngành kém phát triển trong chế độ phong kiến,

nhưng đến cuối thế kỷ XIX, nhằm phục vụ các cuộc khai thác thuộc địa, thực dân Pháp đẩy mạnh phát triển Đó là điều kiện để giao lưu kinh tế, văn hóa, tư tưởng với các vùng trong nước và ngoài nước

“Trong giao thông vận tải, thực dân Pháp cho khởi công xây dựng thêm một số đoạn đường sắt xuyên Đông Dương để phục vụ cho công cuộc khai thác thuộc địa lần thứ 2 Riêng

Trang 27

đường bộ thì đến năm 1930 có 15 nghìn km đường rải đá

Mở thêm 2 hải cảng chính là Sài Gòn và Hải Phòng, cùng hệ thống kho hàng, bến bãi, phương tiện bốc xếp và vận chuyển được trang bị thêm…” (Nguyễn Quang Lê, 2001, tr.314)

Về thương nghiệp, trong chế độ phong kiến nhà Nguyễn thực hiện chính

sách “bế quan tỏ cảng” nên chậm phát triển Khi thực dân Pháp xâm lược, hàng rào ấy bị xóa bỏ, thương nghiệp bắt đầu phát triển, tạo điều kiện tốt cho nước ta giao lưu ra bên ngoài, tiếp cận với các nền văn minh thế giới “Thực dân Pháp đã thi hành chính sách bảo hộ hàng hóa của Pháp bằng hàng rào thuế quan rất ngặt nghèo […] Chế độ độc quyền mua bán muối và bán rượu, mua và bán thuốc phiện được thực dân Pháp đẩy mạnh hơn trước nhiều” (Nguyễn Quang Lê, 2001, tr.316)

Thực dân Pháp đã mang đến phương thức sản xuất tư bản vào nước ta, làm tình hình kinh tế Việt Nam có những biến đổi: kinh tế nông thôn bị phá vỡ và dần mất đi và sau đó hình thành nên những khu đô thị mới, những trung tâm kinh tế

và tụ điểm cư dân mới Từ đầu thế kỷ XIX, bộ máy chính quyền phong kiến triều Nguyễn ngày càng lủng đoạn, khủng hoảng và suy yếu Sang cuối thế kỷ XIX, toàn bộ nước ta chính thức bị đặt dưới sự thống trị của thực dân Pháp “Sau khi hoàn thành chiến tranh xâm lược và bình định, thực dân Pháp đã đẩy mạnh kế hoạch “Khai thác lần thứ nhất” kế hoạch này đã kéo dài từ năm 1897 đến chiến tranh thế giới lần thứ nhất (1914) Xã hội phong kiến Việt Nam vốn đã trì trệ, kém phát triển ở thời kỳ chính quyền triều Nguyễn trị vì, giờ đây lại đã trở thành

xã hội thuộc địa nửa phong kiến dưới sự cai trị khóc liệt của thực dân Pháp

Về xã hội: toàn bộ cơ cấu, tổ chức, bộ máy cai trị của triều Nguyễn đã bị thực dân Pháp thiết lập và kiện toàn cơ cấu mọi mặt của bộ máy thống trị từ trung ương đến địa phương nhằm thực hiện mục đích cai trị thuộc địa của mình với âm mưu vô cùng thâm độc “chia để trị” và “dùng người Việt trị người Việt”

“Về xã hội mà xét thì ở bước đầu khai thác, chính sách kinh

tế của Pháp có tạo nên những thuận lợi nhất định cho công việc làm ăn của tầng lớp thị dân, do đó hình thành giai cấp

Trang 28

tư sản buổi đầu và tầng lớp thị dân nông thương nghiệp, các tầng lớp này cần có sự hòa hoãn để tiến lên Mặt khác nông dân lại mâu thuẫn lâu đời, mâu thuẫn sâu sắc với cường hào, quan lại, địa chủ và từ khi Pháp đô hộ, lại mâu thuẫn nặng

nề với Pháp qua sưu thuế và sự áp bức, bốc lột của quan lại, tổng lý” (Phan Châu Trinh, Chương Thâu biên soạn, 2003, tr.43)

Các cuộc khai thác thuộc địa của thực dân Pháp ảnh hưởng mạnh mẽ đến tình hình xã hội Việt Nam Được thể hiện ở sự phân hoá giai cấp diễn ra ngày càng sâu sắc hơn

Giai cấp địa chủ phong kiến đã tồn tại hơn ngàn năm Chủ nghĩa tư bản

thực dân được đưa vào Việt Nam nhưng không thể xóa bỏ và làm lu mờ giai cấp địa chủ phong kiến Vì thế, thực dân Pháp vẫn duy trì giai cấp địa chủ để làm cơ

sở cho chế độ thuộc địa Tuy nhiên, do chính sách kinh tế và chính trị phản động thâm độc của thực dân Pháp, giai cấp địa chủ càng bị phân hóa thành ba bộ phận khá rõ rệt: tiểu, trung và đại địa chủ Những địa chủ bị phá sản, vốn sinh ra và lớn lên trong một quốc gia dân tộc có truyền thống yêu nước chống ngoại xâm, lại bị chính sách thống trị tàn bạo về chính trị, chèn ép về kinh tế, nên một bộ phận tiểu và trung địa chủ không chịu nỗi nhục mất nước, có mâu thuẫn với đế quốc về quyền lợi dân tộc nên đã tham gia đấu tranh chống thực dân và bọn phản động tay sai

“Trong giai đoạn này, giai cấp công nhân Việt Nam đã trưởng thành nhanh chóng về cả số lượng và chất lượng Đến những năm 1929 – 1930, đội ng công nhân tăng lên 22 vạn người Trong đó phần lớn công nhân xuất thân từ nông dân lao động bị bần cùng hóa, phần còn lại từ những thợ thủ công, tiểu thương, tiểu chủ phá sản Người công nhân Việt Nam khi đó vừa là nô lệ làm thuê, vừa là nô lệ mất nước.” (Nguyễn Quang Lê, 2001, tr.320)

Trang 29

Nông dân bị đế quốc, phong kiến địa chủ và tư sản ra sức áp bức, bóc lột rất nặng nề Ruộng đất của nông dân c ng bị bọn tư bản thực dân chiếm đoạt một cách trắng trợn Chính sách độc quyền về kinh tế như mua rẻ bán đắt, tô cao, thuế nặng, chế độ cho vay nặng lãi của đế quốc và phong kiến đã đẩy nông dân vào con đường bần cùng hóa không lối thoát Một số ít bán sức lao động, làm thuê trong các nhà máy, hầm mỏ, đồn điền hoặc bị bắt đi làm phu tại các thuộc địa khác của đế quốc Pháp Còn số đông còn lại vẫn phải cố gắng bám víu vào đồng ruộng và gánh chịu sự bóc lột vô cùng nặng nề ngay trên mảnh đất mà trước đây

là sở hữu của chính bản thân họ

Vì bị mất nước và mất ruộng đất của mình nên nông dân có mâu thuẫn với

đế quốc và phong kiến, đặc biệt sâu sắc nhất với đế quốc và bọn tay sai phản động, cái bọn mà đã vì chút lợi ích mà bọn thực dân phong kiến cho họ, mà đã ra tay dã man đàn áp tàn bạo nông dân Những người nông dân vừa có yêu cầu độc lập dân tộc, lại vừa có yêu cầu ruộng đất, song yêu cầu về độc lập dân tộc là bức trên hết Giai cấp nông dân có truyền thống đấu tranh kiên cường bất khuất trong lịch sử của dân tộc, là lực lượng to lớn nhất, một động lực cách mạng mạnh mẽ Giai cấp nông dân khi được tổ chức lại và có sự lãnh đạo cách mạng thì họ sẽ phát huy tích cực vai trò quan trọng của mình trong sự nghiệp đấu tranh vì độc lập tự do của dân tộc Việt Nam

Giai cấp tư sản hình thành trong quá trình xâm lược, khai thác thuộc địa

của thực dân Pháp Trước Chiến tranh thế giới thứ nhất, tư sản Việt Nam mới chỉ

là một tầng lớp nhỏ, không được chú ý đến nhiều Sau chiến tranh, tư sản Việt Nam đã hình thành giai cấp rõ rệt Ra đời trong điều kiện bị tư bản Pháp chèn ép, cạnh tranh rất gay gắt, nên số lượng tư sản Việt Nam không nhiều, không có thế lực về kinh tế và thế lực chính trị thì yếu đuối

Giai cấp tiểu tư sản bao gồm nhiều bộ phận khác nhau: tiểu thương, tiểu

chủ, thợ thủ công, viên chức, trí thức, học sinh, sinh viên và những người làm nghề tự do Giữa những bộ phận đó có sự khác nhau về kinh tế nhưng nhìn chung, địa vị kinh tế của họ không ổn định, luôn luôn bị đe dọa phá sản, thất nghiệp Họ có tinh thần yêu nước sâu sắc, lại bị đế quốc và phong kiến áp bức,

Trang 30

bóc lột và khinh rẻ nên lòng hăng hái cách mạng thể hiện rất cao Đặc biệt là tầng lớp trí thức là tầng lớp rất nhạy cảm với thời cuộc, họ có cơ hội tiếp cận với những tư tưởng tiến bộ và canh tân đất nước, tha thiết bảo vệ những giá trị tinh thần truyền thống của dân tộc Khi phong trào quần chúng công nông đã thức tỉnh, giai cấp tư sản bước vào cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc ngày một đông đảo và đóng một vai trò quan trọng trong phong trào đấu tranh của quần chúng, nhất là ở thành phố lớn và khu đô thị

Giai cấp công nhân là sản phẩm trực tiếp của chính sách khai thác thuộc

địa của thực dân Pháp Tầng lớp công nhân đầu tiên xuất hiện ở Việt Nam là vào cuối thế kỷ XIX, khi thực dân Pháp xây dựng một số cơ sở công nghiệp, tại thành phố và các nhà máy để phục vụ cho việc xâm lược và bình định của chúng ở nước ta Trong cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất của đế quốc Pháp, giai cấp công nhân đã hình thành Đến cuộc khai thác thuộc địa lần thứ hai, giai cấp công nhân đã phát triển nhanh chóng về số lượng

Giai cấp công nhân Việt Nam tuy còn non trẻ, do mới được hình thành khi thực dân Pháp đặt chính sách đô hộ ở nước ta nên số lượng chỉ chiếm tỉ lệ nhỏ, trình độ học vấn, kỹ thuật thấp Họ thường sống khá tập trung tại các thành phố, các trung tâm công nghiệp và các đồn điền mà thực dân Pháp đã xây dựng

Giai cấp công nhân Việt Nam có những đặc điểm chung, và nét tương đồng với giai cấp công nhân quốc tế, đồng thời còn có những điểm riêng của mình như: phải chịu ba tầng lớp áp bức bóc lột hết sức nặng nề từ: đế quốc, phong kiến và tư sản bản xứ; phần lớn xuất thân từ nông dân bị bần cùng hóa mà

ra, nên có mối quan hệ gần g i và chặt chẽ với nông dân Giai cấp công nhân Việt Nam ra đời trước giai cấp tư sản dân tộc, nên họ luôn thống nhất, không bị phân tán về lực lượng và sức mạnh Sinh ra và lớn lên ở một đất nước có nhiều truyền thống văn hóa tốt đ p, nhất là truyền thống yêu nước chống ngoại xâm, sớm tiếp thu được tinh hoa văn hóa tiên tiến trong trào lưu tư tưởng của thời đại cách mạng vô sản để bồi dưỡng bản chất cách mạng của mình

Giai cấp công nhân Việt Nam là một giai cấp xã hội tiên tiến, đại diện cho phương thức sản xuất mới, giai cấp công nhân luôn có ý thức tổ chức kỷ luật cao,

Trang 31

có tinh thần và ý chí chiền đấu cách mạng, lại mang bản chất giống như của giai cấp công nhân quốc tế Họ là một động lực cách mạng mạnh mẽ, nồng cốt và khi liên minh được với giai cấp nông dân và tiểu tư sản sẽ trở thành cơ sở vững chắc cho khối đại đoàn kết dân tộc trong cuộc đấu tranh vì độc lập tự do Khi được tổ chức chặt chẽ thì sẽ phát huy được hết sức mạnh và lòng nhiệt tình cách mạng của họ, đặc biệt là khi được trang bị bằng một học thuyết cách mạng triệt để là chủ nghĩa Mác - Lênin thì giai cấp công nhân trở thành người lãnh đạo cuộc đấu tranh vì độc lập tự do của dân tộc

Sự thống trị và khai thác thuộc địa của thực dân Pháp:

Về chính trị: thực dân Pháp trực tiếp tiến hành chính sách cai trị ở Đông

Dương Chúng dùng bộ máy quân sự, cảnh sát, nhà tù để nhằm loại bỏ mọi quyền dân chủ, đàn áp, khủng bố mọi sự chống đối của người dân ở Đông Dương; cụ thể là chúng đã dùng chính sách chia nhỏ ra từng khu vực để dễ bề cai trị, cụ thể

là đã chia nước ta thành ba kỳ với ba chế độ cai trị khác nhau Thực dân Pháp vẫn cho bộ máy chính quyền phong kiến nhà Nguyễn hoạt động nhưng chỉ là công cụ tay sai của thực dân Pháp để áp bức về chính trị và bóc lột kinh tế Nhân dân ta rơi vào tình cảnh vừa bị mất nước trở thành nô lệ vừa bị đàn áp, bóc lột, cuộc sống của người dân rơi vào tình thế vô cùng khổ cực

Về kinh tế: Thực dân Pháp tiến hành hai cuộc khai thác thuộc địa ở Đông

Dương, trong đó, thực dân Pháp chú trọng và khoanh vùng chủ yếu là ở Việt Nam Vì Việt Nam có nguồn tài nguyên dồi dào và là cửa ngõ ra vào của ba nước Đông Dương nên thực dân Pháp bỏ rất nhiều vốn vào nhiều ngành khác nhau ở Việt Nam như: công nghiệp (lập các đồn điền cao su, cà phê, chè…) và các ngành khai thác mỏ (chủ yếu là than, sắt, thiếc, vàng) để thu lại nhiều lợi nhuận cao và đem về phục vụ cho chính quốc Thực dân Pháp đã cho xây dựng ngành giao thông vận tải đường bộ, đường sắt phát triển các cơ sở công nghiệp chế biến; tham vọng của thực dân Pháp là muốn độc quyền ngoại thương Ngân hàng Đông Dương của Pháp độc quyền tài chính, chúng đã đặt ra hàng trăm thứ thuế

vô lí và bắt dân ta phải nộp, tàn ác nhất là thuế thân; chúng còn cho nhân dân vay tiền với lãi suất rất cao Đã làm cho nền kinh tế nước ta có sự phát triển theo cái

Trang 32

guồng mà bọn chúng đặt ra là theo hướng tư bản chủ nghĩa nhưng cơ bản vẫn là nền kinh tế thuộc địa mất cân đối, lệ t huộc hoàn toàn vào thực dân Pháp

Về văn hóa: Thực dân Pháp cho thi hành chính sách nô dịch văn hóa; xóa

sổ hệ thống giáo dục phong kiến và thay vào đó là chế độ giáo dục thực dân hạn chế Thực dân Pháp mở hàng loạt nhà tù, trại giam, số lượng nhà tù và trại giam mọc lên như nấm sau mưa và còn nhiều hơn là trường học mấy lần; chúng còn khuyến khích và đưa dân ta tham gia vào các hoạt động mê tín, dị đoan, các tệ nạn cờ bạc, rượu chè, hạn chế xuất bản sách, báo, gây tâm lý tự ti dân tộc Kết quả là đã làm cho phần lớn nhân dân ta bị mù chữ và không cho nhân dân ta tiếp cận với mọi thông tin tiến bộ từ bên ngoài

Như vậy, chính sách thống trị và cai trị của thực dân Pháp đối với Việt

Nam nói riêng và cả Đông Dương nói chung đó là một chính sách thống trị về chính trị, bóc lột nặng nề về kinh tế nhằm đem lại lợi nhuận về kinh tế để phục

vụ cho chính quốc, chúng đã thi hành nhiều chính sách để kìm hãm và nô dịch về văn hóa, giáo dục, chứ không phải đem đến cho nhân dân một sự khai hoá văn minh thật sự mà chúng đã nói khi đặt chân lên đất nước ta, và bản chất thật sự của việc khai hóa đó chính là sự khai thác thuộc địa diễn ra dưới lưỡi lê, họng súng, máy chém, v.v… Chính những biến đổi trong xã hội lúc bấy giờ như biến đổi về văn hóa, giáo dục đã tạo nên những biến đổi trong nhận thức và tư tưởng của nhân dân ta Mặc dù, thực dân Pháp đặt ách nô dịch về văn hóa, giáo dục nhưng với truyền thống lâu năm được truyền từ đời này sang đời khác và tinh thần tự tôn, độc lập, tự chủ, thì nhân dân đã có những thay đổi nhất định về sự nhận biết thế giới xung quanh, về chính trị, xã hội, văn hóa … Mặt khác, trong đội ng trí thức, một bộ phận có ý thức tự tôn dân tộc đã tích cực, họ đã chủ động tìm hiểu và tiếp thu những tư tưởng tiến bộ của Phương Tây nói riêng, và nhân loại nói chung, để truyền bá vào nước ta để nhân dân ta có thể thức tỉnh và thoát khỏi cảnh lầm than này Đây là yếu tố rất cần thiết cho việc đổi mới tư duy của các nhà tư tưởng, mở rộng thêm những nhận thức mới, tạo ra một bước đột phá mãnh liệt với hệ tư tưởng phong kiến Trong tầng lớp sĩ phu tiến bộ ấy, chúng ta

có thể kể đến nhà tư tưởng Phan Châu Trinh

Trang 33

Tóm lại, xã hội Việt Nam nửa cuối thế kỷ XIX nửa đầu thế kỷ XX dưới

chính sách khai thác thuộc địa của thực dân Pháp đã xuất hiện hai mâu thuẫn cơ bản, đó là: mâu thuẫn giữa dân tộc Việt Nam với thực dân Pháp xâm lược và mâu thuẫn giữa nhân dân lao động, mà chủ yếu là nông dân với địa chủ phong kiến Tình hình đó đặt ra vấn đề cấp bách phải giải quyết, đó là đấu tranh dân tộc chống đế quốc và đấu tranh dân chủ chống phong kiến; đòi hỏi cần có con đường đấu tranh phù hợp, đúng đắn để giải phóng con người, giải phóng dân tộc, đưa đất nước thoát khỏi cảnh nô lệ lầm than Chính điều kiện lịch sử - xã hội Việt Nam giai đoạn này đã thôi thúc Phan Châu Trinh đưa ra tư tưởng yêu nước của mình để trả lời cho câu hỏi lịch sử xã hội Việt Nam về con đường, phương pháp giải phóng dân tộc giải phóng đất nước, giải phóng con người

1.2 TIỀN ĐỀ LÝ LUẬN VỚI SỰ HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG YÊU NƯỚC CỦA PHAN CHÂU TRINH

Tư tưởng yêu nước của Phan Châu Trinh không chỉ được hình thành từ điều kiện lịch sử xã hội Việt Nam và thế giới nửa cuối thế kỷ XIX nửa đầu thế kỷ

XX, mà còn còn hình thành từ sự kế thừa, tiếp thu truyền thống văn hóa dân tộc;

tư tưởng Nho giáo, Phât giáo, Đạo giáo và Tân thư; đặc biệt là quan điểm dân chủ tư sản của phương Tây

nước Phan Châu Trinh

Phan Châu Trinh sinh ra và lớn lên trong một gia đình có tinh thần hiếu học và đậm nét truyền thống văn hóa tốt đ p của dân tộc Việt Nam Nhờ đó, ông

am hiểu rất sâu sắc và tường tận về lịch sử dân tộc, về truyền thống yêu nước

Trong hệ giá trị truyền thống của dân tộc Việt Nam, chủ nghĩa yêu nước là một trong những giá trị hàng đầu, nó đóng vai trò trung tâm, làm nền tảng cho mọi hoạt động tinh thần của nhân dân và trở thành điểm tựa vững chắc cho sự trường tồn của dân tộc Chủ nghĩa yêu nước không phải là sản phẩm của riêng của dân tộc Việt Nam, mà đó là tư tưởng tình cảm phổ biến và có ở tất cả các dân tộc trên thế giới Thế nhưng tư tưởng, tình cảm ấy hình thánh sớm hay không,

Trang 34

đậm hay nhạt, nội dung và hình thức biểu hiện như thế nào, chiều hướng phát triển ra sao thì tùy thuộc vào điều kiện lịch sử đặc thù của từng quốc gia dân tộc

Riêng đối với dân tộc Việt Nam, thì chủ nghĩa yêu nước không chỉ là tình cảm hết sức tự nhiên, mà còn là sản phẩm của lịch sử, nó đã được hun đúc bởi chính lịch sử đau thương và hào hùng của dân tộc thông qua công cuộc dựng nước và giữ nước Chủ nghĩa yêu nước không chỉ là những tư tưởng tình cảm thuần túy mà còn được thể hiện ở những hành động thiết thực của cá nhân và cộng đồng người Việt Nói cách khác, chủ nghĩa yêu nước Việt Nam nó có sự thống nhất hữu cơ giữa tình cảm và lý trí, giữa suy nghĩ và hành động, nó trở thành đạo lý sống của cá nhân và cộng đồng Do vậy, có thể hiểu: Chủ nghĩa yêu nước Việt Nam là hệ thống quan điểm, tư tưởng, tình cảm, ý chí và hành động của con người Việt Nam đối với đất nước, được hình thành và phát triển lâu dài trong lịch sử dựng nước, giữ nước của dân tộc; biểu hiện ở tình yêu quê hương,

xứ sở, đồng bào và hành động cống hiến sức lực tinh thần to lớn góp phần vào sự trường tồn của dân tộc và sự phồn vinh của đất nước

Truyền thống yêu nước của mỗi dân tộc là giá trị quan trọng, là hạt nhân

là sợi chỉ đỏ xuyên suốt trong truyền thống văn hóa dân tộc Việt Nam Và Việt Nam là một trong những quốc gia được hình thành rất sớm trải qua mấy ngàn năm dựng nước và giữ nước, đất nước Việt Nam trở thành Tổ quốc thiêng liêng của mỗi người dân Việt Nam Tinh thần yêu nước trở thành đạo lý sống, niềm tự hào và là một nhân tố đứng đầu trong giá trị tinh thần của con người Việt Nam

Lịch sử hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc ta cho thấy, do nằm ở vị trí chiến lược đặc biệt quan trọng trong khu vực và trên thế giới, ngoài

ra nước ta lại giàu tài nguyên thiên nhiên, nên dân tộc Việt Nam thường xuyên phải đối mặt và chống trả những cuộc chiến tranh xâm lược của các thế lực ngoại bang Bên cạnh đó, dân tộc ta còn phải liên tục đương đầu với những thử thách hết sức khắc nghiệt của thiên tai, hạn hán, bão lụt, … Để tồn tại và phát triển, các thế hệ người Việt Nam phải đoàn kết, sáng tạo trong lao động và đấu tranh Thông qua những khó khăn và gian khổ mà người dân ta phải chịu đựng, một là

do sự khắc nghiệt của thiên tai và do các thế lực thù định bên ngoài cứ hâm he

Trang 35

xâm chiếm nước ta, từ đó đã hình thành nên rất tự nhiên ở con người Việt Nam lòng yêu nước nồng nàn Giá trị tốt đ p đó đã được truyền từ đời này sang đời khác, được các thế hệ liên tục bồi đắp, phát triển và hoàn thiện, hình thành nên chủ nghĩa yêu nước Việt Nam Đây là một trong những truyền thống cao quý nhất, bền vững nhất, có vai trò to lớn trong lịch sử dân tộc ta

Nhìn lại lịch sử của dân tộc qua các thời kỳ, chúng ta có thể nhận thấy sự tồn tại xuyên suốt và biểu hiện rất đặc trưng của chủ nghĩa yêu nước Việt Nam Biểu hiện qua các tấm gương và phong trào tiêu biểu: Bà Trưng, Bà Triệu với tinh thần “không chịu cuối đầu, khom lưng làm tỳ thiếp”, Lý Thường Kiệt với

“Nam quốc sơn hà”; Trần Quốc Tuấn với “Hịch tướng sĩ”; Nguyễn Trãi với “ Cáo bình ngô”; phong trào Cần Vương (1885-1896), cuộc khởi nghĩa Bãi Sậy (1883-1892) do các lãnh tụ Đinh Gia Quế, Nguyễn Thiện Thuật lãnh đạo, cuộc khởi nghĩa diễn ra ở các huyện thuộc tỉnh Hưng Yên; khởi nghĩa Hồng Lĩnh (1887-1892) ở thượng nguồn song Mã thuộc tỉnh Vĩnh Lộc, Thanh Hóa, lãnh đạo khởi nghĩa là Tống Duy Tâm, Cao Điền; khởi nghĩa Hương Khê (1885-1895); phong trào đấu tranh tự vệ của nông dân Yên Thế và đồng bào miền núi Trong thời kỳ này, tiêu biểu nhất là cuộc khởi nghĩa Hương Khê của Phan Đình Phùng (1847-1895), đây là cuộc khởi nghĩa đỉnh cao của phong trào Cần Vương trong suốt 10 năm (1885-1895) trên địa bàn Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình Cuộc khởi nghĩa Hương Khê đã phát huy sức mạnh của nhân dân các tỉnh miền Trung Bắc Bộ,… đã đối mặt với hiểm nguy, chiến đấu anh hùng, hy sinh vì

Tổ quốc

Như vậy, truyền thống yêu nước của dân tộc Việt Nam đã được thể hiện

và biểu hiện qua nhiều nội dung và hình thức khác nhau và trong những thời kỳ khác nhau, nhưng tóm lại đó là một hệ thống vững chắc được xây dựng lâu đời Thứ nhất là, ý thức bảo vệ chủ quyền non sông đất nước, tinh thần độc lập dân tộc, không chịu khuất phục trước mọi kẻ thù dù là kẻ thù có hung ác tàn bạo đến

cỡ nào, nhất quyết không chịu mất nước, không chịu làm nô lệ, quyết tâm bảo vệ bản sắc văn hóa dân tộc Thứ hai là, tình cảm thiên liêng yêu quê hương, đất nước và sự gắn bó, đoàn kết giữa những con người có cùng nguồn gốc tổ tiên

Trang 36

Thứ ba là, tinh thần tận tụy, xả thân vì Tổ quốc thân yêu và chủ nghĩa anh hùng trong lao động, đấu tranh, sáng tạo để dựng nước và giữ nước

Vốn là một người sống rất tình cảm, từ nhỏ đã được tiếp thu và học tập nên ông đã có tinh thần yêu nước rất sớm, từ khi còn là một thiếu niên ông đã từng xúc động sâu sắc trước các bậc nhân nhân chí sĩ ngày xưa Chính vì vậy, Phan Châu Trinh càng chú trọng đến tầm quan trọng của việc học tập vấn đề giáo dục truyền thống

Về tư tưởng đoàn kết dân tộc, đoàn kết những lực lượng trong cả nước để chống Pháp, Phan Châu Trinh có một lòng tin mãnh liệt vào sức mạnh đoàn kết của nhân dân để giải quyết những vấn đề thực tiễn đặt ra, do đó, ông khẳng định rằng:

“Phải đoàn kết muôn người như một, để đòi lại những quyền chính đáng của chúng ta Viết lên báo chương, trình bày nguyện vọng, kêu gọi các lý tưởng nhân đạo của nước Pháp Con có gào thì m mới cho bú Người ta sẽ phải giải quyết khi ta đòi hỏi công lý…” (Phan Châu Trinh, Chương Thâu biên soạn, 2005, T2, tr.226)

Việt Nam có địa hình thuận lợi, đất đai phì nhiêu, khí hậu thuận tiện cho phát triển nông nghiệp, tài nguyên khoáng sản phong phú, chủ yếu sống và làm việc theo kiểu làng xã, phụ giúp nhau cùng làm ăn, lại có truyền thống văn hóa lâu đời, quý trọng tình người, lòng nhân ái, bao dung, tính nhân văn sâu sắc Chính những yếu tố đó đã tạo ra sức mạnh trong cuộc đấu tranh chống quân xâm lược của nhân dân ta Đó là mối quan hệ khăng khít giữa các cá nhân trong cộng đồng dân tộc Việt Nam, chính những điều đó đã tạo ra truyền thống văn hóa sâu sắc Đó là tính cố kết cộng đồng “lá lành đùm lá rách”, “một cây làm chẳng nên non, ba cây chụm lại nên hòn núi cao”, hay “bầu ơi thương lấy bí cùng tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn” qua những câu ca dao tục ngữ, những lời ru, điệu hò, câu ví không biết lịch sử của nó đã được hình thành như thế nào nhưng

nó đã khắc sâu vào tâm trí của mỗi con người Việt Nam, nên Phan Châu Trinh đã chú trọng kế thừa giá trị cao quý đó vào tư tưởng của mình Từ sơ khai của lịch

Trang 37

sử cha ông, dân tộc Việt Nam đã có ý thức chung giòng giống – dòng máu Lạc Hồng Trong buổi đầu dựng nước nhân dân đã đoàn kết một lòng với nhau để khai phá làng mạc, làm thủy lợi để sản xuất và chống chọi với thiên nhiên, để chống lại hành động xâm lược của các thế lực bên ngoài, thì đã hình thành nên sự đoàn kết nhân dân trong tình làng nghĩa xóm Văn hóa xóm làng trong sản xuất nông nghiệp lúa nước đã tạo ra tính cộng đồng và đoàn kết chặt chẽ với nhau trong sản xuất chiến đấu c ng như trong xây dựng tạo ra truyền thống dân tộc và tính bền vững của văn hóa dân tộc và truyền thống yêu nước, nhân nghĩa của nhân dân Việt Nam, tư tưởng đoàn kết, sự thống nhất máu thịt Trong một ngàn năm Bắc thuộc, nhân dân ta phải đoàn kết, sát cánh cùng nhau đấu tranh giành độc và chống đồng hóa của các triều đại phong kiến phương Bắc, c ng như đã gìn giữ và lưu truyền văn hóa truyền thống về phong tục, tập quán, tiếng nói Ý thức dân tộc và sự đoàn kết chính là sức mạnh để chúng ta giành lại quốc thống

và gìn giữ văn hóa truyền thống

Nhân dân ta đã đồng lòng, cùng nhau hợp sức để đánh thắng nhiều đội quân xâm lược hùng mạnh đến từ phương Bắc trong suốt hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước, khi mà cùng hợp sức, đồng lòng thì mọi kẻ thù đều đã thua cuộc nên, truyền thống đoàn kết dân tộc này càng phải phát huy nhiều hơn

Phan Châu Trinh đã tiếp thu tinh thần nhân ái, cố kết cộng đồng dân tộc

Vì ông thấy những tinh thần ấy đã được hun đúc qua hàng nghìn năm đấu tranh kiên cường, bất khuất Lịch sử đã chứng minh bằng chính sự tự lực, tự cường, thông minh, sáng tạo, chúng ta đã thành công trong việc chống giặc ngoại xâm, bảo vệ nền độc lập của dân tộc và bảo vệ nền văn hiến của đất nước chống mọi

âm mưu đồng hóa của ngoại bang Những truyền thống quý báu đó của dân tộc

đã được Phan Châu Trinh tiếp thu, nuôi dưỡng và phát triển, chính là do những truyền thống văn hóa của dân tộc đã trở thành cơ sở, niềm tự hào, khắc sâu và tâm trí, vun đắp trở thành hành động, triết lý sống của Phan Châu Trinh

Bên cạnh đó, Phan Châu Trinh còn kế thừa truyền thống cần cù siêng năng, thông minh, sáng tạo, hỏi hỏi của dân tộc Việt Nam Đức tính cần cù, thông minh, sáng tạo là vốn có ở nhiều dân tộc trên thế giới Mỗi quốc gia lại có

Trang 38

những phẩm chất đặc thù nhất định cho quốc gia mình như cần cù như người Nga, thông minh như người Đức, thực dụng như người Mỹ và sáng tạo như người Nhật Điều đó nói lên tính cách tiêu biểu của mỗi dân tộc trong những điều kiện lịch sử của mỗi vùng mỗi khu vực

Trong lịch sử tồn tại và phát triển, dân tộc Việt Nam đã hội đủ cả ba đức tính “cần cù, thông minh, sáng tạo” với sắc thái riêng, độc đáo của quốc gia mình Những đức tính và sắc thái ấy đã được hình thành, phát triển trên cơ sở điều kiện địa lý tự nhiên, lịch sử, kinh tế, xã hội, văn hóa của dân tộc Việt Nam

và không bị lặp lại ở bất kỳ quốc gia, dân tộc nào trên thế giới

Đất nước ta đã được ưu ái là có nhiều tài nguyên thiên nhiên phong phú, nhưng bên cạnh đó thì con người và dân tộc Việt Nam đã phải thường xuyên và thường trực chống chọi với điều kiện tự nhiên khắc nghiệt (nắng hạn đan xen với bão lụt, “nóng như thiêu như đốt” đan xen với “rét cắt da cắt thịt”) để khai hoang

mở cõi; vừa sản xuất với “hai sương một nắng” lại vừa phải chiến đấu chống giặc ngoại xâm với những đội quân to lớn và tàn bạo; vừa phải “tự lập tự cường” vừa phải thực hiện chính sách ngoại giao thích hợp với phương châm “dĩ bất biến, ứng vạn biến” để tồn tại và phát triển đi lên Chính nhờ đi qua những thực tiễn khắc nghiệt và phức tạp ấy đã “đào luyện” và “bồi đắp” nên đức tính “cần cù, thông minh, sáng tạo” của dân tộc Việt Nam

Chúng ta thường nghe ông bà hay những người lớn tuổi truyền miệng nhau những câu nói hết sức ý nghĩa về hình ảnh người dân “ăn cơm bằng đèn, đi cấy sáng trăng” để “biến sỏi đá thành cơm” hay lao động “đầu tắt mặt tối”, “chân lấm tay bùn” những hình ảnh này đã trở thành thói quen và trãi qua nhiều thế hệ

ở Việt Nam Điều này cho thấy rằng mỗi thành quả lao động đều được đổi lấy bằng sự lao động vất vả và tốn nhiều mồ hôi, công sức để có được cái ăn Hay là

“ai ơi bưng bát cơm đầy, dẻo thơm một hạt đắng cay muôn phần” Đây là tinh thần lao động cần cù, siêng năng mà dân tộc Việt Nam đã sớm tạo dựng nên từ ngàn xưa và về lâu về dài trở thành truyền thống yêu lao động, quý trọng những thành quả lao động và tiết kiệm, chắt chiu những sản phẩm lao động do bản thân

đổ mồ hôi công sức làm ra Truyền thống cần cù, siêng năng trong lao động của

Trang 39

dân tộc được thể hiện qua nhiều phương diện khác nhau, và cả trong văn chương Truyện “Sơn Tinh, Thủy Tinh” là một triết lý về lao động của dân tộc, trong đó làm bổi bật đức tính kiên nhẫn, cần cù và sáng tạo trong chống thiên tai, l lụt, bảo vệ tính mạng và tài sản của nhân dân

Lịch sử dựng nước và giữ nước hàng ngàn năm của dân tộc đã chỉ ra rằng, nếu chúng ta không thông minh, không sáng tạo thì chúng ta đã mất nước và có thể mất cả nòi giống của cha ông ta, dân tộc ta Trong suốt chiều dài lịch sử, sức sống mãnh liệt, trí thông minh và tinh thần sáng tạo của con người và cả dân tộc Việt Nam luôn được kế thừa, hun đúc qua những khóa khăn, gian khổ ở từng thời

kì khác nhau nhưng tinh thần ấy luôn được phát huy đúng lúc đã đem tới những thành công cho đất nước trong việc chống chọi lại với thiên tai và bọn giặc ngoại xâm Phan Châu Trinh c ng đã kế thừa truyền thống quý báu này của dân tộc

Như vậy, chúng ta có thể nhìn nhận một cách sâu sắc hơn giá trị cao cả và vai trò to lớn của truyền thống văn hóa Việt Nam Trong đó, truyền thống yêu nước là sợi chỉ đỏ xuyến suốt chiều dài lịch sử của dân tộc; truyền thống đoàn kết

là đạo lý sống là quyền và giá trị của con người; truyền thống cần cù siêng năng

là nguồn gốc của hạnh phúc, của trí tuệ, của mọi sự tiến bộ xã hội Những giá trị này trở thành những phẩm chất không thể thiếu trong suốt chiều dài lịch sử của dân tộc Những giá trị truyền thống của dân tộc Việt Nam và là sức mạnh tiềm

ẩn, không bao giờ cạn của dân tộc Truyền thống quý báu đó đã được khắc sâu trong tâm trí của Phan Châu Trinh và được ông vận dụng trong tư tưởng của mình

1.2.2 Tư tưởng Nho giáo, Đạo giáo, Phật giáo cho sự hình thành tư tưởng yêu nước Phan Châu Trinh

Trước khi thực dân Pháp xâm lược, tư tưởng Việt Nam là hệ tư tưởng phong kiến thuần nhất, đó là tam giáo Nho – Đạo – Phật đồng hành với truyền thống văn hóa của dân tộc Trong tiến trình phát triển của lịch sử Việt Nam thì Nho giáo đã tồn tại chính thức với tư cách là hệ tư tưởng thống trị Đã đi vào đời sống nhân dân ta hàng trăm năm so với Đạo và Phật giáo chỉ mới xuất hiện và ít

có tầm ảnh hưởng hơn

Trang 40

Về Nho giáo, trong tư tưởng yêu nước của mình, Phan Châu Trinh đã kế

thừa tiếp thu có chọn lọc và phê phán những hạn chế, những quan điểm lỗi thời không còn phù hợp của Nho giáo Có thể thấy rằng, Nho giáo là một học thuyết chính trị - đạo đức nổi tiếng của Trung Quốc thời kỳ cổ đại, do Khổng Tử (551-

479 tr.CN) đã tổng hợp và hệ thống hóa những tư tưởng và tri thức trước đây, sau này Mạnh Tử (372- 289 tr.CN) kế thừa và phát triển theo chiều hướng duy tâm, gọi là Nho nguyên thủy hay Nho Khổng - Mạnh

“Theo Hán tự chữ “nho” bắt nguồn từ chữ “nhân” (người) đứng cạnh chữ “nhu” (cần dùng, chờ đợi), theo đó, chữ

“nho” bao hàm hai nghĩa: nghĩa thứ nhất là người mà xã hội cần để giúp người, giúp đời; nghĩa thứ hai là người học thấu đạo thánh hiền, chờ đợi đem tài trí giúp đời” (Doãn Chính,

2013, tr.81)

Nho giáo hướng con người vào việc tu thân và giáo hóa con người bằng

hệ thống các quy phạm đạo đức, mọi hành vi ứng xử của con người đều làm theo

tư tưởng của Nho giáo, và được thể hiện thông qua các mối quan hệ xã hội cơ bản như vua - tôi, cha - con, chồng - vợ, nhằm mục đích ổn định trật tự xã hội

Trong quá trình tồn tại và phát triển, Nho giáo khi đi vào Việt Nam đã có những khúc xạ nhất định để nhằm thích ứng, phù hợp với văn hóa và nhu cầu phát triển của dân tộc Vì thế, Nho giáo ở Việt Nam có đặc điểm riêng khác với Nho chính thống, có một số quan niệm có sự thay đổi, bổ sung, phát triển cho phù hợp với điều kiện xã hội chứ không còn giữ nguyên bản Nho giáo vào nước

ta khoảng đầu Công nguyên, theo bước chân xâm lược của các triều đại phong kiến phương Bắc, nhưng khoảng một ngàn năm Bắc thuộc Nho giáo thâm nhập một cách khó khăn và chậm chạp vào đời sống xã hội Đến thế kỷ XI – thời kỳ phong kiến độc lập tự chủ, các triều đại phong kiến thấy rằng các quan điểm Nho giáo phù hợp với yêu cầu xây dựng và phát triển đất nước nên đã chủ động tiếp thu Từ đó cho đến đầu thế kỷ XX, Nho giáo thực sự đồng hành với dân tộc ta và

có những giai đoạn trở thành hệ tư tưởng thống trị trong đời sống xã hội, góp phần thúc đẩy sự hình thành và phát triển của chế độ phong kiến Việt Nam

Ngày đăng: 19/04/2021, 23:08

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Chu Đăng Sơn. (1959). Luận đề về Phan Châu Trinh và Phan Châu Trinh. Sài Gòn: Thăng Long Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chu Đăng Sơn. (1959). "Luận đề về Phan Châu Trinh và Phan Châu Trinh
Tác giả: Chu Đăng Sơn
Năm: 1959
2. Chương Thâu. (2003). Góp phần tìm hiểu một số nhân vật lịch sử Việt Nam. Hà Nội: Chính trị quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chương Thâu. (2003). "Góp phần tìm hiểu một số nhân vật lịch sử Việt Nam
Tác giả: Chương Thâu
Năm: 2003
3. Chương Thâu. (2007). Phan Châu Trinh về tác gia và tác phẩm. Hà Nội: Yêu nước Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phan Châu Trinh về tác gia và tác phẩm
Tác giả: Chương Thâu
Năm: 2007
4. Chương Thâu. (2015). Đông Kinh Nghĩa Thục. Hà Nội: Hồng Đức Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đông Kinh Nghĩa Thục
Tác giả: Chương Thâu
Năm: 2015
5. Đảng Cộng sản Việt Nam. Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI Hà Nội: Sự thật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đảng Cộng sản Việt Nam. "Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI
6. Đảng Cộng sản Việt Nam. (2016). Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII. Hà Nội: Chính trị quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đảng Cộng sản Việt Nam. (2016). "Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Năm: 2016
7. Đảng Cộng sản Việt Nam. (2016). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII. Hà Nội: Chính trị quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đảng Cộng sản Việt Nam. (2016). "Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Năm: 2016
8. Đào Duy Anh. (2002). Việt Nam văn hóa sử cương Hà Nội: Văn hóa thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam văn hóa sử cương
Tác giả: Đào Duy Anh
Năm: 2002
9. Đinh Trần Dương. (2002). Sự chuyển biến của phong trào yêu nước và cách mạng giải phóng dân tộc Việt Nam trong ba mươi năm đầu thế kỷ XX. Hà Nội: Đại học Quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đinh Trần Dương. (2002). "Sự chuyển biến của phong trào yêu nước và cách mạng giải phóng dân tộc Việt Nam trong ba mươi năm đầu thế kỷ XX
Tác giả: Đinh Trần Dương
Năm: 2002
10. Đinh Xuân Lâm. (Chủ biên, 1997). Tân thư và xã hội Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX. Hà Nội: Chính trị quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đinh Xuân Lâm. (Chủ biên, 1997). "Tân thư và xã hội Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX
11. Đinh Xuân Lâm. (Chủ biên, 2001). Những người đi qua hai thế kỷ. Hà Nội: Lao động Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những người đi qua hai thế kỷ
12. Đỗ Bang, Trần Bạch Đằng, Đinh Xuân Lâm, Hoàng Văn Lân, Lưu Anh Rô, Nguyễn Trung Tiến, Nguyễn Trọng Văn. (1999). Tư tưởng canh tân đất nước dưới triều Nguyễn. Huế: Thuận hóa Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tư tưởng canh tân đất nước dưới triều Nguyễn
Tác giả: Đỗ Bang, Trần Bạch Đằng, Đinh Xuân Lâm, Hoàng Văn Lân, Lưu Anh Rô, Nguyễn Trung Tiến, Nguyễn Trọng Văn
Năm: 1999
13. Đỗ Thanh Bình. (2006). Lịch sử phong trào giải phóng dân tộc thế kỷ XX – một cách tiếp cận mới. Hà Nội: Đại học sư phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đỗ Thanh Bình. (2006). "Lịch sử phong trào giải phóng dân tộc thế kỷ XX – một cách tiếp cận mới
Tác giả: Đỗ Thanh Bình
Năm: 2006
14. Đỗ Thị Minh Thúy, Nguyễn Hồng Sơn. (2010). Phong trào Duy tân với sự chuyển biến của văn hóa Việt Nam đầu thế kỷ XX. Hà Nội: Từ điển Bách khoa và Viện Văn hóa Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đỗ Thị Minh Thúy, Nguyễn Hồng Sơn. (2010). "Phong trào Duy tân với sự chuyển biến của văn hóa Việt Nam đầu thế kỷ XX
Tác giả: Đỗ Thị Minh Thúy, Nguyễn Hồng Sơn
Năm: 2010
15. Doãn Chính. (Chủ biên, 1997). Đại cương triết học Trung Quốc Hà Nội: Chính trị quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại cương triết học Trung Quốc
16. Doãn Chính. (2009). Từ điển triết học Trung Quốc. Hà Nội: Chính trị quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển triết học Trung Quốc
Tác giả: Doãn Chính
Năm: 2009
17. Doãn Chính. (2009). Từ điển triết học Trung Quốc. Hà Nội: Chính trị quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển triết học Trung Quốc
Tác giả: Doãn Chính
Năm: 2009
19. Doãn Chính. (chủ biên, 2013). Lịch sử tư tưởng triết học Việt Nam, từ thời kỳ dựng nước đến đầu thế kỷ XX. Hà Nội: Chính trị quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Doãn Chính. (chủ biên, 2013). "Lịch sử tư tưởng triết học Việt Nam, từ thời kỳ dựng nước đến đầu thế kỷ XX
20. Doãn Chính. (chủ biên 2011). Tư tưởng Việt Nam từ thế kỷ XV đến thế kỷ XIX. Hà Nội: Chính trị quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Doãn Chính. (chủ biên 2011). "Tư tưởng Việt Nam từ thế kỷ XV đến thế kỷ XIX
21. Doãn Chính, Phạm Đào Thịnh. (2007). Quá trình chuyển biến tư tưởng yêu nước Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX qua các nhân vật tiêu biểu. Hà Nội: Chính trị quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quá trình chuyển biến tư tưởng yêu nước Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX qua các nhân vật tiêu biểu
Tác giả: Doãn Chính, Phạm Đào Thịnh
Năm: 2007

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w