Trong quá trình cai trị đất nước ta, thực dân Pháp thực hiện chính sách ngu dân về giáo dục, duy trì, dung túng các hủ tục lạc hậu, kìm hãm sự du nhập của văn hóa tiên tiến trên thế giới
Trang 1-
LÊ ANH TUẤN
TƯ TƯỞNG GIÁO DỤC CỦA PHAN CHÂU TRINH
VÀ Ý NGHĨA LỊCH SỬ CỦA NÓ
TRIẾT HỌC
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH – 2016
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
LÊ ANH TUẤN
TƯ TƯỞNG GIÁO DỤC CỦA PHAN CHÂU TRINH
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, dưới
sự hướng dẫn khoa học của NGND, PGS, TS Vũ Đức Khiển Các số liệu, tài liệu được sử dụng và trích dẫn trong luận văn đều trung thực
Trang 4MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 1
Chương 1: ĐIỀU KIỆN KINH TẾ - XÃ HỘI, TIỀN ĐỀ LÝ LUẬN HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG GIÁO DỤC CỦA PHAN CHÂU TRINH 9
1.1 ĐIỀU KIỆN KINH TẾ - XÃ HỘI VÀ TIỀN ĐỀ LÝ LUẬN
HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG GIÁO DỤC CỦA PHAN CHÂU TRINH 9
1.1.1 Điều kiện kinh tế - xã hội hình thành tư tưởng giáo dục của
Phan Châu Trinh 9
1.1.2 Tiền đề lý luận hình thành tư tưởng giáo dục Phan Châu Trinh 35
1.2 QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG GIÁO DỤC CỦA
PHAN CHÂU TRINH 43
1.2.1 Khái quát về thân thế, sự nghiệp và một số tác phẩm tiêu biểu của Phan Châu Trinh 43
1.2.2 Các giai đoạn hình thành và phát triển tư tưởng về giáo dục của
Phan Châu Trinh 46
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 58
Chương 2: NỘI DUNG CƠ BẢN VÀ Ý NGHĨA LỊCH SỬ CỦA
TƯ TƯỞNG GIÁO DỤC PHAN CHÂU TRINH 60
2.1 TƯ TƯỞNG CỦA PHAN CHÂU TRINH VỀ VỊ TRÍ, VAI TRÒ VÀ MỤC ĐÍCH GIÁO DỤC 60
2.1.1 Quan niệm của Phan Châu Trinh về vị trí, vai trò của giáo dục 60
2.1.2 Quan niệm của Phan Châu Trinh về mục đích của giáo dục 70
2.2 TƯ TƯỞNG CỦA PHAN CHÂU TRINH VỀ NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP GIÁO DỤC 76
2.2.1 Quan niệm của Phan Châu Trinh về nội dung giáo dục 76
2.2.2 Quan niệm của Phan Châu Trinh về phương pháp giáo dục 88
Trang 52.3 Ý NGHĨA LỊCH SỬ CỦA TƯ TƯỞNG GIÁO DỤC PHAN CHÂU TRINH 92 2.3.1 Ý nghĩa của tư tưởng giáo dục Phan Châu Trinh trong giai đoạn cuối
thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX 92
2.3.2 Ý nghĩa của tư tưởng giáo dục Phan Châu Trinh đối với công cuộc đổi mới giáo dục ở Việt Nam hiện nay 99
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 106
KẾT LUẬN 108
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 111
Trang 6LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong lịch sử của dân tộc ta, cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX là một thời
kỳ đặc biệt, là giai đoạn đất nước rơi vào tình trạng phụ thuộc, nền kinh tế què quặt, chậm phát triển, đời sống nhân dân vô cùng cực khổ Trong quá trình cai trị đất nước ta, thực dân Pháp thực hiện chính sách ngu dân về giáo dục, duy trì, dung túng các hủ tục lạc hậu, kìm hãm sự du nhập của văn hóa tiên tiến trên
thế giới; như viên Thống sứ Bắc Kỳ đã nói: “Kinh nghiệm của các dân tộc châu
Âu khác đã chỉ rõ rằng việc truyền bá một nền học vấn đầy đủ cho người bản
Trong rất nhiều lĩnh vực mà tư tưởng Phan Châu Trinh có đóng góp, tư tưởng của ông về giáo dục hướng đến nâng cao dân trí cho nhân dân được xem
là một trong những tư tưởng hết sức đặc sắc Là một người có tư tưởng tiến bộ, Phan Châu Trinh đã thấy được cái mục nát của nền giáo dục phong kiến, đồng thời nhìn rõ bộ mặt thật của việc thực hiện chính sách ngu dân của thực dân để
dễ bề cai trị nhân dân ta, biến nhân dân ta làm nô lệ cho chúng Những tư tưởng của Phan Châu Trinh có thể được xem như tiếng chuông hồi tỉnh những con người đang mê muội, chìm đắm trong giấc mộng phù phiếm về một chế độ phong kiến đã không còn phù hợp, quên đi nỗi đau mất nước và trốn tránh nghĩa
vụ trước vận nước Trong đó, tư tưởng giáo dục của Phan Châu Trinh đã góp phần vào công cuộc chuyển đổi tư duy của dân tộc Việt Nam chống lại chính
Trang 7sách ngu dân để trị của thực dân, phong kiến, tạo bước chuyển tư tưởng từ tuy duy phong kiến sang tư duy mới trong những năm đầu của thế kỷ XX
Phan Châu Trinh đã có những cống hiến lớn lao trong nhiều phương diện, trong đó nội dung tư tưởng của ông về giáo dục là một trong những tư tưởng hết sức đặc sắc trong giai đoạn nhiều biến động của lịch sử Việt Nam cuối thế
kỷ XIX, đầu thế kỷ XX; nó không chỉ cho thấy sự chuyển biến sâu sắc trong tư tưởng của một nhân sĩ yêu nước tiêu biểu mà còn cho thấy vai trò quan trọng của các chí sĩ cách mạng trong việc xác định đường lối, tìm phương pháp tiếp cận để hội nhập với khu vực và thế giới, rút ra những bài học của chủ nghĩa yêu nước trong quan điểm này đối với cách mạng dân tộc Những cống hiến của Phan Châu Trinh đã giúp cho nền giáo dục Việt Nam cũng như xã hội dần thay đổi, những nội dung như Tân thư, tân học, âu trang… xuất hiện nhiều nơi trong
cả nước Ông chú trọng giáo dục mọi người, thực hiện thực nghiệp, thực học
để phát triển đất nước
Ngày nay, khi mà trí tuệ đã trở thành yếu tố hàng đầu thể hiện quyền lực
và sức mạnh của một quốc gia, thì các nước trên thế giới đều ý thức được rằng giáo dục không chỉ là phúc lợi xã hội, mà thực sự là đòn bẩy quan trọng để phát triển kinh tế, phát triển xã hội Chỉ có một chiến lược phát triển con người với một hệ thống giáo dục phù hợp và đúng đắn mới giúp các nước thuộc thế giới thứ ba trong đó có Việt Nam thoát khỏi sự nô lệ mới về kinh tế và công nghệ với các nước lớn Với chiến lược ấy, giáo dục vẫn giữ vai trò rất quan trọng đến
đời sống, sự phát triển của xã hội, như Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu” [49; 8], do đó Đảng ta luôn khẳng định: “Giáo dục là quốc sách hàng đầu” [24; 114]; chính giáo dục đã giúp cho các thế hệ người
Việt Nam luôn luôn cố gắng vươn lên tự hoàn thiện bản thân mình, để xây dựng
và bảo vệ đất nước Muốn thực hiện được điều này, phải phát huy giá trị truyền
Trang 8thống quý báu, những tinh hoa tư tưởng của dân tộc mà những giá trị trong tư tưởng giáo dục của Phan Châu Trinh cho đến nay vẫn còn giá trị sâu sắc Với tinh thần “ôn cố tri tân”, nhằm đánh giá một cách khách quan, cặn kẽ
tư tưởng của Phan Châu Trinh, từ đó tìm ra được những giá trị đối với công cuộc đổi mới đất nước trong giai đoạn hiện nay Đặc biệt nhằm tìm ra những điểm tích cực trong tư tưởng giáo dục của Phan Châu Trinh để hướng đến xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện và phát huy tốt nhất tiềm năng, khả năng sáng tạo của mỗi cá nhân; yêu gia đình, yêu Tổ quốc, yêu đồng bào; sống tốt và làm việc hiệu quả; chăm lo xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện mà trọng tâm là bồi dưỡng tinh thần yêu nước, lòng tự hào dân tộc,
đa ̣o đức, lối sống và nhân cách nhằm mục đích ta ̣o chuyển biến ma ̣nh mẽ về nhận thức, ý thức tôn trọng pháp luâ ̣t, mọi người Viê ̣t Nam đều hiểu biết sâu sắc, tự hào, tôn vinh li ̣ch sử, văn hóa dân tô ̣c
Vì lẽ đó, nhìn nhận một cách khoa học và đúng đắn những nội dung cơ bản, ý nghĩa tư tưởng giáo dục của Phan Châu Trinh trong giai đoạn lịch sử Việt Nam cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX để rút ra bài học đối với thực tiễn đổi mới giáo dục ở Việt Nam hiện nay là yêu cầu cấp thiết Do vậy, tôi đã chọn
đề tài “Tư tưởng giáo dục của Phan Châu Trinh và ý nghĩa lịch sử của nó”
làm đề tài luận văn của mình
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài
Có thể nói rằng, Phan Châu Trinh là một nhà giáo dục, một nhà văn hóa, một nhà tư tưởng lớn của dân tộc Việt Nam cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX Trên lĩnh vực giáo dục, ông cũng để lại những dấu ấn của bản thân hết sức giá trị Nghiên cứu về tư tưởng của Phan Châu Trinh cũng như cuộc đời hoạt động cách mạng của ông nhận được sự quan tâm của nhiều học giả nghiên cứu với nhiều góc nhìn, qua nhiều công trình khác nhau Có thể đánh giá những nghiên
Trang 9cứu về tư tưởng giáo dục của Phan Châu Trinh cùng các giá trị trong tư tưởng giáo dục của ông được tập trung ở những hướng nghiên cứu chính như sau:
Thứ nhất, các công trình nghiên cứu cuộc đời và sự nghiệp của Phan Châu Trinh, trong đó có tư tưởng giáo dục của ông
Đó là các công trình như: Tuyển tập Phan Châu Trinh (Nhà xuất bản Đà Nẵng, 1995) của Nguyễn Văn Dương; Phan Châu Trinh, thân thế và sự nghiệp (Nhà xuất bản Đà Nẵng, 1992) của Giáo sư Huỳnh Lý; Phan Châu Trinh toàn tập (Nhà xuất bản Đà Nẵng, 2005) của Chương Thâu; Phan Châu Trinh qua những tài liệu mới (Nhà xuất bản Đà Nẵng) của Lê Thị Kinh…
Các công trình đã cho thấy được các trước tác của Phan Châu Trinh với
cái nhìn toàn vẹn, cụ thể Chẳng hạn như Tuyển tập Phan Châu Trinh (Nhà xuất
bản Đà Nẵng, 1995) của Nguyễn Văn Dương là công trình nghiên cứu nhiều năm của nhóm nghiên cứu Phan Châu Trinh thuộc Khoa Văn – trường Đại học
Sư phạm Huế về thơ ca, tác phẩm chính luận, các bài báo, thư tín và các bài
diễn thuyết của Phan Châu Trinh; tác phẩm Phan Châu Trinh, thân thế và sự nghiệp (Nhà xuất bản Đà Nẵng, 1992) của Giáo sư Huỳnh Lý nghiên cứu về
thân thế và sự nghiệp của Phan Châu Trinh từ năm 1872 đến năm 1926; tác
phẩm Phan Châu Trinh: Toàn tập (Nhà xuất bản Đà Nẵng, 2005) của Chương
Thâu nghiên cứu về cuộc đời hoạt động, các trước tác của Phan Châu Trinh;
hay như tác phẩm Phan Châu Trinh qua những tài liệu mới, (Nhà xuất bản Đà
Nẵng) của Lê Thị Kinh tập hợp đầy đủ nhất các tư liệu gốc về cụ Phan Châu Trinh, công trình lồng ghép nhiều nguồn tư liệu khác nhau, đây được xem là một trong những bộ sách trung thực nhất vì chỉ giới thiệu tài liệu và không đưa
ra đánh giá và nhận định nào Theo hướng nghiên cứu này, tác phẩm Phan Châu Trinh cuộc đời và tác phẩm (Nhà xuất bản Tổng Hợp Tp Hồ Chí Minh,
2012) của Nguyễn Quang Thắng đã nhận định, Tây Hồ Phan Châu Trinh là người có hoài bão lớn muốn cởi bỏ ách thống trị của người Pháp, giành lại chủ
Trang 10quyền cho đất nước, đưa dân tộc Việt Nam lên ngang hàng với các dân tộc khác trên thế giới Ông cổ súy tinh thần yêu nước, quảng bá công cuộc duy tân, đem tâm huyết, tác phẩm và cả cuộc đời để đóng góp vào sự nghiệp chung
Thứ hai, nghiên cứu từng mặt, từng nội dung tư tưởng của Phan Châu Trinh, trong đó có tư tưởng về giáo dục của ông
Với hướng nghiên cứu trên, có các công trình nghiên cứu như: Bước chuyển tư tưởng Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX (Nhà xuất bản Chính
trị quốc gia, 2005) của tập thể tác giả, do PGS, TS Trương Văn Chung,
PGS,TS Doãn Chính đồng chủ biên; Quá trình chuyển biến tư tưởng chính trị Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX qua các nhân vật tiêu biểu (Nhà xuất
bản Chính trị quốc gia, 2007) là cuốn sách của hai tác giả, gồm PGS,TS Doãn Chính và ThS Phạm Đào Thịnh Hai cuốn sách trên đã làm rõ được quá trình chuyển biến tư tưởng của các nhà tư tưởng cách mạng tiêu biểu cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX mà Phan Châu Trinh là một trong những đại biểu nổi bật
của giai đoạn này Hay công trình nghiên cứu Lịch sử tư tưởng triết học Việt Nam, từ thời kỳ dựng nước đến đầu thế kỷ XX (Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, 2013) của PGS,TS Doãn Chính chủ biên, đã nêu những nội dung tư tưởng
chính yếu, những quan điểm tiến bộ, hạn chế của Phan Châu Trinh, trong đó có
tư tưởng giáo dục của ông
Ngoài các công trình trên, nghiên cứu tư tưởng Phan Châu Trinh còn là
chủ đề được quan tâm với nhiều bài viết nghiên cứu, như: Trở lại về những suy
nghĩ cứu nước của Phan Châu Trinh của Huỳnh Công Bá, Phan Châu Trinh,
lập trường và phương pháp cách mạng của Trần Đình Hường, Mối quan hệ giữa Phan Châu Trinh và Nguyễn Ái Quốc của Phan Thị Minh, Ghi chú về mối quan hệ giữa Phan Châu Trinh và Nguyễn Ái Quốc của Phạm Xanh được trình
bày tại Hội thảo khoa học “Phan Châu Trinh và Huỳnh Thúc Kháng” do Ủy ban Nhân dân và Sở Văn hóa – Thông tin Quảng Nam – Đà Nẵng tổ chức vào
Trang 11tháng 09/1992 Các công trình trên đã khai thác nhiều mặt trong nội dung tư tưởng của Phan Châu Trinh trên các lĩnh vực như chính trị, văn hóa, triết học…
và tìm ra ý nghĩa đối với cuộc đấu tranh giành độc lập, tự do của dân tộc ta trong giai đoạn đầu thế kỷ XX
Thứ ba, nghiên cứu về giá trị, ý nghĩa của tư tưởng giáo dục Phan Châu Trinh đối với nền giáo dục Việt Nam trong giai đoạn hiện nay
Đối với hướng nghiên cứu này có các tác phẩm như: Phan Châu Trinh
khoa học về Phan Châu Trinh tại Đà Nẵng năm 2002; Phan Châu Trinh- người
đi trước thời đại của Huỳnh Công Bá trên Kỷ yếu Hội thảo khoa học kỷ niệm
130 năm ngày sinh của Phan Châu Trinh tổ chức tại Đà Nẵng năm 2002; Từ
“khai dân trí” của Phan Châu Trinh nghĩ đến việc đổi mới căn bản nền giáo dục Việt Nam của Trần Mai Ước trên Tạp chí Phát triển và hội nhập Số 6 (16)
– Tháng 9-10/2012 Các tác phẩm nêu trên đã đánh giá những giá trị của tư tưởng giáo dục Phan Châu Trinh và liên hệ với việc phát triển nền giáo dục Việt Nam trong giai đoạn hiện nay Ngoài việc đánh giá tư tưởng giáo dục của Phan Châu Trinh là một tư tưởng nổi bật qua việc kêu gọi thực dạy, thực học, thực nghiệm có giá trị tích cực không chỉ trong giai đoạn đó mà vẫn còn nguyên giá trị trong giai đoạn hiện nay, các tác phẩm đã chỉ ra những ảnh hưởng của
tư tưởng giáo dục Phan Châu Trinh đối với việc thay đổi tư duy giáo dục cũ để vươn lên một tầm nhận thức mới
Như vậy, các công trình nghiên cứu trên đây đã đề cập đến nhiều nội dung khác nhau, nhiều góc nhìn khác nhau và đã đạt được những kết quả nhất định
cả về mặt lý luận lẫn thực tiễn Tuy nhiên, ở phương diện triết học và lịch sử triết học, tác giả nhận thấy chưa có một công trình nghiên cứu nào trình bày riêng tư tưởng Phan Châu Trinh về giáo dục như một bộ phận độc lập nhưng thống nhất trong chính tư tưởng của ông, từ đó rút ra những ý nghĩa lịch sử của
Trang 12tư tưởng giáo dục Phan Châu Trinh trong giai đoạn cuối thế kỷ XIX, đầu thế
kỷ XX và ý nghĩa của nó đối với công cuộc đổi mới giáo dục ở Việt Nam hiện nay Do vậy, tư tưởng giáo dục của Phan Châu Trinh vẫn là vấn đề đặt ra để tiếp tục nghiên cứu
3 Mục đích và nhiệm vụ của đề tài
3.1 Mục đích của đề tài
Trên cơ sở nghiên cứu làm rõ tư tưởng giáo dục của Phan Châu Trinh, chỉ
ra những giá trị và hạn chế của nó Từ đó rút ra ý nghĩa đối với sự nghiệp đổi mới giáo dục ở Việt Nam hiện nay
3.2 Nhiệm vụ của đề tài
Để thực hiện được mục đích nêu trên, luận văn phải thực hiện được những nhiệm vụ chủ yếu sau đây:
- Thứ nhất, trình bày, phân tích và luận giải những điều kiện lịch sử - xã hội và những tiền đề hình thành tư tưởng giáo dục của Phan Châu Trinh
- Thứ hai, trình bày và phân tích làm rõ những nội dung cơ bản trong tư tưởng giáo dục của Phan Châu Trinh
- Thứ ba, rút ra ý nghĩa của tư tưởng giáo dục Phan Châu Trinh trong giai đoạn cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX và nhất là ý nghĩa của nó đối với sự nghiệp đổi mới giáo dục ở Việt Nam hiện nay
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu trung tâm của luận văn là tư tưởng giáo dục của Phan Châu Trinh Xuất phát từ thực tiễn của Việt Nam cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, nội dung tư tưởng giáo dục của Phan Châu Trinh được thể hiện một cách sinh động, sâu sắc và ảnh hưởng đến việc chuyển biến tư tưởng của các nhà hoạt động cách mạng ở Việt Nam trong giai đoạn này
Phạm vi nghiên cứu của luận văn chỉ tập trung vào làm rõ những nội dung chủ yếu trong tư tưởng giáo dục của Phan Châu Trinh trong bối cảnh biến động
Trang 13của xã hội Việt Nam cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, đồng thời rút ra những giá trị, hạn chế và ý nghĩa của tư tưởng trên đối với công cuộc đổi mới giáo dục
ở nước ta hiện nay
5 Cơ sở và phương pháp nghiên cứu
Về cơ sở lý luận: luận văn được tiếp cận dưới góc độ triết học trên nền tảng cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về giáo dục
Về phương pháp nghiên cứu: để nghiên cứu và trình bày luận văn, tác giả
sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể như: phương pháp phân tích và tổng hợp, so sánh và đối chiếu, lịch sử và logic, diễn dịch và quy nạp… trên cơ
sở những quan điểm, nguyên tắc, phương pháp luận mácxít như: quan điểm khách quan, toàn diện, lịch sử - cụ thể…
6 Kết cấu của luận văn
Ngoài mục lục, lời nói đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận văn được kết cấu thành 2 chương với 5 tiết và 10 tiểu tiết
Trang 14Chương 1 ĐIỀU KIỆN KINH TẾ - XÃ HỘI, TIỀN ĐỀ LÝ LUẬN HÌNH THÀNH
TƯ TƯỞNG GIÁO DỤC CỦA PHAN CHÂU TRINH
1.1 ĐIỀU KIỆN KINH TẾ - XÃ HỘI VÀ TIỀN ĐỀ LÝ LUẬN HÌNH THÀNH
TƯ TƯỞNG GIÁO DỤC CỦA PHAN CHÂU TRINH
1.1.1 Điều kiện kinh tế - xã hội hình thành tư tưởng giáo dục của Phan Châu Trinh
1.1.1.1 Tình hình quốc tế
Cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, chủ nghĩa tư bản chuyển từ giai đoạn tự
do cạnh tranh sang giai đoạn chủ nghĩa tư bản độc quyền hay chủ nghĩa đế quốc, tiêu biểu là Anh, Pháp, Đức, Mỹ Sự triển mạnh mẽ của phương Tây về các mặt kinh tế, văn hóa, khoa học, giáo dục… đóng góp rất lớn cho sự phát triển của nhân loại, nhưng bản chất bóc lột, xâm lược là mặt trái không thể phủ nhận Từ giữa thế kỷ XIX, các nước phương Tây đã tăng cường xâm lược thuộc địa để đáp ứng yêu cầu phát triển của chủ nghĩa đế quốc Đến đầu thế kỷ XX, việc phân chia thuộc địa của các nước tư bản đã hoàn tất, đẩy mâu thuẫn dân tộc giữa các nước xâm lược và nước bị xâm lược trở thành mâu thuẫn cơ bản
Vì lẽ đó, vấn đề quan trọng hàng đầu của các dân tộc, các quốc gia bị xâm lược là tiến hành đấu tranh giải phóng dân tộc, chống đế quốc Từ yêu cầu của thực tiễn xã hội, đấu tranh giải phóng dân tộc đã phát triển thành phong trào rộng lớn, ảnh hưởng một cách rộng khắp các mặt của đời sống xã hội như kinh
tế, chính trị, văn hóa, giáo dục… Chiến tranh xâm lược của chủ nghĩa thực dân
đã làm cho các dân tộc, các quốc gia bị xâm lược đứng trước những vấn đề hết sức mới mẻ Đặc biệt là sự tác động rất lớn đến hệ tư tưởng nói chung và tư tưởng giáo dục nói riêng Khi xuất hiện nguy cơ bị chủ nghĩa đế quốc xâm lược, các nước phong kiến hết sức lúng túng trước những vấn đề sống còn của quốc
Trang 15gia Thực tiễn sinh động ấy buộc các nhà tư tưởng phải giải thích những hiện tượng lịch sử mới nảy sinh Những quan điểm, tư tưởng bảo thủ, không còn phù hợp với xu thế phát triển của thời đại và tình hình thực tế của các nước phương Đông Hệ tư tưởng phong kiến cùng với nền giáo dục của nó đã không đáp ứng được yêu cầu của lịch sử mà nền giáo dục đó mang lại, giai cấp cầm quyền thì bế tắc về con đường phát triển của dân tộc Trước tình hình đó, các dân tộc này xuất hiện một nhu cầu cấp bách, là cần có một hệ tư tưởng mới phù hợp, đáp ứng yêu cầu của cách mạng Cho nên vấn đề mà các nhà tư tưởng quan tâm chính là nhằm bảo vệ độc lập dân tộc, bảo vệ được chủ quyền dân tộc không bị xâm phạm, tìm ra con đường để thoát khỏi tình cảnh ấy Vì vậy, ở Việt Nam, đặc biệt là khi thực dân Pháp xâm lược, đã xuất hiện sự thay đổi rất lớn về tư tưởng nói chung và tư tưởng giáo dục nói riêng Trước thực trạng quốc gia đang bị lâm nguy, giai cấp địa chủ phong kiến mất đi vai trò lịch sử, nền văn minh phương Tây tràn vào các quốc gia phương Đông, làm rung chuyển các giá trị cốt lõi của xã hội phong kiến về mặt chính trị, kinh tế, văn hóa, giáo dục…
Hàng loạt vấn đề mới đòi hỏi sự giải đáp của lý luận Vì thế, có thể nói chính sách xâm lược của chủ nghĩa thực dân phương Tây, là một trong những yếu tố góp phần rất lớn làm chuyển biến tư tưởng giáo dục ở Việt Nam cuối thế
kỷ XIX đầu thế kỷ XX Nền văn minh phương Tây ảnh hưởng tới xã hội Việt Nam dưới nhiều góc độ, nhiều phương diện như khoa học, kỹ thuật, tư tưởng tiến bộ… Nhưng, vấn đề quan trọng nhất tác động đến tư tưởng Việt Nam là các trào lưu tư tưởng của phong trào Khai sáng Pháp thế kỷ XVII - XVIII, tiêu biểu là các nhà tư tưởng Vônte (Voltaire, 1694 – 1778), Môngtexkiơ (Montesquieu, 1689 – 1755), Rútxô (Rousseau, 1712 – 1778)
Nhìn chung, các nhà tư tưởng đó kịch liệt lên án chế độ phong kiến, chủ trương xây dựng chế độ dân chủ cộng hòa, chế độ mà nhân dân nắm quyền thực
Trang 16sự, đề xuất những tư tưởng tiến bộ đã tác động rất lớn tư duy chính trị của nhân loại, hình thành những tư duy mới nói chung và tư duy giáo dục nói riêng để đạt được các mục đích Đối với Việt Nam, những tư tưởng ấy là một luồng gió mới, kích thích sự tìm tòi khám phá về một con đường mới, buộc tư duy giáo dục truyền thống phải có những chuyển biến nhất định Những tư tưởng tiến bộ như tự do, bình đẳng, đòi quyền con người, quản lý xã hội dựa trên cơ sở pháp luật… đáp ứng được nhu cầu bức bách của xã hội nước ta; từ đó phải thay đổi
tư duy giáo dục cũ kỹ, trói buộc con người vào một định chế chính trị của hệ tư tưởng Nho giáo Trong lúc hệ tư tưởng Nho giáo đang lung lay, thì tư tưởng tiến bộ của các nhà khai sáng trở thành tâm điểm thu hút sự chú ý của các nhà
tư tưởng Việt Nam, thôi thúc họ tìm hiểu và tiếp thu những quan điểm lý luận mới Các nhà tư tưởng như Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, Nguyễn Ái Quốc, Nguyễn An Ninh, Phan Văn Trường, … đều rất quan tâm nghiên cứu và tiếp thu những tư tưởng mới này
Trong Thư thất điều, Phan Châu Trinh viết: “Buổi ấy các danh sỹ nước Pháp
như Lư-thoa, Mạnh-đức-tư-cưu, Phúc-lộc-đặc-nhĩ (Rousseau, Montesquieu, Voltaire), … kế tiếp nhau nổi lên phát huy cái nghĩa dân quyền, chẳng đầy vài mươi năm mà cái thế lực ảnh hưởng ra khắp toàn châu Âu” [45, 613] Với đánh giá đó đủ thấy sức ảnh hưởng của tư tưởng khai sáng Pháp đến tư tưởng của các giới nhân sỹ, trí thức Việt Nam như thế nào
Đối lập với sự phát triển của các nước phương Tây, các nước phương Đông bị ảnh hưởng bởi văn minh Trung Hoa như Triều Tiên, Nhật Bản, Việt Nam sau khi đạt đến đỉnh cao của mô hình nhà nước quân chủ chuyên chế với các hình thức tổ chức đặc trưng, bắt đầu rơi vào giai đoạn khủng hoảng về đường lối phát triển, thoái trào Với các chính sách “trọng nông ức thương”,
“nông vi bản, thương vi mạt”, “bế quan tỏa cảng”… của nhà nước phong kiến phương Đông tạo ra một hàng rào ngăn cản sự phát triển theo xu hướng chung
Trang 17của thế giới Mô hình kinh tế dựa trên nền nông nghiệp lúa nước, không phát triển thương nghiệp, khoa học kỹ thuật đã tác động không nhỏ đến các mặt kinh
tế, văn hóa, giáo dục, cơ cấu xã hội
Nếu như cơ cấu xã hội của các nước phương Đông về cơ bản bao gồm các giai cấp, tầng lớp như vua chúa, quý tộc, quan lại, nông dân, trí thức, thợ thủ công, thương nhân mang đậm dấu ấn của phương thức sản xuất phong kiến thì sự xâm lược của các nước phương Tây tạo ra trong xã hội phương Đông những mầm mống của phương thức sản xuất mới – phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa Trước sự xâm lược đó, các nước phương Đông đã có những sự thay đổi nhằm chống lại sự bành trướng xâm lược của chủ nghĩa thực dân, tiêu biểu là Nhật Bản, Trung Quốc đã có những cuộc canh tân làm chuyển biến tình hình xã hội
Sự xuất hiện công cuộc cải cách đất nước ở các nước Đông Á và Đông Nam Á nhưng tiêu biểu và khá thành công là Nhật Bản, Trung Quốc, cũng ảnh
hưởng rất lớn, góp phần làm chuyển biến tư tưởng chính trị, kinh tế, văn hóa,
giáo dục của Việt Nam giai đoạn cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX Nhật Bản
có chế độ phong kiến kéo dài trong lịch sử, đến giữa thế kỷ XIX, chế độ phong kiến rơi vào tình trạng bế tắc, suy thoái, nguy cơ không thể chống nổi sự đe dọa từ phương Tây Để giải quyết tình trạng ấy, Thiên hoàng Minh Trị đã làm một cuộc cải cách toàn diện xã hội về: kinh tế, chính trị, quân sự, văn hoá, giáo dục, xã hội
Sự phát triển của Nhật Bản được bắt đầu từ sự đổi mới căn bản đường lối
chính trị của Thiên hoàng Minh Trị, và sau đó càng được củng cố với sự tiếp thu khoa học tiên tiến của nền văn minh phương Tây thông qua việc đầu tư cho
phát triển giáo dục và canh tân về tư tưởng Nhật hoàng cử một phái đoàn do Iwakura Tomoni (năm 1871) sang mười hai nước châu Âu, châu Mỹ để nghiên cứu và tiếp thu những tư tưởng tiến bộ, khoa học kỹ thuật tiên tiến để tuyên
Trang 18truyền giáo dục rộng rãi trong nước Đặc biệt, một nhà tư tưởng có công truyền bá
tư tưởng phương Tây vào canh tân nước Nhật là Fukuzawa Yukichi (1835 - 1901) với chủ trương phải phát triển giáo dục, nâng cao trình độ học vấn tiên tiến cho Nhật Bản Những bài học từ Nhật Bản như phải coi trọng giáo dục, phát triển công, nông, thương nghiệp; phát triển khoa học kỹ thuật phục vụ cho sản xuất; tiến hành cải cách thể chế chính trị; tiếp thu tinh hoa, văn hoá nhân loại; xoá bỏ những hủ tục lạc hậu, tiến hành những cải cách về lề lối sinh hoạt… đã chứng
tỏ sự đúng đắn trong việc chấn hưng, phát triển đất nước Thành công trong công cuộc cải cách, Nhật Bản đã trở thành cứu tinh, là nguồn động viên, cổ vũ tinh thần chống đế quốc của các dân tộc thuộc địa châu Á, cho nên Trung Quốc, Việt Nam, Thái Lan, Ấn Độ xuất hiện nhiều phong trào sang Nhật để nghiên cứu và học tập Sự phát triển của Nhật Bản không chỉ ảnh hưởng rất lớn trên trường quốc tế mà còn ảnh hưởng mạnh mẽ đối với các nước phương Đông Sự nghiệp cải cách của Nhật Bản đã thôi thúc các nhà tư tưởng Việt Nam đi tìm lời giải đáp cho dân tộc về vấn đề độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ, phát triển đất nước, tiếp thu văn minh phương Tây… Đồng thời, nó cũng tác động mạnh mẽ đến tư duy giáo dục của Nho sĩ yêu nước Việt Nam, giúp họ từ quyết tâm từ bỏ lối học cũ “tầm chương trích cú” để đi theo hướng thực học, chú trọng học khoa học kỹ thuật, học để thực dụng nhằm nâng cao dân trí, tạo nền tảng vững chắc cho đất nước cường thịnh và chống ngoại xâm
Trung Quốc, một quốc gia phong kiến điển hình ở phương Đông luôn tự cho mình là trung tâm của vũ trụ, cũng không nằm ngoài biến động của lịch sử Đến cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, về chính trị, Trung Quốc từ một nước phong kiến quân chủ tập quyền chuyên chế trở thành một nước thuộc địa, nửa phong kiến, phụ thuộc vào tư bản phương Tây Sự có mặt của đế quốc phương Tây đã làm xuất hiện mầm mống của kinh tế tư bản, xóa bỏ dần tình trạng “bế quan tỏa cảng”, nền kinh tế bắt đầu phát triển theo phương thức tư bản chủ
Trang 19nghĩa Cùng với nó, sự xâm nhập của các luồng văn hóa phương Tây ảnh hưởng không nhỏ đến tư tưởng của các giai cấp, tầng lớp trong xã hội Trung Quốc, là nguồn của các trào lưu tư tưởng cải cách, duy tân đầu thế kỷ XX
Tư tưởng của phong trào Duy tân ở Trung Quốc đã đề cập nhiều vấn đề, nhưng cơ bản là: phải phát triển khoa học kỹ thuật, phát triển ngành nghề, trang
bị máy móc kỹ thuật hiện đại, đề cao dân chủ, phế bỏ quan lại bất lực, tiến hành cải cách văn hoá, giáo dục theo kiểu phương Tây Những nội dung duy tân của Khang Hữu Vi đề ra mặc dù không được thực thi, do sự ràng buộc của điều kiện lịch sử, nhưng phù hợp với yêu cầu đổi mới của dân tộc Phong trào này còn truyền bá các học thuyết chính trị phương Tây, tư tưởng dân chủ tư sản, tự
do, bình đẳng, và phổ biến khoa học tự nhiên Từ đó, tạo nên một làn sóng chống lại tư tưởng thủ cựu, lạc hậu của chế độ phong kiến, thổi một luồng sinh khí mới về tư tưởng vào đời sống xã hội Trung Quốc Đầu thế kỷ XX, lịch sử Trung Quốc có một sự thay đổi đột biến quan trọng, đó là cuộc cách mạng Tân Hợi năm 1911 do Tôn Trung Sơn lãnh đạo, đập tan triều đại cuối cùng của chế
độ phong kiến Trung Quốc, thiết lập một chế độ chính trị mới, dưới ngọn cờ của giai cấp tư sản Cương lĩnh chính trị của Tôn Trung Sơn đưa ra dựa trên học thuyết Tam dân: dân tộc độc lập, dân quyền tự do, dân sinh hạnh phúc Mục tiêu đấu tranh được ông đề ra là: “Đánh đuổi giặc Thát, khôi phục Trung Hoa; thành lập Dân quốc; bình quân địa quyền”, và nêu lên ba nhiệm vụ: Lật đổ triều đại Mãn Thanh, thành lập Trung Hoa Dân quốc, thực hiện quyền bình đẳng về ruộng đất Lịch sử Trung Quốc trải qua chế độ phong kiến với thời gian rất dài, cuộc cách mạng Tân Hợi đã tạo ra sự thay đổi vĩ đại của lịch sử Trung Quốc Điều đó chứng tỏ chế độ phong kiến đã không còn vị trí lịch sử của mình, phải nhường lại cho chế độ mới
Những cuộc canh tân đổi mới ở Trung Quốc đã tác động vào nước ta và thức tỉnh dân tộc ta cần phải tiến hành đổi mới Lúc bấy giờ, các phong trào
Trang 20Duy tân của Khang Hữu Vi, cách mạng Tân Hợi (1911) của Tôn Trung Sơn ảnh hưởng rất sâu sắc đối với các nhà tư tưởng tiến bộ ở Việt Nam như Nguyễn Trường Tộ, Phan Châu Trinh, Phan Bội Châu, Nguyễn An Ninh… Đặc biệt, cuộc cách mạng Tân Hợi bùng nổ ở Trung Quốc tháng 10 năm 1911, chỉ 6 tháng sau khi Phan Châu Trinh sang Pháp (1/4/1911) Mặc dù cuộc cách mạng diễn ra phức tạp, thành quả hạn chế, song nó đã hoàn thành một sứ mạng lịch sử
vĩ đại là lật đổ chế độ phong kiến đã tồn tại ở đây hàng mấy nghìn năm và là một trong những biểu hiện cụ thể, sinh động của sự thức tỉnh của châu Á về một nền dân chủ tiến bộ như nhận định, đánh giá của Lênin Trong rất nhiều buổi diễn thuyết của ông ở Pháp trước đồng bào mình, Phan Châu Trinh thường nêu trường hợp của Trung Quốc và Nhật Bản như những ví dụ điển hình về sự thức tỉnh của châu Á và thường nói rằng hiện nay ở châu Á chỉ còn Việt Nam và Philippin là đang mê ngủ Ông thiết tha kêu gọi mọi người hãy nhận ra điều đó, “hãy thức tỉnh và làm cho cả nước cùng thức tỉnh để tiến vào đường văn minh và tiến bộ theo gương Nhật Bản và Trung Quốc” [73; 7 - 8]
Như vậy, ở Trung Quốc hay Nhật Bản, các cuộc cải cách đem lại những
kết quả khác nhau, nhưng đều thống nhất là phải thay đổi tư duy nhằm biến đổi hiện thực xã hội thối nát, bảo thủ của chế độ phong kiến Điều này cho
thấy giai cấp địa chủ phong kiến cùng tư tưởng Nho giáo đã dần dần mất vai trò lịch sử, nó không thể đảm đương được những vấn đề mà thực tiễn đòi hỏi phải giải quyết Vấn đề này không phải chỉ riêng có ở Việt Nam mà trở thành hiện tượng lịch sử – xã hội phổ biến có ở cả Trung Quốc, Nhật Bản và nhiều nước phương Đông khác Có thể nói đó là vấn đề của thời đại Từ thực trạng
đó, thúc đẩy các nhà tư tưởng Việt Nam học tập kinh nghiệm, đi tìm tòi, khám phá con đường cách mạng mới, nhìn nhận lại các giá trị mà chế độ phong kiến đang cố níu giữ, trong đó đánh giá lại nền giáo dục phong kiến đối với sự phát
Trang 21triển của dân tộc Đây là một tất yếu lịch sử để định hướng cho dân tộc trong quá trình phát triển lịch sử
Cùng với các cuộc canh tân, cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, phong trào cách mạng vô sản thế giới phát triển ngày càng mạnh mẽ, đặc biệt là cách mạng Tháng Mười Nga (1917) thành công, chế độ xã hội chủ nghĩa xuất hiện,
tạo ra sự chuyển biến nhất định đối với các nhà tư tưởng Việt Nam vào những năm hai mươi của thế kỷ XX
Trên thế giới, phong trào công nhân ngày càng phát triển rộng khắp, giai cấp công nhân lớn mạnh cả về số lượng và chất lượng, đặc biệt trong các nước
Mỹ, Đức, Anh, Pháp, Nga, Hà Lan, Tây Ban Nha, Thụy Sỹ, Thụy Điển… Nhiều tổ chức đảng của giai cấp công nhân ra đời, thúc đẩy mạnh mẽ phong trào cách mạng vô sản ngày càng lan rộng và ảnh hưởng rất lớn đến phong trào giải phóng dân tộc
Dưới sự lãnh đạo của V.I Lênin, Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917 thắng lợi, mở ra một thời đại mới V.I Lênin tiếp tục xây dựng và phát triển phong trào công nhân, trước hết củng cố tổ chức Quốc tế Cộng sản Với sự phát triển của tổ chức Cộng sản và phong trào công nhân, chủ nghĩa Mác ngày càng được truyên truyền sâu rộng trên thế giới, trở thành ngọn cờ lý luận của giai cấp công nhân và của các dân tộc bị áp bức Hệ tư tưởng mới này đã tác động rất mạnh, làm thay đổi tư duy của nhiều dân tộc, nhiều nhà tư tưởng trên thế giới
Cùng với những yếu tố nêu trên, phong trào giải phóng dân tộc cũng là một
trong những yếu tố góp phần vào sự chuyển biến tư tưởng Việt Nam trong giai đoạn này Cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, khi chủ nghĩa thực dân bành trướng xâm lược thì các dân tộc phương Đông xuất hiện phong trào giải phóng dân tộc, những phong trào này diễn ra hầu hết các dân tộc bị thực dân đô hộ, ở những mức độ nhất định Những phong trào tiêu biểu như phong trào Duy tân, cách mạng Tân Hợi (1911) ở Trung Quốc; cuộc khởi nghĩa Hán Thành chống
Trang 22quân xâm lược Nhật Bản ở Triều Tiên; cuộc khởi nghĩa Surapátti ở Inđônêxia chống quân xâm lược Hà Lan… Có thể nói, vào giai đoạn cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc của nhân dân các dân tộc
bị áp bức trở nên mạnh mẽ hơn, sâu rộng hơn Những cuộc khởi nghĩa ấy là cơ
sở, là lực lượng vật chất để dẫn đến sự thay đổi lớn lao về tư duy, về tư tưởng của các dân tộc
Như vậy, cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, hoàn cảnh lịch sử của thế giới
đã có rất nhiều yếu tố tác động mạnh mẽ đến quá trình chuyển biến tư tưởng yêu nước Việt Nam Thực tiễn sinh động ấy đặt câu hỏi cho dân tộc Việt Nam
là phải bằng con đường cách mạng nào để bảo vệ độc lập dân tộc, phát triển đất nước theo kịp các nước khu vực Bên cạnh đó, phong trào cách mạng vô sản phát triển mạnh mẽ, đặc biệt là Cách mạng Tháng Mười Nga thắng lợi, chủ nghĩa xã hội đang trở thành hiện thực và mong ước của hàng triệu con người trên trái đất Hệ tư tưởng của giai cấp công nhân ngày càng ảnh hưởng rộng khắp trên phạm vi thế giới
Tóm lại, trước những tình hình ấy, chế độ phong kiến thực sự đã không còn
là sự lựa chọn của lịch sử, những phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc lan rộng khắp thế giới đều cho thấy những giá trị cốt lõi mà chế độ phong kiến để lại về các mặt kinh tế, văn hóa, chính trị, xã hội đều đã lạc hậu Đánh giá các chuyển biến thế giới, Phan Châu Trinh cho thấy ảnh hưởng của nó đối với tình hình trong nước: “Bỗng nhiên một tiếng sét nổ ra, trời long đất lở, dư ba của chiến tranh Nga - Nhật, động lực duy tân Trung Quốc vang dội bốn phía, lay động cả nước Do đó các cử động, các đảng phái trong nước cũng theo đó mà nổi lên” [74; 63] Những sự kiện lịch sử quan trọng diễn ra trên thế giới có ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình chuyển biến tư tưởng nói chung và làm thay đổi tư duy giáo dục của các nhà tư tưởng ở Việt Nam, trong đó có tư duy giáo dục của Phan Châu Trinh Vì lẽ đó, trong tư tưởng của Phan Châu Trinh, đặc biệt là tư
Trang 23tưởng về giáo dục của ông phê phán một cách mạnh mẽ nền giáo dục khoa cử phong kiến lạc hậu, đã tạo ra những con người u mê, tin vào những điều đã được răn dạy hàng ngàn năm mà đánh giá thấp sự phát triển của khoa học kỹ thuật
1.1.1.2 Tình hình trong nước
Ngay từ những năm đầu của thế kỷ XIX, thực dân Pháp ra sức chuẩn bị cho cuộc xâm lược Việt Nam Bằng công cụ đắc lực là Hội truyền giáo nước ngoài Pháp được thành lập ở Paris năm 1664 cùng sự kết hợp với nhà buôn, thực dân Pháp dùng thủ đoạn nhà buôn khoác áo giáo sĩ, lính xâm lược theo sau Đầu năm 1857, để triển khai việc xâm lược Việt Nam, Pháp cho lập ủy ban nghiên cứu vấn đề Việt Nam và đưa ra quyết định gấp rút đánh chiếm Việt Nam Từ năm 1858, thực dân Pháp bắt đầu xâm lược Việt Nam, với mục đích của chúng là nô dịch nhân dân ta, biến nước ta thành một thị trường, một căn
cứ quân sự, một nơi bóc lột và đầu tư, một nơi sinh lợi nhanh chóng và đảm bảo nguồn tài chính cho tư bản Pháp
Chính sự nhu nhược của triều đình Huế, qua các bản Hiệp ước “Hòa bình
và hữu nghị” kí ngày 5-6-1862, Hiệp ước Giáp Thân (1874) đã nhường sáu tỉnh Nam Kì cho Pháp, người Pháp được tự do buôn bán và kinh doanh; Hiệp ước Harmand (25-4-1883) và Hiệp ước Paternotre (1884), triều đình Huế đã đầu hàng hoàn toàn thực dân Pháp, dâng nộp đất nước ta cho Pháp, để Pháp đặt lên đất nước ta một ách thống trị về mọi mặt, biến nước ta từ một nước phong kiến độc lập trở thành một nước thuộc địa nửa phong kiến, đồng thời tiến hành đàn
áp, dẹp yên các cuộc khởi nghĩa võ trang của nhân dân ta do các văn thân, sĩ phu yêu nước lãnh đạo
Sau khi hoàn thành xâm lược nước ta, thực dân Pháp tổ chức bộ máy cai trị nhằm thống trị, vơ vét của cải, bóc lột nhân dân ta bằng thủ đoạn hết sức hà khắc Tính chất xã hội thuộc địa, nửa phong kiến được biểu hiện trên mọi mặt của đời sống xã hội
Trang 24- Về chính trị - xã hội
Nhằm thu về nguồn lợi nhuận cao nhất, trong giai đoạn này, thực dân Pháp
đã thực thi nhiều chính sách bóc lột và tiến hành kìm hãm xã hội Việt Nam trong tình trạng trì trệ để đảm bảo sự thống trị Trong đó, thực dân Pháp đã thay đổi cơ cấu và tổ chức lại bộ máy cai trị ở nước ta để nắm quyền điều khiển bộ máy thống trị, cấu kết với giai cấp phong kiến phản động, biến giai cấp này thành tay sai cho chúng với âm mưu “dùng người Việt để trị người Việt”, thực hiện ba chế độ chính trị ở ba Kỳ, dùng chính sách “chia để trị”, gây chia rẽ người dân ở ba miền: Bắc, Trung, Nam, gây thù hằn dân tộc giữa dân tộc đa số với dân tộc thiểu số
Về mặt chính trị, để đảm bảo sự cai trị của Pháp, mọi quyền hành đều tập trung trong tay các viên quan cai trị người Pháp Nhằm ổn định nền thống trị
và đẩy mạnh khai thác thuộc địa, ngày 17 tháng 10 năm 1887, Tổng thống Pháp
ra sắc lệnh thành lập Liên Bang Đông Dương thuộc Pháp, quy định chế độ chính trị tại Đông dương, theo đó, toàn thể Đông Dương là lãnh thổ hải ngoại của nước Pháp, mà thực chất là thuộc địa của Pháp Trong đó, Việt Nam được gọi là “An Nam thuộc địa Pháp” và bị chia thành 3 xứ (3 kỳ) với 3 quy chế chính trị khác nhau
Nam Kỳ là xứ thuộc địa, thuộc quyền trực trị của Pháp, là vùng đất người Pháp chiếm được đầu tiên, hưởng quy chế “thuộc địa” Đứng đầu Nam Kỳ là một viên thống đốc đóng ở Sài Gòn Ở các tỉnh Nam Kỳ đứng đầu là những người Pháp
Trung Kỳ là đất “bảo hộ” và có kinh đô của nhà Nguyễn nên chức danh của viên quan chức người Pháp đứng đầu Trung Kỳ là Khâm sứ Chính quyền của người Pháp cũng chỉ tổ chức đến cấp tỉnh Khâm sứ Trung Kỳ trực tiếp chỉ đạo và giám sát vua Nguyễn và triều đình Huế Khâm sứ có cả quyền duyệt các đạo dụ của nhà vua Tính bảo hộ của Pháp tại Trung kỳ còn được
Trang 25thể hiện qua việc Khâm sứ Trung kỳ có quyền cử một số quan chức người Pháp, với chức danh Đại Biện, thay mặt cho Khâm sứ vào chỉ đạo và giám sát các Bộ và các cơ quan cao cấp khác của Triều đình Khâm sứ có hội đồng giúp việc chủ yếu là người Pháp Bên cạnh đó, thực dân Pháp vẫn duy trì ở Trung Kỳ bộ máy phong kiến từ làng xã đến cấp tỉnh để điều hành, cai quản địa phương Nhưng thực chất quyền hành thực sự vẫn nằm trong tay Khâm
sứ người Pháp
Bắc Kỳ là đất “nửa bảo hộ”, quyền lực chính trị ở Bắc Kỳ đều tập trung vào viên Thống sứ người Pháp, chính quyền của người Pháp chỉ tổ chức tới cấp Tỉnh
Hệ thống chính quyền từ cấp tỉnh trở xuống ở Bắc Kỳ cũng giống như Trung Kỳ
Bộ máy quan lại cũ của chế độ phong kiến vẫn được tổ chức ở cấp chính quyền làng, xã; về hình thức hoạt động một cách độc lập trong địa phương, song vẫn không thoát khỏi sự thao túng và kìm kẹp của chế độ thực dân
Tóm lại, trong thời kỳ Pháp thuộc, ở Việt Nam, về hình thức tồn tại hai hệ thống chính quyền, một của người Pháp và một của triều đình phong kiến nhà Nguyễn Nhưng thực chất triều đình Nhà nguyễn chỉ là tay sai bù nhìn cho Pháp, là một bộ phận trong chính quyền thuộc địa mà ở đó hệ thống chính quyền của người Pháp được thiết lập trên toàn cõi Đông Dương và ở Việt Nam Ngoài ra, về mặt xã hội, chúng lập lại mọi thứ thuế có từ thời Tự Đức và lập ra nhiều thuế mới như thuế gián thu (thuế rượu, thuế muối, thuế thuốc phiện)
và thuế trực thu (thuế đinh, thuế điền), không ngừng vơ vét của cải vào ngân sách Liên bang Đông Dương; duy trì và phát triển các phong tục hủ bại thời phong kiến, khuyến khích cờ bạc, uống rượu, thuốc phiện Phan Châu Trinh đã chỉ ra thực trạng xã hội giai đoạn này như sau:
“Hội hè: Từ mười người trở lên phải xin phép Nhưng trừ những sự uống rượu, hút thuốc phiện ra, đông bao nhiêu cũng được, còn việc gì quan hệ đến lợi hại trong dân, dẫu xin phép cũng chẳng bao giờ được” [74; 179] “Rượu,
Trang 26thuốc phiện: sự này đã nhiều nhật trình Tây nói ai ai cũng biết Nhưng hàng rượu, hàng thuốc phiện nhiều hơn gấp mấy lần nhà trường Những người trẻ tuổi hay nóng nảy, nói một hai câu cứng đầu cứng cổ, sau muốn cho Nhà nước khỏi nghi ngờ bắt buộc, chỉ có một cách là mai chiều giam đầu vào đó là khỏi Thương hại thay, biết bao nhiêu người đầu xanh tuổi trẻ vì sự khốn nạn đó phải xuống giếng sâu vực thẳm, bỏ mất một đời thanh xuân Còn một nỗi tai hại nữa
là thuốc phiện của Nhà nước lại bỏ lẫn vào một thứ thuốc độc là mủ xương rồng nên những người bị nghiền lại càng chóng yếu người nữa Thương ôi! Rượu mạnh, thuốc phiện, hai thứ đó, những các nước văn minh ngày nay ở đâu cũng cấm cả Bên Tây này cấm thuốc phiện nghiêm ngặt là bao… nước Tàu nay cũng đủ… trăm (thứ luật)… để cấm cho tuyệt Người Ăngle cũng vì chánh đạo công
lý mà phải đành cắn răng bỏ nghề thuốc phiện, mất mỗi năm hơn mấy trăm triệu, mà các quan thuộc địa chỉ vì một tí lợi nhỏ mà bắt buộc mấy triệu người
An Nam phải ăn một thứ thuốc độc, chắc một trăm phần chết không thể tránh khỏi, ấy có thảm thương không?” [74; 179]
- Về kinh tế
Với mục đích vơ vét của cải, bóc lột nhân công và biến nước ta trở thành thị trường tiêu thụ hàng hóa của mình, thực dân Pháp ra sức thi hành hàng loạt các chính sách nhằm đạt được mục đích Vì lẽ đó, nền kinh tế nước ta thời bấy giờ dưới ảnh hưởng của Pháp vừa tồn tại đan xen các yếu tố của kinh tế truyền thống, vừa tồn tại các yếu tố của nền kinh tế phụ thuộc mang tính tư bản
Về nông nghiệp, thực dân Pháp cướp ruộng của nông dân, bán cho Việt gian để chúng bóc lột tô Việc phát triển nông nghiệp chủ yếu là đồn điền, trồng lúa, cao su, chè với trình độ thấp
Về công nghiệp, các ngành công nghiệp khai khoáng, công nghiệp nhẹ và chế biến quặng được thực dân Pháp chú trọng phát triển: các công ty than ở Hạ Long, Đông Triều…, nhà máy dệt ở Hà Nội, Nam Định, Chợ Lớn
Trang 27Về tiểu thủ công nghiệp với các ngành như dệt vải, đan lát, chế biến nông sản, mộc… phát triển rộng rãi, song chỉ hỗ trợ cho kinh tế nông nghiệp, công nghiệp nhưng vẫn chưa thoát ra khỏi phương thức sản xuất phong kiến
Về giao thông vận tải, để phục vụ cho khai thác tài nguyên, Pháp đã xây dựng một số cơ sở vật chất kỹ thuật trong các ngành giao thông vận tải, các tuyến giao thông, bến cảng ở cả 3 miền cả nước, chẳng hạn như: mở rộng và nâng cấp quốc lộ 1, xây dựng nhiều cầu lớn như cầu Long Biên (Hà Nội), cầu Tràng Tiền (Huế), cầu Bình Lợi (Sài Gòn)… nhiều cảng quan trọng như cảng Hải Phòng, cảng Đà Nẵng, cảng Sài Gòn Qua đó tạo điều kiện giao lưu kinh
tế, văn hóa, tư tưởng với các nước, tiếp cận các nền văn minh trên thế giới
Về thương nghiệp, xóa bỏ chính sách “bế quan tỏa cảng” của triều đình Nhà Nguyễn, tạo điều kiện cho thương nghiệp phát triển, giúp nước ta có sự giao lưu với các nước bên ngoài, tuy nhiên chủ yếu vẫn dưới sự quản lý của thực dân Pháp
Tóm lại, về mặt kinh tế nước ta lúc bấy giờ vẫn ở trình độ thấp, lực lượng sản xuất của xã hội cũ vẫn còn tồn tại, chiếm đa số và giữ vị trí quan trọng; tính chất và trình độ phát triển của nền kinh tế tư bản chủ nghĩa đang dần hình thành
và phát triển ở Việt Nam tương đối chậm chạp Sự đầu tư của thực dân Pháp vào Việt Nam lúc bấy giờ không có mục đích nào khác ngoài phục vụ cho công cuộc khai thác thuộc địa Với sự đan xen tồn tại của chủ nghĩa tư bản ở đất nước ta đã làm biến đổi ý thức tư tưởng của các nhà yêu nước như Phan Châu Trinh, Phan Bội Châu, Nguyễn An Ninh… hòa lẫn giá trị truyền thống và hiện đại Chính sách kinh tế của Pháp ở Việt Nam có thể tóm gọn lại: bán hàng hóa, khai thác nguyên liệu bằng cách bóc lột nhân công rẻ mạt và cho vay lãi Chính yếu tố kinh tế như vậy tác động không nhỏ đến tư tưởng giáo dục của Phan Châu Trinh, đòi hỏi ông đưa ra quan điểm về giáo dục con người Việt Nam tự lập, tự cường, phát triển giáo dục nhằm nâng cao dân trí để “chấn dân khí, hậu dân sinh”
Trang 28- Về xã hội – cơ cấu xã hội
Cùng với quá trình khai thác thuộc địa, thực dân Pháp đã tạo ra những mâu thuẫn mới trong xã hội, tác động mạnh mẽ và làm cho xã hội Việt Nam thời bấy giờ phân hóa giai cấp một cách sâu sắc Nếu như trước khi có sự đô
hộ của thực dân Pháp, mâu thuẫn chủ yếu, vốn có trong xã hội Việt Nam là mâu thuẫn giữa giai cấp địa chủ phong kiến và nông dân; giờ đây, qua quá trình xâm lược, thực dân Pháp mang vào Việt Nam sự phân hóa sâu sắc các tầng lớp, giai cấp trong xã hội, tạo ra trong xã hội Việt Nam nhiều giai cấp mới với địa vị kinh tế và thái độ chính trị khác nhau: giai cấp tư sản, tầng lớp tiểu tư sản, giai cấp công nhân
Trước tình hình xã hội Việt Nam như vậy, các giai cấp cũ và mới trong xã hội có thái độ chính trị hết sức mâu thuẫn và khác nhau:
Giai cấp địa chủ phong kiến: Là lực lượng thống trị cũ của xã hội Cùng
với sự phát triển của nền kinh tế tư bản chủ nghĩa, tưởng chừng như vai trò của giai cấp địa chủ phong kiến sẽ lùi về sau Tuy nhiên, theo chính sách khai thác thuộc địa của thực dân Pháp “dùng người Việt trị người Việt”, chúng đã câu kết với bộ phận phong kiến phản động làm tay sai, nhằm thực hiện nền kinh tế thực dân – nửa phong kiến nên thế lực của giai cấp địa chủ phong kiến càng trở nên vững chắc, ra sức bóc lột nông dân, kìm hãm sự phát triển lực lượng sản xuất dưới sự che chở của thực dân Pháp Trước tình hình đất nước bị ngoại xâm
và quyền lợi bị phân hóa theo từng bộ phận, sự phân hóa giai cấp địa chủ có thể chia làm những bộ phận như sau:
Triều đình nhà Nguyễn thế lực tiêu biểu của chế độ thống trị cũ của xã hội trở thành tay sai của thực dân Pháp, thay vì cùng nhân dân khởi nghĩa chống Pháp lại quay sang đàn áp nhân dân
Một bộ phận ra làm quan nhưng có thái độ tùy thời, yên thân hưởng lạc; hoặc lẽ bi quan trước thời cuộc, cáo quan về nhà không tham gia kháng chiến
Trang 29Một số sĩ phu thức thời, tiếp thu truyền thống yêu nước của dân tộc, thấy
rõ “quyền lợi của phong kiến cũng chỉ là quyền lợi làm tay sai cho đế quốc” [22; 6] Họ sống cùng nhân dân, chiến đấu cùng nhân dân chống giặc cứu nước Tuy nhiên, với hệ tư tưởng phong kiến lỗi thời, đại diện cho một giai cấp suy tàn, thiếu sự ủng hộ cũng như lôi kéo được đông đảo quần chúng trong xã hội đấu tranh chống giặc ngoại xâm; do đó, sự thất bại là điều khó tránh khỏi
Giai cấp nông dân: chiếm hơn 90% dân số cả nước Trong chế độ phong
kiến, người nông dân bị bóc lột bởi giai cấp địa chủ phong kiến thì sau khi thực dân Pháp xâm lược, tình hình của họ còn tồi tệ hơn, khi giai cấp địa chủ phong kiến tự biến mình thành tay sai cho Pháp, bản thân người nông dân lúc này lại
bị thêm một tầng áp bức bóc lột của thực dân xâm lược khiến cho đời sống của
họ vô cùng cơ cực Nguyễn Ái Quốc đã nhận xét: “Tư bản Tây và Nhà thờ đạo
đã chiếm gần hết đất ruộng, còn giữ được miếng nào thì chính phủ lại đánh thuế thiệt mạng, mỗi năm một tăng – như mỗi mẫu ruộng tốt, mỗi năm tất cả hoa lợi được chừng 25 đồng, Tây nó lấy mất 2 đồng 5 hào thuế”, “nếu tính tiền thuê trâu bò, mua phân tro, mướn làm, tiền ăn uống thì mỗi năm đã lỗ mất 5 đồng,
mà chính phủ lại kẹp lấy cho được 2 đồng rưỡi” [47; 309] Là đối tượng bị áp bức, bóc lột nặng nề nhất nên chính bản thân người nông dân có sức phản kháng, ý chí chiến đấu mạnh mẽ Do đó, giai cấp nông dân là đội quân hùng hậu trong mọi cuộc khởi nghĩa chống thực dân Pháp xâm lược và chống phong kiến tay sai từ cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX
Tầng lớp tiểu tư sản: là tiểu thương, những người làm nghề thủ công,
viên chức, trí thức, học sinh… Tầng lớp tiểu tư sản xuất hiện ở các đô thị lớn nhỏ khắp cả nước, ra đời cùng với quá trình khai thác thuộc địa, củng cố và kiện toàn bộ máy hành chính sự nghiệp của thực dân Đa số họ đều có địa vị kinh tế thấp, thường xuyên bị đe dọa phá sản, mất việc làm, bị thực dân Pháp khinh rẻ, do đó, họ hăng hái tham gia cách mạng mặc dù có biểu hiện ngả
Trang 30nghiêng, dao động khi phong trào gặp khó khăn Tuy nhiên, tầng lớp trí thức, học sinh có lý tưởng độc lập, dân chủ, yêu nước và nhạy bén trước thời cuộc đóng vai trò quan trọng trong phong trào đấu tranh nhằm bảo vệ nền văn hóa truyền thống của dân tộc
Giai cấp tư sản: giai cấp tư sản Việt Nam ra đời muộn, gắn với sự xâm
nhập chủ nghĩa thực dân Pháp Trước chiến tranh thế giới lần thứ nhất, do thực dân Pháp ra sức kìm hãm nên họ mới chỉ là một tầng lớp nhỏ bé, kinh doanh trong lĩnh vực thương nghiệp, hoạt động sản xuất hạn hẹp Sau chiến tranh, do yêu cầu công cuộc đẩy mạnh khai thác thuộc địa của thực dân Pháp khiến cho tư sản Việt Nam có điều kiện phát triển, mở rộng kinh doanh Sự phát triển nhanh chóng khiến tư sản Việt Nam đã thực sự trở thành một giai cấp xã hội, phân hóa thành hai bộ phận có quyền lợi và thái độ chính trị khác nhau đối với cách mạng:
Tư sản mại bản Việt Nam: xuất thân từ tiểu chủ, viên chức, quan lại và phần đông là từ địa chủ mà ra, là tư sản kiêm địa chủ; là bộ phận phản động có quyền lợi gắn liền với thực dân Pháp, mặt khác đa phần là địa chủ, do đó quyền lợi gắn chặt với phong kiến
Tư sản dân tộc Việt Nam: kinh doanh trong các ngành kinh tế phụ thuộc,
bị tư sản Pháp chèn ép nên chậm phát triển Tuy có mâu thuẫn với thực dân Pháp, song là bộ phận bóc lột người lao động để làm giàu Do đó, tư sản dân tộc Việt Nam mang tính hai mặt: một mặt nhờ cậy, thỏa hiệp, trông chờ vào
ân huệ của thực dân Pháp; mặt khác có thể tham gia chống thực dân và phong kiến nhưng chỉ phát huy khi phong trào cách mạng mạnh mẽ và trên đà thắng lợi Vì vậy, đây là lực lượng có thể tham gia cách mạng nhưng không lãnh đạo cách mạng được
Giai cấp vô sản: có nguồn gốc từ bộ phận nông dân, thợ thủ công… bị phá
sản do chính sách áp bức bóc lột, chiếm đoạt đất đai, của cải một cách tàn bạo
Trang 31của thực dân Pháp ở Việt Nam làm phá hoại nền kinh tế tự cấp, tự túc; đồng thời một bộ phận không nhỏ người bị phá sản, thất nghiệp vào làm phu mỏ, phu đồn điền, phu khuân vác… ngày càng đông đảo, hình thành một giai cấp mới Giai cấp vô sản ra đời cùng với công cuộc khai thác thuộc địa của Pháp gắn với việc xây dựng đường xá, khai thác tài nguyên ở Việt Nam, đây là lực lượng quan trọng của cách mạng Giai cấp vô sản Việt Nam càng về sau càng trở nên mạnh mẽ, trở thành giai cấp lãnh đạo cách mạng, lôi cuốn được quần chúng nhân dân lao động tham gia vào phong trào cách mạng theo ngọn cờ giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp và giải phóng toàn xã hội Chính Lamothe - thống đốc Nam Kỳ đã thừa nhận trong một báo cáo năm 1902 gửi Toàn quyền Paul Doumer: “Sự phát triển của những đô thị lớn như Sài Gòn, Chợ Lớn làm cho
ta thấy nảy sinh một thứ vô sản thành thị Thái độ và hành động của đám vô sản này làm cho số người châu Âu và những người tầng lớp giàu có người bản
xứ đều lo sợ một cách nghiêm trọng và hữu lý” [27; 68]
Chính trong bối cảnh xã hội Việt Nam thời bấy giờ, thực dân Pháp ngày càng tỏ rõ ưu thế, chế độ phong kiến ngày càng suy đồi, bất lực, nhân dân Việt Nam hơn lúc nào hết âm ỉ trong lòng hận mất nước không nguôi, ý chí phục dựng một quốc gia ngàn năm văn hiến hơn lúc nào hết thôi thúc các thế hệ con người Việt Nam thực hiện Vì lẽ đó, thực dân Pháp cũng nhận thức rõ: “Nếu một chế
độ giống như chế độ ở Đông Dương được áp dụng ở đất nước chúng ta, việc đổ máu chắc chắn không thể tránh khỏi, chỉ với sự chịu khuất phục và cam phận của nhân dân An Nam thì một cuộc cách mạng mới không xảy ra” [76; 33] Những cuộc khởi nghĩa của Trương Công Định, Nguyễn Trung Trực, Trương Quyền, Nguyễn Hữu Huân ngay từ những ngày đầu Pháp xâm lược nước ta cho đến các cuộc khởi nghĩa của Phan Đình Phùng, Tống Duy Tân, Hoàng Hoa Thám , phong trào Đông Du của Phan Bội Châu, phong trào Duy Tân của Phan Châu Trinh, Đông Kinh Nghĩa Thục càng khiến cho thực dân
Trang 32Pháp thêm lo lắng Prốtpe Quyn - truy, một nhà sử học thực dân khi viết về lịch
sử xâm lược Nam Kì cũng thừa nhận: “Những người nông dân do ruộng đất, mùa màng và súc vật của họ ràng buộc mà ở lại trong xứ này dưới một trạng thái khuất phục về ngoài chứ hoàn toàn không có sự khuất phục về tinh thần” [69; 179] Sự chống trả của nhân dân Việt Nam không chỉ bằng những vũ khí thô sơ hay súng đạn hiện đại mà còn bởi ngòi bút, bằng sự bất hợp tác, tẩy chay, bài trừ ảnh hưởng của Pháp
Vì lẽ đó, trong tư tưởng của Phan Châu Trinh luôn tồn tại quan điểm chống trả lại ảnh hưởng của Pháp, tuy nhiên ông không chủ trương bạo động, không dựa vào các quốc gia khác mà chủ trương dựa vào Pháp, tiến hành đấu tranh về mặt chính trị nhằm đòi lại quyền lợi cho người dân Việt Nam, ông hiểu rằng:
“Mình không tự lập, ai cũng là kẻ cừu của mình, Triều Tiên, Đài Loan, cái gương rõ ràng, người Nhật chắc gì hơn người Pháp Chưa có tư cách quốc gia độc lập, dầu có nhờ cậy sức người ngoài chỉ diễn cái trò “đổi chủ mà làm đầy tớ” lần thứ hai, không ích gì” [72;22] Do đó, những tư tưởng của Phan Châu Trinh, đặc biệt là tư tưởng về giáo dục khi triển khai thực hiện cũng đều trên
cơ sở tự lực khai hóa, dựa vào Pháp và từng bước đấu tranh đòi quyền lợi với chính thực dân Pháp
Trong công cuộc xâm lược Việt Nam, thực dân Pháp tìm được chỗ dựa là triều đình Nhà Nguyễn, song chúng phải thừa nhận rằng, muốn đô hộ một dân tộc, nhất là một dân tộc có nền văn minh lâu đời hơn nước Pháp, “chỉ có chinh phục đất đai thì chưa đủ, mà còn cần phải có chinh phục tâm hồn nữa” [69; 179] Trong công cuộc “chinh phục tâm hồn” đó, “giáo dục là một công cụ mạnh nhất và chắc chắn nhất ở trong tay kẻ chinh phục” [69; 179]
Vì lẽ đó, chính sách về văn hóa, giáo dục của thực dân Pháp được xem là một trong những chính sách trọng tâm nhằm nô dịch nhân dân Việt Nam từ góc
độ tư tưởng, văn hóa, tránh sự phản kháng của một dân tộc bị mất nước
Trang 33- Về văn hóa – giáo dục
Khi thực dân Pháp hoàn thành xâm lược nước ta, chúng đặt nền đô hộ và
ra sức vơ vét tài nguyên, của cải Quá trình đó đòi hỏi thực dân Pháp phải giao tiếp, tìm hiểu Việt Nam; do đó, nền giáo dục phong kiến lạc hậu không thể đáp ứng được và cần phải thay đổi, nhường chỗ cho giáo dục thực dân để chúng dễ dàng đi sâu vào công cuộc khai tác, vơ vét, bóc lột nhân dân ta
Việc phát triển giáo dục ở Việt Nam, thực dân Pháp hướng đến các mục đích sau:
Thứ nhất, nhằm đào tạo tay sai – những người thừa hành ngoan ngoãn, trung thành để giúp việc cho bộ máy cai trị của chúng, trực tiếp phục vụ cho việc chinh phục và khai thác Việt Nam của Pháp
Quan điểm của Pháp cho rằng khi thống trị một dân tộc, kẻ đi thống trị không thể không dựa vào một bộ phận trong những người bị thống trị Do đó, thực dân Pháp phải chú trọng phát triển nền giáo dục thực dân để đào tạo tay sai cho chúng theo như quan điểm: “Thay thế một cách đột ngột đến tận gốc rễ
bộ máy cai trị An Nam bằng một số lớn sĩ quan (người Pháp) mà phần lớn không biết đến tiếng nói và phong tục tập quán của xứ người ta chỉ gây ra một
sự hỗn loạn, cho nên thực hiện việc cai trị bằng người bản xứ dưới sự kiểm soát của chúng là cách tốt nhất để giải quyết vấn đề” [69; 183 - 184]
Để tạo ra những người giúp việc tay sai cho các tổ chức chính trị và kinh
tế của thực dân Pháp, chúng đã sử dụng nhiều cách thức và biện pháp, trong
đó có việc tổ chức nền giáo dục thực dân Việc xây dựng nền giáo dục thực dân nhằm đáp ứng nhu cầu về chính trị trong từng giai đoạn theo những chủ trương cụ thể
Với tôn chỉ: “Trước tiên, giáo dục có kết quả tăng cường dồi dào giá trị sản xuất của thuộc địa Ngoài ra, nó phải chọn lọc và đào tạo những tay sai hợp tác, những công chức bản xứ, lương trả ít tốn hơn cho ngân sách thuộc địa Phải
Trang 34huấn luyện cho quen việc các nhà cầm quyền bản xứ mà các hiệp ước bảo hộ
và sự sáng suốt của một chính sách chính trị sơ đẳng bắt chúng ta có bổn phận duy trì làm trung gian giữa chúng ta và dân tộc bản xứ…” [28; 43] và quan điểm: “ Sau khi người lính đã hoàn thành sự nghiệp của mình thì đến lượt người giáo viên thực hiện sự nghiệp của họ” [69; 180], thực dân Pháp lập luận rằng:
“Một khi người ta muốn thay đổi hình dáng hoặc màu sắc của một cái cây, người ta không thể bắt đầu với những cây đã phát triển hoàn toàn và sinh hoa kết quả, mà người ta tác động đến các hạt phải chăm sóc, điều kiện việc nảy mầm và phát triển của nó trong những miếng đất được chọn lọc và chuẩn bị đầy đủ” [69; 180] Do đó, để nô dịch một quốc gia có nền văn minh lâu đời thì không phải tấn công một cách trực diện, thực dân Pháp khẳng định: “Nếu chúng
ta muốn đặt được vĩnh viễn ảnh hưởng của nước Pháp trên phần đất này (Việt Nam) của thế giới, thì phải làm cho họ (người Việt Nam) tiêm nhiễm tư tưởng của chúng ta (Pháp), dạy cho họ tiếng nói của chúng ta và do đó phải bắt đầu
từ nhà trường và trước tiên chú ý đến trẻ em” [69; 181] Như vậy, thực dân Pháp đã thực sự bộc lộ rõ ràng ý thức muốn sử dụng giáo dục làm công cụ phục
vụ cho sự thống trị của chúng và làm cho chúng ta thấy rõ vì sao ngay từ đầu của cuộc xâm lược, thực dân Pháp đã quan tâm đến giáo dục: “Không bao giờ
đô đốc Đơla – Grăngđie đi thăm một làng mà không ghé vào trường học, ông hỏi han học trò, bảo học trò viết một bài tập hay giải những phép tính lên bảng đen Rồi chính tự ông phân phát phần thưởng hay những đồ chơi đến tận tay những ai trả lời tốt hơn cả” [69; 181]
Sau chiến tranh thế giới lần thứ nhất, với những tổn thất trong cuộc chiến này, thực dân Pháp buộc phải thực hiện cuộc khai thác thuộc địa, đi kèm với
nó là việc cải cách giáo dục phong kiến nhằm phục vụ cho mục đích cai trị và khai thác của chúng Nền “giáo dục Pháp - Việt” ra đời nhằm đào tạo lớp người giúp việc biết tiếng Pháp và chữ quốc ngữ Nền giáo dục thực dân trong giai
Trang 35đoạn này cũng không nằm ngoài mục đích phục vụ cho công cuộc khai thác thuộc địa quy mô lớn của Pháp đối với nhân dân Việt Nam về mặt tư tưởng, ý thức, văn hóa – giáo dục
Thứ hai, thực dân Pháp muốn thiết lập mau chóng mối quan hệ trực tiếp, càng nhiều, càng tốt giữa bọn chúng với nhân dân Việt Nam
Mục đích của việc làm này là để bọn chúng có thể giao thiệp thẳng với người Việt Nam và kiểm soát công việc của họ, không phải thông qua những người trung gian mà bọn chúng cho là chưa hoàn toàn trung thành với chúng
Để đạt được mục đích trên, một vấn đề được đặt ra đối với bọn thực dân
là khắc phục được sự bất đồng về ngôn ngữ Trong việc cai trị và buôn bán, bọn thống trị thực dân Pháp cần giao thiệp với người Việt Nam, tuy nhiên do bất đồng ngôn ngữ và bản thân chúng không thể học được chữ Việt Nam dùng
để giao dịch Bởi vậy chúng muốn người Việt phải học một thứ chữ nào đó để phục vụ nhu cầu mới của chúng
Một số người chủ trương phải phổ biến rộng rãi tiếng Pháp trong mọi tầng lớp nhân dân Việt Nam bằng phương pháp trực tiếp, phải dạy học sinh tiếng Pháp ngay từ khi mới bắt đầu Tuy nhiên trở ngại lớn là thiếu giáo viên dạy tiếng Pháp, hơn nữa để đọc thông viết thạo tiếng Pháp cần nhiều thời gian và đầu tư về tiền của Do đó, việc phổ biến chữ quốc ngữ trở thành phương án tối
ưu, đồng thời cũng giúp cho thực dân Pháp thoát khỏi ảnh hưởng của tầng lớp
sĩ phu lợi dụng các trường Hán học để tuyên truyền chống lại Pháp
Sự xuất hiện của chữ quốc ngữ trên cơ sở dùng các mẫu tự La tinh để ghi
âm tiếng Việt Nam giúp cho thực dân Pháp thúc đẩy công cuộc vơ vét, bóc lột Tuy nhiên, việc học chữ quốc ngữ cũng tạo điều kiện thuận lợi cho dân tộc ta tiếp cận văn minh thế giới một cách dễ dàng
Như vậy, do nhu cầu giao dịch và đảm bảo sự bóc lột lâu dài, thực dân Pháp buộc phải “phát triển giáo dục” ở Việt Nam Việc dùng chữ Pháp hay chữ
Trang 36quốc ngữ trong giao dịch hoàn toàn vì lợi ích của thực dân Pháp chứ không phải vì quyền lợi của dân tộc Việt Nam
Thứ ba, nhằm ngăn cản sự phản kháng của nhân dân Việt Nam, đặc biệt
là bộ phận sĩ phu, trí thức yêu nước, đảm bảo sự cai trị của Pháp
Để tránh sự phản kháng một cách trực tiếp của nhân dân Việt Nam, thực dân Pháp sử dụng giáo dục như một chiêu bài nhằm nô dịch về tư tưởng của nhân dân ta Việc xây dựng nền giáo dục thực dân nhằm đáp ứng nhu cầu về chính trị trong từng giai đoạn theo những chủ trương cụ thể Tuy nhiên, chủ trương chung của thực dân Pháp là xây dựng một nền giáo dục thực dân – nửa phong kiến với mục đích nhằm nô dịch, giữ vững sự cai trị của Pháp Một mặt, thực dân Pháp mở các trường học Pháp Việt ở bậc tiểu học, trường thông ngôn với số lượng hạn chế; mặt khác ra sức lợi dụng Nho học với chế độ khoa cử và hình thức giáo dục đã lỗi thời và lạc hậu như ý đồ của Toàn quyền Đông Dương Paul Doumer: “Những nguyên tắc làm cho gia đình vững chắc, cha mẹ được tôn kính, chính quyền được tuân thủ, đều rút từ các sách Hán học Bắt đầu tập đọc những chữ đầu tiên là học những nguyên tắc rường cột của luân lý đạo Khổng, họ khắc sâu vào lòng những nguyên tắc sẽ hướng dẫn họ suốt cả cuộc đời Chính trường làng đã cung cấp cho họ nền giáo dục đó” [28; 41]
Những viên toàn quyền tiếp theo Doumer cũng tiếp tục chính sách giáo dục nhằm lợi dụng nền giáo dục phong kiến, mua chuộc Nho sĩ theo lối học cũ Tuy nhiên, chính sách giáo dục này càng về sau không được các Nho sĩ hưởng ứng mà dẫn đến một hiệu ứng ngược, các Nho sĩ yêu nước như Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, Lương Văn Can, Nguyễn Quyền, Huỳnh Thúc Kháng, Trần Quý Cáp… ra sức tẩy chay, phản đối nền nho học cũ
Các trường Hán học thời bấy giờ là nơi tuyên truyền chống lại chúng
mà chúng không thể kiểm soát nổi Vì vậy, buộc thực dân Pháp phải đặt ra một hệ thống giáo dục khác để có thể đào tạo một cách nhanh nhất một đội
Trang 37quân phò tá mới, mau chóng thoát khỏi ảnh hưởng thù địch của các tầng lớp
sĩ phu Trường học đầu tiên mà thực dân Pháp tổ chức ở nước ta là trường thông ngôn năm 1861 cũng nhằm phục vụ cho nhu cầu này Những người thông ngôn đó, “là những người phò tá cần thiết” cho các hoạt động thuộc địa, chính nhờ họ, thực dân Pháp đã xây dựng được nền cai trị đầu tiên trong tất cả các xứ ở Đông Dương mà thực dân Pháp đã đặt được sự bảo trợ Những người thông ngôn này cũng là những người phò tá không kém phần quý báu đối với các nhà buôn và các công trình công nghiệp lớn đã được thiết lập ở thuộc địa Đây cũng chỉ giải quyết được yêu cầu đầu tiên của Pháp, vì các đợt khai thác ngày càng cấp thiết nên thực dân Pháp đặt ra những yêu cầu cao hơn về người giúp việc
Thứ tư, thông qua giáo dục thực hiện chính sách “ngu dân” để dễ bề cai trị
Trong quá trình thực hiện chính sách giáo dục, làm cho “dân ngu” là mục đích của nền giáo dục của Pháp Mục đích này được thể hiện ở nội dung giảng dạy trong các trường, cụ thể là ở chương trình và sách giáo khoa đã dùng trong các trường học lúc đó Chúng truyền thụ cho học sinh một nội dung học vấn nô
lệ và có một trình độ hết sức thấp kém Như môn luân lí ở lớp dự bị, có nhiệm
vụ dạy cho học sinh “yêu, kính trọng, vâng lời, biết ơn các nhà cầm quyền đã chăm lo đến an ninh của đất nước” Đến lớp nhất chúng buộc học sinh phải học
cụ thể hơn “bổn phận đối với nước Pháp: yêu, biết ơn, tận tâm, trung thành” Những nội dung đó được mở rộng ra ở các lớp trên như năm thứ hai cao đẳng tiểu học “bổn phận đối với nước Pháp, sự cần thiết và những công ơn của sự bảo hộ của Pháp” hoặc năm thứ tư “bổn phận với nước Pháp, tình yêu đối với
tổ quốc nhỏ và tổ quốc lớn”…
Để khắc sâu, củng cố những điều đó, chương trình lịch sử lớp sơ đẳng, chương trình cao đẳng tiểu học và trung học cũng dành phần lớn cho công trình của Pháp ở An Nam, những điều người Pháp đã làm như an ninh, giáo dục…
Trang 38Mục đích giảng dạy đó của thực dân Pháp bị Nguyễn Ái Quốc tố cáo: “Gieo giắc một nền giáo dục đồi bại, xảo trá, và nguy hiểm hơn cả sự dốt nát nữa, vì một nền giáo dục như vậy chỉ làm hư hỏng mất tính nết của người đi học, chỉ dạy cho họ một lòng “trung thực” giả dối, chỉ cho họ biết sùng bái những kẻ mạnh hơn mình, dạy cho thanh niên yêu một tổ quốc chứ không phải tổ quốc mình, tổ quốc đã từng áp bức dân tộc mình” [46; 399]
Do vậy, chủ trương phát triển giáo dục ở Việt Nam thời Pháp thuộc hoàn toàn không hề xuất phát từ quyền lợi của nhân dân Việt Nam mà xuất phát từ những lợi ích của thực dân Pháp trong quá trình cai trị và bóc lột nhân dân ta
Về phía Việt Nam, Nhà nước phong kiến đã phân hóa rõ rệt, về căn bản là đầu hàng, cam tâm làm tay sai cho giặc, một số ít tiến bộ vẫn con sôi sục lòng căm thù giặc và yêu nước tha thiết Một bộ phận sĩ phu yêu nước tìm cách mở mang dân trí, đưa dân tộc đi lên con đường văn minh, tạo điều kiện đánh giặc ngoại xâm để giành thắng lợi
Trong tình hình đó, chế độ khoa cử giáo dục phong kiến triều Nguyễn
đã lỗi thời và lạc hậu, lại bị thực dân Pháp lợi dụng triệt để, duy trì và sử dụng làm chỗ dựa để phát triển nền giáo dục thực dân Nếu trong thời gian
trước, chữ Nho là công cụ được các sĩ phu sử dụng chống lại thực dân Pháp thì bước sang thời kì mới, nó mất hết tác dụng tích cực Trong tình hình mới, thực dân Pháp mua chuộc và tranh thủ sự hợp tác của các trí thức phong kiến nhằm duy trì giáo dục cũ Thực dân Pháp hiểu rằng nếu xóa bỏ chữ Nho cùng chế độ khoa cử lúc này thì làm mất chỗ dựa căn bản của chúng “Chúng ta biết rõ ràng không phải là thủ tiêu hẳn nó (giáo dục phong kiến) như người
ta đề nghị, làm như thế chẳng khác gì phế bỏ sông Hồng vì nó cũng bắt nguồn
từ Trung Quốc, mà phải tóm lấy nó, thu tập nó để có lợi cho chúng ta” [69; 195] Do đó, thực dân Pháp lợi dụng nền giáo dục khoa cử phong kiến, cải biến nó phục vụ cho chính sách thống trị của chúng Còn các sĩ phu yêu nước
Trang 39tiến bộ vì nhận thấy rõ âm mưu của địch nên cũng không ưa nó, sẵn sàng chôn vùi nó Như vậy, cả hai bên cùng muốn có những thay đổi về giáo dục, nhưng mỗi bên lại nhằm một mục đích khác nhau Cuộc đấu tranh chống thực dân Pháp lúc này mang một màu sắc mới, diễn ra một cách gay gắt trong lĩnh vực giáo dục trong thời kỳ này, trong đó, Phan Châu Trinh đóng vai trò hết sức qua trọng
Trong lĩnh vực văn hóa, giáo dục này diễn ra cuộc đấu tranh tưởng chừng như lặng lẽ, nhưng có lúc đã bùng lên thành những phong trào mạnh mẽ, cổ vũ cho phong trào đấu tranh chống Pháp của dân tộc ta dưới ngọn cờ của các sĩ phu tiến bộ như Phan Châu Trinh, Phan Bội Châu, Lương Văn Can, Nguyễn Quyền… và sau này dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam giành độc lập cho Tổ quốc
Có thể thấy, trước tình hình trong nước hết sức phức tạp, thực dân Pháp cùng nhà nước phong kiến bù nhìn ra sức đàn áp, bóc lột nhân dân ta, khiến cho nhân dân rơi vào hoàn cảnh lầm than Là một Nho sĩ yêu nước, tư tưởng của Phan Châu Trinh, đặc biệt là tư tưởng về giáo dục của ông là sự phản kháng lại chính những điều kiện xã hội lúc bấy giờ Nếu như thực dân Pháp lợi dụng nền giáo dục khoa cử phong kiến, cải biến nó phục vụ cho chính sách thống trị của chúng, thì bản thân Phan Châu Trinh là một trong những người tiên phong chống lại chính sách cai trị này Là sản phẩm của nền giáo dục Nho giáo nhưng Phan Châu Trinh thất vọng trước giai cấp địa chủ phong kiến, trước những thực trạng về kinh tế, chính trị, văn hóa – giáo dục lúc bấy giờ, những tư tưởng giáo dục của ông của là đại diện cho tư tưởng của tầng lớp Nho sĩ tiến bộ đang tìm một hệ tư tưởng mới, một con đường mới để giải phóng dân tộc Do đó, chính những điều này khiến cho tư tưởng giáo dục của ông mang vừa mang tính tiến bộ về nội dung và phương pháp, nhưng lại mang tính cải lương trong cách thức thực hiện
Trang 401.1.2 Tiền đề lý luận hình thành tư tưởng giáo dục Phan Châu Trinh
- Chủ nghĩa yêu nước và dòng giáo dục yêu nước cuối thế kỷ XIX
+ Chủ nghĩa yêu nước
“Thực tiễn công cuộc dựng nước và giữ nước, xây dựng nền văn hiến của nhân dân Việt Nam đã chỉ ra một “sợi chỉ đỏ” xuyên suốt, đó là chủ nghĩa yêu nước” [38; 59] Chủ nghĩa yêu nước Việt Nam không tồn tại như một yếu tố tinh thần thuần túy mà nó là cơ sở, là nội dung và mục đích cho sự hình thành
và phát triển của hệ thống lý luận về độc lập dân tộc, chủ quyền quốc gia, dân tộc, lãnh thổ, văn hóa, chính trị, giáo dục… Chủ nghĩa yêu nước đóng vai trò
là thước đo sự đúng đắn của các hệ tư tưởng và hoạt động thực tiễn, như Giáo
sư Trần Văn Giàu đã khẳng định: “Ở Việt Nam, truyền thống lịch sử của dân tộc, ý thức phổ biến của nhân dân là đánh giá mọi việc lớn, nhỏ từ nhân vật đến biến cố, từ tác phẩm đến ý thức tư tưởng đều chiếu theo tiêu chuẩn quang minh chính đại của chủ nghĩa yêu nước Chủ nghĩa yêu nước là hòn đá thử vàng của tất cả” [31; 543]
Chủ nghĩa yêu nước thấm vào máu thịt, đi sâu vào tiềm thức của mỗi con người Việt Nam, góp phần hình thành “đạo làm người” của người Việt Nam xưa và nay, như Nguyễn Tài Thư đã nhận định: “Chủ nghĩa yêu nước đó đã phát triển thành các quan niệm về nghĩa vụ đối với đồng bào, về nguồn gốc sức mạnh, về các yếu tố cấu thành dân tộc, về phương pháp luận đánh giặc, cứu nước” [78; 21]
Trong quá trình phát huy truyền thống yêu nước cuối thế kỷ XIX, đầu thế
kỷ XX, tầng lớp trí thức Việt Nam đóng vai trò quan trọng trong công cuộc đấu tranh vì nhân dân, vì Tổ quốc Trong đó, Nho sĩ là tầng lớp có tư tưởng vững chắc, có tính tích cực, chủ động, ham học hỏi, cầu thị, là lực lượng tiên phong, chủ yếu trong quá trình chuyển biến của ý thức xã hội Việt Nam Bị quy định bởi tồn tại xã hội thời kỳ này, lớp trí thức Nho học vẫn là người lĩnh trọng trách