Trước yêu cầu cấp thiết của lịch sử, các nhà tư tưởng chính trị tiêu biểu trong đó có Phan Châu Trinh đã mạnh dạn tìm tòi, khám phá, thử nghiệm đi tìm con đường cứu nước cho dân tộc theo
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-*** -
TRẦN MAI ƯỚC
QUÁ TRÌNH CHUYỂN BIẾN TƯ TƯỞNG
CỦA PHAN CHÂU TRINH NHỮNG NĂM ĐẦU THẾ KỶ XX
LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MNH 2009
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
TRẦN MAI ƯỚC
QUÁ TRÌNH CHUYỂN BIẾN TƯ TƯỞNG
CỦA PHAN CHÂU TRINH NHỮNG NĂM ĐẦU THẾ KỶ XX
Chuyên ngành: TRIẾT HỌC
Mã số: 60.22.80
LUẬN VĂN THẠC SỸ TRIẾT HỌC
Người hướng dẫn khoa học:
PGS.TS ĐINH NGỌC THẠCH
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MNH 2009
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của cá nhân, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Đinh Ngọc Thạch Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về kết quả nghiên cứu của công trình khoa học này
TRẦN MAI ƯỚC
Trang 4MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 1
Chương 1: TIỀN ĐỀ THỰC TIỄN VÀ LÝ LUẬN CỦA SỰ HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG PHAN CHÂU TRINH 9
1.1 Điều kiện kinh tế, văn hóa và xã hội Việt Nam cuối thể kỷ XIX đầu thế kỷ XX .9
1.1.1 Khái quát điều kiện kinh tế Việt Nam những năm đầu thế kỷ XX 10
1.1.2 Khái quát điều kiện chính trị - xã hội Việt Nam những năm đầu thế kỷ XX .13
1.1.3 Khái quát tình hình văn hóa Việt Nam những năm đầu thế kỷ XX .18
1.2 Tầng lớp xã hội mới và thái độ của các giai cấp trước vấn đề dân tộc 21 1.3 Những ảnh hưởng của tình hình thế giới đối với Việt Nam .28
1.4 Tính đa dạng của phong trào yêu nước Việt Nam cuối thế kỷ XIX
đầu thế kỷ XX .34
Chương 2: NỘI DUNG VÀ ĐẶC ĐIỂM BƯỚC CHUYỂN TIẾP TƯ TƯỞNG CỦA PHAN CHÂU TRINH 42
2.1 Con người và sự nghiệp của Phan Châu Trinh .42
2.2 Khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh – Tư tưởng chính trị cơ bản của Phan Châu Trinh 53
2.2.1 Khai dân trí 55
2.2.2 Chấn dân khí 66
2.2.3 Hậu dân sinh 71
2.3 Những tư tưởng đổi mới về văn hóa - đạo đức của Phan Châu Trinh 76 2.4 Ý nghĩa của tư tưởng Phan Châu Trinh đối với phong trào cách mạng Việt Nam đầu thế kỷ XX .86
KẾT LUẬN .98
TÀI LIỆU THAM KHẢO 102
Trang 5PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Có thể nói rằng độc lập dân tộc và việc canh tân đất nước luôn luôn là khát vọng của con người Việt Nam Chính mục đích và lý tưởng ấy đã thôi thúc các thế hệ người Việt Nam chiến đấu quên mình, vượt qua mọi khó khăn thử thách để vươn lên tìm con đường cứu nước đúng đắn Lịch sử Việt Nam, giai đoạn cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX là một giai đoạn đặc biệt, đó là giai đoạn nước ta bị thực dân Pháp xâm lược, biến một nước phong kiến thành một nước thuộc địa, nửa phong kiến Chế độ phong kiến đi vào con đường suy tàn, thực dân Pháp đặt ách đô hộ trên phạm vi nước ta kể từ Hiệp ước Patơnốt (1884) Từ một nước phong kiến, nền kinh tế nông nghiệp chủ yếu, nước ta bắt đầu chuyển sang nền kinh tế phát triển theo tư bản chủ nghĩa Sự chuyển biến này do tác động từ bên ngoài vào chứ không phải là do mâu thuẫn nội tại giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất của nước ta qui định Trên thế giới, chủ nghĩa thực dân đang bành trướng, mở ra các cuộc xâm lược, từ đó tạo nên những ảnh hưởng lớn đến các dân tộc Mặt khác, phong trào cách mạng vô sản đang ngày càng phát triển nhanh chóng, cuộc Cách mạng Tháng Mười Nga (1917) mở ra một thời đại mới Trong bối cảnh
ấy, lịch sử dân tộc đặt ra các câu hỏi lớn: Dân tộc ta lựa chọn con đường nào
và phải làm gì để vừa tiếp thu cái mới, vừa loại bỏ các lạc hậu, bảo thủ mà vẫn giữ vững độc lập dân tộc? Trước yêu cầu cấp thiết của lịch sử, các nhà tư tưởng chính trị tiêu biểu trong đó có Phan Châu Trinh đã mạnh dạn tìm tòi, khám phá, thử nghiệm đi tìm con đường cứu nước cho dân tộc theo khuynh hướng mới – khuynh hướng dân chủ tư sản
Phan Châu Trinh, với tấm lòng yêu nước thương nòi, cùng với cuộc đời hoạt động và những bài diễn thuyết đầy nhiệt huyết của ông đã vong vọng
Trang 6khắp non sông đất nước, cất lên những hồi kèn thôi thúc cả một thế hệ đúng lên cứu nước Quả vậy, chúng ta có thể nói được rằng trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc của Việt Nam thì Phan Châu Trinh đã góp phần làm phong phú thêm sinh khí của luồng dân chủ tư sản, ít nhiều làm rõ thêm yêu cầu chống chế độ phong kiến thối nát – một vấn đề lịch sử có tính thời đại mới được đặt ra trong xã hội Việt Nam Tư tưởng và hoạt động của Phan Châu Trinh đã góp phần quan trọng tạo nên bước chuyển trong tư duy của dân tộc Việt Nam, đó là làm cuộc vận động từng bước về tư tưởng từ chế độ quân chủ sang chế độ dân chủ, từ tư duy phong kiến sang tư duy thời cận – hiện đại trong những năm đầu của thế kỷ XX Tư tưởng của Phan Châu Trinh là một trong những ngọn đèn soi sáng, là sự thức tỉnh cho dân tộc ta bước ra khỏi chế
độ quân chủ chuyên chế hàng ngàn năm
Trải qua một cuộc đời gian khổ với hơn trăm ngàn đắng cay, Phan Châu Trinh đã có những cống hiến lớn lao cho dân tộc về mặt chính trị cũng như về mặt văn hóa và việc đánh giá con người và sự nghiệp của Phan Châu Trinh là việc làm hết sức cần thiết, nhất là những xu hướng cải cách của ông
đã góp phần quan trọng vào phong trào duy tân đầu thế kỷ XX ở nước ta Chính tinh thần quật cường và niềm tin tất thắng của dân tộc, của các bậc tiền bối trong đó có chí sĩ Phan Châu Trinh Tinh thần và niềm tin đó đã đúc kết nên giá trị độc lập tự do cho ngày hôm nay
Nghiên cứu lịch sử Việt Nam trong thời kỳ này không chỉ làm rõ sự chuyển biến sâu sắc của toàn bộ phong trào cách mạng mà còn cho thấy sự đóng góp của các bậc tiền bối trong việc xác định đường lối, xây dựng khối đoàn kết, phát hiện phương pháp tiếp cận để hội nhập với khu vực và thế giới
để từ đó có thể rút ra một số bài học kinh nghiệm về vai trò và tầm quan trọng của chủ nghĩa yêu nước trong sự chuyển biến của phong trào giải phóng dân tộc trong những năm đầu của thế kỷ XX
Trang 7Hiện nay, trong quá trình thực hiện công cuộc đổi mới, chúng ta đã đạt được những thành tựu to lớn và đáng tự hào trên các mặt của đời sống xã hội Kinh tế phát triển, vượt qua thời kỳ suy thoái và đã đạt được tốc độ phát triển nhanh Đời sống nhân dân được cải thiện, quốc phòng an ninh được giữ vững, tình hình chính trị ổn định, quan hệ đối ngoại được mở rộng Đạt được những thành tựu đó, một trong những yếu tố quan trọng chính là nhờ đổi mới tư duy, nhất là đổi mới tư duy chính trị Hiện nay, chúng ta đang tiếp tục công tác tổng kết thực tiễn, đặc biệt là thực tiễn của hơn hai mươi năm đổi mới nhằm
bổ sung, phát triển lý luận phục vụ cho công cuộc đổi mới đất nước Vấn đề nhìn nhận, đánh giá đúng những nội dung, đặc điểm tư tưởng của Phan Châu Trinh trong những năm đầu của thế kỷ XX nhằm nhận thức đúng và rút ra bài học cho công cuộc đổi mới là việc làm cần thiết
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài
Có thể nói rằng Phan Châu Trinh là một trong những nhà cách mạng, nhà duy tân, nhà yêu nước, nhà tư tưởng lớn của Việt Nam vào những năm đầu thế kỉ XX Nghiên cứu về Phan Châu Trinh đã thu hút được sự quan tâm của đông đảo các nhà khoa học, với sự tranh luận khá sôi động, trong nhiều vấn đề khác nhau, nhưng nhìn chung có một số hướng chính sau:
Hướng thứ nhất, đó là các công trình nghiên cứu riêng về Phan Châu
Trinh như: Luận đề về Phan Bội Châu và Phan Châu Trinh (Nhà xuất bản Thăng Long, Sài Gòn, 1957) của Chu Đăng Sơn; Thơ văn Phan Châu Trinh (Nhà xuất bản Văn học, 1983) của Huỳnh Lý và Hoàng Ngọc Phách; Tuyển
tập Phan Châu Trinh (Nhà xuất bản Đà Nẵng, 1995) của Nguyễn Văn
Dương; Phan Châu Trinh, thân thế và sự nghiệp (Nhà xuất bản Đà Nẵng, 1992) của Huỳnh Lý; Tìm hiểu tư tưởng dân chủ của Phan Châu Trinh (Nhà xuất bản Khoa học xã hội, Hà Nội, 1996) của Đỗ Thị Hòa Hới; Phan Châu
Trinh cuộc đời và tác phẩm (Nhà xuất bản Tp Hồ Chí Minh, 1997) của
Trang 8Nguyễn Quang Thắng; Phan Châu Trinh qua những tài liệu mới, quyển 1, tập
1 (Nhà xuất bản Đà Nẵng, 2003); Phan Châu Trinh qua những tài liệu mới,
tập 2 (Nhà xuất bản Đà Nẵng, 2003) của Lê Thị Kinh (tức Phan Thị Minh); Đặc biệt, vào năm 2005, nhà xuất bản Đà Nẵng đã công bố toàn bộ khối
lượng “di cảo” đồ sộ của Phan Châu Trinh qua 3 tập sách Phan Châu Trinh
toàn tập Có thể nói đây là tập sách đầu tiên sưu khảo toàn bộ trước tác của
Phan Châu Trinh, dựa vào nguồn di cảo của gia đình, các nguồn tư liệu từ rất nhiều người đã từng nghiên cứu về Phan Châu Trinh, là một công trình đánh dấu sự nỗ lực của người đời sau trong việc gìn giữ di sản văn hóa, tư tưởng, tài liệu của một nhà cách mạng tiền bối Trong tập 1 của bộ sách giới thiệu các tác phẩm văn vần bao gồm cả thơ, phú, câu đối Phần này ngoài số lượng thơ chữ Hán được xem là các sáng tác hàn lâm của một nhà nho, các tập thơ quan trọng của Phan Châu Trinh đều được tập hợp ở đây như: Tây Hồ thi tập, Santé thi tập, Tỉnh quốc hồn ca (I và II) Tập 2 của bộ sách chủ yếu là các tác phẩm chính luận của Phan Châu Trinh Đặc biệt có những chuyên khảo quan trọng như: Đầu Pháp chính phủ thư (thư gửi toàn quyền Đông Dương), Đông Dương chính trị luận, Điều trần gửi hội nhân quyền, và Trung kỳ dân biến tụng oan thỉ mạt ký (đây là bài ký quan trọng kể lại đầu đuôi vụ dân biến ở Trung Kỳ vào năm 1908), ngoài ra còn một số thư tín và bài báo Tập 3 giới thiệu các bức thư quan trọng của Phan Châu Trinh trong quảng đời hoạt động cách mạng Bên cạnh đó, bộ sách còn sưu tập các bài viết, các ý kiến của những nhà cách mạng, những nhà nghiên cứu trong và ngoài nước viết về Phan Châu Trinh, như một cách giới thiệu “những lời bình” về thơ văn và tư tưởng, sự nghiệp của Phan Châu Trinh
Như vậy, trong hướng đầu tiên, khi tìm hiểu về Phan Châu Trinh, các nhà nghiên cứu đã đề cập dưới nhiều góc độ khác nhau như cuộc đời, tư tưởng, giá trị lịch sử của tư tưởng, trong đó tập trung hệ thống hóa tư tưởng,
Trang 9đi sâu phân tích những quan điểm tiến bộ, tinh thần sáng tạo, đi tìm hồn của nước, nêu lên những hạn chế, bài học lịch sử đối với cách mạng Việt Nam
Hướng thứ hai, đó là các công trình nghiên cứu bước chuyển tư tưởng
giai đoạn lịch sử cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX Đó là tác phẩm Đại cương
lịch sử Việt Nam, (Toàn tập, Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội, 2005) của GS
Trương Hữu Quýnh, GS Đinh Xuân Lâm, PGS Lê Mậu Hãn (Chủ biên) Nghiên cứu về sự phát triển tư tưởng Việt Nam giai đoạn này còn có công
trình Sự phát triển của tư tưởng ở Việt Nam từ thế kỷ XIX đến Cách mạng
Tháng Tám (3 tập, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1996) của GS
Trần Văn Giàu Bên cạnh đó còn có các công trình nghiên cứu như: Bước
chuyển tư tưởng Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX (Nhà xuất bản Chính
trị quốc gia, Hà Nội, 2005) của tập thể tác giả, do PGS, TS Trương Văn
Chung, PGS,TS Doãn Chính đồng chủ biên.; Quá trình chuyển biến tư tưởng
chính trị Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX qua các nhân vật tiêu biểu
của PGS,TS Doãn Chính, ThS Phạm Đào Thịnh
Hướng thứ ba, đó là các công trình nghiên cứu đánh giá từng mặt, từng
nội dung và giá trị lịch sử của Phan Châu Trinh trong những năm đầu của thế
kỷ XX Đó là trong Hội thảo chuyên đề Phan Châu Trinh do tạp chí nghiên
cứu lịch sử chủ trì vào năm 1964 - 1965, Hội thảo khoa học Phan Châu Trinh
và Huỳnh Thúc Khánh được tổ chức tại Đà Nẵng vào tháng 9 năm 1992 do sở khoa học công nghệ và môi trường tỉnh Quảng Nam – Đà Nẵng tổ chức
Trong tạp chí Triết học, tác giả Đỗ Hòa Hới với các bài Tìm hiểu tư tưởng
dân chủ của Phan Châu Trinh với tư tưởng tự do-bình đẳng-bác ái của cách mạng Pháp 1789 (Số 4 - 1989), Phan Châu Trinh và sự thức tỉnh dân tộc đầu thế kỷ XX (Số 4 - 1992), Tư tưởng canh tân sáng tạo đầu thế kỷ XX của chí sỹ Phan Châu Trinh (Số 3 - 2000); tác giả Chương Thâu với bài Tinh thần dân tộc và dân chủ của Phan Châu Trinh qua Tỉnh quốc hồn ca (Số 11 - 2002)…
Trang 10Các công trình trên đã khai thác từng mặt, từng nội dung tư tưởng của Phan Châu Trinh trên các phương diện như văn hóa, triết học, đạo đức… đồng thời nêu lên những giá trị bài học lịch sử đối với dân tộc ta trong cuộc đấu tranh giành độc lập
Như vậy, các công trình nghiên cứu trên đây đề cập đến nhiều vấn đề khác nhau và đã đạt được những thành quả nhất định cả về mặt lý luận lẫn thực tiễn Tuy nhiên đứng ở góc độ phân tích triết học, đặc biệt là triết lý chính trị thì việc tìm hiểu quá trình chuyển biến tư tưởng của Phan Châu Trinh những năm đầu thế kỷ XX vẫn còn có khoảng trống cho chúng ta tiếp tục nghiên cứu
3 Mục đích, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu
Mục đích của luận văn là thông qua tìm hiểu quá trình chuyển biến tư tưởng của Phan Châu Trinh những năm đầu thế kỷ XX, làm rõ thực chất phong trào yêu nước Việt Nam thời kỳ này và rút ra bài học ý nghĩa của nó
Nhiệm vụ nghiên cứu:
¾ Hoàn cảnh lịch sử tác động tới quá trình chuyển tiếp tư tưởng của Phan Châu Trinh
¾ Nội dung bước chuyển tiếp tư tưởng của Phan Châu Trinh
¾ Nêu lên ý nghĩa của tư tưởng Phan Châu Trinh đối với phong trào cách mạng Việt Nam đầu thế kỷ XX
Về phạm vi nghiên cứu, đề tài tập trung vào triết lý chính trị của Phan Châu Trinh trong bối cảnh bước chuyển tư tưởng của phong trào yêu nước Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX
4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Đề tài được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử Mặt khác đề tài còn kết hợp với
Trang 11các phương pháp nghiên cứu khác như logic và lịch sử, tổng hợp và phân tích, diễn dịch và qui nạp, đối chiếu và so sánh…
5 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của luận văn
Trong khuôn khổ của luận văn, người viết chỉ xin đi sâu, làm rõ khía cạnh triết học trong tư tưởng chính trị trong hệ quan điểm của Phan Châu Trinh Tuy nhiên, để phục vụ cho nghiên cứu đề tài được tốt hơn, người viết
sẽ tìm hiểu thêm về bối cảnh lịch sử - xã hội, những cứ liệu về lịch sử niên đại, sự kiện văn thơ do Phan Châu Trinh viết, những nhận xét, đánh giá của người đương thời cũng như hậu thế
Việc tìm hiểu quá trình chuyển tiếp tư tưởng của Phan Châu Trinh trước hết góp phần sáng tỏ thêm một trong những thời kỳ phức tạp của lịch sử
tư tưởng Việt Nam, quá trình chuyển hóa của phong trào giải phóng dân tộc ở Việt Nam từ khác khuynh hướng yêu nước khác nhau… và ý nghĩa của tư tưởng Phan Châu Trinh đối với phong trào cách mạng Việt Nam đầu thế kỷ
XX
Bên cạnh đó, luận văn cũng có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo, phục vụ cho việc nghiên cứu, học tập môn Lịch sử tư tưởng triết học Việt Nam
6 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần dẫn luận, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, mục lục… trong phần chính của luận văn gồm hai chương
Chương 1: Tiền đề thực tiễn và lý luận của sự hình thành tư tưởng Phan Châu Trinh
1.1 Điều kiện kinh tế, văn hóa và xã hội
1.2 Tầng lớp xã hội mới và thái độ của các giai cấp trước vấn đề dân tộc
1.3 Những ảnh hưởng của tình hình thế giới đối với Việt Nam
Trang 121.4 Tính đa dạng của phong trào yêu nước Việt Nam cuối thể kỷ XIX – Đầu thế kỷ XX
Chương 2: Nội dung và đặc điểm bước chuyển tư tưởng của Phan Châu Trinh
1.1 Con người và sự nghiệp của Phan Châu Trinh
1.2 Khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh – tư tưởng chính trị cơ bản của Phan Châu Trinh
1.3 Những tư tưởng đổi mới về văn hóa – đạo đức của Phan Châu Trinh
1.4 Ý nghĩa của tư tưởng Phan Châu Trinh đối với phong trào cách mạng Việt Nam đầu thế kỷ XX
Trang 13Chương 1 TIỀN ĐỀ THỰC TIỄN VÀ LÝ LUẬN CỦA SỰ HÌNH THÀNH
TƯ TƯỞNG PHAN CHÂU TRINH
1.1 ĐIỀU KIỆN KINH TẾ, VĂN HÓA VÀ XÃ HỘI VIỆT NAM CUỐI THẾ
KỶ XIX ĐẦU THẾ KỶ XX
Thế kỷ XVII-XVIII, châu Âu đã đi vào chủ nghĩa tư bản, nhưng châu Á vẫn đang còn ngụp lặn trong chế độ phong kiến Việt Nam ở trong thời kỳ này cũng vậy, chế độ quân chủ chuyên chế của nhà Nguyễn vẫn đè nặng lên con người, nông nghiệp lạc hậu, kinh tế tự cung tự cấp, xã hội phong kiến tồn tại hai giai cấp cơ bản và mâu thuẫn cơ bản là mâu thuẫn giữa giai cấp địa chủ với giai cấp nông dân
Từ đầu thế kỷ XIX, bộ máy vương triều Nguyễn ngày càng mục nát, lún sâu vào con đường khủng hoảng trầm trọng, không còn đại biểu cho lợi ích của dân tộc như các triều đại Lý, Trần, Lê… trong thời kỳ chế độ phong kiến Việt Nam đang phát triển Sang cuối thế kỷ XIX, toàn bộ đất nước ta bị đặt dưới sự thống trị của thực dân Pháp Sau khi hoàn thành chiến tranh xâm lược và bình định, thực dân Pháp đã đẩy mạnh kế hoạch “Khai thác lần thứ nhất” kéo dài từ năm 1897 đến chiến tranh thế giới lần thứ nhất (1914) Xã hội phong kiến Việt Nam vốn đã trì trệ lâu dài, vì trong lòng nó không có mầm mống đủ mạnh cho chủ nghĩa tư bản ra đời, giờ đây từ xã hội phong kiến chuyển thành một xã hội thuộc địa nửa phong kiến
Dưới thời thuộc Pháp, cơ cấu giai cấp – xã hội ở Việt Nam có nhiều thay đổi, xuất hiện những lực lượng mới, đặt nền móng cho sự tiếp nhận những giá trị đích thực của các văn minh và những bài học kinh nghiệm của thế giới
Trang 141.1.1 Khái quát điều kiện kinh tế Việt Nam những năm đầu thế kỷ
Để thống trị và khai thác một cách toàn diện, năm 1897 Pôn Đume (Paul Doumer) nguyên Bộ trưởng Bộ tài chính được chính phủ Pháp cử làm toàn quyền Đông Dương, với nhiệm vụ hoàn thiện bộ máy cai trị, thực hiện chính sách kinh tế và văn hóa thực dân tiến hành khai thác bóc lột thuộc địa lần thứ nhất
Trước khi bị thực dân Pháp xâm lược, nền kinh tế của nước ta chỉ là một nền kinh tế nông nghiệp tự nhiên, tự cung tự cấp Thủ công nghiệp tuy có nhiều nghề, nhưng nhìn chung qui mô còn nhỏ bé và phân tán còn khắp nơi,
có nghề có kỹ thuật và khá tinh xảo, nhưng do kinh tế hàng hóa chưa phát triển nên còn ở mức phường bạn, chứ chưa từng xưởng và chỉ đóng khung ở từng địa phương nhỏ hẹp Thương nghiệp chỉ là buôn bán nhỏ, làm nhiệm vụ trao đổi từng vùng, do giao thông không thuận lợi và thuế khóa nặng nề nên cũng kém phát triển Việc buôn bán với người nước ngoài bị chính sách bế quan tỏa cảng của triều đình ngăn cấm
Việt Nam là nước giàu nguyên liệu, sẵn nhân công, nhưng phương tiện sản xuất rất lạc hậu Vì vậy, để bóc lột được lợi nhuận tối đa ở thuộc địa Pháp thi hành một chính sách kinh tế thực dân rất phản động Trái với tinh thần của cuộc Đại cách mạng tư sản Pháp 1789 – diệt trừ tận gốc chế độ phong kiến,
mở đường cho nước Pháp hướng vào con đường phát triển tư bản, chính sách
Trang 15kinh tế của Pháp ở Đông Dương là duy trì phương thức sản xuất phong kiến kết hợp với việc thiết lập một cách hạn chế phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa
Để khai thác được nhiều tài nguyên thiên nhiên, Pháp buộc phải xây dựng một số cơ sở vật chất kỹ thuật mới và hiện đại trong các ngành giao thông vận tải, xây dựng đường sá (bộ, thủy), cầu móng, bến cảng, vừa nhằm mục đích kinh tế, vừa nhằm mục đích quân sự
Pháp mở rộng và nâng cấp (rải đá) con đường bộ số một, bắt đầu khởi công “con đường xuyên Việt”, xây dựng nhiều cầu lớn như cầu Long Biên (Hà Nội), cầu Tràng Tiền (Huế), cầu Bình Lợi (Sài Gòn)… nhiều cảng quan trọng như cảng Sài Gòn, cảng Đà Nẵng, cảng Hải Phòng… nối liền tuyến đường biển giữa nước ta với nước Pháp và nhiều nước trên thế giới
Pháp độc chiếm thị trường Việt Nam và Đông Dương nói chung, nắm nguồn thuế, độc quyền thương mại, thuế quan, xuất nhập khẩu Thuế khóa là nét đặc trưng cho chính sách thực dân của Pháp ở Đông Dương, với hai thứ thuế trực thu là thuế đinh, còn gọi là thuế thân và thuế điền đánh vào ruộng đất và hàng loạt thuế gián thu đánh vào hàng tiêu dùng (chủ yếu là muối, rượu, thuốc phiện…) Để đảm bảo những nguồn thu nhập ấy, chính quyền thực dân ổn định lượng rượu phải tiêu thụ cho mỗi làng, thuốc phiện thực tế được khuyến khích tiêu thụ Chính thuế khóa đã đem lại cho bọn thực dân Pháp một nguồn lợi lớn
Ngoài độc quyền xuất nhập khẩu, độc quyền muối, rượu và thuốc phiện, thực dân Pháp còn thiết lập một hệ thống ngân hàng, độc quyền phát hành giấy bạc và cho vay nặng lãi Ngân Hàng Đông Dương là một tập đoàn
tư bản tài chính có thế lực lớn nhất, làm chúa tế và chi phối mọi ngành kinh tế
ở Đông Dương
Trang 16Chính sách kinh tế, cuộc khai thác thuộc địa (lần thứ nhất) của thực dân Pháp với sự thu nhập (dù chỉ hạn chế) phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa trong quá trình khai thác, đã tác động làm cho nền kinh tế tự nhiên cũ kỹ trước đây bị phá sản Việc giao lưu hàng hóa thuận lợi hơn Tỷ trọng kinh tế hàng hóa tư bản chủ nghĩa có tăng lên, nhưng không phải là phát triển theo hướng công nghiệp hóa mà ngày càng phụ thuộc vào tư bản thương nghiệp Pháp Đất nước ta một cách không tự giác đã bị kéo vào quĩ đạo tư bản chủ nghĩa, nhưng là một thứ tư bản chủ nghĩa thuộc địa, phụ thuộc đủ đường Tuy vậy, do có sự mở rộng giao lưu hàng hóa và do nhu cầu của bọn thực dân muốn khai thác tài nguyên mà buộc chúng phải mở giao thông, xây dựng đường xá, cầu cống Tuy thực dân Pháp không muốn và không chịu mở mang kinh tế thuộc địa, mà vẫn chủ trương chia rẽ Bắc-Trung-Nam bằng cách tạo ra
ba chế độ chính trị khác nhau ba kỳ Nó cũng làm phá sản chính sách bế quan tỏa cảng của triều đình nhà Nguyễn, làm cho Việt Nam tiếp xúc được với các nước khác trên thế giới, nhất là với Châu Âu tư bản chủ nghĩa, mặc dù bọn thực dân Pháp đã đăng một hàng rào thuế quan khá chặt chẽ và bắt buộc Việt Nam chỉ được sống với thân phận kẻ phụ thuộc, làm cái đuôi của tư bản và chỉ được phép quan hệ với Pháp mà thôi
Hệ quả của sự bóc lột thực dân Pháp dẫn đến đại đa số nhân dân bị mất hết tư liệu sản xuất, rơi vào cảnh bần cùng, mất tự do, cuộc sống mưu sinh hết sức khó khăn, hình thành một nền kinh tế không cân đối, phụ thuộc vào chính quốc, khai thác kiệt quệ tài nguyên của đất nước, nhằm phục vụ lợi ích của thực dân, bần cùng hóa một bộ phân dân cư… mâu thuẫn cơ bản về kinh tế thể hiện mâu thuẫn về lợi ích của dân tộc ta với bộ máy cai trị Pháp và triều đình phong kiến từ lâu trở thành công cụ đắc lực của chủ nghĩa thực dân
Trong xã hội Việt Nam xuất hiện đại đa số nhân dân lao động cùng với các tầng lớp tiến bộ, các phong trào yêu nước đều hướng đến mục tiêu độc lập
Trang 17tự do, hướng đến nhiệm vụ cấp bách là giải phóng dân tộc ra khỏi áp bức cường quyền Với cở sở hạ tầng và cơ sở xã hội như vậy, tất yếu kiến trúc thượng tầng sớm hay muộn cũng sẽ có những thay đổi nhất định, đặc biệt là
về các hình thái ý thức xã hội Lịch sử đặt ra những vấn đề đòi hỏi các nhà tư tưởng phải giải quyết: Muốn phát triển kinh tế xã hội, giải phóng dân tộc thì
ta phải đi theo con đường cách mạng nào Chính tình hình đó đã làm xuất hiện một trào lưu tư tưởng mới – trào lưu dân tộc chủ nghĩa ở nước ta đầu thế kỷ
XX mà trong đó tiêu biểu là Phan Châu Trinh
1.1.2 Khái quát điều kiện chính trị - xã hội Việt Nam những năm đầu thế kỷ XX
Theo sắc lệnh 17-10-1887, thực dân Pháp thành lập Liên bang Đông Dương, lúc đó mới bao gồm Bắc kỳ, Trung kỳ, Nam kỳ và Campuchia, trực thuộc Bộ Hải quân và Thuộc địa Ngày 20-03-1894, Pháp thành lập Bộ thuộc địa và Đông Dương trực thuộc Bộ này Ngày 19-04-1899, Tổng thống Pháp ra Sắc lệnh sát nhập Lào vào Liên bang Đông Dương
Trong khoảng thời gian này Nhà nước “bảo hộ” đã thi hành nhiều chính sách thực dân nhằm biến nước ta thành một thị trường tiêu thụ hàng hóa và bóc lột nhân công để thu lợi nhuận cao nhất cho tư bản Pháp, đồng thời vẫn kìm hãm xã hội Việt Nam trong tình trạng trì trệ của một nước nông nghiệp lạc hậu để dễ bề thống trị Thực dân Pháp nắm quyền điều khiển bộ máy thống trị và kết cấu với bọn giai cấp phong kiến phản động đầu hàng làm tay sai cho chúng Cả bộ máy quan lại Nam triều từ trên xuống tỉnh, huyện, xã làng với bè lũ thực dân xâm lược ra sức đàn áp bóc lột nhân dân ta
Đứng đầu cai trị toàn Đông Dương là một viên Toàn quyền thay một chính phủ Pháp cai trị Đông Dương về mọi mặt Về phía Việt Nam có triều đình Huế làm bù nhìn Dưới Toàn quyền Đông Dương là Thống đốc Nam kỳ, Thống sứ Bắc kỳ và Khâm sứ ở Trung kỳ, Lào, Campuchia Hội đồng tối cao
Trang 18Đông Dương là cơ quan quyền lực cao nhất ở Đông Dương Chủ tịch Hội đồng là Toàn quyền, các ủy viên Hội đồng hầu hết là người Pháp, chỉ có hai người Việt Nam đại biểu cho dân bản xứ Các ủy viên là giám đốc các công
sở, các quan cai trị đứng đầu năm xứ, chủ sự các phòng Thương mại và Cam nông
Để đảm bảo thu được lợi nhuận thuộc địa tối đa, thực dân Pháp thực hiện chính sách chuyên chế về mặt chính trị Chúng cai trị trực tiếp và thẳng tay đàn áp, không cho nhân dân ta một chút tự do, dân chủ nào Kể cả chủ nghĩa cải lương cũng không được phép tồn tại Mọi quyền hành không chỉ tập trung trong tay các viên quan cai trị người Pháp (từ Toàn quyền Đông Dương đến Thống đốc, Thống sứ, Khâm sứ, ở ba kỳ và Công sứ trong coi các tỉnh),
mà chúng còn có cả quân đội, cảnh sát, mật thám, tòa án để đàn áp, bắt bớ, xét hỏi Đồng thời chúng còn sử dụng giai cấp địa chủ phong kiến và tầng lớp tư sản mại bản là cơ sở xã hội, chỗ dựa cho chế độ cai trị thuộc địa
Thực dân Pháp thực hành chính sách chia để trị nhằm làm suy yếu lực lượng dân tộc Việt Nam Chúng chia đất nước ta ra làm ba kỳ: Bắc kỳ, Trung
kỳ và Nam kỳ với ba chế độ cai trị khác nhau Nam kỳ là đất thuộc địa trực
thuộc cai trị của Pháp, không liên quan đến chế độ phong kiến Tại Nam Kỳ, thực dân Pháp ra sắc lệnh thành lập Hội đồng thuộc địa Nam Kỳ (8-2-1880), với danh nghĩa là cơ quan tư vấn về kinh tế không dính dáng đến chính trị, nhưng thực chất là cơ quan cai trị của thực dân Đứng đầu Hội đồng là Thống đốc Nam Kỳ do người Pháp đặt ra Giúp việc cho Thống đốc có các cơ quan cũng do người Pháp đặt ra và chi phối hoàn toàn về quyền lực cai trị Khu vực hành chính Nam Kỳ bao gồm các tỉnh Bạc Liêu, Bà Rịa, Bến Tre, Biên Hòa, Cần Thơ, Châu Đốc, Chợ Lớn, Gia Định, Gò Công, Hà Tiên, Long Xuyên,
Mỹ Tho, Rạch Giá, Sa Đéc, Sóc Trăng, Tân An, Tây Ninh, Thủ Dầu Một, Trà Vinh, Vĩnh Long, thành phố Sài Gòn (Cấp I) và Chợ Lớn (Cấp II)
Trang 19Đứng đầu các tỉnh là các Công sứ người Pháp, giúp việc cho Công sứ là Phó công sứ, các Sở Tham biện, Hội đồng hàng tỉnh Bên cạnh đó, tỉnh có một số trung tâm hành chính hoặc Sở Đại lý, năm 1919, Nam Hỳ có 64 trung tâm hành chính và Sở Đại lý Đứng đầu là các Đốc phủ sứ, Tri phủ hay Tri huyện Địa phương nào có vị trí chính trị đặc biệt thì có Đại lý người Pháp, đại diện trực tiếp của Công sứ Đứng đầu thành phố là các Chánh, Phó Đốc lý với tòa đốc lý và Hội đồng thành phố (cho thành phố cấp I) hoặc ủy ban thành phố (cho thành phố cấp II) Đối với cấp làng, xã thực dân Pháp vẫn duy trì hệ thống chính quyền phong kiến, cấp này có xã trưởng hay hương trưởng và Hội đồng kỳ hào
Tại Trung Kỳ, thực dân Pháp thực hiện duy trì “Chính phủ Nam triều”,
về thực chất đây là bộ máy bù nhìn, mọi quyền hành đặt dưới quyền Khâm sứ người Pháp Dưới vua là Hội đồng phụ chính và Phủ tôn nhân cùng các viện
Cơ mật, Đô sát, … giúp việc cho nhà vua Tuy nhiên, mọi quyết định của bộ máy phong kiến này đều phải thông qua Khâm sứ Các chức quan lại trong triều cho đến các cấp cơ sở đều phải thông qua Khâm sứ chuẩn y hoặc bổ nhiệm Khâm sứ có hội đồng giúp việc và chủ yếu là người Pháp Địa bàn hành chính của Khâm sứ Trung Kỳ quản lý mười bốn tỉnh gồm: Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế, Quảng Nam, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa, Phan Rang, Bình Thuận, Đắk Lắk, thành phố Đà Nẵng Đứng đầu các tỉnh là viên Công sứ người Pháp, có cơ quan Tòa Khâm sứ giúp việc và các cơ quan khác như ở Nam Kỳ Bên cạnh các Khâm
Sứ người Pháp, thực dân Pháp vẫn duy trì bộ máy phong kiến song hành, đứng đầu tỉnh là Tổng đốc (tỉnh lớn), Tuần phủ (tỉnh nhỏ) và các cơ quan giúp việc Dưới tỉnh là các phủ hoặc huyện, châu (miền núi), có các tri phủ, tri huyện, tri châu thay mặt cho Công sứ và Tổng đốc (Tuần phủ) cai quản từng vùng địa phương Giữa phủ, huyện với làng, xã còn có đơn vị hành chính
Trang 20trung gian là Tổng, một Tổng thường trên dưới mười làng, xã, mỗi huyện, phủ
có khoảng mười tổng Xã, làng là cấp quản lý hành chính cơ sở của chính quyền nhà nước, đứng đầu là lý trưởng, phó lý trưởng, cùng với Hội đồng kỳ hào, kỳ mục để điều hành làng, xã Về thực chất, ở Trung Kỳ, quyền lực thật
sự nằm trong tay Khâm sứ, với chức danh Chủ tịch Bảo hộ Trung Kỳ
Tại Bắc Kỳ, thực dân Pháp thực hiện chủ trương “nửa bảo hộ”, đứng
đầu Bắc Kỳ là Thống sứ người Pháp và Hội đồng bảo hộ giúp việc Địa bàn hành chính Bắc Kỳ bao gồm 26 tỉnh: Bắc Giang, Bắc Cạn, Bắc Ninh, Hà Đông, Hà Giang, Hải Dương, Hải Ninh, Hà Nam, Hòa Bình, Hưng Yên, Kiến
An, Lai Châu, Lạng Sơn, Phú Thọ, Quảng Yên, Sơn Tây, Sơn La, Thái Bình, Thái Nguyên, Tuyên Quang, Vĩnh Yên, Yên Bái Hệ thống chính quyền từ cấp tỉnh xuống cơ sở ở Bắc Kỳ cũng giống như ở Trung Kỳ
Cấp chính quyền làng, xã ở nước ta thời bấy giờ vẫn là bộ máy quan lại
cũ của chế độ phong kiến Tổ chức này là một bộ phận gần như độc lập trong giới hạn nhất định ở địa phương Nhưng chế độ thực dân vẫn nắm được một cách hết sức tinh vi và khôn khéo nhằm che dấu bản chất bóc lột của chúng đối với trình độ nhận thức hạn chế của nhân dân lao động
Như vậy, có thể nói thực chất quyền hành chính trị ở ba kỳ chuyển sang tay bộ máy chính quyền bảo hộ của thực dân Pháp Mặc dù vẫn còn người Việt trong bộ máy cai trị, cũng như việc duy trì bộ máy quan lại cũ của chế độ phong kiến nhưng về bản chất chính trị là thực hiện chiến lược “dùng người Việt trị người Việt” đặt dưới sự đô hộ của thực dân Pháp Sự thống trị của thực dân Pháp từ kinh tế, chính trị, dần dần đến các lĩnh vực khác như văn hóa, xã hội, giáo dục, y tế, và tất yếu là thống trị toàn bộ xã hội Việt Nam
Với thủ đoạn này, thực dân Pháp nhằm xóa tên Việt Nam, Lào, Campuchia trên bản đồ thế giới Thực dân Pháp còn chia rẽ các dân tộc Đông
Trang 21Dương, chia rẽ các nhân dân thuộc địa với nhân dân Pháp, chia rẽ nhân dân các nước thuộc địa với nhau
Bộ máy cai trị của thực dân Pháp và phong kiến tay sai chủ yếu dựa vào sức mạnh quân sự, dùng vũ lực đàn áp cuộc đấu tranh đòi tự do, giành độc lập dân tộc của nhân dân ta Chính sách “hợp tác”, “Pháp – Việt đề huề”
mà chúng ra sức tuyên truyền chỉ là những trò bịp bợm về mặt chính trị
Ngoài ra, về mặt xã hội, chúng còn duy trì và phát triển những phong tục hủ bại thời phong kiến, khuyến khích cờ bạc, uống rượu, hút thuốc phiện, phát triển mê tín dị đoan trong quần chúng nhân dân, khuyến khích việc thành lập và tuyên truyền rộng rãi các thứ tôn giáo và “tà giáo” để ru ngủ quần chúng nhân dân Tất nhiên đối với những người đi ngược lại và đã phá sự hủ bại, thối nát, mê tín dị đoan ngu dân ấy, đều bị chúng ngăn cấm và trừng trị, như các phong trào dân tộc dân chủ hồi đầu thế kỷ, kể cả phong trào cải cách của Đông Kinh Nghĩa Thục
Tóm lại, trong những năm cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, tình hình chính trị - xã hội nước ta biến đổi phức tạp Giai cấp địa chủ phong kiến vì lợi ích của giai cấp mình đã cam chịu làm tay sai cho thực dân Pháp, còn đại đa
số nhân dân lao động đều đứng lên làm cách mạng, đòi lại độc lập cho dân tộc Mâu thuẫn chủ yếu của xã hội Việt Nam thời bấy giờ là mâu thuẫn sâu sắc giữa một bên là quyền lợi dân tộc và một bên là quyền lợi của giai cấp địa chủ phong kiến Nếu bảo vệ lợi ích giai cấp thì đành để mất lợi ích dân tộc, nếu bảo vệ lợi ích dân tộc thì phải từ bỏ lợi ích giai cấp, hoặc có thể mất cả lợi ích giai cấp và cả lợi ích dân tộc Mâu thuẫn ấy đã phát triển đến đỉnh điểm,
nó tác động rất lớn đến tư duy của các nhà tư tưởng, buộc các nhà tư tưởng phải cắt nghĩa thực tiễn Trong tầng lớp sỹ phu tiến bộ, một bộ phận có nhận thức tiến bộ đã sẵn sàng từ bỏ lợi ích giai cấp để bảo vệ lợi ích dân tộc, đề xuất những tư tưởng mới, tiến bộ phản ánh tính chất phức tạp của đời sống xã
Trang 22hội giai đoạn này và Phan Châu Trinh là một trong những nhà tư tưởng tiến
cụ thể mà chúng có những thay đổi cho phù hợp với chủ trương chính trị Viên Thống sứ Bắc Kỳ bộ lộ rõ chính sách giáo dục thực dân là: “Kinh nghiệm của các dân tộc châu Âu khác đã chỉ rõ rằng việc truyền bá một nền học vấn đầy đủ cho người bản xứ là hết sức dại dột” [27, 254] Ban đầu thực dân Pháp vẫn duy trì nền học vấn Nho gia, mặt khác mở các trường dạy tiếng Pháp và văn hóa Pháp Thực dân Pháp khai thác triệt để những tác dụng của Nho gia trong xã hội Việt Nam, nhằm làm cho “gia đình vững mạnh, cha mẹ được kính trọng, chính quyền được tuân thủ” [14, 186], phục vụ ý đồ chính trị của thực dân Trong lúc đó, giai cấp địa chủ phong kiến coi Nho học là cứu cánh, nên ra sức níu kéo nền học vấn bảo thủ này Do vậy, cuối thời nhà Nguyễn, nền Nho học có sự thay đổi trong việc nhận thức lại các phạm trù triết học như trời, mệnh trời, quan hệ giữa trời và người, lý, khí… theo hướng tiến bộ và duy vật hơn Nho học bắt đầu chú ý đến thực học, coi trọng cả tri thức và thực hành, cố gắng sử dụng các tri thức trong học tập để ứng dụng giải quyết những vấn đề thực tiễn cuộc sống [27, 246] Sự duy trì nền học vấn Nho gia cũng chỉ là tình thế bắt buộc đối với thực dân Pháp, nên dần dần, chúng đi đến xóa bỏ, vì có những yếu tố không phù hợp và cản trở sự cai trị
Trang 23của thực dân Pháp Thay vào đó, thực dân Pháp có những chủ trương cải cách mạnh mẽ nền văn hóa, giáo dục phù hợp với công cuộc khai thác thuộc địa Dần dần về sau, chữ Hán mất vị trí độc tôn trong nền giáo dục, các văn tự Hán được thay thế bằng các văn bản tiếng Pháp, hoặc nếu tồn tại thì giá trị pháp lý không bằng văn bản tiếng Pháp
Để đào tạo những người giúp việc trực tiếp trong các tổ chức chính trị
và kinh tế của chúng, thực dân Pháp bắt buộc phải tổ chức nền giáo dục Tùy theo yêu cầu chính trị từng giai đoạn mà chúng đưa ra những chủ trương cụ thể Nhưng quán xuyến tất cả trong mọi thời kỳ là xây dựng một nền giáo dục thực dân-nửa phong kiến với mục đích nhằm nô dịch và đồng hóa nhân dân Việt Nam Phương châm của chúng là, một mặt, chỉ mở tại các đô thị lớn một
số ít trường tiểu học Pháp – Việt, trường thông ngôn trong phạm vi tối cần thiết mà thôi, còn đào tạo nghề phát triển rất ít Nhìn chung, trong nền giáo dục thực dân, chủ yếu dành cho con em của các tầng lớp trên, những nhà giàu
có, còn đại đa số con em nhân dân lao động vẫn còn thất học
Trong sáu năm đầu tiên (1801-1867), cả Đông Dương có 47 trường với 1.288 người theo học, có khoảng 100 con em quan lại được chọn sang Pháp học Để kiểm soát tình hình, năm 1874 Pháp ra nghị định ban hành qui chế giáo dục, hạn chế mở trường tư, bãi bỏ dạy chữ quốc ngữ ở làng, tập trung dạy ở Sài Gòn, Chợ Lớn, Mỹ Tho… Đánh giá thực trạng của nền giáo dục của Pháp trong giai đoạn này, Ngô Đức Kế đã vạch rõ: “Được tiếp thu cái văn minh của Pháp quốc mấy mươi năm nay mà chỉ mê mẩn tối tăm, ngu hèn dốt nát, đói nghèo khốn khổ, nhân cách ngày một hư, phong tục ngày một nát, ngọc vàng ngoài mặt, dốt nát bên trong, văn minh chẳng thấy đâu mà ngày càng thêm mọi rợ”[1, 60]
Vào cuối thế kỷ XIX, nền văn minh phương Tây bắt đầu du nhập và nước ta Tại Bắc Kỳ, Viện Hàn lâm được thành lập, gồm các nhà khoa bảng
Trang 24Việt Nam và một số người Pháp Viện này được lập ra với mục đích là nhằm truyền bá văn minh Pháp, đồng thời giúp cho người Pháp hiểu được văn hóa của Việt Nam Cùng với việc truyền bá tiếng Pháp, chữ quốc ngữ cũng được truyền bá rộng rãi và được đưa vào trường học để dạy Đây là điều rất thuận lợi cho việc truyền bá tư tưởng và phát triển học thuật
Bên cạnh việc xuất hiện chữ quốc ngữ, còn xuất hiện các tờ báo, các cơ
sở in ấn, các nhà xuất bản, tạo điều kiện cho truyền bá tư tưởng Mặc dù có những tờ báo ra đời là tiếng nói phục vụ cho chế độ phong kiến thực dân nhưng bên cạnh đó có rất nhiều tờ báo thể hiện tinh thần dân tộc và yêu nước
Ở Hà Nội có báo Thực nghiệp dân báo, Khai hóa nhật báo, ở Sài Gòn có báo
Diễn đàn Đông Dương, Tiếng vang Annam,… Các báo này, chủ yếu là quảng
bá cho chủ nghĩa Pháp - Việt đề huề, dựa vào Pháp để chống lại tư sản Hoa
kiều, cổ động cho phong trào thực nghiệp của dân tộc Các báo La Cloche
fêlée (Tiếng chuông rè), L’Annam (Nước Nam), Jeunne Annam (Nước Nam
trẻ), Le Nhaque’ (Người nhà quê)… đã tích cực truyền bá tư tưởng dân chủ tư
sản, truyền bá tư tưởng mácxít, phản đối, vạch rõ chủ nghĩa cải lương phản bội lại lợi ích của dân tộc, chống lại chủ nghĩa thực dân và phong kiến Các tác phẩm văn học trong thời kỳ này có những thay đổi đáng kể, đặc biệt là về thể loại, về nội dung phản ánh, tạo nên luồng gió mới trên diễn đàn văn học Việt Nam vào những năm đầu thế kỷ XX
Khi nền văn hóa phương Tây du nhập, Phật giáo, Đạo giáo và nhất là Nho giáo đã từng tồn tại hàng trăm năm ở Việt Nam bắt đầu có sự khủng hoảng Để tồn tại và phát triển trên mảnh đất của mình, một vấn đề mang tính tất yếu là các hệ tư tưởng Nho giáo, Phật giáo, Đạo giáo phải có những thay đổi nhất định cho phù hợp với yêu cầu thực tiễn và đặc điểm lịch sử xã hội Việt Nam thời kỳ này Nếu như trước đó, các hệ tư tưởng này mang tính bảo thủ, cố hữu những quan điểm tư tưởng của mình thì đến nay chúng cởi mở
Trang 25hơn, nhiều phạm trù tư tưởng biến đổi theo khuynh hướng duy vật nhiều hơn, thiết thực hơn, hướng đến thực tiễn nhiều hơn Cho nên, có thể nói, khi văn hóa phương Tây du nhập, cùng với sự thay đổi của kinh tế-xã hội thì tư tưởng Việt Nam có sự thay đổi to lớn về tính chất và khuynh hướng phát triển của
nó
Những biến đổi về văn hóa, giáo dục đã tạo nên những biến đổi trong nhận thức và tư tưởng của nhân dân ta thời kỳ này Mặc dù thực dân Pháp đặt ách nô dịch về văn hóa, giáo dục nhưng với tinh thần tự tôn, độc lập, tự chủ, trong đời sống nhân dân đã có những thay đổi nhất định về sự hiểu biết thế giới xung quanh, về chính trị, xã hội, văn hóa … Mặt khác, trong đội ngũ trí thức, một bộ phận có ý thức tự tôn dân tộc đã tích cực, chủ động tiếp thu tư tưởng tiến bộ của phương Tây nói riêng và nhân loại nói chung để truyền bá vào nước ta, đây là yếu tố rất cần thiết cho việc đổi mới tư duy của các nhà tư tưởng, làm cho họ có thêm những nhận thức mới, tạo ra một sức bứt phá mãnh liệt với hệ tư tưởng phong kiến Trong tầng lớp sĩ phu tiến bộ ấy, chúng
ta có thể kể đến nhà tư tưởng Phan Châu Trinh, do tác động của tri thức khoa học nên đã tạo nên bước chuyển rất quan trọng trong tư tưởng của ông
Như vậy, có thể nói, sự chuyển biến về điều kiện lịch sử - xã hội Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX là một trong những yếu tố rất quan trọng góp phần hình thành quá trình chuyển biến tư tưởng của các nhà tư tưởng lúc bấy giờ, trong đó có Phan Châu Trinh
1.2 TẦNG LỚP XÃ HỘI MỚI VÀ THÁI ĐỘ CỦA CÁC GIAI CẤP TRƯỚC VẤN ĐỀ DÂN TỘC
Những điều kiện chính trị - xã hội, kinh tế, văn hóa - giáo dục vừa kể trên đã gây một tác động mạnh mẽ trong xã hội làm cho sự phân hóa giai cấp trở nên sâu sắc hơn Ngoài giai cấp vốn có trong xã hội Việt Nam như giai cấp địa chủ phong kiến, giai cấp nông dân, giờ đây xã hội Việt Nam còn xuất
Trang 26hiện thêm nhiều giai cấp mới như giai cấp tư sản, tầng lớp tiểu tư sản và giai cấp công nhân Các giai cấp này có địa vị kinh tế khác nhau và do đó cũng có thái độ chính trị khác nhau trước vấn đề dân tộc Vấn đề này phản ánh điều kiện và mối quan hệ trong việc hình thành lực lượng của phong trào giải phóng dân tộc trong những năm đầu của thế kỷ XX
Việt Nam trước khi bị thực dân Pháp xâm lược là một xã hội phong kiến phương Đông đóng cửa, lạc hậu nhưng lại là một chỉnh thể độc lập thống nhất, từ nay trở thành bị chia cắt, đô hộ, thành một xã hội thực dân-nửa phong kiến, có đổi mới nhưng không phải thực sự tiến bộ và khai phóng, mà là phụ thuộc nặng nề chủ nghĩa đế quốc Pháp
* Giai cấp địa chủ phong kiến:
Vào thời kỳ này, sản xuất nông nghiệp vẫn giữ vai trò chủ đạo trong toàn bộ nền kinh tế nên những lực lượng đại diện cho nền sản xuất nông nghiệp vẫn là những bộ phận quan trọng trong cơ cấu xã hội
Trong khi các thành phần kinh tế tư bản chủ nghĩa có những bước phát triển mạnh hơn thời kỳ trước thế lực của giai cấp địa chủ vẫn không bị suy giảm, trái lại còn được củng cố và phát triển vững chắc thông qua sự tập trung ngày càng cao ruộng đất-tư liệu sản xuất cơ bản trong nông nghiệp vào ay giai cấp địa chủ dưới sự che chở của bọn thực dân Pháp Giai cấp địa chủ phong kiến cấu kết chặt chẽ với thực dân Pháp và làm tay sai đắc lực cho chúng trong việc ra sức bóc lột nông dân và kìm hãm lực lượng sản xuất trong nước Xét về mặt giai cấp thì họ chính là đối tượng của cách mạng, nhưng do thực dân Pháp độc quyền về kinh tế, chuyên chế về chính trị, giữa đế quốc và phong kiến vẫn có mâu thuẫn về quyền lợi
Trước tình hình đất nước bị ngoại xâm, do quyền lợi cụ thể bị từng bộ phận trong giai cấp này có chỗ khác nhau, nên có thể thái độ của họ trước kẻ thù của dân tộc cũng khác nhau Nhìn chung cả giai cấp là thỏa hiệp, đầu hàng
Trang 27giặc Bọn triều đình nhà Nguyễn, thế lực tiêu biểu nhất của phong kiến Việt Nam đã cam chịu sống kiếp tay sai của bọn thực dân Pháp, đàn áp phong trào nhân dân chống bọn thực dân Pháp xâm lược Bên cạnh bọn Việt gian này, một số khác tuy cũng có ra làm quan, nhưng mang tâm lý tùy thời… để yên thân hưởng lạc Một số bộ phận khác, có nhân cách hơn, nhưng thiếu bản lĩnh,
bi quan trước thời cuộc cáo quan về nhà, không tham gia gì tích cực cho kháng chiến, họ cho rằng “đại sự khớp hĩ!” (Việc lớn đã qua rồi!) Ngoài ra, một số sĩ phu thức thời, “thấy rõ quyền lợi của phong kiến cũng chỉ là quyền lợi làm tay sai cho đế quốc”[12, 6], họ tiếp thu những truyền thống của dân tộc,sống gần gũi với nhân dân, hăng hái cùng với nhân dân chống giặc cứu nước Họ chiến đấu dũng cảm kiên trì chống lại những tư tưởng lỗi thời, chiến đấu trong hoàn cảnh có nhiều khó khăn gian nan và khổ cực Về sau, tư trưởng yêu nước của một số sĩ phu này sẽ còn được thế hệ con em họ tiếp nối trong một hoàn cảnh khác có phần mới mẻ hơn, tức là thế hệ các nhà nho yêu nước ở đầu thế kỷ XX, trong đó có Phan Bội Châu
* Giai cấp nông dân:
Chiếm trên 90% dân số, trước kia dưới chế độ phong kiến họ đã từng bị ách áp bức bóc lột nặng nề, đến lúc này họ lại bị thêm một tầng lớp áp bức bóc lột nửa của bọn đế quốc xâm lược, do đó sức phản kháng của họ càng mạnh, ý chí chiến đấu của họ càng cao Do bị đế quốc, phong kiến áp bức bóc lột nặng nề, nên đời sống của họ hết sức khó khăn Nguyễn Ái Quốc đã viết:
Tư bản Tây và Nhà thờ đạo đã chiếm gần hết đất ruộng, còn giữ được miếng nào thì chính phủ lại đánh thuế thiệt mạng, mỗi năm một tăng – Như mỗi mẫu ruộng tốt mỗi năm tất cả hoa lợi được chừng 25 đồng, Tây nó đã lấy mất 2 đồng 5 hào thuế”, “Nếu tính tiền thuê trâu bò mua phân tro, mướn làm, tiền ăn uống thì mỗi mẫu mỗi năm đã lỗ mất 5 đồng, mà chính phủ lại kẹp lấy cho được 2 đồng rưỡi” [32, 309] Nông dân làm ra lúc mà không đủ ăn, đến mùa
Trang 28thuế thì bán đổ bàn tháo để nộp thuế Lợi dụng tình trạng đó, thực dân Pháp
vơ vét thóc gạo, mua rẻ bán đắt dẫn tới tình trạng cơm gạo kém đẩy người nông dân tới tình trạng khốn cùng
Chính sách của bọn thực dân Pháp và phong kiến đã làm cho nông Việt Nam bị phá sản và nghèo đói Dưới chế độ thuộc địa nữa phong kiến, nông dân Việt Nam ngày càng đi vào con đường vô sản hóa không có lối ra Một số nông dân buộc phải rời bỏ quê hương đi vào làm thuê trong các nhà máy, hầm
mỏ và trở thành công nhân, còn phần lớn nông dân vẫn phải bám lấy nông thôn kéo dài kiếp sống cơ cực tối tăm
Trong suốt cuối thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX chính họ là một đội quân chủ lực cho mọi cuộc khởi nghĩa chống Pháp và chống bọn bè lũ phong kiến tay sai Và còn lâu về sau, nông dân vẫn là đại đa số nhân dân trong nước, là đối tượng bóc lột của phong kiến và thực dân, nhất là thực dân Pháp luôn luôn muốn duy trì tình trạng kinh tế thực dân nữa phong kiến của chúng trên đất nước ta, cho nên nông dân vẫn là đội quân hùng hậu của cách mạng giải phóng dân tộc Trong quá trình sản xuất, giai cấp nông dân cũng bị phân hóa dần thành ba tầng lớp: Trung nông, bần nông và cố nông
* Tầng lớp trung nông:
Có tương đối đủ ruộng đất và các công cụ sản xuất như trâu, bò, nông cụ… để tự sản xuất và nuôi sống mình, không phải bán sức lao động, nhưng cũng không có khả năng tham gia vào việc bóc lột người khác Song đây chỉ
là là giới hạn tương đối Một số trung nông lớp dưới vẫn phải bán sức lao động và một số có tham gia bóc lột qua việc cho lĩnh canh ruộng đất dư hoặc phát canh lại ruộng lĩnh canh của địa chủ như ở Nam kỳ
* Tầng lớp bần nông:
Bao gồm những người thiếu ruộng đất canh tác, thiếu trâu bò, nông cụ sản xuất và tiền vốn Tầng lớp này có 20.246 hộ, chiếm 35,4% số hộ nông
Trang 29dân, họ có trong tay 13.151 mẫu 2 sào, ciếm 10,8% tổng diện tích canh tác Bình quân chiếm hữu ruộng đất là 467m2/người [58, 83]
* Tầng lớp cố nông
Đây là tầng lớp nghèo khổ nhất, bần cùng nhất trong giai cấp nông dân
Họ thường không có ruộng đất để cày cấy, không có trâu bò và nông cụ để sản xuất Nếu có thì thường rất ít không đáng kể Vì vậy nguồn sống chính của họ là lĩnh canh ruộng đất, đi làm thuê, làm mướn, đi ở cho nhà giàu
Nông dân Việt Nam không đi theo giai cấp tư sản và không chịu ảnh hưởng của chủ nghĩa cải lương như nông dân nhiều nước khác trên thế giới Chính sách cai trị thuộc địa của thực dân Pháp ở Việt Nam đã đẩy người nông dân sớm đến với giai cấp công nhân làm cách mạng dân tốc dân chủ và tiến lên con đường cách mạng xã hội chủ nghĩa Trong cuộc đấu tranh cho độc lập
tự do cho dân tộc, chúng ta có thể nói rằng nông dân Việt Nam là lực lượng to lớn nhất Khi được một lý luận tiên phong soi sáng, tinh thần cách mạng của
họ ngày càng dâng cao, họ càng hiểu lợi ích của họ luôn luôn gắn liền với sự tiến hóa của dân tộc của thời đại
* Giai cấp vô sản
Giai cấp vô sản Việt Nam ra đời cùng với sự khai thác tài nguyên, xây dựng đường xá cầu cống của bọn thực dân Pháp ở Việt Nam Đồng thời với chính sách áp bức, bóc lột chiếm đoạt đất đai, của cải một cách tàn bạo của thực dân Pháp đối với nhân dân ta, đã phá hủy nền kinh tế tự cung tự cấp và
do đó làm cho một số khá đông nông dân, thợ thủ công… bị phá sản, đời sống
vô cùng cực khổ Cũng như vậy, song song với việc kinh doanh công thương nghiệp của tư bản Pháp, đã thu hút không ít người bị phá sản, thất nghiệp vào làm phu mỏ, phu đồn điền, phu khuân vác, phu cầu đường… lớp người này ngày một đông và hình thành nên một giai cấp mới Khác với những người thợ trong công trường thủ công thời phong kiến, họ bị bóc lột theo kiểu tư bản
Trang 30chủ nghĩa, đó là giai cấp những người vô sản, một lực lượng mới và rất quan trọng của cách mạng Việt Nam Chính Lamốt thống đốc Nam kỳ, trong một bản báo cáo gửi cho Toàn quyền P.Đume năm 1902 cũng đã thú nhận rằng:
“Sự phát triển của những đô thị lớn như Sài Gòn, Chợ Lớn làm cho ta thấy nảy sinh một thứ vô sản thành thị Thái độ và hành động của đám vô sản này làm cho số người Châu Âu và những tầng lớp giàu có người bản xứ đều lo sợ một cách nghiêm trọng và hữu lý”[18, 68]
Giai cấp vô sản Việt Nam trong giai đoạn này đang là giai cấp “tự nó”
Nó sẽ lớn lên nhanh chóng sau cuộc đại chiến thế giới lần thứ nhất và nhất là
từ những năm 20 trở về sau Nó sẽ trở thành giai cấp “vì nó” và phát cao ngọn
cờ lãnh đạo cách mạng giải phóng dân tộc Việt Nam đi đến toàn thắng sau này
Nhân dân Việt Nam đã không chịu khuất phục, không cam chịu phận tôi đòi Trong bối cảnh mới những ai còn nghĩ đến cảnh “quốc phá gia phong” đều ý thức được sự lỗi thời của thiết chế cũ về mọi mặt, ý thức được sự không thể trở lại theo vết xe đổ của thời kỳ Cần Vương
* Tầng lớp tiểu tư sản Việt Nam
Tầng lớp này bao gồm những người làm nghề thủ công, tiểu thương, viên chức, trí thức, học sinh
Địa vị kinh tế bấp bênh, luôn bị đe dọa phá sản, thất nghiệp, luôn bị bọn đế quốc khinh rẻ, tiểu tư sản hăng hái tham gia cách mạng, nhất là tầng lớp trí thức học sinh có lý tưởng dân tộc độc lập, dân chủ tự do, có tinh thần yêu nước, nhạy bén trước thời cuộc, mong, muốn bảo vệ nền văn hóa truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc
Tuy có những nhu cầu và nguyện vọng khác nha, có biểu hiện ngã nghiêng dao động và kém bền bỉ khi phong trào gặp khó khăn, nhưng nói chung họ tích cực chống bọn để quốc và là bạn đồng minh đáng tin cậy của
Trang 31giai cấp công nhân Nếu được phong trào cách mạng của công nông thúc đẩy,
họ có thể bước vào hàng ngũ cách mạng ngày càng đông đảo và đóng vai trò quan trọng trong phong trào đấu tranh của nhân dân, nhất là ở thành thị
* Giai cấp tư sản Việt Nam
Trước chiến tranh thế giới lần thứ nhất mới chỉ là một tầng lớp nhỏ bé kinh doanh chủ yếu trong lĩnh vực thương nghiệp, hoạt động sản xuất còn hạn hẹp Từ sau chiến tranh, hoạt động kinh doanh của tư sản Việt Nam được mở rộng và có qui mô lớn hơn Họ kinh doanh hầu hết các ngành kinh tế, từ xay xát, in ấn, dệt, nhuộm, vận tải, sửa chữa cơ khí… cho đến sản xuất sơn, xà phòng, đường nước mắm, đồ gốm… Một số tư sản đã có trong tay những sản nghiệp lớn như mỏ, đồn điền, các công ty thương mại… Một số khác có các
cơ sở sản xuất có khả năng thu hút hàng trăm công nhân Trên cơ sở mở rộng
và phát triển nhanh chóng về thế lực kinh tế, giai cấp tư sản Việt Nam đã thực
sự trở thành một giai cấp xã hội vào những năm sau chiến tranh thế giới lần thứ nhất Nhưng do đế quốc Pháp đã ra sức kìm hãm cho nên phải đến sau chiến tranh thế giới lần thứ nhất (1914-1918), tư sản Việt Nam mới hình thành một giai cấp rõ rệt với hai bộ phận có quyền lợi và ý nghĩa khác nhau:
tư sản mại bản và tư sản dân tộc Tư sản mại bản Việt Nam thu mua nguyên liệu và sản phẩm trong nước cho đế quốc, góp vốn cùng với đế quốc kinh doanh công nghiệp, hoặc bao thầu những công trình xây dựng của bọn thực dân Số đông tư sản mại bản đồng thời là địa chủ Quyền lợi gắn liền với đế quốc và phong kiến, tư sản mại bản là tầng lớp phản động, là đối tượng của cách mạng Tư sản dân tộc Việt Nam có một số xuất thân từ tiểu chủ, viên chức trí thức cao cấp, quan lại, còn phần lớn là từ địa chủ mà ra Số đông không thoát khỏi con đường tư sản kiêm địa chủ
Sinh sau đẻ muộn, nằm trong các ngành kinh tế phụ thuộc, bị đế quốc phong kiến chèn ép, lại ra đời trong lúc chủ nghĩa tư bản đã đi vào thời kỳ
Trang 32khủng hoảng nghiêm trọng, nên cơ sở kinh tế yếu ớt, nhỏ bé, họ có mâu thuẫn
về quyền lợi kinh tế, chính trị với đế quốc, với phong kiến Đồng thời tư sản dân tộc Việt Nam về bản chất cũng là tầng lớp trực tiếp bóc lột và công nông
để làm giàu, vừa mới dựa vào công nông để đấu tranh đòi chính quyền thực dân mở rộng kinh doanh phát triển công thương nghiệp Tình hình trên đã phản ánh tính hai mặt của họ: mặt cách mạng chống đế quốc và chống phong kiến, tiến hành dân dộc, dân chủ; mặt cải lương là chủ yếu, họ xin xỏ và trông vào sự ban phát ân huệ và rất dễ thỏa hiệp với bọn thực dân Mặt cách mạng chỉ được phát huy khi phong trào công nông phát triển mạnh mẽ và cách mạng trên đà thắng lợi Giai cấp tư sản dân tộc Việt Nam có thể tham gia cách mạng, nhưng không thể lãnh đạo cách mạng được
Như vậy, tình hình phân hóa giai cấp trong xã hội Việt Nam hồi cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX như vừa trình bày ở trên sẽ là tiền đề quan trọng đối với việc tìm hiểu tính chất phong trào yêu nước đầu thế kỷ, trong số đó có công cuộc duy tân nước nhà của chí sĩ Phan Châu Trinh
1.3 NHỮNG ẢNH HƯỞNG CỦA TÌNH HÌNH THẾ GIỚI ĐỐI VỚI VIỆT NAM
Bên cạnh những tác động về tình hình kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội
do tác động của cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất, cách mạng Việt Nam còn chịu sự tác động tích cực của tình hình thế giới tạo nên sự chuyển biến trong nhận thức của những nhà Nho yêu nước Việt Nam
Bước vào thế kỷ XIX, đặc biệt là từ những năm 1850 - 1860, nền sản xuất tư bản đã đạt tới một trình độ phát triển khá cao ở một số nước trên thế giới Các nước tư bản chính trên thế giới đã dần dần phát triển thành đế quốc chủ nghĩa đi xâm chiếm thị trường Sự phát triển kinh tế và kỹ thuật quân sự không chỉ giúp cho giai cấp tư sản củng cố địa vị thống trị của họ ở trong nước mà còn giúp họ thực hiện nhanh chóng tham vọng mở rộng việc cướp
Trang 33đoạt thị trường thế giới: “Vì luôn luôn bị thúc đẩy bởi nhu cầu về những nơi tiêu thụ mới, giai cấp tư sản xâm lấn khắp toàn cầu Nó phải xâm nhập vào khắp nơi, khai thác khắp nơi và thiết lập những mối liên hệ khắp nơi” [31, 545]
Trong khi đó, ở các nước phương Đông chậm tiến hơn, những tư tưởng cách mạng - những tư tưởng đã sớm phát sinh ở các nước Phương Tây từ thế
kỷ trước, từ đây mới phát triển mạnh và tác động đến các nước phương Đông thuộc địa và nửa thuộc địa Tư tưởng đó thể hiện rõ rệt ở cuộc duy tân Minh trị ở Nhật Bản vào năm 1868, tiếp theo là ở Trung Quốc với các trào lưu tư tưởng có tính chất cải lương tư sản với Khang Hữu Vi và Lương Khải siêu là những nhân vật tiêu biểu Phong trào duy tân ở Trung Quốc dù thất bại nhưng
đã khẳng định một điều rằng, canh tân theo văn minh phương Tây đang trở thành yêu cầu sống còn đối với các quốc gia phương Đông, kể cả với đất nước Trung Hoa xưa nay vẫn tự cho mình là trung tâm của thế giới Do đó có thể nói rằng, những tâm huyết của những sĩ phu yêu nước Trung Quốc đối với sự nghiệp duy tân là một sự thôi thúc, một nguồn cổ vũ đối với sĩ phu Việt Nam yêu nước lúc bấy giờ
Tiếp sau đó, chúng ta phải kể tới các cuộc vận động cách mạng ở Tôn Trung Sơn (1866 - 1925) mà đỉnh cao nhất của nó là cuộc cách mạng Tân Hợi năm 1911 đã làm cho “châu Á thức tỉnh” Đúng như V.I Lênin đã nhận định:
“Hệ thống tư tưởng này xuất hiện, chứng minh rằng ở thời đại đế quốc chủ nghĩa, phương Đông hoàn toàn đi theo con đường của phương Tây, hàng trăm năm và hàng triệu con người mới tới đây sẽ tham gia đấu tranh cho lỷ tưởng
mà trước đây phương Tây đã ra sức phấn đấu để đạt tới” [30, 141]
Cuộc Cách mạng Tân Hợi năm 1911 do nhà cách mạng vĩ đại Tôn Trung Sơn lãnh đạo, đập tan triều đại cuối cùng của chế độ phong kiến Trung Quốc, thiết lập một chế độ chính trị mới, dưới ngọn cờ của giai cấp tư sản
Trang 34Cương lĩnh chính trị của Tôn Trung Sơn đưa ra dựa trên học thuyết Tam dân: Dân tộc độc lập, dân quyền tự do, dân sinh hạnh phúc Mục tiêu đấu tranh được ông đề ra là: “Đánh đuổi giắc Thát, khôi phục Trung Hoa, Thành lập Dân quốc, Bình quân địa quyền”, và nêu lên ba nhiệm vụ: Lật đổ triều đại Mãn Thanh, thành lập Trung Hoa Dân quốc, thực hiện quyền bình đẳng về ruộng đất Lịch sử Trung Quốc trải qua chế độ phong kiến với thời gian rất dài, đến năm 1911, cuộc Cách mạng Tân Hợi đã tạo ra sự thay đổi vĩ đại của lịch sử Trung Quốc Điều đó chứng tỏ chế độ phong kiến đã không còn vị trí lịch sử của mình phải nhường lại cho chế độ mới Những cuộc canh tân đổi mới ở Trung Quốc đã dội vào nước ta và thức tỉnh dân tộc ta cần phải tiến hành đổi mới
Lúc bấy giờ, các phong trào Duy tân của Khang Hữu Vi, Cách mạng Tân Hợi (1911) của Tôn Trung Sơn ảnh hưởng sâu sắc đến các nhà tư tưởng tiến bộ ở Việt Nam như Nguyễn Trường Tộ, Phan Bội Châu, Nguyễn An Ninh và Phan Châu Trinh Nói về sự ảnh hưởng này, Phan Bội Châu viết:
“Phong triều Trung Hoa cách mệnh thành công, ảnh hưởng tới nước ta hung lắm Nhiệt độ người nước ta so với trước kia lên gấp bội Nếu ở ngoài có cái
gì làm tiên thanh, thì khí thế ở trong nước khắc sống lại”[6, 215]
Trong những sự kiện chính trị, xã hội ấy thì chế độ dân chủ ở Cách mạng Tân Hợi có ảnh hưởng mạnh mẽ nhất đối với tư duy chính trị của dân tộc ta, tạo nên sự chuyển biến rất lớn trong tư tưởng chính trị Phan Châu Trinh đánh giá rất cao cuộc cải cách theo dân chủ tư sản của Trung Quốc, ông viết: “Động lực của duy tân Trung Quốc vang dội bốn phía, lay động cả nước
Do đó, các cử động, các đảng phái trong nước cũng theo đó mà nổi lên”[11, 525] Như vậy, ở Trung Quốc hay Nhật Bản, các cuộc cải cách đem lại những kết quả khác nhau, nhưng đều thống nhất là phải thay đổi tư duy, đặc biệt là
tư duy chính trị nhằm biến đổi hiện thực xã hội thối nát, bảo thủ của chế độ
Trang 35phong kiến Điều này cho thấy hệ tư tưởng phong kiến, tư tưởng Nho giáo đã dần dần mất vai trò lịch sử, nó không thể đảm đương được những vấn đề mà thực tiễn đòi hỏi phải giải quyết Vấn đề này không phải chỉ riêng có ở Việt Nam mà trở thành hiện tượng lịch sử - xã hội phổ biến có cả ở Trung Quốc, Nhật Bản và có thể nói đó là vấn đề của thời đại Từ thực trạng đó, thúc đẩy các nhà tư tưởng Việt Nam học tập kinh nghiệm, đi tìm tòi, khám phá con đường cách mạng mới Đây là một tất yếu lịch sử để định hướng cho dân tộc trong quá trình phát triển lịch sử
Bên cạnh đó, những ảnh hưởng mạnh mẽ của phong trào cách mạng và tình hình tư tưởng Việt Nam hồi đầu thế kỷ đó chính là tiếng vọng lớn của cuộc chiến tranh Nga – Nhật (1904-1905) Châu Âu nhìn Nhật Bản với con mắt kinh hoàng Các nhà yêu nước châu á ngước nhìn Nhật Bản bằng con mắt
ngưỡng mộ, thán phục, tự hào và tôn Nhật Bản làm “Anh cả da vàng, đồng
chủng, đồng văn” và lần lượt sang Nhật Bản tìm sự che chở Có thể nói rằng
bằng việc chiến thắng của Nhật Bản đối với nước Nga Sa hoàng đã có một tiếng vọng lớn trên thế giới, nó tỏ rõ lực lượng của một đế quốc trẻ đang buổi sung sức, khiến cho bọn đế quốc phương Tây phải de chừng Đối với các dân tộc ở châu Á lâu nay bị đế quốc da trắng chà đạp và khinh rẻ, người ta đã quên đi rằng Nhật Bản là một đế quốc có tham vọng xâm đất đai, mà coi đó là người anh cả, cứu tinh của các dân tộc da vàng, sẽ giúp mình thoát khỏi ách thống trị của đế quốc, Ấn Độ… và Việt Nam của chúng ta cũng không tránh khỏi tâm lý ấy, nhưng vượt lên trên tất cả chính là sự tin tưởng rằng Nhật Bản
sẽ thành công trong việc học tập theo văn minh Phương Tây thì Việt Nam cũng sẽ thành công nếu dốc lòng theo con đường ấy
Tiếp đó chính là sự du nhập Tân Thư, Tân Văn vào Việt Nam Trước tình hình bế tắc về tư tưởng khi chữ nghĩa thánh hiền đã chết thì phong trào sách mới từ nhiều nguồn trong đó chủ yếu là từ châu Âu lan sang Trung Quốc
Trang 36rồi truyền vào nước ta Thông qua những sách mới đã được dịch sang tiếng Trung Quốc, người ta tìm thấy tư tưởng tự do tư sản được đề ra từ Thế kỷ ánh sáng bởi những đại biểu như Rutxô, Môngtexkiơ, Ô oen Tư tưởng tư sản được thể hiện trong việc xác định mối quan hệ giữa người và người Tất cả mọi người sinh ra đều có quyền bình đẳng và tự do
Những tư tưởng tự do, bình đẳng đó hoàn toàn xa lạ với một quan hệ lệ thuộc tuyệt đối của ý thức hệ phong kiến phương Đông Những cuốn sách mới còn mang lại cho các nhà Nho kiến thức mới về khoa học tự nhiên, khoa học xã hội, về ý tưởng cứu nước mới và cách tổ chức xã hội mới Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh đã đọc ngốn ngấu Tân thư, rút ra nhiều điều bổ ích, những nhận thức mới về cuộc đời, về con người và về xã hội
Cũng trong khoảng thời gian cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, chủ nghĩa Mác - Lênin trở thành ngọn cờ lý luận của giai cấp công nhân trên phạm vi toàn thế giới Giai cấp công nhân lấy chủ nghĩa Mác - Lênin làm hệ tư tưởng cho giai cấp mình, từ đó định hướng, dẫn dắt phong trào cách mạng đi đến những thắng lợi to lớn Tiêu biểu là thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười Nga đã mở ra một chế độ mới thể hiện tính ưu việt so với tất cả các chế độ chính trị tồn tại trong lịch sử Theo chủ nghĩa Mác - Lênin con đường cách mạng của thời đại là cách mạng vô sản, giai cấp công nhân có sứ mệnh lịch sử
là xây dựng chế độ cộng sản chủ nghĩa, giải phóng giai cấp, giải phóng con người, xóa bỏ chế độ bóc lột Những mục tiêu cao đẹp đó thu hút mạnh mẽ các dân tộc thuộc địa đi theo con đường cách mạng vô sản Chủ nghĩa Mác - Lênin là bước chuyển quyết định trong tư tưởng chính trị Việt Nam, nó trở thành hệ tư tưởng của giai cấp công nhân Việt Nam và của toàn dân tộc Tư tưởng của chủ nghĩa Mác - Lênin xuất hiện vào những năm 40 của thế kỷ XIX, song ảnh hưởng của nó đến Việt Nam cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX còn hạn chế, bởi vì, chế độ phong kiến đã cương tỏa sự nhận thức những trào
Trang 37lưu tư tưởng mới nói chung và tư tưởng chủ nghĩa Mác nói riêng Đối với các nhà tư tưởng theo khuynh hướng dân chủ tư sản, sự ảnh hưởng chủ nghĩa Mác-Lênin bắt đầu khi những tìm tòi, khảo nghiệm và việc tổ chức thực hiện cách mạng dân chủ tư sản thất bại Đặc biệt, khi Cách mạng Tháng Mười Nga thành công thì sự ảnh hưởng đó mới được nhân rộng ra, các nhà tư tưởng như Phan Bội Châu, Nguyễn An Ninh và Phan Châu Trinh đã thấy được ánh sáng của chủ nghĩa Mác - Lênin Các ông đã bắt đầu tiếp cận nhưng chưa thể chuyển sang hệ tư tưởng mới ngay được Bởi vì muốn chuyển sang một hệ tư tưởng mới không chỉ có thiện cảm mà còn phải có thời gian để nghiên cứu, tìm hiểu Mặt khác, bản thân các nhà tư tưởng vừa chịu sự ràng buộc về mặt quan điểm, hoàn cảnh lịch sử, vừa chịu ngăn cản của các thế lực thù địch nên việc thực hiện bước chuyển từ tư tưởng cách mạng dân chủ tư sản sang tư tưởng cách mạng vô sản là điều hết sức khó khăn Các nhà tư tưởng lúc bấy giờ, trong đó có Phan Châu Trinh đã thực hiện một bước chuyển rất căn bản
từ hệ tư tưởng phong kiến sang hệ tư tưởng tư sản, họ đã hoàn thành vai trò của lịch sử giao phó Đồng thời do hạn chế về khả năng nhận thức thời đại, cũng như sự chuyển biến của lịch sử xảy ra hết sức nhanh chóng, các nhà tư tưởng không thể lường hết được, không phản ánh kịp đối với sự vận động và phát triển của xã hội Tuy nhiên, sau đó các nhà tư tưởng Phan Bội Châu, Nguyễn An Ninh và Phan Châu Trinh cũng nhận thấy chủ nghĩa Mác-Lênin
đã vạch ra hướng đi mới cho dân tộc ta, còn tư tưởng cách mạng dân chủ tư sản đã hết vai trò lịch sử Phan Châu Trinh đã có lời tâm sự với Nguyễn Ái Quốc rằng: “Tôi biết anh hấp thu được các chủ nghĩa của ông Mã-khắc-tư, ông Lý-ninh nên tôi cũng đem chuyện hai ông ấy mà giảng dẫn cho anh rõ” [11, 697-698] và bản thân ông tự biết mình là người bi thời mẫn thế, chỉ biết mong mỏi vào thế hệ mai sau: “bây giờ, thân tôi tợ chim lồng cá chậu Vả lại, cây già thì gió dễ lay, người già thì trí lẫn, cảnh tôi như hoa sắp tàn… Bởi
Trang 38vậy, tôi thành tâm mong mỏi anh thay đổi cái phương pháp cũ kỹ để mà mưu
đồ đại sự” [11, 701] Những năm đầu thập niên 20 của thế kỷ XX, Nguyễn Ái Quốc đã tìm thấy con đường cứu nước cho dân tộc, tin theo chủ nghĩa Mác-Lênin, tích cực truyền bá vào Việt Nam, tiến hành chuẩn bị mọi mặt cho việc thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam và lãnh đạo nhân dân thực hiện thắng lợi các cuộc cách mạng của dân tộc ta Những nội dung cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin đã ảnh hưởng dần dần trong xã hộ Việt Nam, trở thành một trong những yếu tố thúc đẩy quá trình chuyển biến tư tưởng chính trị Việt Nam, đặc biệt là giai đoạn đầu thế kỷ XX, khi Cách mạng Tháng Mười Nga thắng lợi thì chủ nghĩa Mác-Lênin lại càng ảnh hưởng một cách sâu rộng hơn
Như vậy tình hình chính trị - xã hội trên thế giới mà trực tiếp là ở một
số nước trong khu vực có sự chuyển biến đã tác động đến tình hình chính trị -
xã hội ở nước ta hồi đầu thế kỷ XX, khi ở nước ta cũng đã có sự chuyển biến
về kinh tế - xã hội do sự tác động của chính sách khai thác đầu tư, khai thác thuộc địa của thực dân Pháp Cùng với những chính sách chính trị - xã hội, văn hóa - giáo dục… như vừa trình bày ở trên, đã làm cho mâu thuẫn giữa đế quốc và nhân dân ta vốn đã sâu sắc lại càng sâu sắc thêm Đó chính là động lực thúc đẩy chủ yếu quá trình cách mạng hóa nhân dân ta nhanh chóng hơn
Lịch sử đặt ra trước thời đại hai nhiệm vụ cần phần giải quyết: Đánh đổ
đế quốc Pháp, giành độc lập dân tộc và cách tân xã hội để đưa đất nước Việt Nam tiến kịp các nước văn minh tiến bộ trên thế giới Hai nhiệm vụ này có quan hệ mật thiết với nhau, hỗ trợ cho nhau
1.4 TÍNH ĐA DẠNG CỦA PHONG TRÀO YÊU NƯỚC VIỆT NAM CUỐI THẾ KỶ XIX ĐẦU THẾ KỶ XX
Vào giữa thế kỷ XIX, phần nào hai nhiệm vụ là đánh đổ đế quốc Pháp, giành độc lập dân tộc và cách tân xã hội để đưa đất nước Việt Nam tiến kịp các nước văn minh tiến bộ trên thế giới đã được đặt ra nhưng còn thiếu sự kết
Trang 39hợp chặt chẽ Những người Văn Thân Cần Vương chống Pháp như Phan Đình Phùng, Tôn Thất Thuyết thì hầu như chỉ biết tập trung ý chí và sức mạnh cho việc đánh giặc ngoại xâm Ngược lại, những người tiến hành cải cách duy tân đất nước như Nguyễn Trường Tộ, Phạm Phú Thứ thì ý thức chống Pháp lại lu
mờ Đến khi phong trào Cần Vương thất bại, bài học thực tế được rút ra là: Với một kẻ thù có trình độ văn minh, có khoa học kỹ thuật tiên tiến như bọn thực dân Pháp, nếu chỉ dùng vũ khí thô sơ và nhiệt tình không thôi để đối phó thì không thể được Vì vậy, muốn đánh thắng thực dân Pháp xâm lược và củng cố, xây dựng đất nước thì phải làm cho dân giàu nước mạnh, phải thực hành cải cách đổi mới xã hội theo hướng tư bản chủ nghĩa Thời đại mới quy định những nhiệm vụ mới và phải có một giai cấp tiên tiến để đảm nhiệm Nhưng xã hội Việt Nam, như chúng ta đã thấy, đang trong quá trình phân hóa sâu sắc Nông dân là nạn nhân chính của chế độ thực dân, mang trong mình khả năng cách mạng lớn lao, nhưng nông dân lại không đại diện cho một phương thức sản xuất tiên tiến, cho nên không thể xây dựng được một hệ tư tưởng độc lập Trong lúc đó tầng lớp tiểu tư sản thành thị thì lại quá nhỏ bé, trước sau vẫn là một tầng lớp trung gian, nó cũng như nông dân chỉ có thể là bạn đồng minh của cách mạng chứ không thể lãnh đạo cách mạng Giai cấp công nhân đang bắt đầu hình thành từ kế hoạch khai thác thuộc địa lần tứ nhất, nhưng số lượng chưa nhiều, còn đang là một giai cấp “tự nó”, chưa trở thành một giai cấp đấu tranh tự giác và có đảng tiên phong lãnh đạo
Như vậy, một trong những đặc điểm chủ yếu của buổi giao thời cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX là: Trong thời gian vài chục năm ấy, cách mạng Việt Nam không được bất kỳ một giai cấp nào lãnh đạo Cách mạng Việt Nam ở trong tình trạng khủng hoảng giai cấp lãnh đạo, trong khi đó cả dân tộc đang phải ở trong cảnh mất nước, mất quyền, chịu trăm đường áp bức, khổ cực, tăm tối Đứng trước tình hình khó khăn đó, một tầng lớp sĩ phu yêu nước
Trang 40– bộ phận tiến bộ nhất, được phân hóa từ hai giai cấp phong kiến, có hấp thi iét nhiều “tân học” đứng ra đảm nhận sứ mệnh lãnh đạo cách mạng Việt Nam Khác với tuyệt đại bộ phận của giai cấp phong kiến đầu hàng, những sĩ phu này đã ý thức được trách nhiệm của mình trước lịch sử Họ lấy lại lòng tin, biết dựa vào đông đảo quần chúng nhân dân yêu nước… và họ cố tiến lên cùng với thời đại tìm phương cứu nước
Ngay từ lúc đó, họ tiếp nhận nguồn ảnh hưởng “Gió Mỹ mưa Âu đã làm ồn ào vũ trụ” [54, 171] Những “tân thư”; “tân văn” từ Trung Quốc, từ Nhật Bản đã len lỏi vào Việt Nam Nội dung tư tưởng của những sách báo này đã đem lại cho họ nhiều nhận thức mới mẻ: Nước Trung Hoa vốn từ ngàn xưa là nước đứng ở “trung tâm thiên hạ”, là quê hương của các “thánh nho”, giờ đây hóa ra cũng vứt bỏ các “thánh kinh, hiền truyện” và bắt đầu nhận những người bên Tây làm những “tiên nho”, “thánh nho” của mình Hàng loạt những “đạo” mới xuất hiện Đó là tư tưởng triết học tiến hóa luận của Đác Uyn với những Xpenxo, Hơcxơlây Đó là những lý luận về xã hội học được nhiều người biết đến như: Khế ước xã hội (contrat social-1762) của Rousseau (1712-1778), Tinh thần luật pháp (1748) của Monstesquie (1689-1755), hay những tác phẩm của Vônte (1694-1778)… Các bậc “đại nho” mới này đã được một đội ngũ các môn đỗ đầy nhiệt tình truyền bá, trong số đó nổi bật nhất ở Trung Quốc là Khang Hữu Vi, Lương Khải Siêu, Tôn Trung Sơn…
Những học thuyết mới này đã lóe lên đầu óc những nhà nho yêu nước Việt Nam đang đi tìm đường cứu nước, biến thành những gợi ý đầy sức hấp dẫn để giải đáp các vấn đề lịch sử đặt ra Họ đã đón nhận những lý luận chính trị, tư tưởng triết học và quan điểm đạo đức đó như là một thứ vũ khí mới để ứng dụng trong cuộc chiến đấu của mình Nhưng vũ khí hệ tư tưởng tư sản
đó, một thứ vũ khí vay mượn, không phải được hình thành và tôi luyện trong cuộc đấu tranh chống phong kiến của chính bản thân những người yêu nước