1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tư tưởng yêu nước của nguyễn trãi và ý nghĩa lịch sử của nó

146 51 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 146
Dung lượng 0,97 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vì vậy “trong điều kiện kinh tế thị trường và mở rộng giao lưu quốc tế, phải đặc biệt quan tâm gìn giữ và nâng cao bản sắc văn hóa dân tộc, kế thừa và phát huy truyền thống đạo đức, tập

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC

Người hướng dẫn khoa học

TS CAO XUÂN LONG

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH – 2016

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi dưới sự hướng dẫn nhiệt tình, chu đáo của TS Cao Xuân Long Kết quả lưu trong luận văn là trung thực

và chưa từng được công bố trong bất cứ công trình nào khác Nếu có gì sai sót tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm

TÁC GIẢ

Đinh Thị Tươi

Trang 4

PHẦN MỞ ĐẦU 1 Chương 1 ĐIỀU KIỆN LỊCH SỬ - XÃ HỘI, TIỀN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH, PHÁT TRIỂN TƯ TƯỞNG YÊU NƯỚC CỦA NGUYỄN TRÃI 21

1.1 ĐIỀU KIỆN LỊCH SỬ - XÃ HỘI HÌNH THÀNH, PHÁT TRIỂN TƯ TƯỞNG YÊU NƯỚC CỦA NGUYỄN TRÃI 21

1.1.1 Điều kiện kinh tế, chính trị hình thành tư tưởng yêu nước của Nguyễn Trãi 21 1.1.2 Điều kiện văn hóa, giáo dục hình thành tư tưởng yêu nước của Nguyễn Trãi 28

1.2 TIỀN ĐỀ LÝ LUẬN HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG YÊU NƯỚC CỦA NGUYỄN TRÃI 36

1.2.1 Truyền thống văn hóa Việt Nam với sự hình thành tư tưởng yêu nước của Nguyễn Trãi 37 1.2.2 Tư tưởng Nho giáo, Phật giáo, Đạo giáo với sự hình thành tư tưởng yêu nước của Nguyễn Trãi 45

1.3 QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH, PHÁT TRIỂN TƯ TƯỞNG YÊU NƯỚC CỦA NGUYỄN TRÃI QUA MỘT SỐ SỰ KIỆN VÀ TÁC PHẨM TIÊU BIỂU 55

1.3.1 Quá trình hình thành, phát triển tư tưởng yêu nước của Nguyễn Trãi qua một số sự kiện tiêu biểu 55 1.3.2 Quá trình hình thành, phát triển tư tưởng yêu nước của Nguyễn Trãi qua một số tác phẩm tiêu biểu 63

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1: 69

Trang 5

2.1 NỘI DUNG CƠ BẢN TRONG TƯ TƯỞNG YÊU NƯỚC CỦA NGUYỄN TRÃI

71

2.1.1 Khẳng định chủ quyền quốc gia, căm thù giặc sâu sắc và sẵn sàng hy sinh vì sự nghiệp giải phóng dân tộc 73

2.1.2 Yêu mến phong cảnh thiên nhiên; tự hào về lịch sử, về truyền thống văn hóa, văn hiến của dân tộc 81

2.1.3 Yêu thương, giải phóng nhân dân và làm cho nhân dân có cuộc sống tốt đẹp hơn 89

2.2 ĐẶC ĐIỂM VÀ GIÁ TRỊ CƠ BẢN TRONG TƯ TƯỞNG YÊU NƯỚC CỦA NGUYỄN TRÃI 100

2.2.1 Đặc điểm cơ bản trong tư tưởng yêu nước của Nguyễn Trãi 100

2.2.2 Giá trị cơ bản trong tư tưởng yêu nước của Nguyễn Trãi 109

2.3 Ý NGHĨA LỊCH SỬ CƠ BẢN TRONG TƯ TƯỞNG YÊU NƯỚC CỦA NGUYỄN TRÃI 116

2.3.1 Ý nghĩa trong tư tưởng yêu nước của Nguyễn Trãi đối với Việt Nam thế kỷ XIV - XV 116

2.3.2 Ý nghĩa trong tư tưởng yêu nước của Nguyễn Trãi đối với Việt Nam hiện nay 121

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 128

KẾT LUẬN CHUNG 130

TÀI LIỆU THAM KHẢO 134

Trang 6

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong quá trình phát triển của lịch sử Việt Nam, ngay từ buổi đầu dựng nước, dân tộc ta luôn phải đương đầu với thiên tai, đồng thời lại phải liên tiếp đấu tranh chống lại các thế lực xâm lược hùng mạnh để bảo vệ chủ quyền đất nước và khẳng định nền độc lập, tự chủ của dân tộc Chính trong tiến trình lịch sử đó đã tạo nên những trang sử vẻ vang của dân tộc, hun đúc nên một nền văn hóa rực rỡ, mang đậm bản sắc truyền thống dân tộc, mà sợi chỉ đỏ xuyên suốt đó là chủ nghĩa yêu nước, là tinh thần “thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ”[50; 534] Cùng với quá trình lịch sử ấy, dân tộc ta đã sản sinh ra những vị anh hùng hào kiệt, những nhà tư tưởng lớn như: Lý Công Uẩn, Lý Thường Kiệt, Trần Thánh Tông, Tuệ Trung Thượng Sỹ, Trần Nhân Tông, Trần Quốc Tuấn, Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Lê Quý Đôn, Lê Hữu Trác, Ngô Thì Nhậm,

Nguyễn Trường Tộ, Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh, Hồ Chí Minh

Đặc biệt, trong giai đoạn lịch sử đầy biến động từ nhà Hồ đến đầu nhà

Lê Sơ, với những yêu cầu của lịch sử đặt ra là phải đoàn kết dân tộc, vạch ra con đường để chống lại sự xâm lược của giặc Minh, bảo vệ nền độc lập dân tộc, giải phóng nhân dân và khôi phục, phát triển đất nước Đại Việt ngày

một vững mạnh hơn Trong bối cảnh ấy, Nguyễn Trãi xuất hiện như một ngôi sao sáng, có công “bình Ngô khai quốc, giành lại giang sơn, mở nền bình trị, chấn hưng văn hóa dân tộc”[68; 7] Công trình Nguyễn Trãi toàn tập tân biên đã nhận định: “Thời xưa có quan niệm rằng, cứ sau 500 năm thì xuất hiện một vĩ nhân để gánh vác lấy văn hóa Nguyễn Trãi thuộc loại người như thế”[68; 7] Các nhà nghiên cứu đều khẳng định ông là nhà tư tưởng lỗi lạc của dân tộc Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên

Trang 7

hiệp quốc (UNESCO) đã công nhận ông là danh nhân văn hóa thế giới (1980) Ở Nguyễn Trãi luôn rực sáng ánh hào quang của tinh thần phục hưng dân tộc và ý nghĩa nhân văn, nhân đạo cao cả Ông đã cống hiến trọn vẹn cả cuộc đời cho Tổ quốc, cho dân tộc và có nhiều đóng góp về tư tưởng triết học, chính trị, quân sự, đạo đức Trong đó, nổi bật nhất là tư tưởng yêu nước, đây là sợi chỉ đỏ xuyên suốt trong tư tưởng của Nguyễn Trãi

Tư tưởng yêu nước là một nội dung cốt lõi trong tư tưởng của Nguyễn Trãi có giá trị sâu sắc cả về mặt lý luận và thực tiễn lịch sử Tư tưởng ấy đã góp phần làm phong phú và sâu sắc thêm hệ tư tưởng yêu nước Việt Nam nói riêng, truyền thống văn hóa Việt Nam nói chung Nó không những là cơ

sở lý luận, là ngọn cờ tư tưởng cho việc củng cố và xây dựng nhà nước phong kiến Đại Việt thời hậu Lê, mà còn có ý nghĩa lịch sử thiết thực đối với công cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc thời đại ông và ngày nay

Tinh thần yêu nước là giá trị cơ bản trong hệ giá trị truyền thống của dân tộc Việt Nam Chủ nghĩa yêu nước là sợi chỉ đỏ xuyên suốt toàn bộ lịch sử Việt Nam từ cổ đại đến hiện đại Ở đây, bản chất Việt Nam biểu lộ đầy đủ và tập trung nhất Yêu nước trở thành một triết lý xã hội và nhân sinh của người Việt Nam Yêu nước đã trở thành vũ khí tinh thần mạnh mẽ, mà nhờ đó, dân tộc ta phát huy được sức mạnh lớn lao trong các cuộc kháng chiến chống kẻ thù xâm lược, là động lực nội sinh quan trọng hàng đầu trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước Đúng như Chủ tịch Hồ Chí Minh từng khẳng định rằng: “Dân

ta có một lòng nồng nàn yêu nước Đó là một truyền thống quý báu của ta Từ xưa đến nay, mỗi khi Tổ quốc bị xâm lăng thì tinh thần ấy lại sôi nổi, nó kết thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ, to lớn, lướt qua mọi sự nguy hiểm khó khăn, nó nhấn chìm tất cả lũ bán nước và lũ cướp nước”[51; 171].Hay như GS Trần Văn Giàu viết: “Tình cảm và tư tưởng yêu nước là tình cảm và tư tưởng lớn nhất của nhân dân, của dân tộc Việt Nam”[38; 167]

Trang 8

Mặt khác, trong bối cảnh hội nhập, giao lưu kinh tế - văn hóa hiện nay, truyền thống yêu nước Việt Nam còn là chỗ dựa tinh thần vững chắc giúp cho dân tộc ta hòa nhập chứ không hòa tan trong trường quốc tế; đồng thời giúp ta đứng vững trước những thách thức lớn về nguy cơ suy thoái đạo đức, lối sống và sự mai một các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc Do đó cùng với việc phát triển kinh tế, xã hội thì việc giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc mà đặc biệt là tư tưởng yêu nước là nhiệm vụ

mà Đảng ta luôn đặc biệt coi trọng, đây là việc làm vừa có tính cấp thiết vừa có tính chiến lược lâu dài Nó không chỉ là điều kiện để phát triển lành mạnh con người và xã hội mà còn có ý nghĩa quan trọng đối với sự phát triển tiến bộ, bền vững của đất nước Điều này đã được Đảng ta nhấn mạnh trong những văn kiện Đại hội rằng, di sản văn hóa là tài sản vô giá, gắn kết cộng đồng dân tộc, là cốt lõi của bản sắc dân tộc, cơ sở để sáng tạo những giá trị mới và giao lưu văn hóa Vì vậy “trong điều kiện kinh tế thị trường

và mở rộng giao lưu quốc tế, phải đặc biệt quan tâm gìn giữ và nâng cao bản sắc văn hóa dân tộc, kế thừa và phát huy truyền thống đạo đức, tập quán tốt đẹp và lòng tự hào dân tộc”[24; 111], “phải luôn coi trọng những giá trị truyền thống và bản sắc dân tộc, quyết không được tự đánh mất mình, trở thành bóng mờ hoặc bản sao chép của người khác”[24; 30].Chính vì vậy, việc nghiên cứu các giá trị văn hóa truyền thống nói chung

và tư tưởng yêu nước của các nhà tư tưởng Việt Nam nói riêng, trong đó có Nguyễn Trãi, nhằm khơi dậy tinh thần yêu nước của mọi người, phát huy sức mạnh của nó trong đời sống xã hội là vấn đề có ý nghĩa cấp bách trong giai đoạn hiện nay

Từ những ý nghĩa lý luận và thực tiễn đã phân tích ở trên, tôi chọn đề tài “Tư tưởng yêu nước của Nguyễn Trãi và ý nghĩa lịch sử của nó” làm đề

tài luận văn thạc sĩ triết học của mình

Trang 9

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu của đề tài

Nguyễn Trãi là nhà tư tưởng, nhà quân sự, nhà chính trị, nhà văn, nhà thơ lớn; vị anh hùng dân tộc, danh nhân văn hóa thế giới, ông đã để lại nhiều dấu ấn đặc sắc trên nhiều lĩnh vực, đặc biệt là tư tưởng yêu nước Sự nghiệp, tư tưởng của Nguyễn Trãi thu hút được nhiều nhà khoa học trong và ngoài nước quan tâm, nghiên cứu dưới nhiều góc độ, khía cạnh khác nhau Nhưng tựu chung lại, có thể khái quát các công trình nghiên cứu về tư tưởng yêu nước của Nguyễn Trãi thành ba hướng chính như sau:

Hướng thứ nhất, là những công trình nghiên cứu điều kiện, tiền đề cho sự hình thành tư tưởng yêu nước của Nguyễn Trãi và nghiên cứu Nguyễn Trãi trong dòng chảy lịch sử dân tộc

Tiêu biểu cho hướng này, trước hết phải kể đến tác phẩm Đại Việt sử

ký toàn thư, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, năm 1998, được biên soạn bởi

nhiều nhà sử học trong nước như Lê Văn Hưu, Phan Phu Tiên, Ngô Sĩ Liên, Phạm Công Trứ, Lê Hy, cùng với những người cộng sự với họ đây là một công trình đồ sộ có giá trị về nhiều mặt, đặc biệt là giá trị về mặt lịch sử và lịch sử tư tưởng Việt Nam, một di sản quý báu của nền văn hóa dân tộc Theo bản in từ ván khắc năm Chính Hòa thứ XVIII (1697) mang hiệu bản in Nội các quan bản; bộ sử này gồm quyển thủ và 24 quyển biên chép một cách

hệ thống, chi tiết tỉ mỉ các sự kiện, nhân vật lịch sử, dân tộc từ họ Hồng Bàng đến 1675 Dù với tư cách là sử ký, nhưng trong đó chúng ta thấy rất rõ

về vấn đề tư tưởng, triết học, chính trị, văn hóa, giáo dục, khoa học, quân sự… được đề cập đến trong tác phẩm lớn này Trong đó, liên quan đến đề tài

cần phải kể đến quyển IX Kỷ hậu Trần, quyển X Kỷ nhà Lê và phần Đại

Việt sử ký thực lục gồm quyển XI, XII, XIII Kỷ nhà Lê thuộc tập 2 bộ sử ký

và quyển XIV và toàn bộ tập 3 đã cung cấp cho chúng ta thấy rõ sự chuyển

Trang 10

biến tình hình xã hội cuối nhà Trần, sự thống trị của giặc Minh và tình hình kinh tế - chính trị - xã hội cũng như tư tưởng thời kỳ hậu Lê, ảnh hưởng đến

sự hình thành và phát triển tư tưởng triết học của Nguyễn Trãi nói chung và

tư tưởng yêu nước của ông nói riêng

Tiếp đến là cuốn Đại Việt sử ký tiền biên - bộ quốc sử thứ hai được

khắc in trong 3 năm Mậu Ngọ, Kỷ Mùi, Canh Thân và được hoàn thành vào năm Canh Thân, niên hiệu Cảnh Thịnh thứ VIII (1800 - Triều Tây Sơn) Bộ

sử gồm 17 tập được Sử quán triều Tây Sơn cho khắc in trên cơ sở công trình biên soạn của sử gia Ngô Thì Sỹ, được con ông là Ngô Thị Nhậm tu

đính Đại Việt sử ký tiền biên, về phương diện sử liệu căn bản dựa theo

Đại Việt sử ký toàn thư, nhưng giá trị chủ yếu là ở những bình luận sắc

sảo và những vấn đề tác giả nêu lên để đính chính hoặc đánh giá lại Đại

Việt sử lý tiền biên được chia làm 2 phần Đặc biệt, ở phần 2 với tiêu đề Đại Việt sử ký tiền biên Bản kỷ, gồm 10 quyển, tác giả đề cập đến thời kỳ

lịch sử Việt Nam từ kỷ Nhà Đinh (968) đến Kỷ hậu Trần, Kỷ Thuộc Minh

(1007 – 1427) Đặc biệt là từ quyển V thuộc Kỷ hậu Trần (1226) đến quyển

X thuộc Kỷ hậu Minh (1414 - 1427), tác giả đi sâu phân tích, đánh giá điều

kiện kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, cũng như sự khủng hoảng, suy vong của giai cấp quý tộc nhà Trần Tác phẩm cũng phân tích, đánh giá nguyên nhân thất bại của Hồ Quý Ly và sự xâm lược của giặc Minh Đó chính là những tiền đề kinh tế chính trị, văn hóa xã hội quan trọng tác động trực tiếp đến sự hình thành và phát triển tư tưởng yêu nước của Nguyễn Trãi

Trong cuốn Lịch triều hiến chương loại chí (hai tập), Nxb Sử học, Hà

Nội, năm 1962, trình bày khái quát và khá sâu sắc tiến trình lịch sử phát triển lịch sử Việt Nam Trong đó, có phần ghi chép toàn diện lại tình hình kinh tế - xã hội Đại Việt cuối thế kỷ XIV, đầu thế kỷ XV - những cơ sở,

Trang 11

những tiền đề gắn liền với hình thành, phát triển tư tưởng yêu nước của Nguyễn Trãi

Hay tác phẩm Đại cương lịch sử Việt Nam (toàn tập) do nhóm tác giả

Trương Hữu Quýnh, Đinh Xuân Lâm, Lê Mậu Hãn chủ biên, Nxb Giáo dục, Hà Nội, năm 2010 Đây là cuốn sách trình bày khái quát và khá sâu sắc tiến trình lịch sử phát triển lịch sử Việt Nam, gồm 3 giai đoạn: Lịch sử Việt Nam từ thời nguyên thủy đến 1858, lịch sử Việt Nam từ 1858 đến 1945 và lịch sử Việt Nam từ 1945 đến năm 2000 Trong đó ở các chương 7, 8, 9, 10 thuộc phần 4 của giai đoạn lịch sử Việt Nam từ nguyên thủy đến 1858, các tác giả đã tập trung trình bày và phân tích tình hình kinh tế - xã hội Đại Việt cuối thế kỷ XIV và cuộc cải cách của Hồ Quý Ly, phong trào kháng chiến chống Minh và cuộc khởi nghĩa Lam Sơn, tình hình kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội Đại Việt thế kỷ XIV (thời kỳ Lê Sơ) gắn liền với việc hình thành

và phát triển tư tưởng yêu nước của Nguyễn Trãi

Ngoài ra, trong tác phẩm Đại cương lịch sử cổ trung đại Việt Nam do

Nguyễn Khắc Thuần chủ biên, Nxb Khoa học xã hội và nhân văn, Hồ Chí Minh, năm 1997 Cuốn sách này được bố cục thành 10 chương, khái quát toàn bộ tiến trình lịch sử Việt Nam từ thời tiền sử đến nửa sau thế kỷ 19 Trong đó, chương thứ 6 và chương thứ 7 đã dựng lại toàn cảnh bức tranh lịch sử từ giai đoạn nhà Trần suy vong, nhà Hồ cướp ngôi, giặc Minh xâm lược đến khởi nghĩa Lam Sơn và quá trình hình thành nhà Lê sơ Những đặc điểm về chính trị, quân sự, kinh tế, xã hội, văn hóa, giáo dục đó chính là cơ

sở xã hội hình thành nên tư tưởng yêu nước của Nguyễn Trãi

Hay trong công trình Lịch sử Việt Nam, tập III, thế kỷ XV-XVI do Tạ

Ngọc Liễn chủ biên, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, năm 2007 cũng nằm trong hướng nghiên cứu này Cuốn sách gồm 10 chương, toàn bộ đều xoay quanh bối cảnh lịch sử chính trị - xã hội từ thời nhà Hồ (nửa cuối thế kỷ

Trang 12

XIV) đến thời Lê sơ (thế kỷ XVI) Hay tác phẩm Khởi nghĩa Lam Sơn của

hai tác giả Phan Huy Lê và Phan Đại Doãn , Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2005 cũng nằm trong hướng nghiên cứu về điều kiện, tiền đề cho sự hình thành tư tưởng yêu nước của Nguyễn Trãi

Còn cuốn Nguyễn Trãi đánh giặc cứu nước của Nguyễn Lương Bích,

Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, năm 2003, nghiên cứu Nguyễn Trãi một cách khái quát trong dòng chảy lịch sử dân tộc Tác phẩm được chia thành 4 phần: Phần 1: Nguyễn Trãi và sứ mạng lịch sử của thời đại Phần 2: Nguyễn Trãi và sự phát triển của phong trào Lam sơn từ khởi nghĩa địa phương thành chiến tranh toàn quốc Phần 3: Nguyễn Trãi và kế sách đại phá quân xâm lược, giải phóng hoàn toàn đất nước Phần 4: Nguyễn Trãi tiếp tục đấu tranh bảo vệ những thành quả chiến đấu đã giành được: độc lập dân tộc, thống nhất tổ quốc, công lý xã hội và đời sống yên lành của quần chúng nhân dân Nội dung nghiên cứu của cuốn sách này khá phong phú: đã khái quát lại quá trình lịch sử mà từ bối cảnh xã hội thời đại Nguyễn Trãi, từ những yêu cầu của vận mệnh đất nước đã từng bước hình thành nên con người, nên hoạt động và tư tưởng yêu nước của ông

Nghiên cứu Nguyễn Trãi trong dòng chảy của lịch sử dân tộc, những điều kiện, tiền đề cho sự hình thành tư tưởng yêu nước của Nguyễn Trãi còn

có công trình của Hữu Hoàng: Tìm trong sử Việt, Danh tướng trong lịch sử

Việt Nam, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, năm 2013 Đúng như tiêu đề, tác

phẩm này của Hữu Hoàng nghiên cứu về các danh tướng hào hùng trong lịch sử Việt Nam Trong đó, từ trang 156 đến trang 162, tác giả đi vào khái quát cô đọng về con người, về cuộc đời, về thân thế, sự nghiệp và những cống hiến to lớn của Nguyễn Trãi đối với xã hội phong kiến thế kỷ XIV-XV Hữu Hoàng đã phác họa lại chân dung Nguyễn Trãi trong bối cảnh xã hội đương thời; giúp bạn đọc có cái nhìn tổng quát hơn, rõ ràng hơn về Nguyễn

Trang 13

Trãi cũng như những cơ sở, tiền đề hình thành và phát triển tư tưởng yêu nước của Nguyễn Trãi

Hướng thứ hai, là những công trình nghiên cứu những quan điểm trong hệ thống tư tưởng yêu nước của Nguyễn Trãi

Về hướng này nổi bật có tác phẩm Ức trai tập (tập thượng và hạ) Phủ

Quốc vụ khanh đặc trách văn hóa, Sài Gòn, năm 1971 Trong đó ở, tập thượng, quyển 1, gồm 109 bài thơ chữ Hán Thể hiện tư tưởng của Nguyễn Trãi, đó là tư tưởng về vai trò của nhân dân trong đời sống xã hội “chìm thuyền mới biết dân như nước” (bài số 27, Quan hải), tư tưởng của con người suốt đời chỉ lo cho dân, cho nước “lòng nghĩ việc đời sinh tóc bạc” (bài

số 37, Họa thơ hương tiên sinh) với một chí khí, một tâm hồn vĩ đại, luôn lo trước cái lo của thiên hạ: “Bình sinh lo trước là tâm nguyện” (Bài số 72) hay

“Một lòng vì nước rõ uy phong” (Bài số 74) Trong quyển 2: Phụ lục Nguyễn Phi Khanh thi văn gồm 80 bài thơ Thể hiện Nguyễn Trãi có một người cha uyên bác, thông thái Năm 19 tuổi ông đỗ Tiến sĩ và lý tưởng của ông cũng sống và hoạt động vì dân, vì nước: “Non nước thân này chắc chẳng quên”

(bài số 39 Trên đường đi nơi đất khách) Còn ở quyển 3: Ức trai di tập văn

loại gồm 32 bài Đó là những bài chiếu biểu gửi cho vua Minh, các tướng giặc Minh chiếm đóng trong các đồn; chiếu cầu hiền tài, thể hiện rõ tư tưởng yêu

nước của Nguyễn Trãi Còn trong Ức trai tập, tập hạ, quyển 4: Quân trung từ

mệnh tập, bao gồm các tập thư, từ gửi cho các tướng giặc Minh như: Thái giám Sơn Thọ, Phương Chính, Vương Thông, Đả Trung, Lương Nhữ Hốt Trong đó thể hiện rõ tư tưởng yêu nước, tư tưởng nhân nghĩa của ông Trong

quyển 5: Sự trạng (Các việc được chép) do Trần Khắc Kiệm soạn, đã khẳng

định tài kinh bang tế thế của Nguyễn Trãi Chính vì vậy, ông đã được Lê Lợi tin tưởng, phàm việc nước đều được bàn định, được giao trọng trách thảo thư

từ gửi đến các thành khuyên đầu hàng và từng 5 lần vượt hiểm vào thành của

Trang 14

giặc Ở quyển 6: Ức trai di tập (Dư địa chí) Nguyễn Trãi đã khái quát lịch sử

xã hội Đại Việt từ thời kỳ dựng nước - vua Hùng Đặc biệt ông đã mô tả rất rõ

vị trí địa lý của Đại Việt, khẳng định chủ quyền đất nước Qua đó thể hiện quan điểm yêu nước của Nguyễn Trãi đối với chủ quyền đất nước Như vậy

có thể thấy rằng, Ức Trai tập là bộ sách đã khảo cứu và ghi chép khá đầy đủ

liên quan đến tư tưởng Nguyễn Trãi Gồm cả tiếng Hán, phiên âm, dịch nghĩa, chú giải giúp ích cho người nghiên cứu tiếp cận bản gốc liên quan trực tiếp đến tư tưởng triết học Nguyễn Trãi nói chung và tư tưởng yêu nước của Nguyễn Trãi nói riêng

Tiếp đến là các tác phẩm Nguyễn Trãi toàn tập, Nxb Khoa học xã

hội, Hà Nội, 1976 Đây cũng là công trình được khảo cứu, sưu tập khá công phu và toàn diện các bản văn liên quan đến tư tưởng Nguyễn Trãi Trong phần giới thiệu của tác phẩm, các tác giả đã khẳng định lịch sử Việt Nam có không ít những anh hùng cứu quốc và Nguyễn Trãi là một trong số những nhân vật lỗi lạc đó Phần tiểu sử Nguyễn Trãi, qua nghiên cứu cuộc đời Nguyễn Trãi về tất cả các mặt, các tác giả đã trình bày những đặc điểm quan trọng nhất: Nguyễn Trãi là nhân vật yêu nước nồng nàn, là một mưu sĩ uy tính trong nghĩa quân Lam Sơn Ông là nhà kinh bang tế thế rất hiếm có của dân tộc Việt Nam trong thời đại phong kiến, trước sau lúc nào cũng luôn luôn trung thành với lý tưởng của mình, sống cuộc đời giản dị thanh cao Nguyễn Trãi rất tự hào về lịch sử dân tộc, tin tưởng ở tương lai Ở ông, ý thức dân tộc đã phát triển đến trình độ cao Ông là người đã đưa chiến tranh nhân dân, chiến tranh du kích đến đỉnh cao của nó Trong cuộc kháng chiến chống Minh, Nguyễn Trãi đã đề ra và thực hiện chính sách vừa đánh vừa đàm từ đầu cho đến cuối Chính sách địch vận tài tình của Nguyễn Trãi đã làm cho nhân dân trong cuộc kháng chiến chống Minh tiết kiệm được nhiều xương máu Các tác giả còn cung cấp cho chúng ta hiểu không chỉ về thân

Trang 15

thế sự nghiệp Nguyễn Trãi mà cả những vấn đề sự biến lịch sử như vụ án Lệ Chi Viên và cái chết thảm khốc của Nguyễn Trãi Các tác giả cung cấp một cách hệ thống, đầy đủ các bản văn của Nguyễn Trãi liên quan đến hệ thống

tư tưởng về triết học, quân sự, ngoại giao, giáo dục của ông, thể hiện qua

Lam Sơn thực lục, Bình Ngô đại cáo, Phú núi Chí Linh, Truyện cũ về Băng

Hồ tiên sinh, Văn bia Vĩnh Lăng, Quân trung từ mệnh tập, Chiếu biểu viết dưới triều Lê, Dư địa chí, Ức Trai thi tập, Quốc âm thi tập…

Và tư tưởng của Nguyễn Trãi nói chung, tư tưởng yêu nước của ông

nói riêng còn được trình bày trong tác phẩm Lịch sử triết học phương Đông,

Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, năm 2012 Trong tác công trình này, tác giả

đã viết, giới thiệu khái quát tư tưởng Nguyễn Trãi trên các mặt như: về thiên mệnh, quan điểm về thời thế, quan điểm về nhân nghĩa gắn liền với yêu nước thương dân, quan điểm dân là gốc, phát huy sức mạnh của dân trong cuộc chiến đánh giặc cứu nước và xây dựng giang sơn đất nước

Trong tác phẩm Lịch sử tư tưởng triết học Việt Nam từ thời kỳ dựng

nước đến đầu thế kỷ XX, do Doãn Chính chủ biên, Nxb Chính trị quốc gia -

sự thật, Hà Nội, năm 2013; đây là cuốn sách khái quát toàn bộ dòng chảy của lịch sử tư tưởng Việt Nam từ thời kỳ dựng nước đến đầu thế kỷ XX Trong đó, ở chương 4, phần I, mục 2 về nội dung tư tưởng triết học thời kỳ

Lê sơ, nhóm tác giả đã khái quát cơ bản về tư tưởng Nguyễn Trãi Tư tưởng

về thế giới, về con người, về vận nước, mệnh vua, về thời thế; tư tưởng về nhân nghĩa gắn liền với yêu nước thương dân, với chiến lược đánh giặc cứu nước, cứu dân, cách đối xử với kẻ thù và xây dựng cuộc sống mới khi đất nước hòa bình

Đặc biệt, phải kể đến công trình Góp phần tìm hiểu tư tưởng triết học

Nguyễn Trãi, công trình của nhóm tác giả Doãn Chính và Bùi Trọng Bắc,

Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội, năm 2015 Đây là công trình

Trang 16

mang tính hệ thống về tư tưởng triết học của Nguyễn Trãi Nhóm tác giả đã tập trung nghiên cứu những quan điểm về thế giới và nhận thức, về xã hội

và nhân sinh trong tư tưởng triết học Nguyễn Trãi; từ đó rút ra những đặc điểm cơ bản, giá trị và ý nghĩa lịch sử trong hệ tư tưởng của ông

Còn có nghiên cứu năm 2002 của Kiều Văn, tác phẩm Giai thoại lịch

sử Việt Nam, Nxb Văn hóa - Thông tin, Hà Nội Từ trang 233 đến trang số

244, Kiều Văn tập trung viết về tư tưởng yêu nước, tư tưởng nhân nghĩa cao

cả của Nguyễn Trãi Nguyễn Trãi phải yêu nước yêu dân thế nào, mới muốn lấy đức nhân để xét tội phạm hòng đem lại an ổn cho nước, cho dân Trong tác phẩm, Kiều Văn gọi Nguyễn Trãi là nhà sư phạm của trẻ thơ bởi ông đưa

ra những tư tưởng khai mở dân chúng, giáo dục tầng lớp trẻ thơ

Hay tác phẩm Tư tưởng Việt Nam từ thế kỷ XV đến thế kỷ XIX, do

Doãn Chính chủ biên, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, năm 2011 Tác phẩm tập hợp nhiều bài viết về các nhà tư tưởng của dân tộc từ XV đến thế kỷ XIX như: Hồ Quý Ly, Nguyễn Trãi, Lê Thánh Tông, Nguyễn Bình Khiêm, Hương Hải Thiền Sư, Lê Quý Đôn, Ngô Thì Nhậm, Nguyễn Du Trong đó từ trang

88 đến trang 137 là những bài viết về tư tưởng của Nguyễn Trãi được tiếp cận trên nhiều khía cạnh khác nhau như: Góp phần tìm hiểu tư tưởng triết học của

Nguyễn Trãi của Doãn Chính; Về tư tưởng nhân nghĩa của Nguyễn Trãi của

Lương Minh Cừ và Nguyễn Thị Hương; Nhân nghĩa - tư tưởng anh hùng

trong lịch sử trung đại Việt Nam của Nguyễn Đức Mạnh; Quan niệm quốc gia, dân tộc trong “Bình ngô đại cáo” của Nguyễn Trãi của Bùi Thị Thu

Hiền Có thể thấy, trong tác phẩm này, những nội dung về tưởng triết học, tư tưởng nhân nghĩa, tư tưởng yêu nước thương dân của Nguyễn Trãi đã được nhóm tác giả khái quát một cách ngắn gọn

Công trình của Lê Văn Quán: Lịch sử tư tưởng chính trị xã hội Việt

Nam thời Lê - Nguyễn, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, năm 2013 Tác

Trang 17

phẩm được chia thành 2 phần 9 chương: Phần một - Lịch sử tư tưởng chính

trị xã hội Việt Nam triều Lê (4 chương), Phần hai - Lịch sử tư tưởng chính trị xã hội Việt Nam triều Nguyễn (5 chương) Trong đó, chương I của phần

một, tác giả làm rõ về bối cảnh lịch sử Việt Nam triều Lê sơ thế kỷ XV; những tư tưởng chính trị - xã hội cơ bản triều Lê sơ thế kỷ XV; tư tưởng của Nguyễn Trãi Khi phân tích tư tưởng của Nguyễn Trãi, tác giả tập trung vào

tư tưởng yêu nước, tư tưởng nhân nghĩa, tư tưởng thân dân và tư tưởng biện chứng của ông Việc phân tích tư tưởng của Nguyễn Trãi được tác giả thực hiện một cách ngắn gọn, súc tích trong khoảng 16 trang (từ trang 30 đến trang 46), nhưng đã đem lại những đóng góp to lớn mang ý nghĩa gợi mở cho các nghiên cứu chuyên sâu sau này

Cũng trong hướng nghiên cứu này, phải kể đến công trình Nguyễn

Trãi cuộc đời và sự nghiệp, Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội, năm 2000 Đây

là tác phẩm chọn lọc, tập trung phân tích kỹ cuộc đời, sự nghiệp hoạt động chính trị, tư tưởng văn hóa của Nguyễn Trãi, gắn liền với cuộc kháng chiến chống Minh và triều đại Lê sơ

Ngoài ra, còn có Luận văn Thạc sĩ của Nguyễn Thị Duyên, năm 2005:

Góp phần tìm hiểu tư tưởng triết học Nguyễn Trãi Tác giả phân tích cơ sở

xã hội, tiền đề lý luận hình thành tư tưởng triết học của Nguyễn Trãi; trình bày những quan điểm triết học cơ bản của Nguyễn Trãi như: quan điểm về thế giới, về vấn đề nhận thức, về xã hội và nhân sinh Trong khi trình bày vấn đề về xã hội, nhân sinh, tác giả đã làm rõ các quan điểm của Nguyễn Trãi về đạo lý làm người, về tư tưởng nhân nghĩa, về nhân dân, về quốc gia dân tộc Đây chính là những nội dung cơ bản của tư tưởng yêu nước

Trên tạp chí Triết học, số 8 (195), tháng 8, năm 2007, bài viết của Trần Nguyên Việt:Về quyết định của Nguyễn Trãi trong quan hệ với Thiền Phật giáo Trần Nguyên Việt đã đưa ra những luận giải để làm sáng tỏ quyết

Trang 18

định của Nguyễn Trãi trong việc chuyển hướng đi theo Thiền Phật giáo, tìm đến các giá trị của Phật giáo, như chân lý giải thoát, tinh thần từ bi hỷ xả của nhà Phật Tác giả kết luận: Nguyễn Trãi tìm đến các giá trị của Phật giáo

để hiểu Phật giáo, để đi đến triết lý phổ quát cho nhân sinh chứ không phải đoạn tuyệt với trần thế để đến cõi Niết bàn

Bài viết Về tư tưởng nhân nghĩa của Nguyễn Trãi, của nhóm tác giả

Lương Minh Cừ và Nguyễn Thị Hương trên Tạp chí Triết học, số 11 (198), tháng 11 năm 2007 Bài viết đã phân tích tư tưởng nhân nghĩa (tư tưởng mang đậm sắc thái của tinh thần yêu nước truyền thống của người Việt Nam) trên nhiều khía cạnh: nhân nghĩa là thương dân, vì dân, an dân; nhân nghĩa là sự khoan dung, độ lượng; nhân nghĩa là lý tưởng xây dựng đất nước thái bình Như vậy, nhân nghĩa ở Nguyễn Trãi chính là yêu nước, thương dân, là đánh giặc cứu nước, cứu dân, là chăm lo đến đời sống của nhân dân trong chiến tranh và sau chiến tranh Từ việc phân tích tư tưởng nhân nghĩa của Nguyễn Trãi, nhóm tác giả đi đến khẳng định ý nghĩa lịch sử to lớn của

tư tưởng này

Hướng thứ ba, là các công trình tập trung nghiên cứu những đặc điểm, giá trị, hạn chế và ý nghĩa lịch sử trong tư tưởng yêu nước của Nguyễn Trãi

Tiêu biểu ở hướng này có các tác phẩm như: Giá trị văn hóa truyền

thống Việt Nam, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh, năm 1993 Đây là một trong

những công trình tâm huyết của GS NGND Trần Văn Giàu Từ góc độ sử học, triết học và đạo đức học, tác giả đã nghiên cứu và đưa ra những kiến giải sâu sắc về các giá trị truyền thống đặc thù của dân tộc Việt Nam; cung cấp cho độc giả một tài liệu quý để nghiên cứu, tìm hiểu về lịch sử đất nước

và truyền thống của dân tộc Tác phẩm được chia thành nhiều chương, trong

đó, ở chương IV, tác giả có nhắc đến một cách khái quát nhưng sâu sắc đến

Trang 19

tư tưởng yêu nước của Nguyễn Trãi và vị trí, vai trò của tư tưởng ấy với dòng chảy của lịch sử tư tưởng Việt Nam nói chung và lịch sử tư tưởng yêu nước Việt Nam nói riêng

Hay tác phẩm Lịch sử tư tưởng Việt Nam gồm 7 tập của Nguyễn Đăng

Thục, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh, tái bản năm 1991 Nhìn chung, đây là công trình nghiên cứu về lịch sử tư tưởng Việt Nam khá phong phú, trong

đó, tập 5 với tiêu đề Tư tưởng Việt Nam thời Hồ (1380 - 1407), với 248

trang, đã khái quát và phân tích các nội dung như: Một là, hoàn cảnh xã hội chính trị cuối thời Trần; Hai là, tư tưởng Nho Phật xung đột; Ba là, tư tưởng Pháp trị của Hồ Quý Ly, trong đó công trình đã chỉ ra sự bất lực và suy thoái của Nhà Trần và vai trò của Hồ Quý Ly trước tình hình khủng hoảng của lịch sử xã hội Việt Nam lúc bấy giờ; Bốn là, lai lịch họ Hồ; Năm là, dẹp đối phương, củng cố thế lực; Sáu là, công cuộc cải cách; Bảy là, Trần Nguyên Đán với huyền học thời Trần; Tám là, nghĩa sĩ với ý thức dân tộc Tập 6 và

tập 7 được trình bày trong một cuốn sách, trong đó tập 6 với tiêu đề Nguyễn

Trã i với khủng hoảng ý thức hệ Lê - Nguyễn (1380 - 1442) với tổng số 302

trang tập sách này đã đi vào phân tích hoàn cảnh đương thời, qua đó làm bật lên tư tưởng yêu nước của Nguyễn Trãi và vai trò vị trí của ông cũng như tư tưởng yêu nước của ông đối với xã hội đương thời

Tiếp đến, đó là các công trình Lịch sử tư tưởng Việt Nam, tập 1 do

Nguyễn Tài Thư chủ biên, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, năm 1993, đã được tập thể tác giả kết cấu thành 7 phần, 23 chương Trong phần thứ 4 của

tác phẩm, với tiêu đề Tư tưởng thời kỳ ổn định và thịnh vượng của chế độ

phong kiến (Thế kỷ XV) được trình bày qua 4 chương, từ trang 233 đến

trang 332 Phần này đã tập trung luận giải tình hình chính trị - xã hội, văn hóa tư tưởng cũng như những ảnh hưởng của nó đối với việc hình thành tư

Trang 20

tưởng thời kỳ này, từ đó công trình đã khái quát những tư tưởng cơ bản của Nguyễn Trãi và vai trò, ý nghĩa lịch sử của những tư tưởng đó

Hay trong cuốn sách Tư tưởng Nguyễn Trãi trong tiến trình lịch sử

Việt Nam của Võ Xuân Đàn, Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội, năm 1996 Nội

dung của cuốn sách này, tác giả tập trung phân tích một số vấn đề: Một là,

Sơ lược về hoàn cảnh xã hội và cuộc đời Nguyễn Trãi Tác giả đã giúp

người đọc thấy được xã hội Đại Việt cuối thế kỷ XIV, đầu thế kỷ XV là xã hội chứa chấp nhiều mâu thuẫn, và bước vào giai đoạn với những biến động sâu sắc Tầng lớp quý tộc, quan liêu Nhà Trần ngày càng suy đồi, tăng cường bốc lột vơ vét để hưởng thụ sau những năm tháng kháng chiến Nhà Trần sụp đổ, Hồ Quý Ly chiếm ngôi vua Trần, tự xưng là hoàng đế, nhưng cải cách của Hồ Quý Ly cũng bị thất bại vì không thu phục được lòng dân Quân Minh đã lợi dụng khủng hoảng của xã hội Đại Việt lúc bấy giờ, tiến hành cuộc chiến tranh xâm lược nước ta Tư tưởng triết học Nguyễn Trãi đã hình thành, phát triển từ hoàn cảnh, điều kiện xã hội này Về cuộc đời Nguyễn Trãi, ông sinh ra trong một gia đình bình dân nghèo, nhưng vốn thông minh, lại chăm chỉ dùi mài kinh sử nên đến tuổi thanh niên ông đã nổi tiếng là người học giỏi trong giới Nho học: “Thanh niên phương dự ái Nho lâm - Thuở thanh niên tiếng thơm ngát rừng Nho” Hai là, nguồn gốc và các

giai đoạn hình thành toàn bộ tư tưởng Nguyễn Trãi Theo tác giả có 3 nhân

tố: Đó là chủ nghĩa yêu nước truyền thống Việt Nam, tiếp thu những yếu tố tích cực từ các học thuyết Nho, Phật, Lão, nhân tố chủ quan: thiên tài

Nguyễn Trãi Ba là, tư tưởng của Nguyễn Trãi Tác giả tập trung giới thiệu,

phân tích tư tưởng yêu nước, tư tưởng chính trị, quân sự, đạo đức, giáo dục

và mỹ học Bốn là, tư tưởng của Nguyễn Trãi trong tiến trình lịch sử Việt

Nam Tác giả tập trung phân tích, đánh giá giá trị, vị trí của tư tưởng Nguyễn Trãi trong lịch sử tư tưởng Việt Nam

Trang 21

Trong tác phẩm Nguyễn Trãi anh hùng giải phóng dân tộc, danh nhân

văn hóa thế giới của Nguyễn Minh Tường, Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội,

năm 2003 Tác giả trình bày 3 chương Chương 1: Gia đình, thân thế của

Nguyễn Trãi Tác giả tập trung phân tích gia đình, hậu duệ của Nguyễn Trãi

và Nguyễn Trãi tham gia khởi nghĩa Lam Sơn và làm quan với Nhà Lê từ

1416 - 1442 Vụ án Lệ Chi Viên và cái chết thảm khốc của Nguyễn Trãi và

việc minh oan cho ông Chương 2: Nguyễn Trãi đại anh hùng dân tộc Tác

giả tập trung phân tích chiến lược đánh vào lòng người, đó là “tâm công” tức làm tan rã đối phương trên lĩnh vực tinh thần và tư tưởng khiến cho đối phương phải tâm phục, những cống hiến của Nguyễn Trãi trên lĩnh vực quân

sự ông chỉ rõ dựa vào dân để đánh lâu dài Xuất phát từ quan điểm nhận thức đúng đắn về vai trò của quần chúng nhân dân trong lịch sử, Nguyễn Trãi chỉ rõ: “Những quy mô to lớn, tráng lệ đều do quân sức khó nhọc của quân và dân”, “hướng về người nhân là dân, chở thuyền, làm lật thuyền cũng là dân” Ông còn chỉ rõ binh quý ở chỗ thần tốc và triệt để dùng chiến tranh du kích Đặc biệt là nắm vững thời - thế Chương 3: Nguyễn Trãi danh

nhân văn hóa thế giới Tác giả tập trung phân tích Nguyễn Trãi nhà tư tưởng

kiệt xuất, tư tưởng về nhân nghĩa, tư tưởng nhân dân, tư tưởng yêu nước

Hay công trình Nguyễn Trãi về tác giả và tác phẩm (tuyển chọn) của

Nguyễn Hữu Sơn, Nxb Giáo dục, Hà Nội, năm 2003 Đây là một công trình khá đồ sộ nghiên cứu một cách hệ thống các giá trị tư tưởng, giá trị nghệ thuật của thơ văn Nguyễn Trãi Ngoài phần giới thiệu, công trình được chia thành ba phần Trong phần giới thiệu và phần thứ nhất của tác phẩm, các tác giả tập hợp những bài giới thiệu, đánh giá khái quát về Nguyễn Trãi và quan điểm tư tưởng của ông Phần thứ hai của tác phẩm là sự phân tích, đánh giá

về các bài văn chính luận, về các bài thơ chữ hán, thơ chữ nôm của Nguyễn Trãi, giúp người đọc có thêm nhiều cách nhìn nhận, tiếp cận văn thơ nguyễn

Trang 22

Trãi Phần thứ ba của cuốn sách này, nhóm tác giả tập hợp những bài viết đánh giá về ảnh hưởng, vị trí, vai trò, ý nghĩa của Nguyễn Trãi cũng như tư tưởng của ông trong dòng chảy của lịch sử Việt Nam nói chung lịch sử tư tưởng Việt Nam nói riêng

Tác phẩm Trên đường tìm hiểu sự nghiệp thơ văn Nguyễn Trãi, Nxb

Văn học, Hà Nội, năm 1980 là công trình tập hợp các bài nghiên cứu về Nguyễn Trãi của các nhà nghiên cứu có tên tuổi đã tiếp cận và đưa ra

những nhận xét, đánh giá về nhiều mặt về Nguyễn Trãi như: Nguyễn Trãi

người anh hùng dân tộc của cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng; Nguyễn Trãi

là người tài đức vẹn toàn của Trần Huy Liệu; Nguyễn Trãi, người đứng đầu một một phái yêu nước thân dân, có lý tưởng xã hội cao cả của Trần

Văn Giàu; “Đại cáo bình Ngô” bản tuyên ngôn của một dân tộc anh hùng

và văn hiến của Vũ Khiêu,… và phần phụ lục ghi lại những lời nhận định,

đánh giá của các nhà tư tưởng Việt Nam qua các thế hệ khác nhau như Nguyễn Mộng Tuấn, Phan Phu Tiên, Lê Thánh Tông, Trần Khắc Kiệm, Ngô Thì Sỹ, Lê Quý Đôn, Bùi Huy Bích, Phạm Đình Hổ, Dương Bá Cung, Nguyễn Năng Tĩnh, Cao Bá Quát…

Đánh giá về sự nghiệp, cuộc đời và cả giá trị tư tưởng của Nguyễn Trãi còn có các tác phẩm như Kỷ niệm 600 năm ngày sinh của Nguyễn Trãi, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, năm 1962; Nguyễn Trãi khí phách và tinh

hoa của dân tộc, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1980; Nguyễn Trãi: Cuộc đời và sự nghiệp của Trần Huy Liệu, Nxb Văn hóa - Thông tin, Hà Nội,

2000; Nguyễn Trãi trên đất Thanh, Nxb Văn hóa - Thông tin, Hà Nội, 2003;

Kỷ yếu hội thảo khoa học về Nguyễn Trãi, Viện Khoa học xã hội tại Thành

phố Hồ Chí Minh, 1980,

Ngoài ra, còn có Luận văn Thạc sĩ của Hoàng Thị Duyên, năm 2012:

Tư tưởng nhân nghĩa của Nguyễn Trãi và ý nghĩa lịch sử của nó Luận văn

Trang 23

được trình bày, phân tích một cách hệ thống những nội dung cơ trong tư tưởng nhân nghĩa của Nguyên Trãi như: tư tưởng yêu nước, thương dân, đánh giặc cứu nước, cứu dân, vì dân, an dân; tư tưởng khoan dung, độ lượng; tư tưởng xây dựng đất nước thái bình, chăm lo đời sống nhân dân…

Từ đó rút ra ý nghĩa của tư tưởng nhân nghĩa đối với lịch sử đương thời và thực tiễn hiện nay

Hay bài viết của Trần Nguyên Việt: Mối quan hệ tam giáo trong tư tưởng Nguyễn Trãi, đăng trên Tạp chí Triết học, số 7 (170), tháng 7, năm

2005 Tác giả tập trung làm rõ tính chất dung hợp của Nho giáo, Phật giáo, Đạo giáo - nét đặc trưng trong tư tưởng của Nguyễn Trãi Thái độ của Nguyễn Trãi với tư cách nhà Nho chân chính đã không bác bỏ những giá trị phổ quát của Phật giáo và Đạo giáo, mà trân trọng và đan xen chúng thành một tư tưởng mang tính đa nguyên, đa dạng, dễ thích ứng với đời, dễ giải thích cho sự đời vốn đầy rẫy những phức tạp Tác giả đưa ra kết luận: dung hợp của tam giáo trong tư tưởng của Nguyễn Trãi đã góp phần nâng chủ nghĩa nhân văn của ông lên một tầm cao

Tóm lại, nghiên cứu về Nguyễn Trãi nói chung và tư tưởng yêu nước của Nguyễn Trãi nói riêng đã có nhiều công trình nghiên cứu dưới nhiều góc

độ khác nhau Tuy nhiên, chưa có công trình nào nghiên cứu một cách hệ thống, chuyên sâu, chuyên biệt về tư tưởng yêu nước của Nguyễn Trãi và ý nghĩa lịch sử của nó Nhưng những công trình kể trên vẫn là những công trình hết sức quý báu để tác giả kế thừa, tiếp thu khi nghiên cứu công trình này

3 Mục đích, nhiệm vụ của đề tài

Mục đích của đề tài: Làm rõ những nội dung trong tư tưởng yêu

nước của Nguyễn Trãi; từ đó rút ra giá trị, ý nghĩa lịch sử của tư tưởng này đối với sự nghiệp xây dựng, bảo vệ, phát triển Tổ quốc Việt Nam hiện nay

Trang 24

Để thực hiện mục đích trên, nhiệm vụ của đề tài cần thực hiện như sau: Thứ nhất, trình bày, phân tích những điều kiện lịch sử - xã hội,

những tiền đề lý luận và quá trình hình thành, phát triển tư tưởng yêu nước của Nguyễn Trãi

Thứ hai, trình bày và phân tích những nội dung tư tưởng yêu nước

cơ bản của Nguyễn Trãi qua các vấn đề như: yêu quê hương đất nước, căm thù quân xâm lược, tự hào truyền thống văn hóa dân tộc, yêu con người Việt Nam,

Thứ ba, rút ra và phân tích những đặc điểm, giá trị, ý nghĩa lịch sử

trong tư tưởng yêu nước của Nguyễn Trãi đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam hiện nay

4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn

Về cơ sở lý luận, tác giả dựa trên thế giới quan, phương pháp luận của

chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử; trên quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam, tư tưởng Hồ Chí Minh và hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam về các vấn đề về văn hóa và phát triển đất nước hiện nay

Về phương pháp nghiên cứu, tác giả sử dụng phương pháp cụ thể như

sau: phương pháp logic, lịch sử, phân tích, tổng hợp, quy nạp, diễn dịch, so sánh, đối chiếu Luận văn tiếp cận đối tượng nghiên cứu dưới góc độ lịch sử triết học, góc độ giá trị

5 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu của luận văn

Đối tượng nghiên cứu của luận văn: tư tưởng của Nguyễn Trãi và ý

nghĩa lịch sử của nó

Phạm vi nghiên cứu của luận văn: Chỉ tập trung nghiên cứu tư tưởng

yêu nước của Nguyễn Trãi và ý nghĩa lịch sử của nó

Trang 25

6 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của luận văn

Về ý nghĩa khoa học: luận văn đã trình bày một cách hệ thống tư

tưởng yêu nước của Nguyễn Trãi, làm rõ những nội dung cơ bản và những đặc điểm trong tư tưởng yêu nước của ông, từ đó giúp người đọc có sự hiểu biết một cách hệ thống, sâu sắc hơn tư tưởng yêu nước của ông

Về ý nghĩa thực tiễn: những giá trị, ý nghĩa lịch sử trong tưởng yêu

nước của Nguyễn Trãi được rút ra trong luận văn có thể là bài học bổ ích đối với công cuộc đổi mới, hội nhập quốc tế, xây dựng và bảo vệ tổ quốc hiện nay Ngoài ra, luận văn có thể làm tài liệu tham khảo cho sinh viên, học viên cao học, nghiên cứu sinh và những ai quan tâm đến vấn đề này

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu gồm 2 chương, 6 tiết

Trang 26

Chương 1 ĐIỀU KIỆN LỊCH SỬ - XÃ HỘI, TIỀN ĐỀ LÝ LUẬN

VÀ QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH, PHÁT TRIỂN TƯ TƯỞNG

YÊU NƯỚC CỦA NGUYỄN TRÃI

1.1 ĐIỀU KIỆN LỊCH SỬ - XÃ HỘI HÌNH THÀNH, PHÁT TRIỂN TƯ TƯỞNG YÊU NƯỚC CỦA NGUYỄN TRÃI

Như Mác đã nói: “Các triết gia không mọc lên như nấm từ trái đất, họ

là sản phẩm của thời đại mình, của dân tộc mình, mà dòng sữa tinh tế nhất, quý giá và vô hình được tập trung lại trong những tư tưởng triết học”[6; 156] Không nằm ngoài quy luật chung ấy; cuộc đời, sự nghiệp và tư tưởng yêu nước của Nguyễn Trãi gắn liền với những điều kiện lịch sử - xã hội

phức tạp của dân tộc Việt Nam cuối thế kỷ XIV đầu thế kỷ XV Cụ thể là hai yếu tố quan trọng sau: thứ nhất, là sự chuyển biến xã hội từ nhà Trần sang nhà Hồ và cuộc kháng chiến chống giặc Minh xâm lược; thứ hai là, công cuộc xây dựng và phát triển triều đại Lê sơ Chính những đặc điểm và điều kiện lịch sử - xã hội thời Nguyễn Trãi sống và hoạt động đã quy định

nội dung tư tưởng yêu nước của Nguyễn Trãi Vì vậy, nghiên cứu tư tưởng yêu nước của Nguyễn Trãi, chúng ta không thể không tìm hiểu về những đặc điểm của hoàn cảnh lịch sử và điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa dân tộc Việt Nam cuối thế kỷ XIV đầu thế kỷ XV; cũng như những tiền đề

lý luận hình thành tư tưởng yêu nước của ông

1.1.1 Điều kiện kinh tế, chính trị hình thành tư tưởng yêu nước

c ủa Nguyễn Trãi

Tư tưởng yêu nước của Nguyễn Trãi trước hết được hình thành trên

cơ sở của quá trình biến đổi, phát triển của kinh tế, chính trị Việt Nam cuối

thế kỷ XIV đến đầu thế kỷ XV Trong đó:

Trang 27

Vào cu ối thời kỳ nhà Trần, kinh tế Đại Việt lâm vào tình trạng khủng

hoảng, suy thoái trầm trọng Nhà nước phong kiến mất khả năng quản lý nền kinh tế, không quan tâm đến sản xuất nông nghiệp, bỏ mặc việc tu sửa các công trình thủy lợi, đê điều; nền sản xuất nông nghiệp đình đốn, khủng

hoảng triền miên, nạn hạn hán, lụt lội, mất mùa, đói kém thường xuyên xảy

ra ở nhiều nơi Nông dân phải bán ruộng đất, vợ con và cả bản thân mình làm nô tì cho quý tộc và tầng lớp địa chủ giàu có Bọn quý tộc, địa chủ nhân

đó xâm chiếm hoặc ép buộc mua rẻ ruộng đất, mở rộng điền trang, tăng thêm số lượng người làm Ngân quỹ quốc gia trống rỗng, triều đình phải nhiều lần trao thưởng quan tước để đổi lấy thóc, tiền bổ sung vào ngân quỹ:

“mùa thu, tháng 8 (1375), xuống chiếu cho những người giàu ở các lộ đem dâng thóc, ban cho tước phẩm theo thứ bậc khác nhau”[82; 183] Triều đình nhà Trần còn tăng cường việc nộp tô thuế: “Theo lệ cũ, các trấn hễ có việc binh thì lệnh cho mỗi huyện có bao nhiêu ruộng thì phải nộp bao nhiêu vàng, bạc, tiền, lụa, không tính thêm số nhân đinh sinh ra, cũng không trừ

bớt theo số người đã chết”[82; 165] Chính sách thuế khóa quá nặng nề đối

với những người dân nghèo thời bấy giờ Còn về chính trị, bộ máy chính quyền nhà Trần, từ triều đình đến địa phương trở nên suy thoái, rệu rã Vua quan nhà Trần và các tầng lớp quý tộc, tôn thất ngày càng lún sâu vào con đường hưởng thụ, ăn chơi mà không quan tâm việc triều chính Bọn quan lại nhân cơ hội đó cũng thả sức bắt quân dân xây dựng dinh thự, đền đài, chùa chiền, nuôi con hát ngày đêm yến tiệc, phóng đãng Bọn gian thần tìm cách lũng đoạn việc triều chính, chia bè kết cánh, ra sức mở rộng điền trang, thái

ấp, đồng thời tăng thêm số lượng tầng lớp nông nô, nô tỳ để củng cố địa vị

của mình Những trung thần tài giỏi, nhân đức nhìn thấy nguy cơ đe dọa triều đình, nhiều lần dâng sớ khuyên can nhưng vua không nghe, đành bất

lực trả ấn từ quan, xin về trí sĩ Nguyễn Trãi sinh ra và lớn lên trong thời kỳ

Trang 28

khủng hoảng ấy, ông thấu hiểu sâu sắc sự sa đọa của vua tôi nhà Trần giai đoạn suy vi Điều đó góp phần hình thành nên tư tưởng thương xót nhân dân, mong muốn bảo vệ nhân dân và đưa ra những đánh giá có ý nghĩa thiết

thực tình hình xã hội và chính sách trị nước tiến bộ Chính vì vậy, mặc dù là con cháu họ Trần nhưng khi nhận thấy nhà Trần đã không còn khả năng khiến cho “xã tắc yên như thái sơn, cơ đồ vững như bàn thạch”[69; 142], Nguyễn Trãi đã ra làm quan dưới triều nhà Hồ, dốc hết sức mình giúp đỡ nhà Hồ xây dựng đất nước

Dưới thời nhà Hồ, những cải cách về nhiều mặt, nhiều lĩnh vực khác

nhau được thực hiện, như: thi hành chính sách “hạn điền”, nhằm hạn chế sự chiếm hữu lớn về ruộng đất trong xã hội; đánh mạnh vào thế lực của tầng

lớp quý tộc nhà Trần, điền trang và địa chủ tư hữu Sau khi ban bố chính sách hạn điền, năm 1398, Hồ Quý Ly lệnh cho các quan về địa phương tiến hành đo đạc, thống kê ruộng đất trong cả nước, người thừa ruộng bị lấy lại nhưng người thiếu ruộng hay không có ruộng cũng không được cấp cho

Việc này mất năm năm mới hoàn thành, tốn kém tiền của của dân nhưng không ích lợi gì cho dân cả Cùng với chính sách hạn điền, nhà Hồ còn thực

hiện cuộc cải cách tiền tệ, nội dung chủ yếu là ban hành tiền giấy, thu hồi

hết tiền đồng Việc ban hành tiền giấy của Hồ Quý Ly là quá sớm khi uy tín nhà Trần và Hồ Quý Ly không đủ để đảm bảo cho giá trị của đồng tiền ấy;

mặt khác tiền giấy lúc ấy chưa phải là nhu cầu thiết yếu đối với một nền kinh tế chưa phát triển cao, cho nên đã vấp phải sự phản ứng của nhân dân Hay nhà Hồ tập trung củng cố thế lực, xây dựng chính quyền trung ương tập quyền vững mạnh Hồ Quý Ly tập hợp một đội ngũ quan lại trung thành, sắp đặt người trong họ và bè phái vào nắm các chức quan trọng trong triều đình

và trong quân đội Trong việc quản lý, điều hành đất nước, Hồ Quý Ly đã

tiến hành cải cách bộ máy tổ chức hành chính cũng như quy định cơ chế làm

Trang 29

việc chặt chẽ, quy định chức tước và chế độ làm việc của lộ, phủ, châu rất nghiêm ngặt Đặc biệt, nhà Hồ chủ trương sử dụng tư tưởng pháp trị trong

việc quản lý nhà nước Pháp luật được sử dụng triệt để để duy trì trật tự xã

hội, trấn áp những mầm mống và biểu hiện phá hoại từ nhiều phái, phục vụ đắc lực cho công cuộc cải cách, củng cố quyền lực của cá nhân, dòng họ nhà

Hồ Đánh giá về những chính sách cải cách của nhà Hồ, Nguyễn Trãi cho

rằng nhà Hồ đã phạm phải sai lầm vì cải cách kinh tế nửa vời, thiếu triệt để; chính trị thì để mất lòng dân, quân sự thì nặng về phòng ngự, nghiêm minh

tới mức hà khắc, tàn bạo dẫn đến chỗ làm mất lòng dân, bị hầu hết mọi người trong xã hội từ giới vương hầu, quý tộc, nho sĩ đến dân chúng lên án,

chống đối

Nhân cơ hội nhà Hồ để mất lòng dân làm cho đất nước càng thêm suy

y ếu, quân Minh tiến hành xâm lược và đô hộ nước ta Sau khi đánh bại triều

Hồ, quân Minh đã thực hiện một loạt các chính sách cai trị nhằm thủ tiêu

nền độc lập dân tộc, phá hủy cơ cấu nhà nước và âm mưu đưa nước ta trở thành quận huyện của Trung Quốc Khi chính quyền đô hộ được thiết lập, chính sách vơ vét và bóc lột được thực hiện với một quy mô rộng lớn và có

tổ chức chặt chẽ Chính sử của nhà Minh thống kê rằng: quân Minh đã cướp được 235.900 súc vật, 13.600 ngàn thạch thóc, 8.670 chiếc thuyền và 2.539.800 vũ khí các loại Quân Minh đặt ra hàng loạt thuế mới, nắm độc quyền sản xuất muối, cấm ngặt mọi hoạt dộng buôn bán thông thương với nước ngoài Ngoài thuế khóa và binh dịch, hàng năm, tất cả dân đinh từ 16 đến 60 tuổi đều phải luân phiên đi lao dịch, phục vụ việc xây dựng thành quách, dinh thự cho quan lại đô hộ Các hình thức bóc lột, cống nạp được ráo riết thực hiện Ngoài ra, quân Minh đổi nước ta thành quận Giao Chỉ,

tiến hành lập chính quyền theo mô hình của Trung Quốc Những chức vụ

chủ chốt trong thành phần quan lại được giao cho người Trung Quốc nắm

Trang 30

giữ Chúng bắt những trẻ em khỏe mạnh, khôi ngô tuấn tú đưa về Trung

Quốc, biến các em thành những tôi đòi trung thành, người thì phục dịch trong cung cấm triều đình nhà Minh, người thì đưa trở về nước làm thổ quan Chúng còn ra sức xây dựng lực lượng thổ binh theo lối cưỡng bức: cứ trung bình hai hoặc ba suất đinh, chúng lấy một suất lính; nhưng thổ quân thường chỉ làm nhiệm vụ canh phòng, bởi quân Minh không thực sự tin tưởng họ Trong thời gian nhà Minh xâm lược, chúng đã thực thi nhiều chính sách đô hộ tàn bạo, tước đoạt mọi vũ khí trong tay nhân dân ta, thành

lập một hệ thống đồn ải và thành lũy dày đặc để sẵn sàng đè bẹp mọi phong trào phản kháng, đấu tranh với nhiều hình thức và thủ đoạn man rợ

Nguyễn Trãi chứng kiến muôn vàn tội ác của quân Minh, ông đã vạch

trần tội ác của chúng: “Chính sự hà khắc, hình phạt quá lạm, không có cái gì

là không cùng cực Cấm muối mắm, làm cho dân thiếu cái ăn; nặng sưu thuế, làm cho dân hết tài sản Lặn xuống biển mò ngọc, đào vào núi tìm vàng Ngà voi, sừng tê, lông trả, gỗ thơm phàm ta có sản vật gì, [chúng] ắt

ra sức vơ vét, không bỏ sót một thứ, để nhét cho đầy túi tham như hang hốc [của chúng] Phàm nhân dân ta [có ai] chúng cho là phản trắc, khó trị, tất bị [chúng] dùng mưu kế đánh lừa đưa đi nơi khác, nhằm thỏa mãn tính khát máu [của chúng] Lại xây hơn mười ngôi thành, chia quân đóng giữ để trấn

áp nhân dân, khiến cho các bậc mưu trí của ta không thể hành động gì được Còn khéo lập danh sách, bắt nhận chức quan, vờ cho vào chầu để đưa đi an trí nơi đất Bắc”[69; 319] Hành động xâm lược nước ta của giặc Minh đã là trái với “đạo trời”, nay chúng còn ngang ngược cướp bóc, hà hiếp khiến dân

ta càng thêm phẫn nộ Đau lòng trước những nỗi đau mà nhân dân ta phải gánh chịu, nhưng cũng rất tự hào về tinh thần bất khuất của nhân dân qua các phong trào yêu nước, Nguyễn Trãi viết: “khi người Ngô chiếm nước, không biết lấy khoan thay bạo mà càng tàn bạo thêm Chuyên chém giết để

Trang 31

ra oai; coi mạng người như cỏ rác Trói bắt vợ con của dân ta; cuốc đào lăng

mộ của nước ta Cấm cá muối để dân khốn thức ăn; đòi gấm lụa để dân thiếu

đồ mặc, ngọc vàng vơ vét hết; tê tượng cung cấp luôn Chính thì hà khắc, hình thì thảm thương, dân không sống nổi Kẻ vô tội kêu trời oán trách; người trung nghĩa nghiến răng căm hờn, đều muốn liều chết diệt giặc Vì thế

một khi cờ nghĩa mới phất, bốn phương nổi dậy như ong”[69; 141]

Hàng loạt các cuộc khởi nghĩa chống quân Minh của nhân dân ta liên

tiếp nổ ra ở khắp mọi miền đất nước Mặc dù, Nguyễn Trãi có tấm lòng yêu nước, thương dân vô cùng mạnh mẽ và sâu sắc nhưng ông không đi theo các phong trào ấy Ông nhận định rõ rằng, các phong trào khởi nghĩa ấy là chưa

dựa hẳn vào những người nghèo khổ, chưa có lãnh tụ tài năng, chưa có đường lối đúng đắn, chưa hội tụ đủ các yếu tố để đưa đến thắng lợi Trước

sự đàn áp tàn bạo của quân Minh, các phong trào lần lượt thất bại Khi phong trào khởi nghĩa Lam Sơn do Lê Lợi lãnh đạo có đủ những điều kiện

để đi đến kháng chiến thắng lợi, Nguyễn Trãi - một nhân sĩ ái quốc và thức

thời đã đi theo Lê Lợi Mười năm giúp Lê Lợi trong việc lãnh đạo khởi nghĩa, mười năm đấu tranh quyết liệt với quân Minh và bọn gian thần phản nước đã tôi luyện nên con người Nguyễn Trãi và phát triển tư tưởng của ông

mà trước hết là tư tưởng yêu nước Bằng lòng yêu nước, thương dân sâu sắc, Nguyễn Trãi đã có những cống hiến vô cùng to lớn, phát huy những yếu tố tích cực tiến bộ trên các mặt chính trị, quân sự; đưa cuộc khởi nghĩa đến

thắng lợi, lập lại hòa bình đất nước Ngày 29 tháng 4 năm 1428, Lê Lợi chính thức lên ngôi hoàng đế ở Đông Kinh (Thăng Long), khôi phục tên nước là Đại Việt mở đầu triều đại Lê Sơ Sự nghiệp cứu quốc hoàn thành, Nguyễn Trãi tiếp tục dốc lòng phò tá vua Lê, thực hiện chủ trương kiến

quốc Đất nước Đại Việt dần dần được hồi phục và phát triển lên một đỉnh cao mới về kinh tế - chính trị, quân đội, văn hóa, giáo dục Trong đó: Về

Trang 32

kinh tế: sau khi giành được độc lập, nhà nước và nhân dân ta đã chung tay

khôi phục sản xuất, hàn gắn các vết thương chiến tranh và đưa nền kinh tế phát triển lên một giai đoạn mới Ở thời kỳ nhà Lê đã thực hiện chính sách cho 25 vạn quân về làm ruộng, lấy lại đất cũ của mình nhằm khôi phục sản

xuất; bên cạnh đó cũng kêu gọi nhân dân phiêu tán do loạn lạc chiến tranh

trở về quê cũ, cùng nhau xây dựng lại xóm làng, đồn điền, nghề nghiệp Để đảm bảo cho phát triển sản xuất, Lê Thái Tổ chỉ đạo cho các làng xã làm sổ

ruộng đất và trên cơ sở đó nhà nước chủ động phân phối, quản lý Trên cơ

sở của sự phát triển nông nghiệp và thủ công nghiệp, việc lưu thông buôn bán hàng hóa cũng được phục hồi và ngày càng mở rộng Các chợ địa phương được hình thành ở các làng và liên làng, vừa có tính chất riêng vừa

có tính chất chung cho nhân dân toàn vùng Nền kinh tế nông nghiệp, công thương nghiệp xã hội Đại Việt thời kỳ Lê Sơ phát triển thêm một bước đáng

kể so với trước Quan hệ hàng hóa - tiền tệ đã tác động vào hệ thống quan

lại, cũng như toàn bộ đời sống xã hội, điều đó gây nên sự đổi thay trong hệ

thống chính trị và mang lại sự đổi thay cho đất nước Còn Về chính trị: bộ

máy nhà nước thời Lê Sơ được thiết lập theo mô hình quân chủ tuyệt đối Vai trò của nhà vua được đề cao thành chủ nghĩa “Tôn quân”, vua được coi

là người giữ mệnh trời, thay trời cai trị dân chúng Nhà vua là tổng chỉ huy quân đội và trực tiếp điều khiển triều đình Quyền lực của các quý tộc, tôn

thất bị hạn chế; một số công thần có công lớn, có quyền lực và uy tín cao cũng bị nghi kỵ và lần lượt bị giết hại như Trần Nguyên Hãn, Phạm Văn

Xảo, Lê Khả, Lê Sát, Lưu Nhân Chú và có cả Nguyễn Trãi Dẫu vậy, Nguyễn Trãi vẫn giữ nguyên vẹn tấm lòng vì dân vì nước: “Coi công việc

của quốc gia làm công việc của mình; lấy điều lo của sinh dân làm điều lo thiết kỷ Hết lòng hết sức, giúp đỡ nhà vua Khiến cho xã tắc yên như thái

sơn, cơ đồ vững như bàn thạch”[69; 142] Hay Về quân đội, quốc phòng:

Trang 33

Thời Lê Sơ có một tổ chức quân đội mạnh, được đào tạo, huấn luyện kỹ, có nhiều kinh nghiệm chiến đấu Sau thắng lợi đánh đuổi quân Minh, giành quyền tự chủ, việc rèn luyện quân đội vẫn rất được chú ý Hàng năm đều có ngày duyệt tập ở Kinh thành hay địa phương, chế độ tuyển quân được qui định hết sức chặt chẽ, đảm bảo quân lính khi cần kíp Vấn đề bảo vệ biên

giới, nhất là biên giới phía bắc, luôn luôn được nhà vua quan tâm Các trấn biên cương đều được bố trí quân hùng, tướng giỏi Những tích cực đạt được trong quân đội và quốc phòng thời kỳ này, có đóng góp không nhỏ từ tư tưởng bảo vệ độc lập dân tộc, toàn vẹn lãnh thổ, chăm lo đến đời sống nhân dân của Nguyễn Trãi Ông viết: “Nay thiên hạ đã về một mối Hãy chỉnh đốn đội ngũ, rèn luyện quân lính”[69; 142] và đặc biệt là cần phải “Chăm lo dân đen, ra chính sách ắt trước nghĩ người cô độc giữ gìn bờ cõi, vỗ yên nhân dân”[69; 173]

Có thể thấy rằng cuộc đời, tư tưởng của Nguyễn Trãi đã trải qua giai đoạn lịch sử Việt Nam đầy biến động, ông sinh ra vào cuối nhà Trần, làm quan dưới nhà Hồ, chứng kiến quân Minh chiếm nước cho đến tham gia vào nghĩa quân Lam Sơn Thực tiễn sinh động ấy đã đặt ra cho Nguyễn Trãi

những trăn trở về đường lối chống giặc ngoại xâm, giải phóng dân tộc, giải phóng con người; xây dựng, bảo vệ và phát triển đất nước Đây là những điều kiện kinh tế - chính trị quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình hình thành tư tưởng yêu nước của Nguyễn Trãi

1.1.2 Điều kiện văn hóa, giáo dục hình thành tư tưởng yêu nước

c ủa Nguyễn Trãi

Bên cạnh đó tư tưởng yêu nước của Nguyễn Trãi còn được hình thành

và phát triển trên cơ sở của điều kiện văn hóa, giáo dục giai đoạn nửa cuối

thế kỷ XIV nửa đầu thế kỷ XV Trong thời kỳ này tình hình văn hóa giáo

dục Đại Việt cũng có những chuyển biến hết sức phức tạp Về mặt xã hội:

Trang 34

Vua quan, quý tộc nhà Trần hoang dâm, phóng túng chiếm đoạt ruộng đất

của dân, bắt dân chúng nộp tô thuế nặng, lại bắt phải cống nạp, đi phu phen, lao dịch, đi lính khiến cho nhân dân khốn khổ, nạn đói, nạn trộm cướp hoành hành ở nhiều nơi Mâu thuẫn của dân chúng đối với triều đình nhà

Trần ngày càng gay gắt Từ năm 1343, nhiều cuộc đấu tranh của nông dân nghèo, nông nô và nô tì nổ ra ở khắp nơi Nhà Trần ra sức đàn áp khiến các phong trào lắng xuống một thời gian, nhưng rồi sau đó lại bùng lên mãnh

liệt với nhiều cuộc khởi nghĩa lan rộng khắp nơi Cùng đó, từ đầu những năm 60 của thế kỷ XIV, nhà Trần còn phải đương đầu với cuộc chiến tranh

với Chămpa Cuộc chiến tranh với Chămpa đã chứng tỏ sự suy yếu của nhà

Trần, đồng thời gây ra nhiều khó khăn cho triều đình và nhân dân đương

thời Cuộc khủng hoảng về văn hóa - xã hội Đại Việt thời kỳ này ngày càng

trở nên trầm trọng; đẩy nước ta đến nguy cơ xâm lược từ phương Bắc

V ề mặt văn hóa, tư tưởng: Phật giáo, với sự xuất hiện của Thiền phái

Trúc Lâm Yên Tử đã trở thành quốc giáo và là yếu tố chủ đạo của ý thức hệ phong kiến nhà Trần Xuất phát từ giáo lý Thiền tông, Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử lấy sự gắn liền giữa “Tâm” và “Phật”, “Phật ở trong lòng” làm hạt nhân Nhưng đến thế kỷ XIV Phật giáo sa sút, Nho giáo phát triển mạnh mẽ

và chiếm ưu thế trong sinh hoạt xã hội Các Nho sĩ muốn xây dựng lại chế

độ phong kiến trung ương tập quyền theo quan điểm của Nho giáo và mô hình của phương bắc bấy giờ Đồng thời họ xúc tiến việc đào tạo những con người phù hợp với chế độ xã hội ấy, theo phương châm: “Làm sĩ đại phu, không phải đạo Nghiêu Thuấn thì không trình bày, không phải đạo Khổng

Mạnh thì không trước thuật”[82; 135] Như vậy, cuối thế kỷ XIV, trên lĩnh

vực văn hóa - xã hội đã xuất hiện cuộc đấu tranh gay gắt giữa hai khuynh hướng: khuynh hướng đại biểu cho tầng lớp quý tộc nhà Trần, trung thành

với tư tưởng của Phật giáo và khuynh hướng đại biểu cho tầng lớp quý tộc

Trang 35

quan liêu - nho sĩ chịu ảnh hưởng sâu đậm từ tư tưởng của Tống Nho Cả hai khuynh hướng này đều bộc lộ những mặt hạn chế, thể hiện sự bế tắc trong tư tưởng và đường lối chính trị xã hội Đại Việt những năm cuối thế kỷ XIV,

dẫn đến chế độ nhà Trần suy vong, tạo tiền đề dẫn đến cuộc cải cách của Hồ Quý Ly

Về xã hội: bên cạnh thực hiện chính sách hạn điền cũng như cải cách

tiền tệ, Nhà Hồ còn ban hành chính sách “hạn nô” vào năm 1401 Xuất phát

từ thực trạng lực lượng nông nô, nô tỳ trong các điền trang, thái ấp của các vương hầu, quý tộc nhà Trần tăng lên đông đảo và một loạt các cuộc khởi nghĩa của nông nô và nô tỳ diễn ra khắp nơi và kéo dài nhiều năm khiến xã

hội xáo trộn Chính sách hạn nô nhằm đánh vào thế lực của quý tộc phong

kiến nhà Trần và góp phần xoa dịu nỗi bất bình của đa số nhân dân lao động,

hạn chế sự rối loạn nói trên Về thực chất, chính sách hạn nô không phải là

sự đề cao thân phận của nông nô và nô tỳ; cũng không phải là sự giải phóng cho nông nô và nô tỳ; nó chỉ là hình thức thay đổi danh nghĩa các nô tỳ riêng

của cá nhân thành các nô tỳ công của nhà nước

V ề giáo dục: Hồ Quý Ly phê phán Khổng Tử, chê trách Tống Nho, đề

cao Chu Công, đề cao chữ Nôm Năm 1395, ông tự mình dịch thiên Vô dật (không lười biếng) trong Kinh Thi ra chữ Nôm, nêu tấm gương của các vua

hiền thời xưa để răn dạy đời sau Cùng với việc đề cao chữ Nôm, nhà Hồ còn chấn hưng lễ nhạc, sửa đổi nghi thức lễ tang, khôi phục lại các nghi lễ truyền thống nhằm nâng cao ý thức dân tộc; chủ trương xây dựng một nền giáo dục có tính thực tiễn, gắn bó với đời sống, bớt tính kinh viện giáo điều, kho cứng Sửa đổi chế độ thi cử, đặt kỳ thi hương ở địa phương, thi hội ở kinh thành Những người đã thi hội phải làm thêm một bài văn sách do vua

ra để định thứ bậc Hồ Quý Ly đưa ra những cải cách về cả hình thức và nội dung thi cử buộc người học phải tự suy nghĩ, sáng tạo và liên kết với đời

Trang 36

sông thực tế Ông cho mở trường và đặt học quan ở các châu, phủ thuộc lộ Kinh Bắc, Sơn Nam, Hải Đông và cấp ruộng đất cho các châu, phủ để tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển giáo dục Đây là tư tưởng cải cách có ý nghĩa tiến bộ, tích cực, táo bạo nhưng chưa triệt để, chưa phù hợp với điều

kiện với hoàn cảnh lịch sử xã hội lúc bấy giờ Nó bộc lộ nhiều hạn chế, sai

lầm làm ảnh hưởng không nhỏ đến hình ảnh của Hồ Quý Ly, khiến nhà Hồ không tập hợp, lôi kéo được quần chúng đứng về phía mình mà còn vấp phải

sự chống đối của đông đảo quân chúng nhân dân Chính vì vậy, khi quân Minh ồ ạt kéo vào xâm lược nước ta, nhà Hồ đã nhanh chóng thất bại Nhìn vào tình hình văn hóa - xã hội lúc bấy giờ, Nguyễn Trãi đánh giá:

“Vì họ Hồ chính sự phiền hà,

Để trong nước nhân dân oán bạn,

Quân cường Minh đã thừa cơ tứ ngược,

Bọn gian tà còn bán nước cầu vinh”[69; 28]

Sau khi nhà Hồ sụp đổ, nước ta rơi vào ách đô hộ của nhà Minh trong hai thập kỷ (1407-1427) Trong suốt hai thập kỷ đó, nhà Minh ra sức đồng hóa dân tộc ta, dùng nhiều thủ đoạn để tiêu diệt nền văn hóa mang bản sắc dân tộc Việt, âm mưu biến xã hội nước ta thành một xã hội theo khuôn mẫu chính quốc Trước hết nhà Minh thực hiện chính sách bắt người rất tàn bạo Riêng Phó tướng Trương Phụ đã bắt hơn 9.000 người Việt ta đem về Trung Quốc Những người bị bắt đi là những bậc tài ba như nho sĩ, thầy thuốc, thợ thủ công lành nghề, còn có cả phụ nữ và trẻ em Quân giặc hoành hành ngang ngược, Nguyễn Trãi vô cùng căm giận mà vạch trần những tội ác của chúng: “giam giết kẻ trung lương, ngược đãi người cô độc”[69; 319], “đi đến đâu chém giết thả cửa, hoặc chất thây người làm núi, hoặc rút ruột người quấn vào cây, hoặc rán thịt người lấy mỡ, hoặc làm nhục hình bào lạc

để mua vui, thậm chí có người theo lệnh giặc, mổ bụng người có thai, cắt tay

Trang 37

của người mẹ và con để dâng cho giặc”[97; 113] Trước những tội ác của quân giặc, Nguyễn Trãi đã phải bất bình mà thốt lên rằng: “Bại nhân nghĩa nát cả càn khôn”[69; 29]

Không chỉ bắt người, quân Minh còn tịch thu và phá hủy hết các sách

về văn học, lịch sử, địa lý, quân sự, các giấy tờ, các công trình văn hóa của

xã hội Đại Việt Lịch sử Việt Nam ghi chép lại: “Khi tiến quân vào An Nam thì trừ những bản Kinh về Thích và Đạo không hủy, còn tất cả các bản in sách, các giấy tờ cho đến sách học của trẻ con như loại “thượng, đại, nhân, khâu, ất, kỷ”, thì nhất thiết một mảnh giấy, một chữ đều phải thiêu hủy hết Trong nước ấy, chỉ có những bia do Trung Quốc dựng lên ngày trước thì để lại, còn những bia do An Nam lập ra thì phải phá cho hết, một chữ cũng không được để lại”[56; 281] Hành động dã man này đã gây nên những tổn thất lớn lao đối với kho tàng văn hóa của dân tộc ta Cùng với phá hoại nền văn hóa của ta, nhà Minh còn bắt nhân dân thay đổi những phong tục tập quán lâu đời để theo những phong tục tập quán của chính quyền đô hộ Chúng bắt người dân không được nhuộm răng đen, đàn ông không được cắt tóc, phụ nữ không được mặc váy mà phải mặc quần dài, áo ngắn theo kiểu người Hoa Chế độ giáo dục và thi cử gần như bị bãi bỏ hoàn toàn Trong khi đó, các hoạt động mê tín dị đoan lại được quân Minh tạo điều kiện phát triển mạnh mẽ Mặc dù vậy, chính sách đồng hóa của nhà Minh vẫn hoàn toàn thất bại Khắp nơi trong cả nước, nhân dân ta với truyền thống yêu nước nồng nàn, tinh thần độc lập dân tộc mạnh mẽ đã đứng lên, kiên quyết đấu tranh chống lại sự áp bức bóc lột của giặc Minh, giành lại quyền độc lập, bảo vệ nền văn hóa truyền thống của dân tộc Nguyễn Trãi lúc bấy giờ

bị giặc Minh giam lỏng ở Đông Quan, bị giám sát mọi hoạt động, việc này khiến ông không thể viết ra những tư tưởng chống đối quân Minh Nhưng sau này, khi cùng nghĩa quân Lam Sơn đánh bại, khi giúp Lê Lợi xây dựng

Trang 38

đất nước, Nguyễn Trãi đã rất có ý thức trong việc bảo vệ, giữ gìn phong tục tập quán, văn hóa lâu đời của dân tộc Ông viết: “Người trong nước không được bắt chước ngôn ngữ và y phục của các nước Ngô, Chiêm, Lào, Xiêm, Chân Lạp để làm loạn phong tục trong nước”[69; 481]

Thất bại của nhà Hồ đã khẳng định rằng, muốn xây dựng chế độ xã hội phải dựa vào dân, nếu không được nhân dân ủng hộ thì sớm hay muộn cũng đi tới diệt vong Thực tiễn này đã đưa đến nhận định của Nguyễn Trãi

về vai trò của nhân dân: “Lật thuyền, thấm thía: dân như nước”[68; 84],

“quy mô lớn lao lộng lẫy, đều là sức lao khổ của quân dân”[69; 135] Từ nhận định đúng đắn về vai trò, vị trí của nhân dân, Nguyễn Trãi chủ trương:

“Đức trời hiếu sinh, sức thần bất sát Cất quân nhân nghĩa cốt để yên dân Ai theo lẽ ấy thì gặp mọi điều phúc, làm trái lẽ ấy thì vấp mọi tai ương”[68; 655] Thế nhưng, khi quân Minh vừa vào nước ta, chúng liền thể hiện nhiều thủ đoạn hiểm độc, ngang ngược hoành hành khiến cho trời chán ghét, người căm hận, khắp phương nổi dậy mà đấu tranh Nguyễn Trãi viết: “khi người Ngô chiếm nước, không biết lấy khoan thay bạo mà càng tàn bạo thêm Chuyên chém giết để ra oai; coi mạng người như cỏ rác Trói bắt vợ con của dân ta; cuốc đào lăng mộ của nước ta Cấm cá muối để dân khốn thức ăn; đòi gấm lụa để dân thiếu đồ mặc, ngọc vàng vơ vét hết; tê tượng cung cấp luôn Chính thì hà khắc, hình thì thảm thương, dân không sống nổi

Kẻ vô tội kêu trời oán trách; người trung nghĩa nghiến răng căm hờn, đều muốn liều chết diệt giặc.Vì thế một khi cờ nghĩa mới phất, bốn phương nổi dậy như ong, mà giặc Ngô liền bị bại diệt Bởi chúng chỉ biết cướp nước bằng bạo, mà không biết vỗ về bằng ân”[69; 141] Thắng lợi lẫy lừng của nghĩa quân Lam Sơn chính là minh chứng sinh động cho chân lý ấy

Trong điều kiện ấy, sau khi nhà Hồ sụp đổ, đất nước bị quân Minh xâm lược, Nguyễn Trãi đã phiêu dạt mười năm, ẩn náu trong nhân dân, ông

Trang 39

luôn suy nghĩ, trăn trở tìm ra kế sách làm theo lời cha dặn: rửa thẹn cho

nước, trả thù cho cha Vì vậy, khi thời cơ đến, Nguyễn Trãi tìm đến với Lê

Lợi, với nghĩa quân Lam Sơn, trở thành quân sư kiệt xuất cho Lê Lợi: “Coi công việc của quốc gia làm công việc của mình; lấy điều lo của sinh dân làm điều lo thiết kỷ Hết lòng hết sức, giúp đỡ nhà vua Khiến cho xã tắc yên như thái sơn, cơ đồ vững như bàn thạch”[69; 142] Có thể thấy rằng, toàn bộ tư tưởng của Nguyễn Trãi nói chung và tư tưởng yêu nước của ông nói riêng không chỉ phản ánh sâu sắc, sinh động thực tiễn lịch sử xã hội Đại Việt thế

kỷ XIV - XV và cuộc kháng chiến chống quân Minh; mà còn là sự phản ánh nhu cầu xây dựng nhà nước Đại Việt vững mạnh thời hậu Lê trên tất cả các mặt của đời sống xã hội

Trên cơ sở kinh tế của xã hội Đại Việt thế kỷ XV, cơ cấu giai cấp xã hội thời kỳ này ít nhiều có sự thay đổi Trong xã hội có hai giai cấp chính được xác lập ngày càng rõ nét là giai cấp địa chủ phong kiến và giai cấp nông dân Giai cấp địa chủ phong kiến lại được chia làm hai tầng lớp chính

là quý tộc, quan chức trung cao cấp và địa chủ thường Trong đó tầng lớp địa chủ thường hầu như rải ra ở các làng, xã và dần dần họ trở thành những người chủ về mọi mặt trong đời sống xã hội Giai cấp nông dân chiếm tuyệt đại đa số trong xã hội, họ sống chủ yếu ở các làng xã, bao gồm nông dân tư hữu, tá điền và một ít nông nô Phần lớn nông dân được chia ruộng đất công,

tư liệu sản xuất chủ yếu cày cấy sinh sống làm nghĩa vụ cho nhà nước và ít nhiều cũng được học hành Nhà nước cho phép những nông dân nghèo không có ruộng đất có thể tập hợp lại cùng nhau đi khai hoang xây dựng làng xã mới, đồng ruộng mới Đất đai khai phá được họ chia nhau làm ruộng

tư và dành một phần làm ruộng công nộp thuế Tầng lớp thợ thủ công và thương nhân ngày càng đông hơn nhưng chưa trở thành một lực lượng lớn mạnh Nô tỳ vẫn còn là một tầng lớp đáng kể trong xã hội Số đông trong họ

Trang 40

là người Hoa hoặc dân tộc ít người Pháp luật nhà Lê nghiêm cấm việc bán mình làm nô tỳ hoặc bắt dân đinh tự do làm nô tỳ Cuộc đấu tranh của nô tỳ (bỏ trốn) và các lệnh cấm bắt, mua bán người thiểu số làm nô đã giảm dần

số lượng nô tỳ và cuối cùng xóa bỏ nó

Nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng về đào tạo nhân tài, tuyển chọn những người có đủ tiêu chuẩn vào làm việc trong bộ máy nhà nước phong kiến, giáo dục khoa cử thời kỳ này được hết sức chú trọng Quốc Tử Giám thời kỳ Lê sơ đã được mở rộng đối tượng học tập và tuyển sinh Những người học giỏi xuất thân từ những gia đình bình dân cũng được tham gia học tập và thi cử Hệ thống trường học ở các địa phương được tổ chức đến cấp phủ, huyện và cấp xã Quy chế thi cử của triều đình cũng được củng

cố, hoàn thiện Cả nước được tổ chức 2 cấp thi: Ở địa phương tổ chức thi Hương và Quốc gia tổ chức thi Hội, thi Đình Học vị thi Hương là Hương cống, học vị thi Hội và thi Đình là Tiến sỹ, với 3 cấp: Tiến sỹ cập đệ (gồm Trạng nguyên, Bảng nhãn, Thám hoa), Tiến sỹ xuất thân và đồng Tiến sỹ xuất thân Đi liền với chế độ thi cử là ban hành, thi hành chính sách trọng kẻ

sỹ, như tổ chức các lễ xướng danh, ban phát mũ áo, thiết yến tiệc, vinh quy bái tổ Tất cả những nhân vật đỗ tiến sỹ đều được khắc vào bia đá đặt ở Văn miếu Quốc Tử giám

Trong đời sống tinh thần xã hội diễn ra cuộc phê phán, đấu tranh khá gay gắt giữa Phật giáo và Nho giáo Phật giáo bước vào thời kỳ suy tàn, Nho giáo phát triển, chiếm ưu thế và được đề cao như một hệ tư tưởng chính thống của nhà nước phong kiến, làm cơ sở tư tưởng cho chế độ quân chủ quan liêu Lê Thánh Tông đã cho ban bố trong nhân dân “24 điều giáo huấn”

để trên cơ sở đó nhằm củng cố những nguyên tắc cơ bản về đạo đức và lễ giáo Nho giáo Từ chỗ đề cao Nho giáo, các vua thời Lê sơ đã hạn chế và chủ trương kiểm soát những tôn giáo phi chính thống như Phật giáo và Đạo

Ngày đăng: 23/04/2021, 22:52

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w