MỞ ĐẦU1.Lý do chọn đề tàiTư tưởng Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX phát triển phong phú sinh động nhưng cũng nhiều biến động. Những vấn đề lý luận và thực tiễn lớn về giữ gìn các giá trị truyền thống và tiếp thu các giá trị mới được du nhập; kết hợp giữa các tư tưởng triết học phương Đông và phương Tây đều hướng vào việc giải quyết các nhiệm vụ thực tiễn đặt ra trong lịch sử cũng như đương đại. Lịch sử đã minh chứng, trong thời kỳ khủng hoảng tư tưởng, lực lượng nòng cốt của công cuộc tiếp thu, đổi mới tư tưởng và xã hội cuối thể kỷ XIX đầu thế kỷ XX là đội ngũ trí thức, đi tiên phong là các nho sĩ duy tân yêu nước. Đặc biệt là quá trình chuyển biến , đổi mới tư tưởng của Phan Châu Trinh cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX diễn ra trong những bối cảnh những biến chuyển của lịch sử xã hội Việt Nam và thế giới với tư cách người trí thức luôn tự nhiệm với dân tộc. Có thể nói sự tiếp biến tư tưởng Đông Tây của các nhà Nho nói chung và của Phan Châu Trinh nói riêng thể hiện logic phát triển của lịch sử tư tưởng Việt Nam, đáp ứng yêu cầu lịch sử xã hội. Quá trình chuyển biến tư tưởng của Phan Châu Trinh về mặt chính trị ttrong giai đoạn này có vai trò như là dấu gạch nối cần thiết cho sự truyền bá và phát triển của tư tưởng cách mạng vào Việt Nam giai đoạn sau. Do vậy, việc nghiên cứu quá trình chuyển biến tư tưởng của nho sĩ Việt Nam, đặc biệt là sự tiếp biến tư tưởng Đông Tây của Phan Châu Trinh cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, theo tôi, vừa là đề tài nghiên cứu khoa học cơ bản, vừa góp phần giải quyết các vấn đề thực tiễn của công cuộc đổi mới và phát triển đất nước hiện nay. Chính vì vậy dưới đây tôi xin phép được trình bày rõ hơn về “sự tiếp biến tư tưởng Đông Tây của Phan Châu Trinh về chính trị “.2.Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tàiCó thể nói rằng Phan Châu Trinh là một trong những nhà cách mạng, nhà tư tưởng lớn của Việt Nam vào những năm cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX. Nghiên cứu về Phan Châu Trinh và tư tưởng của ông đã thu hút được sự quan tâm đông đảo của các nhà khoa học nhà nghiên cứu về nhiều vấn đề với nhiều công trình khác nhau. Các công trình đó tập trung chủ yếu theo một số hướng nghiên cứu chính như sau: Hướng thứ nhất là các công trình nghiên cứu riêng về cuộc đời sự nghiệp của Phan Châu Trinh. Tiểu biểu nhất phải kể đến là các công trình: “ Phan Châu Trinh thân thế và sự nghiệp”, nhà xuất bản Đà Nẵng, năm 1992 của giáo sư Huỳnh Lý. Tiếp đến là “tuyển tập Phan Châu Trinh”, xuất bản Đà Nẵng, năm 1995 của Nguyễn Văn Dương. Ngoài ra còn có tác phẩm “Phan Châu Trinh cuộc đời và tác phẩm”, nhà xuất bản thành phố Hồ Chí Minh năm 1987 của Nguyễn Quang Thắng . “Phong trào Duy Tân với khuôn mặt tiêu biểu “, nhà xuất bản Văn hóa Thông tin Hà Nội, năm 2006 của Nguyễn Quang Thắng. Hướng thứ hai là các công trình nghiên cứu cụ thể nội dung bước chuyển biến tư tưởng Phan Châu Trinh ở giai đoạn lịch sử cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX qua đó chỉ ra ý nghĩa và hạn chế của tư tưởng. Trước hết phải kể đến các công trình có liên quan như “Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX”, nhà xuất bản Chính trị quốc gia Hà Nội, năm 2005 của tập thể tác giả Phó giáo sư Tiến sĩ Trương Văn Trung, Phó giáo sư Tiến sĩ Doãn Chính đồng chủ biên. “ Quá trình chuyển biến tư tưởng chính trị Việt Nam cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ thứ 20 qua các nhân vật tiêu biểu” của Phó giáo sư Tiến sĩ Phạm Chính và thạc sĩ Phạm Đào Thịnh. Cũng theo hướng nghiên cứu này còn có các hội thảo về chuyên đề vấn đề Phan Châu Trinh do các nghiên cứu sinh chuyên ngành triết học và lịch sử chủ trì năm 1964 1965 năm 1964 (số 66 67 68) là hàng loạt bài đánh giá Phan Châu Trinh của tác giả Duy Minh. “Góp mấy ý kiến đánh giá Phan Châu Trinh” của tác giả lượng Khê . Tác giả Nguyễn Đức với bài “Phan Chu Trinh với nhiệm vụ chống Đế quốc trong cách mạng Việt Nam”,…Như vậy các công trình nghiên cứu trên đây đã đề cập nhiều vấn đề khác nhau và đã đạt được những kết quả nhất định cả về mặt lý luận thực tiễn. Tuy nhiên xét ở nhiều phương diện có thể nhận thấy chưa có một công trình nào đi sâu cụ thể về sự tiếp biến tư tưởng Đông Tây của Phan Châu Trinh về chính trị cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, do vậy vấn đề này vẫn cần phải tiếp tục nghiên cứu. 3.Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứuMục đích: Đề tài nhằm mục đích nghiên cứu và trình bày để làm rõ quá trình tiếp biến tư tưởng Đông Tây của Phan Châu Trinh về chính trị ở giai đoạn cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX. Qua đó chỉ ra ý nghĩa lịch sử và một số những hạn chế trong tư tưởng chính trị của Phan Châu Trinh.Nhiệm vụ nghiên cứu: Để đạt được mục đích đề ra như trên, cần phải tập trung giải quyết các nội dung sau :+ Thứ nhất: Khái quát điều kiện, tiền đề cơ bản cho sự chuyển biến tư tưởng của Phan Châu Trinh. Trong đó làm rõ tình hình kinh tế chính trị xã hội của cả thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng và làm rõ về phần tiểu sử, cuộc đời của Phan Châu Trinh.+ Thứ hai: Nội dung cơ bản sự tiếp biến tư tưởng Đông Tây của Phan Châu Trinh về chính trị. Sau đó chỉ ra ý nghĩa và hạn chế trong tư tưởng của Phan Châu Trinh.4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứuĐối tượng nghiên cứu: Sự tiếp biến tư tưởng Đông Tây của Phan Châu Trinh. Phạm vi nghiên cứu: Nghiên cứu sự tiếp biến tư tưởng Đông Tây của Phan Châu Trinh về chính trị, trong giai đoạn lịch sử cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX.5. Phương pháp nghiên cứuPhương pháp nghiên cứu: Phân tích dựa trên phép biện chứng duy vật, các quan điểm lịch sử cụ thể và phát triển toàn diện. Ngoài ra còn sử dụng và kết hợp một số phương pháp như: phương pháp phân tích và tổng hợp, phương pháp logic và lịch sử, phương pháp tìm kiếm thông tin. 6. Ý nghĩa nghiên cứuKết quả nghiên cứu công trình này có ý nghĩa về mặt triết học ở chỗ đã làm rõ những nội dung cơ bản “ Sự tiếp biến tư tưởng Đông Tây của Phan Châu Trinh về chính trị”. Trong đó làm rõ về các tư tưởng cơ bản như quan niệm về nhà nước. về cơ chế quản lý nhà nước của Phan Châu Trinh. Qua quá trình phân tích làm rõ các vấn đề trên, công trình nghiên cứu này đã rút ra những giá trị hạn chế và những bài học lịch sử của tư tưởng chính trị Phan Chu Trinh.
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
KHOA TRIẾT HỌC
ĐỀ TÀI NIÊN LUẬN
“SỰ TIẾP BIẾN TƯ TƯỞNG ĐÔNG TÂY CỦA PHAN CHÂU TRINH
Trang 2MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .4
1 Lý do chọn đề tài 4
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài 5
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 6
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 7
5 Phương pháp nghiên cứu 7
6 Ý nghĩa nghiên cứu 7
CHƯƠNG 1: ĐIỀU KIỆN, TIỀN ĐỀ CƠ BẢN CHO SỰ CHUYỂN BIẾN TƯ TƯỞNG CỦA PHAN CHÂU TRINH 1.1 Tình hình kinh tế - chính trị - xã hội cuối thế kỷ XIX – đầu thế kỷ XX……….8
1.1.1 Thế giới cuối thể kỷ XIX đầu thế kỷ XX 8
1.1.2 Chuyển biến chính trị - kinh tế - xã hội Việt Nam 9
1.2 Tiền đề tư tưởng cơ bản cho sự chuyển biến tư tưởng của Phan Châu Trinh 12
1.2.1 Tư tưởng chính trị Nho giáo ở Việt Nam 12
1.2.2 Sự du nhập tư tưởng phương Tây vào Việt Nam 14
1.2.3 Tư tưởng cải cách, duy tân ở Nhật Bản từ thế kỷ XX đến đầu thế kỷ XX
17
1.2.4 Tư tưởng cải cách, duy tân, cách mạng Trung Quốc 18
1.3 Cuộc đời và sự nghiệp của Phan Châu Trinh 20 CHƯƠNG 2: NỘI DUNG ĐẶC ĐIỂM CƠ BẢN CỦA TƯ TƯỞNG CHÍNH TRỊ
PHAN CHÂU TRINH
Trang 32.1 Phê phán nền quân chủ phong kiến và chế độ thuộc địa của Việt Nam
25
2.2 Tư tưởng về cơ chế nhà nước và quản lý nhà nước của Phan Châu Trinh .28
2.3 Tư tưởng của Phan Châu Trinh về phương pháp cách mạng 33
2.4 Đánh giá sự tiếp biến tư tưởng của Phan Châu Trinh về chính trị 35
2.4.1 Giá trị và ý nghĩa lịch sử 35
2.4.2 Hạn chế trong tư tưởng chính trị của Phan Châu Trinh 38
KẾT LUẬN 42
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 43
Trang 4MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Tư tưởng Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX phát triển phong phúsinh động nhưng cũng nhiều biến động Những vấn đề lý luận và thực tiễn lớn vềgiữ gìn các giá trị truyền thống và tiếp thu các giá trị mới được du nhập; kết hợpgiữa các tư tưởng triết học phương Đông và phương Tây đều hướng vào việc giảiquyết các nhiệm vụ thực tiễn đặt ra trong lịch sử cũng như đương đại Lịch sử đãminh chứng, trong thời kỳ khủng hoảng tư tưởng, lực lượng nòng cốt của côngcuộc tiếp thu, đổi mới tư tưởng và xã hội cuối thể kỷ XIX đầu thế kỷ XX là độingũ trí thức, đi tiên phong là các nho sĩ duy tân yêu nước Đặc biệt là quá trìnhchuyển biến , đổi mới tư tưởng của Phan Châu Trinh cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ
XX diễn ra trong những bối cảnh những biến chuyển của lịch sử xã hội Việt Nam
và thế giới với tư cách người trí thức luôn tự nhiệm với dân tộc Có thể nói sự tiếpbiến tư tưởng Đông Tây của các nhà Nho nói chung và của Phan Châu Trinh nóiriêng thể hiện logic phát triển của lịch sử tư tưởng Việt Nam, đáp ứng yêu cầu lịch
sử xã hội
Quá trình chuyển biến tư tưởng của Phan Châu Trinh về mặt chính trị ttronggiai đoạn này có vai trò như là dấu gạch nối cần thiết cho sự truyền bá và phát triểncủa tư tưởng cách mạng vào Việt Nam giai đoạn sau Do vậy, việc nghiên cứu quátrình chuyển biến tư tưởng của nho sĩ Việt Nam, đặc biệt là sự tiếp biến tư tưởngĐông Tây của Phan Châu Trinh cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, theo tôi, vừa là đềtài nghiên cứu khoa học cơ bản, vừa góp phần giải quyết các vấn đề thực tiễn củacông cuộc đổi mới và phát triển đất nước hiện nay Chính vì vậy dưới đây tôi xinphép được trình bày rõ hơn về “sự tiếp biến tư tưởng Đông Tây của Phan ChâuTrinh về chính trị “
Trang 52 Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài
Có thể nói rằng Phan Châu Trinh là một trong những nhà cách mạng, nhà tưtưởng lớn của Việt Nam vào những năm cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX Nghiêncứu về Phan Châu Trinh và tư tưởng của ông đã thu hút được sự quan tâm đôngđảo của các nhà khoa học nhà nghiên cứu về nhiều vấn đề với nhiều công trìnhkhác nhau Các công trình đó tập trung chủ yếu theo một số hướng nghiên cứuchính như sau:
Hướng thứ nhất là các công trình nghiên cứu riêng về cuộc đời sự nghiệp của
Phan Châu Trinh Tiểu biểu nhất phải kể đến là các công trình: “ Phan Châu Trinh
thân thế và sự nghiệp”, nhà xuất bản Đà Nẵng, năm 1992 của giáo sư Huỳnh Lý.
Tiếp đến là “tuyển tập Phan Châu Trinh”, xuất bản Đà Nẵng, năm 1995 của Nguyễn Văn Dương Ngoài ra còn có tác phẩm “Phan Châu Trinh cuộc đời và tác
phẩm”, nhà xuất bản thành phố Hồ Chí Minh năm 1987 của Nguyễn Quang
Thắng “Phong trào Duy Tân với khuôn mặt tiêu biểu “, nhà xuất bản Văn hóa
Thông tin Hà Nội, năm 2006 của Nguyễn Quang Thắng
Hướng thứ hai là các công trình nghiên cứu cụ thể nội dung bước chuyển biến
tư tưởng Phan Châu Trinh ở giai đoạn lịch sử cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX qua
đó chỉ ra ý nghĩa và hạn chế của tư tưởng Trước hết phải kể đến các công trình có
liên quan như “Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX”, nhà xuất bản Chính trị
quốc gia Hà Nội, năm 2005 của tập thể tác giả Phó giáo sư Tiến sĩ Trương Văn
Trung, Phó giáo sư Tiến sĩ Doãn Chính đồng chủ biên “ Quá trình chuyển biến tư
tưởng chính trị Việt Nam cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ thứ 20 qua các nhân vật tiêu biểu” của Phó giáo sư Tiến sĩ Phạm Chính và thạc sĩ Phạm Đào Thịnh
Cũng theo hướng nghiên cứu này còn có các hội thảo về chuyên đề vấn đềPhan Châu Trinh do các nghiên cứu sinh chuyên ngành triết học và lịch sử chủ trì
Trang 6năm 1964 - 1965 năm 1964 (số 66 67 68) là hàng loạt bài đánh giá Phan Châu
Trinh của tác giả Duy Minh “Góp mấy ý kiến đánh giá Phan Châu Trinh” của tác giả lượng Khê Tác giả Nguyễn Đức với bài “Phan Chu Trinh với nhiệm vụ chống
Đế quốc trong cách mạng Việt Nam”,…
Như vậy các công trình nghiên cứu trên đây đã đề cập nhiều vấn đề khácnhau và đã đạt được những kết quả nhất định cả về mặt lý luận thực tiễn Tuynhiên xét ở nhiều phương diện có thể nhận thấy chưa có một công trình nào đi sâu
cụ thể về sự tiếp biến tư tưởng Đông Tây của Phan Châu Trinh về chính trị cuốithế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, do vậy vấn đề này vẫn cần phải tiếp tục nghiên cứu
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích: Đề tài nhằm mục đích nghiên cứu và trình bày để làm rõ quá trình
tiếp biến tư tưởng Đông Tây của Phan Châu Trinh về chính trị ở giai đoạn cuối thế
kỷ XIX đầu thế kỷ XX Qua đó chỉ ra ý nghĩa lịch sử và một số những hạn chếtrong tư tưởng chính trị của Phan Châu Trinh
Nhiệm vụ nghiên cứu: Để đạt được mục đích đề ra như trên, cần phải tập trung
giải quyết các nội dung sau :
+ Thứ nhất: Khái quát điều kiện, tiền đề cơ bản cho sự chuyển biến tư tưởng củaPhan Châu Trinh Trong đó làm rõ tình hình kinh tế - chính trị - xã hội của cả thếgiới nói chung và Việt Nam nói riêng và làm rõ về phần tiểu sử, cuộc đời của PhanChâu Trinh
+ Thứ hai: Nội dung cơ bản sự tiếp biến tư tưởng Đông Tây của Phan Châu Trinh
về chính trị Sau đó chỉ ra ý nghĩa và hạn chế trong tư tưởng của Phan Châu Trinh
Trang 74 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Sự tiếp biến tư tưởng Đông Tây của Phan Châu
Trinh
Phạm vi nghiên cứu: Nghiên cứu sự tiếp biến tư tưởng Đông Tây của Phan
Châu Trinh về chính trị, trong giai đoạn lịch sử cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX
5 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu: Phân tích dựa trên phép biện chứng duy vật, cácquan điểm lịch sử cụ thể và phát triển toàn diện Ngoài ra còn sử dụng và kết hợpmột số phương pháp như: phương pháp phân tích và tổng hợp, phương pháp logic
và lịch sử, phương pháp tìm kiếm thông tin
6 Ý nghĩa nghiên cứu
Kết quả nghiên cứu công trình này có ý nghĩa về mặt triết học ở chỗ đã làm
rõ những nội dung cơ bản “ Sự tiếp biến tư tưởng Đông Tây của Phan Châu Trinh
về chính trị” Trong đó làm rõ về các tư tưởng cơ bản như quan niệm về nhà nước
về cơ chế quản lý nhà nước của Phan Châu Trinh Qua quá trình phân tích làm rõcác vấn đề trên, công trình nghiên cứu này đã rút ra những giá trị hạn chế và nhữngbài học lịch sử của tư tưởng chính trị Phan Chu Trinh
Trang 8CHƯƠNG 1: ĐIỀU KIỆN, TIỀN ĐỀ CƠ BẢN CHO SỰ CHUYỂN BIẾN TƯ
TƯỞNG CỦA PHAN CHÂU TRINH 1.1 Tình hình kinh tế - chính trị - xã hội cuối thế kỷ XIX – đầu thế kỷ XX
1.1.1 Thế giới cuối thể kỷ XIX đầu thế kỷ XX
Trong giai đoạn những năm cuối thế kỷ XIX - đầu của thế kỷ XX, thế giới
đã có những biến đổi to lớn, tác động mạnh mẽ đến sự hình thành tư tưởng chínhtrị của Phan Châu Trinh như: sự phát triển của chủ nghĩa tư bản, chủ nghĩa thựcdân cũ chuyển sang giai đoạn chủ nghĩa đế quốc Các cuộc xâm lược của chủ nghĩa
đế quốc đã tác động rất lớn đến độc lập dân tộc của các nước trên thế giới, đặc biệt
là Phương Đông Nhằm chống lại sự bành trướng xâm lược của chủ nghĩa thựcdân, các nước Phương Đông, tiêu biểu là Nhật Bản, Trung Quốc đã có những cuộcCanh tân làm chuyển biến tình hình xã hội
Sự bành trướng của chủ nghĩa thực dân cũ cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX
đã làm cho tình hình thế giới biến đổi rất lớn trên tất cả các mặt của đời sống xãhội, đồng thời cũng đã tác động mạnh mẽ đời sống xã hội Việt Nam Trong quátrình phát triển của chủ nghĩa tư bản, do sự phát triển không đồng đều của nó, nên
đã dẫn đến các cuộc khủng hoảng kinh tế – xã hội
Đầu thế kỷ XX, chủ nghĩa tư bản trải qua cuộc khủng hoảng kinh tế năm
1900 – 1903, dẫn đến tổng khủng hoảng và cuộc chiến tranh thế giới lần thứ nhất
từ năm 1914 đến 1918 Theo, V.I Lênin, tính chất cuộc chiến tranh là chiến tranh
đế quốc chủ nghĩa nhằm mục đích cướp bóc các nước khác, bóp nghẹt các dân tộcnhược tiểu, thống trị thế giới về mặt tài chính, chia và chia lại thuộc địa [80, 18]
Đồng thời, để mở rộng thị trường, các nước tư bản đã tiến hành chiến tranh xâmlược các dân tộc Phương Đông, dẫn đến sự biến đổi sâu sắc các mặt của đời sống
xã hội như chính trị, văn hoá, xã hội, … ở các nước Phương Đông
Trang 9Cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, phong trào cách mạng vô sản thế giới pháttriển ngày càng mạnh mẽ, đặc biệt là cách mạng Tháng Mười Nga (1917) thànhcông, chế độ xã hội chủ nghĩa xuất hiện, ghi dấu ấn đậm nét trong tư duy chính trịcủa các nhà tư tưởng Việt Nam, tạo ra sự chuyển biến nhất định về tư tưởng vàonhững năm hai mươi của thế kỷ XX Sự thành công của Cách mạng Tháng MườiNga (1917) dẫn đến sự ra đời chế độ xã hội chủ nghĩa đã trở thành điểm nhấn quantrọng trong tư duy của dân tộc Việt Nam
1.1.2 Chuyển biến chính trị - kinh tế - xã hội Việt Nam
Trong trào lưu xâm lược thuộc địa của chủ nghĩa tư bản phương Tây, từ năm
1858 thực dân Pháp bắt đầu tiến công quân sự để chiếm Việt Nam Sau khi đánhchiếm được nước ta, thực dân Pháp thiết lập bộ máy thống trị thực dân và tiến hànhnhững cuộc khai thác nhằm cướp đoạt tài nguyên, bóc lột nhân công rẻ mạt và mởrộng thị trường tiêu thụ hàng hóa
Từ năm 1897, thực dân Pháp tiến hành chương trình khai thác thuộc địa lần thứnhất và sau Chiến tranh thế giới thứ nhất (1914-1918), chúng tiến hành chươngtrình khai thác thuộc địa lần thứ hai ở Đông Dương với số vốn đầu tư trên quy môlớn, tốc độ nhanh Do sự du nhập của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa, tìnhhình kinh tế Việt Nam có sự biến đổi: quan hệ kinh tế nông thôn bị phá vỡ, hìnhthành nên những đô thị mới, những trung tâm kinh tế và tụ điểm cư dân mới.Nhưng thực dân Pháp không du nhập một cách hoàn chỉnh phương thức tư bản chủnghĩa vào nước ta, mà vẫn duy trì quan hệ kinh tế phong kiến Chúng kết hợp haiphương thức bóc lột tư bản và phong kiến để thu lợi nhuận siêu ngạch Chính vìthế, nước Việt Nam không thể phát triển lên chủ nghĩa tư bản một cách bìnhthường được, nền kinh tế Việt Nam bị kìm hãm trong vòng lạc hậu và phụ thuộc
Trang 10Về chính trị: Thực dân Pháp tiếp tục thi hành chính sách chuyên chế với bộ
máy đàn áp nặng nề Mọi quyền hành đều thâu tóm trong tay các viên quan cai trịngười Pháp, từ toàn quyền Đông Dương, thống đốc Nam Kỳ, khâm sứ Trung Kỳ,thống sứ Bắc Kỳ, công sứ các tỉnh, đến các bộ máy quân đội, cảnh sát, toà án ;biến vua quan Nam triều thành bù nhìn, tay sai Chúng bóp nghẹt tự do, dân chủ,thẳng tay đàn áp, khủng bố, dìm các cuộc đấu tranh của dân ta trong biển máu.Chúng tiếp tục thi hành chính sách chia để trị rất thâm độc, chia nước ta làm ba kỳ,mỗi kỳ đặt một chế độ cai trị riêng và nhập ba kỳ đó với nước Lào và nướcCampuchia để lập ra liên bang Đông Dương thuộc Pháp, xóa tên nước ta trên bản
đồ thế giới Chúng gây chia rẽ và thù hận giữa Bắc, Trung, Nam, giữa các tôn giáo,các dân tộc, các địa phương, thậm chí là giữa các dòng họ; giữa dân tộc Việt Namvới các dân tộc trên bán đảo Đông Dương
Về kinh tế: Thực dân Pháp tiến hành cuộc khai thác thuộc địa Đông Dương
lần thứ nhất (1897 - 1914); khai thác thuộc địa lần thứ hai (1919- 1929), trong đólấy Việt Nam là trọng điểm Tư bản Pháp bỏ vốn nhiều nhất vào nông nghiệp (lậpcác đồn điền cao su, cà phê, chè ) và ngành khai mỏ (chủ yếu là than, sẳt, thiếc,vàng ) để thu lợi nhuận nhiều và nhanh Tư bản Pháp xây dựng ngành giao thôngvận tải đường bộ, đường sắt, phát triển các cơ sở công nghiệp chế biến; độc quyềnngoại thương Ngân hàng Đông Dương của Pháp độc quyền tài chính, đặt ra hàngtrăm thứ thuế, tàn ác nhất là thuế thân; thi hành rộng rãi chính sách cho vay nặnglãi Kết quả là nền kinh tế nước ta có sự phát triển mức độ nào đó theo hướng tưbản chủ nghĩa nhưng là nền kinh tế thuộc địa, mất cân đối, phụ thuộc vào Pháp
Về văn hóa: Chúng thi hành triệt để chính sách văn hóa nô dịch, gây tâm lý
tự ti, vong bản, khuyến khích các hoạt động mê tín dị đoan, đồi phong bại tục Mọihoạt động yêu nước của nhân dân ta đều bị cấm đoán Chúng tìm mọi cách bưng
Trang 11bít và ngăn chặn ảnh hưởng của nền văn hóa tiến bộ trên thế giới vào Việt Nam vàthi hành chính sách ngu dân để dễ bề thống trị.
Về xã hội: Các cuộc khai thác thuộc địa của thực dân Pháp ảnh hưởng mạnh
mẽ đến tình hình xã hội Việt Nam Sự phân hoá giai cấp diễn ra ngày càng sâu sắchơn
+ Giai cấp địa chủ phong kiến đã tồn tại hơn ngàn năm Chủ nghĩa tư bảnthực dân được đưa vào Việt Nam và trở thành yếu tố bao trùm, song vẫn khôngxóa bỏ mà vẫn bảo tồn và duy trì giai cấp địa chủ để làm cơ sở cho chế độ thuộcđịa Tuy nhiên, do chính sách kinh tế và chính trị phản động của thực dân Pháp,giai cấp địa chủ càng bị phân hóa thành ba bộ phận khá rõ rệt: tiểu, trung và đại địachủ Có một số địa chủ bị phá sản
+ Giai cấp nông dân chiếm khoảng 90% dân số Họ bị đế quốc, phong kiếnđịa chủ và tư sản áp bức, bóc lột rất nặng nề
+ Giai cấp tư sản hình thành trong quá trình khai thác thuộc địa của thực dânPháp Trước Chiến tranh thế giới thứ nhất, tư sản Việt Nam mới chỉ là một tầnglớp nhỏ bé Sau chiến tranh, tư sản Việt Nam đã hình thành giai cấp rõ rệt Ra đờitrong điều kiện bị tư bản Pháp chèn ép, cạnh tranh rất gay gắt, nên số lượng tư sảnViệt Nam không nhiều, thế lực kinh tế nhỏ bé, thế lực chính trị yếu đuối
Trong quá trình phát triển, giai cấp tư sản Việt Nam phân thành hai bộ phận: Bộ phận thứ nhất là tư sản mại bản là những tư sản lớn, hợp tác kinh doanh với đế
quốc, bao thầu những công trình xây dựng của chúng ở nước ta Bộ phận thứ hai là
tư sản dân tộc là bộ phận đông nhất trong giai cấp tư sản, bao gồm những tư sản
loại vừa và nhỏ, thường hoạt động trong các ngành thương nghiệp, công nghiệp và
cả tiểu thủ công nghiệp
Trang 12+ Giai cấp tiểu tư sản bao gồm nhiều bộ phận khác nhau: tiểu thương, tiểuchủ, thợ thủ công, viên chức, trí thức, học sinh, sinh viên và những người làm nghề
tự do
+ Giai cấp công nhân là sản phẩm trực tiếp của chính sách khai thác thuộcđịa của Pháp và nằm trong những mạch máu kinh tế quan trọng do chúng nắm giữ.Lớp công nhân đầu tiên xuất hiện vào cuối thế kỷ XIX, khi thực dân Pháp xâydựng một số cơ sở công nghiệp và thành phố phục vụ cho việc xâm lược và bìnhđịnh của chúng ở nước ta Giai cấp công nhân Việt Nam có những đặc điểm chungcủa giai cấp công nhân quốc tế, đồng thời còn có những điểm riêng của mình như:phải chịu ba tầng lớp áp bức bóc lột (đế quốc, phong kiến và tư sản bản xứ); phầnlớn vừa mới từ nông dân bị bần cùng hóa mà ra, nên có mối quan hệ gần gũi nhiềumặt với nông dân
Nước Việt Nam trong thời kỳ thực dân Pháp xâm lược đã có những biếnchuyển sâu sắc về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội Việt Nam từ một xã hội phongkiến thuần tuý đã biến thành một xã hội thuộc địa Mặc dù thực dân còn duy trìmột phần tính chất phong kiến, song khi đã thành thuộc địa thì tất cả các mặt chínhtrị, kinh tế, văn hóa, xã hội và giai cấp ở Việt Nam đều bị đặt trong quỹ đạo chuyểnđộng của xã hội đó
1.2 Tiền đề tư tưởng cơ bản cho sự chuyển biến tư tưởng của Phan Châu
Trinh
1.2.1 Tư tưởng chính trị Nho giáo ở Việt Nam
Sự phát triển của chế độ phong kiến tập quyền đã đưa Nho giáo lên địa vịđộc tôn, thống trị xã hội Việt Nam từ thế kỷ XV đến đầu thế kỷ XX Tầng lớp tríthức dù xuất thân từ quý tộc, địa chủ hay nông dân đều là sản phẩm của nền giáodục Nho giáo, gọi là nho sĩ Sau khi họ Nguyễn lên làm vua nhằm bảo vệ sựchuyên chế cực đa nghi, nhà Nguyễn sử dụng một bộ máy quan liêu to lớn, dùng
Trang 13Nho thần thay thế các công thần Cho nên ngay từ đầu đã quan tâm mở rộng học vàthi, quan tâm việc đề cao Nho giáo Nho giáo thời Nguyễn phát đạt hơn các triềuđại trước (số lượng người đi thi, người đậu đạt, số lượng sách vở…) nhưng cũng cókhuynh hướng bảo thủ, khắc nghiệt hơn Nho học ở nước ta vốn đã được truyền bárộng rãi và lâu đời ở miền Bắc và phát triển theo hướng Đường Tống, từ chươngnhiều hơn nghĩa lý
Sự hưng thịnh của Phật giáo và Đạo giáo ở Việt Nam vào thế kỷ XVIIchứng tỏ rằng, Nho giáo có mặt yếu kém, hạn chế, nên phải lùi bước để giành chỗđứng cho Phật giáo, Đạo giáo Sự yếu kém của Nho giáo ở Việt Nam lúc này,trước hết, biểu hiện về mặt nghĩa lý Điều đó thể hiện ở sự giảm sút niềm tin củagiai cấp thống trị, của tầng lớp Nho sĩ vào giá trị và tính hiệu quả của Nho giáotrên bình diện Nho giáo là đạo trị nước và là nhân sinh quan
Với tư cách là đạo trị nước, Nho giáo vẫn không giúp cho người ta chấmdứt được cảnh loạn lạc, thực hiện sự ổn định xã hội Với tư cách là nhân sinh quan,Nho giáo không giải thích được nguyên nhân của mọi nỗi đau khổ trên trần gian vànhững số phận bi đát của con người Trong trường hợp này, thuyết thiên mệnh haythiên lý của Nho giáo tỏ ra đơn giản, có nhiều hạn chế, không thoả mãn được yêucầu của con người Tuy nhiên, suốt từ thời Mạc cho đến Lê trung hưng, Phật giáo,Đạo giáo hay bất cứ một tôn giáo nào khác cũng vẫn không thay thế được Nhogiáo ở cương vị của một đạo trị nước, một học thuyết về quản lý xã hội và tổ chứchành chính Vì vậy, chính quyền của họ Trịnh ở ngoài Bắc hay của họ Nguyễn ởtrong Nam vẫn phải đề cao Nho giáo và mở mang giáo dục khoa cử theo Nho họcmột cách đều kỳ Do đó, hết thế hệ Nho sĩ này đến thế hệ Nho sĩ khác được tái sảnxuất một cách liên tục Đó chính là cơ sở xã hội vững chắc cho sự tồn tại của Nhogiáo trong xã hội phong kiến ở nước ta
Trang 14Tư tưởng chống đối với chế độ chuyên chế và Nho giáo khắc nghiệt khôngxuất hiện trong nghị luận của các nhà tư tưởng mà xuất hiện trong văn học.Ở thế
kỷ XVIII trong ngâm khúc và truyện nôm đã xuất hiện một khuynh hướng nhânđạo chủ nghĩa, chống lễ giáo, đòi hỏi giải phóng cá nhân Đến đây xu hướng đó lại
phát triển cao hơn trong Truyện Kiều và thơ Nguyễn Du Nguyễn Công Trứ đầu
tiên là người say mê với nghĩa quân thân, với hào khí nam nhi, say sưa cổ vũ và rasức phục vụ cho những giáo điều Tống Nho, cho chế độ chuyên chế, nhưng cuốicùng tỉnh ngộ, phẫn uất tố cáo ông Trời hay đố kỵ "trẻ không thương mà già cũngkhông tha" Cao Bá Quát trẻ hơn cũng hăng hái nhập thế bằng con đường học vấn,cuối cùng cũng uất ức tố cáo thực tế xấu xa đến nỗi nổi lên "làm loạn",…
Thực trạng xã hội Việt Nam từ nửa cuối thế kỷ XIX đã gây nên cuộc khủnghoảng về ý thức hệ và sự phân hóa đội ngũ nho sĩ ngày càng rõ rệt Trước hết là sựhình thành những trí thức yêu nước, quyết định ly khai triều đình nhà Nguyễn,phản đối chủ trương cầu hòa của triều đình Trong cuộc đấu tranh không cân sứcnày, nho sĩ nhiệt huyết yêu nước thương dân nhưng bị thất bại do hạn chế về nhiềumặt, trong đó chủ yếu là hệ tư tưởng phong kiến vẫn chỉ đạo hoạt động của họ.Logic của lịch sử và tư tưởng thôi thúc các sĩ phu yêu nước của thế hệ tiếp theo tìm
hệ tư tưởng mới, chủ trương mới, con đường mới giải phóng dân tộc
1.2.2 Sự du nhập tư tưởng phương Tây vào Việt Nam
Cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX thực dân Pháp đã xác lập nền cai trị củachúng trên đất nước ta Xã hội Việt Nam chuyển từ xã hội phong kiến độc lập sang
xã hội phong kiến nửa thuộc địa Điều đó đã tác động mạnh mẽ đến chủ thể vănhóa Việt Nam, chủ thể văn hóa truyền thống bị phân hóa, xuất hiện những lớp cưdân mới ngoài "tứ dân" Cùng với sự du nhập phương thức kinh tế tư bản chủnghĩa một lực lượng lao động mới xuất hiện Họ là những người nông dân, thợ thủcông thời phong kiến, bị chính sách bần cùng hoá làm phá sản và xô đẩy ra khỏi
Trang 15làng mạc đến sống tập trung ở các công trường xây dựng, các xí nghiệp, nhà máy,hầm mỏ, đồn điền, bán sức lao động làm thuê cho tư sản (tư sản Pháp, Hoa, ViệtNam) và trở thành những người công nhân hiện đại Đến năm 1906 công nhân ViệtNam có khoảng 55.000 người, đến trước chiến tranh thế giới thứ nhất tăng lênkhoảng 10 vạn người và thành một giai cấp mới - giai cấp công nhân Việt Nam.Sau chiến tranh thế giới thứ nhất, tư sản Pháp đổ xô vào khai thác thuộc địa thìcông nhân Việt Nam tăng lên nhanh chóng Đến năm 1929 đã có trên 22 vạn ngườilàm thuê cho Pháp, khoảng 10 vạn làm thuê cho Việt Nam… Đây là một lực lượnglao động mới trong dây chuyền sản xuất tư bản, họ sống, làm việc và quan hệ xãhội đã vượt ra ngoài khuôn khổ làng xã, nông dân và nông thôn Họ trở thành một
bộ phận mới trong chủ thể Việt Nam
Sự tiếp xúc với nền kinh tế tư bản đã sản sinh ra những nhà thầu khoán,những nhà làm đại lý cho giới tư sản Pháp, những nhà kinh doanh công thươngnghiệp Việt Nam Họ là những người vừa thoát ra từ nền kinh tế phong kiến đanghọc tư bản để kinh doanh, quản lý và sản xuất công nghiệp, làm chủ hiệu buôn, chủnhà máy, xí nghiệp, đồn điền Tầng lớp này ngày càng đông hơn và hợp thành giaicấp tư sản Việt Nam
Phương thức kinh tế tư bản du nhập vào Việt Nam đã tác động mạnh vàoquá trình đô thị hóa Phố xá xuất hiện, các thành phố cận đại ra đời và lớp cư dân
đô thị hình thành Họ là những người thợ thủ công, những người buôn bán, nhữngngười làm thuê trong nhà máy, xí nghiệp, các bến xe, bến tàu, bến cảng, là nhữngcông chức trong guồng máy cai trị, những nhà tư sản và tiểu tư sản Lớp cư dânnày phát triển nhanh sau chiến tranh thế giới thứ nhất Lớp cư dân thành thị sốnghoàn toàn khác trước Họ không còn là những cư dân nông nghiệp sống tản mạntrong các làng quê yên tĩnh mà trở thành lớp thị dân sống tập trung ở các thành
Trang 16phố, thị xã, những trung tâm kinh tế với hoạt động công thương sôi động hàngngày
Xã hội thuộc địa còn tồn tại một tầng lớp trí thức Tây học biết tiếng Pháp,hiểu văn hóa Pháp và xuất hiện một lực lượng sáng tác mới: những người làm báo,viết truyện ngắn, viết kịch, viết tiểu thuyết, dịch thuật… Văn nghệ sĩ trở thành mộtchức nghiệp: viết văn bán cho công chúng, đáp ứng yêu cầu văn hóa của cư dânthành thị Lớp thị dân trở thành một bộ phận mới của chủ thể văn hóa Việt Nam.Chẳng hạn như quan hệ giữa các quan cai trị người Pháp và người Việt trong bộmáy chính quyền thuộc địa (Hội đồng cơ mật, Hội đồng bảo hộ, Hội đồng thuộcđịa, Hội đồng dân biểu…); quan hệ giữa tư sản nước ngoài với tư sản dân tộc, quan
hệ giữa chủ và thợ, quan hệ giữa tư sản và vô sản, quan hệ giữa thầy và trò trong
hệ thống trường học Các mối quan hệ trên đã tác động vào chủ thể văn hóa ViệtNam thúc đẩy quá trình biến đổi chủ thể văn hóa theo hướng văn minh phươngTây
Trong quá trình tiếp xúc giao thoa văn hóa, chủ thể văn hóa Việt Nam xuấthiện những thái độ khác nhau đối với văn hóa Đông - Tây Một số cho rằng cầnphải kết hợp để Âu hóa hoàn toàn Một bộ phận khác nhìn nhận những mặt trái củavăn hóa phương Tây để phê phán đi theo văn hóa phương Tây là không thỏa đáng
Từ những thái độ khác nhau với văn hóa Đông - Tây, chủ thể văn hóa Việt Namphân hoá thành hai trường phái văn hóa: phái cựu học và phái tân học Phái cựuhọc khư khư bài ngoại, luôn cho mình là văn minh, người nước ngoài là mọi rợ nênkhông đề cập đến chính thuật, tài năng của người nước ngoài Trọng vương, rẻ bánên không bàn đến máy móc tinh xảo và sự giàu mạnh của nước ngoài, cái gì cũngcho là xưa phải nay trái, nên không chịu xem xét, bàn luận chính kiến của ngườisau Họ chống sự xâm lược của thực dân Pháp và chống luôn Âu hóa, coi việc đilàm cho Pháp, học tiếng Pháp là vong Tổ Thực ra phái cựu học có cái lý của họ
Trang 17Bởi sự tiếp xúc với văn hóa Phương Tây trực diện là chính sách văn hóa nô dịchcủa chính quyền thực dân nhằm ngu dân để dễ bề cai trị, một mặt muốn gây ảnhhưởng tinh thần để nắm lấy trí thức, thanh niên phục vụ nền thống trị thuộc địa lâudài của chúng Nhưng một mặt khác chúng ngăn chặn mọi yếu tố tiến bộ của vănhóa Phương Tây có thể gây ảnh hưởng tích cực đến tinh thần, tư tưởng người ViệtNam Đồng thời nó gieo rắc tư tưởng tự ti dân tộc bằng cách xuyên tạc nguồn gốcgiá trị văn hóa Việt Nam Họ cho rằng văn hóa Việt Nam bắt nguồn từ Trung Hoa,
Ấn Độ để phủ nhận văn hóa bản địa - nền văn minh Sông Hồng của người Việt
1.2.3 Tư tưởng cải cách, duy tân ở Nhật Bản từ thế kỷ XX đến đầu thế kỷ XX
Trong quá trình phát triển của mình, lịch sử tư tưởng Nhật Bản hầu nhưkhông có hiện tượng độc tôn về tư tưởng Đặc trưng này là do nền văn hóa NhậtBản có tính chất mở của một quốc gia hải đảo, người Nhật Bản vốn sớm hìnhthành phong cách tư duy độc lập, tự chủ, duy lý Ở thế kỷ XIX, do nền chính trịphong kiến phân quyền với những đặc tính văn hóa – xã hội của mỗi vùng, tầnglớp thị dân, đô thị phát triển cũng tạo điều kiện cho sự phát triển đa dạng các họcthuyết, quan điểm, học phái, có những cuộc đấu tranh tư tưởng, học phái
Giữa thế kỷ XIX, trong quá trình vận động cải cách, vai trò của các tầng lớptrong xã hội đối với tiến trình cải cách có khác nhau, tạo ra đặc trưng của phongtrào cũng như tư tưởng cải cách, Duy tân Nhật Bản Do điều kiện chính trị, xã hộiphong kiến ở Nhật Bản, mặc dù Nho giáo được coi là hệ tư tưởng chính thống củagiai cấp phong kiến nhưng trí thức Nho sĩ lại không trở thành một tầng lớp có tínhthuần nhất Tầng lớp võ sĩ trong xã hội phong kiến Nhật Bản tuy giữ vai trò quản
lý xã hội, nên mặc dù giữa họ có sự khác nhau về địa vị xã hội và kinh tế nhưng lại
có đặc điểm chung là lối sống coi trọng sự thẳng thắn, trung thực, ưa hành động,coi trọng các giá trị thực tế, dám nghĩ, dám làm, sẵn sàng chịu trách nhiệm trước
Trang 18dân tộc Do vậy, trong tiến trình cải cách Nhật Bản cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ
XX, đẳng cấp võ sĩ là lực lượng tiên phong và giữ vai trò quyết định
Sang đầu thế kỷ XX, tầng lớp võ sĩ và trí thức Tây học là lớp người tiếp tụcphát triển tư tưởng Duy tân và thực hiện Duy tân xã hội trong nhiều lĩnh vực Họ lànhững nhà tư tưởng và nhà hoạt động Duy tân nổi tiếng như: Fukuzawa Yukichi(1834 - 1901), Mori Arinori (1847 - 1889), Nakamura Masanao (1832 - 1891),Kato Hiroyuki (1836 - 1916), Nishi Amane (1829 - 1897)… Trong không khí củamột đất nước đang thực hiện công cuộc Minh Trị Duy tân, họ đã dịch sách PhươngTây, viết sách, mở trường học theo lối Phương Tây, thực học, thực dụng để nângcao dân trí, đào tạo thanh niên trở thành những người gánh vác trọng trách xâydựng Nhật Bản văn minh
Như vậy, về cơ bản, các tư tưởng cải cách, Duy tân Nhật Bản cuối thế kỷXIX, đầu thế kỷ XX và tác động của nó tới xã hội Nhật Bản đã để lại dấu ấn lịch
sử và là cơ sở tiền đề để hình thành nên những thành tố mới, tạo quá trình chuyểnbiến phát triển mới trong kết cấu hệ tư tưởng Phương Đông, trong đó có Việt Nam.Các nhà tư tưởng Việt Nam đầu thế kỷ XX, trong đó có Phan Châu Trinh đã coiNhật Bản như một tấm gương của các dân tộc châu Á đã tự tìm con đường để độclập, phú cường, đứng ngang hàng với Phương Tây
1.2.4 Tư tưởng cải cách, duy tân, cách mạng Trung Quốc
Trong khi Nhật Bản có những biển đổi lớn lao trong mọi lĩnh vực của đờisống xã hội cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, thì ở Trung Quốc, xã hội vẫn nằmtrong tình trạng trì trệ, bảo thủ của chế độ phong kiển Trí thức tiến bộ của TrungQuốc bắt đầu hướng sự chú ý sang Nhật Bản, nhất là sau khi Trung Quốc thuaNhật Bản trong cuộc chiến tranh Trung — Nhật thì họ càng cúng cô nhận thứcrăng Trung Quốc muốn tồn tại được thì phải duy tân theo Nhật Bản Họ khuyên
Trang 19khích những thanh niên Trung Quốc học tiếng Nhật để có thể đọc được nhữngcuốn sách phương Tây đã được dịch sang tiếng Nhật, các tác phẩm của các tác giảngười Nhật viết Giữ vai trò quan trọng trong phong trào Đông học ở Trung Quốc
là nhóm của Lương Khải Siêu
Ở Trung Quốc tư tưởng Canh tân của Khang Hữu Vi (1858 – 1927), LươngKhải Siêu (1873 – 1929), Tôn Trung Sơn (1866 – 1925) có ảnh hưởng rất lớn đếnViệt Nam Tư tưởng Lương Khải Siêu và Khang Hữu Vi do ảnh hưởng của tưtưởng nhân quyền, tư tưởng khế ước xã hội, tư tưởng pháp quyền Phương Tây, nên
đã thực hiện một cuộc đả phá mạnh mẽ đối với quan niệm “Thiên bất biến, đạodiệc bất biến” về chính trị nhằm bảo vệ quyền lợi giai cấp phong kiến, nó tồn tạirất dai dẳng, đã kìm hãm sự phát triển của lịch sử xã hội Trung Quốc và Việt Nam
Khang Hữu Vi là một nhà tư tưởng Canh tân lớn của Trung Quốc thời cậnđại Về tư tưởng chính trị của ông, nổi bật là: chủ trương xây dựng một xã hội “đạiđồng” lý tưởng, thiên hạ là của chung, mọi người đều bình đẳng như nhau, không
có sự phân biệt giàu hay nghèo, nam hay nữ, thần hay người, chủng tộc này haychủng tộc kia Trong xã hội đại đồng không có vua chúa, quốc gia thành cộngđồng, mọi người đều tham gia sản xuất, thực hiện công bằng xã hội Tuy nhiên, tưtưởng chính trị của ông là tư tưởng phi giai cấp, không thừa nhận đấu tranh giaicấp, chưa đánh giá đúng vai trò của quần chúng nhân dân, mà trái lại, quá đề caovai trò của cá nhân, anh hùng sáng tạo ra lịch sử Khang Hữu Vi còn đưa ra thuyếtTam thế, cho rằng xã hội loài người luôn luôn vận động và phát triển Đây là quanđiểm khá tiến bộ, có giá trị chống lại quan điểm duy tâm về lịch sử “Thiên bấtbiến, đạo diệc bất biến” Quan điểm chính trị của Khang Hữu Vi, mang màu sắccủa chủ nghĩa nhân đạo tư sản, sự ảnh hưởng tư tưởng phong kiến vẫn chưa đượckhắc phục triệt để Tư tưởng của ông thể hiện một tư duy chính trị khá sắc bén, mở
Trang 20đầu cho sự phát triển tư duy chính trị của Trung Quốc đáp ứng yêu cầu phát triểncủa thời đại.
Tiếp thu và kế thừa tư tưởng của Khang Hữu Vi, Lương Khải Siêu với chủtrương “biến pháp”, theo quan niệm của ông thì “biến pháp” trước hết là đổi mớiquan niệm về cái gọi là “quốc gia” Quốc gia không thể xem là “tài sản tư hữu củavua chúa khanh tướng” mà phải là “của chung của dân chúng trong nước” Tưtưởng của ông thể hiện một sự đổi mới khá triệt để so với tư tưởng tôn quân quyềncủa hệ tư tưởng Nho giáo
Có thể nói, những trị thức khoa học của phương Tây, những hiểu biết vềphương Tây của trí thức Trung Quốc thời kỳ này đều được tiếp thu thông qua cáctác phẩm dịch của Nhật Bản Khi các học giả Trung Quốc tiếp thu tư tưởng duy tân
từ Nhật Bản và phương Tây trong hoàn cảnh Trung Quốc còn có chút ít chủ quyềnnên việc đó được tiến hành công khai Mở trường, xuất bản sách, bảo, tạp chí vàngay cả biến pháp đêu được tiền hành công khai, từ vua, quan đến kẻ sĩ, thươngnhân, bình dân Cũng giông như người Nhật Bản, người Trung Quốc duy tân là đề
tự cường, từ đó có thể tránh sự xâm lược của thực dân phương Tây
Như vậy tư tưởng duy tân đã góp phần nâng cao tầm vóc tư duy lý luận, đặcbiệt là tư duy lý luận chính trị của các nhà tư tưởng Việt Nam lúc bấy giờ, trong đó
có tư tưởng chính trị của Phan Châu Trinh
1.3 Cuộc đời và sự nghiệp của Phan Châu Trinh (1972 – 1926)
Phan Châu Trinh tự là Tử Cán, hiệu Tây Hồ, biệt hiệu Hy Mã, sinh ngày9/9/1872 tại làng Tây Lộc, xã Tam Phước nay là xã Tam Lộc, Tam Kỳ, TỉnhQuảng Nam Cha là Phan Văn Bình - một nhân sĩ của phong trào Cần Vương
Trang 21Năm 28 tuổi Phan Châu Trinh đỗ Cử nhân ( năm 1900), năm 29 tuổi đỗ Phó bảng( năm 1901), cùng khoa với Phó bảng Nguyễn Sinh Huy (thân sinh của Nguyễn ÁiQuốc)
Năm 1902, Phan Châu Trinh được triều đình nhà Nguyễn bổ nhiệm làmThừa Biện (một chức quan nhỏ) Bộ Lễ và đến năm 1904 cụ xin từ quan Phan ChuTrinh trước đó đã cùng Phan bội Châu và Vũ Phương Trứ (Cử nhân trường Nghệ.Năm 1905 ông cùng bạn đồng chí là Trần Quí Cáp, Huỳnh Thúc Kháng đi vàoNam để tìm bạn đồng tâm và xem xét tình hình đất nước Đến Bình Định, gặp kì
khảo hạch, ông cùng hai bạn giả danh vào ứng hạch làm bài thơ Chí thành thông
thánh và hai bạn làm bài phú Danh sơn Lương Ngọc, gây chấn động trong học
giới, chính giới, văn giới Trong bài thơ Chí thành thông thánh Phan Châu Trinh
đã chất vấn các học trò rằng: “ Muôn dân làm tôi tớ dưới ách cường quyền mà saocác anh vẫn còn say sưa trong giấc mộng cử nghiệp? Nếu mãi trăm năm cam chịu
sỉ nhục thì biết ngày nào mới thoát khỏi chỗ cũi lồng?” 1
Sau đó, Phan Châu Trinh trở về Quảng Nam, rồi ra Nghệ Tĩnh, thẳng ra Hà Nội, liên kết với trí thức yêu nước lập nên phong trào Đông kinh nghĩa thục Năm
1906 ông bí mật đi Nhật, gặp Phan Bội Châu trao đổi ý kiến và đã kịch liệt công kích chủ trương bạo động cũng như chủ trương ngoại viện bằng một câu thơ đanh thép:
“ Bất bạo động, bạo động tắc tử Bái vọng ngoại, vọng ngoại giả ngu.”
(Không bạo động, bạo động ắt chết Không hướng bên ngoài, hướng bên ngoài là ngu)
Trang 22Đồng bào ta, người nước ta, ai mà ham mến tự do, tôi xin có một vật rất quý báu tặng cho đồng bào, là “Chi Bằng Học” 2
Ở Nhật về, ông tích cực hoạt động với chủ trương: thức tỉnh lòng dân, tạo
dân khí mạnh, đề cao Dân quyền Ông gửi cho Toàn quyền Paul Beau một bản
điều trần (quen gọi là Đầu Pháp chính phủ thư: Thư gởi chính phủ Pháp) vạch
trần chế độ quân chủ chuyên chế thối nát, yêu cầu nhà cầm quyền Pháp phải thayđổi thái độ đối với sĩ dân nước Việt và sửa đổi chính sách cai trị để giúp người Việttừng bước tiến lên văn minh Đường lối cứu nước của ông là dựa vào lí tưởngcách mạng Pháp để tiến hành cải cách.Ông không tán thành chủ trương võ trangbạo động của Phan Bội Châu lúc đương thời
Tháng 7-1907, Phan Châu Trinh ra Hà Nội tham gia giảng dạy ở Đông Kinhnghĩa thục, những buổi diễn thuyết của ông có rất đông người đến nghe Ông mởrộng giao du với cả một số người Pháp Năm 1908 phong trào Duy tân lên mạnh
mà đỉnh cao là vụ chống thuế ở miền Trung xuất phát từ tỉnh Quảng Nam, thực dân
và triều đình Huế cho là ông khởi xưởng, bắt ông tại Hà Nội, giải về Huế, rồi kết
án đày đi Côn Đảo Hội Nhân quyền Pháp can thiệp, ông được trả tự do trước hạn
tù đưa về quản thúc ở Mĩ Tho (nay thuộc tỉnh Tiền Giang) vào năm 1911 Ngaytrong năm này, do yêu cầu của ông, chính quyền Đông Dương buộc lòng chấpnhận cho ông sang Pháp Tại Pháp, ông liên lạc mật thiết với Nguyễn Ái Quốc,Phan Văn Trường Tại đây ông làm nghề chữa ảnh để mưu sinh và nuôi con làPhan Châu Dật ăn học; Chẳng bao lâu con bị bệnh mất, ông mang vết thương lòng.Năm 1914, ông bị Pháp bắt giam ở nguc La Santé vì tình nghi tư thông với Đứcngót 9 tháng mới được thả Khi Sang Pháp, ông ở nhà luật sư Phan Văn Trường,
mở một hiệu sửa ảnh, sống thanh bạch (Nguyễn Tất Thành cũng từng làm việc tại
2 Trích trong Bài báo “ Hiện trạng vấn đề” được Phan Châu Trinh viết bằng chữ Hán đăng lần đầu năm 1907 trên
Đại Việt Tân báo (tức Đăng Cổ Tùng Báo đổi tên).