tiếp cận, khai thác dưới nhiều góc độ, nhiều khía cạnh khác nhau hết sức phong phú và đa dạng, nhưng có thể khái quát tình hình nghiên cứu tư tưởng đạo đức của Phan Châu Trinh theo một s
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
- -
NGUYỄN THỊ MINH TRANG
TƯ TƯỞNG ĐẠO ĐỨC CỦA PHAN CHÂU TRINH
- ĐẶC ĐIỂM VÀ Ý NGHĨA LỊCH SỬ CỦA NÓ
LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC
TP HỒ CHÍ MINH – 2017
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
- -
NGUYỄN THỊ MINH TRANG
TƯ TƯỞNG ĐẠO ĐỨC CỦA PHAN CHÂU TRINH
- ĐẶC ĐIỂM VÀ Ý NGHĨA LỊCH SỬ CỦA NÓ
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, dưới sự hướng dẫn khoa học của TS Cao Xuân Long Các số liệu trong luận văn là trung thực, đảm bảo tính khoa học, khách quan và có nguồn gốc xuất xứ rõ ràng
Tp Hồ Chí Minh, ngày tháng năm 2017
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Minh Trang
Trang 4MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU ………… 1 Chương 1 ĐIỀU KIỆN LỊCH SỬ - XÃ HỘI, TIỀN ĐỀ VÀ QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG ĐẠO ĐỨC CỦA PHAN CHÂU TRINH……… …17
1.1 ĐIỀU KIỆN LỊCH SỬ - XÃ HỘI CHO SỰ HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG ĐẠO ĐỨC CỦA PHAN CHÂU TRINH 17 1.1.1 Điều kiện lịch sử xã hội thế giới cho sự hình thành tư tưởng đạo đức của Phan Châu Trinh 17 1.1.2 Điều kiện lịch sử, xã hội Việt Nam cho sự hình thành tư tưởng đạo đức của Phan Châu Trinh 24 1.2 TIỀN ĐỀ LÝ LUẬN VỚI SỰ HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG ĐẠO ĐỨC PHAN CHÂU TRINH 36 1.2.1 Truyền thống văn hóa Việt Nam với sự hình thành tư tưởng đạo đức Phan Châu Trinh 36 1.2.2 Tam giáo với sự hình thành tư tưởng đạo đức Phan Châu Trinh 39 1.2.3 Tân thư với sự hình thành tư tưởng đạo đức Phan Châu Trinh 46 1.3 QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN TƯ TƯỞNG ĐẠO ĐỨC PHAN CHÂU TRINH QUA MỘT SỐ SỰ KIỆN VÀ TÁC PHẨM TIÊU BIỂU 52 1.3.1 Quá trình hình thành và phát triển tư tưởng đạo đức Phan Châu Trinh qua một số sự kiện tiêu biểu 52 1.3.2 Quá trình hình thành và phát triển tư tưởng đạo đức Phan Châu Trinh qua một số tác phẩm tiêu biểu 57
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 ………65
Trang 5Chương 2 NỘI DUNG, ĐẶC ĐIỂM, GIÁ TRỊ VÀ Ý NGHĨA LỊCH SỬ
CỦA TƯ TƯỞNG ĐẠO ĐỨC PHAN CHÂU TRINH ………67
2.1 NỘI DUNG TƯ TƯỞNG ĐẠO ĐỨC CỦA PHAN CHÂU TRINH 67
2.1.1 Khái niệm, vị trí, vai trò, đối tượng của đạo đức 67
2.1.2 Các chuẩn mực đạo đức 71
2.1.3 Phương pháp xây dựng đạo đức của xã hội, tu dưỡng, rèn luyện đạo đức của cá nhân 84
2.2 ĐẶC ĐIỂM, GIÁ TRỊ, HẠN CHẾ TRONG TƯ TƯỞNG ĐẠO ĐỨC PHAN CHÂU TRINH 87
2.2.1 Đặc điểm chủ yếu trong tư tưởng đạo đức Phan Châu Trinh 87
2.2.2 Giá trị và hạn chế trong tư tưởng đạo đức của Phan Châu Trinh 95
2.3 Ý NGHĨA LỊCH SỬ CỦA TƯ TƯỞNG ĐẠO ĐỨC PHAN CHÂU TRINH 99
2.3.1 Ý nghĩa lý luận 99
2.3.2 Ý nghĩa thực tiễn 100
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 104
PHẦN KẾT LUẬN CHUNG …….106
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO …….111
Trang 6PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Ở bất cứ một xã hội nào, và tại bất cứ thời điểm nào đạo đức luôn giữ vai trò vô cùng quan trọng trong việc hình thành, phát triển nhân cách cá nhân; trở thành thước đo giá trị con người và đòn bẩy phát triển xã hội Trong hơn 85 năm qua kể từ khi có Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời và lãnh đạo cách mạng, dưới ánh sáng của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đất nước ta đã gặt hái được nhiều thành tựu nổi bật trên tất cả các lĩnh vực trong quá trình hội nhập quốc tế Tuy nhiên cũng chính trong quá trình này, đạo đức xã hội đã và đang đặt ra nhiều vấn đề cần phải được giải quyết
Thực tế cho thấy rằng, trong đời sống hàng ngày đã có những biểu hiện coi nhẹ những giá trị truyền thống, chạy theo thị hiếu không lành mạnh Đáng chú ý là “tệ sùng bái” nước ngoài, coi thường những giá trị văn hoá dân tộc, chạy theo lối sống thực dụng, cá nhân vị kỷ đang gây hại đến thuần phong mỹ tục của dân tộc Không ít trường hợp vì đồng tiền và danh
dự mà chà đạp lên tình nghĩa gia đình, quan hệ thầy trò, đồng chí, đồng nghiệp Buôn lậu và tham nhũng phát triển Ma tuý, mại dâm và các tệ nạn
xã hội khác gia tăng…Đặc biệt Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XI nhận định: “Một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, trong đó có những đảng viên giữ vị trí lãnh đạo, quản lý, kể cả một số cán bộ cao cấp, suy thoái
về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống với những biểu hiện khác nhau về sự phai nhạt lý tưởng, sa vào chủ nghĩa cá nhân ích kỷ, cơ hội, thực dụng, chạy theo danh lợi, tiền tài, kèn cựa địa vị, cục bộ, tham nhũng, lãng phí, tùy tiện,
vô nguyên tắc ” [32, tr.21]
Thực trạng đó làm ảnh hưởng nghiêm trọng tới quá trình hình thành nhân cách con người mới, làm băng hoại đạo đức truyền thống, làm sợi xây
Trang 7liên kết xã hội lỏng lẻo, làm mối quan hệ giữa Đảng và nhân dân suy yếu…Vì thế trong văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Đảng đưa ra phương hướng, nhiệm vụ phát triển văn hóa trong 5 năm tới: “Khẳng định, tôn vinh cái đúng, cái tốt đẹp, tích cực, cao thượng; nhân rộng các giá trị cao đẹp, nhân văn Đấu tranh phê phán, đẩy lùi cái xấu, cái ác, thấp hèn, lạc hậu; chống các quan điểm, hành vi sai trái, tiêu cực ảnh hưởng xấu đến xây dựng nền văn hóa, làm tha hóa con người Có giải pháp ngăn chặn và đẩy lùi sự xuống cấp về đạo đức xã hội, khắc phục những mặt hạn chế của con người Việt Nam” [33, tr.127]
Vậy đâu là giải pháp để khắc phục thực trạng trên?
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nói: “Đối với các dân tộc Á Đông thì một tấm gương sống còn có giá trị hơn một trăm bài diễn văn tuyên truyền” Cho nên một trong những giải pháp góp phần khắc phục tình trạng xuống cấp đạo đức hiện nay chính là “nêu gương”: nêu lại những tấm gương sáng về đạo đức cách mạng, đạo đức truyền thống, tìm hiểu lại những tư tưởng đạo đức của những nhân vật tiêu biểu để khơi gợi lại tinh thần dân tộc, tạo động lực phấn đấu hoàn thiện nhân cách con người mới Một trong những nhân vật tiêu biểu
có tư tưởng đạo đức nổi bật đó là Phan Châu Trinh (1867 - 1940) - là một trong những nhà yêu nước tiêu biểu của Việt Nam cuối thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX
Trong tình cảnh nhân dân ta bị áp bức nặng nề bởi cùng một lúc hai thế lực là thực dân Pháp và triều đình phong kiến nhà Nguyễn, người chí sĩ ấy đã không chọn con đường quy ẩn mà vẫn hiên ngang đối chọi với kẻ thù, vẫn trăn trở làm sao để tìm ra con đường giải phóng dân tộc Không đi theo những lối mòn dường như lâm vào bế tắc như những nhà yêu nước trước đó, Phan Châu Trinh đã chọn cho mình một hướng đi riêng, mới mẻ và quyết đoán: Ông đã không lãnh đạo người nông dân đứng lên đấu tranh chống Pháp như Hoàng Hoa Thám, cũng không chọn con đường Đông du và bạo động cách
Trang 8mạng như Phan Bội Châu… mà đề xướng đường lối dân chủ với câu khẩu hiệu “Khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh” Phương án canh tân này tuy không sử dụng bạo lực để cứu nước, nhưng vẫn gây được tiếng vang lớn khiến thực dân Pháp phải dè chừng, còn nhân dân ta thì đông đảo đứng lên hưởng ứng Phan Châu Trinh cũng là một trong những người chịu ảnh hưởng bởi các luồng tư tưởng Đông - Tây mạnh mẽ nhất Tư tưởng của ông là sự dung hợp đặc sắc của tư tưởng Tam giáo đồng nguyên (Nho giáo - Phật giáo - Đạo giáo) và tư tưởng dân chủ tư sản tiến bộ của phương Tây lúc bấy giờ mà đặc biệt là tư tưởng dân chủ tư sản Pháp
Trong cuộc đời hoạt động của mình, Phan Châu Trinh đã để lại cho chúng ta nhiều tư tưởng có giá trị như tư tưởng về dân chủ, về giáo dục hay
về chính trị - xã hội, nhưng tiêu biểu, quan trọng trong hệ thống tư tưởng của ông đó là tư tưởng đạo đức Ông đã kết hợp một cách khá nhuần nhuyễn tư tưởng văn hóa Đông - Tây với truyền thống văn hóa Việt Nam trong tư tưởng
về đạo đức của mình
Tư tưởng đạo đức của Phan Châu Trinh thể hiện qua tình yêu của ông đối với quê hương đất nước, thể hiện qua những áng văn, thơ tố cáo tội ác của nhà cầm quyền và thể hiện qua lý tưởng giải phóng dân tộc, giải phóng con người Do đó tư tưởng đạo đức của ông có thể được xem như tiếng chuông hồi tỉnh những con người đang mê muội, chìm đắm trong giấc mộng phù phiếm về một chế độ phong kiến đã không còn phù hợp ở nước ta trong giai đoạn cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX Những điểm tiến bộ trong tư tưởng đạo đức của ông có thể trở thành cơ sở lý luận để Đảng ta hoạch định những chính sách lớn trong chiến dịch xây dựng, phát huy truyền thống đạo đức cho nhân
dân Việt Nam trong thời đại mới
Nhìn nhận một cách khoa học và đúng đắn những nội dung, đặc điểm, giá trị cơ bản trong tư tưởng đạo đức của Phan Châu Trinh trong giai đoạn
Trang 9lịch sử Việt Nam cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX để rút ra bài học đối với thực tiễn cách mạng Việt Nam hiện nay là yêu cầu cấp thiết Do vậy, tác giả
đã chọn đề tài “Tư tưởng đạo đức của Phan Châu Trinh - đặc điểm và ý nghĩa
lịch sử của nó” làm luận văn thạc sĩ Triết học của mình
2.Tổng quan tình hình nghiên cứu của đề tài
Tư tưởng đạo đức của Phan Châu Trinh với ý nghĩa lý luận sâu sắc và ý nghĩa thực tiễn thiết thực nên đã thu hút được sự quan tâm của đông đảo các học giả, các nhà khoa học, các nhà nghiên cứu tiếp cận, khai thác dưới nhiều góc độ, nhiều khía cạnh khác nhau hết sức phong phú và đa dạng, nhưng có thể khái quát tình hình nghiên cứu tư tưởng đạo đức của Phan Châu
Trinh theo một số hướng chính sau đây:
Hướng nghiên cứu thứ nhất, những công trình nghiên cứu về điều kiện, tiền đề, quá trình hình thành tư tưởng đạo đức của Phan Châu Trinh, hay
nghiên cứu Phan Châu Trinh trong dòng chảy lịch sử của dân tộc
Tiêu biểu cho hướng này trước hết phải kể đến cuốn sách “Đại cương
lịch sử Việt Nam”, (Toàn tập, Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội, 2003), của GS
Trương Hữu Quýnh, GS Đinh Xuân Lâm, PGS Lê Mậu Hãn (Chủ biên) Trong tác phẩm này, các tác giả đã nghiên cứu và trình bày một cách khá hệ thống về đời sống xã hội như: kinh tế, chính trị, văn hóa, tư tưởng,… của giai đoạn từ cuối thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX Nghiên cứu về sự phát triển tư
tưởng Việt Nam giai đoạn này còn có công trình “Sự phát triển của tư tưởng
ở Việt Nam từ thế kỷ XIX đến Cách mạng Tháng Tám”, gồm 3 tập, Nhà xuất
bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1996 của GS.Trần Văn Giàu Đây là một công trình nghiên cứu đồ sộ đề cập quá trình chuyển biến của ba hệ tư tưởng nối tiếp nhau, xen kẽ và đấu tranh với nhau, đó là: hệ ý thức phong kiến; hệ ý
thức tư sản; hệ ý thức vô sản Hay trong tác phẩm “Nho giáo và văn học Việt
Nam trung cận đại”, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 1999, GS.Trần Đình Hượu; tác
Trang 10giả cũng đã nghiên cứu tư tưởng triết lý Nho giáo, qua một số nhà tư tưởng tiêu biểu của Việt Nam thời kỳ trung đại và cận đại trong đó đã khái quát các quan điểm của Phan Châu Trinh
Hay công trình Lịch sử tư tưởng Việt Nam do Viện Triết học thực hiện
gồm 2 tập, với tổng số 944 trang Nhìn chung đây là công trình khá toàn diện, phong phú và sâu sắc về các nội dung tư tưởng Việt Nam Trong đó, với tiêu
đề Lịch sử tư tưởng Việt Nam, tập I do PGS Nguyễn Tài Thư (chủ biên),
Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1993 Đây là thành quả sau 20 năm nghiên cứu của nhóm tác giả Trong cuốn sách này đã được tập thể tác giả kết cấu thành 7 phần, 23 chương
Trong Phần hai với tiêu đề Tư tưởng Việt Nam trước một số vấn đề của
thực tiễn bảo vệ tổ quốc hồi nửa cuối thế kỷ XIX Nội dung của phần này được
giải quyết trong 8 chương, từ việc giải quyết những vấn đề cụ thể của lịch sử
xã hội đặt ra cho các nhà tư tưởng Việt Nam giải quyết như: vấn đề về chủ quyền quốc gia, đất nước thống nhất, hay vấn đề về nước, vua và trung vua, yêu nước thương dân, những tư tưởng về đạo làm người, đến vấn đề nhận diện kẻ thù… công trình đã trình bày phân tích những nhà tư tưởng tiêu biểu như Đặng Đức Tuấn, Vũ Phạm Khải, Nguyễn Xuân Ôn, Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, từ việc trình bày những nội dung, phân tích những giá trị và hạn chế, công trình cũng đã chỉ ra rằng đối diện với sự xâm lược của chủ
nghĩa thực dân phương Tây, tư tưởng Việt Nam đang cần được nâng nên một
tầm mới, và - muốn vậy - đang cần một hệ tư tưởng mới cao hơn hệ tư tưởng phong kiến truyền thống
Cũng với hướng nghiên cứu trên, còn phải kể đến hai tập Lịch sử tư
tưởng Việt Nam văn tuyển do Trần Nguyên Việt, Viện triết học Việt Nam chủ
biên, trong đó tập 1 trích tuyển các bản văn về lịch sử tư tưởng Việt Nam từ đầu Công nguyên đến cuối thời Lý, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, xuất bản
Trang 11năm 2002; tập 2 trích tuyển các bản văn về tư tưởng Việt Nam thời kỳ Trần -
Hồ, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, xuất bản năm 2004, công trình này đã khái quát những tác phẩm tiêu biều của Phan Châu Trinh
Nghiên cứu theo hướng này còn có tác phẩm Bước chuyển tư tưởng
Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX do Trương Văn Chung, Doãn Chính
(đồng chủ biên), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2005 và đề tài Tư tưởng
Việt Nam cuối thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX qua một số chân dung tiêu biểu,
(Mã số: B2004 - 18b - 06) do Vũ Văn Gầu làm chủ nhiệm đề tài Thông qua
một số nhà tư tưởng tiêu biểu giai đoạn cuối thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX trong đề tài các tác giả của các đề tài trên đã phân tích nêu bật được những vấn đề như: Tiền đề xuất hiện tư tưởng Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX; nội dung, đặc điểm và bài học lịch sử của tư tưởng Việt Nam ở thời kỳ
này Trong các công trình viết về giai đoạn cuối thế kỷ XIX còn có cuốn Tư
tưởng cải cách ở Việt Nam nửa cuối thế kỷ XIX của Lê Thị Lan, Nxb Khoa
học xã hội, Hà Nội, 2002, tác giả đã trình bày khá sâu sắc các điều kiện xuất hiện các tư tưởng cải cách Việt Nam cuối thế kỷ XIX; một số đóng góp căn bản trên phương diện tư tưởng của các nhà canh tân và có sự so sánh các tư tưởng này của Việt Nam với Nhật Bản, Thái Lan để làm sáng tỏ những nguyên nhân cơ bản dẫn tới việc các đề nghị cải cách không được hiện thực hóa; qua đó tác giả cũng đã nêu lên vị trí, ý nghĩa của của tư tưởng canh tân cuối thế kỷ XIX trong lịch sử cũng như trong hiện tại Hay trong luận án tiến
sĩ Bước chuyển tư tưởng chính trị Việt Nam từ cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX -
giá trị và bài học lịch sử của Phạm Đào Thịnh, tác giả đã làm rõ ba vấn đề: một là, tìm hiểu hoàn cảnh lịch sử thế giới; những điều kiện kinh tế, chính trị -
xã hội, văn hóa, khoa học - kỹ thuật ở nước ta; những tiền đề lý luận và yếu tố chủ quan của các nhà tư tưởng tạo nên bước chuyển tư tưởng chính trị Việt
Nam từ cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX; hai là, từ những tiền đề hình thành tư
Trang 12tưởng chính trị, tác giả đã trình bày khái quát nội dung, đặc điểm của bước chuyển tư tưởng chính trị Việt Nam từ cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX thông qua tư tưởng của của các nhà tư tưởng, các nhà cách mạng tiêu biểu như: Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, Nguyễn An Ninh, Huỳnh Thúc Kháng, và
thông qua các trào lưu tư tưởng Duy Tân, Đông Kinh Nghĩa Thục; ba là, trên
cơ sở nội dung và đặc điểm tác giả đã rút ra giá trị và bài học lịch sử của bước chuyển tư tưởng chính trị Việt Nam từ cuối thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX đối với nhận thức nói chung và công cuộc đổi mới ở Việt Nam hiện nay
Tiếp theo, phải nói đến công trình Lịch sử tư tưởng Việt Nam do Viện
Triết học thực hiện gồm 2 tập, với tổng số 944 trang Nhìn chung đây là công trình khá toàn diện, phong phú và sâu sắc về các nội dung tư tưởng Việt Nam Trong đó liên quan đến đề tài phải kể đến tập 2 của Lê Sỹ Thắng với tiêu đề
Lịch sử tư tưởng Việt Nam, tập 2, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, năm 1997,
trong tập này ngoài phần Vào đề, Kết luận, Chú thích, Mục lục thì nội dung được kết cấu thành 3 phần, 17 chương với 447 trang sách Trong Phần một với tiêu đề Một bước phát triển của hệ tư tưởng phong kiến Việt Nam:
Khuynh hướng tự khẳng định và thành tựu của khuynh hướng này Ở phần
này công trình đã làm rõ những nội dung như: một là, Phật giáo bị bác bỏ, Nho giáo giành địa vị độc tôn trong hệ tư tưởng chính thống, hai là, khuynh hướng và sự cố gắng xây dựng hệ tư tưởng riêng mà Nho giáo là nòng cốt, ba
là, Minh Mệnh và chính sách Minh Mệnh chính yếu, bốn là, Nguyễn Đức Đạt
và tác phẩm Nam Sơn tùng thoại, như vậy, từ bốn nội dung này công trình đã
khẳng định rằng các nhà tư tưởng ở giai đoạn này có “khuynh hướng muốn xây dựng hệ thống tư tưởng, quan điểm mang màu sắc Việt Nam, tuy vẫn lấy Nho giáo làm nòng cốt, vẫn sử dụng các phạm trù, khái niệm của Nho giáo và vẫn phải dùng chữ Hán”, nhưng các quan điểm của các nhà tư tưởng Việt
Nam ở thời kỳ này “bao quát nhiều lĩnh vực hơn là nội dung các sách kinh
Trang 13điển của Khổng Mạnh, và mở rộng, bàn kỹ hơn các sách kinh điển ấy đối với cùng những vấn đề như nhau” [87, t.2, tr.144]
Trong Phần hai với tiêu đề Tư tưởng Việt Nam trước một vấn đề của
thực tiễn bảo vệ tổ quốc hồi nửa cuối thế kỷ XIX Nội dung của phần này được
giải quyết trong 8 chương, từ việc giải quyết những vấn đề cụ thể của lịch sử xã hội đặt ra cho các nhà tư tưởng Việt Nam giải quyết như: vấn đề về chủ quyền quốc gia, đất nước thống nhất, hay vấn đề về nước, vua và trung vua yêu nước thương dân, những tư tưởng về đạo làm người, đến vấn đề nhận diện kẻ thù… công trình đã trình bày phân tích những nhà tưởng tiêu biểu như Đặng Đức Tuấn, Vũ Phạm Khải, Nguyễn Xuân Ôn, từ việc trình bày những nội dung, phân tích những giá trị và hạn chế công trình cũng đã chỉ ra rằng đối diện với
sự xâm lược của chủ nghĩa thực dân phương Tây, tư tưởng Việt Nam “đang
cần được nâng nên một tầm mới, và - muốn vậy - đang cần một hệ tư tưởng mới cao hơn hệ tư tưởng phong kiến truyền thống” [87, t.2, tr.278]
Phần ba với tiêu đề Tư tưởng Canh Tân Nội dung của phần này được
triển khai trong 5 chương (từ chương XIII đến chương XVII) công trình từ việc trình bày những vấn đề về quá trình, cũng như những đặc trưng trong tư tưởng canh tân và bảo thủ, đã đi đến khái quát những quan điểm của các nhà
tư tưởng canh tân giai đoan này như: Phạm Phú Thứ, Đặng Huy Trứ, Nguyễn Trường Tộ, Nguyễn Lộ Trạch,Phan Châu Trinh,… từ đó khái quát những nội dung, giá trị, hạn chế của tư tưởng canh tân thời kỳ này Như vậy, thông qua hai tập của bộ sách này có thể nhận thấy rằng công trình này có nội dung phong phú, hệ thống, và có chất lượng tốt về lịch sử tư tưởng Việt Nam nói chung, nhưng chưa thực sự đi sâu khai thác phần tư tưởng triết học trên các phương diện về thế giới quan, nhận thức luận và nhân sinh quan
Cũng nghiên cứu về quá trình phát triển của lịch sử tư tưởng Việt Nam
còn có tác phẩm Lịch sử tư tưởng Việt Nam của Huỳnh Công Bá, Nxb.Thuận
Trang 14Hóa, Huế, năm 2006, tác phẩm ngoài lời nói đầu, dẫn luận, kết luận, thư mục tài liệu tham khảo, mục lục thì nội dung tác phẩm được phân thành 4 chương,
14 tiết Trong đó: Chương 1 với tiêu đề Tư tưởng triết học, đã trình bày khái quát về vấn đề vũ trụ quan, nhân sinh quan Chương 2 với tiêu đề Tư tưởng
chính trị, đã trình bày nội dung tư tưởng chính trị qua tư tưởng nhân trị của
Nho giáo, qua tư tưởng dân chủ tư sản và qua tư tưởng Hồ Chí Minh Còn
Chương 3 với tiêu đề Tư tưởng tôn giáo công trình đã nghiên cứu qua các tôn
giáo lớn ở Việt Nam như: Bàlamôn giáo, Phật giáo, Đạo giáo, Thiên Chúa giáo, Hồi giáo, Đạo Cao đài, Phật giáo Hòa Hảo Qua việc trình bày, phân tích nội dung tư tưởng của các nhà tư tưởng trong lịch sử Việt Nam, tác phẩm đi đến nhận định vấn đề cốt lõi trong lịch sử tư tưởng Việt Nam là “yêu nước - dân chủ - nhân ái”, để tạo ra những quan điểm sâu sắc của người Việt Tuy nhiên, do phương pháp tiếp cận của tác phẩm chủ yếu là phương pháp lịch sử, cho nên mặc dù đã có tính hệ thống, nhưng nội dung các quan điểm của các nhà tư tưởng chưa được tác phẩm phân tích một cách toàn diện và sâu sắc để làm rõ hơn lịch sử tư tưởng Việt Nam
Đặc biệt trong thời gian gần đây có công trình Đại cương Lịch sử tư
tưởng triết học Việt Nam, tập 1 do Nguyễn Hùng Hậu (Chủ biên), Nxb Đại
học quốc gia, Hà Nội, năm 2002 Cuốn sách này ngoài Lời nhà xuất bản, danh
mục tài liệu tham khảo thì nội dung được kết cấu thành 6 chương: chương 1, với tiêu đề một Vài vấn đề về phương pháp luận, nhóm tác giả từ sự khái quát
các công trình nghiên cứu trong nước đã công bố đi đến khái quát các quan
điểm khác nhau về câu hỏi Việt Nam có tư tưởng, tư tưởng triết học hay triết
học hay không? Và từ việc luận giải, phân tích sự khác nhau trong việc giải
quyết vấn đề cơ bản của triết học, cũng như đặc trưng trong tư tưởng phương Tây, phương Đông với tư tưởng Việt Nam để từ đó cuốn sách đã chỉ ra các phương pháp tiếp cận nghiên cứu tư tưởng Việt Nam như: một là, khi nghiên
Trang 15cứu triết học Việt Nam “không nên đi từ vấn đề cơ bản của triết học là mối
quan hệ giữa vật chất và ý thức” [45, t.1, tr.13] mà có thể đi theo hai cách: thứ nhất là, đi từ hiện tượng đến những khái quát có tính chất triết học về
nhân sinh quan, đạo lý làm người, rồi đến thế giới quan; thứ hai là, đi từ thế
giới quan đến nhân sinh quan rồi đến lý luận đạo đức, đạo lý làm người, ngoài
ra theo công trình này khi tiếp cận triết học Việt Nam ngoài việc tiếp cận từ các “văn bản mang tính chất bác học” thì cần tiếp cận qua các thơ ca, hò vè,
ca dao, tục ngữ, ngụ ngôn, tiếu lâm, phong giao,… hay nghiên cứu tư tưởng của các nhà tư tưởng Việt Nam cần phải có quan điểm toàn diện, nghiên cứu
“ở khắp mọi nơi, trong hành vi, trong hành động, trong đối nhân xử thế,
trong toàn bộ cuộc đời họ” [45, t.1, tr.15] Chương 2, với tiêu đề Cơ sở hình thành và đặc điểm của triết học Việt Nam, nhóm tác giả đã khái quát cơ sở
xã hội đối với việc hình thành tư tưởng triết học Việt Nam, đặc biệt nhóm tác giả xuất phát từ việc phân tích ảnh hưởng của phương thức sản xuất châu
Á đến việc hình thành tư tưởng triết học của Việt Nam, từ đó đã chỉ ra sáu đặc điểm của lịch sử tư tưởng triết học Việt Nam đó là: tư tưởng Việt Nam
“gắn với chủ nghĩa yêu nước, với công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước”;
tư tưởng Việt Nam có hướng trội là “đi từ nhân sinh quan đến thế giới quan” trong đó “vấn đề trung tâm hàng đầu là vấn đề con người, đạo làm người”;
tư tưởng triết học Việt Nam là “sự thể hiện, phản ánh nhân sinh quan, thế giới quan của cộng đồng dân tộc”; tư tưởng triết học Việt Nam xét trên bình diện vấn đề cơ bản của triết học thì “khuynh hướng duy tâm tôn giáo trội hơn khuynh hướng duy vật vô thần”; tư tưởng triết học Việt Nam hướng nội
“lấy trong giải thích ngoài”, biện chứng trong tư tưởng triết học Việt Nam
“nghiêng về thống nhất”, “đi theo vòng tròn tuần hoàn” Chương 3, với tiêu
đề Vài nét về kinh tế, xã hội và thế giới quan của người Việt thời tiền sử,
nhóm tác giả trình bày khá khái quát về các giai đoạn trong thời tiền sử, về
Trang 16triều đại, về kinh tế xã hội, văn hóa, tư tưởng, tôn giáo và đặc trưng trong
các giai đoạn ở thời kỳ này Chương 4, với tiêu đề Tư tưởng triết học Việt
Nam trong cuộc đấu tranh thời Bắc thuộc, công trình đã trình bày khái quát
quá trình du nhập của Nho giáo, Phật giáo, Đạo giáo vào nước ta Chương 5, với tiêu đề Tư tưởng triết học Việt Nam từ thế kỷ thứ X đến thế kỷ XIV (chủ
yếu thời Lý - Trần), nhóm tác giả đã trình bày những tư tưởng triết học của
thiền phái Tì Ni Đa Lưu Chi, thiền phái Vô Ngôn Thông, thiền phái Thảo Đường, Trần Thái Tông, Tuệ Trung Thượng Sĩ, thiền phái Trúc Lâm Yên
Tử, binh pháp Trần Quốc Tuấn, và tư tưởng Nho giáo Việt Nam từ thế kỷ X
đến XIV, Chủ nghĩa yêu nước Việt Nam từ thế kỷ X đến XIV Chương 6 với tiêu đề Tư tưởng triết học Việt Nam từ thế kỷ XV đến 1858 trong chương này
tác giả đã trình bày khái quát các nhà tư tưởng như Nguyễn Trãi, Lê Thánh Tông, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Dữ, Phùng Khắc Khoan, Hương Hải thiền sư, Chân Nguyên thiền sư, Lê Quý Đôn, Lê Hữu Trác, Ngô Thì Nhậm, Minh Mệnh, Nguyễn Đức Đạt và khái quát chung về thế giới quan, nhân sinh quan triều Nguyễn Như vậy, có thể nhận thấy rằng đây là một trong số
ít các công trình khi nghiên cứu vấn đề này đã lấy tiêu đề Lịch sử tư tưởng
triết học Việt Nam, với 224 trang sách, nhìn chung đây là một công trình
khái quát khá toàn diện và sâu sắc về những vấn đề trong lịch sử tư tưởng triết học Việt Nam, điều đó thể hiện sự nghiêm túc, công phu trong nghiên cứu của nhóm tác giả
Đặc biệt là công trình Lịch sử tư tưởng triết học Việt Nam, Nxb.Chính
trị quốc gia, Hà Nội, 2014 do PGS.TS.Trịnh Doãn Chính làm chủ biên Đây là một trong số ít các công trình nghiên cứu đồ sộ, có giá trị, khá toàn diện các quan điểm, tư tưởng với tư cách là lịch sử tư tưởng triết học Việt Nam
Như vậy, có thể thấy rằng ở hướng thứ nhất đã có nhiều công trình phân
tích khá hệ thống, sâu sắc về những điều kiện, tiền đề hình thành tư tưởng đạo
Trang 17đức của Phan Châu Trinh, những tài liệu ấy là cơ sở có giá trị, đáng tin cậy cho tác giả kế thừa khi thực hiên nội dung chương 1
Hướng nghiên cứu thứ hai là những công trình nghiên cứu những khía cạnh trong nội dung tư tưởng Phan Châu trinh nói chung và Tư tưởng Phan Châu Trinh về đạo đức nói riêng Tiêu biểu hướng này phải kể đến những
công trình như: Phan Chu Trinh toàn tập, gồm 3 tập, Nxb Đà Nẵng, năm
2005 Nhân kỷ niệm 79 năm ngày mất của người chí sĩ yêu nước Phan Châu Trinh (24/03/2005), Hội khoa học lịch sử Việt Nam mà trực tiếp là các Giáo
sư Chương Thâu, nhà sử học Dương Trung Quốc và bà Phan Thị Minh - hậu duệ của cụ Phan Châu Trinh - đã sưu tập toàn bộ trước tác của cụ Phan và lần đầu tiên công bố đầy đủ nhất trong ba tập sách với tổng cộng hơn 2000 trang
in khổ lớn Với 3 tập của tác phẩm Phan Châu Trinh toàn tập, Nxb Đà Nẵng,
2005 này, người đọc sẽ có cái nhìn tổng thể về sự nghiệp văn chương và tư tưởng chính trị của nhà chí sĩ Phan Châu Trinh qua số lượng lớn tác phẩm của ông còn để lại, Trong đó:
Ở tập 1 của bộ sách sẽ giới thiệu các tác phẩm văn vần bao gồm thơ, phú và câu đối Ngoài số lượng thơ chữ Hán được xem là các sáng tác hàn lâm của một nhà nho, các tập thơ quan trọng của Phan Châu Trinh đều được tập hợp ở đây như: Tây hồ thi tập với 74 bài thơ thất ngôn nhiều nội dung chủ đề: thơ thù tạc với bạn, làm khi cảm khái thế sự nhân tình, nói chuyện với ông nghè Trương Gia Mô, xướng hoạ với một số thi hữu Đặc biệt trong tập thơ này còn có 20 bài liên hoàn hoạ vận 10 bài tự thuật của Tôn Thọ Tường đủ thấy sự bức xúc của Phan Châu Trinh trước thái độ theo Pháp của Tôn Thọ Tường lúc bấy giờ Ngoài ra, trong tập 1 còn có tập thơ đồ sộ Santé thi tập với hơn 220 bài thơ ông viết trong thời gian mười tháng bị giam ở nhà ngục Santé của Pháp từ tháng 09/1914 đến tháng 07/1915 Điểm đặc biệt của tập thơ này
là cụ Phan đã dùng thơ thất ngôn bát cú Đường luật để chú giải, vịnh những
Trang 18câu ca dao tục ngữ, thành ngữ của Việt Nam Hơn nữa, phẩm Giai nhân kì ngộ diễn ca cũng được in đầy đủ với phần dịch của cụ Phan 8 hồi và của ông Trần Tiêu 7 hồi
Tập 2 của bộ sách chủ yếu là các tác phẩm chính luận của cụ Phan, đặc biệt có những chuyên khảo quan trọng như Đầu Pháp chính phủ thư (thư gửi toàn quyền Đông Dương), Đông Dương chính trị luận, Điều trần gửi hội nhân quyền và Trung kỳ dân biến tụng oan thỉ mạt ký (đây là bài ký quan trọng kể lại đầu đuôi vụ dân biến ở Trung kỳ vào năm 1908), ngoài ra còn có một số thư tín và bài báo
Tập 3 giới thiệu các bức thư quan trọng của Phan Châu Trinh trong quãng đời hoạt động cách mạng Lại có cả các mật báo của chỉ điểm Pháp, ghi lại những tư liệu quan trọng như: cuộc gặp gỡ giữa Phan Châu Trinh, Nguyễn Văn Vĩnh và Phạm Quỳnh tại Marseille, thư gửi Phan Văn Trường, thư gửi Sarraut năm 1922 Ngoài ra còn có tác phẩm Thư thất điều gửi đương kim hoàng đế An Nam và một số bài báo Đặc biệt, trong cuốn tập 3 này còn ghi lại hai bài diễn thuyết của Phan Châu Trinh tại Sài Gòn đó là: Đạo đức và luân lý Đông Tây và Quân trị chủ nghĩa và dân trị chủ nghĩa Trong bộ sách
đồ sộ này còn sưu tập các bài viết, các ý kiến của những nhà cách mạng, những nhà nghiên cứu trong và ngoài nước viết về Phan Châu Trinh Có thể nói đây là tập sách đầu tiên sưu khảo toàn bộ trước tác của cụ Phan Châu Trinh, dựa vào nguồn di cảo của gia đình, các nguồn tư liệu từ rất nhiều người
đi trước đã từng nghiên cứu về Phan Châu Trinh - là một công trình giá trị đánh dấu những nỗ lực của hậu thế trong việc gìn giữ di sản văn hoá, tư tưởng, tài liệu của một nhà cách mạng tiền bối
Hay công trình Tuyển tập Phan Châu Trinh, Nguyễn Văn Dương (biên
soạn), Nxb Đà Nẵng, 1995 công trình này tuyển chon những tác phẫm tiêu biểu của Phan Châu Trinh
Trang 19Nghiên cứu theo hướng này cũng cần kể đến các công trình như: Phan
Châu Trinh, thân thế và sự nghiệp, của Huỳnh Lý, Nxb Đà Nẵng, 1992; Tìm hiểu tư tưởng dân chủ của Phan Châu Trinh, của Đỗ Thị Hòa Hới, Nxb Khoa
học xã hội, Hà Nội, 1996; Phan Châu Trinh qua những tài liệu mới, quyển 1, tập 1, Nxb Đà Nẵng, 2001, Phan Châu Trinh qua những tài liệu mới, tập 2, của Lê Thị Kinh (tức Phan Thị Minh), Nxb Đà Nẵng, 2003; Phan Châu
Trinh cuộc đời và tác phẩm, của Nguyễn Quang Thắng, Nxb Tp Hồ Chí
Minh, 1997; … Những công trình ấy đã trình bày, phân tích, và hệ thông những nội dung cơ bản trong tư tưởng Phan Châu Trinh
Hướng nghiên cứu thứ ba là những công trình nghiên cứu về đặt điểm giá trị, hạn chế và ý nghĩa lịch sử trong tư tưởng Phan Châu Trinh về đạo đức Khi nói đến hướng này trước tiên cần kể đến công trình tác giả Đỗ Thị
Hòa Hới với các bài: Tư tưởng đạo đức Phan Châu Trinh ( tạp chí Triết học,
số 6-2016); Tìm hiểu tư tưởng dân chủ của Phan Châu Trinh với tư tưởng tự
do - bình đẳng - bác ái của cách mạng Pháp 1789 (Tạp chí Triết học, số 4 -
1989); Tư tưởng canh tân sáng tạo đầu thế kỷ XX của chí sỹ Phan Châu Trinh (Tạp chí Triết học, số 3 - 2000); Phan Châu Trinh và sự thức tỉnh dân tộc đầu
thế kỷ XX (Tạp chí Triết học, số 4 - 1992); tác giả Chương Thâu với bài: Tinh thần dân tộc và dân chủ của Phan Châu Trinh qua Tỉnh quốc hồn ca (Số 11 -
2002); Ảnh hưởng của “Tân thư” trong tư tưởng của Phan Bội Châu và Phan
Châu Trinh (Tạp chí Triết học, số 2 -1997); Tư tưởng giáo dục của Phan Châu Trinh ( Tạp chí Khoa học Chính trị số 6-2016)
Từ những công trình đã khái quát ở trên có thể thấy rằng chưa có công trình nào nghiên cứu một cách chuyên biệt, hệ thống về tư tưởng đạo đức của Phan Châu Trinh Đặc điểm và ý nghĩa lịch sử của nó Tuy nhiên những công trình ấy vẫn là những tài liệu sâu sắc, có giá trị cho tác giả kế thừa khi nghiên cứu về đề tài này
Trang 203 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu đề tài
Mục đích của đề tài, Làm rõ nội dung trong tư tưởng đạo đức của Phan
Châu Trinh, qua một số khía cạnh về khái niệm, vai trò, vị trí, các chuẩn mực đạo đức, phương pháp xây dựng của nhà nước và rèn luyện đạo đức của con người,… Từ trên cơ sở đó rút ra những đặc điểm, giá trị, hạn chế và ý nghĩa của tư tưởng Phan Châu Trinh về đạo đức trong quá trình phát triển đất nước
Việt Nam hiện nay
Để đạt được mục đích của đề tài, thì nhiệm vụ nghiên cứu được tác giả đặt ra để giải quyết là:
Một là, trình bày, phân tích, làm rõ những điều kiện lịch sử - xã hội,
tiền đề lý luận và quá trình hình thành, phát triển tư tưởng đạo đức của Phan Châu Trinh
Hai là, trình bày, phân tích, làm rõ nội dung tư tưởng đạo đức của Phan
Châu Trinh, thông qua một số khía cạnh về khái niệm, vai trò, vị trí, các chuẩn mực đạo đức, phương pháp xây dựng và rèn luyện đạo đức
Ba là, thông qua nội dung tư tưởng đạo đức của Phan Châu Trinh để từ
đó rút ra những đặc điểm, và ý nghĩa lịch sử trong tư tưởng của ông đối với sự nghiệp phát triển đất nước ở Việt Nam hiện nay
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Tư tưởng Phan Châu Trinh, đặc điểm và ý nghĩa
lịch sử trong tư tưởng của ông
Phạm vi nghiên cứu: Đề tài chỉ tập trung nghiên cứu tư tưởng Phan
Châu Trinh về đạo đức - đặc điểm và ý nghĩa lịch sử của nó
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Về cơ sở lý luận, để đạt được mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu đặt ra
trong đề tài, khi nghiên cứu, trình bày luận văn này, tác giả dựa trên cơ sở thế giới quan, phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí
Trang 21Minh, trên quan điểm của Đảng, hiến pháp và pháp luật của nhà nước về vần
đề con người nhằm định hướng cho việc nghiên cứu đề tài này
Về phương pháp nghiên cứu, tác giả đã sử dụng các phương pháp cụ
thể như: lịch sử - logic, phân tích - tổng hợp, quy nạp - diễn dịch, so sánh - đối chiếu… và các góc độ tiếp cận của đề tài là từ góc độ giá trị, góc độ lịch
sử triết học
6.Kết cấu của luận văn
Ngoài các phần: lời cam đoan, phần mục lục, phần mở đầu, phần nội dung, phần kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phần phụ lục; nội dung
đề tài được kết cấu thành 2 chương, 6 tiết và 9 tiểu tiết
Trang 22Chương 1 ĐIỀU KIỆN LỊCH SỬ - XÃ HỘI, TIỀN ĐỀ VÀ QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG ĐẠO ĐỨC CỦA PHAN CHÂU TRINH
1.1 ĐIỀU KIỆN LỊCH SỬ - XÃ HỘI CHO SỰ HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG ĐẠO ĐỨC CỦA PHAN CHÂU TRINH
Tư tưởng là mặt tinh thần, ý thức của đời sống xã hội, phản ánh toàn bộ sinh hoạt vật chất và điều kiện sinh hoạt vật chất của một thời đại nhất định;
là một bộ phận của kiến trúc thượng tầng nên sẽ được xây dựng trên một cơ
sở hạ tậng nhất định Trong quá trình hình thành và phát triển, tư tưởng ở bất
kì giai đoạn lịch sử nào cũng đều xuất phát từ những điều kiện kinh tế - xã hội tương ứng Chính những điều kiện ấy đã trở thành nhân tố quan trọng quyết định đến việc hình thành, phát triển và nội dung, tính chất, đặc điểm, khuynh hướng vận động, biến đổi của tư tưởng chứ không phải hoàn toàn phụ thuộc vào ý chí chủ quan của các nhà tư tưởng Do vậy, để làm rõ nội dung tư tưởng đạo đức của Phan Châu Trinh, chúng ta phải làm rõ những điều kiện, tiền đề,
và quá trình hình thành, phát triển tư tưởng đạo đức của ông
1.1.1 Điều kiện lịch sử xã hội thế giới cho sự hình thành tư tưởng
đạo đức của Phan Châu Trinh
Trong những năm cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX tình hình thế giới có
nhiều biến động sâu sắc và chính những biến động này đã ảnh hưởng đến sự
hình thành tư tưởng đạo đức của Phan Châu Trinh
Từ thế kỷ XVII, mâu thuẫn giữa giai cấp tư sản lớn mạnh lên qua tích luỹ ban đầu với giai cấp thống trị phong kiến ngày càng gay gắt đòi hỏi bức thiết phải quét sạch sự ràng buộc và trở ngại của chế độ phong kiến Đồng thời, cuộc đấu tranh của nông dân chống địa chủ phong kiến cũng càng thêm quyết liệt Nông dân không ngừng nổi dậy khởi nghĩa, giáng đòn nặng nể vào
Trang 23chế độ phong kiến Nhưng nông dân không phải là người gánh vác của phương thức sản xuất mới, không thể hoàn thành nhiệm vụ tiêu diệt sự thống trị phong kiến Giai cấp tư sản đại diện cho chế độ mới lợi dụng lực lượng của đông đảo nông dân thông qua cách mạng lật đổ ách thống trị phong kiên, giành được chính quyền Cuộc cách mạng tư sản xảy ra sớm nhất ở Hà Lan, nhưng cuộc cách mạng tư sản có ý nghĩa lịch sử thế giới là cuộc cách mạng tư sản Anh năm 1642-1648 với việc thiêt lập chính quyền của giai cấp tư sản đánh dấu xã hội loài người từ thời đại phong kiến chủ nghĩa bước vào thời kỳ lịch sử mới tư bản chủ nghĩa Tiếp theo sau cuộc cách mạng Anh, cuộc cách mạng tư sản ở Mỹ và Pháp cũng giành được thắng lợi vào nửa sau thế kỷ XVIII, Phan Châu Trinh nhận định về các phong trào cách mạng ở Pháp: đó
là hoạt động mạnh mẽ và có hiệu quả của Liên Minh Nhân quyền của các Nghị sĩ cánh tả trong quốc hội Pháp, đấu tranh cho việc thực thi những nguyên lý dân chủ và nhân đạo đối với con người, là hoạt động mạnh của Đảng Xã hội dân chủ Pháp Đó còn là sự hiện diện của nhiều nhà yêu nước Việt Nam ở Pháp như Phan Văn Trường, Khánh Ký, v.v… và nhất là sự có mặt của Nguyễn Ái Quốc từ Anh sang năm 1917…; tất cả đã tạo cho Phan Châu Trinh những điều kiện thuận lợi để hoạt động cho mục tiêu chính trị đã hình thành trong ông từ khi còn ở trong nước và vẫn được kiên trì trong suốt thời gian ở Pháp; và, tuy không làm thay đổi căn bản phương thức đấu tranh của Phan Châu Trinh, song những sự kiện trên cũng đã góp phần làm cho tầm nhìn của Phan Châu Trinh được mở rộng thêm và trong thực tế cũng đã lôi cuốn Phan Châu Trinh vào những hoạt động thực sự có ý nghĩa cách mạng như tập hợp những người Việt Nam yêu nước trong tổ chức hợp pháp để tuyên truyền giác ngộ, tham gia các hoạt động sinh hoạt của Đảng bộ Đảng
Xã hội (một bộ phận sau đó chuyển thành Đảng Cộng sản), vận động Việt Kiều bỏ phiếu cho các ứng viên Nghị sĩ của Đảng cánh tả, kể cả Đảng Cộng
Trang 24sản, cũng tham gia vào nhiều tổ chức mang tính chất tiến bộ và cách mạng khác như “Hội liên hiệp thuộc địa”, “Ủy ban nghiên cứu các vấn đề thuộc địa” mà Nguyễn Ái Quốc là một trong số các sáng lập viên, v.v ” [95, t.2, tr.9] Nước Đức sau cách mạng năm 1848 thất bại, giai cấp tư sản thoả hiệp với địa chủ phong kiến, tiến hành cải cách tư sản, thành lập chính quyền liên minh giữa giai cấp tư sản và quý tộc địa chủ Những năm 60 của thế kỷ XIX, nước Nga thông qua xoá bỏ chế độ nông nô Nhật Bản thông qua “Minh Trị duy tân” cũng đều tiến hành cải cách tư sản Thắng lợi của các cuộc cách mạng tư sản đã tạo điều kiện thuận lợi cho phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa phát triển Là kiến trúc thượng tầng, nhà nước tư sản tích cực củng cố
cơ sở của nó, ra sức nâng đỡ chủ nghĩa tư bản phát triển Sau cuộc cách mạng
tư sản hoặc cải cách tư sản, các nước đều diễn ra cuộc cách mạng công nghiệp Những năm 60 của thế kỷ XVIII, nước Anh đã bắt đầu cuộc cách mạng công nghiệp trước tiên Mỹ và Pháp đầu thế kỷ XIX, Đức và Nga sau những nãm 30 thế kỷ XIX cũng đều lần lượt bước vào thời kỳ cách mạng công nghiệp
Quá trình công nghiệp hóa đã làm thay dổi cách thức sản xuất từ lao dộng bằng tay, sang sử dụng máy móc và từng bước hình thành một cơ cấu công nghiệp hoàn chỉnh C.Mác (K.Marx) và Ph.Ăngghen (F.Engels) đánh giá: “Giai cấp tư sản trong quá trình thống trị giai cấp chưa đầy một thế kỷ, đã tạo ra những lực lượng sản xuất nhiều hơn và đồ sộ hơn lực lượng sản xuất của tất cả các thế hệ trước kia gộp lại”[69, tr.603]
Theo đà phát triển của tư bản và tiến bộ vượt bậc của nền sản xuất đại
cơ khí xã hội hóa do cuộc cách mạng công nghiệp mang lại, quan hệ tư bản chủ nghĩa phát triển nhanh chóng trên phạm vi toàn thế giới Cùng với việc nổ
ra và hoàn thành cuộc cách mạng tư sản ở các nước chủ yếu châu Âu, giai cấp
tư sản dựa vào sức mạnh của chính quyền, cuối cùng dã chiến thắng thế lực
Trang 25phong kiến, xác lập sự thống trị của mình Như Mác chỉ ra: “Kết cấu kinh tế của xã hội tư bản chủ nghĩa ra đ1ời từ trong kết cấu kinh tế của xã hội phong kiến Sự giải thể của xã hội phong kiến làm cho những yếu tố của xã hội tư
bản được giải phóng” [69, tr.783]
Phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa ngay từ khi ra đời đã bộc lộ tính
ưu việt về mặt kinh tế, nó tạo nên sự phát triển phi thường của lực lượng sản xuất Đánh giá vai trò của chủ nghĩa tư bản, Mác khẳng định: “Giai cấp tư sản
đã đóng một vai trò hết sức cách mạng trong lịch sử” [67, tr.599] “Bất cứ ở chỗ nào mà giai cấp tư sản chiếm được chính quyền thì nó đạp đổ những quan
hệ phong kiến, gia trưởng và điền viên” [67, tr.599], “Giai cấp tư sản không thể tồn tại, nếu không luôn luôn cách mạng hóa công cụ sản xuất, do đó cách mạng hóa những quan hệ sản xuất, nghĩa là cách mạng hóa toàn bộ quan hệ
xã hội” [67, tr.599] “Giai cấp tư sản, trong quá trình thống trị giai cấp chưa đầy một thế kỷ, đã tạo ra những lực lượng sản xuất nhiều hơn và đồ sộ hơn lực lượng sản xuất của tất cả các thế hệ trước kia gộp lại” [67, tr.603]
Nhưng cùng với quá trình phát triển, chủ nghĩa tư bản bộc lộ những mặt trái của nó Đó là chế độ bóc lột tận xương tủy giữa nhà tư bản đối với công nhân Mác nói, lịch sử tư bản bóc lột tước đoạt người lao động ghi vào biên niên sử của nhân loại bằng văn tự máu và lửa Tư bản đến thế gian, từ đầu đến chân mỗi một lỗ chân lông đều thâm máu và bùn Chủ nghĩa tư bản “còn thêm vào chúng một hình thức bóc lột mới, tàn khốc nhất, nhẫn tâm nhất trong số tất cả mọi hình thức bóc lột - đó là bóc lột tư bản chủ nghĩa” [71, tr.706]
Chủ nghĩa tư bản ở những nước có sự phát triển không giống nhau, nhưng kết quả xã hội của nó chỉ là một: “cảnh nô lệ của công nhân”[70, tr.998]
Mác khẳng định: “Tất cả những mối liên hệ phức tạp và muôn màu muôn vẻ ràng buộc con người phong kiến với “những bề trên tự nhiên” của
Trang 26mình, đều bị giai cấp tư sản thẳng tay phá vỡ, không để lại giữa người và người một mối quan hệ nào khác, ngoài lợi ích trần trụi và lối “tiền trao cháo múc” không tình không nghĩa Giai cấp tư sản đã dìm những xúc động thiêng liêng của lòng sùng đạo, của nhiệt tình hiệp sĩ, của tính đa cảm tiểu tư sản xuống dòng nước giá lạnh của sự tính toán ích kỷ Nó đã biến phẩm giá của con người thành giá trị trao đổi; nó đã đem tự do buôn bán duy nhất và vô sỉ thay cho biết bao quyền tự do đã được ban cho và đã giành được một cách chính đáng Tóm lại, giai cấp tư sản đã đem sự bóc lột công nhiên, vô sỉ, trực tiếp, tàn nhẫn thay cho sự bóc lột được che đậy bằng những ảo tưởng tôn giáo
và chính trị” [67, tr.600]
Nửa cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, Với sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế tư bản chủ nghĩa không chỉ giúp cho giai cấp tư sản củng cố địa vị của họ trong nước, mà còn giúp họ thực hiện nhanh chóng tham vọng xâm chiếm các nước khác trên thế giới Chủ nghĩa tư bản phát triển từ giai đoạn tự
do cạnh tranh sang giai đoạn độc quyền và đế quốc chủ nghĩa Như Mác chỉ ra: “Nhờ cải tiến mau chóng công cụ sản xuất và làm cho các phương tiện giao thông trở nên vô cùng tiện lợi, giai cấp tư sản lôi cuốn đến cả những dân tộc dã man nhất vào trào lưu văn minh Giá rẻ của những sản phẩm của giai cấp ấy là trọng pháo bắn thủng tất cả những bức vạn lý trường thành và buộc những người dã man bài ngoại một cách ngoan cường nhất cũng phải hàng phục Nó buộc tất cả các dân tộc phải thực hành phương thức sản xuất tư sản, nếu không sẽ bị tiêu diệt; nó buộc tất cả các dân tộc phải du nhập cái gọi là văn minh, nghĩa là phải trở thành tư sản Nói tóm lại, nó tạo ra cho nó một thế giới theo hình dạng của nó” [67, tr.602]
“Vì luôn luôn bị thúc đẩy bởi nhu cầu về những nơi tiêu thụ sản phẩm, giai cấp tư sản xâm lấn khắp hoàn cầu Nó phải xâm nhập vào khắp nơi, trụ lại ở khắp nơi và thiết lập những mối liên hệ ở khắp nơi” [67, tr.603] Để mở
Trang 27rộng sản xuất, mở rộng thị trường thu nhiều lợi nhuận, các nước tư bản như Anh, Pháp, Mỹ… đã đẩy mạnh tốc độ xâm chiếm các nước trên thế giới từ Châu Á sang Châu Phi và Châu Mỹ La Tinh, biến các nước đó thành thuộc địa để dễ cai trị, vơ vét các nguồn tài nguyên thiên nhiên, khai thác và sử dụng nguồn nhân công rẻ mạt, đồng thời mở rộng thị trường để tiêu thụ hàng hóa của mình
Dưới sự xâm lược của các nước tư bản chủ nghĩa, nhân dân các nước thuộc địa bị chúng tước đoạt hết quyền lợi kinh tế, địa vị xã hội và chà đạp lên những giá trị văn hóa, tinh thần Trước tình hình đó, đã làm xuất hiện những mâu thuẫn: Nổi bật là mâu thuẫn giữa sản xuất mang tính chất xã hội hóa với việc chiếm hữu tư nhân tư liệu sản xuất Mâu thuẫn này làm cho mâu thuẫn giữa giai cấp tư sản với giai cấp vô sản và nhân dân lao động bị áp bức càng thêm gay gắt, dẫn tới những cuộc đấu tranh mạnh mẽ của phong trào công nhân, phong trào dân chủ, phong trào yêu nước Đồng thời, quy luật phát triển không đều của chủ nghĩa tư bản dẫn tới những mâu thuẫn gay gắt giữa các nước tư bản
Các phong trào giải phóng dân tộc nhằm giải quyết những mâu thuẫn
đó ở các nước thuộc địa diễn ra quyết liệt và kéo dài, mở đầu là cuộc cách mạng Tân Hợi năm 1911 ở Trung Quốc Trong Phan Châu Trinh toàn tập có viết: “cuộc cách mạng diễn ra phức tạp, thành quả hạn chế, song nó đã hoàn thành sứ mạng lịch sử vĩ đại là lật đổ chế độ phóng kiến đã tồn tại ở đây hàng mấy nghìn năm và là một trong những biểu hiện cụ thể, sinh động của sự thức tỉnh của Châu Á về một nền dân chủ tiến bộ như nhận định, đánh giá của Lênin Hiện không có tài liệu nào nói về phản ứng của Phan Châu Trinh đối với cuộc cách mạng này, song trong rất nhiều buổi diễn thuyết của ông trước đồng bào mình, Phan Châu Trinh thường nêu lên trường hợp của Trung Quốc
và Nhật Bản như một ví dụ điển hình về sự thức tỉnh của Châu Á và thường
Trang 28nói rằng hiện nay ở Châu Á chỉ còn Việt Nam và Philippin là đang mê ngủ Ông tha thiết kêu gọi mọi người hãy nhận ra điều đó, hãy thức tỉnh và làm cho
cả nước thức tỉnh để tiến vào con đường văn minh và tiến bộ theo gương Nhật Bản và Trung Quốc” [95, t.2, tr.7] Đặc biệt với đỉnh cao là Cách mạng Tháng Mười Nga (1917) Cách mạng Tháng Mười Nga thành công do Đảng tiên phong của giai cấp vô sản Nga lãnh đạo đã mở ra một kỷ nguyên mới cho lịch
sử loài người - kỷ nguyên quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội trên phạm vi toàn thế giới “Cách mạng Tháng Mười đã dùng bạo lực cách mạng đánh đổ giai cấp tư sản và giai cấp phong kiến địa chủ, lập nên chính quyền của những người lao động, xây dựng một xã hội hoàn toàn mới, một xã
hội không có người bóc lột người” [74, t.12, tr.300-301] Cách mạng Tháng
Mười Nga thắng lợi đã thúc đẩy các phong trào giải phóng dân tộc ở các nước phát triển nhanh chóng, nó đã đánh thức và cổ vũ những người bị áp bức, bóc lột trên thế giới, khơi dậy tinh thần đấu tranh giải phóng dân tộc, giải phóng con người thoát khỏi sự áp bức, bóc lột bất công Trên thế giới lúc này, Cách mạng tháng Mười Nga thành công, chính quyền Xô Viết được thành lập, tiến tới xây dựng chủ nghĩa xã hội Nhưng trong Phan Châu Trinh toàn tập nhận định rằng: dường như phong trào cách mạng ấy “không gây được ấn tượng mạnh đối với tư tưởng và đường lối chính trị của Phan Châu Trinh - Tuy nhiên, nhiều lần trong các cuộc diễn thuyết hoặc phát biểu ý kiến, ông đã bày
tỏ tình cảm tốt với mục tiêu nhân đạo của cuộc cách mạng này là xây dựng một xã hội tự do và công bằng không có sự phân biệt giàu nghèo, giai cấp,…” [95, t.2, tr.8] Chính tình hình thế giới cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX
đã tác động đến sự hình thành tư tưởng Phan Châu Trinh về đạo đức
Tóm lại, tình hình thế giới cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX đầy biến động
đó, đã ảnh hưởng mạnh mẽ đến đời sống chính trị, xã hội, giáo dục… ở Việt Nam, tác động đến cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc của nhân dân Việt Nam,
Trang 29đến việc hình thành các trào lưu tư tưởng tiến bộ nhằm mục đích canh tân đất nước, giải phóng dân tộc giải phóng con người, trong đó nổi bật lên tư tưởng đạo đức của Phan Châu Trinh trong dòng chảy lịch sử tư tưởng canh tân của dân tộc Việt Nam
1.1.2 Điều kiện lịch sử, xã hội Việt Nam cho sự hình thành tư tưởng đạo đức của Phan Châu Trinh
Bên cạnh điều kiện lịch sử - xã hội thế giới, thì bối cảnh lịch sử - xã hội Việt Nam cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX cũng đặt ra yêu cầu quan trọng đến
sự hình thành tư tưởng đạo đức Phan Châu Trinh Trong đó:
Ở Việt Nam vào cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, cũng giống như hầu hết các nước phương Đông khác, vẫn là đất nước phong kiến trì trệ, lạc hậu, lỗi thời Với chế độ quân chủ chuyên chế của nhà Nguyễn cùng với chính sách kinh tế “ức thương”, “bế quan tỏa cảng” đã làm cản trở sự phát triển đất nước
Năm 1858, lấy lí do triều đình nhà Huế ngược đãi các giáo sĩ và cự tuyệt không nhận quốc thư của Pháp đòi tự do buôn bán nên thực dân Pháp đã chính thức nổ súng xâm lược Việt Nam Ngày 17 - 02 - 1859, “quân Pháp đổ
bộ vào thành Gia Định, bị thất thủ Hộ Đốc Võ Duy Ninh chạy về huyện Phước Lộc và tự sát; Viên Án sát Lê Từ cũng tự vẫn Pháp chiếm được 200 khẩu đại bác và rất nhiều vũ khí, lúa gạo, tiền của” [63, tr.220] Đến năm
1863, sau khi chiếm xong ba tỉnh miền Đông, Pháp tiếp tục âm mưu chiếm nốt 3 tỉnh còn lại ở miền Tây Cũng trong năm 1863, vua Tự Đức đã cử Phan Thanh Giản dẫn đầu đoàn sang Pháp để xin chuộc lại ba tỉnh miền Đông Sau khi chiếm được ba tỉnh miền Đông vào năm 1862 và ba tỉnh miền Tây năm
1867, “Pháp lập ra bộ máy cai trị thực dân ở Nam Kỳ - gọi là “Nam Kỳ chống Pháp” Cầm đầu bộ máy cai trị thực dân ở đây là một viên đô đốc người Pháp,
do Bộ Hải quân và Thuộc địa Pháp cử ra” [63, tr.232] Trong cuộc chiến tranh
ở Việt Nam “thực dân Pháp lấy quân viễn chinh Pháp làm nòng cốt Chúng áp
Trang 30dụng chính sách cưỡng bức người Việt Nam đi lính và phục vụ cho Pháp, dùng “người Việt đánh người Việt” và đưa họ sang các thuộc địa của Pháp” [63, tr.232] Trước hành động xâm lược đó, chế độ phong kiến mà đại biểu là triều đình nhà Nguyễn đã đầu hàng, dâng nước ta cho Pháp Mặc dù vậy, ngay
từ khi thực dân Pháp xâm lược nước ta, các phong trào yêu nước chống Pháp của nhân dân ta với truyền thống kiên cường bất khuất đã liên tiếp nổ ra khắp Bắc, Trung, Nam Tuy nhiên, các cuộc kháng chiến anh dũng đó đều không thành công, đều bị dập tắt trong máu lửa Năm 1885, phong trào Cần Vương dưới sự lãnh đạo của các sĩ phu yêu nước phát triển rầm rộ, nhưng cũng chỉ kéo dài được đến năm 1896 Các phong trào yêu nước chống Pháp đều bị thất bại Bởi lẽ, các sĩ phu tuy giàu lòng yêu nước, nhưng không có khả năng vạch
ra được giải pháp mới phù hợp với hoàn cảnh lịch sử và xu thế phát triển của thời đại
Sau khi đã cơ bản hoàn thành giai đoạn vũ trang xâm lược nước ta, thực dân Pháp thiết lập bộ máy thống trị thực dân và tiến hành những cuộc khai thác nhằm cướp đoạt tài nguyên, bóc lột nhân công rẻ mạt và mở rộng thị trường tiêu thụ hàng hóa Dưới chế độ khai thác, bóc lột và thống trị của thực dân Pháp, mọi mặt đời sống xã hội Việt Nam từ kinh tế, chính trị đến văn hóa
- xã hội có nhiều thay đổi quan trọng, làm cho Việt Nam từ một nước “phong kiến độc lập” “có chủ quyền” trở thành một nước “thuộc địa nửa phong kiến”
Trên lĩnh vực chính trị, Thực dân Pháp thi hành chính sách cai trị
chuyên chế điển hình Mọi quyền hành đều nằm trong tay các viên quan cai trị người Pháp, tước bỏ quyền lực đối nội và đối ngoại của chính quyền phong kiến nhà Nguyễn Chúng bóp nghẹt tự do dân chủ, khủng bố và nhấn chìm các cuộc đấu tranh của nhân dân ta trong những bể máu Trước đây, nước ta vốn là một quốc gia thống nhất, nhưng kể từ khi bị thực dân Pháp xâm lược, chúng đã chia cắt đất nước ta ra thành ba kỳ: Bắc Kỳ, Trung kỳ và Nam kỳ để
Trang 31dễ bề cai trị và đàn áp Theo Phan Châu Trinh: “Nước Pháp xưa nay không chú trọng các chính sách kinh lý Đông Dương Cho nên việc dùng người, đặt quan chức, chẳng kể đến việc một đôi người chiếm cứ chức vị riêng nào, mà mỗi khi thay đổi vai vế trong chính quyền thì phần lớn người ta kéo theo kẻ thuộc hạ cùng phe cánh, và ai cũng tranh chấp địa vị tốt, để có thể ngồi hưởng quyền lợi Tình hình ngày một đổi mới nhưng thói cũ không chừa Lúc ấy lại tăng viên, tăng sở cục, phiền tạp lắm điều Một việc chỉ có thể do một cục nắm giữ thì lại tăng dần lên ba, bốn cục Tăng rồi lại tăng, đặt rồi lại đặt, máu tủy của dân vì thế mà bị hút kiệt” [95, t.2, tr.275-276]
Phan Châu Trinh chỉ ra: “Bộ máy hành chính của ngành Cảnh sát Đông
Dương ở các thành phố lớn như Hà Nội, Hải Phòng, Sài Gòn đều có mặt một đại cục; ngoài ra ở các tỉnh nơi Công sứ đóng lại đặt phân cục Các đại cục người Pháp làm chủ, đều mộ người Pháp làm cảnh binh giúp người Nam; các tiểu cục thì đều thuê người Nam đưa vào Quy định quyền hạn như án nặng thì do cục Cảnh sát bắt giao cho quan Pháp; việc nhỏ thì do nhân viên cục này tra hỏi, xử phạt Nếu sử dụng người Pháp nhiều thì không đúng với chức vụ
Họ không tuân theo công lý, hễ động một tí là chúng bắt bớ, giam cầm, quấy nhiễu dân lành Họ thuê người Nam mà không thèm để ý đến tư cách của người đó […] Trên mộ người như thế, dưới ứng mộ như thế, gian tham lừa dối, nhiễu loạn không từ một việc gì, mong sao cho cục viên được ban
thưởng, còn người dân nước Nam thì hết chỗ cựa quậy” [95, t.2, tr.294]
Trên lĩnh vực kinh tế, “người Pháp ở Đông Dương làm đủ các tệ hại
ngang ngược trong các nghề nông, công, thương Người Pháp ở Đông Dương,
kẻ nắm quyền lực trong tay thì nhiễu sách mọi việc không tệ hại nào không sinh ra như đã lược kể ở trên Còn có những người Pháp ở Đông Dương nói chung làm việc trong các ngành nông, công, tham, lừa dối không sót ngón nào” [95, t.2, tr.289]
Trang 32Việt Nam có các nguồn tài nguyên phong phú và nguồn lực lao động vừa đông lại vừa rẻ, chính vì vậy, thực dân Pháp thực hiện chính sách khai thác thuộc địa, đẩy mạnh việc khai thác bóc lột kinh tế tại chỗ để kiếm lợi nhuận Có thể nói, “Không một xứ sở nào trên thế giới này… lại có nhiều nguồn lợi như cái xứ Bắc Kỳ… biết bao ngành kỹ nghệ cần phải thiết lập… biết bao chiến dịch xán lạn cần phải vạch ra… Xứ Bắc Kỳ giàu có… Từ nơi đây, chính quốc tha hồ mà bòn rút đầy tay của cải để đưa về nước Ngành xuất cảng của nước Pháp cũng sẽ thấy nơi đây là một nguồn tiêu thụ hàng hóa rất có lợi cho mình…” [82, tr.579] Mục tiêu cơ bản của giới cầm quyền thực dân khi tiến hành chính sách khai thác thuộc địa Đông Dương là biến thuộc địa Đông Dương thành nơi đặc biệt dành riêng cho thị trường Pháp, cung cấp cho chính quốc nguyên liệu hay những vật phẩm gì mà nước Pháp không có Công nghiệp nếu cần được khuyến khích thì cũng chỉ trong giới hạn nhằm bổ sung cho công nghiệp chính quốc, không làm tổn hại đến nền công nghiệp chính quốc Để tăng lợi nhuận cho chính quốc, thực dân Pháp thực hiện chính sách độc quyền về xuất nhập khẩu, về khai thác mỏ, giao thông vận tải, ngân hàng, tài chính, thuốc phiện, muối Chúng ra sức chiếm đoạt ruộng đất của nhân dân ta để lập đồn điền; lập ra hàng trăm thứ thuế vô lý và vô nhân đạo Với mục đích chính là khai thác thuộc địa nên Pháp không du nhập một cách hoàn chỉnh phương thức tư bản chủ nghĩa vào nước ta, mà vẫn duy trì quan hệ kinh tế phong kiến Chúng kết hợp hai phương thức bóc lột tư bản và phong kiến để thu lợi nhuận siêu ngạch
Chính sách độc quyền kinh tế của thực dân Pháp đã thực hiện như: Độc quyền kinh doanh một số ngành công nghiệp nặng, chiếm đất lập đồn điền kinh doanh cây công nghiệp, nắm phương tiện giao thông vận tải, khai thác những mỏ khoáng sản có trữ lượng lớn, độc quyền xuất khẩu, độc quyền ngân hàng, độc quyền phát hành giấy bạc… cụ thể là:
Trang 33Trong nông nghiệp, đây là ngành đầu tư ít vốn mà dễ dàng thu được lợi
nhuận Vì vậy, chúng ra sức chiếm đoạt ruộng đất của nông dân trên quy mô lớn với nhiều hình thức Theo Phan Châu Trinh khi: “Xét trong địa hạt Đông Dương, đất đai bỏ hoang nhiều, người nghèo cũng rất đông Nếu người Pháp làm nghề khai khẩn đất đai, có lòng nhân từ một chút, thì đất đai ngày càng được mở rộng, mà người nghèo cũng có nơi làm ăn, há chẳng phải lợi cả hai bên sao? […] Ruộng đất ở Nam Kỳ rất thiếu công trình thủy lợi, hàng năm vụ
hè phải gieo giống lúa cạn, thường thất thu, nông dân rất khổ, nay thấy người Pháp trù liệu như thế, ai mà không vui lòng nghe theo Họ tranh nhau góp cổ phần, ký khoán ước, chẳng lẽ nào những khoán ước của người Pháp đều là lời nói suông sao? Trong ba, bốn tháng lượng nước chảy về không đủ năm mươi mẫu, ruộng đất còn lại phải ngồi chờ nước mãi chẳng có gì, tất cả đều như cũ, lúc ấy lại quá thời vụ, không thể cấy cày được, liền đến cục chất vấn, người Pháp tìm lời nói quanh co, không chịu bồi thường […] Đến vụ thu hoạch, người Pháp lại đến nơi chia phần, có kẻ đã cưỡng bức thu hai phần ba hoa lợi
Sự việc được kiện lên tòa án, tòa án phán rằng: chi phí của cục cai thầu đã quá nhiều, theo lý thì phải chia hoa lợi, và bác bỏ đơn Người Pháp cưỡng ép chia một nửa hoa lợi rồi mang đi, người Nam góp cổ phần chẳng biết đòi ở đâu, chỉ biết kêu khổ mà thôi” [95, t.2, tr.292]
Phan Châu Trinh khi phân tích về tình hình thu thuế ruộng đất đã viết:
“ở Bắc Kỳ và Trung Kỳ thuế ruộng đất phiền phức nặng nề quá lắm Nông dân chịu khổ sở, đến nay nước Đại Pháp không ai không biết; nhưng cũng chỉ biết cái tệ ấy mà thôi Còn nói đến cái tệ trong cái tệ, cái khổ trong khổ chẳng phải chỉ có tăng thuế mà còn tăng cả ruộng đất nữa Ngày xưa ở nước Nam, ruộng đất đều dùng thước đo do Nhà nước quy định Mỗi mẫu ruộng không bằng một phần ba diện tích so với mẫu ruộng ở Nam Kỳ là một vạn thước tay, ruộng lại chia thành ba hạng: thượng, trung, hạ; đất chia thành sáu hạng Nói
Trang 34gộp lại là trong ba hạng ruộng, ruộng lại chia thành: ruộng công, ruộng tư, ruộng cỏ lác, ruộng nước, ruộng cạn, ruộng bằng, ruộng dốc, ruộng trại, ruộng dừa nước… không dưới tám chín hạng Đất chia thành sáu hạng, trong đó lại phân ra thành đất vườn, đất ở nhà, đất bãi, đất trồng dâu, đất vườn cau, đất khoai đậu, đất pha, đất cát bồi, cát trắng, đất rừng, đất đầm, đất cỏ tranh, cả thẩy trên mười hạng Việc định ngạch thuế thì dựa vào mức độ canh tác khó
dễ, hoa lợi thu hoạch được nhiều ít, để định mức thuế cao thấp Thời gian thu thuế, cũng dựa vào thời vụ thu hoạch sớm hay muộn, và theo giá lúa cao thấp
để thu nạp trước sau” [95, t.2, tr.303] Còn tình hình nộp thuế từ năm 1887 thì
theo Phan Châu Trinh “các loại thuế ruộng, mới đem nạp cho Tòa sứ và cho nạp thay bằng bạc thật Năm 1888 mới tăng thuế, lúc ấy chẳng phải chỉ tăng thuế mỗi ngày một nặng, mà số mẫu ruộng đất của các hộ cũng tăng lên gấp bội[95, t.2, tr.305] Teo ông: “Việc tăng thêm thuế má: Ruộng đất đã tăng, mức thuế cũng tăng Ruộng hạng nhất đều phải nạp một đồng năm hào; hạng hai, hạng ba theo thứ tự đó mà giảm bớt Thuế đất cũng như thế Về sau lại theo năm mà tăng ba phần trăm, năm phần trăm, ba mươi phần trăm không chừng; đến nay mỗi mẫu ruộng thực có chủ hạng nhất nạp thuế hai đồng, hoặc hai đồng năm hào, không đều nhau Do đó ở đây chỉ đem số ruộng có thực ra nói mà thôi Lại có trường hợp lẫn lộn đất với ruộng, hoa lợi hàng năm thu hoạch được không đủ để nạp một nửa thuế, thêm vào đó, số ruộng là số ma, thuế thì thu tiền thực, danh nghĩa là tăng ruộng đất, nhưng thực là tăng thuế, phân chia lại không đều, dân nghèo bị thâu nặng hơn; vì thế mà có trường hợp một mẫu lên đến bốn, năm đồng” [95, t.2, tr.307]
Như vậy, trong nông nghiệp thực dân Pháp chủ yếu sử dụng phương thức kinh doanh là phát canh, thu tô theo lối bóc lột phong kiến Điều này làm
cả diện tích canh tác lẫn xuất khẩu gạo đều tăng lên mạnh
Trang 35Trong công nghiệp, sản xuất ở thuộc địa chỉ được giới hạn trong việc
cung cấp cho chính quốc nguyên liệu hay những vật phẩm gì mà nước Pháp không có Công nghiệp nếu cần được khuyến khích thì cũng chỉ trong giới hạn nhằm bổ sung cho công nghiệp chính quốc, không làm hại đến nền công nghiệp chính quốc Trong đó, ngành mỏ là ngành được tư bản thực dân Pháp quan tâm nhất vì ngành này nhanh chóng thu được lợi nhuận “Tổng sản lượng than khai thác năm: 1903: 285915 tấn; 1912: 415000 tấn; 1913: 500000 tấn Phần lớn số than này được đem bán cho một số nước ở Viễn Đông như Nhật Bản, Trung Quốc; một phần đưa sang Pháp; phần còn lại dùng cho công nghiệp Pháp ở Việt Nam” [82, tr.585] Cùng với than thì nhiều mỏ kim loại cũng được đẩy mạnh khai thác, chẳng hạn như: mỏ thiếc Tĩnh Túc (Cao Bằng); mỏ kẽm Tràng Đà, Làng Hít, Chợ Đồn,…; mỏ đồng Vạn Sài (Sơn La);
mỏ sắt ở Thái Nguyên, Thanh Hóa; mỏ vàng ở Bảo Lạc (Cao Bằng), nhất là
mỏ vàng ở Bồng Miêu (Quảng Nam),… Bên cạnh công nghiệp khai thác than
và khoáng sản là các ngành: vải, sợi, xi măng, điện, nước, ngói, gạch, chế biến nông lâm sản với số lượng các xí nghiệp ngày càng tăng Với phương thức hoạt động này, thực dân Pháp đã tận dụng nguồn nhân công rẻ mạt, sử dụng đến mức tối đa lao động thủ công, kết hợp lao động thủ công với lao động cơ giới, kết hợp bóc lột tư bản chủ nghĩa với bóc lột tiền tư bản chủ nghĩa, nhằm đem lại lợi nhuận cao nhất
Trong thương mại, thực dân Pháp thực hiện chính sách độc quyền
thương mại, hầu hết nguồn nguyên liệu đều xuất khẩu sang Pháp và ngược lại, Việt Nam phải nhập từ cái kim khâu, chiếc đinh đóng guốc đến đường ray, đầu máy, toa xe từ Pháp sang Sản lượng cao su Việt Nam phải xuất sang Pháp để rồi nhập các chế phẩm cao su từ Pháp vào Hàng hóa của Việt Nam
mà Pháp cần đều phải dành cho Pháp, còn những hàng hóa mà Pháp ế thừa, kém chất lượng thì Việt Nam phải mua vào Các ngành mĩ nghệ như sơn mài,
Trang 36thêu, ren, khảm chạm, đan lát, do những bàn tay khéo léo của thợ thủ công Việt Nam sản xuất cũng bị tư bản Pháp và Hoa Kiều giữ độc quyền thu mua với giá rẻ mạt để xuất khẩu kiếm lợi nhuận cao
Phan Châu Trinh chỉ ra rằng đối với: “Thương nghiệp Việt Nam rất ấu trĩ, nhưng giả sử quan đại Pháp giúp đỡ gây dựng thì nó có thể phát đạt, tranh lợi với người Trung Hoa đâu có khó khăn gì, mà dẫu không thể giúp
đỡ gây dựng đi nữa thì cái thái độ công bằng mà đối xử, để mặc cho người nước Nam tự lực cạnh tranh với thương nghiệp Trung Hoa, dẫu rằng không thể kịp người ta thì cũng không đến nỗi thua sút quá xa như vậy; mối tệ hại
ấy ngày nay trở thành lực lớn quan Pháp ngấm ngầm nâng đỡ người Trung Hoa, nên thương nghiệp nước Nam lại chịu áp chế Ngày nay quyền lợi Đông Dương đều lọt vào tay thương nhân nước ngoài, nguyên nhân của nó thì rất nhiều, nhưng nguyên nhân trực tiếp, gián tiếp làm hại người nước Nam, thứ nhất là Thương Chính, thứ hai là quan cai trị Cục Lục lộ là một
đầu mối vậy” [95, t.2, tr.281-828]
Đối với ngành Giao thông vận tải, Nhà nước Pháp cho ngân quỹ Đông
Dương vay, một phần được sử dụng vào việc xây dựng giao thông vận tải Nhưng thực chất của việc mở mang giao thông vận tải là phục vụ cho công cuộc khai thác thuộc địa của thực dân Pháp Đường bộ được mở rộng đến những khu vực hầm mỏ, đồn điền, bến cảng và các vùng biên giới quan trọng Kết quả là “tổng số đường hàng tỉnh xây dựng thời kỳ này lên tới 20.000 km,
và kèm theo có 14.000 km đường dây điện thoại” [82, tr.584]; đường thủy được khai thông ở các sông lớn như sông Hồng, Thái Bình, Hậu Giang, Đồng Nai Các kênh rạch cũng được tu bổ hoặc khai khẩn thêm Riêng ở Nam Kỳ, đến năm 1914 có tới 1.745 km đường thủy có tàu chạy bằng máy hơi nước;
mở mang đường sắt là một việc được giới tư bản Pháp ưu tiên hàng đầu để chuyên chở hàng hóa và nguyên liệu và đó cũng là phương tiện để chúng mau
Trang 37chóng đưa quân đội tới những nơi cần thiết để đàn áp các cuộc nổi dậy của dân chúng
Như vậy, phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa du nhập vào Việt Nam làm cho tình hình kinh tế ở Việt Nam có nhiều biến đổi: Quan hệ kinh tế nông thôn bị phá vỡ, hình thành nên những khu đô thị mới, những trung tâm kinh tế
và những khu dân cư mới Tuy nhiên, thực dân Pháp không du nhập một cách hoàn chỉnh phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa mà vẫn duy trì quan hệ kinh tế phong kiến cũ để thu lợi nhuận nhanh Chúng kết hợp cả hai phương thức “bóc lột tư bản” và “bóc lột phong kiến” để thu lợi nhuận siêu ngạch Đó
là “chế độ thuế khóa nặng nề và hết sức vô lý: Thuế thân, thuế chợ, thuế đò, thuế vỉa hè, thuế môn bài, thuế xe, thuế lưu trú, nộp thuế cho ngân sách Đông Dương, thuế nộp cho ngân sách xứ, cho tính phần trăm (%) nộp cho quan lại,
kỳ hào trong thôn xã cùng hàng trăm thứ thuế khác Thuế má nặng oằn lưng
và luôn luôn thay đổi có lợi cho thực dân và phong kiến tay sai Hậu quả của chính sách độc quyền về kinh tế và chính sách thuế khóa nặng nề là làm cho
đa số nông dân mất dần ruộng đất và đời sống ngày càng bần cùng đi Dưới thời thuộc Pháp, ước tính 50% nông dân Việt Nam không có ruộng đất” [102, tr.168] Chính vì thế, nước Việt Nam không thể phát triển lên chủ nghĩa tư bản một cách bình thường được, nền kinh tế Việt Nam bị kìm hãm trong vòng lạc hậu và phụ thuộc nặng nề vào kinh tế Pháp
Về lĩnh vực văn hóa, giáo dục, thực dân Pháp thực hiện chính sách “ngu
dân” về mặt giáo dục, “đầu độc” về mặt văn hóa Đồng thời, chúng cũng ra sức đẩy mạnh tuyên truyền ca ngợi chính sách “khai hóa” của “Nhà nước bảo hộ”, du nhập văn hóa phẩm đồi trụy, khuyến khích tệ nạn cờ bạc, rượu chè, nghiện hút Mọi hoạt động yêu nước của nhân dân ta đều bị cấm đoán Chúng tìm mọi cách bưng bít và ngăn chặn ảnh hưởng của nền văn hóa tiến
bộ trên thế giới vào Việt Nam và thi hành chính sách nham hiểm là “ngu
Trang 38dân” Chúng lập nhà tù nhiều hơn trường học, bởi lẽ theo chúng: “Truyền học vấn cho bọn anamít hoặc cho phép chúng tự chúng có học vấn, tức là một mặt cung cấp cho chúng những súng bắn nhanh để chống chúng ta, và mặt khác đào tạo những con chó thông thái gây rắc rối hơn là lợi ích” Trong báo cáo gửi Toàn quyền Đông Dương ngày 1/3/1899, Thống sứ Bắc Kỳ đã viết: “Kinh nghiệm của các dân tộc Châu Âu khác đã chỉ rõ rằng việc truyền bá một nền học vấn đầy đủ cho người bản xứ là hết sức đại dột” [53, tr.109] Vì vậy, chúng chủ trương hạn chế phát triển nền giáo dục, chủ yếu chỉ đào tạo những công chức bản xứ nhằm phục vụ cho công cuộc cai trị thuộc địa của Pháp Cụ thể là, chúng triển khai tổ chức nền giáo dục Pháp - Việt, được tổ chức có quy
củ từ cấp ấu học, tiểu học, trung học cho đến đại học Song, sự phát triển ấy chỉ mang tính “nhỏ giọt” Chủ trương này dẫn đến tình trạng thiếu thốn trường học quá mức, hơn nữa, “Trường học lập ra không phải để giáo dục cho thanh niên An Nam một nền học vấn tốt đẹp và chân thực, mở mang trí tuệ và phát triển tư tưởng cho họ, mà trái lại càng làm cho họ đần độn thếm… người
ta đã gieo rắc một nền giáo dục đồi bại, xảo trá và nguy hiểm hơn cả sự dốt nát nữa, vì một nền giáo dục như vậy chỉ làm hư hỏng mất tính nết của người
đi học, chỉ dạy cho họ một lòng “trung thực” giả dối, chỉ dạy cho họ sùng bái những kẻ mạnh hơn mình, dạy cho thanh niên yêu một Tổ quốc không phải
Tổ quốc mình và đang áp bức mình Nền giáo dục ấy dạy cho thanh thiếu niên khinh rẻ nguồn gốc, dòng giống mình Nó làm cho thanh thiếu niên trở nên
ngu ngốc” [75, t.1, tr.399] Bên cạnh đó, chính phủ thực dân đã chà đạp lên
nền văn hóa cổ truyền, lên thuần phong mỹ tục Việt Nam Những truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc đều bị chúng bóp nghẹt hoặc xuyên tạc, mọi văn hóa nô dịch, trụy lạc, hủ tục ma chay, cưới xin, nạn đồng bóng, bói toán, mê tín dị đoan… được chúng phát triển và gieo rắc khắp nơi Những thói hư tật xấu vẫn được dung dưỡng Nạn cờ bạc không bị cấm mà còn được
Trang 39khuyến khích bằng cách mở các sòng bạc để thu thuế Tệ uống rượu không bị hạn chế, mà dân ta còn bị bắt uống loại rượu cồn nặng do hãng rượu độc quyền Fontaine sản xuất trên khắp cả nước Ngoài ra, thực dân Pháp còn mở các cơ quan thu mua và các ti bán thuốc phiện để lập quỹ cho Phủ Toàn quyền, chính là công khai khuyến khích nạn nghiện hút Như vậy, mục đích của chúng nhằm nô dịch tinh thần quần chúng, biến quần chúng thành những đám đông tự ti, khiếp nhược trước sức mạnh của văn minh Pháp, mất tin tưởng vào khả năng và tiền đồ của dân tộc, cắt đứt với mọi truyền thống tốt đẹp, phục vụ trung thành cho quyền lợi của đế quốc
Cùng với chính sách ngu dân dễ trị, thực dân Pháp cho phát hành và
xuất bản hàng loạt báo chí như: Gia Định báo; Nhựt trình Nam Kỳ, Thông
loại khóa trình, Phan Yên báo, Lục tỉnh tân văn, Phụ nữ tân văn, Đuốc nhà nam, Đại Việt công báo, Thực nghiệp dân báo… Nội dung chủ yếu của những
tờ báo này là truyền bá văn minh “Đại Pháp”, ca ngợi chính sách “khai hóa”,
ca ngợi công ơn “Nước Mẹ” Không chỉ vậy, thực dân Pháp còn có sắc lệnh ngặt nghèo về chế độ kiểm duyệt báo chí ở Đông Dương Thực chất sắc lệnh
đó là ngăn chặn ảnh hưởng của những trào lưu tư tưởng cách mạng, tiến bộ (kể cả tư tưởng cách mạng Pháp) đến với quần chúng nhân dân, hạn chế đến mức thấp nhất tư tưởng chống đối chính phủ trên lĩnh vực báo chí: “Sở bưu điện và sở mật thám Nam kỳ… đã nhận được lệnh không để lọt - bất cứ với lý
do gì - những thư từ, bài vở, v.v… gởi cho báo Le Paria xuất bản ở Pari hoặc của tờ báo ấy gởi về” [75, t.2, tr.9]
Như vậy, chính sách khai thác kinh tế mang tính “tận thu” cùng với chính sách nô dịch về văn hóa của thực dân Pháp làm cho xã hội Việt Nam hình thành những mâu thuẫn hết sức gay gắt Đó là mâu thuẫn giữa dân tộc Việt Nam với đế quốc Pháp, mâu thuẫn giữa nông dân với địa chủ phong kiến… Tất cả các mâu thuẫn này đã tạo tiền đề cho các phong trào đấu tranh
Trang 40chống lại thực dân Pháp nổ ra rất mạnh mẽ Các phong trào yêu nước diễn ra khắp toàn quốc, từ thành thị đến nông thôn, từ miền núi đến đồng bằng, cả miền Nam và miền Bắc Có thể kể các phong trào đấu tranh như: Phong trào Cần Vương (1885 - 1896) do Hàm Nghi và Tôn Thất Thuyết phát động; Phong trào Đông Du của Phan Bội Châu (1905 - 1908); Phong trào Đông Kinh Nghĩa Thục do Lương Văn Can khởi xướng (1907); Phong trào Duy Tân của Phan Chủ Trinh (1907 - 1908)… Các phong trào đấu tranh diễn ra rất sôi nổi, đa dạng về hình thức, và chủ yếu đấu tranh bằng bạo lực là phổ biến Tuy nhiên, tất cả các phong trào này đều không vượt qua khỏi phạm vi của các “cuộc cách mạng không đến nơi”, đều thất bại và bị giặc Pháp đàn
áp hết sức dã man Nguyên nhân thất bại là do các nhà yêu nước tìm con đường cứu nước dựa trên lý luận dân chủ tư sản, nhưng chủ nghĩa dân chủ tư sản đã lỗi thời về mặt lịch sử Mặt khác, chưa có sự đoàn kết, liên kết, hợp sức giữa các phong trào cách mạng, “các cuộc khởi nghĩa đều nổ ra một cách tự phát, lẻ tẻ nên thực dân Pháp dễ dàng tập trung lực lượng đàn áp Những người lãnh đạo phong trào là binh lính, nông dân, mặc dù có nhiệt tình yêu nước nồng nàn, có tinh thần quả cảm, có sức chiến đấu dẻo dai, nhưng thiếu bộ máy lãnh đạo có khả năng thống nhất các cuộc nổi dậy riêng
lẻ từng vùng của các dân tộc thành phong trào chủng” [54, tr.208] Tình hình trên đã đặt ra nhu cầu cấp bách là phải tìm ra một ý thức hệ mới, đủ sức vạch
ra đường lối và phương pháp cách mạng đúng đắn, đem lại thắng lợi cho sự nghiệp cứu nước, giải phóng dân tộc, giải phóng con người Chỉ có như vậy mới khắc phục được tình trạng kiệt quệ về kinh tế, suy đồi về văn hóa, đó cũng chính là làm cho cuộc sống của con người được nâng cao cả về đời sống vật chất và đời sống tinh thần
Tóm lại, với sự phát triển của thế giới cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX
cùng những biến đổi to lớn trên các mặt kinh tế, văn hóa của đất nước Việt