Bởi hoán dụ là một trong những phương tiện tu từ được nhà thơ sử dụng tài tình, có tần suất cao, góp phần tạo nên phong cách thơ Chế Lan Viên riêng biệt giữa một rừng các cây bút tài hoa
Trang 1THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH – 2019
VŨ ĐỨC TUYẾN
HOÁN DỤ TRONG THƠ CHẾ LAN VIÊN
LUẬN VĂN THẠC SĨ Chuyên ngành: Ngôn ngữ học
Trang 2VŨ ĐỨC TUYẾN
HOÁN DỤ TRONG THƠ CHẾ LAN VIÊN
Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Ngôn ngữ học
Mã số: 8229020
Người hướng dẫn khoa học
TS HUỲNH BÁ LÂN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH – 2019
Trang 3khác Những trích dẫn trong luận văn là trung thực, từ nguồn hợp pháp
NGƯỜI CAM ĐOAN
Trang 4và Nhân văn – ĐHQG TP.HCM đã tạo điều kiện cho tôi trong quá trình học tập và
làm việc tại Trường;
TS Huỳnh Bá Lân đã nhiệt tình chỉ dẫn, góp ý cho tôi trong suốt quá trình
học tập và thực hiện luận văn;
Quý thầy cô trong ngành ngôn ngữ cũng như trong Bộ môn Ngôn ngữ học đã
giảng dạy, hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong quá trình học tập;
Xin ghi ơn những tấm lòng đã giúp đỡ, động viên, chia sẻ những khó khăn, vui buồn trong suốt quá trình học tập, thực hiện luận văn này
Trang 5LỜI CẢM ƠN 2
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2
2.1 Nghiên cứu hoán dụ theo quan điểm từ vựng học 3
2.2 Nghiên cứu hoán dụ theo quan điểm tu từ học 6
2.3 Những nghiên cứu về hoán dụ trong thơ Chế Lan Viên 9
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 9
3.1 Đối tượng nghiên cứu 9
3.2 Phạm vi nghiên cứu 9
4 Phương pháp nghiên cứu 10
5 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn 10
6 Bố cục luận văn 11
Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 12
1.1 Khái niệm và phân loại hoán dụ 12
1.1.1 Khái niệm 12
1.1.2 Phân loại 14
1.2 Hoán dụ tri nhận 21
1.3 Phân biệt hoán dụ và ẩn dụ 25
1.4 Khái quát chung về thơ Chế Lan Viên 30
1.4.1 Những nét chung về cuộc đời và sự nghiệp nhà thơ Chế Lan Viên 30
1.4.2 Những nét chính về phong cách nghệ thuật của nhà thơ Chế Lan Viên 31
Tiểu kết chương 1 34
Chương 2: ĐẶC ĐIỂM VÀ VAI TRÒ CỦA HOÁN DỤ TRONG THƠ CHẾ LAN VIÊN 35
2.1 Giới thuyết chung về hoán dụ trong thơ Chế Lan Viên 35
Trang 62.2.3 Hoán dụ trên mối quan hệ giữa tư thế và nguyên nhân của tư thế đó 59
2.2.4 Hoán dụ lấy số lượng để chỉ số lượng 59
2.2.5 Hoán dụ lấy trang phục để chỉ đối tượng sử dụng 64
2.2.6 Hoán dụ lấy địa điểm, không gian để chỉ người ở đó 66
2.2.7 Hoán dụ dựa trên mối quan hệ giữa âm thanh và động tác 68
2.2.8 Một số trường hợp hoán dụ khác 69
2.3 Vai trò của hoán dụ trong thơ Chế Lan Viên 73
2.3.1 Văn học phản ánh hiện thực cuộc sống qua ngôn từ 73
2.3.2 Đặc điểm hoán dụ trong thơ Chế Lan Viên 74
2.3.3 Vai trò của phương thức hoán dụ trong thơ Chế Lan Viên 78
Tiểu kết chương 2 84
Chương 3: HOÁN DỤ TRONG THƠ CHẾ LAN VIÊN TỪ GÓC NHÌN TRI NHẬN 85
3.1 Khái quát các miền hoán dụ tri nhận trong thơ Chế Lan Viên 85
3.2 Một số miền ý niệm tiêu biểu trong thơ Chế Lan Viên 98
3.2.1 Mắt là ánh sáng của nhận thức 98
3.2.2 “Tay” / “Chân” là đặc điểm hoạt động của người 99
3.2.3 “Hồn” / “Dáng” là thần thái của con người 100
3.2.4 Tên là giá trị của con người 102
3.2.5 Máu – Xương thịt chính là con người đã khuất 105
3.3 Cách tiếp cận thơ Chế Lan Viên qua phương thức hoán dụ 107
3.3.1 Tiếp cận dựa vào ý nghĩa của từ 107
3.3.2 Tiếp nhận dựa vào tư duy, văn hoá dân tộc 109
3.3.3 Tiếp nhận dựa vào phong cách nghệ thuật của nhà thơ 109
Tiểu kết chương 3 110
KẾT LUẬN 111
Trang 7Phụ lục 2: Hoán dụ lấy cơ quan chức năng chỉ chức năng
Phụ lục 3: Hoán dụ dựa trên mối quan hệ giữa tư thế vànguyên nhân của tư thế đó Phụ lục 4: Hoán dụ lấy tên gọi số nhỏ chỉ số lớn, không đếm được
Phụ lục 5: Hoán dụ lấy trang phục chỉ người sử dụng
Phụ lục 6: Không gian, địa điểm thay cho người sống ở đó:
Phụ lục 7: Mối quan hệ lấy tên riêng chỉ loại:
Phụ lục 8: Các trường hợp khác
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Nghiên cứu ngôn ngữ văn chương là một đối tượng chứa nhiều hấp dẫn, thú
vị song cũng là phạm vi gây ra không ít khó khăn, bởi ngôn ngữ vốn là một hệ thống
vô cùng phức tạp, nó càng phức tạp hơn khi là ngôn ngữ văn chương – một thứ ngôn ngữ được chắt lọc từ ngôn ngữ tự nhiên và nhào nặn trở thành ngôn ngữ nghệ thuật Văn chương là nghệ thuật của ngôn từ Để truyền tải được những “khám phá về nội dung” thì phải có những “phát minh hình thức” thể hiện Và khi sáng tạo văn chương,
để có những hình thức thể hiện thú vị, độc đáo, tác giả không thể không sử dụng các phương tiện tu từ, các biện pháp tu từ - những thứ tạo nên giá trị nghệ thuật cho tác phẩm và phong cách riêng cho tác giả Nghiên cứu một tác giả cụ thể, một tác phẩm
cụ thể, một trào lưu văn học cụ thể, chúng ta không thể không thông qua việc nghiên cứu những yếu tố, những quy luật ngôn ngữ cụ thể, đặc biệt là các biện pháp và phương tiện tu từ
Trong các biện pháp tu từ thường được các tác giả sử dụng, nổi bật lên là phương thức ẩn dụ và phương thức hoán dụ Khảo sát phương thức hoán dụ được sử dung trong văn chương mang ý nghĩa quan trọng, nhưng chưa được quan tâm nhiều như ẩn dụ
Chế Lan Viên là một trong những nhà thơ lớn của văn học Việt Nam hiện đại Ông đươc coi là nhà thơ của những triết lí - những suy tư chiêm nghiệm về cuộc đời
và thời cuộc Từ lâu, thơ Chế Lan Viên đã được các nhà nghiên cứu tìm hiểu, khảo sát, đánh giá về mặt nội dung, tư tưởng, tình cảm, tứ thơ, giọng điệu, hình tượng thơ,… rất kỹ lưỡng Tuy nhiên, các phương tiện tu từ trong thơ Chế Lan Viên lại chưa được khai thác nhiều, mới dừng ở mức độ khái quát, chưa có công trình nghiên cứu nào đi sâu tìm hiểu chi tiết Điều này tạo ra một “vùng trống” dữ liệu đối với những
ai mong muốn tìm hiểu sâu về cách sử dụng các phương tiện tu từ trong thơ Chế Lan Viên
Trang 9Khi nghiên cứu về các phương tiện tu từ trong thơ Chế Lan Viên, không thể không nhắc đến phương thức tu từ hoán dụ Bởi hoán dụ là một trong những phương tiện tu từ được nhà thơ sử dụng tài tình, có tần suất cao, góp phần tạo nên phong cách thơ Chế Lan Viên riêng biệt giữa một rừng các cây bút tài hoa khác như Xuân Diệu, Huy Cận, Thế Lữ, Tố Hữu, Nguyễn Đình Thi, Nguyễn Khoa Điềm,…
Tìm hiểu hoán dụ trong các tác phẩm thơ của Chế Lan Viên ngoài việc giúp chúng ta cảm thụ chính xác nội dung thơ ông, còn có thể góp ích cho công tác nghiên cứu và giảng dạy văn chương trong trường phổ thông, đặc biệt là giảng dạy thơ Chế Lan Viên
Từ thực tế trên, chúng tôi quyết định chọn đề tài “Hoán dụ trong thơ Chế Lan
Viên” làm hướng nghiên cứu cho luận văn của mình, với mong muốn bằng những
minh chứng khoa học có thể góp phần nhỏ bé vào việc làm sáng tỏ tài năng ngôn ngữ, đồng thời khơi mở hướng tìm hiểu sâu về cách sử dụng phương thức tu từ hoán dụ trong thơ Chế Lan Viên, cũng như góp phần vào sự tôn vinh tiếng Việt
Cuối thế kỉ XX, Ferdinard de Saussure tiến hành một cuộc cách mạng vĩ đại
trong ngôn ngữ học với công trình lý thuyết về Ngôn ngữ học đại cương Phong cách
học thực sự có đủ điều kiện trở thành một bộ môn khoa học độc lập Người có công
đặt nền móng cho bộ môn này là Charles Bally với cuốn sách nổi tiếng “Khảo luận
về phong cách học tiếng Pháp” Đây được coi là điểm mốc đánh dấu một chặng
đường mới trong nghiên cứu về phong cách học ở Pháp và phát triển rộng ra nhiều nước khác như Liên Xô, Tiệp Khắc…
Trang 10Ở Việt Nam, trước những năm 1960, phong cách học chưa xuất hiện với tư cách là một môn khoa học thực sự Cho đến năm 1964, bộ môn này mới được hình
thành Lúc đầu, nó được gọi là Tu từ học tiếng Việt, được biên soạn với tư cách là
một bộ phận trong Giáo trình Việt ngữ của Đại học Sư phạm Hà Nội [20] Từ đó đến
nay, Phong cách học thu hút nhiều nhà nghiên cứu quan tâm tìm hiểu
Trước hết, có thể kể đến công trình Từ vựng ngữ nghĩa tiếng Việt của Đỗ Hữu
Châu (1999) [20], tác giả đã xem xét hoán dụ như một phương thức chuyển nghĩa phổ biến, tồn tại bên cạnh ẩn dụ với những cơ chế phổ biến riêng thường gặp Ông cũng khẳng định phương thức ẩn dụ và hoán dụ có thể ở ngay trong một từ Điều này cho thấy tính tương đối trong sự phân biệt ẩn dụ và hoán dụ
Trong cuốn, Phong cách học tiếng Việt, Đinh Trọng Lạc (1997-1999) [14]
cũng khái quát về các phương tiện và biện pháp tu từ tiếng Việt Trong đó, tác giả xếp hoán dụ vào một trong các phương tiện tu từ ngữ nghĩa ở phần tu từ học ngữ nghĩa
Nguyễn Công Đức – Nguyễn Hữu Chương (2004) trong cuốn Từ vựng tiếng
Việt [42], đã đề cập đến ẩn dụ và hoán dụ trong quy luật phát triển của từ đa nghĩa
Theo các tác giả, sự phát triển của từ đa nghĩa dựa vào hai quy luật: quy luật logic (gồm mở rộng và thu hẹp nghĩa) và quy luật liên tưởng (gồm ẩn dụ và hoán dụ)
Có thể nói, các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước đã dày công nghiên cứu
về Phong cách học và rất chú ý đến các phương thức tu từ trong đó có hoán dụ
Có hai hướng nghiên cứu về hoán dụ Ở địa hạt từ vựng học, các nhà nghiên cứu tập trung phân tích sự chuyển nghĩa của từ theo quy luật hoán dụ Ở địa hạt phong cách học, các tác giả nghiên cứu hoán dụ với vai trò là phương tiện tu từ
2.1 Nghiên cứu hoán dụ theo quan điểm từ vựng học
Các nhà nghiên cứu đã đưa ra định nghĩa, cách nhận diện, phân loại và coi hoán dụ là một phương thức chuyển nghĩa của từ đa nghĩa Đỗ Hữu Châu [20] trong
hai cuốn giáo trình Giáo trình Việt ngữ tập 2, (1962) và Từ vựng ngữ nghĩa tiếng
Việt (1999), NXB Giáo dục Hà Nội đã xem hoán dụ là một phương thức chuyển
nghĩa phổ biến nhất bên cạnh ẩn dụ và phân chia hoán dụ thành 15 loại lớn:
Trang 11Hoán dụ dựa trên mối quan hệ giữa bộ phận và toàn thể
Ví dụ: Messi là một chân chuyền xuất sắc
Hoán dụ dựa trên quan hệ vật chứa – vật bị chứa
Ví dụ: cả sân vận động reo lên khi Messi ghi bàn
Hoán dụ dựa trên nguyên liệu và sản phẩm được chế tạo ra từ nguyên liệu
Ví dụ: cái thau, đồng tiền
Hoán dụ dựa trên quan hệ giữa đồ dùng, dụng cụ với người sử dụng
Ví dụ: cây bút trẻ
Hoán dụ dựa trên quan hệ dụng cụ - ngành nghề
Ví dụ: từ nay búa liềm đã được làm chủ
Hoán dụ dựa trên quan hệ vật chứa và lượng vật chất được chứa
Ví dụ: ba bồ sách, một giường quần áo
Hoán dụ dựa trên quan hệ cơ quan chức năng và chức năng
Ví dụ: chân dài đầu ngắn
Hoán dụ dựa trên quan hệ giữa tư thế cụ thể và nguyên nhân của tư thế đó
Ví dụ: nhắm mắt xuôi tay
Hoán dụ dựa vào âm thanh để gọi tên động tác
Ví dụ: cốc cho mấy cốc vào đầu giờ
Hoán dụ dựa trên quan hệ giữa hoạt động và sản phẩm được tạo ra do hoạt động
đó
Ví dụ: gửi bọc này cho bạn
Hoán dụ dựa vào quan hệ giữa hoạt động và công cụ
Hoán dụ dựa trên quan hệ giữa vật và màu sắc
Ví dụ: da cam, da trời, da lươn
Trang 12Hoán dụ dựa vào quan hệ giữa tính chất sự vật và bản thân sự vật
Ví dụ: chất xám, chất cay
Tác giả Nguyễn Thiện Giáp lại chủ yếu quan tâm đến hoán dụ từ vựng học (hoán
dụ tạo nên những ý nghĩa mới thực sự của từ phân biệt với hoán dụ tu từ học là những hoán dụ không tạo ra nghĩa mới của từ mà chỉ là những trường hợp sử dụng có hình ảnh giúp tác giả diễn tả chính xác các sắc thái khác nhau của tư tưởng và tình cảm) Trong phần nghiên cứu về hoán dụ, Nguyễn Thiện Giáp phân biệt hoán dụ còn sống
và hoán dụ đã chết căn cứ vào căn tố từ nguyên làm cơ sở cho hoán dụ:
Quan hệ nguyên nhân – kết quả:
Ví dụ: Mồ hôi mà đổ xuống đồng
Lúa mọc trùng trùng chín cả đồi nương
Quan hệ vật chứa - nội dung:
Ví dụ: Cả sân vận động reo mừng
Quan hệ nơi chốn – sản phẩm:
Ví dụ: Chai Bordeaux
Quan hệ vật tượng trưng – cái được tượng trưng:
Ví dụ: Vì cờ đỏ sao vàng (vì nước Việt Nam)
Trong cuốn Dẫn luận ngôn ngữ học (2002), NXB Giáo dục, do Nguyễn Thiện
Giáp chủ biên, cùng với Đoàn Thiện Thuật, Nguyễn Minh Thuyết, các tác giả cũng nghiên cứu hoán dụ dưới góc độ từ vựng học, đó là hiện tượng biến đổi ý nghĩa của
từ, nên các tác giả chỉ đưa các hoán dụ từ vựng trong phần phân loại của mình Định
nghĩa và phân loại hoán dụ trong cuốn sách này cũng giống như cuốn Từ vựng học
tiếng Việt của Nguyễn Thiện Giáp
Trang 13Năm 1976, Nguyễn Văn Tu trong cuốn Từ và vốn từ Tiếng Việt hiện đại, đã
đề cập đến quy luật phát triển nghĩa của từ đa nghĩa theo hoán dụ
Yu.X.Xtêpanov trong cuốn Những cơ sở của ngôn ngữ học đại cương, NXB
Đại học và Trung học chuyên nghiệp, Hà Nội, (1997) với bản dịch của Trần Khang, Hoàng Trọng Phiến, Nguyễn Anh Quế đã đề cập đến quy luật chuyển nghĩa của từ đa nghĩa theo hoán dụ Theo quan điểm của các nhà tu từ học thì hoán dụ là một biện pháp tu từ
2.2 Nghiên cứu hoán dụ theo quan điểm tu từ học
Theo quan điểm của các nhà tu từ học thì hoán dụ là một biện pháp tu từ Các tác giả nghiên cứu hoán dụ theo quan điểm tu từ học đưa ra các định nghĩa, phân loại hoán dụ tiêu biểu như:
Cù Đình Tú (1983), Phong cách học và đặc điểm tu từ tiếng Việt, NXB Giáo
dục
Trong phần khảo sát đặc điểm tu từ tiếng Việt, Cù Đình Tú đã đề cập đến hoán
dụ tu từ (hoán dụ có tính chất lâm thời) bên cạnh các tu từ khác được cấu tạo theo quan hệ liên tưởng như: so sánh hình ảnh (so sánh tu từ), ẩn dụ tu từ, nhân hóa, phúng
dụ, tượng trưng tu từ
Đặc điểm chung của các cách tu từ cấu tạo theo quan hệ liên tưởng trong đó
có hoán dụ tu từ là: trong một văn cảnh cụ thể, từ ngữ có hiện tượng lâm thời chuyển đổi ý nghĩa Ở đây, nghĩa của từ ngữ vốn biểu thị đối tượng này theo từ điển thì lâm thời chuyển sang biểu thị đối tượng khác dựa trên mối quan hệ liên tưởng nhất định Trong đó, quan hệ liên tưởng của hoán dụ tu từ dựa trên tính lôgic khách quan về mối quan hệ có thực xảy ra giữa hai đối tượng
Cù Đình Tú còn nêu định nghĩa tổng quát về cấu tạo các cách tu từ như sau: Nếu như có thể phát hiện ra mối quan hệ liên tưởng nào đó giữa A và B thì về nguyên tắc có thể lấy A để lâm thời biểu thị B hoặc ngược lại lấy B để lâm thời biểu thị A.Tùy thuộc vào đặc trưng và mối quan hệ liên tưởng của đối tượng A, B mà chúng ta có cách tu từ khác nhau
Trang 14Khi nghiên cứu hoán dụ theo quan điểm tu từ học, Cù Đình Tú chỉ quan tâm nghiên cứu các hoán dụ tu từ (những hoán dụ có tính chất lâm thời) Theo ông, hoán
dụ tu từ là cách cá nhân lâm thời lấy tên gọi của đối tượng này để biểu thị đối tượng kia dựa trên mối quan hệ liên tưởng lôgic khách quan giữa hai đối tượng Ông cho rằng, trên nguyên tắc lý thuyết, hễ có bao nhiêu mối quan hệ lôgic khách quan thì có thể cấu tạo nên bấy nhiêu kiểu hoán dụ tu từ
Năm 1993, Đinh Trọng Lạc – Nguyễn Thái Hòa trong cuốn Phong cách học
tiếng Việt, đã lấy hoán dụ làm phương thức tiêu biểu bên cạnh cải dung, cải danh, cải
số Các nhà nghiên cứu này lựa chọn nét tiêu biểu của sự vật trong các mối quan hệ
và đưa ra cơ chế của hoán dụ như sau:
- Giữa toàn thể và bộ phận ta có hoán dụ
Ví dụ: áo chàm đưa buổi phân ly, áo quần như nêm
- Giữa vật bị chứa và vật chứa ta có cải dung
Ví dụ: cả nước nghen ngào xúc động
- Giữa tên chung và tên riêng ta có cải danh
Ví dụ: tạo ra nhiều Việt Nam hơn nữa
- Giữa số lượng cụ thể và số nhiều ta có cải số
Ví dụ: Trăm năm trăm tuổi trăm chồng
Trong hai công trình nghiên cứu 99 phương tiện và biện pháp tu từ tiếng Việt (1995) và Phong cách học tiếng Việt (1999), tác giả Đinh Trọng Lạc đã nghiên cứu
hoán dụ như một trong những phương tiện tu từ Các phương thức tu từ ngữ nghĩa được ông chia thành số lượng và cải danh, phúng dụ, nói mỉa, cải dung, uyển ngữ, nhã ngữ
Khi nghiên cứu hoán dụ, Đinh Trọng Lạc còn phân biệt ẩn dụ và hoán dụ: ẩn
dụ là việc chuyển tên gọi được thực hiện trên cơ sở sự giống nhau, còn hoán dụ được thực hiện trên cơ sở sự gần nhau của hai khách thể Khả năng chuyển nghĩa theo lối hoán dụ phụ thuộc nhiều vào ý nghĩa từ vựng của các từ được hiểu lại Song trong chuyển nghĩa hoán dụ, cái từ đó nhận được một ý nghĩa bổ sung mới, tức là ý nghĩa gốc của từ đó được mở rộng
Trang 15Với Phong cách học tiếng Việt hiện đại (1999) và Phong cách học và các
phong cách chức năng tiếng Việt (2000), tác giả Hữu Đạt nghiên cứu hoán dụ theo
quan điểm tu từ học Hoán dụ tu từ là những hoán dụ có tính chất lâm thời Khi đề cập đến hoán dụ, ông cho rằng cần phải phân biệt rõ hoán dụ với các kiểu lời nói có hình ảnh được diễn tả bằng cách mở rộng định ngữ
Nguyễn Nguyên Trứ, Hoàng Trinh cũng nghiên cứu về hoán dụ theo quan điểm
tu từ học Bên cạnh những cuốn sách viết về hoán dụ đề cập ở trên, thì tác giả Đinh Trọng Lạc còn có những bài viết liên quan đến hoán dụ đăng trên các tạp chí như:
Cải danh thuộc ẩn dụ hay hoán dụ? (Thông báo khoa học Đại học Sư phạm Hà Nội
1994, số 1); Thử xác định lại một số kiến thức về tu từ học (Nghiên cứu giáo dục số
10 – 1999); Vấn đề xác định, phân loại và miêu tả cá phương tiện tu từ và các biện
pháp tu từ (Ngôn ngữ số 4/1992)
Một số khóa luận đại học cũng nghiên cứu các hoán dụ trong thơ ca như: Từ
ngữ mang nghĩa hoán dụ trong thành ngữ, tục ngữ, ca dao Việt Nam (2006) của
Nguyễn Thị Hường, ĐH KHXH & NV TPHCM; Hoán dụ trong thơ Việt Nam hiện
đại (2008) của Hà Thị Tuyết Nhung, ĐH KHXH & NV TPHCM; Hoán dụ trong Truyện Kiều (2010) của Đinh Thị Minh Ngọc, ĐH KHXH & NV TPHCM; Hoán dụ trong thơ Xuân Diệu (2011) của Phạm Thị Kim Uyên, ĐH KHXH & NV TPHCM
Trong các công trình nghiên cứu về lý luận phê bình văn học, các tác giả cũng
đề cập đến vấn đề hoán dụ trong phần nhận xét về nghệ thuật thơ ca như:
Nam Mộc trong cuốn Về lí luận – phê bình văn học (NXB Khoa học Xã hội
và Nhân văn, 2002) đã đề cập đến hoán dụ trong bài viết về nghệ thuật Truyện Kiều
Trong cuốn Những cách tân nghệ thuật trong thơ Xuân Diệu (NXB ĐHQG –
HCM, 2005), Lê Tiến Dũng nhắc tới một số biện pháp nghệ thuật như so sánh, ẩn dụ, đảo ngữ, hoán dụ…
Trong cuốn Thế giới nghệ thuật thơ Xuân Diệu trước 1945 (NXB ĐHQG Hà
Nội), Lê Quang Hưng phân tích biện pháp tu từ: so sánh, ẩn dụ trong thơ Xuân Diệu
và đề cập đến việc sử dụng biện pháp hoán dụ trong thơ Xuân Diệu, nhưng không phân tích sâu
Trang 162.3 Những nghiên cứu về hoán dụ trong thơ Chế Lan Viên
Cho đến nay vẫn chưa có một công trình nghiên cứu nào chuyên sâu vào phân tích hoán dụ trong thơ Chế Lan Viên Chỉ có hai luận văn thạc sĩ dưới đây có đề cập
sơ qua về cách sử dụng hoán dụ trong thơ Chế Lan Viên:
- Lê Phan Quỳnh Trang, 2013, Các biện pháp tu từ liên tưởng và tư duy thơ
Chế Lan Viên qua 3 tập Di cảo, Đại học Đà Nẵng
Trong luận văn này, tác giả dành 4 trang (từ trang 14 đến trang 17) để nói về hoán dụ tu từ trong thơ Chế Lan Viên Tác giả chia hoán dụ trong thơ Chế Lan Viên thành 4 loại chính: Cải số, Cải dung, Cải danh, Bộ phận – toàn thể
- Cao Thị Châu Thủy, 2014, Phương tiện tu từ ngữ nghĩa trong thơ Chế Lan
Viên, Đại học Vinh
Trong luận văn này, tác giả dành 11 trang (từ trang 80 đến trang 90) để phân tích cách Chế Lan Viên sử dụng hoán dụ trong thơ của mình Tác giả nhấn mạnh đến
2 hình thức mà nhà thơ sử dụng nhiều là cải số và cải dung
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là các hình ảnh hoán dụ trong thơ Chế Lan Viên dưới góc độ tri nhận Những kết quả nghiên cứu này sẽ là tiền đề để rút ra được về phong cách nghệ thuật của nhà thơ Chế Lan Viên
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu của luận văn là ngữ liệu trong toàn bộ thơ Chế Lan Viên (toàn tập, quyển 1 và quyển 2) Chúng tôi chỉ tiến hành khảo sát và thống kê, phân loại các hoán dụ được xuất hiện
Luận văn sử dụng nguồn ngữ liệu từ Tập 1 và Tập 2 trong bộ Chế Lan Viên
toàn tập do Nhà xuất bản văn học ấn loát năm 2002, tác giả biên soạn là Vũ Thị
Thường Bộ sách tập hợp những sáng tác của Chế Lan Viên từ những ngày đầu xuất
hiện giữa làng thơ Việt Nam với tập Điêu tàn cho đến những Di cảo cuối đời nhà
Trang 17thơ Tập 1 và Tập 2 của Chế Lan Viên toàn tập là những sáng tác thơ, các tập còn lại là những sáng tác thuộc các thể lại khác
4 Phương pháp nghiên cứu
Tiến hành nghiên cứu đề tài này chúng tôi sử dụng các phương pháp nghiên cứu ngôn ngữ chính sau:
- Phương pháp thống kê, phân loại
Thu thập ngữ liệu, tiến hành phân loại các hoán dụ cần nghiên cứu thành các nhóm, các kiểu sử dụng cụ thể để thấy được những nét đặc biệt trong cách sử dụng
từ của tác giả
- Phương pháp miêu tả
Từ cứ liệu thu được, chúng tôi tiến hành miêu tả các kiểu loại hoán dụ xuất hiện trong các thi phẩm khác nhau để thấy được cách tư duy nghệ thuật của Chế Lan Viên có tính khác biệt với các nhà thơ cùng thời
- Phương pháp phân tích, tổng hợp
Cùng với sự phân tích nhằm chỉ ra các giá trị nghệ thuật, chúng tôi đi đến khái quát những nét cơ bản mang tính quy luật trong cách sử dụng biện pháp tu từ hoán
dụ của Chế Lan Viên
Trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi áp dụng tổng hợp tất cả các phương pháp trên, tất nhiên lúc này hay lúc khác có ưu tiên phương pháp này hay phương pháp kia hơn Các phương pháp bổ sung và hỗ trợ nhau, do đó các kết quả thu được
từ việc áp dụng phương pháp này cũng là tiền đề để thực hiện phương pháp khác Mục tiêu cuối cùng là để nhận ra các đơn vị từ vựng đang xét thuộc có phải là hoán
dụ không, và nó thuộc loại hoán dụ nào, nó có tác dụng gì,
5 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn
Từ lâu, nghiên cứu về ngôn ngữ văn chương nói chung, tìm hiểu về các phương tiện tu từ trong đó có phương thức hoán dụ nói riêng luôn là một nguồn cảm hứng cho những nhà nghiên cứu ngôn ngữ học, cũng như những người yêu thích ngành ngôn ngữ học và yêu thích văn chương Đề tài của chúng tôi có giá trị nhất định trong việc góp phần nghiên cứu ngôn ngữ văn chương, qua đó thấy được ý nghĩa cách sử
Trang 18dụng hoán dụ trong văn bản nghệ thuật nói chung để bổ sung thêm những cách nhìn
về từ ngữ mang nghĩa hoán dụ trong thơ
Xét về ý nghĩa thực tiễn, đề tài giúp hiểu thêm về hoán dụ khi tiếp xúc và nghiên cứu nó một cách riêng biệt, đồng thời có thêm kiến thức để nhận diện hoán
dụ trong đời sống và trong văn học, nghệ thuật Luận văn cũng cho thấy phần nào cách tri nhận của người Việt qua cách dùng từ ngữ theo nghĩa hoán dụ
Thông qua việc nghiên cứu cách nhà thơ sử dụng các từ ngữ dùng theo nghĩa hoán dụ một cách độc đáo, chúng tôi mong muốn sẽ góp phần tạo ra cái nhìn toàn diện và sâu sắc về những sáng tạo của nhà thơ Chế Lan Viên trên cả hai mặt nội dung
và hình thức nghệ thuật Từ đó, chúng ta có thể ghi nhận đúng vai trò của nhà thơ Chế Lan Viên trong quá trình hiện đại hóa thơ ca Việt Nam nói riêng và nền văn học hiện đại Việt Nam nói chung
Và cuối cùng, đề tài mong muốn góp phần vào việc hiểu và giảng dạy thơ Chế Lan viên nói riêng và thơ ca nói chung trong trường phổ thông; để chúng ta nâng niu trân trọng hơn tiếng Việt
Chương 2 người viết đi vào nhiệm vụ chính của luận văn là khảo sát, phân loại
và phân tích các từ dùng theo nghĩa hoán dụ trong thơ Chế Lan Viên Hoán dụ từ vựng và hoán dụ tu từ là trọng tâm của chương này
Ở chương 3, người viết đi vào nghiên cứu các đặc đặc điểm và vai trò của cách dùng từ theo hoán dụ ẩn dụ trong thơ Chế Lan Viên
Luận văn còn có phần Phụ lục Phần này người viết đưa ra các hoán dụ khảo sát được trong tuyển tập thơ Chế Lan Viên để minh chứng cho vấn đề nghiên cứu và
để độc giả có thêm nguồn tài liệu tham khảo
Trang 19Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 1.1 Khái niệm và phân loại hoán dụ
1.1.1 Khái niệm
Nghiên cứu định nghĩa hoán dụ chúng tôi đã chú ý soi chiếu từ nhiều nguồn:
Từ điển, sách, công trình bài viết của các tác giả đầu ngành về lĩnh vực từ vựng học
và chuyên về lĩnh vực tu từ học Bên cạnh đó, tham khảo thêm sách của các thầy cô, giáo trình, luận văn, luận án liên quan phương thức hoán dụ
Chúng tôi nhận thấy có nhiều định nghĩa khác nhau, rất đa dạng và phong phú
Theo quan điểm của các nhà từ vựng học “Hoán dụ là hiện tượng chuyển
tên gọi từ sự vật hoặc hiện tượng này sang sự vật hoặc hiện tượng khác dựa trên mối
quan hệ lôgic giữa các sự vật hoặc hiện tượng ấy [47] Trong 777 Khái niệm ngôn
ngữ học, trang 217 cũng đưa ra khái niệm thống nhất, giống quyển giáo trình Dẫn
luận ngôn ngữ của thầy Giáp được giảng dạy ở bậc đại học này
Quan điểm của Đỗ Hữu Châu trong Từ hội học: “Hoán dụ là một hiện tượng
chuyển hóa tên gọi – tên của một đối tượng này được dùng để gọi vật kia – dựa trên
quy luật liên tưởng tiếp cận”[tr.52]
Và cũng Đỗ Hữu Châu trong Giáo trình Từ vựng học tiếng Việt nhận định:
“Cho A là hình thức ngữ âm, x và y là những ý nghĩa biểu vật A vốn là tên gọi của
x (tức là x là ý nghĩa biểu vật chính của A) Phương thức ẩn dụ là phương thức lấy
tên gọi A của x để gọi tên y (để biểu thị y), nếu như x và y có nét nào đó giống nhau
Còn hoán dụ là phương thức lấy tên gọi A của x để gọi y nếu x và y đi đôi với nhau trong thực tế khách quan Ẩn dụ là phương thức chuyển nghĩa dựa trên quan hệ tương đồng giữa x và y Hoán dụ là phương thức chuyển nghĩa dựa trên quan hệ tiếp cận
(gần gũi nhau) giữa x và y” [21]
Quan điểm của tác giả Nguyễn Công Đức và Nguyễn Hữu Chương: “Hoán dụ
là hiện tượng chuyển đổi tên gọi - tên của đối tượng này được dùng để gọi đối tượng kia - dựa trên quy luật liên tưởng tiếp cận Quy luật tâm lí này hoạt động như sau: nếu hai sự vật A và B có mặt đồng thời gần nhau trong không gian hoặc trong thời
Trang 20gian thì khi nhắc tới sự vật A người ta nghĩ ngay đến sự vật B và ngược lại” [Từ vựng học, tr.115]
Dưới góc độ tu từ học và phong cách, Đinh Trọng Lạc và Nguyễn Thái Hòa
nhấn mạnh: “Hoán dụ là phương thức chuyển nghĩa bằng cách dùng một đặc điểm hay một nét tiêu biểu nào đó của một đối tượng để gọi tên chính đối tượng đó” [15]
Nhà nghiên cứu Hữu Đạt thì cho rằng: “Hoán dụ là cách tạo tên gọi cho đối tượng dựa trên mối quan hệ giữa bộ phận và toàn thể nhằm diễn tả nội dung thông báo mà người nói muốn đề cập” [33, tr.203]
Trong từ điển văn học không chuyên ngành về ngôn ngữ đã viết: " Hoán dụ là phương thức tu từ thực hiện bằng việc chuyển nghĩa của từ, dựa vào sự gần nhau của các đối tượng sự vật Các đặc điểm nghệ thuật của hoán dụ gắn với bút pháp của tác giả, tính chất của phong cách văn học, đặc thù của văn hóa dân tộc” (trích theo Lại
Nguyên Ân (2004), Từ điển thuật ngữ văn học, NXB Giáo dục, tr.153)
Về cơ bản, các định nghĩa có thể khác nhau nhưng đều hướng đến một nội dung khẳng định hoán dụ là hiện tượng chuyển tên gọi, tên của đối tượng này được dùng để gọi đối tượng kia, khi chúng có mối quan hệ lôgic chặt chẽ
Về hoán dụ từ vựng và hoán dụ tu từ, trong các giáo trình, sách vở các nhà nghiên cứu tách riêng biệt định nghĩa ra không nhiều Trong đó có thể kể đến Đinh Trọng Lạc, Cù Đình Tú, Mai Thị Kiều Phượng
Nhà nghiên cứu Cù Đình Tú cho rằng: “Hoán dụ tu từ là cách cá nhân lâm
thời lấy tên gọi của đối tượng này dùng để biểu thị đối tượng kia dựa trên mối quan
hệ lôgic khách quan giữa hai đối tượng Về mặt hình thức, hoán dụ tu từ chỉ có vế biểu hiện, còn vế được biểu hiện cũng không phô ra như ẩn dụ tu từ Người tiếp nhận phải dựa vào quan hệ liên tưởng logic khách quan để tìm ra đối tượng được biểu hiện” [5, tr.191]
Nhả nghiên cứu Mai Thị Kiều Phượng định nghĩa: "Hoán dụ từ vựng là
phương thức chuyển đổi tên gọi giữa hai sự vật A và sự vật B (mà hai sự vật này có quan hệ khách quan với nhau, hoặc cùng thuộc một phạm trù) Sự chuyển tên gọi này được thực hiện bằng phép liên tưởng dựa vào đặc điểm tương cận, gần gũi nhau, bao
Trang 21gồm nhau giữa các sự vật hiện tượng thường đi đôi với nhau trong thực tế khách quan thông qua sự nhận thức và tư duy liên tưởng của con người,"
Phần tiếp theo sau đây chúng tôi chỉ chuyên đi vào cách phân loại và ví dụ cụ thể cho từng trường hợp đó
1.1.2 Phân loại
a Phân loại theo mối quan hệ logic khách quan
Dựa vào mối quan hệ logic khách quan, các nhà ngôn ngữ trước nay đã chia thành các loại:
Nguyễn Thiện Giáp [46] chia hoán dụ ra 9 loại:
1 Quan hệ giữa toàn thể và bộ phận Kiểu hoán dụ này còn gọi là cải dung Có hai kiểu cải dung:
- Lấy bộ phận thay cho toàn thể
Ví dụ: “nhà có năm miệng ăn” lẽ ra là “nhà có năm người”, “thêm một đầu lợn nữa” lẽ ra là thêm một con lợn nữa
- Lấy toàn thể thay cho bộ phận
Ví dụ: xe trong “anh Lâm dắt xe đi vào” có nghĩa là cái xe đạp
2 Lấy không gian, địa điểm thay cho người sống ở đó
Ví dụ: thành phố lẽ ra “người ở thành phố”, nhà bếp lẽ ra “những người làm ở đó”, nhà tôi lẽ ra là “vợ tôi”…
3 Lấy cái chứa đựng thay cho cái chứa đựng
Ví dụ: bát lẽ ra cái đựng ở bát, chai lẽ ra là bia, nước ngọt…
4 Lấy quần áo, trang phục thay cho con người
Ví dụ: áo chàm lẽ ra là người mặc áo chàm “áo chàm đưa buổi phân li”
5 Lấy bộ phận con người thay cho bộ phận quần áo
Ví dụ: cổ áo, vai áo, tay áo…
6 Lấy địa điểm, nơi sản xuất thay cho sản phẩm được sản xuất ở đó
Ví dụ: kẹo xìu, bai Trúc Bạch, kem Bốn Mùa…
7 Lấy địa điểm thay cho sự kiện xảy ra ở đó
Ví dụ: trận Điện Biên Phủ, hội nghị Pari…
Trang 228 Lấy tên tác giả thay cho tên tác phẩm
Ví dụ: Nguyễn Du lẽ ra “tác giả của Nguyễn Du” “Suốt mười năm tôi đọc Nguyễn Du”
9 Lấy âm thanh thay cho đối tượng
Ví dụ: chim cuốc, xe bình bịch, chim tu hú, mèo…
Đỗ Hữu Châu [20] chia hoán dụ ra 15 loại:
1) Hoán dụ dựa trên quan hệ bộ phận và toàn thể giữa hai ý nghĩa biểu vật x
và y, x là bộ phận của y hoặc x là toàn thể y là bộ phận
+ Lấy tên gọi của bộ phận cơ thể thay cho cả cơ thể, cho cả người hoặc cho toàn thể
Ví dụ: chân, tay, mặt, miệng là tên gọi của các bộ phận cơ thể trong các câu sau đây có chân trong đội bóng đá, một tay cờ xuất sắc, đủ mặt anh tài, gia đình tám miệng ăn thì chân, tay, mặt, miệng chỉ cả người, cả cơ thể trọn
vẹn
+ Lấy tên gọi của tiếng kêu, của đặc điểm hình dáng để gọi tên con vật
Ví dụ: con tu hú, con tắc kè, con mèo, con quạ…
+ Lấy tên gọi của đơn vị thời gian nhỏ gọi tên cho đơn vị thời gian
Ví dụ: xuân, thu, đông… có thể dùng để chỉ năm Những từ ghép hợp nghĩa ngày tháng, năm tháng với ý nghĩa chỉ thời gian cũng thuộc vào nhóm
này
+ Tên riêng được dùng thay cho tên gọi của loại
Ví dụ: Tam Đảo, Thăng Long… vốn là các tên riêng có khi được dùng
Trang 23con số nói lên một số lượng không chính xác tuy không bé hơn hay lớn hơn chúng là bao nhiêu
+ Lấy tên gọi thời gian nhỏ để gọi tên thời gian lớn
Ví dụ: một ngày công…
+ Lấy tên một loại lớn để chỉ sự vật, cá thể thuộc loại nhỏ
Ví dụ: Nó đi xe đến trường
2) Hoán dụ dựa trên quan hệ vật chứa - vật bị chứa
Ví dụ: Nhà trong một nhà sum họp thì nhà chỉ những người trong gia đình, tức những người được chứa trong cái nhà, tương tự cả làng tỉnh dậy giữa đêm khuya,
cả thành phố rộn rịp thì làng, thành phố là những vật chứa
3) Hoán dụ dựa theo quan hệ giữa nguyên liệu và sản phẩm được chế tạo từ nguyên
đó
Ví dụ: đồng (đơn vị tiền tệ: một đồng, hai đồng), bạc (với nghĩa là tiền), gương,
kính (dụng cụ đeo mắt hoặc để soi)
4) Hoán dụ dựa trên quan hệ giữa đồ dùng, dụng cụ với người sử dụng
Ví dụ: cây viôlông, cây sáo… cây bút với ý nghĩa nhạc công, nhà văn là những
hoán dụ lấy tên gọi của dụng cụ để chỉ người
5) Hoán dụ dựa theo quan hệ giữa vật chứa và lượng vật được chứa đựng
Ví dụ: Hầu hết tất cả các sự vật trong tiếng Việt (chủ yếu là đồ vật) có thể chứa đựng một cái gì đó thì đều có thể dùng để chỉ đơn vị đo lường (thể tích) như mấy
thùng gạo, ba bồ sách, một giương quần áo, một tủ vải vóc
6) Hoán dụ dựa trên quan hệ dụng cụ - ngành nghề Theo cơ chế này, tên gọi dụng cụ được gọi thay cho tên ngành nghề
Ví dụ: búa, súng, cày, bút là các hoán dụ chỉ nghề nghiệp như tay búa, tay
súng, tay cày, tay cày tay súng, tay bút tay súng
7) Hoán dụ dựa theo quan hệ giữa cơ quan chức năng và chức năng
Ví dụ: đầu: trí tuệ, lí trí, tim: tình cảm, bụng chỉ tâm địa…
8) Hoán dụ dựa trên quan hệ giữa tư thế cụ thể và nguyên nhân của tư thế đó
Trang 24Ví dụ: tắt thở, nhắm mắt, xuôi tay chỉ cái chết, khoanh tay chỉ sự bất lực, cúi đầu
Ví dụ: điểm, chấm, nắm, gói, bọc (5 điểm, những chấm li ti trên tờ giấy, nắm
cơm, gói các gói này cho bạn, bọc hàng) là những sản phẩm của hoạt động điểm chấm (lấy ngòi bút chấm một chấm), nắm (nắm tay lại), gói (gói các cuốn sách bằng tờ giấy)
11) Hoán dụ dựa trên quan hệ giữa hoạt động và công cụ
Ví dụ: cái cuốc và cuốc, cái cày và cày, cái giũa và giũa…
12) Hoán dụ dựa trên quan hệ giữa động tác tiêu biểu và toàn bộ quá trình sản xuất
Ví dụ: đóng bàn, đóng là động tác dùng búa, dùi, đục tác động vào một vật làm cho nó gắn với các vật khác Đóng có nghĩa là chế tạo ra cái bàn, ngoài ra thì đẽo cày, đúc tiền, cắt áo cũng thuộc loại hoán dụ này
13) Hoán dụ dựa trên quan hệ giữa nguyên nhân và hoạt động dùng nguyên liệu đó
Ví dụ: muối cà, thuốc chuột thì muối, thuốc là các nguyên liệu, chúng được
chuyển nghĩa để gọi tên các hoạt động
14) Hoán dụ dựa vào quan hệ giữa sự vật và màu sắc
Ví dụ: da bò, da cam, da trời… trong những hoán này, tên gọi của sự vật mang màu sắc được chuyển nghĩa gọi tên các màu sắc
15) Hoán dụ dựa vào quan hệ giữa tính chất của sự vật và bản thân sự vật Trong trường hợp này, tên gọi của tính chất, đặc điểm được dùng gọi thay cho sự vật
Ví dụ: chất xám: năng lực, trí tuệ, chất khói, khói: thuốc lá, chất cay: rượu
Hai nhà nghiên cứu Nguyễn Công Đức - Nguyễn Hữu Chương [42] chia hoán
dụ ra 8 loại:
1) Lấy bộ phận thay cho toàn thể
Ví dụ: miệng (nhà có năm miệng ăn), chân (anh ấy có chân trong ban quản lý)…
Trang 252) Lấy toàn thể thay cho bộ phận
Ví dụ: thế giới (cả thế giới ủng hộ Việt Nam), thành phố (cả thành phố xuống đường)…
3) Lấy không gian, địa điểm thay cho người ở đó
Ví dụ: nhà ga (nhà ga thông báo tàu đến), hàng không (hàng không Việt Nam chúc quý khách một chuyến bay an toàn)…
4) Lấy vật chứa đựng thay cho cái được chứa đựng
Ví dụ: bát (nó ăn hai bát cơm), cốc (uống hai cốc nước)…
5) Dùng tên gọi quần áo chỉ người
Ví dụ: áo chàm (áo chàm đưa buổi phân li)
6) Dùng tên gọi bộ phận cơ thể người để gọi bộ phận đồ vật
Ví dụ: cổ (cổ áo), tay (tay áo), nách (nách áo), lưng (lưng áo)…
7) Lấy địa điểm thay cho sự kiện ở đó
Ví dụ: những Chi Lăng, Bạch Đằng, Đống Đa…
8) Lấy tên người viết thay cho tác phẩm
Ví dụ: bạn đã đọc Bandắc, Xếchxpia, L.Tônxtôi… chưa?
Nhà nghiên cứu Cù Đình Tú [5] dựa vào những mối liên hệ lôgic khách quan giữa các đối tượng mà chia hoán dụ thành 8 loại như sau:
1) Quan hệ logic khách quan giữa bộ phận và toàn thể
Ví dụ:
Đầu xanh có tội tình gì
Má hồng đến quá nửa thì chưa thôi
(Nguyễn Du)
Đầu xanh (bộ phận cơ thể) biểu thị con người ở độ tuổi trẻ trung, mới
bước vào đời (toàn thể)
Má hồng (bộ phận cơ thể) biểu thị người đàn bà sống kiếp lầu xanh
(toàn thể)
2) Quan hệ logic khách quan giữa chủ thể (người) và vật sở thuộc (y phục, đồ dùng)
Trang 26Ví dụ:
Mưa phùn ướt áo tứ thân
(Tố Hữu)
Áo tứ thân (y phục) biểu thị bầm (chủ thể)
Nhớ đôi dép cũ nặng công ơn
(Tố Hữu) Đôi dép cũ (đồ dùng) biểu thị Bác Hồ giản dị (chủ thể)
3) Quan hệ logic khách quan giữa hành động, tính chất và kết quả của hành động, tính chất
Ví dụ: Đường cái đã nhọ mặt người (Tô Hoài)
Nhọ mặt người (kết quả) biểu thị bắt đầu tối (tính chất)
Một nắm cơm nhỏ ăn từ sáng đã bị cái dạ dày chăm chỉ của con nhà
nghèo tiêu hết đến phèo một cái còn gì!
Cái dạ dày chăm chỉ (chủ thể) biểu thị sự đói nhanh (trạng thái hành động)
5) Quan hệ logic khách quan giữa số lượng và số lượng
Ví dụ:
Cầu này cầu ái cầu ân
Một trăm con gái rửa chân cầu này
(Ca dao)
Trang 27Một trăm (số lượng xác định) biểu thị rất nhiều, tha hồ (số lượng không xác định)
Vì sao Trái Đất nặng ân tình
Nhắc mãi tên người Hồ Chí Minh
(Tố Hữu) Trái đất (vật chứa đựng) biểu thị đông đảo nhân dân (được chứa đựng)
7) Quan hệ logic khách quan giữa cái cụ thể và cái trừu tượng
Ví dụ:
Kháng chiến ba ngàn ngày không nghỉ
Bắp chân đầu gối vẫn săn gân
(Tố Hữu) Bắp chân… săn gân (cụ thể) biểu thị tinh thần kháng chiến dẻo dai (trừu tượng)
Nhận của quá khứ những con đê vỡ, những nạn đói, ta đã làm nên những
mùa vàng năm tấn, bảy tấn
Đê vỡ, nạn đói (cụ thể) biểu thị sự tàn phá, kiệt quệ (trừu tượng) Mùa vàng năm tấn (cụ thể) biểu thị cuộc sống mới ấm no (trừu tượng) 8) Quan hệ logic khách quan giữa tên riêng, tên nhân vật và tính cách con người
Ví dụ: Con thằng thiên lôi đâm lòi bụng vợ (Nam Cao)
Thiên lôi (tên nhân vật truyền thuyết) biểu thị tên hung ác (tính cách)
b Phân biệt hoán dụ từ vựng và hoán dụ tu từ
Hoán dụ là hiện tượng tồn tại phổ biến trong đời sống và văn chương Đó là phương thức chuyển nghĩa của từ dựa trên mối quan hệ tương cận, tiếp cận Mối quan
Trang 28hệ này bao hàm nhiều cơ chế chuyển nghĩa, tùy theo quan điểm về hoán dụ mà mỗi nhà ngôn ngữ học có cách nhận diện và phân loại như đã trình bày ở trên
Cách phân định hoán dụ từ vựng và hoán dụ tu từ dựa trên tổng hợp kiến thức
từ các tài liệu, công trình của những người đi trước, và nó chỉ mang tính chất tương đối Vì ranh giới giữa hoán dụ từ vựng và hoán dụ tu từ có đôi lúc mơ hồ, mập mờ, khó phân định rạch ròi Có nhiều hoán dụ tu từ trước đây trong văn chương, sau được
biết đến rộng rãi kiểu: “Đầu xanh có tội tình gì” đầu xanh chỉ người còn trẻ, tóc xanh
Và xã hội ta vẫn dùng phổ biến “người đầu bạc khóc người đầu xanh”, hiểu với nghĩa
ổn định Theo định nghĩa như thế có thể xếp nó vào trường hợp hoán dụ từ vựng được
1.2 Hoán dụ tri nhận
Từ trước đến nay, đã có nhiều cơng trình nghie̛n cứu về Ngôn ngữ học tri nhận, trong đó có đưa ra các nghie̛n cứu về hoán dụ tri nhận (hoán dụ ý niệm) dưới góc nhìn của Ngôn ngữ học tri nhận
Lakoff và Johnson là mợt trong những nhà nghie̛n cứu đầu tie̛n đưa ra các cơng trình nghie̛n cứu về lĩnh vực này Hai ơng cho rằng, “Hoán dụ, ngược lại với ẩn dụ, chủ yếu có chức na̛ng quy chiếu, có nghĩa là nó cho phép chúng ta dùng mợt thực thể này để tượng trưng cho mợt thực thể khác” (trích theo Metaphor We Live by , tr.35) Còn theo Antonio Barcelona: “Hoán dụ là mợt quá trình phóng chiếu ý niẹ̛m mà trong đó mợt miền trải nghiẹ̛m này (miền nguồn) được hiểu thơng qua mợt miền trải nghiẹ̛m khác (đích) nằm trong cùng mợt miền chứa đựng đối tượng” Ngoài ra, còn có nhiều nhà ngơn ngữ học khác như Hubert Cuyckens (2001), René Dirven và Ralf Pơrings (2002), Réka Benczes (2011), Francisco José Ruiz de Mendoza Ibáñez (2011), hay Klaus-Uwe Panther và Gưnter Radden (2011) cũng đưa ra các nghie̛n cứu khác nhau về ẩn dụ ý niệm, hoán dụ ý niệm và mối quan hẹ̛ giữa hai chiến lược tri nhạ̛n này Tựu trung lại,
có thể đưa ra mợt khái niẹ̛m về hoán dụ ý niệm tương đối thống nhất như sau: “Hoán dụ ý niệm là mợt quá trình tri nhạ̛n mà trong đó mợt bản thể ý
Trang 29niẹ̛m này (vehicle) được dùng để quy chiếu đến mợt mợt bản thể ý niẹ̛m khác (target) trong mợt khung duy nhất”
Trần Trung Hiếu (2012) trong bài đăng “Hoán dụ ý niệm trong kết cấu x (vị
từ) + “mật” trong tiếng việt dûới góc nhìn của ngôn ngữ học tri nhận”
(Tạp chí KHOA HỌC ĐHSP TPHCM Số 41 na̛m 2012) nhận định Hoán dụ ý niẹ̛m (HDYN) là mợt trong hai cơ chế tri nhạ̛n chủ yếu được nghie̛n cứu bởi Ngơn ngữ học tri nhạ̛n (NNHTN) Bài viết này tre̛n cơ sở khảo sát 61 kết cấu vị từ + yếu tố “mạ̛t” trong tiếng Viẹ̛t đã pha̛n tích mợt số biểu trưng HDYN của “mạ̛t” dưới góc nhìn của NNHTN Bài viết đã góp phần làm rõ cơ chế tạo nghĩa trong các ngữ cố định có chứa yếu tố “mạ̛t” nói rie̛ng, từ đó sẽ giúp cho các nhà nghie̛n cứu có những cái nhìn sa̛u rợng hơn về cơ chế và phạm
vi của HDYN
Võ Thị Hương (2015) trong Luận văn Thạc sĩ “Ẩn dụ ý niệm và hoán dụ ý niệm
về tình yêu trong thơ Xuân Quỳnh” đã tìm hiểu ẩn dụ, hoán dụ trong thơ tình yêu
Xuân Quỳnh từ góc độ ngôn ngữ học tri nhận, tức là xác lập những chiếu xạ trong những ẩn dụ, hoán dụ ý niệm tình yêu, qua đó, làm nổi bật những nét độc đáo trong thơ tình yêu của một người đàn bà yêu và thiêng liêng hóa tình yêu Luận văn tiếp cận tình yêu trong thơ Xuân Quỳnh từ các ẩn dụ và hoán dụ ý niệm, tức là xem xét theo góc nhìn của ngôn ngữ học tri nhận Hướng đích của đề tài, ngoài việc làm nổi bật những nét đặc sắc trong cách tổ chức ngôn từ làm nổi rõ hình tượng thơ về đề tài tình yêu còn góp phần lí giải tư duy thơ của Xuân Quỳnh
Bùi Thị Ngọc Lan (2016) với báo cáo “Ẩn dụ và hoán dụ ý niệm về cái chết
trong thành ngữ Tiếng Việt và Tiếng Pháp từ góc độ ngôn ngữ học tri nhận” Việc
nghiên cứu thành ngữ từ quan điểm ngôn ngữ học tri nhận, đặc biệt là dưới góc độ ẩn
dụ ý niệm và hoán dụ đang ngày càng được giới nghiên cứu ngôn ngữ quan tâm, bởi
vì nó có thể làm sáng tỏ nhiều vấn đề chưa được giải quyết Bài viết này tiến hành nghiên cứu so sánh đối chiếu để tìm ra những nét tương đồng và dị biệt giữa những
Trang 30ẩn dụ ý niệm và hoán dụ biểu thị cái chết trong thành ngữ tiếng Pháp và tiếng Việt Trong khuôn khổ bài viết, tác giả mong muốn nghiên cứu vai trò của ẩn dụ và hoán
dụ trong việc kiến tạo ngữ nghĩa của thành ngữ và góp phần tìm hiểu những khác biệt
về văn hóa ẩn chứa trong hai ngôn ngữ
Nguyễn Thị Hiền (2018) trong bài “Hoán dụ ý niệm “bộ phận cơ thể người”
trong Tiếng Việt” cho biết hoán dụ ý niệm là một trong những phương thức tri nhận
quan trọng Trong hoán dụ ý niệm bộ phận cơ thể người, loại hoán dụ có số lượng lớn và phong phú nhất là các hoán dụ bộ phận cơ thể đại diện tâm lí, tình cảm con người Với loại hoán dụ này, các ý được kích hoạt để ánh xạ tới các miền đích chủ yếu là các bộ phận cơ thể thuộc cơ quan nội tạng như bụng, lòng, gan, dạ, ruột….Đặc biệt, dưới góc nhìn tri nhận, có thể thấy các tên gọi bộ phận cơ thể người đã có sự chuyển hóa phong phú, linh hoạt và mang đặc trưng văn hóa dân tộc
Hoán dụ ý niệm được pha̛n ra thành nhiều loại Theo Nguyễn Ngọc Vũ, có thể chia Hoán dụ ý niệm thành ba loại: Hoán dụ ý niệm tuyến tính; Hoán dụ ý niệm tiếp hợp; Hoán dụ ý niệm bao gồm [45; tr.57]
Be̛n cạnh đó, còn có nhiều nghie̛n cứu khác về pha̛n loại Hoán dụ ý niệm Theo Barcelona, Antonio, Hoán dụ ý niệm còn có thể được pha̛n chia ra thành các loại khác như:
- Hoán dụ ý niệm giản đồ (schematic): “Là sự phóng chiếu khơng đối xứng
của miền ý niẹ̛m nguồn le̛n miền ý niẹ̛m đích Miền nguồn và miền đích cùng nằm trong mợt miền chứa đựng đối tượng và lie̛n kết với nhau bởi chức na̛ng ngữ dụng sao cho miền đích có thể được kích hoạt trong tinh thần”
- Hoán dụ ý niệm điển hình (typical): “Là hoán dụ giản đồ mà trong đó miền
đích hoàn toàn khác biẹ̛t với miền nguồn: hoạ̛c miền đích là miền phụ thứ cấp của miền nguồn; hoạ̛c là nó khơng được bao gồm trong miền nguồn
- Hoán dụ ý niệm nguyên mẫu (prototypical): “Là loại hoán dụ quy chiếu điển
hình mà trong đó miền đích và vạ̛t quy chiếu là mợt thực thể đợc lạ̛p hoạ̛c
Trang 31là mợt tạ̛p hợp các thực thể đợc lạ̛p” Đa̛y là trường hợp đạ̛c trưng hóa của Hoán dụ ý niệm điển hình
Trong phân loại hoán dụ cơ thể người, quan hệ bộ phận và toàn thể, nghĩa là lấy tên gọi của bộ phận để chỉ toàn thể hoặc ngược lại Tuy nhiên, nói chung, người ta thường lấy tên gọi của bộ phận để chỉ toàn thể mà ít khi lấy toàn thể để chỉ bộ phận
Trang 32a Bộ phận thay cho toàn bộ cơ thể người
(2) We don’t hire longhairs
(Chúng tôi không thuê phụ nữ.)
Hoán dụ biểu hiện bộ phận thay cho toàn thể tiền giả định sự tồn tại nhiều phần,
có khả năng thay thế cái toàn thể Việc lựa chọn một bộ phận nào đó quyết định sự chú ý tập trung ở phần nào của cái toàn thể Khi nói “Chúng tôi không thuê tóc dài”, thì người ta dùng “tóc dài” để biểu hiện “những người có mái tóc dài”
b Toàn thể thay cho bộ phận
(3) Mary dùng tiếng Anh
“dùng” là một hành vi toàn thể gồm có nhiều hành vi khác nhau: hiểu, đọc,
nghe…vốn là sản phẩm của các bộ phận cơ thể người Khi “dùng tiếng Anh” có thể
người ta đang nói, đọc hay viết Nói “dùng” tức là huy động toàn bộ cơ thể “vào cuộc”
chứ không riêng 1 bộ phận nào
+ Phần cơ thể chỉ phẩm chất
(4) Nàng không có trái tim (không có lòng thương)
- Hắn không có gan (không can đảm)
+ Tài nghệ thay cho người
(5) Hà Thanh là một giọng ca tài danh xứ Huế
1.3 Phân biệt hoán dụ và ẩn dụ
Có thể nói rằng, hai phương thức chuyển nghĩa ẩn dụ và hoán dụ đều đem lại những ý nghĩa mới cho từ và làm phong phú thêm cách diễn đạt của ngôn ngữ Chính
vì có cùng chung mục đích sử dụng này mà trên thực tế ẩn dụ và hoán dụ đôi khi không tách bạch rõ ràng, tuy nhiên giữa chúng vẫn có sự khác nhau cơ bản cần phân
Trang 33biệt Vấn đề phân biệt hoán dụ và ẩn dụ là cần thiết để nhận diện quá trình chuyển nghĩa và ý nghĩa của từ, đồng thời sẽ giúp hiểu rõ ý nghĩa của nó trong địa hạt thơ nói riêng và văn chương nói chung
Cũng như hoán dụ, ẩn dụ là một biện pháp tu từ được nhiều nhà nghiên cứu
quan tâm Trong cuốn “Dẫn luận ngôn ngữ học”, tác giả Nguyễn Thiện Giáp (Chủ
biên) đưa ra quan điểm “Ẩn dụ là sự chuyển đổi tên gọi dựa vào sự giống nhau giữa
các sự vật, hiện tượng được so sánh với nhau” [46, 85]
Trong khi đó, tác giả Nguyễn Công Đức và Nguyễn Hữu Chương trong cuốn
“Từ vựng tiếng Việt” lại khẳng định: “Ẩn dụ là cách gọi tên một sự vật, hiện tượng này bằng tên gọi của một sự vật, hiện tượng khác dựa trên sự giống nhau giữa các
sự vật, hiện tượng được so sánh với nhau” [40, 120]
Ẩn dụ và hoán dụ đều là phương thức lấy tên sự vật, hiện tượng này để gọi tên
sự vật, hiện tượng khác Ẩn dụ dựa trên mối quan hệ tương đồng, còn hoán dụ dựa trên quan hệ tương cận Tuy nhiên, ranh giới giữa tương đồng và tương cận nhiều khi không rõ ràng và rạch ròi Nhà nghiên cứu Roman Jakobson cho rằng, phép ẩn
dụ trong văn học giống như sự nhầm lẫn của những người bị “bệnh ngôn ngữ” Trong thi ca, “chức năng thi học trù hoạch nguyên tắc tương đồng giữa trục lựa chọn và trục kết hợp và thơ có khả năng chiếu trục lựa chọn và kết hợp” nên mọi hoán dụ đều phảng phất tính ẩn dụ và mọi ẩn dụ đều có màu sắc hoán dụ
Trên thực tế, hai phương thức chuyển nghĩa này có những điểm riêng nhất định Chính vì sự mập mờ về ranh giới giữa ẩn dụ và hoán dụ nên việc nhận diện chúng đã thu hút sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu
Nhà nghiên cứu Cù Đình Tú trong cuốn “Phong cách học và các biện pháp tu
từ tiếng Việt” nhận định: “Cái logic trong ẩn dụ tu từ là cái logic mang tính chủ quan do con người tạo ra, trái lại trong hoán dụ tu từ là cái logic có thực, mang tính khách quan do con người nhận thức và phản ánh lại Bởi vậy, nó có khả năng khắc họa, nhấn mạnh một đặc điểm có thực nào đó của đối tượng định miêu tả Tùy thuộc vào ý muốn riêng và năng lực phát hiện của người nói mà một đặc điểm của đối tượng định miêu tả được khắc khắc họa, được nhấn mạnh” [4, 15]
Trang 34Còn Đinh Trọng Lạc trong “99 phương tiện và biện pháp tu từ tiếng Việt” lại
cho rằng: Khả năng chuyển nghĩa theo lối ẩn dụ và hoán dụ đều phụ thuộc nhiều vào ý nghĩa từ vựng của cái từ được hiểu lại Chuyển nghĩa hoán dụ trong lời nói nghệ thuật như một chi tiết, một bộ phận có thêm những ý nghĩa liên tưởng bổ sung
mà ta khó có thể giải thích theo một nghĩa Còn trong chuyển nghĩa ẩn dụ thì chỉ có một biến thể từ vựng ngữ nghĩa của từ được thực hiện hóa, tức là ý nghĩa của từ bị
thu hẹp lại
Cả ẩn dụ và hoán dụ về bản chất cùng là sự chuyển đổi tên gọi của đối tượng này sang đối tượng khác Khi ta sử dụng phép ẩn dụ hoặc hoán dụ nghĩa là ta sử dụng tên gọi của đối tượng A để chỉ đối tượng B B chính là cái ta hướng tới, nghĩ về, là ý nghĩa không được bộc lộ ngay trên câu chữ
Ẩn dụ và hoán dụ cùng dựa trên quy luật liên tưởng Mọi lớp hạng, yếu tố ngôn ngữ học được tập hợp lại trong trí theo một nguyên tắc nhất định nào đó sẽ kết hợp với nhau tạo nên câu dựa trên sự chọn lựa Sự chọn lựa và kết hợp này khi thì có
sự tương đồng cả về ý nghĩa và hình thức, khi thì chỉ có sự tương đồng hoặc về ý nghĩa hoặc về hình thức Việc con người lựa chọn đối tượng gì để biểu đạt ý nghĩa là
do nhận thức của riêng từng dân tộc Điều này sẽ dẫn đến hệ quả là mỗi dân tộc sẽ có cách tri nhận riêng về những sự vật, hiện tượng trong thực tế khách quan
Về tác dụng trong thơ ca, theo Thụy Khuê, cả ẩn dụ và hoán dụ đều giúp: + Rút gọn lời nói và tạo hình
+ Vay mượn ngôn ngữ để làm giàu ngôn ngữ
+ Mang vào ngôn ngữ những yếu tố lạ, tạo bất ngờ và tác động mạnh tới cảm xúc
Tuy có quan hệ gần gũi nhưng ẩn dụ và hoán dụ có những điểm khác nhau cơ bản:
Việc chuyển tên gọi trong ẩn dụ được thực hiện trên cơ sở sự giống nhau của hai khách thể, trong khi đó, hoán dụ được thực hiện trên cơ sở sự gần nhau của hai khách thể
Trang 35Khác với ẩn dụ, hoán dụ dựa trên quan hệ liên tưởng tiếp cận, tương cận Nghĩa
là giữa đối tượng được gọi tên và đối tượng gọi tên có mối liên hệ tất yếu khách quan Mối quan hệ liên tưởng tiếp cận này hoàn toàn có thật, nó có thể là quan hệ giữa bộ phận và toàn thể, quan hệ giữa cái chứa đựng và vật được chứa đựng, giữa trang phục
Ví dụ:
Thuyền về có nhớ bến chăng Bến thì một dạ khăng khăng đợi thuyền
“Thuyền” và “bến” được dùng để chỉ người con trai và người con gái đang yêu nhau, nhưng không phải vì người con trai và người con gái có vẻ ngoài giống thuyền và bến Mặt khác, cũng không bắt buộc phải hiểu người con trai là thuyền và người con gái là bến hay ngược lại Tùy thuộc vào cảm nhận mà người đọc có thể hiểu theo những cách khác nhau
+ Hoán dụ được xây dựng trên cơ sở liên tưởng logic khách quan, liên tưởng tương cận nên đòi hỏi từ thay thể phải có mối liên hệ với đối tượng như: liên hệ giữa
đồ vật và nguyên liệu (mặc lụa, mặc gấm ), giữa vật chứa và lượng vật chất được chứa (uống một bát nước chè, ăn một đĩa thịt ), giữa trang phục và người sử dụng (cô áo xanh, anh nón trắng ) Có như vậy, khi kết hợp với nhau chúng mới tạo thành một hệ thống logic
Trong văn thơ, cả ẩn dụ và hoán dụ đều dựa trên quy luật liên tưởng Ranh
giới ấy không rạch ròi đến nỗi Jaskobson đã khẳng định “mọi ẩn dụ đều phảng phất
tính hoán dụ và mọi hoán dụ đều có ít nhiều tính cách ẩn dụ” Theo quan điểm của
ngôn ngữ học đồng đại, mọi cái “tĩnh” chỉ là tạm thời, tương đối Vì thế, ranh giới
Trang 36giữa ẩn dụ và hoán dụ không bao giờ cũng rõ ràng tuyệt đối, đúng như Lênin nói “mọi
ranh giới trong tự nhiên và trong xã hội đều di động và quy ước đến một mức nào đó” Chính vì vậy, trong thơ ca nói riêng và trong văn học nghệ thuật nói chung, đôi
khi ta phải chấp nhận hiện tượng “không rõ ràng” này Chẳng hạn:
Áo chàm đưa buổi phân ly Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay
(Việt Bắc – Tố Hữu) Hình ảnh người đưa tiễn được khắc họa trong màu áo chàm Đây là một trường hợp của hoán dụ tu từ dựa trên quan hệ liên tưởng giữa trang phục và người sử dụng Màu áo chàm là màu trang phục đặc trưng của những người dân tộc anh em ở vùng núi Việt Bắc đã nuôi dưỡng cách mạng Đó là màu áo gần gũi, thân thuộc, thắm thiết, gắn bó trong nghĩa tình cách mạng Nó còn mang một ý nghĩa tượng trưng – như một
ẩn dụ - là tấm lòng thủy chung son sắt của người dân Việt Bắc đối với cách mạng, đối với người cán bộ về xuôi và cũng là tấm lòng thủy chung son sắt của người cán
bộ về xuôi đối với người ở lại
Như vậy, Hoán dụ và ẩn dụ đều là những phép tu từ thể hiện một vật dựa vào mối quan hệ giữa nó và vật khác Theo Lakoff, cơ cấu ý niệm của hoán dụ nói chung,
rõ ràng hơn ý niệm ẩn dụ, vì nó dính líu đến liên tưởng vật lý và nhân quả Hoán dụ
“phần thay cho toàn thể” xuất hiện từ kinh nghiệm của ta với cái cách mà mỗi một phần dính líu đến cái toàn thể; hoán dụ “người sản xuất thay thế cho sản phẩm” dựa trên nguyên lý nhân quả; Hoán dụ “nơi chốn thay cho biến cố” do kinh nghiệm của
ta về nơi chốn diễn ra biến cố Trong lúc đó, ẩn dụ thường cho ta cái nhìn sâu vào bản chất sự vật, có tính cách siêu hình, vô thể Cũng chính vì thế, ngược lại với ẩn dụ, hoán dụ thường trực tiếp liên hệ đến “hiện thực’ Hoán dụ thường gắn liền với kinh nghiệm hơn ẩn dụ vì thường có những liên hệ trực tiếp Hoán dụ không đòi hỏi “bước nhảy tưởng tượng” từ lãnh vực này sang lãnh vực khác Sự khác biệt này khiến hoán
dụ có vẻ “tự nhiên” hơn ẩn dụ Văn chương hiện thực gắn liền với nguyên tắc hoán
dụ vì loại văn chương này thường mô tả các hành động dựa trên nguyên nhân và hậu
Trang 37quả diễn ra liên tục trong không gian và thời gian Trong lúc đó, ẩn dụ gắn liền với chủ nghĩa lãng mạn và siêu thực
1.4 Khái quát chung về thơ Chế Lan Viên
1.4.1 Những nét chung về cuộc đời và sự nghiệp nhà thơ Chế Lan Viên
Chế Lan Viên tên thật là Phan Ngọc Hoan, sinh ngày 23/10/1920 trong một gia đình viên chức nghèo ở Cam Lộ, Quảng Trị
Chế Lan Viên làm thơ từ lúc 12, 13 tuổi, thời kì đó ông đang sống và đi học ở
An Nhơn Ông có thơ, truyện đăng trên các báo Tiếng trẻ, Khuyến học, Phong hóa từ
những năm 1935 – 1936 Khi tập thơ Điêu tàn ra đời năm 1937, ông mới 17 tuổi và
đang là học sinh năm thứ ba của trường trung học Quy Nhơn Điều này đã khiến dư luận đặc biệt quan tâm, chú ý đến nhà thơ trẻ tài năng này
Sau năm 1945, ông về sống ở Hà Nội Tập thơ Ánh sáng và phù sa (1960) là
một thành công đặc sắc, đánh dấu bước phát triển mới của thơ Chế Lan Viên Bước vào cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, thơ Chế Lan Viên đã đạt nhiều thành tựu
mới với các tập thơ Hoa ngày thường, Chim báo bão (năm 1967), Những bài thơ
đánh giặc (1972), Đối thoại mới (1973) mang đậm chất chính luận, sử thi bên cạnh
chất trữ tình đằm thắm của cuộc sống đời thường Sau ngày đất nước giải phóng, Chế
Lan Viên vào sống tại thành phố Hồ Chí Minh và tiếp tục cho ra đời các tập thơ Hái
theo mùa (1977), Hoa trên đá (1984), Ta gửi cho mình (1986)
Hoạt động nghệ thuật của Chế Lan Viên rất phong phú và đa dạng, ông không chỉ sáng tác thơ mà còn viết văn, viết tiểu luận – phê bình Chính sự lao động trong niềm say mê và không mệt mỏi, Chế Lan Viên để lại cho đời một sự nghiệp thơ văn phong phú về số lượng lẫn chất lượng
Về thơ, Chế Lan Viên có 14 tập thơ: Điêu tàn (1937), Gửi các anh (1955),
Ánh sáng và phù sa (1960), Hoa ngày thường, chim báo bão (1967), Những bài thơ đánh giặc (1972), Đối thoại mới (1973), Ngày vĩ đại (1976), Hoa trước lăng Người
(1976), Hái theo mùa (1977), Hoa trên đá (1984), Ta gửi cho mình (1986), Di cảo
Trang 38thơ Chế Lan Viên tập I (1992), Di cảo thơ Chế Lan Viên tập II (1993), Di cảo thơ Chế Lan Viên tập III (1996)
Về văn xuôi có: Vàng sao (1942), Bay theo đường dân tộc đang bay (1976),
Nàng tiên trên mặt đất ( 1985)
Về bút kí gồm: Thăm Trung Quốc (1963), Những ngày nổi giận (1966), Giờ
cửa sổ thành (1977)
Tiểu luận – phê bình: Kinh nghiệm tổ chức sáng tác (1952), Nói chuyện thơ
văn (Chàng Văn) (1960), Vào nghề (Chàng Văn) (1962), Phê bình văn học (1962), Suy nghĩ và phê bình (1971), Nghĩ cạnh dòng thơ (1981), Từ gác Khuê Văn đến quán Trung Tân (1981), Ngoại vi thơ (1987)
Sách tuyển: Tuyển tập Chế Lan Viên – tập I (1985), Tuyển tập Chế Lan Viên
– tập II (1990), Tuyển tập thơ chọn lọc (1988), Nàng và tôi (1992), Thơ Chế Lan Viên
(1993)
Chế Lan Viên có tập thơ Thơ Chế Lan Viên được dịch sang tiếng Đức (Gedichte – Gunter Giesenfeld dịch) ( 1994)
Từ tập thơ Điêu tàn đến những vần thơ Di cảo đã khẳng định Chế Lan Viên là
một nghệ sĩ lớn Một nghệ sĩ gắn mình với những biến chuyển của thời đại, với số phận dân tộc Một thi sĩ dâng hiến hết mình cho thơ ca với sự đam mê sáng tạo thường trực và bất tận Trong nền thơ văn Việt Nam hiện đại, với vô số những tên tuổi lớn thì Chế Lan Viên vẫn có một vị trí riêng Ông thuộc trong số không nhiều những nhà thơ mà sự sáng tạo của họ không chỉ làm giàu cho hiện tại mà còn tạo lực đẩy cho quá trình vận động văn học
1.4.2 Những nét chính về phong cách nghệ thuật của nhà thơ Chế Lan Viên
Mỗi nhà văn, nhà thơ đều có một phong cách sáng tạo khác nhau Chế Lan Viên cũng vậy, thơ ông mang dấu ấn của một phong cách mạnh mẽ, quyết liệt và đậm tính suy tư Thơ Chế Lan Viên vận động, biến đổi qua nhiều giai đoạn nhưng vẫn định hình những nét riêng, thể hiện cá tính sáng tạo và tư duy Chất trí tuệ, vẻ đẹp triết lý trong thơ Chế Lan Viên là nét đặc sắc nhất mà ông đã góp vào nền thơ hiện
đại Nhiều nhà nghiên cứu đã gặp nhau ở nhận xét này: “Đọc thơ Chế Lan Viên chúng
Trang 39ta thường được gặp những câu thơ có tính chất châm ngôn, tính chất triết lý”
(Nguyên Lộc, Chế Lan Viên và những tìm tòi nghệ thuật trong thơ, Tác phẩm mới số
9,1970) Trong thơ thời sự của mình, ông kết hợp được óc khái quát và phân tích Thơ ông vượt qua cái cụ thể - cảm tính để mở ra cái chiều sâu, đạt đến những tầm
cao mới Ông quan niệm “thơ không chỉ đưa ru mà còn thức tỉnh”, và cho đến sau này, khi đã cao tuổi, ao ước của ông vẫn là “những chiếc lá thơm hái lúc về già,
những chiếc lá có hương tư tưởng”
Chế Lan Viên luôn nhìn nhận sự vật từ nhiều mối liên hệ qua lại lẫn nhau, trong quá trình vận động, biến đổi không ngừng, để từ đó nắm bắt và khái quát được bản chất của nó Đặc biệt, ông có ý thức tìm kiếm, khám phá và làm nổi bật sự tương quan đối lập, cũng như những mối liên hệ giữa các mặt đối lập của hiện thực Nguyễn
Văn Hạnh khẳng định: “Hình thức cơ bản phổ biến trong tư duy nghệ thuật của Chế
Lan Viên là sự đối lập” Nguyễn Xuân Nam quan niệm: “Nét nổi bật về tư duy nghệ thuật của Chế Lan Viên là sự đối lập” Còn Nguyễn Văn Long cho rằng: “Tư duy thơ của Chế Lan Viên thường xem xét sự vật trong những mối quan hệ đối lập”
Có thể nói, sự đối lập của sự vật và hiện tượng được Chế Lan Viên cảm nhận
từ cái nhìn biện chứng Chính tình yêu, sự gắn bó với cuộc sống, sự am hiểu sâu rộng nhiều phương diện của đời sống tự nhiên và xã hội, cũng như sự tài hoa và sắc sảo đã giúp Chế Lan Viên có được cách nhìn, cách nghĩ, cách tìm tòi, khai thác những vấn
đề của cuộc sống trong sự đối lập, đa chiều của nó
Thơ Chế Lan Viên chú trọng khai thác, suy ngẫm về các quan hệ đối lập giữa: quá khứ - hiện tại, hiện tại – tương lai, quá khứ - tương lai, riêng – chung, nhỏ bé –
vĩ đại, bi – hùng, động – tĩnh, thấp hèn – cao cả, yêu thương - căm thù, niềm vui – nỗi đau, hạnh phúc – bất hạnh, ngọt ngào – cay đắng, sống - chết, còn – mất, ngày – đêm, ánh sáng – bóng tối, trần gian – địa ngục, thần – qủy, ta – địch, dân tộc – nhân loại … Từ những mối quan hệ đối lập đó, nhà thơ đã giúp cho người đọc nhận thức
rõ hơn về cuộc sống “ở bề chưa thấy, ở cái bề sâu, ở cái bề sau, ở cái bề xa” Chế
Lan Viên đem lại cho thơ một cách nói mới, cách thể hiện mới Những ý tưởng và
Trang 40tình cảm trong hình thức đó trở nên gợi cảm hơn và tạo được dấu ấn lâu bền hơn trong tâm hồn bạn đọc
Thơ Chế Lan Viên tác động mãnh liệt nhất đối với người đọc là hình ảnh vừa thực vừa ảo, hình ảnh tượng trưng, hình ảnh so sánh, hình ảnh ẩn dụ, hình ảnh liên kết thành một hệ thống
Sự nhận thức về cuộc đời càng sâu sắc thì hình ảnh thơ Chế Lan Viên càng đặc sắc và có thêm sự mới mẻ Vẻ đẹp của thế giới hình ảnh thơ đã góp phần giúp cho người đọc cảm nhận trọn vẹn hơn hương sắc của đời Nhiều phương diện đời sống được thể hiện qua hình ảnh thơ đã trở nên sinh động hơn Hình ảnh thơ của Chế Lan Viên gói nhiều ý nghĩa, mở rộng trường liên tưởng, giàu tính khái quát và tượng trưng Những hình tượng thơ nối tiếp, hòa trộn, đối chọi, chuyển hóa đầy phong phú, biến ảo tạo ra cảm giác của một hội hoa đăng, “một bữa tiệc pháo hoa thơ” theo cách nói của nhà thơ Xuân Diệu Cứ thế, hiện thực vào thơ Chế Lan Viên như được lọc qua tấm kính ngũ sắc, mới lạ hơn và có một vẻ quyến rũ riêng
Chế Lan Viên khi viết về mọi vấn đề dù chính trị hay văn chương, ông luôn thể hiện một bề dày kiến thức và một nhãn quan văn hóa sâu rộng Đọc thơ ông cũng như văn ông, người ta thấy ông huy động nhiều khái niệm, nhiều hiểu biết từ triết học đến tôn giáo, từ lịch sử đến hiện đại, từ phương Đông đến phương Tây Đọc đi liền với nghĩ, học hỏi đi liền với vận dụng và phát triển là một thao tác tư duy quen thuộc của Chế Lan Viên trong sự đào sâu kho tàng văn học dân tộc Kiến thức văn học sâu rộng là tiềm lực sáng tạo của ông Văn hóa truyền thống của cha ông ta được tìm hiểu nghiên cứu với thái độ trân trọng
Mỗi tác phẩm của ông đều được giới phê bình đánh giá cao Sau khi ông mất
sự nghiệp văn chương của ông vẫn tiếp tục đươc bình luận, đánh giá Thư mục các bài báo viết về ông có thể dài hàng chục trang giấy, và chắc chắn sẽ còn nối dài cùng thời gian Kỷ niệm mười năm ngày mất của Chế Lan Viên, ngày 01 tháng 6 năm 1999, tại thành phố Hồ Chí Minh, Trung tâm nghiên cứu Quốc học hội hợp cùng Hội nhà văn đã tổ chức Hội thảo khoa học “Chế Lan Viên” Đây là một dịp hội tụ phong phú nhiều cách nhìn nhận, phân tích đánh giá về Chế Lan Viên