Về vấn đề nhận thức về truyền thống và lịch sử dân tộc, với bài viết Nhận thức về quá khứ trong Di cảo thơ của Chế Lan Viên, [43], tác giả Nguyễn Diệu Linh đã nói về những suy ngẫm của
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
HỒ XUÂN PHONG
CẢM HỨNG ĐỜI TƯ - THẾ SỰ TRONG THƠ CHẾ LAN VIÊN SAU 1975
Chuyên ngành: VĂN HỌC VIỆT NAM
Mã số: 60.22.34
TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Đà Nẵng - Năm 2012
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được công bố trong bất kì công trình nào khác
Tác giả luận văn
HỒ XUÂN PHONG
Trang 3MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
MỤC LỤC ii
MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 7
4 Phương pháp nghiên cứu 8
5 Bố cục luận văn 9
Chương 1: THƠ CHẾ LAN VIÊN TRONG HÀNH TRÌNH THƠ VIỆT SAU 1975 10
1.1 Hành trình sáng tạo nghệ thuật của Chế Lan Viên sau 1975 10
1.1.1 Sơ lược các giai đoạn sáng tác trước 1975 của Chế Lan Viên 10
1.1.2 Hành trình thơ Chế Lan Viên từ sau 1975 14
1.2 Dấu ấn Chế Lan Viên trong khuynh hướng đời tư – thế sự của thơ Việt Nam sau 1975 18
1.2.1 Khuynh hướng đời tư - thế sự trong thơ Việt Nam sau 1975 18
1.2.2 Dấu ấn Chế Lan Viên trong thơ Việt Nam sau 1975 27
Chương 2: NHỮNG BIỂU HIỆN CỦA CẢM HỨNG ĐỜI TƯ - THẾ SỰ TRONG THƠ CHẾ LAN VIÊN SAU 1975 31
2.1 Cảm hứng về tình yêu và thiên nhiên 31
2.1.1 Cảm hứng về tình yêu đôi lứa 31
2.1.2 Cảm hứng về gia đình và bằng hữu 36
2.1.3 Cảm hứng về thiên nhiên 42
2 2 Suy ngẫm về lịch sử dân tộc, trăn trở với những vấn đề nảy sinh trong xã hội 48 2.2.1 Suy ngẫm về lịch sử dân tộc 48
2.2.2 Trăn trở với những vấn đề nảy sinh trong xã hội 53
2.3 Chiêm nghiệm về đời người 59
Trang 42.3.1 Chiêm nghiệm về cuộc sống 60
2.3.2 Chiêm nghiệm về cái chết 64
2.4 Suy ngẫm về thơ và đời thơ 71
2.4.1 Suy nghĩ về thơ 71
2.4.2 Tâm sự về đời thơ 76
Chương 3: PHƯƠNG THỨC THỂ HIỆN CẢM HỨNG ĐỜI TƯ - THẾ SỰ TRONG THƠ CHẾ LAN VIÊN SAU 1975 82
3.1 Ngôn ngữ thơ, nhìn từ một số thủ pháp nghệ thuật 82
3.1.1 So sánh 82
3.1.2 Đối lập 86
3.1.3 Trùng điệp 90
3.2 Những giọng điệu nổi bật 94
3.2.1 Giọng trữ tình, tâm tình 95
3.2.2 Giọng chiêm nghiệm, triết lí 98
3.2.3 Giọng giục giã, vội vàng 102
3.3 Các thể thơ sở trường 105
3.3.1 Thể tự do 105
3.3.2 Thể tứ tuyệt 110
KẾT LUẬN 116
TÀI LIỆU THAM KHẢO 118
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Nếu chọn một nhà thơ mà cuộc đời và sự nghiệp văn chương tiêu biểu cho thế kỉ XX, song hành cùng thế kỉ XX qua các giai đoạn thơ ca dân tộc thì Chế Lan Viên là ứng cử viên sáng giá hơn cả Nói như Nguyễn Văn Hạnh thì “Cả đời thơ của Chế Lan Viên gần như trùm lên cả thế kỉ XX trong chiều dài và bề sâu của nó Anh
là nhà thơ của thế kỉ, người có công đầu trong việc tạo dựng nên khuôn mặt và tầm
vóc thơ hiện đại”[1, tr.239]
Quả vậy, với tư cách là tác giả của một di sản văn học đồ sộ, sự nghiệp văn chương của Chế Lan Viên dường như cùng đồng hành với từng nhịp bước của lịch
sử văn học dân tộc qua các giai đoạn Trước cách mạng tháng Tám “quyển Điêu tàn
đã xuất hiện đột ngột giữa làng thơ Việt Nam như một niềm kinh dị” (Hoài Thanh)
đã đưa Chế Lan Viên trở thành một trong những đại diện tiêu biểu của phong trào Thơ mới (1932 – 1945) Văn học cách mạng 1945 – 1975 không thể không ghi nhận
những thành tựu to lớn của Chế Lan Viên Với các tập thơ Ánh sáng và phù sa, Hoa ngày thường, Chim báo bão, Đối thoại mới… Chế Lan Viên trở thành một trong số
những cây bút chủ lực của nền thơ ca cách mạng Sau 1975, một số tập thơ liên tiếp
ra đời Đặc biệt sau khi Di cảo thơ được công bố người đọc mới cảm nhận đầy đủ
được sự phong phú, phức tạp của một hồn thơ tiêu biểu cho khuynh hướng “hướng nội” sau 1975 cũng như sự âm thầm đổi mới thơ ca của một tài năng lớn
Năm 1975 đánh dấu một mốc quan trọng trong lịch sử dân tộc nói chung, của văn học nghệ thuật nói riêng Cuộc chiến tranh chống Mỹ kết thúc, đất nước ta hoàn toàn được giải phóng, hai miền Nam Bắc thống nhất, văn học nghệ thuật cũng
dần dần có những bước chuyển mình Nếu như khuynh hướng sử thi chiếm vị trí
độc tôn trong giai đoạn văn học cách mạng (1945 – 1975), thì khuynh hướng đời tư
- thế sự chiếm ưu thế trong văn học sau 1975 Nếu như trước đó văn học cách mạng chủ yếu quan tâm đến vận mệnh dân tộc, số phận cộng đồng thì bấy giờ các tác giả quan tâm nhiều hơn đến đời sống cá nhân, những vấn đề thế sự… Ở Chế Lan Viên cũng vậy, “cùng với sự trở lại với đề tài là khuynh hướng tư duy hướng nội gần như
Trang 6trái ngược với tư duy hướng ngoại thịnh hành kéo dài của cả một khuynh hướng thơ, trong đó Chế Lan Viên khá tiêu biểu Ở thời kì sau này, ta thấy một Chế Lan Viên không hoàn toàn giống trước Vẫn tư thế công dân, chiến sĩ nhưng nổi bật thêm tư cách nhà thơ, người tình Nhất là ở những năm cuối đời, hiện lên rõ nét một triết nhân đầy suy tư, chiêm nghiệm”[1, tr.107] Đúng như Đoàn Trọng Huy nhận xét, người ta dễ dàng nhận thấy cảm hứng đời tư - thế sự là cảm hứng nổi bật, chiếm
ưu thế tuyệt đối trong thơ Chế Lan Viên giai đoạn sau này Thơ ông vào giai đoạn mười lăm năm cuối đời là những trăn trở, suy tư về cuộc đời, thân phận, về xã hội,
về những quan hệ tình cảm cá nhân, và về nghệ thuật Tất cả làm nên một Chế Lan Viên đa dạng, phong phú và vô cùng hấp dẫn
Đến nay đã có nhiều công trình nghiên cứu về thơ Chế Lan Viên, tuy nhiên vẫn chưa có công trình chuyên sâu nghiên cứu về cảm hứng đời tư - thế sự trong
thơ ông sau 1975 Tiến hành nghiên cứu đề tài Cảm hứng đời tư - thế sự trong thơ Chế Lan Viên sau 1975, chúng tôi muốn tìm hiểu kỹ hơn về chiều sâu tư tưởng
cũng như tài năng nghệ thuật của một nhà thơ lớn trong lịch sử thơ Việt Nam hiện đại
2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu
Chế Lan Viên là nhà thơ lớn của nền văn học hiện đại nước ta Thơ ông luôn
là đối tượng mà các nhà nghiên cứu quan tâm tìm hiểu Đến nay đã có rất nhiều công trình nghiên cứu lớn nhỏ về thơ Chế Lan Viên (bao gồm các bài viết, các công trình chuyên khảo, tiểu luận, các luận văn, luận án) Chúng tôi chỉ giới thiệu và đánh giá những công trình tiêu biểu ít nhiều có liên quan đến vấn đề nghiên cứu của
đề tài
2.1 Các công trình nghiên cứu chung về cuộc đời, sự nghiệp thơ ca Chế Lan Viên
Cuốn Giáo trình văn học Việt Nam hiện đại – tập 2 (Nguyễn Văn Long chủ
biên) [24] đã dành một chương để nói về Chế Lan Viên Đây có thể xem là phần viết tổng quát nhất về Chế Lan Viên: bao gồm tiểu sử, con người, con đường thơ, phong cách nghệ thuật thơ, vị trí Chế Lan Viên trong nền thơ hiện đại “Chế Lan
Trang 7Viên là một trong những tên tuổi hàng đầu của nền thơ Việt Nam thế kỉ XX… là nhà thơ có quan niệm thơ và phong cách nghệ thuật độc đáo, có ảnh hưởng đáng kể đến nền thơ hiện đại” [24, tr.76]
Với cuốn Chế Lan Viên – nhà thơ song hành cùng thời đại [38] tác giả Lưu Khánh Thơ đã khát quát chặng đường thơ Chế Lan Viên từ Điêu tàn cho đến Di cảo thơ
Vũ Quần Phương trong bài viết “Chế Lan Viên: một tài năng thơ lực lưỡng” [44] cũng đã khái quát thơ Chế Lan Viên qua các giai đoạn Với cách viết tổng quát đồng thời phân tích, bình luận một số bài thơ tiêu biểu qua các tập thơ, tác giả giúp người đọc hình dung một cách tốt nhất về diện mạo thơ Chế Lan Viên Tác giả khẳng định “Chế Lan Viên là một tài năng thơ lực lưỡng nhất trong các nhà thơ hiện đại”
Chuyên luận Thế giới nghệ thuật thơ Chế Lan Viên [10] của Hồ Thế Hà đã đi
sâu vào nhiều bình diện trong thế giới nghệ thuật thơ Chế Lan Viên: về quan niệm nghệ thuật thơ, tính triết lí, không - thời gian nghệ thuật và các phương thức biểu hiện
Ngoài những công trình nêu trên còn có khá nhiều bài viết về Chế Lan Viên lâu nay
Từ lần đầu xuất hiện trên văn đàn với Điêu tàn, Chế Lan Viên đã nhận được
sự quan tâm của bạn đọc cũng giới nghiên cứu Hoài Thanh trong bài viết Chế Lan Viên đã nhìn thấy được tương lai của một tài năng lớn: con người này không thể lấy kích tất thường hòng đo lường được [36, tr.29] Đến nay đã có rất nhiều bài nghiên
cứu về tập thơ đầu tay của Chế Lan Viên, chúng tôi xin đơn cử một số bài viết tiêu
biểu: Chế Lan Viên, một thi sĩ điên của Phong Trần [1, tr.53]; Cảm tưởng của tôi khi đọc Chế Lan Viên của Lê Thiều Quang [1, tr.253]; Thử phác họa một bản đồ địa ngục theo Chế Lan Viên của Đỗ Long Vân [3, tr.497]; Điêu tàn – thoát khỏi cõi ta
để tìm về với cái ta của Hoàng Diệp [1, tr.260]; Điêu tàn – niềm bi hận của Chế Lan Viên của Hồ Thế Hà [3, tr.483]; Điêu tàn và tâm hồn thơ Chế Lan Viên của Hà
Minh Đức [1, tr.281]
Trang 8Thơ cách mạng của Chế Lan Viên cũng được nghiên cứu nhiều Nhìn chung các tác giả đều khẳng định những giá trị của thơ Chế Lan Viên ở nội dung yêu nước, căm thù giặc, chất suy tưởng triết lí, một phong cách thơ độc đáo… Chúng tôi
chỉ xin kể một số công trình tiêu biểu: Thơ đánh Mỹ của Chế Lan Viên của Vũ Tuấn Anh [1, tr 80]; Thơ Chế Lan Viên – chất anh hùng ca và trí tuệ của Mai Quốc Liên [1, tr 235]; Đọc Ánh sáng và phù sa của Xuân Diệu [1, tr 303]; Một phong cách thơ – Ánh sáng và phù sa của Lê Đình Kị [1.tr 313]; Ánh sáng và phù sa – sự kết hợp những rung cảm tế nhị với ý tưởng trong thơ của Hà Minh Đức [1.tr.321]…Đối thoại mới với Chế Lan Viên của Hoàng Lan [1, tr 345]; Những bài thơ đánh giặc của Chế Lan Viên của Nguyễn Xuân Nam [1, tr 358]…
2.2 Một số công trình nghiên cứu liên quan trực tiếp về cảm hứng đời tư – thế
sự trong thơ Chế Lan Viên sau 1975
Thơ Chế Lan Viên sau 1975 càng ngày càng vận động theo khuynh hướng đời tư – thế sự, đó là điều dễ nhận thấy Bằng những góc độ tiếp cận khác nhau, các nhà nghiên cứu đều khẳng định điều này
Trong bài “Nói về mình, nói về thơ mình” in trên báo Văn nghệ số 3 - 4, 23 -
1 - 1993, Chế Lan Viên cũng khẳng định thơ mình “sau 1975, chú ý đến khía cạnh
hằng ngày, trước 1975, khía cạnh anh hùng” [1, tr.109]
Cuốn Giáo trình văn học Việt Nam hiện đại – tập 2 cũng chỉ rõ khuynh
hướng thơ Chế Lan Viên sau 1975: “Từ khuynh hướng sử thi với chất chính luận và
âm hưởng anh hùng ca trong thời kì kháng chiến chống Mĩ, thơ Chế Lan Viên chuyển sang cảm hứng thế sự - đời tư với sự suy ngẫm triết lí, nhiều khi là sự nhận thức lại, tự phản tỉnh, từ hướng ngoại chuyển sang hướng nội, từ giọng cao chuyển sang giọng trầm”[24, tr.90]
- Các công trình nghiên cứu liên quan cụ thể đến những biểu hiện cảm hứng đời tư - thế sự trong thơ Chế Lan Viên sau 1975
Về thơ tình yêu của Chế Lan Viên sau 1975, tác giả Đoàn Trọng Huy trong
bài viết Khuynh hướng vận động thơ Chế Lan Viên sau 1975 đã có những đánh giá
xác đáng: “Thơ tình những năm sau này của Chế Lan Viên có nét đằm như của
Trang 9Xuân Diệu nhưng giàu suy tư hơn… Nhà thơ bình luận về chính trị, về thế sự cũng thích lí sự, biện luận trong cả tình yêu Tuy nhiên trí tuệ mà tài hoa, suy tư tế nhị, sắc sảo với tình cảm đằm thắm, sâu xa, xôn xao, rạo rực pha lẫn thâm trầm, lắng đọng” [1, tr.110] Có thể xem đây như một nhận xét chung nhất về thơ tình Chế Lan Viên sau 1975
Về những mối quan hệ tình cảm khác, Nguyễn Bá Thành trong bài viết Đọc hai tập Di cảo thơ cho rằng “cùng với một số bài viết về kinh nghiệm làm thơ hoặc
những bài viết về vợ con, bạn bè…phảng phất trong những câu thơ đó đây là lòng yêu đời, yêu người…” [1, tr.410]
Về vấn đề nhận thức về truyền thống và lịch sử dân tộc, với bài viết Nhận thức về quá khứ trong Di cảo thơ của Chế Lan Viên, [43], tác giả Nguyễn Diệu
Linh đã nói về những suy ngẫm của Chế Lan Viên về vấn đề truyền thống, về lịch
sử cách mạng, về sự mất mát của chiến tranh… Bài viết nhận ra Chế Lan Viên là người luôn trăn trở về dân tộc và đất nước, đó là những biểu hiện của rất đáng trân trọng của một hồn thơ lớn
Qua bài viết Những vần thơ triết lí của Chế Lan Viên qua Di cảo, Trần
Thanh Đạm cho rằng Chế Lan Viên vẫn nhìn đời bằng “đôi mắt lạc quan”, “giúp cho con người suy ngẫm và thấu hiểu cái chân lí và đạo lí muôn đời nay: con người được sống làm người là điều vô vùng quý giá dù cuối cùng không ai tránh khỏi cái chết”[1, tr.390]
Vào giai đoạn cuối đời, Chế Lan Viên thường chiêm nghiệm về cuộc đời, về
thân phận, về thời gian và cái chết Vũ Quần Phương trong bài viết Chế Lan Viên trong Di cảo cảm nhận “chặng cuối đời, Chế Lan Viên quay về bản thể, nghiền
ngẫm, chiêm nghiệm lại chính mình” [1, tr.635], “trước anh nghĩ nhiều về thời gian, bây giờ anh nghĩ thẳng đến cái chết và anh chạy đua” [1, tr.636]
Về những chiêm nghiệm nghệ thuật, Nguyễn Quốc Khánh trong bài viết Di cảo thơ Chế Lan Viên – hành trình tìm lại chính mình đã tỏ ra trân trọng với những
trăn trở của Chế Lan Viên về nghệ thuật, “thật ít có nhà thơ nào mà sự nghiệp thơ
đã trở nên nổi tiếng đến cuối đời lại hay tự vấn đến như thế [1, tr.426] Bài viết
Trang 10cũng chỉ rõ quan điểm của Chế Lan Viên về chỗ đứng nhà thơ trước cuộc đời, “phải đứng trong cuộc đời sóng gió để nhìn lên, chứ không phải đứng ngoài, đứng trên nhưng đau khổ của đồng loại mà nhỏ những giọt nước mắt thương hại xuống số phận con người”[1, tr.431]
Bài viết Chế Lan Viên và quan niệm thơ của Nguyễn Quốc Khánh khái quát quan niệm thơ Chế Lan Viên qua các giai đoạn, từ Điêu tàn cho đến Di cảo thơ Tác
giả nhận ta thơ Chế Lan Viên giai đoạn sau chót có nhiều thay đổi, “nếu ở giai đoạn thơ chống Mĩ, Chế Lan Viên tự hào sung sướng biết bao khi nhà thơ có sứ mệnh vinh quang của một nhà thơ – chiến sĩ… thì nay trở lại đời thường vị trí nhà thơ trở nên thật khiêm tốn”[42]…
- Các công trình liên quan đến phương thức thể hiện cảm hứng đời tư – thế
sự trong thơ Chế Lan Viên sau 1975
Sự chuyển đổi về cảm hứng thơ sau 1975 của Chế Lan Viên so với giai đoạn trước dẫn đến những thay đổi về một số phương thức thể hiện như ngôn ngữ, các thủ pháp nghệ thuật, giọng điệu…
Vũ Quần Phương trong bài viết Chế Lan Viên trong Di cảo thơ đã chỉ ra đặc điểm ngôn ngữ thơ Chế Lan Viên trong Di cảo thơ, đó là “Cách nói như đang
chuyện trò, đang lập luận, bình dị, bình dân Hình ảnh, ngôn ngữ như mang bụi bặm phố phường, tươi rói màu sắc thật của đời, phập phồng hơi thở cuộc sống” [1, tr.637]
Trong công trình nghiên cứu Thế giới nghệ thuật thơ Chế Lan Viên [10], tác
giả Hồ Thế Hà đã đề cập đến những biện pháp nghệ thuật đặc sắc của thơ Chế Lan Viên như đối lập, so sánh Với những phân tích rõ ràng, tỉ mĩ những thủ pháp nghệ thuật này tác giả khẳng định “Tất cả làm thành phong cách triết lí Chế Lan Viên” [10, tr.177]
Cũng trong công trình trên, tác giả Hồ Thế Hà đã nghiên cứu về các thể thơ của Chế Lan Viên Ông phân tích kĩ hai thể thơ cơ bản, đó là thể tứ tuyệt và thể tự
do Ở thể tứ tuyệt của Chế Lan Viên, tác giả khẳng định một số đặc điểm cơ bản: tính đa dạng về hình thức, tính hàm súc, bất ngờ, tính biểu trưng và hiện đại Về thể
Trang 11thơ tự do, tác giả nhấn mạnh sự sáng tạo độc đáo của Chế Lan Viên ở các mặt: sự
mở rộng dung lượng phản ánh và tự do hóa hình thức, sự cân bằng giữa trữ tình và chính luận, chất hiện đại và cách tạo nghĩa [10]
Bài viết Chế Lan Viên và quan niệm thơ của Nguyễn Quốc Khánh đề cập đến
giọng thơ Chế Lan Viên giai đoạn cuối cùng của đời người Tác giả nhận thấy sự thay đổi về giọng điệu trong thơ Chế Lan Viên so với giai đoạn trước, “để tiếp tục sáng tạo trong tâm thế của đời thường, Chế Lan Viên đã chủ động thay đổi giọng điệu trang nghiêm xen vào giọng điệu cười cợt, giọng xót xa phẫn uất, xen lẫn giọng tự trào hóm hỉnh, giọng độc thoại đan vào giọng đối thoại, giọng trữ tình thấm đẫm cảm xúc bên cạnh giọng tự sự khách quan lạnh lùng”[42]
Trong bài viết Chế Lan Viên – một tâm hồn thi sĩ, một chân dung văn hóa,
tác giả Vũ Tuấn Anh nhận thấy rằng: “Giọng thơ triết lí của ông về hư vô, cái chết
có sự an nhiên, bình đạm của thơ Thiền nhưng lắng nghe kĩ vẫn nhận ra những xao xác nao lòng” [1, tr.30]
Tóm lại, đến nay đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về con người và sự nghiệp văn chương Chế Lan Viên Những bài nghiên cứu, nhận xét của giới nghiên cứu, phê bình là những đóng góp thiết thực, có giá trị chứng minh và khẳng định tài năng, tâm hồn của một nhà thơ lớn của dân tộc Mỗi người đều nghiên cứu một khía cạnh khác nhau, nhưng vấn đề “Cảm hứng đời tư – thế sự trong thơ Chế Lan Viên sau 1975” chưa được đề cập một cách đầy đủ và đúng mức cần thiết Trên cơ sở tiếp thu có chọn lọc những ý kiến đánh giá các tác giả, luận văn chúng tôi đi vào khai thác, phân tích một cách sâu hơn, toàn diện hơn vấn đề này Thiết nghĩ công việc như thế là cần thiết
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Là nội dung và các phương thức thể hiện cảm hứng đời tư – thế sự trong thơ Chế Lan Viên sau 1975
Trang 123.2 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi khảo sát của đề tài là những tập thơ của Chế Lan Viên sau 1975:
Ngày vĩ đại (1975), Hoa trước lăng Người (1976), Hái theo mùa (1977), Hoa trên
đá (1984), Ta gửi cho mình (1986), Di cảo thơ I ( 1992), Di cảo thơ II ( 1993), Di cảo thơ III ( 1996) Chúng tôi cũng tham khảo các tập thơ trước 1975, tất cả có trong Chế Lan Viên toàn tập – tập 1 để có cơ sở so sánh, đánh giá sự vận động
phong cách, bút pháp của nhà thơ
4 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng một số phương pháp nghiên cứu sau:
4.3 Phương pháp phân tích – tổng hợp
Nhằm phân tích tác phẩm và khái quát thành các luận điểm, luận cứ khoa học
4.4 Phương pháp so sánh - đối chiếu
- So sánh với các sáng tác Chế Lan Viên giai đoạn trước 1975, đặc biệt là giai đoạn 1945 – 1975, để thấy sự vận động trong tư tưởng, phong cách, bút pháp
- So sánh Chế Lan Viên với các tác giả đồng thời để thấy được nét đặc sắc của nhà thơ trong khuynh hướng đời tư – thế sự trong thơ Việt Nam sau 1975
Ngoài ra luận văn còn sử dụng lí thuyết thi pháp học để phân tích các bình diện thuộc phương thức thể hiện nội dung cảm hứng đời tư – thế sự thơ Chế Lan Viên sau 1975
Trang 14Chương 1 THƠ CHẾ LAN VIÊN TRONG HÀNH TRÌNH
THƠ VIỆT SAU 1975
1.1 Hành trình sáng tạo nghệ thuật của Chế Lan Viên sau 1975
1.1.1 Sơ lược các giai đoạn sáng tác trước 1975 của Chế Lan Viên
Phong trào Thơ mới (1932 – 1945) nổi lên với hàng loạt cái tên mà có lẽ đến mãi về sau người ta vẫn còn nhắc đến như Thế Lữ, Xuân Diệu, Huy Cận, Nguyễn Bính, Hàn Mặc Tử, Bích Khê, Vũ Hoàng Chương… Những cái tên này đã làm nên
“Một thời đại mới trong thi ca”, làm vinh danh và ảnh hưởng sâu sắc đến văn học, văn hóa nước nhà Tất nhiên cái tên Chế Lan Viên không bị chìm lấp trong đó Thậm chí nó được chú ý bởi sự nổi bật, được ví như “một cái tháp chàm chắc chắn,
lẻ loi và bí mật” giữa cánh đồng văn học nước ta lúc bấy giờ
Quê gốc ở Quảng Trị nhưng tuổi trẻ của Chế Lan Viên gắn liền với vùng đất Quy Nhơn, Bình Định – nơi còn lưu lại nhiều dấu tích “điêu tàn” của vương quốc Chămpa đã bị diệt vong Những ngọn tháp, đền đài, tượng Chàm cùng với những câu chuyện linh thiêng về một đất nước cổ xưa đã để lại những ấn tượng sâu đậm
trong lòng cậu thiếu niên, chúng gợi tứ cho chàng viết nên tập thơ bất hủ: Điêu tàn Tập thơ gồm 36 bài, xuất bản năm 1937, lúc Chế Lan Viên chỉ độ tuổi 16, 17
Bằng trí tưởng tượng siêu phàm, Chế Lan Viên đã dựng nên một thế giới kinh dị của cõi âm với những nấm mồ, yêu ma, sọ người, máu xương rùng rợn… Nhà thơ như đặt mình vào thế giới siêu hình ấy để chìm ngập và trải nghiệm những
nỗi đau của một dân tộc đã bị diệt vong: “Đem mau đây chiếc sọ người máu huyết/ Chiếc xương khô rợn trắng khí tinh anh/ Và rót mau cho hồn ta tê liệt/ Những nguồn mơ rồ dại hỡi yêu tinh (Điệu nhạc điên cuồng)
Khai thác những hình ảnh của đất nước Champa cũ, Chế Lan Viên bày tỏ niềm bi hận mang vẻ thần bí, siêu hình nhằm khóc than cho quá khứ của một dân tộc một thời hào hùng Sống trong thực tại mà Chế Lan Viên chỉ đau đáu có một điều:
Tạo hóa hỡi! Hãy trả tôi về Chiêm quốc
Trang 15Hãy đem tôi xa lánh cõi trần gian
(Những sợi tơ lòng)
Tìm về quá khứ nói cho cùng thì cũng chỉ là sự trốn tránh hiện thực xã hội đương thời Trước Cách mạng, thơ Chế Lan Viên là sự cảm nhận sâu sắc về sự vô nghĩa, “u tối”, “cái u buồn”, “cái sầu vô hạn” của cuộc đời Con người Chế Lan Viên là con người của sự cô đơn đến cùng cực, chán chường cùng cực Đến nỗi thi
sĩ phủ nhận tất cả hiện thực:
Tôi không muốn đất trời xoay chuyển nữa Với tháng ngày biền biệt đuổi nhau trôi (Những sợi tơ lòng)
Nhà thơ lại than thở, kêu van:
Với tôi tất cả đều vô nghĩa Tất cả không ngoài nghĩa khổ đau !
( Xuân ) Cắt nghĩa tư tưởng chiều sâu của Điêu tàn, đa số các nhà nghiên cứu đều
đồng nhất quan điểm rằng Chế Lan Viên nói đến nỗi đau của dân tộc Chàm cũng là
để bộc lộ nỗi đau của chính mình trước cảnh đời xã hội hiện tại, và hình ảnh của một nước Chàm đã mất chính là sự dự cảm về số phận của dân tộc Việt trong cảnh đau thương nô lệ Nói như nhà nghiên cứu Vũ Tuấn Anh thì việc Chế Lan Viên
“tìm về quá khứ của một dân tộc khác là một cách nói, mà cũng là một cách tránh
nói về hiện thực mất nước của dân tộc mình” Vậy, cái chán nản, đau thương kia
nếu suy xét kĩ thì đấy cũng chính là mặt trái của lòng yêu đời, yêu dân tộc trong
cảnh lầm than Điêu tàn dự báo một tâm hồn lớn, một tài năng lớn
Lịch sử dân tộc sang trang đánh dấu bằng sự kiện cách mạng tháng Tám thành công Cùng với những thay đổi lớn lao của dân tộc, đời và thơ Chế Lan Viên
đã có những bước đổi thay Đó là quá trình ra khỏi “thung lũng đau thương” đến
với “cánh đồng vui”, từ “chân trời của một người” đến “chân trời của mọi người”…Đứa con tinh thần đầu tiên Chế Lan Viên trong quá trình sống và gắn bó
Trang 16với cách mạng đó là tập Gửi các anh, gồm 14 bài Mặc dù không được đánh giá cao, nhưng dù sao cũng có thể xem Gửi các anh như là một đợt tập dượt cần thiết
cho tài năng của thơ ca cách mạng nảy nở
Ánh sáng và phù sa mới là cái mốc quan trọng trong thành tựu thơ ca cách mạng của Chế Lan Viên Nhan đề tập thơ Ánh sáng và phù sa được Chế Lan Viên
giải thích “Ánh sáng dọi soi tôi và phù sa bồi đắp tôi, ánh sáng tinh thần và phù sa vật chất của lí tưởng tôi” [24, tr.82] Chính thực tế cuộc sống mới sinh động đã soi sáng cho Chế Lan Viên, khiến hồn thơ ông thăng hoa, nảy nở Với lòng yêu đời,
yêu người tha thiết, Ánh sáng và phù sa là hành trình của nhà thơ vượt qua những
nỗi đau riêng hòa hợp với niềm vui chung của dân tộc Câu hỏi “Ta là ai” mang tính
triết học thời quá khứ được đổi thành “Ta vì ai” mang tính cách mạng sâu sắc: Ta là ai? Như ngọn gió siêu hình/ Câu hỏi hư vô thổi nghìn nến tắt/ Ta vì ai? Khẽ xoay chiều ngọn bấc/ Bàn tay người thắp lại triệu chồi xanh (Hai câu hỏi)
Tổ quốc, nhân dân, Đảng và Bác Hồ luôn là nguồn cảm hứng lớn lao, mạnh
mẽ trong tâm hồn Chế Lan Viên Nhiều bài thơ của ông trong thời kì này thể hiện
sự nhận thức sâu sắc về vẻ đẹp của Tổ quốc và dân tộc, về vai trò của Đảng và Bác
Hồ Kết nạp Đảng trên quê mẹ, Người đi tìm hình của nước … là những bài thơ xuất sắc trong Ánh sáng và phù sa
Hòa mình vào cuộc sống chung của toàn dân tộc, Chế Lan Viên đã vượt khỏi nỗi đau riêng đến với niềm vui chung bằng cả tấm lòng mến yêu chân thành, bằng
cả nghệ thuật tài hoa để dâng hiến cho đời nhiều vần thơ hay “Ánh sáng và phù sa
là tập thơ đạt đến độ chín về tư tưởng và nghệ thuật của thơ Chế Lan Viên” [24 tr,85] Đây là một trong những tập thơ xuất sắc của ông cũng là của thơ ca cách mạng (1945 – 1975)
Tiếp tục mạch thơ cách mạng, trong những năm kháng chiến chống Mĩ, Tổ quốc tươi đẹp và dân tộc anh hùng vẫn là cảm hứng chủ đạo của Chế Lan Viên Các
tập thơ Hoa ngày thường, chim báo bão, Những bài thơ đánh giặc, Đối thoại mới là
những đóng góp quý báu của Chế Lan Viên vào dòng thơ ca cách mạng
Trang 17Hình tượng Tổ quốc là hình tượng trung tâm của thơ Chế Lan Viên giai đoạn này Với Chế Lan Viên, chưa bao giờ Tổ quốc lại đẹp như những ngày đánh giặc Nhà thơ không ngần ngại khẳng định đó là “những ngày đẹp hơn tất cả”, “Ngày vĩ
đại”, ngày mà “Ta mọc dậy trước mắt nghìn nhân loại”, ngày mà thế giới phải biết
đến “Hai tiếng Việt Nam đồng nghĩa với anh hùng”… Nhiều khi Chế Lan Viên thể hiện lòng yêu Tổ quốc tha thiết với cả tấm lòng chân thành, không cầu kì hoa mĩ mà
có sức lay động tấm lòng ghê gớm: Ôi Tổ quốc, ta yêu như máu thịt/ Như mẹ cha ta, như vợ như chồng/ Ôi Tổ quốc nếu cần ta chết/ Cho mỗi ngôi nhà, ngọn núi, con sông (Sao chiến thắng)
Song song với niềm tự hào về Tổ quốc, điều người ta dễ nhận thấy trong thơ Chế Lan Viên ấy là lòng căm thù đối với đế quốc Mĩ Thơ ông giai đoạn này thể hiện rõ tính lí luận sắc bén, lập trường vững vàng Trên quan điểm cách mạng, ông phân tích chỉ rõ những kẻ thù của Việt Nam là đế quốc Mỹ với những tội ác chiến
tranh do họ gây ra: “Bom đạn chúng mày làm theo đường chim bay, theo những quả chín/ Phi cơ Mỹ mang cánh những thiên thần bay liệng/ Giặc Mỹ cầm dao bằng những dáng hòa bình” (Cái hầm chông giản dị)
Bên cạnh những vần thơ chiến đấu rực lửa, những “hầm chông giết giặc”, thơ Chế Lan Viên vẫn có những khát khao hạnh phúc bình dị, những “nhành hoa
mát mắt cho đời” Một số bài thơ như: Hoa ngày thường, Sông Cầu, Đi trong chùa Hương, Lau mùa thu, Kỉ niệm có gì, Mây của em … chứng tỏ Chế Lan Viên luôn có
lòng yêu đời, yêu cuộc sống tha thiết Những vần thơ viết về các loài hoa, về tình
yêu, về hạnh phúc gia đình như: Hoàng thảo hoa vàng, Rét đầu mùa nhớ người đi phía bể, Chia, Cảm ơn, Con đi sơ tán, Đặt tên con … khiến người đọc xúc động sâu
xa
Có thể xem thơ Chế Lan Viên trong những năm chiến tranh là tiêu biểu cho khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn – đặc điểm nổi bật của thơ ca nước ta giai đoạn này Ông mặc nhiên được xem là một trong số ít những cây bút tiêu biểu của nền thơ ca cách mạng Thơ Chế Lan Viên ảnh hưởng đậm nét, sâu sắc đến
Trang 18nhiều tầng lớp trong xã hội bấy giờ, nhất là ảnh hưởng về phong cách, bút pháp đối với thế hệ nhà thơ trẻ sau ông
Tóm lại, với nhiều tập thơ có giá trị cao (Ánh sáng và phù sa, Hoa ngày thường, chim báo bão, Những bài thơ đánh Mỹ, Đối thoại mới) Chế Lan Viên đã
hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ của một nhà thơ cách mạng Sau 1975 lại tiếp tục cống hiến cho đời và cho thơ - ông là cây bút suốt đời không ngừng nghỉ
1.1.2 Hành trình thơ Chế Lan Viên từ sau 1975
Cuộc đời Chế Lan Viên trải dài theo thế kỉ XX cùng với những biến động của lịch sử dân tộc Đại thắng mùa xuân 1975 khiến lịch sử nước ta một lần nữa sang trang Mạch thơ Chế Lan cũng có những đổi thay phù hợp với hoàn cảnh mới,
nhu cầu mới của thời đại Các tập Ngày vĩ đại, Hoa trước lăng người, Hái theo mùa, Hoa trên đá, Ta gửi cho mình lần lượt ra đời, đặc biệt khi nhà thơ lìa cõi thế thì các tập Di cảo thơ đồ sộ mới được công bố làm chấn động dư luận giới văn nghệ
Vài năm sau 1975, thơ Chế Lan Viên chưa thực sự có những thay đổi thay đáng kể Nhìn chung, thơ vẫn mang tính thời sự sâu sắc, âm hưởng sử thi vẫn in
đậm nét trong từng trang thơ của ông Ngày vĩ đại là thi phẩm được sáng tác đầu tiên sau thắng lợi mùa xuân 1975 Ngày vĩ đại dài 188 câu, được Chế Lan Viên viết
trong 3 ngày sau giải phóng, in trên báo Văn nghệ (số 19 ngày 10- 5- 1975) Vài
ngày sau (19- 5- 1975), nhà thơ viết tiếp 306 câu Thơ bổ sung, hoàn thành bản hợp xướng thơ với tựa đề Ngày vĩ đại và Thơ bổ sung mang âm hưởng anh hùng ca
chiến thắng Có thể xem tác phẩm này như bảng tổng kết cuộc chiến chống Mỹ thắng lợi:
Nay Tổ quốc đã rằm cơn hội ngộ Người đoàn viên mà dân tộc cũng đoàn viên Trên đàn xưa em hãy đặt những ngón tay hồng, những ngón tay thon
Mỗi giây ấy ca vang thời đại mới Ca: Tổ quốc nghìn thu bền vững mãi Tất cả bọn đế quốc đổ vào bờ này đều như bọt vỡ tan
Trang 19Cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác dưới sự lãnh đạo của chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại Là người yêu kính Hồ Chí Minh, Chế Lan Viên viết rất nhiều thơ về Người, những bài viết từ năm 1954 -1975, đặc biệt những bài
thơ sáng tác sau 1975 đều được in trong tập Hoa trước lăng Người (xuất bản 1976) Như đại diện cho nhiều người dân Việt Nam, Chế Lan Viên viết về Bác với sự suy ngẫm sâu sắc, hết lòng ghi nhận công lao của người thủy thủ vĩ đại, người đã đưa:
“Con tàu Việt Nam qua nghìn trận phong ba/ Về đến đích ngót nửa vòng thế kỷ” Cả tập Hoa trước lăng Người không gì khác ngoài những lời ngợi ca chủ tịch Hồ Chí
Minh vĩ đại với nhiều phương diện khác nhau
Bài thơ Bể và Người viết sau ngày đất nước thống nhất đã thể hiện được cốt
cách, tâm hồn của Bác Hồ – một nhà tư tưởng Con người ấy từng “lênh đênh theo
sóng bể” khắp đại dương châu lục Qua “Những đất tự do, những trời nô lệ ”để phát hiện “Những con đường cách mạng đang tìm đi” (Bể và Người)
Viết về Hồ Chí Minh, Chế Lan Viên đặc biệt ca ngợi sự cao cả mà giản dị vô ngần của vị lãnh tụ dân tộc:
Người dẹp đi các ngọn đèn dư, các ánh sáng thừa Những phản quang hồi quang làm đời lóa mắt Bác không thích các mùi hương lõa lồ gay gắt Người tắt đi các tiếng ồn và lí sự chua ngoa
(Đọc văn Người)
Tất cả những vần thơ viết về Bác Hồ được xuất bản sau ngày đất nước độc lập như những đóa hoa thơm ngát của lòng biết ơn và sự kính yêu mà Chế Lan Viên thay mặt nhân dân dành cho vị lãnh tụ vĩ đại
Hái theo mùa (xuất bản 1977) là tập hợp gồm một số bài thơ Chế Lan Viên
viết trước năm 1975, cộng với một số bài ông viết sau ngày đất nước thống nhất
Với Hái theo mùa thì chủ đề, cảm hứng thơ có phong phú hơn Hoa trước lăng Người Đó là sự tiếp tục đấu tranh với đế quốc Mỹ, là những kỉ niệm kháng chiến,
là tình cảm dành cho người thân, gia đình…
Trang 20Tiếp nối mạch Những bài thơ đánh giặc, Đối thoại mới… Hái theo mùa tiếp
vẫn chĩa mũi nhọn đấu tranh vào kẻ thù, tiếp tục tố cáo tội ác đế quốc Mỹ: “Ôi nước
Mỹ cờ nhiều sao có nữ thần cầm đuốc tự to/ Pho đang muốn thay vào đấy trẻ con làm đuốc cháy/ Ngọn lửa chiến tranh soi đế quốc xuống mồ/ Bởi Đông Hải,
Trường Sơn ta đã dạy…” (Pho, tên mẹ mìn của thế kỉ XX) Những vần thơ yêu nước chiếm tỉ lệ cao trong Hái theo mùa Cảm xúc về đất nước vẫn thấm đượm trong
từng trang thơ
Hồn đất nước truyền qua từng thế hệ
Ta nghe câu quan họ xẩm xoan xưa vứt ngã ba đường Điệu lục bát và màu nâu nơi ruộng rấy
Bức tranh làng Hồ mang bóng dáng quê hương…
(Đi giữa mùa xuân)
Đọc Hái theo mùa không thể không nhắc đến những tình cảm Chế Lan Viên
dành cho cuộc sống bình dị cũng như dành cho những người thân yêu Một số bài
viết về thiên nhiên, về bạn, về chị về mẹ rất hay như: Hoa súng hồng, Hoa súng tím, Canh cá tràu…
Nhìn chung Hái theo mùa không khác mấy với Đối thoại mới về nội dung tư tưởng cũng như về nghệ thuật Mặc dù xuất bản sau 1975 nhưng Hái theo mùa thật
ra là một quán tính của thơ ca cách mạng Có thể xem đây như một mảng bổ sung
cần thiết để hoàn thành bức tranh sự nghiệp thơ ca cách mạng của Chế Lan Viên
Phải đến Hoa trên đá thì khuynh hướng sử thi, chất chính luận và âm hưởng anh hùng ca mới dần chuyển sang cảm hứng đời tư – thế sự Đến Ta gửi cho mình
và nhất là các tập Di cảo thơ thì khuynh hướng này chiếm ưu thế tuyệt đối
Giai đoạn 15 năm cuối đời, Chế Lan Viên vẫn không ngừng sáng tạo, thậm chí đây có thể xem là giai đoạn sáng tạo rất sung mãn nhất của ông Lúc này chủ đề thơ Chế Lan Viên mới thực sự phong phú đa dạng Mạch thơ về cuộc sống chống
Mĩ vẫn tiếp tục vận động và phát triển nhưng với tầm nhận thức cao hơn, tầm nhìn
có chiều sâu hơn Viết về cuộc chiến tranh vừa qua, ta thấy ở Chế Lan Viên không còn giọng ngợi ca hào sảng một chiều như trong quá khứ, mà thay vào đó là những
Trang 21chiêm nghiệm về được mất, về những kỉ niệm kháng chiến, về những nỗi đau
thương của con người Việt Nam trong chiến tranh (Gia đình bổ đối, Nhật kí thăm con nơi sơ tán, Người yêu Việt Nam, Nhảy sạp vùng than…)
Nếu như ở Hoa trên đá và Ta gửi cho mình còn ít nhiều vương vấn bởi những vấn đề quá khứ cuộc chiến tranh thì đến Di cảo thơ cảm hứng chủ yếu của
thơ Chế Lan Viên là hướng vào các vấn đề triết lí nhân sinh và nghệ thuật
“Bao năm hát giọng cao giờ anh hát giọng trầm” - nhà thơ phải hát giọng trầm để nói hết được cái thân phận con người trong vũ trụ trước thời gian khôn cùng:
Số ngày còn lại cho anh trên đất đếm rồi Như thóc giống đếm từng hạt một…
(Nghề của chúng ta)
Câu hỏi “Ta là ai” của thuở Điên tàn đã giải quyết bởi câu hỏi “Ta vì ai” thời
cách mạng, thế nhưng cuối đời Chế Lan Viên lại tiếp tục câu hỏi cũ như nỗi băn khoăn day dứt mới:
Ta là ai? Về đâu? Hạt móc?
Là ta chăng? Dòng sông là ta chăng?Tiếng khóc?
Là ta chăng vì sao lạc phương trời
Là ta chăng ta chưa kịp trả lời Thì sông đã cuốn ta vào bóng tối (Hỏi – đáp)
Đặt câu hỏi của muôn đời và Chế Lan Viên trả lời theo cách của mình:
Là người việc gì phải tủi Việc gì phải đau! Hãy chấp nhận và cười
Mặc dù quan tâm nhiều đến thời gian và cái chết nhưng Chế Lan Viên luôn sống vượt lên mình, sống với sức mạnh của tấm lòng yêu đời, yêu người, sự lạc quan trước tử thần
Những năm cuối đời, Chế Lan Viên chiêm nghiệm về đời thơ mình Ông tự thành thật với bản thân trong cách phê phán cũng như thể hiện những khát vọng
Trang 22không bến bờ đối với nghệ thuật Ông ước trở về làm nhà thơ cưỡi trâu tránh những
“danh vọng ầm ào, vinh quanh xí xố” để sống thanh thản với nghệ thuật: “ Cho tôi
về với cành lau vàng vọ/ Về với con trâu nghé ngọ Đã lâu ta không nghe tiếng hồn
lau gọi nữa/ Xa tiếng gió xạc xào ” (Cờ lau Đinh Bộ Lĩnh)
Tóm lại, mặc dù về cuối đời Chế Lan Viên không tránh khỏi những cô đơn, buồn đau trước cái hư vô của cuộc đời và cảm giác bất lực trước nghệ thuật nhưng
nhìn chung ông đã “vượt lên trên những tâm trạng đó, vẫn là ý thức trách nhiệm của
một người trước cuộc đời, với thơ ca và vẫn không nguôi khát khao tìm kiếm, sáng tạo, và như thế những vần thơ cuối đời chứng tỏ một nghị lực phi thường và sự lao động sáng tạo đáng khâm phục của Chế Lan Viên [24, Tr.92] Những nhận xét trên của Nguyễn Văn Long đã khái quát chính xác về con người và thơ Chế Lan Viên sau 1975
1.2 Dấu ấn Chế Lan Viên trong khuynh hướng đời tư – thế sự thơ Việt Nam sau 1975
1.2.1 Khuynh hướng đời tư - thế sự trong thơ Việt Nam sau 1975
Sau năm 1975, đất nước được độc lập Văn học có những điều kiện mới để phát triển Thơ văn nói chung không nhất thiết phải gồng mình lên để gánh vác những nhiệm vụ lớn lao như giai đoạn trước Khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn dần dần nhường chỗ cho cảm hứng nhân bản và sự thức tỉnh cá nhân Khuynh hướng đời tư - thế sự trở thành khuynh hướng nổi bật của văn học sau
1975 Văn học trở nên gần đời sống thường nhật hơn Đó là những tiếng nói đầy ắp tâm trạng, nỗi trăn trở, sự day dứt về cuộc đời, về những hy sinh, mất mát trong chiến tranh, về nhu cầu, khát vọng của con người Văn học hé mở khát vọng bức thiết, đòi hỏi quan tâm đến mỗi số phận cá nhân Nhà thơ nhìn cuộc sống theo cách riêng - những trải nghiệm, những suy tư rất khác nhau Mỗi nhà thơ là một tiếng nói của một cá nhân theo đúng nghĩa của nó
1.2.1.1 Xót xa, khắc khoải trước thực tại bộn bề
Chiến tranh đã đi qua, sau niềm vui ngây ngất của chiến thắng, con người trở
về với đời thường, phải đối diện ngay với bao khó khăn, phức tạp bộn bề và cả
Trang 23những ngang trái, bất công ngày càng nặng nề Cái mặt trận mới không có tiếng súng nhưng không hề kém phần gay gắt, dữ dội Trước thực tại đó, hầu hết các nhà thơ đã dũng cảm đối diện, phơi bày những mặt trái của cuộc sống vốn trước đó bị che khuất nhưng cũng không thể tránh khỏi tâm trạng đau xót, khắc khoải, lo
âu…Việt Phương trong tập Cửa mở đã nói lên bao nỗi niềm tâm sự còn ngổn
ngang, nhà thơ dùng chữ “đau” để đa dạng những cung bậc của nó Có nỗi đau lớn
mang hình vũ trụ “nỗi đau trái đất” và lại có “nỗi đau trong mỗi cuộc đời” Có “nỗi đau mồ côi” và có cả những “nỗi đau sinh nở” Có “nỗi đau người” và nỗi đau chuyển
sang vạn vật vô tri Trong đó, theo ông không có nỗi đau nào sánh được với “nỗi đau
người”, nỗi đau ấy triền miên, tăng dần cấp độ Và hơn thế nữa, nỗi đau “không sao chuyển thành niềm vui được” (Nỗi đau trái đất), nhà thơ thấm thía niềm đau về sự hi
sinh của dân tộc :
Thời gian trườn đi quằn quại
Ta uống một dòng đau nhói Đau ngay trong cả nụ cười (Cây sấu quê hương)
Hướng vào đời sống thế sự, phần lớn các nhà thơ như mất đi cái cảm giác bình yên mà thay vào đó là những nỗi xót xa, âu lo gieo vào lòng họ một cách thường trực Đó là nỗi xót xa về người lính trở về sau mười năm chiến tranh, sống trong căn nhà mưa dột lỗ chỗ: “Chỗ nằm chỉ còn đủ độ dài hai chiếc cột, chiều rộng bằng khuôn chiếc tăng” Những lỗ thủng ấy là những viên đạn hôm nay người lính phải hứng chịu:
Những sợ nắng xuyên qua nhà mình
Thành những mũi tên Thành những viên đạn Bắn tiếp vào anh không gì che chắn
Phải nhận tất cả, Vẫn anh (Ngày hòa bình đầu tiên – Phùng Khắc Bắc)
Trang 24Các nhà thơ trong giai đoạn văn học sau 1975 luôn nhạy cảm trước biến cố của cuộc sống Họ không phải là những người rao giảng đạo đức hay minh họa cho một tư tưởng sẵn có mà phải thực sự vào cuộc, phải rung động, chia sẻ với những nỗi niềm của con người, góp phần đánh thức những khát khao, những niềm trắc ẩn của họ Trong âm hưởng hùng ca, say sưa với hào quang chiến thắng, thơ chống Mỹ thường tránh nói nỗi đau:
Đã có thời nỗi đau ta phải giấu
Ta đánh mất ta trong mỗi con người (Trương Nam Hương)
Hoặc nếu phải đối diện với hiện thực nghiệt ngã thì các nhà thơ vẫn cố gắng xoa dịu vết đau bằng sức mạnh tinh thần:
Một tháng vã hành quân Hai chân phồng rộp cả Quấn băng rồi vẫn đau Nhiều lúc đi bằng đầu (Mùa xuân đi đón - Hữu Thỉnh)
Nhìn chung, sau 1975 hầu hết các nhà thơ đã có ý thức nhìn đời bằng cái nhìn tỉnh táo hơn và lúc này thơ ca hiện lên như một hình thức tra vấn không ngừng
về đời sống, về con người Điều đó cho thấy ý thức tạo dựng nhãn quan nghệ thuật mới của nhiều nghệ sĩ Sự đổi mới ấy buộc thơ ca thoát khỏi chất trữ tình ngọt ngào thường thấy trong thơ trước đó để tìm đến sự đa dạng với những câu thơ trúc trắc mang tính đối thoại cao, giọng thơ gần với giọng điệu của cuộc sống đời thường
1.2.1.2 Thức tỉnh trước bi kịch thời hậu chiến
Ngày trước, khi “bốn mươi thế kỉ cùng ra trận” thì con người ai cũng “không
có quyền nghĩ lâu trong lúc đạn bom” và dù có mất mát, hi sinh cũng phải gác lại nỗi đau riêng Nhưng khi hòa bình, khi cái tôi cá nhân được giải phóng mạnh mẽ hơn, người ta không ngại gọi tên những gì một thời “lảng tránh” Cái đòi hỏi cấp thiết là đưa thơ trở về với những gì chân thực của cuộc sống, kể cả đó là những đau khổ, bi kịch Để bao quát hết hiện thực trước, trong và sau chiến tranh các đợt sóng
Trang 25trường ca đã xuất hiện Sự góp mặt của Thanh Thảo, Hữu Thỉnh, Nguyễn Đức Mậu, Trần Anh Thái…với các bản trường ca đã bóc trần những nỗi đau, những vết thương nhức nhối, những tấn bi kịch hãi hùng do chiến tranh gây ra mà văn học thời chiến đã lãng tránh hoặc không dám đề cập tới
Người lính trong trường ca Trầm tích của Hoàng Trần Cương sau hậu chiến,
nhận “hạnh phúc hôm nay” nhưng ngậm ngùi:
Con nhập vào với lửa Giật mình súng đã tràn tay Bàng hoàng biết tuổi thơ mình không về nữa
Chiến tranh trong những trang viết của Trần Anh Thái hiện lên bao trùm là nỗi đau, sự ám ảnh về cái chết: “Tôi nghe lạnh giữa hai bờ cuộc chiến/ Cái chết nối hàng cái chết tiễn đưa nhau” Để có “ngày về” bao nhiêu đồng đội đã phải nằm lại,
đã có bao cuộc đời, bao nhiêu mối tình, bao nụ cười dang dở
Bằng tấm lòng yêu thương trân trọng, cái nhìn thẳng thắn và sự đánh giá đa chiều về cuộc chiến tranh của dân tộc, không ít nhà thơ đã thấu hiểu những điều thầm kín nhất trong tâm tư người lính mà trước đây người ta ngại nói ra:
Hương vị trái Đào Tiên chỉ có trên Trời!
Tình yêu tình dục nghe kể rồi tưởng tượng Không sờ tay không nhìn tận mắt bạn tôi em tôi chết trận Riêng điều ấy mười mươi có thật Chôn vội lấp vàng những thi thể con trai Chưa từng cọ xát da thịt phụ nữ mỡ màu ấm nóng
(Chiến tranh chín khúc tưởng niệm - Nguyễn Thái Sơn)
Các bản trường ca sau chiến tranh không chỉ thể hiện một cách chân thực những những mất mát, đau thương, những vết thương chiến tranh vẫn còn rỉ máu,
mà còn lột tả thấm thía nỗi đau của người trở về:
Trang 26
Mồ côi mẹ thuở rừng sâu
Khói bom nghi ngút trắng màu khăn tang
Bước chân về tận đầu làng
Vợ mình đã hoá vợ chàng đâu đâu Hai chồng một vợ gặp nhau Riêng anh xin nhận nỗi đau ba người (Người về - Nguyễn Trọng Bính)
Bên cạnh những bản trường ca với tính trường sức thì những bài thơ tuy ngắn nhưng cũng góp phần khắc họa chân thực những bi kịch thời hậu chiến Nhà thơ dân tộc thiểu số Ma Trường Nguyên không ngần ngại khi nói đến sự hi sinh của
những người chiến sĩ: Đồng lúa chín mênh mông sóng lượn/ Ôm nghĩa trang bia trắng vào lòng/ Hoa súng đỏ điểm bồng bềnh đồng nước/ Hay máu người ngã xuống nở thành bông? (Hoa súng đỏ - Ma Trường Nguyên) Lộc Bích Kiệm lại tái
hiện nỗi đau của người thương binh ngày trở về Đó là một ngày trở về không hề
bình yên khi những đứa con – biểu trưng của hạnh phúc - ra đời: Anh trở về/ Với cuộc sống đời thường gian nan/ Vui giữa bản làng/ Bằng đồng lương binh chức/
…Anh trở về/ Với thiên đường giản dị - hạnh phúc lứa đôi/ Chỉ khi những đứa trẻ dị tật ra đời/ Anh mới hiểu rằng/ Đó là sự trở về với hạnh phúc chẳng bình an! (Hạnh phúc không bình an - Lộc Bích Kiệm)
Chiến tranh không chỉ là món nợ của những người đã chết mà còn là gánh nặng đối với những người đang sống Đó chính là nỗi ám ảnh mà người đọc cảm nhận được từ những bài thơ viết về dư âm chiến tranh Các nhà thơ từng đau nỗi đau mất bạn bè đồng chí, người thân, trở về cuộc sống thời bình họ lại tiếp tục đau nỗi đau của những bi kịch thời hậu chiến, những số phận con người, những mảnh đời đau thương không thể hàn gắn tất cả trở thành nỗi ám ảnh, niềm day dứt đau đáu trong tâm can họ Và cũng bởi vậy nên thơ giai đoạn này không rơi vào giọng điệu tụng ca dễ dãi mà thể hiện chiều sâu ngẫm ngợi của nhà thơ về thế thái nhân tình, nỗi buồn nhân sinh trong sự chuyển động không ngừng của lịch sử Chất giọng
tự thú, tự bạch trở thành giọng điệu phổ biến
Trang 271.2.1.3 Khát khao hạnh phúc đời thường
Chiến tranh càng lùi xa, cuộc sống xã hội càng có nhiều thay đổi, và thơ ca cũng chuyển mình Từ những xúc cảm về cuộc sống trong kháng chiến, các nhà thơ dần quan tâm đến cuộc sống đời thường, cái tôi cá nhân được thể hiện ngày một rõ nét hơn Có thể nói “cái tôi” trữ tình cá nhân, đặc biệt là “cái tôi” trong tình yêu là một nét mới trong nội dung thơ sau 1975
Xuân Quỳnh được mệnh danh là nữ thi sĩ của tình yêu Thơ chị là lời tự bạch của một người phụ nữ luôn khát khao hạnh phúc, khát khao yêu đương một cách âm thầm, bền bỉ mà nồng cháy, da diết:
Em yêu anh hơn cả thời xưa (Cái thời tưởng chết vì tình ái)
Bên cạnh Xuân Quỳnh, Vi Thùy Linh cũng là một nhà thơ nữ luôn bày tỏ niềm khát khao hạnh phúc, khát khao tình yêu mãnh liệt Người phụ nữ trong thơ Vi Thùy Linh thường xuất hiện với tư cách là người phụ nữ đang yêu hoặc đã yêu một cách cuồng nhiệt Họ được tôn vinh, được vỗ về, được yêu thương Họ luôn ý thức vượt thoát “tổ kén” của quá khứ, “tổ kén” kìm hãm những khát vọng riêng tư của người phụ nữ, cái “tổ kén” chối bỏ quyền đòi hạnh phúc, chối bỏ vị trí bình đẳng của họ đối với nam giới trong hành trình tìm kiếm và chiếm lĩnh tình yêu:
Em muốn nổ khối chữ trong mình
Trang 28Thành lời: Em yêu anh
(Em-bí mật?)
Đối lập với vẻ ngoài bình thản là một nội tâm sôi sục Người phụ nữ trong thơ Vi Thùy Linh sống rất thật với những cảm xúc của bản thân Họ không chỉ khát khao, mong ước không thôi mà họ còn luôn chủ động trên con đường tìm kiếm hạnh phúc:
Giá như đôi mắt em lá khoai để nỗi nhớ buồn không ở lại
Để em tìm đường anh về
Và trái tim em làm tổ giữa đời anh Quỳ trong đêm, em cởi mình…
(Nói với anh)
Tình yêu, hạnh phúc luôn là khát vọng tận cùng của người phụ nữ Thơ sau
1975 thể hiện khát vọng, ước mong ấy một cách mới mẻ và thẳng thắn Tình yêu đẹp và mãnh liệt, đáng trân trọng như một niềm bí mật mùa xuân, Lê Thị Mây đã từng ví người yêu của mình như một ly rượu ngọt ngào, nồng cháy để cô dốc cạn cho thỏa niềm khát khao, nhớ mong:
Nửa ly rượu mạnh Ngấm lửa không tàn
Em dốc cạn Cuộc đời anh
Và uống Cũng không sao hết khát một mình Cũng không sao đỏ được má mùa xuân (Bí mật mùa xuân - Lê Thị Mây)
Trải nghiệm và cọ xát qua hai cuộc chiến tranh, nhà thơ Ý Nhi vẫn luôn mong trở về với hạnh phúc của tổ ấm gia đình thân thương, với chị, gia đình là một cái gì thiêng liêng nhất:
Em đã đợi chờ anh suốt cuộc đời mình
Như đá xám chờ tay người tạc tượng
Trang 29Sông khô cạn chờ mùa mưa lớn Cây giữa rừng đợi ánh mặt trời lên
(Tìm về Chiêm Hóa)
Thơ sau 1975 là tiếng lòng của những con người mới luôn khát khao hạnh phúc yêu đương mãnh liệt và điều đặc biệt là họ dám nói lên những khát khao nồng cháy ấy Tình yêu lứa đôi, hạnh phúc bình dị đời thường được trải đều trên các trang thơ với nhiều cung bậc, nhiều rung động tế vi nhất, sâu sắc nhất Điều này đã đưa đến cho thơ sau 1975 một diện mạo mới hơn, phong phú hơn
1.2.1.4 Ý thức đào sâu vào bản ngã
Công cuộc đổi mới toàn diện đất nước đã thúc đẩy tinh thần dân chủ và sự phát triển mạnh mẽ ý thức cá nhân trong văn học Thơ ở thời kỳ này thể hiện khát vọng đào sâu vào bản ngã, đặc biệt là thế giới tâm linh, những vùng mờ của tiềm thức, vô thức Cũng trong tinh thần dân chủ ấy mà nhiều xu hướng thơ được nảy
nở, nhiều thể nghiệm mạnh bạo được ra mắt công chúng nổi bật là các thi phẩm của Hoàng Hưng, Hoàng Cầm, Lê Đạt, Dương Tường…
Trở về với đời thường, cái tôi phải dựa vào cá nhân mình, bản thân mình Vì vậy, việc trình bày một cách nhìn nhận về chính mình, tìm một gương mặt riêng, một giọng điệu riêng trở thành nhu cầu hết sức bức thiết Nhiều nhà thơ sau 1975 tự nhận thấy trước đây “thơ viết ra ít bóng dáng của mình” (Phan Xuân Hạt) hay “Mà sao tôi chẳng là tôi/ khi hèn mọn đánh rơi mình vào quên lãng” (Ngô Minh) và họ không ngừng suy ngẫm, trăn trở về câu hỏi “Ta là ai”
Với nhà thơ trẻ Vi Thùy Linh, thì:
Tôi là tôi Một bản thể đầy mâu thuẫn Tôi đã nhìn mình trong gương cả khi khóc khi cười Bất cứ lúc nào, trên sân khấu cuộc đời
Tôi vẫn là diễn viên tồi Bởi tôi không bao giờ hóa trang để nhập vai người khác
(Tôi)
Trang 30Với nhà thơ Dư Thị Hoàn, thì:
Uy lực của em, một vẻ đẹp không luật lệ
sự bất thường chen nhau về hội tụ (Mai)
Và còn rất nhiều những nhà thơ trẻ sau 1975 có cách thể hiện cái tôi cá nhân
một cách mới mẻ, táo bạo và riêng biệt: Tôi cũng nhẹ và trong suốt tựa hồn cây cỏ (Giáng Vân), Như tôi mang dấu ruộng dấu vườn (Nguyễn Duy), Kí hiệu của đời tôi
là một dấu chấm xanh ngắt (Phùng Khắc Bắc),
Không chỉ khẳng định cái tôi, các nhà thơ sau 1975 còn có khát vọng đào sâu bản ngã Họ say mê khám phá con người trên mọi phương diện đặc biệt là bề
sâu Cũng vì vậy, tính tự động tâm lý đậm màu siêu thực và sự ú ớ trong cảm thức
nghệ thuật được đề cao, thơ được coi là hình ảnh nội tâm về thế giới nội tâm, là ý thức chống lại các quy tắc có sẵn trong thơ, là sự khước từ sự có mặt của tư duy duy
lý trong nghệ thuật
Cơn thể nghiệm đầy triển vọng hoàn thành, thì một hôm (có lẽ tại thời tiết,
jở jời) bỗng phát sinh một số biến chứng, biến chứng từ trong ra Hôm ấy trời se se
- mùa chuyển, anh lại thấy người gai gai khó nói - như man mác - như mây trôi - lại như trống trải cô li - như tiếng gọi mùa
(Ô mai - Đặng Đình Hưng )
Sự chập chờn nửa mơ nửa tỉnh trong thơ Lê Đạt :
Chia xa rồi anh mới thấy em Như một thời thơ thiếu nhỏ
Em về trắng đầy cong khung nhớ Mưa mấy mùa mây mấy độ thu Vườn thức một mùi hoa đi vắng
Em vẫn đây mà em ở đâu Chiều Âu Lâu bóng chữ động chân cầu
(Bóng chữ - Lê Đạt )
Trang 31Khi các nhà thơ đã có cái nhìn mới về mình, có ý thức cao độ về cái tôi cá nhân thì theo đó nỗi buồn, cô đơn cũng xuất hiện thường trực Và điều đó lí giải vì sao những trang thơ sau 1975 thấm đẫm chất giọng suy tư, chiêm nghiệm và giọng
1.2.2 Dấu ấn Chế Lan Viên trong thơ Việt Nam sau 1975
Có thể nói rằng Chế Lan Viên là một trong những đại diện tiêu biểu cho sự vận động của thơ Việt Nam sau 1975 Cũng giống như nhiều cây bút khác, một vài năm sau ngày đất nước thống nhất, Chế Lan Viên vẫn theo đuổi cảm hứng sử thi
như một quán tính nghệ thuật Nhưng đến Hoa trên đá (1984) về sau ông mới thực
sự để lại dấu ấn đậm nét trong dòng cảm hứng đời tư – thế sự sau 1975
Trước hết là sự để lại dấu ấn của Chế Lan Viên thể hiện qua các đề tài mà nhà thơ quan tâm: từ chủ để tình yêu, gia đình, thiên nhiên, đến những trăn trở về quá khứ dân tộc, thực trạng xã hội, đến sự chiêm nghiệm, triết lí về nhân sinh và nghệ thuật
Viết về tình yêu, thơ Chế Lan Viên sau 1975 vừa có cái thiết tha, ân cần của Xuân Diệu, hay của nhiều thi sĩ viết thơ tình khác, vừa mang đậm dấu ấn riêng của
phong cách triết lí, suy tưởng Như tác giả Đoàn Trọng Huy nhận xét rằng: “Nhà
thơ bình luận về chính trị, về thế sự cũng thích lí sự, biện luận trong cả tình yêu” [1, tr.110] Đặc biệt, những năm gần cuối đời, Chế Lan Viên thường chịu sự ám ảnh của cái chết Sự ám ảnh này cũng lãng vãng trong thơ tình của ông như dự cảm về
sự xa cách muôn trùng của lứa đôi trong cõi hư vô (Rồi ta sẽ lạ nhau; Chung một bóng đèn…)
Viết về những mối quan hệ gia đình, thơ Chế Lan Viên đầy ắp những cảm xúc mãnh liệt, nhất là khi ông viết về mẹ, về chị Cảm xúc ấy là những nỗi nhớ, nỗi
đau sau khi mất người thân yêu nhất trên đời (Thăm mồ mẹ, Bến đò mẹ tiễn, Canh
Trang 32cá tràu, Chị Ba, Chị Tư, Chị và em) Thơ viết về những mối quan hệ cá nhân của
Chế Lan Viên thể hiện ở ông một con người sống giàu cảm xúc, giàu lòng thương yêu
Thiên nhiên cũng chiếm vị trí khá quan trọng trong thơ Chế Lan Viên sau
1975 Hiếm có nhà thơ nào dành tình yêu cho thiên nhiên một cách say mê đến độ
sùng bái như Chế Lan Viên (Trời đẹp, Vô thần…) Sự say mê này ông đặc biệt dành cho các loài hoa (Hoa súng tím, Hoa chạc chìu, Hoa táo, hoa giấy, Hoa lau đường 9…) Có điều kiện đi nhiều nơi các miền Tổ Quốc, ông ghi lại những nét đẹp nhiều vùng miền (Sapa, Sen Huế… ) Yêu thiên nhiên, nhà thơ còn triết lí rất hay về vai trò của thiên nhiên trong cuộc sống con người (Hồng vàng, Sắc mai cười…)
Chiến tranh đã đi qua, Chế Lan Viên có độ lùi cần thiết về thời gian để chiêm nghiệm về quá khứ dân tộc, nhất là về hai cuộc kháng chiến mà chính nhà thơ là người trực tiếp tham gia Nghiệm về lịch sử bốn nghìn năm của dân tộc, ông bày sự cảm thông sâu sắc đến những nỗi khổ cực của cha ông, từ nạn thiên tai đến ngoại
xâm (Định nghĩa dân tộc, Đất nước ta, Sử…) Nhà thơ tỏ ra trân trọng những giá trị văn hóa, tinh hoa của của dân tộc mình (Thơ Nguyễn Trãi, Nghĩ thêm về Nguyễn…)
Viết về lịch sử cách mạng, không lúc nào Chế Lan Viên quên tỏ lòng biết ơn đối với
những người đã ngã xuống cho độc lập (Xon-nê Côn Đảo, Côn Đảo, Nhớ ơn…)
Nhìn nhận lại hai cuộc chiến tranh vừa qua, xem xét nó ở khía cạnh thiệt hại, ông chủ động bày tỏ sự cảm thông và chia sẻ những nỗi đau lớn mà dân tộc phải chịu
đựng (Người yêu ở Việt Nam, Ai? Tôi!…)
Sinh thời, Chế Lan Viên không ngừng trăn trở với thực trạng xã hội lúc bấy giờ Đó là tình trạng khó khăn, đói khổ của nhiều tầng lớp trong xã hội, từ người
lính ở chiến trường về đến người nông dân, thậm chí cả trí thức…(Ai?Tôi!, Một người thường…) Đó là tình trạng con người ngày càng chạy đua với những giá trị vật chất, xem thường và lãng quên những giá trị tinh thần cao đẹp (Thời thượng, Ích gì…) Nhà thơ phê phán gay gắt những bọn tham ô trong xã hội, là những kẻ phá hoại những thành quả cách mạng (Nhà không trần, Hốt lá…)
Trang 33Những năm tháng cuối đời Chế Lan Viên thường xuyên bị ám ảnh bởi sự
chết Nó chiếm nhiều suy nghĩ của nhà thơ như một sự day dứt không nguôi (Con nhặng xanh, Đêm chót…) Ngẫm về sự cuối cùng của đời người, thơ ông không
tránh khỏi những buồn đau, xót xa, tiếc nuối Tuy nhiên, bằng trái tim cháy bỏng yêu cuộc đời, bằng khát khao cống hiến hết mình, và bằng niềm tin mãnh liệt vào sự tái sinh, Chế Lan Viên tìm thấy được ít nhiều sự yên ủi và thanh thản trong tâm hồn
mình (Từ thế chi ca, các mùa hoa…)
Ở nước ta hiếm thấy nhà thơ nào chiêm nghiệm, triết lí về thơ nhiều và thành
hệ thống quan niệm độc đáo và sâu sắc như Chế Lan Viên Đặc biệt, vào “Mùa thu quân”, nhà thơ thường hay tâm sự về đời thơ mình: những vui buồn, được mất,
những khát khao nghệ thuật không bến bờ, khát vọng sẻ chia cùng hậu thế…
Càng về sau cái mốc lịch sử 1975, cái tôi cá nhân của người nghệ sĩ càng bộc
lộ rõ nét Sự giải phóng cái tôi kéo theo sự mở rộng về cảm hứng, đề tài, tất nhiên
nó cũng kéo theo sự thay đổi không ít về các phương thức thể hiện Ở Chế Lan Viên cũng vậy
Sự thay đổi này thể hiện rõ nét nhất ở giọng điệu thơ Chính Chế Lan Viên
cũng thừa nhận,“Bao nhiêu năm hát giọng cao giờ anh hát giọng trầm” (Giọng trầm) Giọng điệu chiêm nghiệm, triết lí chiếm vị trí chủ đạo trong thơ Chế Lan
Viên sau 1975 Với giọng điệu này, ông chiêm nghiệm về rất nhiều khía cạnh của cuộc sống Trong giọng chiêm nghiệm, triết lí ấy có giọng đau buồn, chua xót, có giọng hàm ơn, thanh thản… Bên cạnh giọng chiêm nghiệm, triết lí, giọng trữ tình, tâm tình được Chế Lan Viên dùng để thể hiện những tình cảm, cảm xúc, những tâm
sự về gia đình, bằng hữu, về những kỉ niệm… Giọng giục giã, vội vàng thể hiện ở thái độ sống gấp gáp trước quỹ thời gian của ông còn quá ít mà khát vọng sống và cống hiến lại quá nhiều…
Vẫn sử dụng hai thể thơ cơ bản như ở giai đoạn văn học cách mạng, thể tự do
và thể tứ tuyệt, cùng với những thủ pháp nghệ thuật đặc sắc như so sánh, đối lập, trùng điệp… nhưng bằng những cách thể hiện mới, nhìn chung, Chế Lan Viên đã
Trang 34diễn đạt thành công những tư tưởng, tình cảm của mình ở tất cả các chủ đề mà nhà thơ quan tâm
Tóm lại, thông qua các đề tài và các phương thức thể hiện, Chế Lan Viên đã
để lại dấu ấn đậm nét trong dòng cảm hứng đời tư – thế sự thơ Việt Nam sau 1975
Có thể nói rằng, nếu thiếu Chế Lan Viên thì bức tranh thơ Việt Nam sau 1975 sẽ thiếu một mảng vô cùng quan trọng
Trang 35
Chương 2 NHỮNG BIỂU HIỆN CỦA CẢM HỨNG ĐỜI TƯ -THẾ SỰ
TRONG THƠ CHẾ LAN VIÊN SAU 1975 2.1 Cảm hứng về tình yêu và thiên nhiên
2.1.1 Cảm hứng về tình yêu đôi lứa
Theo một nghĩa nào đó thì làm thơ cũng là cách thể hiện sự quan tâm của mình đến cuộc sống Không biết từ bao giờ tình yêu đôi lứa lại khiến người ta quan tâm nhiều đến như vậy, từ cổ chí kim, từ đông sang tây đề tài tình yêu luôn tồn tại
và hấp dẫn bao người Mặc dù không chiếm tỉ lệ lớn trong tổng số thơ Chế Lan Viên 1975, nhưng tình yêu đôi lứa vẫn là một trong những chủ đề thú vị trong thơ
ông
Chế Lan Viên từng nói: “Thơ tình, thơ về hoa, về cuộc đời bình thường rất cần thiết Cần núi cao của chủ nghĩa anh hùng, nhưng cũng cần các đồng bằng của đời sống hàng ngày” Và với quan niệm thơ không chỉ là “hầm chông giết giặc” mà còn là “những nhành hoa mát mắt cho đời”, trong giai đoạn 1945 – 1975 Chế Lan Viên có viết một số thơ về đời tư, nhất là về tình yêu bên cạnh những vần thơ rực lửa cách mạng Nhìn chung, những thơ tình yêu chỉ chiếm vị trí khiêm tốn so với những thơ về cách mạng, Tổ quốc, nhân dân, lãnh tụ Chúng ta dễ nhận thấy cái tình riêng ấy hoàn toàn hòa hợp cái chung của toàn dân tộc Một số bài thơ tình như
Rét đầu mùa nhớ người đi về phía bể, Lòng anh làm bến thu, Quả vải vào mùa, Tình ban mai, Trưa… thể hiện ở Chế Lan Viên một tâm hồn đằm thắm, thiết tha
trong tình yêu bên cạnh hình ảnh nhà thơ “ngang tầm chiến lũy”
Sau 1975, Chế Lan Viên tiếp tục theo đuổi đề tài tình yêu Theo khảo sát của
chúng tôi, xét từ Hoa trên đá đến Di cảo thơ, thơ về tình yêu của Chế Lan Viên
chiếm trên 50 bài (khoảng gần 7,5 %) Cũng như nhiều người làm thơ tình khác hoặc như chính bản chất của tình yêu, thơ tình Chế Lan Viên sau 1975 có nhiều cung bậc cảm xúc: đó là nỗi nhớ, là sự chờ đợi khi xa người yêu, sự trân trọng, ngợi
ca tình yêu… Tất nhiên mỗi tâm hồn mỗi khác, mỗi hoàn cảnh mỗi khác, Chế Lan
Trang 36Viên đến với thơ tình vẫn đậm phong cách triết lí rất riêng biệt, khó có thể lẫn lộn với ai khác
Khi viết về tình yêu dường như không có nhà thơ nào không viết về nỗi nhớ
Có lẽ vì nỗi nhớ là cái đặc trưng nhất của tình yêu lứa đôi so với những tình cảm
khác Thơ tình Chế Lan Viên cũng chứa chan nỗi nhớ (Tiếng ve, Chẳng ít chẳng nhiều, Liễu, Chim cu gáy, Đột ngột cây chiều…) Khi đã yêu thì những bất cứ thứ gì
cũng dễ khiến ta nhớ tới người yêu: một mùi hương, một giai điệu, một quang cảnh… Không hiểu sao tiếng chim cu gáy lại khiến Chế Lan Viên nhớ người yêu nhiều đến thế?
Hỡi em rất gần rất xa rất yêu Cách ta bởi mây trời nhiều nước Chim cu gáy liên hồi không chịu được
Nó gáy về mình làm ta nhớ bao nhiêu (Chim cu gáy)
Có lẽ tiếng chim ấy gắn với những kỉ niệm gì chăng? Cách nói nhớ “không chịu được”, “nhớ bao nhiêu” rất chân thành, làm nên một sự xúc động trong lòng người đọc Có khi nhà thơ bộc lộ nỗi nhớ cách trực tiếp như vậy, cũng có đôi khi ông viết về nỗi nhớ cách gián tiếp và rất đỗi tinh tế Nhà thơ không nói thẳng nỗi nhớ người yêu nhưng nó cứ hiện lên rành rành:
Đột ngột cây chiều xanh mướt xanh Thôi rồi em hẳn nhớ mong anh Phố dài bóng nắng cây hai dãy Thiếu giữa hàng cây dáng chúng mình
(Đột ngột cây chiều)
Thật ra cơ chế cảm xúc bài thơ này khá đơn giản Đặt hai câu cuối vào chỗ câu thứ hai và câu thứ hai vào chỗ cuối sẽ thấy ngay Nhìn hàng cây chiều xanh mượt cộng với cái nắng bâng khuâng, nơi mà hai người từng hò hẹn (có lẽ nơi đây
là “kí hiệu riêng” của hai người), nhưng hôm nay thiếu vắng người yêu nỗi nhớ bỗng dâng tràn “đột ngột” Và nỗi nhớ này tác giả “đổ” cho người yêu với cái suy
Trang 37nghĩ bất chợt “thôi rồi” Em nhớ mong anh không thì độc giả khó có thể nói nhưng anh nhớ mong em đó là điều chắc chắn Cách viết đảo ngược rồi giải thích sau như vậy khiến bài thơ có vẻ đẹp lung linh, hấp dẫn của sự khám phá thú vị
Khi sống trong sự say đắm của hạnh phúc người ta thường yêu mến tất cả, biết ơn tất cả, “cảm ơn cơn rét làm em nép vào anh buổi ấy”, “cảm ơn quả bàng thơm có vị mùa sau còn thơm”, “cảm ơn cái tin khuya đọc chậm rãi trên đài”, “cảm
ơn cái đồng hồ báo thức rất khoan thai”…(Cảm ơn) Những điều tưởng chừng như
rất đơn giản như vậy đấy nhưng nó lại khiến nhà thơ được gần gũi người yêu hơn nên ông tỏ lòng biết ơn tất cả Rõ ràng đây là trạng thái của người đang trong men say của hạnh phúc
Có lẽ tình yêu rất có ý nghĩa với Chế Lan Viên nên không ngạc nhiên khi thi
sĩ xem người yêu như người dẫn lối cho cuộc đời mình:
Anh cần em như vì sao khuya khoắt ấy
Để anh đi qua cho hết bể đời mình
(Vì khuya khoắt ấy)
Câu thơ có cái thấp thoáng bóng dáng của Aragông và Enxa Ca ngợi người yêu như thế quả thật tuyệt hay…
Trong thơ Chế Lan Viên còn nhiều cung bậc cảm xúc khác, đó là sự hồi
tưởng lại những kỉ niệm (Phía ấy, Ly biệt ngày nay, Nhớ ở rừng …), đâu đó nỗi buồn khi xa vắng người yêu (Xiên xiên chiều mưa bay, Chia…) Thơ Chế Lan Viên
có nhiều cung bậc tình yêu như vậy nhưng không phải là đủ cả Ta dường như không thấy trong thơ ông sau 1975 có tình yêu đơn phương hay nỗi đau của sự đổ
vỡ tình yêu
Có thể nói rằng những cung bậc cảm xúc tình yêu đã được Chế Lan Viên thể hiện rất thành công, một số bài rất tinh tế, nhưng những bài thơ kiểu như vậy chưa hẳn đã là đặc trưng cho thơ tình của Chế Lan Viên cho lắm Thơ viết về tình yêu nhưng vẫn ưa triết lí đấy mới là điểm khác biệt của Chế Lan Viên
Nhà thơ “lí sự” cả trong tình yêu:
Anh tặng em yêu chùm hoa sắc trắng
Trang 38Nhưng khi yêu anh yêu đỏ hoa hồng Tuổi năm mươi lòng yêu như lửa đỏ Nhưng bên ngoài vẫn cứ trắng như không
(Hoa trắng đỏ)
Chỉ có câu thứ nhất là câu có giá trị sự kiện thông báo, còn ba câu còn lại là
sự bình luận câu thứ nhất Đây rõ là trạng thái yêu của người đứng tuổi - tình yêu không nói nhiều, không thể hiện ra bên ngoài nhiều nhưng vẫn ấm nóng trong tấm lòng chung thủy Bảo rằng tình yêu không có tuổi rất đúng, nhưng mỗi giai đoạn đời người sẽ có cách biểu lộ khác nhau Với cách lí luận tài hoa, khéo léo bài thơ nói giúp được nhiều cho những đôi yêu nhau “tuổi năm mươi” Như vậy, bài thơ không chỉ nói được cảm xúc riêng của bản thân mà nó được nâng lên tầm khái quát, tức triết lí – đấy là cái đặc biệt của Chế Lan Viên
Cũng mang phong cách riêng của Chế Lan Viên, nhiều bài thơ viết về tình yêu của ông thể hiện sự suy tưởng, chiêm nghiệm về tình yêu hơn là sự thể hiện trạng thái đang yêu hay các cung bậc cảm xúc cá nhân
Nói về sức mạnh của tình yêu, trên thế giới không biết có bao nhiêu người nói, trong đó họ nói nhiều về sức mạnh tiêu cực của nó Ai đó đã nói rằng “tình yêu
có thể xô ngã một lực sĩ”, hay “người phụ nữ như mặt hồ không gợn sóng nhưng nhiều kẻ chết đuối vì họ”… Chế Lan Viên cũng có cách riêng để nói về sức mạnh ghê gớm ấy:
Mẹ kiếp! Một triệu thi sĩ giết trăng mà trăng chẳng chết Một tỉ tình nhân lấy trăng ra thề bồi trăng cứ trơ trơ
Mà có khi trăng chết vì con lí ngư vọng nguyệt
Mê đôi mắt cá si dại kia trăng rơi tõm xuống hồ (Lí ngư vọng nguyệt)
Cái hay của Chế Lan Viên ấy là không phải ông có phát hiện gì mới, mà là cách thể hiện những cái cũ bằng những lối tư duy, hình ảnh mới Cái duyên cũng là
ở đó
Trang 39Phát hiện ra những cái tưởng chừng như nhỏ nhặt nhưng chính nó lại có khả năng giữ tình yêu bền chặt lâu dài:
Yêu cành hoa bên những vực sâu Yêu hoa một phần nhưng chính là yêu sự hái Biết bao tình yêu còn lại
Nhờ một nhành hoa không đâu
(Hái hoa)
Không từng trải người ta khó có thể hiểu biết về tình yêu như vậy Có thể xem bài thơ như câu danh ngôn để khuyên những người yêu nhau hãy trân trọng từng cái nhỏ nhặt bình thường trong cuộc sống Thiết nghĩ đó cũng là là bí quyết hạnh phúc lứa đôi
Gần về tuổi già, Chế Lan Viên càng ngẫm nhiều về cái chết Nó ám ảnh ông
từng giây từng phút, đến nỗi nói về tình yêu thì bóng dáng sự chết vẫn lẩn quẩn đâu đây Điểm này khiến thơ tình Chế Lan Viên có thêm một khác biệt so với với giai đoạn trước, ông viết:
Rồi ta uống vào cái suối đen của sự chết Quên đi môi hồng của tình yêu
… Rồi ta sẽ lạ nhau như hai hòn đất Chỉ vì uống vào dòng lãng quên
(Rồi ta sẽ lạ nhau)
Ông thường hay nói đến tương lai:
Rồi anh cách xa em như hai thiên hà thiên thể cách trùng
Đo từ anh đến em dễ triệu năm ánh sáng Tìm hương em phải qua vạn trời vô hạn Đâu như một thuở một bóng đèn chung, một bóng hoa chung
(Chung một bóng đèn)
Sự thật là không ai có thể trả lời hoặc chứng minh được gì thế giới mai sau Điều này phụ thuộc vào niềm tin và cảm nhận của mỗi con người Chế Lan Viên
Trang 40vẫn mơ hồ về một thế giới xa lạ, có thể anh với em “xa lạ như hai hòn đất”, và có thể “tìm hương em phải qua vạn trời vô hạn” ? Người đọc có thể nhận ra rằng sự bâng khuâng, lo lắng về thế giới mai sau ấy lại là cách biểu hiện tình yêu của của Chế Lan Viên hôm nay
Tóm lại, đọc thơ viết về tình yêu của Chế Lan Viên sau 1975 chúng ta thấy những tâm tư tình cảm cá nhân của nhà thơ thể hiện qua những cung bậc cảm xúc khác nhau, nó phản ánh ở nhà thơ lớn một tâm hồn đẹp đẽ, trái tim yêu đời yêu người tha thiết Thơ tình Chế Lan Viên góp phần vào làng thơ tình một phong cách riêng, một bản sắc riêng, làm cho thơ tình Việt Nam thêm phong phú, đa dạng
2.1.2 Cảm hứng về gia đình và bằng hữu
Chế Lan Viên không viết nhiều lắm về những mối quan hệ cá nhân, tất nhiên
là là so với toàn bộ những sáng tác đồ sộ của ông chứ không phải so với các nhà thơ khác Thơ viết về các mối quan hệ riêng tư: về mẹ, về chị, về bạn… chỉ khoảng 40 bài (chiếm 6%) Mặc dù viết không nhiều lắm nhưng mỗi bài thơ của ông đều khiến độc giả cháy lòng bởi những cảm xúc mãnh liệt, chân thành
Trên đời này nếu có một thứ tình cảm gọi là tình yêu vô điều kiện thì đấy là tình mẹ thương con Trong tâm hồn nhà thơ người mẹ luôn luôn là những gì yêu thương nhất, khoắc khoải nhất, buồn thương nhất… Điều này có lẽ do hoàn cảnh cá nhân của ông Là nhà thơ chiến sĩ, Chế Lan Viên luôn phải xa nhà trong thời gian chiến tranh, người mẹ quê mòn mỏi trông chờ, lúc về thăm thì mẹ yêu thương đã không còn
Suốt thời gian xa nhà bởi chiến tranh Chế Lan Viên luôn nghĩ nhiều về mẹ
Mẹ luôn là nỗi nhớ khôn nguôi trong lòng người con xa cách
Xa mẹ mười năm đi khắp nước Trăm quê chưa dễ thực quên đi (Mẹ)
Cuộc đời của một nhà thơ – chiến sĩ không thiếu những khó khăn, gian khổ nhưng nhà thơ có mẹ làm động lực lớn để thực hiện nhiệm vụ Yêu mẹ nhiều và khát khao ngày gặp lại không gì hơn là chiến đấu với giặc để kết thúc chiến tranh: