1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Từ láy trong thơ chế lan viên

81 110 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Từ láy trong thơ Chế Lan Viên
Tác giả Vũ Thị Thúy Nga
Người hướng dẫn TS. Lê Đức Luận
Trường học Đại Học Đà Nẵng
Chuyên ngành Ngữ Văn
Thể loại Khóa luận
Năm xuất bản 2013
Thành phố Đà Nẵng
Định dạng
Số trang 81
Dung lượng 1,26 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đây là công trình đầu tiên thu thập và giải thích hầu hết các từ láy được dùng trong tiếng Việt bao gồm các từ láy thường dùng, các từ láy cổ, các từ láy có tính chất phương ngữ, khẩu ng

Trang 1

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

KHOA NGỮ VĂN -

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC NGÀNH CỬ NHÂN VĂN HỌC

Trang 2

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Láy là một phương thức cấu tạo từ quan trọng của tiếng Việt Xét từ phương diện hình thái – cấu trúc cũng như từ mặt ngữ nghĩa và ngữ dụng học thì láy là một hiện tượng đa diện và phức tạp nhưng cũng đầy hấp dẫn Đặc điểm của từ láy là sự hòa phối âm thanh trong các khuôn hình cấu tạo Nghĩa của từ láy thiên về giá trị gợi cảm, tượng thanh, biểu thị những trạng thái nội tâm, hoạt động tinh thần của con người Việt Nam

Chính từ những đặc điểm ấy mà từ láy được sử dụng nhiều trong quá trình sáng tác văn học mà đặc biệt là trong thơ Có thể nói rằng các tác phẩm văn chương chính là kho tàng lưu giữ vốn từ láy với những diện mạo khác nhau tùy theo tài năng của tác giả, tùy theo thể loại và nội dung của mỗi tác phẩm Vì thế, tiếp nối một số đề tài khảo sát đặc điểm và tác dụng của từ láy trong tác phẩm văn chương

cổ điển, trung đại, cận đại, thì việc khảo sát từ láy trong thơ Việt Nam hiện đại là việc làm cần thiết

Nhắc đến nền văn học Việt Nam hiện đại, chúng ta lại không thể không nhắc tới nhà thơ Chế Lan Viên với những vần thơ tài hoa và giàu trí tuệ Thơ ông là một minh chứng cho sức nghĩ, sức cảm của một tâm hồn thơ không ngừng tỏa sáng trong suốt cuộc đời từ những vần thơ tài năng của tuổi mười sáu cho đến những

trang Di cảo cuối đời Vì vậy, nghiên cứu về vấn đề ngôn ngữ trong thơ Chế Lan

Viên là một việc làm có ý nghĩa to lớn Nhiều nhà nghiên cứu, phê bình đã đề cập tới ngôn ngữ thơ Chế Lan Viên nhưng chưa có một công trình nào nghiên cứu chuyên sâu về việc sử dụng từ láy trong thơ ông

Từ những lý do trên, chúng tôi chọn đề tài: “Từ láy trong thơ Chế Lan Viên”

để tìm hiểu với hi vọng sẽ góp phần đưa đến cái nhìn toàn diện hơn về giá trị nghệ thuật ngôn từ mà từ láy tiếng Việt đã đem đến cho thi phẩm của Chế Lan Viên

Trang 3

của các tác giả Chúng ta có thể kể tới một số công trình nghiên cứu về từ láy như sau:

Trong cuốn Hoạt động của từ tiếng Việt, tác giả Đái Xuân Ninh đã chỉ ra lịch

sử phát triển của từ láy tiếng Việt Tác giả khẳng định: “phép láy từ có một chức năng quan trọng về mặt tạo từ Nó đã là một cái sức nội tại lớn lao của tiếng nói để phát triển về lượng cũng như về chất của từ vựng Việt Nam” [17, tr.205]

Đỗ Hữu Châu với cuốn Giáo trình từ vựng học tiếng Việt, Các bình diện của

từ và từ tiếng Việt, Từ vựng ngữ nghĩa tiếng Việt; Ngữ pháp tiếng Việt (Tiếng – Từ ghép – Đoản ngữ) của Nguyễn Tài Cẩn; Ngữ pháp tiếng Việt (tập 1) của Diệp

Quang Ban – Hoàng Trung Thông; Ngữ pháp tiếng Việt của Đỗ Thị Kim Liên; cuốn

Từ và vốn từ của tiếng Việt hiện đại của Nguyễn Văn Tu; Hồ Lê với cuốn sách Vấn

đề cấu tạo từ của tiếng Việt hiện đại Hầu hết các tác giả đều chú ý nghiên cứu về

các đặc điểm của từ láy như: đặc điểm cấu tạo, đặc điểm ngữ nghĩa, giá trị biểu trưng, giá trị gợi tả âm thanh, hình ảnh, giá trị biểu cảm

Đặc biệt phải kể đến cuốn Từ điển từ láy tiếng Việt của Hoàng Văn Hành

Cuốn sách đã giúp bạn đọc có cái nhìn khái quát về hệ thống từ láy của tiếng Việt Đây là công trình đầu tiên thu thập và giải thích hầu hết các từ láy được dùng trong tiếng Việt bao gồm các từ láy thường dùng, các từ láy cổ, các từ láy có tính chất phương ngữ, khẩu ngữ và cả các từ láy mới xuất hiện gần đây…, với hơn 5000 đơn

vị định nghĩa và 7000 câu trích dẫn nguyên văn từ các tác phẩm văn học, các báo và tạp chí minh họa cho cách dùng từ trong thực tế Ngoài ra, ông còn cung cấp khá đầy đủ cho người đọc những kiến thức về từ láy, từ việc chỉ ra những cách nhìn khác nhau đối với hiện tượng láy đến từ láy trong tiếng Việt và cuối cùng đi đến

những kết luận bước đầu về từ láy qua cuốn sách Từ láy trong tiếng Việt

Chế Lan Viên là nhà thơ lớn của nền văn học hiện đại Việt Nam Hành trình thơ của ông kéo dài hơn nửa thế kỉ với những chặng đường gắn liền từng mốc lịch

sử đặc biệt: trước và sau cách mạng tháng Tám, trong chiến tranh và trong hòa bình Ông được mọi người thừa nhận là nhà thơ có năng lực sáng tạo đặc biệt, độc đáo Khối lượng tác phẩm mà ông để lại về nhiều thể loại là vô cùng đồ sộ, phong phú,

Trang 4

đa dạng nhưng thống nhất về quan niệm, tạo thành một thi pháp, một phong cách riêng Vì vậy, có rất nhiều những công trình đã nghiên cứu về Chế Lan Viên và thơ ông Có thể kể đến một số công trình tiêu biểu sau:

Cuốn sách Chế Lan Viên về tác gia và tác phẩm do Vũ Tuấn Anh tuyển chọn

đã tập hợp được nhiều bài nghiên cứu, phê bình, tư liệu, hồi ức… về cuộc đời, sự nghiệp, phong cách nghệ thuật của Chế Lan Viên Trong tất cả các bài viết, các công trình nghiên cứu thơ Chế Lan Viên mà Vũ Tuấn Anh tuyển chọn đưa vào cuốn sách này tuy chưa có công trình nào nghiên cứu cụ thể về từ láy trong thơ Chế Lan Viên nhưng xét về mặt ngôn ngữ nói chung thì các bài viết đều có đề cập đến đặc điểm ngôn ngữ thơ Chế Lan Viên Và có thể thấy một cách khái quát là các nhận định của các tác giả về ngôn ngữ thơ Chế Lan Viên cơ bản gặp nhau ở chỗ là khẳng định câu thơ Chế Lan Viên có cái trùng điệp của một đội quân ngôn ngữ, tạo nên một nét độc đáo trong phong cách của Chế Lan Viên

Hồ Thế Hà với Thế giới nghệ thuật thơ Chế Lan Viên (chuyên luận) đã đi sâu

vào quan niệm nghệ thuật thơ của Chế Lan Viên, tính triết lý sâu sắc, không gian và thời gian nghệ thuật, phương thức thể hiện và thể loại thơ của Chế Lan Viên Ông chứng mình rằng: “Hành trình thơ Chế Lan Viên là một quá trình phát triển liên tục trên cở sở có biến đổi, kế thừa; có phủ định nhưng vân động biện chứng; có sáng tạo bổ sung Và ở giai đoạn nào, ông cũng đạt trình độ đỉnh cao Quá trình lặp lại những yếu tố thi pháp ổn định bên cạnh những yêu tố thi pháp mới đã làm cho thế giới nghệ thuật thơ Chế Lan Viên luôn luôn sinh động” [9, tr.10]

Trong cuốn Thế giới nghệ thuật thơ Chế Lan Viên, tác giả Đoàn Trọng Huy đã

nghiên cứu về quan niệm nghệ thuật và đặc sắc của tư duy thơ, về hình ảnh, ngôn ngữ, thể loại thơ của Chế Lan Viên.Và có thể nói đây là một công trình đã đề cập đến ngôn ngữ thơ Chế Lan Viên ở diện sâu và rộng hơn cả Đoàn Trọng Huy nhận xét Tác giả đã chỉ ra ngôn ngữ thơ Chế Lan Viên nổi bật có ba nét đặc sắc: mật độ

tu từ đậm đặc; chất duy lí sắc sảo; tính thời sự thời đại”

Trang 5

Trong cuốn Thơ Chế Lan Viên với phong cách suy tưởng, tác giả Nguyễn Bá

Thành đã đi sâu vào nghiên cứu phong cách suy tưởng triết lý của Chế Lan Viên với

đối tượng là toàn bộ sự nghiệp thi ca của Chế Lan Viên từ Điêu tàn đến Di cảo thơ

Qua các công trình tiêu biểu nghiên cứu về từ láy và thơ Chế Lan Viên kể trên, chúng ta có thể thấy việc nghiên cứu về từ láy và đặc biệt là từ láy trong thơ ông là một việc làm cần thiết và cần được đào sâu hơn nữa để góp phần làm sáng rõ hơn

về giá trị ngôn ngữ thơ Chế Lan Viên Hơn nữa cho đến nay vẫn chưa có một công trình nghiên cứu chuyên biệt nào về từ láy trong thơ ca của tác giả này Vì vậy, dựa trên sự tiếp thu những ý kiến nhận xét đánh giá của các nhà phê bình, nghiên cứu đi trước về thơ Chế Lan Viên, chúng tôi xem đó là cơ sở để đi vào tìm hiểu và làm rõ hơn cho đề tài này

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu:

Đối tượng nghiên cứu của đề tài này là Từ láy trong thơ Chế Lan Viên

3.2 Phạm vi nghiên cứu:

Chúng tôi tiến hành khảo sát, nghiên cứu và phân loại từ láy ở đặc điểm cấu

tạo, ngữ pháp, ngữ nghĩa và giá trị sử dụng của chúng trong các tập thơ: Điêu tàn (1937), Sau điêu tàn (1937 - 1947), Gửi các anh (1950 - 1959), Ánh sáng và phù sa (1955 - 1960), Hoa ngày thường – Chim báo bão (1961 - 1967), Những bài thơ

đánh giặc (1970 - 1972), Đối thoại mới (1967 - 1973), Hoa trước lăng Người (1954

- 1976), Hái theo mùa (1973 - 1977), Hoa trên đá 1(1977 – 1984), Ta gửi cho mình

(1980 - 1985)

4 Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu đề tài này, chúng tôi đã sử dụng một số phương pháp chủ yếu sau:

- Phương pháp thống kê, phân loại

- Phương pháp phân tích ngôn từ

- Phương pháp đối chiếu, so sánh

5 Bố cục khóa luận

Trang 6

Trong khóa luận này ngoài phần mở đầu và phần kết luận, phần nội dung chúng tôi chia làm 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận và những vấn đề liên quan

Chương 2: Khảo sát, thống kê, phân loại từ láy trong thơ Chế Lan Viên

Chương 3: Hiệu quả nghệ thuật của từ láy trong thơ Chế Lan Viên

Trang 7

NỘI DUNG CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ LIÊN QUAN

1.1 Khái quát chung về từ tiếng Việt

Khái niệm về từ đầu tiên do các nhà nghiên cứu của ngôn ngữ Ấn – Âu đưa ra

Họ nhận thức từ như một cái gì có sẵn, thực hiện một chức năng cụ thể Từ đó, họ đưa ra định nghĩa từ cũng như đặc điểm của từ và lấy đó làm căn cứ để xem xét đến

từ trong các ngôn ngữ khác Thế nhưng, khi đem định nghĩa đó áp dụng vào tiếng Việt thì không phù hợp vì từ trong tiếng Việt không biến hình, có hiện tượng từ trùng hình vị và nhiều từ ghép có mô hình giống kết cấu tự do Vì hệ thống ngôn ngữ trên thế giới rất đa dạng và phong phú, mỗi ngôn ngữ khác nhau có hình thức ngữ âm và hình thức ngữ pháp của từ khác nhau nên đến nay vẫn chưa có một định nghĩa chung nhất về từ mà chỉ có thể tìm thấy những thuộc tính, bản chất chung cho

từ trong mọi ngôn ngữ

Đối với từ tiếng Việt cho đến nay cũng chưa có một định nghĩa nào chung nhất, mà các nhà ngôn ngữ vẫn có những định nghĩa về từ khác nhau:

Theo Hồ Lê: “Từ là đơn vị ngôn ngữ có chức năng định danh phi liên kết hiện thực hoặc chức năng mô phỏng tiếng động có khả năng kết hợp tự do, có tính vững chắc về cấu tạo và tính nhất thể về ý nghĩa” [14, tr.104]

Đỗ Hữu Châu lại cho rằng: “Từ của tiếng Việt là một hoặc một số âm tiết cố định, bất biến, có một ý nghĩa nhất định, nằm trong một phương thức hoặc một kiểu

Trang 8

cấu tạo nhất định, tuân theo những kiểu đặc điểm ngữ pháp nhất định, lớn nhất trong từ vựng và nhỏ nhất để cấu tạo câu” [4, tr.28]

Còn Đỗ Thị Kim Liên cho rằng: “Từ là một đơn vị của ngôn ngữ, gồm một hoặc một âm tiết có nghĩa nhỏ nhất, có cấu tạo hoàn chỉnh và vận dụng tự do để tạo nên câu” [15, tr.18]

Trên đây là những định nghĩa của các nhà nghiên cứu được coi là những định nghĩa đầy đủ nhất, khái quát nhất về từ tiếng Việt, nêu bật được những đặc điểm cơ bản của từ tiếng Việt mà chúng tôi đã tìm hiểu được Chúng tôi lấy đó làm cơ sở quan trọng để xác định các kiểu từ tiếng Việt

1.1.2 Các kiểu từ tiếng Việt

Việc phân loại từ về mặt cấu tạo là một việc làm được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm Với luận văn này, chúng tôi dựa vào kết quả nghiên cứu về cấu tạo từ của

Đỗ Thị Kim Liên để tìm hiểu từ tiếng Việt dưới hai kiểu: từ đơn và từ phức

1.1.2.1 Từ đơn

“Từ đơn là những từ do một hình vị tạo nên Đa số từ đơn tiếng Việt là từ đơn đơn âm” [15, tr.31]

Ví dụ:

cha, mẹ, sông, núi, bàn, ghế…

đi, đứng, buồn, thương, mong…

đẹp, xấu, xanh, đỏ, trắng,…

đã, sẽ, đang, còn, vẫn, cứ, lại…

ôi, hả, hở, ái, nhé…

một, hai, ba, bốn, năm…

“Từ đơn đa âm: gồm những từ vay mượn từ tiếng nước ngoài, chưa thuần hóa theo cấu tạo âm tiết tiếng Việt mà vẫn giữa nguyên theo cách phát âm của nước đó” [15, tr.32]

Ví dụ: Maxcơva, photocopy, Pênixilin,… Hoặc những từ gốc thuần Việt nhưng mỗi âm tiết đều không mang nghĩa Ví dụ: bồ hóng, bồ hòn, thắc mắc, bù

nhìn, bồ kết…

Trang 9

Tuy nhiên nếu xét về số lượng âm tiết mà giữa các âm tiết đó không có quan

hệ về ý nghĩa thì tác giả Nguyễn Tài Cẩn trong cuốn Ngữ pháp tiếng Việt lại xếp đó

Từ láy là từ được tạo nên từ phương thức láy âm, có tác dụng tạo nghĩa Ví dụ:

mấp mô, lấp lánh chập chờn, chon von,… [15, tr.32]

b Từ ghép

Từ ghép là một trong hai kiểu từ phức được tạo thành bằng cách ghép hai hoặc hơn hai hình vị theo một kiểu quan hệ từ pháp nhất định [15, tr.35]

Từ ghép gồm hai loại: từ ghép hợp nghĩa và từ ghép phân nghĩa

Từ ghép hợp nghĩa (còn gọi là từ ghép đẳng lập, từ ghép liên hợp, từ ghép song song, từ ghép tổng hợp): “thường gồm hai hình vị (loại 3 hình vị có số lượng hạn chế), có vai trò tương đương nhau, không phụ thuộc nhau, cùng tạo thành một kết hợp mang nghĩa khái quát, khác nghĩa từng thành tố” [15, tr.35]

Ví dụ: ngày đêm, phố xá, bút mực, buồn vui, tranh đấu…

Từ ghép phân nghĩa (còn gọi là từ ghép chính phụ, từ ghép phụ nghĩa, từ ghép phân loại): “gồm một hình vị mang nghĩa tổng loại chung (về sự vật, hoạt động, thuộc tính) và một hoặc một số hình vị đứng sau có tác dụng phân hóa nghĩa” [15, tr.36]

Ví dụ: xe đạp, máy ảnh, nhà thơ, mát tay, xấu bụng, ngủ gật…

1.2 Từ láy trong tiếng Việt

1.2.1 Khái niệm từ láy

Láy là một phương thức cấu tạo từ quan trọng của tiếng Việt Từ láy cũng đã

tồn tại nhiều tên gọi khác nhau như: từ phản điệp (Đỗ Hữu Châu), từ lắp láy (Hồ Lê), từ lấp láy (Nguyễn Nguyên Trứ), từ láy âm (Nguyễn Tài Cẩn, Nguyễn Văn

Trang 10

Tu), từ láy (Đào Thản, Hoàng Văn Hành, Nguyễn Thiện Giáp, Đỗ Hữu Châu, Diệp Quang Ban, Đỗ Thị Kim Liên) Và hiện nay tên gọi từ láy được dùng phổ biến nhất

Các nhà nghiên cứu ngôn ngữ học cũng đã đưa ra những khái niệm khác nhau

về từ láy trong tiếng Việt Với đề tài này, chúng tôi xin chỉ ra những định nghĩa tiêu biểu sau:

Diệp Quang Ban định nghĩa: “Từ láy là một kiểu từ phức (từ đa tiết) được tạo

ra bằng phương thức hòa phối ngữ âm có tác dụng tạo nghĩa” [2, tr.58]

Đỗ Hữu Châu lại định nghĩa: “Từ láy là những từ được cấu tạo theo phương thức láy, đó là phương thức lặp lại toàn bộ hay bộ phận hình thức âm tiết (với những thanh điệu giữ nguyên hay biến đổi theo quy tắc biến thanh, tức là quy tắc thanh điệu, biến đổi theo hai nhóm, nhóm cao: thanh hỏi, thanh sắc, thanh ngang và nhóm thấp: thanh huyền, thanh ngã, thanh nặng) của một hình vị hay đơn vị có nghĩa” [6, tr.41]

Hoàng Văn Hành quan niệm: “Từ láy, nói chung, là từ được cấu tạo bằng cách nhân đôi tiếng gốc theo những quy tắc nhất định, sao cho quan hệ giữa các tiếng trong từ vừa điệp, vừa đối, vừa hài hòa với nhau về âm và về nghĩa, có giá trị biểu trưng hóa” [11, tr.27]

Đỗ Thị Kim Liên định nghĩa: “Từ láy là những từ được cấu tạo dựa trên

phương thức ngữ âm Ví dụ: mấp mô, lấp lánh, chập chờn, chon von…” [15, tr.32]

Nhìn chung, các nhà ngôn ngữ tuy có sự khác nhau trong cách định nghĩa về

từ láy nhưng tựu chung lại các tác giả đều cho rằng từ láy được hình thành theo cơ chế là sự hòa phối về âm và về nghĩa mà điệp và đối là những quy tắc hay là những hình thái thể hiện sự hòa phối đó

12.2 Phân loại từ láy trong tiếng Việt

1.2.2.1 Phân loại từ láy về mặt ngữ âm

“Từ láy được cấu tạo theo phương thức hòa phối ngữ âm Phương thức này được biểu hiện ở quy tắc điệp và đối Ở đây, điệp được hiểu là sự lặp lại, sự thống nhất về âm, nghĩa; còn đối được hiểu là sự sai khác, sự dị biệt về âm và nghĩa Đồng nhất và dị biệt có quy tắc chứ không phải là tùy tiện, là ngẫu nhiên” [11, tr.25]

Trang 11

Vì vậy khi xem xét từ láy, mặt ngữ âm được coi là dấu hiệu cơ bản Về mặt cấu tạo, từ láy tiếng Việt được phân loại trên hai cơ sở sau:

- Số lượng âm tiết trong từ láy

- Sự đồng nhất hay khác biệt trong thành phần cấu tạo của các thành tố trong

từ láy là do cách phối hợp ngữ âm tạo nên

Căn cứ số lượng tiếng trong từ láy, trong tiếng Việt, có các kiểu từ láy hai tiếng, từ láy ba tiếng, từ láy bốn tiếng mà trong truyền thống tiếng Việt thường gọi

là từ láy đôi, từ láy ba, từ láy tư

Căn cứ vào sự đồng nhất hay khác biệt trong thành phần cấu tạo của các thành

tố trong từ láy do hòa phối ngữ âm tạo nên (quy tắc điệp đối), các từ láy được phân loại thành từ láy hoàn toàn và từ láy bộ phận

a Từ láy hoàn toàn

Là những từ láy có sự đồng nhất, tương ứng hoàn toàn giữa các thành phần

cấu tạo của hai thành tố như: đùng đùng, bừng bừng… Từ láy hoàn toàn có các

thành tố giống hệt nhau về thành phần cấu tạo, chỉ khác nhau về trọng âm, thể hiện

ở độ nhấn mạnh và độ kéo dài trong phát âm đối với mỗi thành tố Trọng âm thường rơi vào tiếng thứ hai của từ láy

Tuy nhiên láy không phải là sự lặp lại âm thanh nguyên vẹn, mà là lặp lại âm thanh có biến đổi theo những quy tắc hòa phối ngữ âm chặt chẽ, và có tác dụng tạo nghĩa Điều này thể hiện ở từ láy hoàn toàn như sau:

+ Từ láy hoàn toàn điệp phụ âm đầu và khuôn vần, thanh điệu được chuyển đổi để tạo thế đối Do hiện tượng phát âm lướt nhẹ ở phụ âm đầu nên có thể xảy ra

hiện tượng biến thanh theo những quy tắc chặt chẽ Ví dụ: đo đỏ, tim tím, chồm

chỗm… Sự khác biệt về thanh điệu được thể hiện theo hai dấu hiệu: thứ nhất là đối

lập bằng - trắc, thanh bằng gồm có thanh ngang và thanh huyền; thanh trắc gồm thanh hỏi, thanh ngã, thanh sắc, thanh nặng Thứ hai là đối lập âm vực cao – thấp theo quy tắc cùng âm vực: thuộc về âm vực cao có thanh không dấu (thanh ngang), hỏi, sắc; thuộc về âm vực thấp có thanh huyền, ngã, nặng

Trang 12

+ Từ láy hoàn toàn giữa hai tiếng khác nhau về âm cuối Do hiện tượng phát

âm lướt nhẹ ở tiếng đầu tiên nên có thể xảy ra hiện tượng biến vần theo quy luật chặt chẽ: Các phụ âm tắc vô thanh –p, -t, -k (thể hiện bằng con chữ c và ch), sẽ chuyển thành các phụ âm vang mũi cùng cặp -m, -n, -ή (thể hiện bằng con chữ ng

và nh)

Ví dụ: p-m: chiếp chiếp  chiêm chiếp

t-n: sát sát  san sát k- ή: vặc vặc  vằng vặc, éc éc  eng éc, chếch chếch  chênh chếch

Sự chuyển đổi âm cuối ở từ láy hoàn toàn, cũng như sự biến đổi nêu trên, nhằm tăng cường khả năng hòa phối ngữ âm tạo nên sự dễ đọc, dễ nghe, vì vậy không có tính bắt buộc

b Từ láy bộ phận

Từ láy bộ phận là từ láy trong đó có sự phối hợp ngữ âm của từng bộ phận âm tiết theo những quy tắc nhất định “Trong tiếng Việt, kiểu láy bộ phận là kiểu láy chính, xét cả về số lượng từ, cả về tính đa dạng, phong phú của quy tắc phối hợp âm thanh” [16, tr.26]

Đặc trưng của từ láy bộ phận là trong cấu tạo của nó tiếng gốc chỉ được lặp lại một phần ở tiếng láy Nếu phần được lặp lại là khuôn vần, còn phần dị biệt hóa là phụ âm đầu thì chúng ta có phần láy vần (còn gọi là từ láy bộ phận điệp vần) Nếu phần được lặp lại là phụ âm đầu còn phần dị biệt hóa là khuôn vần thì chúng ta có

từ láy âm (còn gọi là từ láy bộ phận đối vần)

+ Từ láy vần: là từ láy trong đó phần vần được lặp lại ở cả hai âm tiết của từ láy đôi, còn phụ âm đầu khác biệt nhau (điệp khuôn vần, đối phụ âm đầu) Ví dụ:

lác đác, lò dò, tần ngần… Cả hai yếu tố phải giống nhau hoàn toàn ở phần vần và

thanh điệu phải phù hợp với luật cùng âm vực

+ Từ láy âm: là từ được cấu tạo bằng cách nhân đôi tiếng gốc, vừa bảo tồn phụ

âm đầu, vừa kết hợp một khuôn vần mới từ ngoài vào tiếng láy để tạo thế vừa điệp vừa đối, ví dụ như: thật  thật thà, bềnh  bập bềnh… Như vậy có thể thấy từ láy

Trang 13

âm có hai loại: một loại tiếng gốc đứng trước như: đỏ  đỏ đắn, xinh  xinh xắn; một loại tiếng gốc đứng sau như: lòe  lập lòe, chóe  chí chóe…

Nguyễn Tài Cẩn nghiên cứu về từ láy âm đã định nghĩa: “Từ láy âm là loại từ ghép trong đó, theo con mắt nhìn của người Việt hiện nay các thành tố trực tiếp được kết hợp lại với nhau chủ yếu là theo quan hệ ngữ âm Quan hệ ngữ âm được thể hiện ra ở chỗ là các thành tố trực tiếp phải có sự tương ứng với nhau về hai mặt: mặt yếu tố siêu âm đoạn tính (thanh điệu) và mặt yếu tố âm đoạn tính (phụ âm đầu,

âm chính giữa vần và âm cuối vần)” [3, tr.109-110]

Trong lịch sử nghiên cứu từ láy tiếng Việt, về cơ bản từ láy được phân loại như trên, nhưng trong từng kiểu loại tồn tại những trường hợp đặc biệt, ngoại lệ, đây không phải là vấn đề nghiên cứu chính của luận văn này Việc tìm hiểu đặc điểm và phân loại từ láy như trên chỉ là một trong những cơ sở để chúng tôi khảo sát và tìm hiểu những giá trị của từ láy trong thơ Chế Lan Viên

1.2.2.2 Phân loại từ láy về mặt ngữ nghĩa

Dựa vào tiêu chí nghĩa để phân loại từ láy trong tiếng Việt là một việc làm gặp không ít khó khăn Chính vì vậy trong lịch sử nghiên cứu từ láy tiếng Việt còn tồn tại nhiều kiểu phân loại khác nhau khi sử dụng tiêu chí này

a Xét tác dụng của các bộ phận tham gia cấu tạo nghĩa của từ láy, Diệp Quang Ban chia từ láy thành ba nhóm (chủ yếu nói về từ láy đôi):

- Từ láy phỏng thanh: là từ láy mô phỏng âm thanh, bao gồm:

+ Từ nhại thanh, như: oa oa, gâu gâu, đùng đùng

+ Từ “tiếng vang”, như: cu cu, bìm bịp, bình bịch

- Từ láy sắc thái hóa: là từ láy trong đó phần gốc còn đủ rõ nghĩa và chi phối nghĩa cơ sở của toàn bộ từ láy, phần láy (và cơ chế láy) đem lại một sắc thái ý nghĩa nào đó khiến cho từ láy này khác với từ láy khác có cùng phần gốc, và khác với

phần gốc khi nó có khả năng đứng một mình Ví dụ: chắc chắn, chăng chắc, đo đỏ,

đẹp đẽ (so với chắc, đỏ, đẹp)

- Từ láy cách điệu: là từ láy không chứa bộ phận còn đủ rõ nghĩa từ vựng, hoặc vẫn có thể chứng minh nghĩa của một bộ phận nào đó nhưng nó không còn tác

Trang 14

dụng làm nghĩa cơ sở của toàn từ nữa Ví dụ: bâng khuâng, đủng đỉnh, linh tinh [2,

tr.73 - 74]

b Dựa vào “sự tương quan âm – nghĩa” trong từ láy, Hoàng Tuệ chia từ láy thánh ba nhóm khác nhau:

- Nhóm thứ nhất là những từ mô phỏng tiếng vang như: gâu gâu, cu cu…

- Nhóm thứ hai là những từ bao gồm một âm tiết – hình vị như: làm lụng,

mạnh mẽ, loanh quanh…

- Nhóm thứ ba là những từ không bao gồm một âm tiết – hình vị, nhưng lại là

những từ có biểu cảm rất rõ như: lác đác, bâng khuâng, bịn rịn, long lanh… [23,

tr.21 – 24]

c Hoàng Văn Hành lại căn cứ vào tính có lý do của từ láy để chia từ láy thành

ba nhóm:

- Nhóm từ láy mô phỏng âm thanh như: bồm bộp, thánh thót, tí tách…

- Nhóm từ láy biểu trưng hóa ngữ âm và chuyên biệt hóa về ngữ nghĩa: dãi

dầm, đau đớn, vàng vọt, xanh xao…

- Nhóm từ láy biểu trưng hóa ngữ âm như: lênh đênh, lác đác, bâng khuâng,

lâng lâng… [11, tr.73]

Từ sự phân loại từ láy trong tiếng Việt của các tác giả như đã nêu trên, để có được sự thống nhất khi xác định từ láy trong thơ Chế Lan Viên, chúng tôi có một số phân biệt và quy ước sau:

- Những từ ghép mà tình cờ giữa hai tiếng có các yếu tố ngữ âm giống nhau

như các từ: buôn bán, leo trèo, tranh giành… không được coi là từ láy

- Một số từ hai âm tiết rất phù hợp với quy tắc láy đôi và thanh điệu song cả

hai âm tiết đều có nghĩa (hoặc hiện nay hoặc trước kia có nghĩa) như: hỏi han, chùa

chiền, tuổi tác, đền đài…; những vốn từ là gốc hán như: hùng hổ, bàng hoàng, lưỡng lự… không được coi là từ láy

- Có sự phân biệt giữa từ láy và dạng láy nên các từ như: ai ai, đêm đêm,

người người… cũng không được xếp vào danh sách các từ láy

Trang 15

- Những từ có hình thức láy, một âm tiết của nó tách riêng không thể dùng độc

lập mà vẫn mang ý nghĩa của cả từ như: ba ba, cào cào, châu chấu, đu đủ, kền

kền…, và những từ có hình thức láy mà một âm tiết riêng có thể dùng một mình với

ý nghĩa của cả từ như se sẻ, chuồn chuồn, bươm bướm… Đây là những trường hợp

trung gian giữa từ láy và từ đơn đa âm, có thể cho là từ đơn bởi vì xét về ý nghĩa chúng gọi tên thông thường như các tên khác, nên chúng tôi không cho đó là từ láy

1.3 Chế Lan Viên – cuộc đời và sự nghiệp sáng tác

1.3.1 Con người và cuộc đời

Chế Lan Viên tên thật là Phan Ngọc Hoan, sinh ngày 23 tháng 10 năm 1920 (tức ngày 12 tháng 9 năm Canh Thân) Quê tại làng An Xuân, xã Cam An, huyện Cam Lộ, tỉnh Quảng Trị Song từ lúc lớn lên, học hành, ông lại gắn bó đặc biệt với Bình Định Vì vậy mà quê hương Quảng Trị cùng mảnh đất Bình Định đã phần nào làm nên tính cách tâm hồn và bút pháp thơ ông Ông làm thơ lúc 12, 13 tuổi ở huyện lỵ An Nhơn, lủi thủi làm và cũng không ý thức đó là thơ, ký những cái tên chỉ địa danh ngoài Quảng Trị: Mai Lĩnh, Thạch Hãn, Thạch Mai Năm

1939, Chế Lan Viên ra Hà Nội học, sau đó vào Sài Gòn làm báo rồi ra Thanh Hóa và Huế dạy học Cách mạng tháng Tám nổ ra, ông tham gia phong trào Việt Minh tại Quy Nhơn, rồi ra Huế tham gia Đoàn xây dựng cùng với Hoài Thanh, Lưu Trọng Lư, Đào Duy Anh Thời kỳ này, Chế Lan Viên viết bài và làm biên

tập cho các báo: Quyết thắng, Cứu quốc, Kháng chiến Phong cách thơ của ông giai đoạn này cũng chuyển dần về trường phái hiện thực

Tháng 7 năm 1949, trong chiến dịch Tà Cơn – đường 9 (Quảng Trị), Chế Lan Viên vinh dự gia nhập Đảng Cộng sản Đông Dương:

“Có phải quê hương gọi ta về đấy nhỉ?

Dặn dò ta, khuyên nhủ ta thêm Trong buổi đầu, ta theo Đảng đi lên Ngày vào Đảng đất trời như đổi khác Những vật vô tri cũng làm rưng nước mắt

Đá sỏi cây cằn, sao bỗng thấy thiêng liêng?

Trang 16

Giọng nói quen nghe, màu đất quen nhìn Bỗng chan chứa trăm điều chưa nói hết!

Tôi cúi đầu nghe, dặt dìu, tha thiết Cây cỏ trời mây, kẻ mất người còn Trong mơ hồ, trăm tiếng của quê hương” [20, tr.243]

Năm 1954, Chế Lan Viên tập kết ra Bắc làm biên tập viên báo Văn học Từ

năm 1956 đến năm 1958, ông công tác ở phòng văn nghệ, Ban tuyên huấn trung

ương và đến cuối năm 1958 trở lại làm biên tập tuần báo Văn học (sau là báo

Văn nghệ) Từ năm 1963 ông là Ủy viên Thường vụ Hội nhà văn Việt Nam, Ủy

viên Ban thư kí Hội Nhà văn Việt Nam Ông cũng là Đại biểu Quốc hội các khóa

IV, V, VI, VII, Ủy viên Ban văn hóa - giáo dục của Quốc hội Sau 1975, ông vào sống tại thành phố Hồ Chí Minh Ông mất ngày 19 tháng 6 năm 1989 (tức ngày

16 tháng 5 năm Kỷ Tỵ) tại bệnh viện Thống Nhất, thành phố Hồ Chí Minh Ông được nhà nước trao tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật đợt 1 năm 1996

Có thể nói, Chế Lan Viên là một nhà thơ đã sống hết mình cùng sự nghiệp cách mạng, cùng thời đại và luôn đứng ở đỉnh cao của sáng tạo nghệ thuật Ông

là một nhà thơ tài năng, một nhà văn hóa đã có những đóng góp to lớn cho nền thơ Việt Nam và văn hóa Việt Nam

1.3.2 Sự nghiệp sáng tác

Hơn 50 năm cầm bút, Chế Lan Viên đã để lại một khối lượng sáng tác lớn và

đa dạng: 14 tập thơ, 6 tập văn xuôi, 8 tập phê bình, tiểu luận, hàng ngàn trang di cảo Trong đó có nhiều tác phẩm có tiếng vang lớn trong dư luận đánh dấu tài năng đặc sắc của một nhà thơ tài hoa, độc đáo, trong nền văn học Việt Nam hiện đại Tuy nhiên, con đường thơ của Chế Lan Viên “trải qua nhiều biến động, nhiều bước ngoặt với những trăn trở, tìm tòi không ngừng của nhà thơ”, thậm chí có một thời gian dài im lặng (1945 – 1958)

Trước Cách mạng tháng Tám, thơ Chế Lan Viên là một thế giới đúng nghĩa

“trường thơ loạn” Tập thơ Điêu tàn viết lúc ông mới 17 tuổi (1937) Sự xuất

Trang 17

hiện đột ngột của tập thơ Điêu tàn giữa làng thơ Việt Nam như một niềm “kinh

dị” Nó dựng lên một thế giới đầy sọ người, xương máu, cùng yêu ma… Giữa đồng bằng văn học Việt Nam ở nửa thế kỷ hai mươi, nó đứng sững như một cái

tháp Chàm, chắc chắn và lẻ loi, bí mật Điêu tàn gồm 37 bài thơ thể hiện khá đầy

đủ và sâu sắc cảm xúc của Chế Lan Viên về nước non Chiêm Thành Những tháp Chàm “điêu tàn” là một nguồn cảm hứng lớn đáng chú ý của Chế Lan Viên Qua những phế tích đổ nát và không kém phần kinh dị trong thơ ông, ta thấy ẩn hiện hình bóng của một vương quốc hùng mạnh thời vàng son, cùng với nỗi niềm hoài

cổ luôn đau đáu trong tâm hồn nhà thơ

Sau Cách mạng tháng Tám, thơ ông đã đến với cuộc sống nhân dân và đất

nước, thấm nhuần ánh sáng của cách mạng, và có những thay đổi rõ rệt Có thể

nói rằng Chế Lan Viên đã đi từ “phù du” đến “Ánh sáng và phù sa”, từ “thung lũng đau thương ra cánh đồng vui” Các tập thơ ông viết giai đoạn này thường tập trung vào những vấn đề cụ thể mà cuộc đấu tranh cách mạng đòi hỏi thể hiện

Gửi các anh (1950 – 1959) là tập thơ có ý nghĩa nhận đường của nhà thơ sau hơn

10 năm theo Đảng, gắn mình vào cuộc kháng chiến của nhân dân Viết về những người kháng chiến và tình cảm quốc tế vô sản, tập thơ đã đánh dấu sự chuyển biến lớn lao, căn bản của Chế Lan Viên cả về tư tưởng, cảm xúc lẫn cách thể hiện

Nhưng tập thơ thật sự đánh dấu bước chuyển biến vượt bậc và thành công

của Chế Lan Viên đó là tập thơ Ánh sáng và phù sa (1955 – 1960) Tập thơ gồm

69 bài với đề tài và cảm hứng phong phú Tập thơ phản ánh, ngợi ca cuộc sống mới đang lớn dậy từng ngày, phản ánh những thay đổi cơ bản trong tâm hồn nhà thơ đồng thời xuyên suốt tập thơ là sự đấu tranh dai dẳng và dằn vặt của con người công dân – nghệ sĩ muốn đẩy lùi nỗi đau cũ để hướng tới niềm vui mới

Sau Ánh sáng và phù sa là những tập thơ được viết trong những năm kháng chiến chống Mỹ như: Hoa ngày thường – Chim báo bão (1961 – 1967), Những

bài thơ đánh giặc (1970 – 1972), Đối thoại mới (1967 – 1973), Hoa trước lăng Người (1954 – 1976) Thơ Chế Lan Viên thời chống Mỹ mang tính thời sự, chính

Trang 18

luận và mang đậm tính sử thi Nhà thơ đã phản ánh được một thời kì lịch sử đau thương mà anh dũng của dân tộc ta

Thơ Chế Lan Viên sau 1975 được in trong các tập: Hái theo mùa (1973 – 1977), Hoa trên đá (1977 – 1984), Ta gửi cho mình (1980 – 1985), và ba tập Di

cảo thơ do vợ của ông sưu tập sau khi ông qua đời Qua những vần thơ ở giai

đoạn này, người ta nhận ra ở Chế Lan Viên một chất thơ mới khi nhà thơ đã bước vào tuổi sáu mươi Thơ Chế Lan Viên dần trở về đời sống thế sự và những

trăn trở của cái “tôi” trong sự phức tạp, đa diện và vĩnh hằng của đời sống

Phong cách thơ Chế Lan Viên rất rõ nét và độc đáo, nổi bật nhất là chất suy tưởng triết lí mang vẻ đẹp trí tuệ và sự đa dạng, phong phú của hình ảnh thơ

được sáng tạo bởi một ngòi bút thông minh, tài hoa Trong những năm cuối đời,

nhà thơ như chạy đua với thời gian để viết, để chinh phục những đỉnh cao nghệ thuật đang còn dang dở Thơ Chế Lan Viên giai đoạn này là sự góp nhặt của muôn mặt đời thường Ông đã hòa nhập hết mình vào cuộc đời trần thế đầy trăn trở

Ba tập Di cảo thơ của Chế Lan Viên là hành trình đi tìm lại chính mình, là

những lo âu khi giá trị tinh thần bị đánh tráo: “Lộn trái”, “Thời thượng” Dù bị hối thúc bởi “thời gian nước xiết”, bởi bệnh tật, Chế Lan Viên vẫn bình tĩnh đón nhận cuộc đời, một sự bình thản đến sắc lạnh Cái chết và sự hư vô tuy là nỗi ám ảnh, là nỗi “buồn siêu thoát” nhưng vẫn không khiến nhà thơ sợ hãi, ông vẫn tự tin vào chính mình: “Từ thế chi ca”

Ngoài các tác phẩm thơ, sự nghiệp của Chế Lan Viên còn phải kể đến các

tập bút kí đặc sắc, các tiểu luận – phê bình mang đậm tư duy sắc sảo Đó là: Nói

chuyện văn thơ (1960), Vào nghề (1962), Những ngày nổi giận (1966), Bay theo đường dân tộc đang bay (1977), Từ gác Khuê Văn đến quán Trung Tân (1981), Nghĩ cạnh dòng thơ (1982), Ngoại vi thơ (1987) Tất cả phản ánh một trí tuệ tài

năng hết lòng vì nghệ thuật, vì một nền văn chương Việt Nam hiện đại

Trang 19

1.3.3 Đặc điểm ngôn ngữ thơ

Trong quá trình tu dưỡng nghệ thuật của nhà văn, nhà thơ thì xu hướng cá thể hóa trong ngôn ngữ nghệ thuật là điều tất yếu Ngôn ngữ thơ Chế Lan Viên cũng mang rõ nét dấu ấn cá tính sáng tạo Chế Lan Viên là nhà thơ nắm vững lý luận và

rất có ý thức sáng tạo trong ngôn ngữ nghệ thuật Trong bài viết Ngôn ngữ quần

chúng và của nhà văn, Chế Lan Viên đã xác định hai mặt của vấn đề kế thừa và

sáng tạo: “Mỗi nhà văn đều làm hai mặt công việc lớn lao này: Họ khai thác những khả năng, những tiềm lực của tiếng nói dân tộc Và trong tiếng nói chung của dân tộc, họ thêm cách nói riêng của mỗi người vốn có một tâm hồn, một phong cách riêng Nhưng chính cách nói riêng ấy cũng là do quy luật chung, đặc điểm chung của tiếng nói dân tộc đẻ ra, bồi đắp cho”

Chế Lan Viên coi trọng kĩ thuật nghề nghiệp, việc chọn chữ, chọn lời, sắp xếp

từ ngữ đúng chỗ, đúng lúc… nhưng nhà thơ cũng cực lực phản đối kĩ thuật chủ nghĩa “đưa xiếc vào văn”, làm xảo thuật ngôn từ Ngôn ngữ thơ cần hướng về tương lai, làm nên một sự trong sáng hiện đại, không chỉ hát mà còn phải nói, phải có giọng điệu phù hợp với thời đại thế kỉ XX, đúng như Chế Lan Viên nói “Phải văn

xuôi” Tác giả Đoàn Trọng Huy trong Nghệ thuật Chế Lan Viên khi nghiên cứu về

ngôn ngữ thơ Chế Lan Viên, tác giả đã kết luận: “Ngôn ngữ thơ Chế Lan Viên nổi bật có ba nét đặc sắc: mật độ tu từ đậm đặc; chất duy lí sắc sảo; tính thời sự - thời đại” [12, tr.88]

Ngay sau khi Điêu tàn xuất hiện (1937), Chế Lan Viên lập tức trở thành trung

tâm chú ý của người yêu thơ Sở dĩ người ta chú ý vì Chế Lan Viên đã làm cho người đọc “sửng sốt” ngay ở tập thơ đầu tay của mình Ngay ở lời đề tựa, như một tuyên ngôn thơ, thi sĩ đã ném ra giữa thi đàn một loạt những lời lẽ mang tính khẳng định, không phải bằng thứ ngôn ngữ mượt mà vốn có của phong cách thơ trữ tình quen thuộc Trái lại, đó là thứ ngôn ngữ rất “kinh dị”, đã gây được ấn tượng mạnh ở

người đọc, và gần như cả tập thơ Điêu tàn là sự minh họa cho tuyên ngôn ấy Ở đó, chủ thể trữ tình đã từ chối cuộc đời thực, dù đó là những ngày xuân tươi đẹp: “Tôi

có chờ đâu, có đợi đâu Đem chi xuân đến gợi thêm sầu” [20, tr.74] Với lối tư duy

Trang 20

ấy, ngôn ngữ của Điêu tàn là một trường liên tưởng với những định danh, biểu thị

khái niệm của sự chết chóc

Cách mạng tháng Tám thành công đã thổi một luồng gió mới vào thơ Chế Lan Viên, nó như vực nhà thơ trở lại với đời, để rồi sau đó ông cho ra mắt bạn đọc tập

thơ Gửi các anh (1950 – 1959) Có thể nói, Gửi các anh đã đưa tâm hồn nhà thơ từ

cõi chết trở về Vũ Tuấn Anh thật chí lý khi nhận xét cái được, cái chưa được của bước chuyển giao thơ Chế Lan Viên “… cả tập thơ vẫn cho ta cảm giác gò bó, khuôn cứng, thiếu sự thoải mái, bay bổng của cảm hứng sáng tạo “Gửi các anh” đánh dấu sự chuyển biến lớn lao, căn bản của thơ Chế Lan Viên về cả tư tưởng, cảm xúc lẫn cách thể hiện trên con đường đi với cách mạng” [1, tr.24]

Rồi như sự trở về thực thụ, “từ thung lũng đau thương ra cánh đồng vui” là

cảm hứng chủ đạo của tập thơ Ánh sánh và phù sa Với tập thơ này, có thể nói Chế

Lan Viên đã “từ chân trời của một người đến với chân trời của mọi người” Với tâm hồn bay bổng, nhà thơ mở rộng cửa cho cuộc đời mới tràn vào trong thơ Nếu như qua Điêu tàn, bạn đọc “ghê sợ” bởi chất liệu xây dựng lời thơ là những lớp từ ngữ biểu thị hình ảnh, khái niệm có tính chất biểu tượng, tượng trưng của thế giới bên

kia như là: mồ hoang, xương sọ, thì đến Ánh sáng và phù sa “nhà thơ đã sử dụng tất

cả nguồn dự trữ giàu có của ngôn ngữ dân tộc, thổi vào đó một nội dung mới mẻ, một sắc thái lạ lẫm, khiến người đọc khó quên một hình ảnh, một chi tiết được sử dụng” [1, tr.135] Giữa “cánh đồng vui” bốn bề rộn ràng ánh sáng, khó mà đưa hết dung lượng cuộc sống đầy sắc biếc vào thơ bằng những biện pháp ẩn dụ, hoán dụ,

so sánh tu từ… Phải cách tân hính thức ngôn ngữ thơ và “Chế Lan Viên đã là một mũi tiên phong nhạy cảm trong việc mở rộng tầm vóc và dung lượng thơ để bắt kịp nhịp sống hiện đại, liên tiếp cho ra đời những bài thơ dài, có dáng dấp những tùy bút – thơ để thể hiện những vấn đề lớn, những tình cảm lớn” [1, tr.40] Có thể nói,

phong cách thơ Chế Lan Viên trước năm 1975 đã định hình từ Ánh sáng và phù sa đến những tập thơ như: Hoa ngày thường, chim báo bão, Những bài thơ đánh giặc,

Đối thoại mới, Hoa trước lăng Người, Hái theo mùa, Hoa trên đá, Ta gửi cho mình

như một bước tiếp nối và không ngừng phát triển nâng cao tính nghệ thuật Ngôn

Trang 21

ngữ Chế Lan Viên sử dụng trong những tập thơ kể trên không ngừng mở rộng theo

sự mở rộng đề tài “Ông huy động vào thơ đủ mọi loại từ ngữ chính trị, tôn giáo, quân sư… và sử dụng nó một cách đắc địa, tự nhiên Ông cũng là nhà thơ biết cách khua động những con chữ, làm sống dậy những từ ngữ quen thuộc Ông chơi chữ xưa phù du mà nay đã phù sa, Thương một đời đâu phải tạm thương, Phản diện – ca hay phản diện – ca về học thuyết Nichxơn…, tạo ra nhiều khái niệm mới, từ ngữ mới và những từ ghép kiểu như những – pháo – sáng – ngoại tình thắp những tiệc – hoa – đăng – của – quỷ, Cùng với tội ác máu me cùng hoa – chúc – động – phòng… Cũng nhiều khi ma lực của ngôn ngữ đã dẫn ông đi quá xa để viết những câu thơ rắc rối, cầu kỳ, khó hiểu” [1, tr.39] Có thế thấy, càng về sau ngôn ngữ trong những tập thơ của Chế Lan Viên càng mang tính dân tộc, thể hiển những vấn đề chân lý, thời đại

Thơ Chế Lan Viên là “một trong những phong cách đặc sắc nhất của thơ Việt Nam hiện đại” [1, tr.40] Với đặc điểm ngôn ngữ thơ như vậy, chúng ta nhận thấy rằng Chế Lan Viên đã đến với bạn đọc bằng “nẻo đi riêng” độc đáo và đầy cá tính

Tiểu kết: Trong chương 1, chúng tôi đã trình bày toàn bộ những vấn đề về cơ

sở lý luận có liên quan đến khóa luận như: Khái quát chung về từ tiếng Việt, từ láy trong tiếng Việt, Chế Lan viên – cuộc đời và sự nghiệp sáng tác Chúng tôi có thể

khái quát lại toàn bộ vấn đề như sau:

Về vấn đề khát quát chung về từ tiếng Việt, chúng tôi đã trình bày các quan niệm của một số nhà ngôn ngữ học về khái niệm từ và các kiểu từ trong tiếng Việt

Từ đó, chúng tôi đi vào tìm hiểu từ láy trong tiếng Việt

Tìm hiểu vấn đề từ láy trong tiếng Việt, chúng tôi đưa ra các quan niệm về từ láy và các cách phân loại từ láy của các nhà nghiên cứu hiện đang tồn tại trong thực

tế Sự phân loại từ láy trong tiếng Việt được dựa trên hai tiêu chí hình thức ngữ âm

và ngữ nghĩa của từ láy bởi cấu tạo từ láy trong tiếng Việt là rất đa dạng, phong phú

về kiểu loại Qua đó, chúng tôi thống nhất một số vấn đề cho việc khảo sát, phân loại và thống kê từ láy trong thơ Chế Lan Viên: những từ ghép mà tình cờ giữa hai tiếng có các yếu tố ngữ âm giống nhau như “buôn bán”, một số từ hai âm tiết phù

Trang 22

hợp với quy tắc láy đôi và thanh điệu nhưng cả hai âm tiết đều có nghĩa hoặc một

âm tiết bị mờ nghĩa vì lâu không được sử dụng như “đền đài”, những vốn từ là gốc hán như “hùng hổ”, những từ có hình thức lặp mà cả hai từ đều có nghĩa như “ai ai, đêm đêm, người người”, những trường hợp trung gian giữa từ láy và từ đơn đa âm như “cào cào, chuồn chuồn”, chúng tôi đều không cho đó là từ láy

Tìm hiểu về Chế Lan Viên – cuộc đời và sự nghiệp sáng tác, chúng tôi tìm hiểu về con người và cuộc đời nhà thơ, cùng sự nghiệp sáng tác và đặc điểm ngôn ngữ thơ ông Đó là cơ sở để chúng tôi có điều kiện đi sâu khám phá ý nghĩa, tác dụng của từ láy trong thơ Chế Lan Viên

Trang 23

2.1 Thống kê và phân loại từ láy theo đặc điểm cấu tạo

2.1.1 Cấu tạo từ láy xét theo phương diện ngữ âm

2.1.1.1 Cấu tạo xét theo âm đoạn tính

Thống kê và phân loại từ láy trong thơ Chế Lan Viên theo âm đoạn tính (phụ

âm đầu, âm chính giữa vần và âm cuối vần), chúng tôi thu được kết quả như sau:

a Các từ giống nhau ở phụ âm đầu, khác nhau ở âm chính giữa vần và âm cuối vần, bao gồm: 306 từ với tổng số lượt dùng là 578 lượt

Ví dụ: xa xôi, lộng lẫy, vội vàng

b Các từ khác nhau ở phụ âm đầu, giống nhau ở phần vần (âm chính giữa vần,

âm cuối vần) gồm có 89 từ với tổng số 186 lượt dùng Trong đó có một từ láy có giống nhau ở âm chính vần nhưng lại có sự biến đổi ở âm cuối vần theo quy tắc phụ

âm tắc vô thanh được chuyển thành phụ âm vang mũi cùng cặp c  ng đó là từ: eng

éc (éc éc  eng éc)

Ví dụ: chới với, trơ vơ, luống cuống

c Các từ giống nhau ở phụ âm đầu và vần gồm có 79 từ với tổng số 121 lượt

dùng

Ví dụ: xa xa, văng vẳng, mơn mởn

d Các từ giống nhau ở phụ âm đầu và vần, trong đó âm chính giữa vần giống nhau, còn âm cuối vần biến đổi theo quy tắc các phụ âm tắc vô thanh chuyển thành các phụ âm vang mũi cùng cặp Chúng tôi đã thống kê được trong 11 tập thơ của Chế Lan Viên, ông đã sử dụng 8 từ láy kiểu này với tổng số 11 lượt dùng đó là các từ:

Trang 24

t  n: biệt biệt  biền biệt, phớt phớt  phơn phớt, vụt vụt  vùn vụt

từ với tổng sổ 63 lượt dùng trong 11 tập thơ của ông

Ví dụ: ríu rít, xạc xào, mời mọc

g Các từ giống nhau ở phụ âm đầu, âm cuối vần, nhưng khác nhau ở âm chính giữa vần, bao gồm 11 từ với tổng sổ 12 lượt dùng

Ví dụ: hổn hển, vụn vằn, lủng liểng

h Các từ giống nhau về âm chính vần, khác nhau về phụ âm đầu và âm cuối

vần gồm có 4 từ với 4 lượt dùng Đó là các từ: o oe, ỡm ờ, ào ạt, bạt ngàn

Từ thống kê trên, chúng tôi lập bảng so sánh việc sử dụng từ láy của Chế Lan Viên theo cấu tạo âm đoạn tính như sau:

Giống phụ âm đầu, âm chính giữa

Từ láy không theo cấu tạo âm đoạn

Trang 25

Như vậy, có thể thấy về mặt âm đoạn tính, trong tổng số từ láy mà Chế Lan Viên sử dụng trong thơ ông thì từ láy giống nhau về phụ âm đầu chiếm số lượng lớn nhất, chiếm tới 56,14%, đứng thứ hai là từ láy giống nhau về phần vần với 16,33%, chiếm tỉ lệ ít nhất là loại từ láy giống nhau về âm chính vần chỉ chiếm 0,73%

2.1.1.2 Cấu tạo xét theo âm vị siêu đoạn tính

Xét từ láy theo cấu tạo siêu âm đoạn tính, chúng tôi dựa vào lý thuyết trong

cuốn Ngữ pháp Tiếng Việt (1996), NXB Đại học Quốc gia Hà Nội của tác giả

Nguyễn Tài Cẩn Theo nghiên cứu của Nguyễn Tài Cần thì: “Về mặt yếu tố siêu âm đoạn tính, các thành tố nói chung đều phải có thanh thuộc cùng một âm vực: thuộc

âm vực cao (thanh ngang, hỏi, sắc) hoặc thuộc âm vực thấp (thanh huyền, ngã, nặng)” [3, tr.110]

Chúng tôi đã tiến hành khảo sát, thống kê và phân loại từ láy trong 11 tập thơ của Chế Lan Viên theo yếu tố siêu âm đoạn tính và thu được kết quả như sau: trong tổng số 545 từ láy với 999 lượt dùng thì có 303 từ láy cùng thuộc âm vực cao với

581 lượt dùng, 204 từ láy cũng thuộc âm vực thấp với 354 lượt dùng, còn có 38 từ láy không cùng thuộc âm vực với 64 lượt dùng

Trang 26

Đỏ đỏ Phất phơ Lớn lao

Vẻ vang Thăm thẳm

Lở lói Lắt lẻo

Thèm thuồng Rộn rịp

Bỡ ngỡ Ngại ngùng Gầy guộc Đẫy đà Gần gũi Cãi cọ Vội vàng

Không cùng

Lẳng lặng

Im lìm Xán lạn Chán chường Cộc lốc Hài hước

Trang 27

Từ láy thuộc âm vực cao trong thơ Chế Lan Viên chiếm số lượng lớn nhất với 55,60%, tuy nhiên số lượng từ láy thuộc âm vực thấp cũng chiếm một phần không nhỏ trong thơ ông là 37,43%, ít nhất là số lượng từ láy không cùng âm vực chỉ với 6,97% Nhìn chung, sự chênh lệch giữa từ láy thuộc âm vực cao với từ láy thuộc âm vực thấp trong thơ Chế Lan Viên là không nhiều Chúng đan xen hòa quyện vào nhau tạo nên âm điệu lúc trầm, lúc bổng cho thơ ông, khiến thơ ông trở nên hấp dẫn, lôi cuốn người đọc

2.1.2 Cấu tạo từ láy xét theo cấp độ

2.1.2.1 Từ láy bậc một

“Từ láy bậc một chính là từ láy đôi Đó là những từ mà khi cấu tạo tiếng gốc được nhân đôi một bước sao cho giữa tiếng láy và tiếng gốc có được sự hòa phối ngữ âm thể hiện ở quy tắc điệp và đối” [11, tr.39]

Khảo sát, thống kê và phân loại trong 11 tập thơ của Chế Lan Viên, chúng tôi

đã thống kê được có tất cả 534 từ láy bậc một với tổng số 988 lượt dùng Trong tổng số 534 từ láy bậc một với tổng số 988 lượt dùng, chúng tôi lại thống kê và phân loại thành từ láy bộ phận và từ láy hoàn toàn Từ láy bộ phận mà Chế Lan Viên sử dùng là 437 từ với tổng số 839 lượt dùng Số từ láy hoàn toàn trong 11 tập thơ mà ông sử dụng là 97 từ với 149 lượt dùng

Trang 28

Trong từ láy hoàn toàn, chúng tôi chia làm ba loại:

- Từ láy có sự đồng nhất, tương ứng hoàn toàn giữa các thành phần cấu tạo của hai thành tố

- Từ láy hoàn toàn điệp phụ âm đầu và khuôn vần, thanh điệu được chuyển đổi

để tạo thế đối

- Từ láy hoàn toàn giữa hai tiếng khác nhau về âm cuối do hiện tượng phát âm lướt nhẹ ở tiếng đầu tiên nên có thể xảy ra hiện tượng biến vần theo quy luật các phụ âm tắc vô thanh chuyển thành các phụ âm vang mũi cùng cặp

Kết quả từng kiểu loại cụ thể được chúng tôi thống kê theo bảng sau:

Đỏ đỏ

Khác biệt về

Gờn gợn Nhè nhẹ Mơn mởn

Biến đổi ở âm

Eng éc Chim chip Chiêm chiếp

Theo thống kê trên, ta thấy từ láy hoàn toàn trong thơ Chế Lan Viên có sự chênh lệch khá rõ rệt về các kiểu loại Từ láy lặp lại hoàn toàn tiếng gốc chiếm 57,67% trong khi đó từ láy hoàn toàn có sự biến đổi ở âm cuối theo quy luật phụ âm tắc vô thanh chuyển thành phụ âm vang mũi cùng cặp chỉ chiếm 9,28%, chênh lệch

6 lần Số lượng từ láy hoàn toàn khác nhau về thanh điệu đứng thứ hai với một số

Trang 29

lượng không nhỏ (35,05%), chênh lệch so với từ lặp lại hoàn toàn tiếng gốc khoảng 1,5 lần

2.1.2.2 Từ láy bậc hai

“Từ láy bậc hai bao gồm từ láy ba và từ láy tư Các từ này đều là kết quả của hai bước nhân đôi tiếng gốc theo quy tắc điệp và đối” [11, tr.60]

Từ láy bậc hai trong 11 tập thơ của Chế Lan Viên mà chúng tôi khảo sát chiếm

số lượng nhỏ, chỉ có 11 từ láy, có số lượt dùng là 11 trong tổng số 545 từ láy với

tổng số 999 lượt dùng Đó là các từ: cúc cù cu, mỏng mòng mong, xanh xanh xanh,

sạch sành sanh, lải nhải lai nhai, xa xửa xa xưa, ỏm tỏi om tai, cục ta cục tác, tíc tắc tíc tắc, mênh mông mênh mông, lình bình linh binh Trong số 11 từ láy bậc hai

này có 4 từ láy 3 chiếm 36,36%, có 6 từ láy 4 chiếm 63,64%

Từ kết quả thống kê, phân loại về từ láy bậc một và từ láy bậc hai như trên, chúng tôi có bảng so sánh sau:

2.2 Thống kê và phân loại từ láy xét theo phương diện từ loại

Trang 30

Say sưa

Xanh xanh Khệ nệ

Nhưng lớn lao thay là những người đã thắng được máy móc và

để tên lại cho phố phường” [20, tr.130]

“Từ nắm cơm khô đưa cán bộ thoát làng

Từ tiếng thét căm thù vì giặc giã, vua quan…” [20, tr.245]

“Đã xa rồi! Đã xa rồi! Những lúc than đi chỉ chở về đói khổ

Rượu thịt trên lầu Tây, còn xương xẩu và vỏ chai không vứt trên

lán sàn người thợ mỏ” [20, tr.286]

2.2.2 Động từ

Trong 545 từ láy khảo sát được trong 11 tập thơ của Chế Lan Viên, có 128 từ láy thuộc từ loại động từ chiếm 23,49%, chiếm một số lượng không nhỏ với 212 lượt dùng chiếm 21,22% Từ láy là động từ tạo cho người đọc những vần thơ sinh động, mang lại những hình ảnh động mà không tĩnh, giúp lời thơ trở nên phong phú, hấp dẫn

Ví dụ:

“Hồn say sưa vào khắp cõi Trời Mơ,

Ai kêu ta trong cùng thẳm Hư Vô?” [20, tr.33]

“Cả làng hô: “Việt Nam! Việt Nam!” Chớp nhanh ánh mắt

Xe khuất rồi, bàn tay còn ngoắt ngoắt” [21, tr.97]

Trang 31

2.2.3 Tính từ

Trong 11 tập thơ của Chế Lan Viên mà chúng tôi đã khảo sát, từ láy thuộc từ loại tính từ chiếm số lượng rất lớn, với 408 từ chiếm 74,86% và 773 lượt dùng chiếm 77,38% Với việc sử dụng một số lượng từ láy lớn như thế trong thơ, Chế Lan Viên đã góp phần tạo nên sự đa dạng về mặt ngôn ngữ và phong phú về hình ảnh trong thơ ông

Ví dụ:

“Ngoài xa xa, không, ngoài xa xa nữa,

Thấy không cô, ánh nắng kéo hồn tôi?” [20, tr.58]

“Tiếng sạp dần theo nhịp sóng mau

Bể bên mình Ríu rít chim câu” [21, tr.51]

“Như con mèo con nghịch cùng cuộn chỉ

Chứ hay gì cái trò khệ nệ” [21, tr.168]

Có thể thấy, cũng giống như những nhà thơ khác, Chế Lan Viên cũng sử dụng lớp từ láy là từ loại tính từ trong thơ mình với số lượng lớn nhất Từ láy là tính từ có tác dụng giúp cho câu thơ thêm bóng bẩy, giàu hình ảnh, tạo ra nhạc tính lúc trầm lúc bổng cho câu thơ Từ láy là động từ với số lượng không nhỏ, có tác dụng gợi lên hành động, trạng thái tâm lý của người hoặc vật mà nhà thơ muốn nói tới trong bài thơ Còn từ láy là từ loại danh từ chiếm số lượng ít nhất Trong số những từ láy thuộc từ loại tính từ và động từ, tác giả lại sử dụng lớp từ biểu thị hành động, trạng thái, tính chất, tượng hình và tượng thanh với số lượng khác nhau

2.3 Phân loại từ láy theo đặc điểm ngữ nghĩa

2.3.1 Từ láy biểu thị hành động, trạng thái, tính chất

Khảo sát, thống kê và phân loại từ láy trong thơ Chế lan Viên theo đặc điểm ngữ nghĩa, chúng tôi đã thống kê được có tất cả 444 từ láy với 840 lượt dùng trong tổng số 545 từ láy với 999 lượt dùng Số lượng từ láy biểu thị hành động, trạng thái, tính chất của người, vật, hay sự vật thường tập trung ở các từ láy với từ loại là động

từ và tính từ Chúng tôi đã thống kê và phân loại được cụ thể như sau:

Trang 32

Theo bảng thống kê trên, từ láy biểu thị tính chất chiếm số lượng lớn nhất cả

về số từ láy và số lượt dùng, đứng thứ hai là từ láy biểu thị trạng thái với một số lượng từ và lượt dùng cũng không nhỏ, ít nhất là số lượng từ láy biểu thị hành động, nhỏ hơn từ láy biểu thị tính chất đến 14 lần

2.3.2 Từ láy tượng thanh và tượng hình

Từ láy tượng thanh và tượng hình mà Chế Lan Viên sử dụng trong thơ ông là

92 từ chiếm 16,88% với 145 lượt dùng trong tổng số 545 từ láy với 999 lượt dùng

Số từ láy tượng thanh và tượng hình trong thơ ông lại có sự chênh lệch về số lượng

từ và lượt dùng như sau:

Trang 33

từ những từ láy tượng thanh Tất cả hòa quyện lại, gây ấn tượng mạnh mẽ cho người đọc

2.4 Chức năng cú pháp của từ láy

“Khi nhẹ nhàng, chiều thu kia tha thướt

Gió vàng êm ru lá dưới mây sầu” [20, tr.61]

“Và xa xa trong vườn cây sẽ hát

Thế mà rồi tất cả sẽ vời xa… sẽ khuất…” [20, tr.551]

Tuy trường hợp từ láy làm thành phần trạng ngữ trong thơ Chế Lan Viên chiếm số lượng không đáng kể nhưng chúng cũng có những giá trị nhất định khi xuất hiện trong thơ văn Chế Lan Viên

2.4.2 Chức năng là chủ ngữ

Từ láy trong thơ Chế Lan Viên có chức năng làm thành phần chủ ngữ có thể đứng độc lập trước vị ngữ, bổ sung cho vị từ ý nghĩa cú pháp chủ thể hoặc kết hợp với quan hệ từ để giữ chức năng chủ ngữ Tương đương với trường hợp từ láy làm thành phần trạng ngữ trong câu, trường hợp từ láy giữ vai trò làm chủ ngữ trong thơ ông chiếm một số lượng nhỏ, chỉ có 26 trường hợp chiếm 2,60% tổng số lần xuất hiện của từ láy trong thơ Chế Lan Viên

Ví dụ:

“Lung linh về, chực khóc ở bên tai” [20, tr.124]

“Hoan hô Liên Xô! Xứ của Pouchkine, Gogol, nhưng vẻ vang thay

còn là xứ của Gorki, Eherenbourg” [20, tr.130]

2.4.3 Chức năng là vị ngữ

Từ láy trong thơ Chế Lan Viên có thể đứng độc lập để nêu bật lên những đặc trưng, tính chất của cụm danh từ đứng trước nó hoặc kết hợp với hư từ để làm thành

Trang 34

phần vị ngữ trong câu Chúng tôi đã thống kê được trường hợp từ láy làm vị ngữ trong câu thơ Chế Lan Viên chiếm số lượng lớn nhất Có 439 trường hợp từ láy giữ vai trò làm vị ngữ, chiếm 43,95% trong tổng số lần xuất hiện của từ láy trong thơ Chế Lan Viên

Ví dụ:

“Ngôi sao ấy không lẻ loi rồi” [20, tr.134]

“Tiếng ve dắng dỏi” [20, tr.137]

“Trăng rừng chon von” [20, tr.137]

“Nơi bút anh còn dang dở khối hình” [20, tr.204]

Trong thơ ca thường xuất hiện hiện tượng đảo ngữ, thơ Chế Lan Viên cũng xuất hiện hiện tượng đó Theo khảo sát và phân loại, chúng tôi đã thống kê được trong số 439 trường hợp từ láy giữ vai trò làm vị ngữ trong câu thì có 45 trường hợp

từ láy giữ chức năng làm vị ngữ được đảo lên trước chủ ngữ nhằm nhấn mạnh hành động, trạng thái, tính chất của người, vật, sự vật

244 trường hợp từ láy giữ vai trò bổ ngữ trong câu trên tổng số 999 trường hợp, chiếm 24,43%

Từ láy kết hợp với động từ có chức năng làm bổ ngữ trong câu có tác dụng nhấn mạnh hành động, trạng thái của người hoặc vật mà Chế Lan Viên muốn nhắc tới trong thơ

Ví dụ:

Trang 35

“Chúng khoe giết chóc vênh vang như cô gái

“Yên yên cuộc sống lạnh nghèo im im” [20, tr.150]

“Nhìn chi em chân trời xa vòi vọi” [20, tr.57]

Có khi từ láy trong thơ Chế Lan Viên cũng được đảo lên trước động từ, tính từ giữ vai trò làm thành tố chính trong câu để làm chức năng bổ ngữ Thậm chí còn có những trường hợp, từ láy được đảo lên đầu câu thơ, đứng trước chủ ngữ, giữ vai trò nhấn mạnh hơn cho hành động, trạng thái, tính chất của người hoặc vật, sự việc, sự vật mà tác giả muốn nói tới Chúng tôi khảo sát được trong tổng số 244 trường hợp

từ láy giữ vai trò làm bổ ngữ trong câu thơ Chế Lan Viên thì có 50 trường hợp làm

bổ ngữ đảo trong câu

Ví dụ:

“Theo bút cùn huyết thắm nhẹ nhàng tuôn” [20, tr.107]

“Cửa vẫn đóng và đời im ỉm khóa” [20, tr.354]

“Xôn xao hoa trắng lại về” [20, tr 317]

2.4.5 Chức năng là định ngữ

Trường hợp từ láy đi kèm với danh từ, cụm danh từ có chức năng làm định ngữ trong thơ Chế Lan Viên chiếm số lượng lớn thứ ba, có tất cả 234 trường hợp chiếm 23,42% trên tổng số lần xuất hiện của từ láy trong thơ ông Từ láy khi kết hợp với danh từ, cụm danh từ thường có tác dụng làm rõ nghĩa cho danh từ, cụm danh từ đó

Ví dụ:

“Tiếng lao xao dội thối đến cung Hằng” [20, tr.32]

“Những trời mây xám xịt đã tan rồi” [20, tr.394]

“Em có thấy bể trời bát ngát sáng nay không?” [21, tr.81]

Trang 36

Theo cấu trúc thông thường trong câu, từ láy với chức năng làm định ngữ khi kết hợp với danh từ, cụm danh từ Tuy nhiên để phát huy hết tác dụng của từ láy trong nhiều trường hợp Chế Lan Viên đã đảo từ láy lên trước danh từ, cụm danh từ

và có những trường hợp đặt từ láy ở vị trí đầu câu Theo khảo sát, chúng tôi đã thống kê được trong tổng số 234 trường hợp từ láy giữ chức năng định ngữ trong câu thơ Chế Lan Viên thì có 29 trường hợp định ngữ được đảo lên trước danh từ, cụm danh từ Tuy số lượng không nhiều nhưng việc đảo từ láy làm định ngữ lên trước danh từ, cụm danh từ như vậy đã góp phần mang lại những giá trị nghệ thuật đáng kể cho thơ ca Chế Lan Viên

Ví dụ :

“ Xót xa thay, ngày đất nước chia đôi!” [20, tr.263]

“Ôi chói chang tiếng sáo biếc ngang đầu” [20, tr.455]

“ Lặng lẽ, lặng lẽ từng bước chân Bác qua đây như vạch lại một

con đường” [20 Tr.459]

“Lầm lũi suốt chiều bỗng họ cười lên sặc sụa” [20, tr.628]

2.4.7 Cụm từ chủ - vị

Trong ngôn ngữ thơ ca còn xuất hiện những câu thơ có cấu trúc cụm từ chủ -

vị Theo thống kê, trong thơ Chế Lan Viên có 9 trường hợp từ láy làm thành phần trong cấu trúc cụm chủ – vị, chiếm 0,90% trong tổng số lần xuất hiện của từ láy trong thơ ông

Ví dụ:

“Lộc chớm chở làm ta rưng nước mắt” [20, tr.578]

Trang 37

“Làm nước hồ xao xuyến” [20, tr.605]

Ngoài ra còn có 18 trường hợp chiếm 1,80% từ láy mà Chế Lan Viên sử dụng một mình để tạo thành câu đặc biệt và đặt làm nhan đề trong thơ ông

Từ việc thống kê, phân loại về từ láy theo chức năng cú pháp trong câu như trên, chúng tôi lập bảng so sánh theo thứ tự sắp xếp từ lớn đến nhỏ sau:

Tiểu kết: Qua việc khảo sát, thống kê và phân loại từ láy trong 11 tập thơ với

481 bài thơ mà Chế Lan Viên sáng tác từ năm 1937 đến năm 1986 theo đặc điểm cấu tạo, theo phương diện từ loại, theo đặc điểm ngữ nghĩa, và chức năng cú pháp của từ láy trong câu, chúng tôi thấy với số lượng từ láy không nhiều so với số lượng bài thơ nhưng nhìn chung, Chế Lan Viên đã sử dụng một lớp từ láy khá đa dạng trong thơ mình Trong đó, dựa vào số lượng từ láy thì từ láy đôi chiếm số lượng lớn hơn nhiều so với từ láy ba, từ láy tư Nếu dựa vào các thành phần cấu tạo trong từ láy thì từ láy bộ phận nhiều hơn bốn lần từ láy hoàn toàn Xét theo âm đoạn tính thì

từ láy giống nhau về phụ âm đầu chiếm số lượng lớn nhất, chiếm hơn một nửa số lượng từ láy mà Chế Lan Viên sử dụng trong thơ ông Xét theo siêu âm đoạn tính thì từ láy thuộc âm vực cao cũng chiếm hơn một nửa tổng số từ láy được sử dụng Xét theo phương diện từ loại thì từ láy thuộc từ loại tính từ chiếm số lượng lớn hơn

Trang 38

cả Xét theo đặc điểm ngữ nghĩa thì từ láy biểu thị hành động, trạng thái, tính chất lớn hơn lớp từ láy tượng hình và tượng thanh Xét từ láy trên phương diện chức năng cú pháp của từ láy trong câu thì trường hợp từ láy mang chức năng vị ngữ trong câu chiếm số lượng lớn nhất, chiếm một nửa tổng số lần xuất hiện của từ láy trong câu Sự chênh lệch trong cách dùng từ láy của Chế Lan Viên như vậy đã thể hiện sự sáng tạo độc đáo của tác giả trong việc vận dùng từ láy vào thơ mình

Trang 39

CHƯƠNG 3

HIỆU QUẢ NGHỆ THUẬT CỦA TỪ LÁY TRONG THƠ CHẾ LAN VIÊN 3.1 Từ láy góp phần thể hiện tâm trạng ngao ngán, bế tắc của tác giả trước thời cuộc

Trước cách mạng tháng Tám, giọng thơ Chế Lan Viên thường buồn ảo não, có pha màu huyền bí Thời kì này từ láy tham gia đóng góp làm yếu tố quan trọng trong việc diễn tả nỗi lòng của nhà thơ trước thực tế cuộc sống bấy giờ Nhà thơ buồn và chỉ biết thốt lên:

“Một vì sao trơ trọi cuối trời xa” [20, tr.29]

Trơ trọi nghĩa là lẻ loi, chỉ có một mình, không có ai, không còn chỗ dựa chung quanh Sử dụng từ láy trơ trọi ở giữa câu thơ, Chế Lan Viên đã lột tả một

cách rõ nét tâm trạng cô đơn đến tuyệt vọng trước cuộc đời Chế Lan Viên còn sử

dụng một loạt những từ láy như: bơ vơ, lẻ loi kết hợp với động từ như: trôi, số từ

vài… trong những bài thơ giai đoạn trước cách mạng của mình khiến người đọc

cảm nhận được khá đầy đủ tâm trạng cô đơn, chán nản, ngao ngán của nhà thơ trước thời cuộc:

“Tâm hồn trôi theo giải máu bơ vơ” [20, tr.61]

“Vài ngôi sao lẻ loi hồi hộp thở” [20, tr.73]

Ngược dòng thời gian, Chế Lan Viên như sống với một đất nước chỉ còn trong

ký ức, trong tâm tưởng:

“Đây, những Tháp gầy mòn vì mong đợi Những đền xưa đổ nát dưới Thời Gian Những sông vắng lê mình trong bóng tối

Những tượng Chàm lở lói rỉ rên than” [20, tr.39]

Cùng một dòng thơ Chế Lan Viên sử dụng hai từ láy lở lói và rỉ rên liền nhau

đã làm cho câu thơ trôi chậm lại, nhịp thơ chậm đều nhấn mạnh nỗi đau xót trước một dân tộc đã bị diệt vong Sinh ra trong phong trào Thơ Mới, Chế Lan Viên đã nhìn cuộc đời với đầy rẫy những mất mát đau thương Lớn lên trong một đất nước luôn bị quân thù giày xéo, tiếng đạn bom át giọng hát ru con, tiếng kêu than thay lời

Trang 40

tình tự, Chế Lan Viên chỉ biết khóc than cho cái quá khứ vàng son của dân tộc đã lùi về dĩ vãng Nhà thơ đã sống và nhìn cuộc đời điên loạn bằng những gì đã nghĩ Những đau thương vô lý mà da diết ấy, cái thế giới lạ lùng và rùng rợn ấy ai có ngờ bao nhiêu người ngạc nhiên

Với mỗi con người, thiên nhiên đem đến cho chúng ta niềm lạc quan yêu đời Vậy mà với Chế Lan Viên, thời điểm đó nó không là gì cả Chế Lan Viên muốn chối từ tất cả, lại muốn “trở lại mùa thu trước để nhặt lá vàng chắn nẻo xuân sang” Chế Lan Viên còn đang mang nặng nỗi sầu vong quốc với tâm trạng buồn đau:

“Bên đồi loáng ánh tà dương rực rỡ,

Quằn quại trôi giòng máu thắm sông Linh

… Thi nhân sầu, nhìn theo giòng huyết cuốn

Tâm hồn trôi theo giải máu bơ vơ” [20, tr.61]

Nhìn một con suối, một dòng sông ta có thể vui mừng thích thú vì có thể thả hồn trong dòng nước mát, nhưng Chế Lan Viên lại buông tầm mắt nhìn về phía

vàng nhạt của buổi chiều tà đang cuộn trôi như dòng máu Hai từ láy quằn quại, bơ

vơ đã nói được đầy đủ nỗi đau, nỗi buồn cùng sự bơ vơ lạc lõng của Chế Lan Viên

thời kỳ trước cách mạng Cái gì đã khiến nhà thơ có con mắt lạnh nhạt gay gắt với

tự nhiên đến thế? Thực ra Chế Lan Viên cũng muốn đắm chìm trong cảnh vật của thiên nhiên đất trời, muốn nhìn đời bằng cặp mắt tin yêu nhưng cái muốn “vui tươi nhắc mãi vẻ điêu tàn” lại lớn hơn Chế Lan Viên lạnh nhạt với thiên nhiên hay chính thiên nhiên không thừa nhận ông? Có lẽ là cả hai Chính vì vậy mà trong cảnh

cô đơn ấy, Chế Lan Viên lại quỳ xuống cầu xin:

“Hãy cho tôi một tinh cầu giá lạnh,

Một vì sao trơ trọi cuối trời xa!

Để nơi ấy tháng ngày ta lẩn tránh Nhưng ưu phiền, đau khổ với buồn lo!” [20, tr.29]

Từ chối thiên nhiên, Chế Lan Viên bước vào tình yêu nhưng rồi cũng chỉ là

“những mảnh tình không trọn vẹn” Bởi “tình trong thơ Chế Lan Viên chỉ là một nét

Ngày đăng: 22/05/2021, 10:18

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN