1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Sự sống và cái chết trong thơ Chế Lan Viên

152 967 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 152
Dung lượng 1,98 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Do đó, không phải ngẫu nhiên mà từ hồn xuất hiện với một mật độ dày đặc đến vậy: hồn, hồn mi, hồn ta Cái sọ người; hồn dạt trôi, hồn say sưa Ngủ trong sao; hồn u tối, hồn của ai, linh

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI & NHÂN VĂN

-

NGÔ HÀ GIANG

SỰ SỐNG VÀ CÁI CHẾT TRONG THƠ CHẾ LAN VIÊN

Hà Nội – 2010

Trang 2

Phần Mở Đầu

1 Lý do chọn đề tài

Nước Việt Nam – đất nước bốn ngàn năm lịch sử, là con dân đất

Việt, chúng ta có nhiều điều để tự hào với bạn bè khắp năm châu bốn biển,

khẳng định giá trị của hai tiếng: Việt Nam Tóm lược lịch sử đất nước

khẳng định truyền thống dân tộc, vừa tự hào vừa pha sắc bi thương, có

người khẳng định: Việt Nam là đất nước của chiến tranh và thi ca, đất nước

của việc làm thơ và đánh giặc

Làm thơ và đánh giặc: hai công việc mới nghe qua chợt tưởng là mâu

thuẫn, không thể sóng đôi, vậy nhưng đó lại là nét nổi bật của truyền thống

dân tộc ta Thiên nhiên đã đặt dải đất hình chữ S bên cạnh người láng giềng

khổng lồ Phương Bắc, đã đặt nước ta ở vị trí đắc địa của khu vực Đông

Nam Á; đó là định mệnh Vì thế trong bất cứ thời đại nào, cha ông ta cũng

phải gồng mình chống họa ngoại xâm Chiến tranh, dù chính nghĩa hay phi

nghĩa, thì cũng đều là tai họa Nhưng không thể khác, hoàn cảnh lịch sử

buộc chúng ta phải hành động, “kẻ thù buộc ta ôm cây súng” Nhưng cũng

thật phi thường, đất nước của chiến tranh và nhiều đau thương mất mát ấy

cũng lại là đất nước của thi ca Từ bao đời này, trên đất nước này, dường

như bất cứ người nào cũng có thể làm thơ, thưởng thức thơ Cả xưa kia cho

đến tận ngày nay, tất cả mọi giai tầng trong xã hội, không phân biệt giàu

nghèo, sang hèn…, họ đều có thể làm thơ và yêu thơ… Nói không ngoa

rằng, mỗi người dân đất Việt đều mang trong mình một “nhà thơ”, một

“hồn thơ” Lịch sử văn học nước nhà ghi nhận: đội ngũ tác giả đông đảo

nhất là nhà thơ, số lượng tác phẩm nhiều nhất vẫn là thơ, thể loại phát triển

nhất vẫn là thơ, thành tựu lớn nhất vẫn là thơ, thể loại đáng tự hào của dân

tộc cũng là thơ… Nói về truyền thống đó, Chế Lan Viên đã khái quát rất

hay:

Khi Nguyễn Trãi làm thơ và đánh giặc`

Trang 3

Nguyễn Du viết Kiều, đất nước hóa thành văn

(Tổ quốc bao giờ đẹp thế này chăng ?)

Là người con đất Việt, “sẵn” mang trong mình “hồn thơ”, “nguồn

thơ”, cho nên chúng tôi chọn thơ làm đối tượng nghiên cứu cho đề tài luận

văn của mình, điều này giải thích cho câu hỏi rằng: tại sao lại chọn thơ?

Thơ ca Việt Nam có một lịch sử đáng tự hào Tạo dựng nên một

“công trình” kỳ vĩ như vậy có sự đóng góp của rất nhiều thi sĩ tài năng trên

con đường phát triển của nó Chế Lan Viên là một trong số những con

người được “khắc tên” trên “đại lộ danh vọng” của thi đàn nước nhà

Chế Lan Viên sống và sáng tác trọn đời trong thế kỷ XX Ông có một

sự nghiệp thơ ca vô cùng đồ sộ Không chỉ là sáng tác thơ, mà còn sáng tác

văn xuôi và tiểu luận, phê bình, ông luôn là một trong những người đi đầu

cho việc phát triển thơ ca Việt Nam thế kỷ XX, như đánh giá của Hoài

Thanh, Hoài Chân trong Thi nhân Việt Nam: “Con người này quả là con

người của trời đất, của bốn phương, không thể lấy kích tấc thường hòng mà

đo được”

Thơ Chế Lan Viên đặc biệt vì nhiều lẽ, mà một trong những điều đặc

biệt, đáng chú ý nhất về thơ ông đó là nhà thơ “mang phong cách triết gia”

Cho đến nay, mặc dù còn có nhiều ý kiến khác nhau, nhưng nhiều

học giả đều thừa nhận dân tộc ta vốn không có truyền thống triết học,

truyền thống tư tưởng Bằng chứng là với bốn ngàn năm lịch sử, hầu như

chúng ta không sản sinh ra nhà tư tưởng thực thụ nào, không cho ra đời bất

cứ một học thuyết nào Tuy nhiên, ở mức độ không tập trung, thỉnh thoảng

vẫn bắt gặp tính chất triết lý, triết luận trong các câu nói của các tác giả

dân gian Còn trong các tác giả văn học viết thời trung đại, tính chất triết lí

có xuất hiện trong thơ Đường luật, thơ Thiền thời Lý – Trần, thơ Nguyễn

Trãi, Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương, Nguyễn Khuyến, Tú Xương… Đáng

chú ý trong thơ trung đại có hẳn một nhà thơ được người đời phong tặng là

nhà thơ triết lý, đó là Nguyễn Bỉnh Khiêm Đến thời hiện đại, nhiều nhà thơ

Trang 4

cũng có ít nhiều những câu thơ triết lý Nhưng để khái quát bằng triết lý

một cách thường xuyên, một cách hệ thống, nổi lên như một nét phong

cách riêng độc đáo có lẽ chỉ có Chế Lan Viên Với những điều đó, nhằm

giải thích cho câu hỏi tại sao khi chọn thơ chúng tôi lại chọn thơ Chế

Lan Viên làm đối tượng nghiên cứu?

Theo cách nói của triết học, không có gì tồn tại vĩnh cửu, bất biến,

mà là có sinh ắt có diệt Bởi thế, ý thức về sự sinh diệt, sống chết luôn luôn

tồn tại trong ý thức con người Mở rộng ra, không chỉ là sự sống chết, mà

khái quát lên còn là vấn đề của tồn tại và hư vô, vấn đề ý nghĩa cuộc sống

Hơn nữa, thế kỷ XX dân tộc ta đã trải qua một giai đoạn lịch sử vô cùng

đặc biệt: từ thân phận nô lệ của thực dân Pháp, trải qua cách mạng tháng

Tám, đất nước lại bước vào hai cuộc kháng chiến trường kỳ đánh đuổi hai

kẻ thù hùng mạnh nhất thế giới là thực dân Pháp và đế quốc Mĩ, có lúc dân

tộc đã đứng bên bờ vực của sự hủy diệt với nhiều mất mát đau

thương…, thì chủ để về sự sống – cái chết lại càng được ý thức Hơn ai

hết, vốn là một hồn thơ giàu tính triết luận, triết lý, cho nên chủ đề về sống

– chết, và sâu hơn là ý nghĩa của cuộc sống là một trong những đối tượng

cơ bản trong nhận thức thơ Chế Lan Viên Điều này giải thích tại sao khi

chọn thơ Chế Lan Viên, chúng tôi lại chọn hướng nghiên cứu, tìm hiểu

về chủ đề sự sống và cái chết trong thơ ông?

2 Lịch sử vấn đề

Như đã nói, Chế Lan Viên là một trong những nhà thơ có công đầu

trong việc tạo nên tầm vóc và diện mạo thơ Việt Nam hiện đại, cả đời thơ

của ông trọn vẹn trong thế kỷ XX, cùng đổi thay với những biến thiên của

lịch sử dân tộc…, bởi vậy, từ lâu thơ ông đã trở thành một mảng đề tài

nghiên cứu, tìm hiểu quen thuộc của đông đảo công chúng Nhìn chung, sự

nghiệp sáng tác của Chế Lan Viên đã được giới nghiên cứu phê bình văn

học nước nhà nghiên cứu khá toàn vẹn, thể hiện tập trung nhất trong công

trình: Chế Lan Viên – về tác gia và tác phẩm do Vũ Tuấn Anh tuyển chọn

Trang 5

và giới thiệu, NXB GD, 2007 Trong cuốn sách này, với gần 700 trang

sách, tác giả đã tuyển chọn và giới thiệu một cách hệ thống và khá toàn vẹn

những công trình tiêu biểu nghiên cứu về thơ – văn Chế Lan Viên, cùng với

đó là một thư mục phong phú, đầy đủ Phải nói rằng vì đây là một mảng đề

tài quen thuộc, cho nên hầu như các khía cạnh của sự nghiệp thơ Chế Lan

Viên ít nhiều đã được đụng chạm, chỉ có là mức độ đậm nhạt, độ nông

sâu khác nhau mà thôi Tuy nhiên có một mảng đề tài quan trọng đó là sự

sống và cái chết trong thơ Chế Lan Viên chưa được tìm hiểu, nghiên cứu

một cách có hệ thống và toàn vẹn Ý thức về sự sống, cái chết là một nội

dung quan trọng xuyên suốt đời thơ Chế Lan Viên, nội dung này vừa

mang tính cá nhân, vừa mang tính thời đại Đây không chỉ là chuyện về

sự sống – cái chết, mà đó còn là suy nghiệm về lẽ mất – còn, về tồn tại và

hư vô, về ý nghĩa cuộc sống… Vì vậy trong luận văn này chúng tôi mạnh

dạn lựa chọn vấn đề sự sống và cái chết trong thơ Chế Lan Viên nhằm góp

phần nhỏ bé trong việc tìm hiểu sự nghiệp thơ Chế Lan Viên

3 Phạm vi nghiên cứu và nhiệm vụ đề tài

Phạm vi nghiên cứu của luận văn là tất cả các tập thơ trong suốt sự

nghiệp sáng tác của Chế Lan Viên Trong đó, tập trung vào Điêu tàn và ba

tập Di cảo

Đề tài giải quyết các nhiệm vụ như:

Góp phần “minh họa” cho những kết luận của lý luận văn học, chẳng

hạn: về chức năng của văn học trong đời sống xã hội; về phản ánh luận với

văn nghệ, các vấn đề về phản ánh với nhận thức – vấn đề tính chân thật

trong văn nghệ, phản ánh với biểu hiện – thế giới chủ quan của nhà văn với

sáng tác, phản ánh với tác động (và thông báo) – văn nghệ với thực tiễn

đời sống; về bản chất và quy luật phát triển của văn nghệ; về tính dân tộc

và tính quốc tế của văn nghệ; về nhà văn và quá trình sáng tác…

Góp phần chỉ ra công lao, đóng góp, phong cách, quá trình lao động

sáng tạo… của một nhà thơ lớn của dân tộc trong thế kỷ XX

Trang 6

Góp phần khẳng định Chế Lan Viên là người có công đầu trong việc

tạo dựng nên khuôn mặt và tầm vóc thơ Việt Nam hiện đại

Ngoài ra đề tài còn có một tác dụng thực tiễn đối với đời sống: từ

việc tìm hiểu về vấn đề về sự sống và cái chết trong thơ ca, liên hệ với đời

sống hiện tại: những trăn trở của ngày hôm nay về chuyện nghề, chuyện

đời Suy tư về ý nghĩa cuộc đời – không phải là chuyện của tồn tại, mà là

sống như thế nào để có ý nghĩa với tư cách là một cá nhân - công dân đối

với quốc gia, dân tộc và thời đại

4 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng một số phương pháp:

Theo quan điểm Mác xít về văn học nghệ thuật, vận dụng những kiến

thức về văn học sử, văn hóa, triết học, lịch sử… để thấy được sự phân kỳ

văn học; những điều kiện, hoàn cảnh của sự vận động và phát triển của văn

học Việt Nam thế kỷ XX; truyền thống triết lý trong văn chương nước

nhà…

Sử dụng các thao tác:

Phân tích, tổng hợp,thống kê, miêu tả,… các bài thơ trong tất cả các

tập thơ của Chế Lan Viên để chỉ ra nội dung, tính chất… về chủ đề sự sống

- cái chết trong thơ ông

So sánh đối chiếu theo hai hướng đồng đại và lịch đại giữa các bài

thơ của riêng Chế Lan Viên, và giữa thơ Chế Lan Viên với thơ ca thời đại

để thấy được sự vận động, biến đổi, phát triển, nét tương đồng và sự dị biệt

… khi viết về chủ đề sự sống – cái chết

5 Cấu trúc của luận văn

Luận văn gồm có 3 phần: Phần mở đầu, Phần nội dung, và Phần kết

luận Trong phần nội dung có 4 chương:

Chương 1: Chủ đề về sự sống và cái chết trong thơ thời Điêu tàn

Chương 2: Quan niệm về sống, chết của nhà thơ – chiến sĩ

Chương 3: Về lẽ sống, chết của nhà thơ – triết nhân

Trang 7

Chương 4: Sự vận động của nghệ thuật thơ Chế Lan Viên viết về chủ

đề sự sống, cái chết

Cuối cùng là danh mục tài liệu tham khảo

Trang 8

Phần Nội Dung

Chương 1: Chủ đề sự sống và cái chết trong thơ thời Điêu tàn

Tiểu sử Chế Lan Viên, có thể tóm lược: tên thật là Phan Ngọc Hoan,

sinh ngày 23 – 10 – 1920 trong một gia đình viên chức nghèo ở Cam Lộ,

Quảng Trị Năm 1927, gia đình chuyển vào Bình Định Làm thơ từ lúc 12,

13 tuổi; có thơ, truyện ngắn đăng báo từ những năm 1935 – 1936 Cùng với

Hàn Mạc Tử, Yến Lan, Quách Tấn làm nên nhóm thơ Bình Định nổi tiếng,

tạo một dấu ấn độc đáo cho Thơ mới đương thời Khi tập Điêu tàn ra đời

năm 1937, ông mới 17 tuổi, dư luận đã đặc biệt chú ý đến nhà thơ trẻ tài

năng và đặc sắc này Năm 1939, ông ra học tại Hà Nội, rồi vào Sài Gòn

làm báo, ra Thanh Hóa, quay về Huế dạy học Năm 1942, cho ra đời tập

văn Vàng sao và sau đó viết tập bút ký Gai lửa Tham gia Cách mạng tháng

Tám tại Quy Nhơn, rồi sau đó ra Huế tham gia Đoàn Xây dựng cùng với

Hoài Thanh, Lưu Trọng Lư, Đào Duy Anh…, viết bài cho báo Quyết thắng

của Việt Minh Trung Bộ

Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, ông hoạt động văn

nghệ và báo chí ở Liên khu Bốn và chiến trường Bình Trị Thiên Tháng 7

năm 1949, được kết nạp vào Đảng Những bài thơ Chế Lan Viên sáng tác

trong thời kỳ kháng chiến được tập hợp trong tập thơ Gửi các anh (in

1955), thể hiện sự chuyển biến quan trọng trong tư tưởng và hồn thơ Sau

1954, ông về sống tại Hà Nội Tập thơ Ánh sáng và phù sa (1960) là thành

công đặc sắc, đánh dấu bước phát triển mới của thơ Chế Lan Viên Bước

vào cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước, thơ ông đã đạt nhiều thành tựu

mới với các tập thơ Hoa ngày thường, Chim báo bão (1967), Những bài

thơ đánh giặc (1972), Đối thoại mới (1973) mang đậm chất chính luận, sử

thi bên cạnh chất trữ tình đằm thắm của cuộc sống đời thường Sau ngày

Trang 9

đất nước giải phóng, ông vào sống tại Thành phố Hồ Chí Minh và tiếp tục

cho ra đời các tập thơ Hái theo mùa (1977), Hoa trên đá (1984), Ta gửi cho

mình (1986)

Chế Lan Viên còn là cây bút văn xuôi đặc sắc với các tập bút ký

Vàng sao (1942), Thăm Trung Quốc (1963), Những ngày nổi giận (1966),

Giờ của số thành (1977)… Các tập tiểu luận – phê bình văn học của ông

cũng gây tiếng vang rộng rãi và có tác động tích cực vào đời sống văn học:

Vào nghề (1962), Phê bình văn học (1962), Suy nghĩ và bình luận (1971),

Nghĩ cạnh dòng thơ (1981), Từ gác khuê Văn đến quán Trung Tân

(1981)…

Trong suốt thời kỳ kháng chiến chống đế quốc Mĩ, ông tham gia lãnh

đạo Hội nhà văn Việt Nam, tham dự nhiều diễn đàn văn hóa quốc tế ở Liên

Xô, Pháp, Nam Tư, Ấn Độ, Na Uy, Thụy Điển… Ông là đại biểu quốc hội

các khóa 4, 5, 6, 7 Chế Lan Viên mất ngày 19 – 6 – 1989 tại bệnh viện

Thống Nhất

Sau khi mất, những Di cảo thơ được nhà văn Vũ Thị Thường – vợ

nhà thơ sưu tầm, tuyển chọn và xuất bản: Di cảo thơ I in năm 1992, Di cảo

thơ II in năm 1993 và được giải thưởng Hội nhà văn Việt Nam năm 1994

Tập Di cảo thơ III xuất bản năm 1996 và nhiều bài thơ để lại của Chế Lan

Viên còn tiếp tục được sưu tầm, tập hợp

Chế Lan Viên là một nhà thơ tài năng, một nhà văn hóa đã có những

đóng góp to lớn cho nền thơ Việt Nam và văn hóa Việt Nam Ông được

Nhà nước tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật năm 1996

(đợt I)

Đánh giá về tầm vóc, sự nghiệp thơ của Chế Lan Viên, rất nhiều nhà

nghiên cứu, phê bình đều dành cho ông niềm ngưỡng mộ sâu xa, như: Chế

Lan Viên – Nhà thơ của thế kỷ (Nguyễn Văn Hạnh), Nhà thơ của những

đỉnh cao sáng tạo (Vũ Tuấn Anh), Nhà thơ không thể lấy kích tấc thường

mà đo được (Bùi Mạnh Nhị), Người làm vườn vĩnh cửu (Trần Mạnh

Trang 10

Hảo)… Xây lên được một sự nghiệp với tầm vóc, kích tấc to lớn như vậy,

có thể nói, viên gạch đầu tiên tạo đà, đặt nền móng cho công trình kỳ vĩ

đó chính là tập Điêu tàn

Điêu tàn là tập thơ rất mỏng - chỉ với 36 bài, nó ra đời khi chủ nhân

của nó mới 17 tuổi và đang là học sinh năm thứ 3 trường Trung học Quy

Nhơn Vậy nhưng chính nhờ tập thơ nhỏ bé này mà Phan Ngọc Hoan

không còn là Phan Ngọc Hoan nữa, mà sinh ra một con người mới: Chế

Lan Viên Nói một cách chính xác hơn không biết Chế Lan Viên sinh ra

Điêu tàn, hay Điêu tàn sinh ra Chế Lan Viên?! Có lẽ cả hai Tuy nhiên,

có thể khẳng định một điều chắc chắn: Điêu tàn mở đầu và góp phần khẳng

định tên tuổi Chế Lan Viên trên văn đàn Việt Nam Bút danh Chế Lan Viên

gắn với tập thơ đầu tay này, sau đó cùng với những sáng tác khác tên tuổi

ông sẽ còn có ảnh hưởng rộng dài trong văn học – văn hóa Việt Nam suốt

nhiều thế kỷ

Đánh giá về Điêu tàn, Hoài Thanh đưa ra một nhận nhận xét ngắn

gọn nhưng chính xác, toàn vẹn, tinh tế; hầu như các nhà nghiên cứu khi tìm

hiểu về Điêu tàn đều phải trích dẫn, rằng: Điêu tàn đột ngột xuất hiện như

một niềm kinh dị, một Tháp Chàm lẻ loi và bí mật Nói không ngoa nếu trả

lời, lý giải được một cách rốt ráo, thấu đáo những nhận xét của Hoài Thanh

thì sẽ hiểu được Điêu tàn, với những câu hỏi như: Tại sao nói nó đột ngột

xuất hiện? Tại sao nói nó như một niềm kinh dị? Tại sao nói như một Tháp

Chàm lẻ loi, bí mật?

Quả thật, Điêu tàn là: một niềm kinh dị, lẻ loi, bí mật; khi đi vào tập

thơ, ta thấy bao trùm nó là cõi chết

1.1 Điêu tàn – thế giới chết

Đọc Điêu tàn, có cảm tưởng như cái chết, cõi chết trùm lấp cả thế

giới trong tập thơ, là nỗi ám ảnh trong tư duy thơ của Chế Lan Viên Trong

số 36 bài thơ của tập thơ, bất cứ bài nào tác giả cũng dùng những từ ngữ,

hình ảnh nói về cái chết, liên quan đến cái chết, nằm trong trường

Trang 11

nghĩa, trường liên tưởng về cái chết, cụ thể như: cõi âm, linh hồn, ma

quỷ, huyệt mộ, chôn, nấm mồ, quàng liệm, máu, chém giết, chiến địa, cõi

hư vô, xương, sọ người, thi thể, xác thịt, bóng tối, rửa tan, yêu tinh, khí

tanh hôi… Những từ ngữ đó đều được tác giả sử dụng với mật độ dày

đặc, với tần suất rất cao Có thể nói những từ ngữ, hình ảnh này là “bộ đồ

nghề cơ bản của tư duy” để tác giả nói – suy nghĩ về cái chết

Cái chết, sự chết là một mảng, một khía cạnh, một phạm vi quan

trọng của đời sống hiện thực, quan trọng như chính sự sống vậy, vì có ai

sống mà không phải chết Chính vì thế trong nhận thức về cái chết con

người có một hệ thống rất phong phú về từ ngữ, hình ảnh dùng để phản

ánh, nhận thức cái hiện thực khách quan, tất yếu đó Và Chế Lan Viên đã

lựa chọn, sử dụng hầu hết cái vốn từ nằm trong trường nghĩa dùng để

nhận thức, phản ánh về cái chết Cái chết là nơi mà tư duy, ngôn ngữ,

hồn thơ Chế Lan Viên “thường xuyên lui tới”, nó trở thành một đề tài,

chủ đề chính yếu của tập thơ Cụ thể:

Trước hết, nói về cái chết, với từ chết làm từ trung tâm, tác giả sử

dụng các từ ngữ, hình ảnh liên quan đến cái chết với cường độ, mật độ như

sau: cõi chết (Cái sọ người); cõi âm (Tạo lập); cõi chết, âm giới (Bóng tối);

cõi tang (Thu); sắc chết (Tiết trinh); âm giới (Cõi ta); ý chết (Hồn trôi),

phút chết (Điệu nhạc điên cuồng), cõi chết (Đừng quên lãng), chết rồi (Đọc

sách), người chết (Xương khô) Từ sự thống kê này cho thấy từ chết (hay

những từ đồng nghĩa, có ý nghĩa tương đương cùng chỉ cái chết) xuất hiện

trong 11 bài thơ trên tổng số 36 bài của tập thơ Điêu tàn – chiếm hơn

30,5% Chẳng hạn như:

“Có tưởng lại mảnh hồn mi đau khổ

Đang lạc loài trong Cõi Chết xa xôi?”

(Cái sọ người) Và:

“Cũng như thế, nơi xa xăm trong cõi Chết

Trang 12

Bao cô hồn vẫn sống tháng ngày qua,”

(Bóng tối)

Ngoài ra còn rất nhiều câu thơ khác có từ chết hoặc các từ khác có

nghĩa tương đương, mà ở đây do điều kiện không thể liệt kê hết

Khi nói đến cái chết là ta nghĩ ngay đến hồn, nói cách khác hồn nằm

trong trường nghĩa, trường liên tưởng với từ chết Do đó, không phải ngẫu

nhiên mà từ hồn xuất hiện với một mật độ dày đặc đến vậy: hồn, hồn mi,

hồn ta (Cái sọ người); hồn dạt trôi, hồn say sưa (Ngủ trong sao); hồn u tối,

hồn của ai, linh hồn (Ta); cô hồn (Trên đường về); hồn trôi (Chiến tượng);

hồn phách, hồn ta (Tạo lập); đáy hồn mơ, tấm hồn ta (Những nấm mồ); cô

hồn, cô hồn, hồn ta (Bóng tối); linh hồn chìm đắm, linh hồn ta, hồn nàng,

mảnh hồn ta (Đêm tàn); lớp hồn tôi, hồn tôi, hồn tôi, hồn tôi, hồn (Hồn

trôi); hồn ma, hồn tôi, hồn cô (Vo lụa); hồn tôi (Thu); hồn bay, hồn ma,

hồn đau (Trăng điên); hồn ta (Đợi người Chiêm nữ); hồn tôi (Xuân); xác

hồn ta, linh hồn (Cõi ta); hồn ta tê liệt, Hồn Điên, hồn tàn, hồn quạnh quẽ

(Điệu nhạc điên cuồng); hồn ta, hồn ta (Đừng quên lãng); hồn ma, phách

hồn, trong hồn, hồn ma (Mồ không); hồn tôi (Đọc sách); hồn ta (Nắng

mai); hồn (Tắm trăng); vạn cô hồn, cô hồn, hồn yêu tinh, hồn yêu tinh

(Xương khô); mảnh hồn ta (Đám ma); những linh hồn, cô hồn, các cô hồn

(Tiếng trống); cô hồn, muôn cô hồn, hồn trôi (Sông linh); tấm hồn mơ

(Máu xương); hồn ta (Xương vỡ máu trào); muôn vạn linh hồn (Đầu mênh

mang) Như vậy, ở đây từ hồn xuất hiện trong trong 29 trên tổng số 36 bài

thơ – chiếm hơn 80,5 % Chẳng hạn như:

“Đây, chiến địa nơi đôi bên giao trận

Muôn cô hồn tử sĩ thét gầm vang”

(Trên đường về) Và:

“Ta hãy nghe mơ màng trong cỏ héo,

Tiếng cô hồn lặng thở khí trời đêm!”

Trang 13

(Bóng tối)

Và vv v

Nói đến cái chết còn thì hình ảnh sọ người, óc, đầu lâu cùng nằm

trong cùng một trường nghĩa, trường liên tưởng; và Chế Lan Viên đã sử

dụng những từ ngữ này trong tập thơ với tần suất xuất hiện là: sọ người, sọ,

chiếc sọ (Cái sọ người); sọ, đáy óc (Ta); đầu lâu (Bóng tối); đầu chiến sĩ

(Xuân về); sọ trắng, óc (Tiết trinh); đầu lâu, đầu ta (Mơ trăng); đầu rơi

(Chiến tượng); sọ dừa (Mộng); chiếc sọ dừa, đỉnh sọ (Điệu nhạc điên

cuồng); đầu sa, đỉnh sọ, đầu lâu, quỷ không đầu (Đầu rơi); đầu lâu, sọ dừa,

sọ dừa (Xương vỡ máu trào); đỉnh sọ, sọ trắng, sọ ta (Đầu mênh mang)

Như vậy, qua đây ta thấy từ sọ xuất hiện trong 12 bài trên tổng số 36 bài –

chiếm hơn 33% Một vài câu thơ có hình ảnh sọ người như:

“Hay mi nhớ cảnh pháp trường ghê rợn

Sọ muôn người lần lượt đuổi nhau rơi?”

(Cái sọ người) Và:

“Và mõ làng não nùng reo lốc cốc,

Tựa đầu lâu reo dưới khớp xương tàn”

(Bóng tối)

Và vv v

Cái chết làm liên tưởng đến xương, tủy, hài cốt, và tác giả tập Điêu

tàn đã sử dụng một cách cụ thể là: xương mỏng manh, khối xương khô (Cái

sọ người); xương Chàm tuôn (Trên đường về); xương tàn, xương rên (Bóng

tối); hài cốt (Xuân về); xương (Tiết trinh); xương người rên rỉ khô (Mơ

trăng); xương người (Mộng); xương khô, khớp xương (Điệu nhạc điên

cuồng); xương khô, xương tàn, tủy nồng (Mồ không); xương, ngấm tủy

(Tắm trăng); khớp xương ma, tủy đã cạn, khớp xương rợn trắng, tủy cạn,

làn xương, nền xương, khớp xương tàn (Xương khô); đống xương khô

(Song linh); tủy cứ nóng, tủy chảy, xương khô, tủy xương, xương khô, tủy

Trang 14

nồng (Máu xương); xương máu (Đầu rơi); khối xương, xương trắng, xương

vỡ rạn (Xương vỡ máu trào) Thống kê thấy từ xương cốt, tủy Chế Lan

Viên sử dụng trong 15 bài trên tổng số 36 bài – chiếm hơn 41,6 %; điều đó

thể hiện qua một vài câu thơ như:

“Ta muốn cắn mi ra từng mảnh nhỏ!

Muốn điên cuồng nuốt cả khối xương khô!”

(Cái sọ người) Và:

“Cành cây thắm nghiêng mình trong nắng sớm

Không phải là hài cốt vạn quân Chiêm!”

(Xuân về)

Nằm trong trường nghĩa, trường liên tưởng với cái chết còn là máu,

với những từ ngữ cụ thể trong tập thơ là: giọt máu đào (Cái sọ người); máu

cứ chảy (Ta); máu chàm cuộn (Trên đường về); máu chim muông, máu đỏ,

máu gào (Chiến tượng); máu Chàm ri rỉ chảy (Bóng tối); suối máu (Hồn

trôi); khối máu (Xuân về); máu (Tiết trinh); vụt máu (Cõi ta); máu hồng

tươi, máu cạn (Điệu nhạc điên cuồng); máu (Đừng quên lãng); máu đỏ (Mồ

không); máu, huyết đẫm, máu đỏ (Xương khô); trời huyết, dòng máu thắm,

tiếng huyết kêu rạo rực, nguồn máu chiến trường xa, huyết cuốn, giải máu

bơ vơ, máu dân Chàm (Sông linh); máu cứ tươi, máu lan cùng tủy chảy,

mạch máu, uống máu, máu đỏ (Máu xương); suối huyết, máu đào, xương

máu (Đầu rơi); giỏ huyết, máu sôi trào, họng máu (Xương vỡ máu trào);

nguồn máu vọt (Đầu mênh mang); ứ huyết (Điệu nhạc điên cuồng) Như

vậy thống kê thấy từ máu, huyết xuất hiện trong 19 trên tổng số 36 bài –

chiếm hơn 52,7 % Vài câu thơ tiêu biểu:

“Ta hãy nghe, trong gạch Chàm rơi lác đác,

Tiếng máu Chàm ri rỉ chảy không thôi.”

(Bóng tối) Và:

Trang 15

“Mắt bừng nóng tự nhiên trào vụt máu

Hầu câm khô tan vỡ dưới lời than!”

(Cõi Ta)

Và vv v

Rồi cái chết sẽ là sự phân rã của thân xác, thi thể, thịt: thi thể rữa

tan (Cái sọ người); thịt, ý thịt (Ta); thịt (Tạo lập); thịt người (Bóng tối); thịt

muôn người (Xuân về); hơi thịt (Tiết trinh); xác hồn (Cõi ta); thịt nát (Mồ

không); thịt nát, đầy thịt (Máu xương); thớ thịt, thi thể (Đầu rơi), hình xác

(Đọc sách) Các từ như: thi thể, thân xác, thịt xuất hiện trong 11 bài thơ

trên tổng 36 bài – chiếm hơn 30,5 % Vài câu thơ tiêu biểu:

“Có tìm chăng, những chiều không tiếng gió,

Của người mi thi thể rửa tan rồi”

(Cái sọ người) Và:

“Ta hãy nghe, trong mồ sâu lạnh lẽo,

Tiếng thịt người nẩy nở tiếng xương rên”

(Bóng tối) Và:

“Đầy hơi thịt, ý ma, cùng sắc chết”

(Tiết trinh)

Các từ ngữ như pháp trường, giết cũng nằm trong mối liên hệ,

trường liên tưởng với cái chết, chúng xuất hiện với tần suất như sau: pháp

trường (Cái sọ người); ngày tiêu diệt (Ta); chiến địa, giao trận (Trên

đường về); giết đi (Những nấm mồ); tiêu diệt (Bóng tối); bãi chém (Tiết

trinh Với những câu thơ như:

“Mi có nhớ cảnh pháp trường ghê rợn

Sọ muôn người lần lượt đuổi nhau rơi?”

(Cái sọ người) Và:

Trang 16

“Đây chiến địa nơi đôi bên giao trận”

(Trên đường về)

Cùng trường nghĩa với chết còn có từ chôn, tác giả sử dụng với mật

độ: chôn sâu, chôn tận, chôn (Những nấm mồ); an táng (Cõi ta); quàng

liệm (Những nấm mồ) Như vậy, từ chôn xuất hiện trong 3 bài thơ trên tổng

số 36 bài, tương ứng với hơn 8,3% Với những câu thơ tiêu biểu như:

“Nơi an táng khổ đau trong huyệt tối,

Nơi sinh sôi, nảy nở những hồn Điên.”

(Cõi ta) Và:

“Chuỗi ngày xanh, hùa theo nhau phai nhạt,

Dệt tấm màn quàng liệm tấm hồn ta!”

(Những nấm mồ)

Gắn với cái chết còn là huyệt mộ, là nắp hòm, với những cụm từ

như: chuỗi huyệt (Những nấm mồ); huyệt tối (Cõi ta); mộ, đáy mồ, bên mồ,

mộ trống, huyệt bỏ, mồ không ; dậy vang mồ (Mồ không); nấm mộ tàn, trên

mộ tàn, trên nấm mộ, mồ u tối (Xương khô); trăm mồ, bao mồ lạnh lẽo

(Tiếng trống); nấm mộ hoang tàn (Máu xương); đáy mồ sâu (Đầu rơi); đáy

mồ sâu (Xương vỡ máu trào); chiếc hòm con, chiếc hòm con (Đám ma);

nắp hòm săng (Máu xương); chuỗi mồ (Những nấm mồ); mồ sâu (Bóng

tối); đáy mộ (Cõi ta); mồ bạc, nấm mộ (Mơ trăng) Qua thống kê cho thấy

những từ như huyệt, nấm mồ, hòm được tác giả sử dụng trong 14 bài trên

tổng số 36 bài – với tỉ lệ tương ứng là hơn 38,8% Một vài câu thơ như:

“Cả Dĩ Vãng là chuỗi mồ vô tận,

Cả Tương Lai là chuỗi huyệt chưa thành.”

(Những nấm mồ) Và:

“Ta hãy nghe, trong mồ sâu lạnh lẽo,

Tiếng thịt người nảy nở tiếng xương rên”

Trang 17

(Bóng tối) Và:

“Nơi, cùng nhau, trước khi về đáy mộ,

Xác hồn ta đã chia rẽ đôi đường.”

(Cõi Ta) Chúng ta thường quan niệm rằng, khi chết là linh hồn con người

bước sang một thế giới khác, chết là đến với cõi hư vô, như: Cõi Hư Vô

(Những sợi tơ lòng); cõi Trời Mơ, cùng thẳm Hư Vô (Ngủ trong sao); Hư

Không (Bóng tối); Hư Vô (Tiết trinh); Ảo Huyễn (Tạo lập); xứ Trăng Mây

(Cõi ta); cõi Hư Vô (Mồ không); lạc giữa Hư Vô (Đọc sách); chốn Hư

Không (Tắm trăng); cõi Hư Vô (Tiếng trống) Thống kê được từ hư vô –

hay cõi hư vô – nơi mà chúng ta thường liên tưởng đến cuộc sống sau cái

chết xuất hiện trong 10 bài trên tổng số 36 bài – tương ứng với gần 28%

Với những câu thơ như:

“Hồn say sưa vào khắp cõi Trời Mơ,

Ai kêu ta trong cùng thẳm Hư Vô ?”

Và:

“Cho linh hồn vụt đến xứ Trăng Mây

Cho ta là không phải của ta đây”

Nói đến cái chết là nghĩ đến quỷ ma, yêu tinh: lửa ma trơi (Cái sọ

người); vạn yêu ma (Ta); muôn ma Hời (Trên đường về); quỷ ma (Tạo lập);

hồn ma tụ lại (Vo lụa); hồn ma (Trăng điên); yêu tinh (Điệu nhạc điên

cuồng); hồn ma ơi, hồn ma ơi, hồn ma (Mồ không); hồn yêu tinh, hồn yêu

tinh, yêu tinh (Xương khô); hơi ma (Máu xương); quỷ không đầu (Đầu rơi);

yêu tinh, rợn hơi ma (Xương vỡ máu trào) Thống kê cho thấy các từ quỷ

ma, yêu tinh xuất hiện trong 12 bài trên tổng số 36 – chiếm hơn 33,3%

Thể hiện qua vài câu thơ như:

Trang 18

“Hay mi nhớ những đêm mờ rùng rợn

Hồn mi bay trong đốm lửa ma trơi?”

(Cái sọ người) Và:

“Sao ở đâu mọc lên trong đáy giếng

Lạnh như hồn u tối vạn yêu ma?”

(Ta)

Và vv v

Nói đến cái chết, cõi âm, hồn ma là liên tưởng tới bóng đêm rợn

ngợp: đêm mờ rùng rợn, đêm tối (Cái sọ người); bóng tối (Trên đường về);

trong tối, một tối (Chiến tượng); cả bầu bóng tối, bóng đêm u ám (Tạo lập);

màn đêm huyền bí, mờ mịt, bóng đêm lan, đêm mờ, trời đêm, đêm trần

(Bóng tối); đêm sâu, bóng tối, bóng đêm (Đêm tàn); suốt đêm (Vo lụa);

bóng đêm kinh khủng (Trăng điên); tối, đêm (Đợi người chiêm nữ); huyệt

tối, bóng tối (Cõi ta); rùng rợn dưới trăng mờ (Mộng); những đêm u tối

(Mồ không); dằng dặc bóng đêm mờ, bóng đêm tan (Nắng mai); đêm mơ

(Xương khô); u tối (Đám ma); dày đặc khí u buồn (Tiếng trống); Hời khóc

giữa đêm sâu (Sông linh); bóng đêm luôn hoảng hốt, đêm tối (Đêm xuân

sầu); đêm mờ vắng vẻ (Đầu rơi); bóng tối (Xương vỡ máu trào) Như vậy

bóng đêm xuất hiện đầy rẫy trong tập thơ, với 20 trên tổng số 36 bài –

chiếm hơn 55,5% Với những câu thơ như:

“Hay mi nhớ những đêm mờ rùng rợn

Hồn mi bay trong đốm lửa ma trơi?”

(Cái sọ người) Và:

“Cả cảnh vật trần gian cùng mờ xóa

Trong màn đêm huyền bí.Ta bảo lòng”

Trong thế giới đầy chết chóc của Điêu tàn, Chế Lan Viên đã tập

trung “dựng lại” và khóc thương cho một dân tộc Chàm đã tuyệt diệt Vì

Trang 19

dân tộc Chàm đã tuyệt diệt, nên ở đây những gì liên quan đến dân tộc

Chàm trong tập Điêu tàn cũng xếp vào trường liên tưởng đến cái chết

Giống dân Hời với nền văn minh một thủa giờ chỉ còn lại là những vết tích

như Tháp Chàm, xương, hồn ma… Sự tồn tại của họ giờ chỉ còn là những

hoài niệm mơ hồ, xa xăm, huyễn hoặc Tác giả đã sử dụng một loạt từ ngữ,

hình ảnh, biểu tượng để nhắc đến, gợi lại dân tộc Chàm đã bị tuyệt diệt

như: gạch Chàm, Tháp Chàm, Chiêm quốc (Những sợi tơ lòng); nước non

Chiêm, bóng Chiêm nương (Ngủ trong sao); giống dân Hời, tháp gầy mòn,

tượng Chàm lở lói, ma Hời, máu Chàm, xương Chàm, Chiêm quốc, Chiêm

nữ, vua quan Chiêm, giống dân Hời (Trên đường về); voi Chàm, voi Chàm,

muôn binh Chàm, bầy voi Chàm, ánh lửa của dân Hời, vạn quân Chiêm,

voi Chàm (Chiến tượng); nước non Chàm, gạch Chàm rơi, máu Chàm ri rỉ

chảy (Bóng tối); sầu hận nước Chàm ta, nước non Chiêm (Đêm tàn); khối

máu của dân Chàm, hài cốt vạn quân Chiêm (Xuân về); người Chiêm nữ

(Đợi người Chiêm nữ); Chiêm nương, Chiêm nữ (Mộng); nước Chàm

(Nắng mai); tháp Chàm buồn tư lự, Hời khóc (Sông linh); tháp Chàm sao ủ

rũ, Chiêm nữ (Đêm xuân sầu) Thống kê cho thấy trong tập Điêu tàn, Chế

Lan Viên nhắc lại, hoài nhớ về đất nước Chiêm Thành đã diệt vong xưa rất

nhiều lần, trong 12 trên tổng số 36 bài thơ, chiếm hơn 33,3% Chẳng hạn

với những câu như:

“Đây những tháp gầy mòn vì mong đợi Những đền xưa đổ nát dưới thời gian

Những sông vắng lê mình trong bóng tối

Những tượng Chàm lở lói rỉ rên than

Đây những cảnh ngàn sâu cây lả ngọn

Muôn ma Hời sờ soạng dắt nhau đi”

(Trên đường về)

Trang 20

Nói đến cái chết là liên tưởng đến âm khí, và Chế Lan Viên đã sử

dụng cụm từ đó cùng với các từ ngữ liên quan một cách cụ thể như: rùng

rợn dưới trăng mờ (Mộng); rợn trắng khí tinh anh (Điệu nhạc điên cuồng);

hơi âm rờn rợn, khí thiêng linh (Mồ không); hơi người chết tỏa đầy, đượm

khí tanh hôi, đẫm khí tanh hôi (Xương khô); tha ma dày đặc khí u buồn

(Tiếng trống); bãi tha ma (Sông linh); lấy hơi ma, luyện âm khí (Máu

xương); u uất khí tanh hôi (Đầu rơi); khí tanh hôi (Đầu mênh mang) Kết

quả thống kê cho thấy từ âm khí được sử dụng trong 9 bài trên tổng số 36

bài – tương ứng với 25% Một vài câu thơ tiêu biểu như:

“Và xương khô, và sọ dừa, và thịt nát,

Và hơi âm rờn rợn của yêu tinh”

(Mồ không) Và:

“Lấy hơi ma nuôi sống tấm hồn mơ Luyện âm khí chuyển rung bao mạch máu.”

(Máu xương)

Như vậy, từ sự thống kê nêu trên cho những con số biết nói: từ chết

được Chế Lan Viên sử dụng trong 11/36 bài thơ, chiếm hơn 30,5%; từ hồn

có mặt trong 29/36 bài, chiếm hơn 80,5%; từ sọ người có trong 12/36 bài,

chiếm hơn 33%, từ xương người xuất hiện trong 15/36 bài, tương ứng với

hơn 41,6%; cõi hư vô được nói đến trong 10/36 bài, chiếm gần 28%; ma

quỷ có mặt trong 12/36 bài thơ, tương ứng với hơn 33,3%; bóng tối có mặt

trong 20/36 bài thơ, chiếm tới hơn 55,5%; những hình ảnh về nước non

Chàm được Chế Lan Viên nhắc đến trong 12/36 bài thơ, chiếm tới hơn

33,3%; âm khí được nói đến trong 9/36 bài, chiếm 25% Các con số thống

kê nói trên vẫn chưa phản ánh hết được mức độ xuất hiện của các từ nằm

trong trường nghĩa với cái chết mà nhà thơ sử dụng Vì trong nhiều bài

thơ, các từ ngữ nêu ra ở trên không xuất hiện một lần, có rất nhiều từ

được tác giả sử dụng nhiều lần trong cùng một bài thơ Do đó tần số

Trang 21

xuất hiện thực tế của chúng trong cả tập thơ Điêu tàn cao hơn con số

nêu ra ở trên

Nói tóm lại, từ sự thống kê trên cho thấy Điêu tàn tràn ngập sắc chết,

cõi chết Nó là chủ đề trung tâm của tập thơ Điều này chứng tỏ đối với tác

giả của nó, khi nhận thức, phản ánh đời sống bằng nghệ thuật thì cái chết

trở thành đề tài chính yếu, căn bản Và trong mảng đề tài về cái chết đó, sự

tuyệt diệt của dân tộc Chàm được Chế Lan Viên tập trung khóc thương,

tiếc nuối, tạo nên sự khác lạ Đúng như nhận xét của Hoài Thanh: Điêu tàn

đã đột ngột xuất hiện giữa làng thơ việt Nam như một niềm kinh dị… Để

có thể thấy rõ hơn niềm kinh dị này, thử đối chiếu với một vài nhà thơ tiêu

biểu khác cùng thời

Tổng kết một thời đại trong thi ca – một thời đại vừa chẵn mười năm

(1932 - 1941), Hoài Thanh lựa chọn ra 169 bài thơ của 46 nhà thơ tiêu biểu,

trong đó có Chế Lan Viên Và trong số đông đảo những nhà thơ cùng thời

ấy, mỗi người mỗi vẻ, mỗi người mỗi giọng điệu, mỗi người mỗi sắc thái

Tác giả của Thi nhân Việt Nam có những phát hiện, so sánh chính xác, tinh

tế, sâu sắc về các nhà thơ: “…hồn thơ rộng mở như Thế Lữ, mơ màng như

Lưu Trọng Lư, hùng tráng như Huy Thông, trong sáng như Nguyễn Nhược

Pháp, ảo nảo như Huy Cận, quê mùa như Nguyễn Bính, kỳ dị như Chế

Lan Viên… và thiết tha, rạo rực, băn khoăn như Xuân Diệu”; và: “Ta thoát

lên tiên cùng Thế Lữ, ta phiêu lưu trong trường tình cùng Lưu Trọng Lư, ta

điên cuồng với Hàn Mạc Tử, Chế Lan Viên, ta đắm say cùng Xuân Diệu

Nhưng động tiên đã khép, tình yêu không bền, điên cuồng rồi tỉnh, say đắm

vẫn bơ vơ Ta ngẩn ngơ buồn trở về hồn ta cùng Huy Cận”

Đánh giá, nhận xét về hồn thơ Chế Lan Viên nói riêng, Hoài Thanh

có một ý kiến xác đáng: Giữa đồng bằng văn học Việt Nam ở nửa thế kỷ

hai mươi, nó (tập Điêu tàn của Chế Lan Viên) đứng sững như một cái tháp

Chàm, chắc chắn và lẻ loi, bí mật Tổng hợp lại cho thấy, theo Hoài Thanh:

Chế Lan Viên khác xa so với phần còn lại của phong trào thơ mới, có

Trang 22

chăng gần nhất là với Hàn Mạc Tử - hai người cùng đứng đầu trong

Trường Thơ Loạn

Trước hết, so với Thế Lữ - thi nhân được xem là người có công đầu

khai sinh ra phong trào thơ mới Cho đến khi Hoài Thanh viết Thi nhân

Việt Nam, Thế Lữ đã xuất bản: Mấy vần thơ (1935) và Mấy vần thơ, tập

mới (Đời nay, Hà Nội, 1941), tức là thời gian xuất bản gần với tập Điêu tàn

(1937) Đánh giá về Thế Lữ, Hoài Thanh có nhận xét: Thi nhân ta còn nuôi

giấc mộng lên tiên, một giấc mộng rất xưa Quả đúng như vậy, hồn thơ của

Thế Lữ luôn hướng tới tiên cảnh, cõi thiên thai, miền cực lạc… vừa lạ mà

quen Lạ bởi chốn ấy chỉ có trong thi ca nhạc họa mà chưa từng được

chứng thực, nó xa cách cuộc sống trần gian, trần thế Quen bởi cái chốn mà

Thế Lữ mơ tưởng ấy đã bắt gặp nhiều trong thi ca nhạc họa Phương Đông

cổ Nói như vậy, ở đây không hề có hàm ý trọng khinh, mà chỉ muốn nhấn

mạnh rằng mảng đề tài về chốn bồng lai tiên cảnh trong thơ Thế Lữ là một

mảng đề tài không mới lạ; cái mới có chăng ở đây là được diễn đạt bằng

xúc cảm mới, thể thơ mới của con người mới (con người chịu ảnh hưởng

của văn hóa, văn minh Phương Tây, cụ thể là văn hóa, văn minh Pháp)

Thế Lữ đưa chúng ta đến với tiếng trúc tuyệt vời, tiếng sáo thiên thai,

cây đàn muôn điệu và vẻ đẹp thoáng qua Bất chấp cái thực tại xã hội lúc

này có như thế nào, thì tâm hồn thi nhân của Thế Lữ vẫn chỉ bảo cho ông

nhiều khoảng trời tươi đẹp, đầy mơ mộng, sáng trong; không gian có nét

buồn, nhưng là buồn đẹp, vì buồn mới đẹp:

“Tiếng địch thổi đâu đây,

Cớ sao mà réo rắt?

………

Tiếng vi vút như khuyên van, như dìu dặt,

Như hắt hiu cùng hơi gió heo may”

(Tiếng trúc tuyệt vời – trích Mấy vần thơ, tập mới)

Trang 23

“Hôm qua đi hái mấy vần thơ,

Ở mãi vườn tiên gần Lạc hồ”

(Vẻ đẹp thoáng qua – trích Mấy vần thơ, tập mới)

Trong Thi nhân Việt Nam, Thế Lữ có bảy bài thơ được Hoài Thanh

tuyển chọn; trong bảy bài ấy, thì có bốn bài (chiếm hơn 57,1%) viết về

chốn bồng lai tiên cảnh hoặc cảnh đẹp mơ màng, huyền diệu Thế Lữ

mơ về chốn bồng lai tiên cảnh, Chế Lan Viên lại tìm đến cõi Hư Vô; và cõi

Hư Vô mà Chế Lan Viên thường lui tới nó khác với chốn bồng lai tiên cảnh

của Thế Lữ: cùng là thế giới của tưởng tượng, của hư cấu, cái thế giới

của cõi siêu hình; nhưng cõi Hư Vô của Chế Lan Viên thường lạnh lẽo,

u buồn, tăm tối, vắng vẻ…, đó là cái thế giới đằng sau cái chết, cõi

thẳm sâu của vũ trụ Còn chốn bồng lai tiên cảnh của Thế Lữ đã bắt gặp

nhiều trong những chuyện cổ tích, trong huyền thoại Phương Đông: xứ sở

của các vị thần tiên, nơi họ sống thường hằng và vĩnh viễn, đầy yên bình,

thanh sạch… Ở đó có vườn đào nghìn tuổi, ở đó có các vị thần đi mây về

gió hay cưỡi hạc du ngoạn, có các cô tiên đẹp như trong cổ tích, với đôi

cánh trắng, trút bỏ xiêm y tắm trên hồ nước thuần khiết… với tiếng trúc

tuyệt vời, tiếng sáo thiên thai, cây đàn muôn điệu, vẻ đẹp thoáng qua

Nếu như Thế Lữ là người có công khai mở, được phong là đương

thời đệ nhất thi sĩ khi Thơ Mới phát triển vào thời kỳ đầu, thì Xuân Diệu

được xem là nhà thơ mới nhất trong các nhà thơ mới

Trang 24

Xuân Diệu cho xuất bản tập Thơ Thơ vào năm 1938 (Đời nay, Hà

Nội), tức là một năm sau khi Chế Lan Viên xuất bản tập Điêu tàn Sáng tác

trong cùng khoảng thời gian ấy nhưng giữa hai nhà thơ có sự khác biệt lớn

Tác giả của Thi nhân Việt Nam đã có một nhận xét rất hay: Với Thế

Lữ thi nhân ta còn nuôi giấc mộng lên tiên, một giấc mộng rất xưa Xuân

Diệu đốt cảnh bồng lai và xua ai nấy về hạ giới Đối với Xuân Diệu, thiên

đường không phải ở chốn bồng lai tiên cảnh xa xăm nào cả, mà thiên

đường chính là cuộc sống trần thế, cuộc sống phàm trần này – thiên đường

trên mặt đất; trong đó đẹp nhất là mùa xuân của đất trời, đặc biệt là mùa

xuân của tuổi trẻ và tình yêu Nói như Hoài Thanh: Thơ Xuân Diệu còn là

một nguồn sống rào rạt chưa từng thấy ở chốn nước non lặng lẽ này Xuân

Diệu say đắm tình yêu, say đắm cảnh trời, sống vội vàng, sống cuống quýt,

muốn tận hưởng cuộc đời ngắn ngủi của mình Khi vui cũng như khi buồn,

người đều nồng nàn, tha thiết

Điều đó hoàn toàn trái ngược với Chế Lan Viên Nếu như có thể

tạm phân vùng vũ trụ thành ba phần: trên là chốn thiên đình, bồng lai tiên

cảnh; giữa là cuộc sống hiện hữu phàm trần; và dưới cùng là chốn của yêu

ma, xác chết thì chúng ta thấy rằng: Thế Lữ mơ về cõi tiên, Xuân Diệu say

đắm với vườn trần, Chế Lan Viên lại sống chốn âm giới cùng yêu ma

Thơ Chế Lan Viên trái ngược với nhiều nhà thơ cùng thời, nhưng

trong đó có lẽ trái ngược nhất vẫn là đối với thơ Xuân Diệu Hai nhà thơ

có những vần thơ đối nghịch như thể dành riêng cho nhau Đặc biệt, có thể

nói bài Vội vàng (Xuân Diệu) và Những sợi tơ lòng (Chế Lan Viên) hoàn

toàn đối lập nhau từng câu từng ý đến không ngờ:

Xuân Diệu viết:

“Tôi muốn tắt nắng đi

Cho màu đừng nhạt mất;

Tôi muốn buộc gió lại

Cho hương đừng bay đi.”

Trang 25

Còn Chế Lan Viên lại:

“Tôi không muốn đất trời xoay chuyển nữa

Với tháng ngày biền biệt đuổi nhau trôi

Xuân đừng về! Hè đừng gieo ánh lửa ! Thu thôi sang! Đông thôi lại não lòng tôi!”

Cùng một mong muốn, ước vọng ngông cuồng có vẻ giống nhau:

muốn thời gian ngừng chảy trôi, cuộc sống, vũ trụ ngừng vận động (Xuân

Diệu đòi tắt nắng, buộc gió; Chế Lan Viên lại muốn đất trời không xoay

chuyển nữa, xuân đừng về, hè đừng đến, thu thôi sang, đông thôi lại, tháng

ngày thôi trôi), nhưng động cơ lại hoàn toàn khác nhau, đối ngược nhau:

Xuân Diệu muốn tắt nắng, buộc gió; muốn thời gian ngừng chảy trôi,

vũ trụ ngừng vận động vì ông cho rằng cuộc sống nơi trần thế là một bữa

tiệc hấp dẫn, ngon lành, đó là món quà tặng vô giá của tạo hóa, đặc biệt

nhất là cuộc sống khi mùa xuân, tuổi trẻ và tình yêu:

“Của ong bướm này đây tuần tháng mật;

Này đây hoa của đồng nội xanh rì;

………

Và này đây ánh sáng chớp hàng mi

Mỗi sáng sớm thần vui hằng gõ cửa;

Tháng giêng ngon như một cặp môi gần;”

Nhưng trớ trêu thay, trong khi mùa xuân của thiên nhiên, vẻ đẹp của

đất trời, bữa tiệc của tạo hóa là vĩnh cửu, là tuần hoàn, là không bao giờ dứt

thì cuộc sống, tuổi xuân của con người lại có hạn;đời người lại ngắn ngủi,

một đi không trở lại:

“Tôi sung sướng Nhưng vội vàng một nửa;

Tôi không chờ nắng hạ mới hoài xuân

Còn trời đất, nhưng chẳng còn tôi mãi,”

Trang 26

Cho nên Xuân Diệu muốn thay đổi quy luật của thiên nhiên, của tạo

hóa – níu giữ thời gian lại bởi ông muốn lưu lại lâu hơn những vẻ đẹp của

cuộc sống, kéo dài hơn tuổi trẻ của con người để được thưởng thức lâu hơn

những mật ngọt của cuộc sống; ông ham hố, vồ vập, yêu, say đắm với đời

Nhưng vì biết không thể chuyển di, thay đổi được quy luật của vũ trụ, ông

phải bù lại bằng cách sống vội vàng, cuống quýt, gấp gáp:

ngừng vận động không phải vì quá mê say, ham hố, vồ vập, vội vàng,

cuống quýt với đời; mà đời sống đối với ông thật buồn tẻ, vô nghĩa, đầy âu

lo và khổ đau:

“Quả đất chuyển dây lòng tôi rung động

Nỗi sầu tư nhuần thấm cõi Hư Vô !

………

Lửa hè đến! Nỗi căm hờn vang dậy ! Gió thu sang thấu lạnh cả lòng thơ !

Chiều đông tàn như mai xuân lộng lẫy

Chỉ nối thêm sầu khổ với ưu tư !”

Khi biết mong muốn thời gian ngừng trôi, cuộc đời trần thế này

ngừng vận động là không thể, Chế Lan Viên lại muốn tìm cách trốn đời,

lánh đời, chối bỏ thực tại, tìm đến cõi Hư Vô, miền xa thẳm, nơi chỉ có Ta

và Cõi Không:

“Hãy đem tôi xa lánh cõi trần gian!

Trang 27

Muôn cảnh đời chỉ làm tôi chướng mắt!

Có thể nói rằng Vội vàng là bài thơ tiêu biểu, đại diện cho thế giới

quan sáng tác của Xuân Diệu thời kỳ Thơ thơ, còn Những sợi tơ lòng là bài

thơ tiêu biểu, đại diện cho thế giới quan sáng tác của Chế Lan Viên thời kỳ

Điêu tàn, do đó sự khác biệt (đến mức gần như đối lập) về tư tưởng giữa

hai bài thơ cũng có nghĩa đó là sự khác biệt (đến mức gần như đối lập) về

thế giới quan giữa hai tác giả đó trong thời kỳ này

Bản chất của nghệ thuật đó là sự độc đáo, cá biệt, là sự đơn nhất,

không lặp lại Quả vậy, trong số gần năm mươi nhà thơ góp mặt trong Thi

nhân Việt Nam mỗi người mỗi vẻ, cùng là sáng tác thơ mới nhưng mỗi

người mỗi phong cách; cái chung và cái riêng cùng tồn tại song hành Về

đặc trưng Thơ mới, nhiều nhà nghiên cứu thống nhất rằng: Thơ mới nói

nhiều đến cái đẹp nhưng buồn Buồn cũng mỗi người mỗi kiểu Chế Lan

Viên và Huy Cận đều mang nặng những nỗi buồn trong thơ, tuy nhiên mỗi

tác giả lại có một nét riêng

Chế Lan Viên sinh năm 1920, Huy Cận sinh năm 1919; Chế Lan

Viên cho xuất bản tập Điêu tàn năm 1937, Huy Cận cho xuất bản tập Lửa

thiêng năm 1940; họ đều là những nhà thơ trẻ trong phong trào Thơ mới

giai đoạn 1932 – 1941 Hai nhà thơ trẻ tuổi nhưng không hề trẻ lòng,

ngược lại ôm trong mình những nỗi sầu vạn kiếp

Với Chế Lan Viên, cuộc sống ở cả quá khứ, hiện tại và tương lai đều

chán nản, buồn đau, vô nghĩa:

“Trời hỡi trời! Hôm nay ta chán hết

Trang 28

Những sắc màu hình ảnh của Trần Gian!”

(Tạo lập) Và:

“Trời ơi! Chán nản đương vây phủ”

Còn nói về hồn thơ Huy Cận, trong Thi nhân Việt Nam Hoài Thanh

viết: Ta ngẩn ngơ buồn trở về hồn ta cùng Huy Cận, đó là một hồn thơ ảo

não

Trong Thi nhân Việt Nam, Hoài Thanh đã tuyển chọn 11 bài thơ

trong tập Lửa thiêng của Huy Cận Với từ buồn làm trung tâm của trường

đồng nghĩa nói về sự buồn bã, với 11 bài thơ ấy thống kê thấy tác giả sử

dụng từ buồn (cùng những từ ngữ đồng nghĩa với nó) với mật độ như sau:

buồn buồn, hiu hắt ( Buồn đêm mưa); tình sầu (Tình tự); buồn nhiều (Đi

giữa đường thơm); héo hon, trơ vơ buồn, buồn heo hút (Đẹp xưa); buồn

điệp điệp, sầu trăm ngả, đìu hiu, cô lieu (Tràng Giang); vạn lý sầu, hiu hiu

buồn tiễn biệt, sầu gối tay (Vạn lý tình); nhạc buồn, chiều mồ côi, sầu úa

lá, chiều buồn, hồn buồn, ảo não, gió buồn thê thiết, cô đơn, nhạc buồn,

đau thương, nức nở, quạnh quẽ, sầu chi lắm (Nhạc sầu); lá sầu, sợi buồn,

trái sầu rụng rơi (Ngậm ngùi); buồn bã không gian, sầu thu lên vút, cây

hiu quạnh, lòng quạnh hiu, buồn chiều, tiêu điều (Thu rừng) Thống kê

thấy rằng: có tới 9 bài trên tổng số 11 bài thơ Huy Cận nói trực tiếp đến từ

buồn (chiếm gần 82% trong tổng số bài thơ được Hoài Thanh tuyển

chọn), qua đây chứng tỏ rằng nỗi buồn luôn thường trực trong thơ Huy

Cận Vài vần thơ tiêu biểu như:

“Trơ vơ buồn lọt quán chiều,

Trang 29

Mái nghiêng nghiêng gửi buồn theo hút người.”

(Đẹp xưa) Và:

“Ảo não quá trời buổi chiều vĩnh biệt!

Và ngươi nữa, tiếng gió buồn thê thiết

Xin lặng dùm cho nhẹ bớt cô đơn”

(Nhạc sầu)

Và vv v

Như vậy, nét buồn của Chế Lan Viên cũng dài, cũng rộng, cũng sâu

theo không gian và thời gian (theo không gian: chối bỏ thực tại, tìm đến cõi

siêu thực; theo thời gian: nỗi buồn thương về dân tộc Chàm đã tuyệt diệt),

nhưng nét buồn của ông lại đầy tiếng động, đầy âm thanh, đầy sức lực,

nhiều năng lượng; không chỉ nỗi buồn, khi nói đến cái chết, quỷ ma

cũng vậy (sẽ nói kỹ ở phần sau) Còn nỗi buồn trong thơ Huy Cận lại là

nỗi buồn rười rượi Đó là nỗi buồn mà con người thấy mình lạc loài giữa

mênh mông của đất trời, cái xa vắng của thời gian, một nỗi sầu thấm

yên ắng, tĩnh lặng: buồn buồn, hiu hắt, héo hon, trơ vơ buồn, gió đìu

hiu,bến cô liêu, gió hiu hiu, chiều mồ côi, sầu úa lá, chiều buồn, phố đìu

hiu, ảo nảo, buồn thê thiết, đườngquạnh quẽ, lòng quạnh hiu, cây hiu

quạnh, nhân gian tiêu điều… Từ thống kê trên thấy rằng để diễn tả nỗi

buồn, trong Lửa Thiêng tác giả sử dụng rất nhiều từ láy để chỉ nổi buồn

rười rượi, buồn thê thiết Dường như trong không gian và thời gian (thời

gian cũng là chiều thứ tư của không gian) không hề có âm thanh, không hề

có tiếng động; mà lặng lẽ, âm thầm; không có gì cả, chỉ có nỗi buồn và

không gian; nói đúng hơn thì âm thanh, tiếng động thật nhỏ bé, trơ trọi, lạc

lõng, xa vắng, yếu ớt … cho nên có mà tưởng như không có trong không

gian mênh mông, khôn cùng mang chiều kích vũ trụ, vạn kiếp

Trở lên trên, khi so sánh Chế Lan Viên với Thế Lữ, Xuân Diệu, Huy

Cận nhận thấy phần lớn đó là sự khác biệt Trong số các tác giả trong

Trang 30

phong trào thơ mới thời bấy giờ thì thơ của Hàn Mạc Tử và Chế Lan Viên

mới có nhiều điểm tương đồng nhất Hàn Mạc Tử, Chế Lan Viên cùng với

Quách Tấn, Yến Lan được người đương thời ở Bình Định gọi là Bàn thành

tứ hữu, tức là bốn người bạn ở Thành Đồ Bàn Trong đó, Hàn Mạc Tử cùng

Chế Lan Viên được xem là chủ soái của Trường thơ Loạn (Thơ Điên) Như

đã dẫn ra ở trên, về hai nhà thơ này, Hoài Thanh đã có nhận xét: ta điên

cuồng với Hàn Mạc Tử và Chế Lan Viên

Trong lời tựa Điêu tàn, Chế Lan Viên viết: Hàn Mạc Tử nói: làm thơ

tức là điên Tôi thêm: làm thơ là làm sự phi thường Thi sĩ không phải là

Người Nó là người Mơ, người Say, người Điên Nó là Tiên, là Ma, là Quỷ,

là Tinh, là Yêu Nó thoát Hiện Tại Nó xối trộn Dĩ Vãng Nó ôm trùm

Tương Lai Người ta không hiểu được nó vì nó nói những cái vô nghĩa, tuy

rằng những cái vô nghĩa hợp lí

Dẫn ra đây nhận xét của Hoài Thanh và lời tựa của Chế Lan Viên khi

viết tập Điêu tàn, ngoài mục đích nhằm lấy cơ sở để soi sáng, để lý giải

phần nào nội dung tư tưởng của tập Điêu tàn (sẽ nói kĩ ở phần sau) trước

hết nhằm mục đích muốn khẳng định rằng giữa hai nhà thơ này có sự thống

nhất, bổ sung, bổ khuyết cho nhau về quan điểm, tuyên ngôn sáng tác thơ;

do đó sự tương đồng về thơ của họ là một hiện tượng không có gì lạ

Chế Lan Viên cũng từng đã dành những lời có cánh đối với Hàn Mạc

Tử: Trước không có ai, sau không có ai, Hàn Mặc Tử như một ngôi sao

chổi xoẹt qua bầu trời Việt Nam với cái đuôi chói lòa rực rỡ của mình; và:

Tôi xin hứa hẹn với các người rằng, mai sau, những cái tầm thường, mực

thước kia sẽ biến tan đi, và còn lại của cái thời kỳ này, chút gì đáng kể đó

là Hàn Mạc Tử Do đó, với tư cách là người đi trước, Hàn Mạc Tử ít nhiều

chắc hẳn có ảnh hưởng đến thơ Chế Lan Viên

Như chúng ta biết, thơ Hàn Mạc Tử tràn ngập ánh trăng Nói như

Hoài Thanh: Ta thấy những gì chung quanh ta? Trăng, toàn trăng, một ánh

trăng gắt gao, ghê tởm, linh động như một người, hay đúng hơn như một

Trang 31

yêu tinh Trăng ở đây cũng ghen, cũng giận, cũng cay nghiệt, cũng trơ tráo

và chũng náo nức giục tình Bắt gặp trăng đủ loại, đủ kiểu, rất phong phú

trong thơ Hàn:

“Mới lớn lên trăng đã hẹn hò

Thơm như tình ái của ni cô

………

Không gian dày đặc toàn trăng cả Tôi cũng trăng mà nàng cũng trăng”

(Huyền ảo) Và:

“Cười như điên sặc sụa cả mùi trăng

Tôi dìm hồn xuống một vũng trăng êm, Cho trăng ngập trăng dồn lên tới ngực

(Hồn là ai) Và:

“Trăng nằm sóng soãi trên cành liễu

Đợi gió đông về để lả lơi

……

Ô kìa bóng nguyệt trần truồng tắm

Lộ cái khuôn vàng dưới đáy khe.”

(Bẽn lẽn)

Và vv v

Không chỉ Hàn Mạc Tử, thơ Chế Lan Viên cũng đầy rẫy ánh trăng,

điều đặc biệt nữa là trăng cũng mang hình hài, dáng dấp của con người,

trăng đẹp nhưng kỳ dị:

“Ta ôm Nàng trong những nguồn trăng đổ

Ta ghì Nàng trong những suối trăng sao

……

Trang 32

Nhưng mà trăng! Nhưng mà sao! Nhưng mà gió

Ồn ào lên tán loạn chạy quanh ta”

(Ngủ trong sao) Và:

“Trăng là trăng! Ngoài kia thôi chan chứa

Thôi tràn trề ngây ngắt những là trăng!

Trong nhạc trăng vang nổi khắp cung mây!”

(Vo lụa) Và:

“Đang điên cuồng giãy giụa giữa vũng trăng

Mà mảnh trăng cũng điên rồi em ạ

Bỗng dưng sao rơi xuống đáy hồ sâu?”

(Trăng điên)

Cùng với trăng thì máu và hồn là bộ ba hình tượng thơ quan trọng

trong thơ Hàn Ở đây chỉ làm thao tác liệt kê một số hình ảnh trăng, máu,

hồn có trong thơ Hàn mà không đi vào lý giải tại sao thơ Hàn lại có nhiều

những hình ảnh thơ ấy Mục đích chỉ là chỉ ra sự có mặt giống nhau về các

hình ảnh, biểu tượng thơ ấy giữa hai nhà thơ mà thôi

Những câu thơ vấy máu trong thơ Hàn:

“Ôi ta đã mửa ra từng búng huyết

Khi say sưa với lượn sóng triền miên

(Biển Hồn Ta)

Và:

“Và ai gánh máu đi trên tuyết,

Mảnh áo da cừu ngắm nở nang”

(Cuối Thu) Và:

Trang 33

“Bao giờ mặt nhật tan thành máu”

(Những Giọt Lệ) Và:

“Bao nét chữ quay cuồng như máu vọt,

Cho mê man chết điếng cả làn da

Cứ để ta ngất ngư trong vũng huyết,”

(Rướm máu)

Hồn trong thơ Hàn:

“Hồn là ai? là ai? tôi chẳng biết

Hồn theo tôi như muốn cợt tôi chơi

Môi đầy hương tôi không dám ngậm cười

Hồn vội mớm cho tôi bao ánh sáng ”

(Hồn là Ai) Và:

“Ta Trút Linh Hồn giữa lúc đây

Gió sầu vô hạn nuối trong cây”

(Trút Linh Hồn) Ngoài ra còn có nhiều câu thơ khác nữa mà không liệt kê ra ở đây

Còn riêng đối với thơ Chế Lan Viên, những hình ảnh, biểu tượng về

hồn và máu trong tập Điêu tàn đã thống kê một cách cụ thể ở phần trước

Tóm lại, trong mối liên hệ, so sánh với các nhà thơ cùng thời thì thơ

Hàn và Chế có nhiều điểm giống nhau nhất Nhưng ở đây chỉ nêu ra một

vài điểm tương đồng bằng việc liệt kê hình tượng thơ mà không đi sâu vào

phân tích, lý giải những hình tượng ấy trong thơ Hàn, công việc ấy xin

tham khảo những bài nghiên cứu về thơ Hàn

Trở lại điều được đề cập ở trước: Thế giới nghệ thuật trong Điêu tàn

là thế giới của cõi chết, cần phải lưu ý rằng: khi hoàn thành tập thơ này, tác

giả của nó là một chàng trai mới 17 tuổi, đang ngồi trên ghế nhà trường

Như cha ông ta vẫn thường nói rằng: Tuổi mười bảy bẻ gãy sừng trâu Với

Trang 34

hàm ý đây là lứa tuổi phát triển mạnh mẽ nhất, tràn đầy sinh lực, sức sống

cả về tâm và sinh lý Lứa tuổi của những ước mơ cao xa, bay bổng, giàu

khát khao, hy vọng Vậy mà nhà thơ trẻ tuổi Chế Lan Viên không hề “bình

thường” như vậy, ngược lại bị nỗi ám ảnh của cái chết xâm lấn, dày vò

Đến đây, xuất hiện một câu hỏi lớn: Tại sao Chế Lan Viên lại bị ám ảnh

của cái chết (đặc biệt) khi mới 17 tuổi? Tại sao ông lại khóc thương cho

dân tộc Chàm nhiều như vậy? Điều ấy có ý nghĩa gì? Tại sao trên thi

đàn Việt Nam lại xuất hiện hiện tượng đột ngột, như một niềm kinh dị

như vậy?

1.2 Nguồn cội của Điêu tàn

Đánh giá, lí giải về Điêu tàn nói chung và những câu hỏi nêu trên nói

riêng, cho đến nay vẫn còn làm băn khoăn nhiều nhà nghiên cứu Ý kiến

của mỗi người bổ sung cho nhau để làm rõ hơn nhận thức về tập thơ Mặc

dù có nhiều sự khác biệt, tuy nhiên, khi tìm cách lý giải tại sao Chế Lan

Viên lại nói nhiều về chủ đề cái chết cùng với tiếng khóc thương cho dân

tộc Chàm như vậy, các nhà nghiên cứu thống nhất với các luận điểm cơ bản

sau:

1.2.1 Ám ảnh tháp Chàm

Không gian, cảnh quan, môi trường sống xung quanh đã tác động,

ảnh hưởng nhiều đến tâm hồn, thế giới cảm xúc thẩm mĩ của nhà thơ – cậu

thiếu niên trẻ tuổi

Như đã biết, khi sáng tác tập thơ đầu tay này, cậu bé Phan Ngọc

Hoan mới 15, 16 tuổi, đang học Trường Trung học Quy Nhơn Trên đường

đi về hàng ngày, từ thành Bình Định đến trường trung học, hai ngôi tháp

Chàm ở làng Hưng Thạnh nghiêm mình đứng sững, cắm sâu vào mắt cậu

học trò bé nhỏ như hai mũi tên nhọn, làm cho tâm trí cậu học sinh luôn bị

căng thẳng Những đêm đông lạnh, ở nội thành Bình Định, trong một ngôi

nhà lá nhỏ, cậu thiếu niên ngồi lắng nghe lá bàng rơi, trái mù u rụng, rồi

nằm dài trên chiếc võng gai, đối diện với ngọn đèn dầu, cậu thiếu niên giàu

Trang 35

suy tưởng mở cuộc thẩm vấn với tên lính dĩ vãng của ngàn xưa Sinh sống

trên đất của nước non Chiêm xưa, mắt luôn nhìn những cảnh tượng Điêu

tàn của một dân tộc bị diệt chủng, tai thường thu nhận những âm thanh lạ

lùng ghê rợn xuất phát từ một cõi đêm nào đầy bóng ma quái…, bấy nhiêu

cơ hội, cảnh trí tạo nên những yếu tố để minh chứng một cách xác thực sự

hiện diện của Lan Viên và tập thơ Điêu tàn trong làng thơ Việt Nam Nói

cách khác, những cơ hội và cảnh trí trên đã trở thành bối cảnh đặc biệt cho

sự phát sinh con người Lan Viên Điều này được ghi dấu trong những câu

thơ của Điêu tàn:

“Tháng ngày qua gạch Chàm đua nhau rụng Tháp Chàm đua nhau đổ dưới trăng mờ”

(Những sợi tơ lòng) Và:

“Đây những Tháp gầy mòn vì mong đợi Những đền xưa đổ nát dưới Thời Gian”

(Trên đường về) Quả thật, đúng như Chế Lan Viên khẳng định trong thơ, những Tháp

Chàm đứng chơ vơ, lẻ loi trên con đường mà tác giả thường đi ngang qua

là cội nguồn của những liên tưởng và tưởng tượng:

“Những cảnh ấy trên đường về ta gặp Tháng ngày qua ám ảnh mãi không thôi

Và từ đấy lòng ta luôn tràn ngập Nỗi buồn thương nhớ tiếc giống dân Hời”

(Trên đường về) Tóm lại những di tích Chàm, những ký ức về một nền văn minh bị

mai một gây nên tâm trạng buồn thương, nhớ tiếc, ám ảnh Điêu tàn khai

thác một đề tài thi ca có căn cứ lịch sử nhưng không rõ quan hệ với thi

nhân: sự sụp đổ của nhà nước Chàm Một thế giới u linh của những quỷ dữ

ma Hời, những đầu lâu, sọ dừa, máu xương cân não và những tiếng khóc

Trang 36

than không dứt Cuối cùng là tấm lòng đau đớn, nuối tiếc không nguôi của

nhà thơ với những gì đã mất đi của xứ Chàm

1.2.2 Lòng yêu nước

Chất liệu thi ca nói trên cho phép nhà thơ có thể biểu hiện nỗi buồn

và luyến tiếc những ngày qua Cái mất đi không chỉ là số phận một con

người, một làng quê, mà cả một nhà nước Chàm Có những cái mất trong

sự vận động của lịch sử nhưng vẫn gợi lên những nuối tiếc Nhà thơ còn

muốn qua câu chuyện cũ và con người năm xưa nói lên bao điều với hiện

tại Chính Chế Lan Viên đã viết: Điêu tàn có riêng gì cho nước Chiêm

Thành yêu mến của tôi đâu ? Ở đây, nói về cái chết, sự tuyệt diệt và tiếng

khóc không chỉ dành cho dân Chàm, mà nó mang một ý nghĩa khái quát

sâu hơn, cao hơn

Viết nhiều về cái chết là một cách “đặc biệt” để ông phủ nhận

thực tại, qua đó nhằm dán tiếp bộc lộ, thể hiện lòng yêu nước Điêu tàn

đã thể hiện thầm kín tấm lòng yêu nước, một đất nước đang tồn tại nhưng

thực sự đang Điêu tàn trong chế độ và cảnh đời cũ Tố Hữu đã nhận xét:

Chế Lan Viên gợi lên nỗi hoài vọng của dân tộc Chàm ngày xưa theo cách

của anh, đó cũng là một lời ca yêu nước bởi anh khóc cho số phận của

những dân tộc bị đô hộ

Theo Nguyễn Minh Vỹ: Để có sự tác động mạnh mẽ đến cậu bé thư

sinh Phan Ngọc Hoan để có thể sinh ra những bài thơ như trong Điêu tàn

thì đó không chỉ là những di tích Chàm, những ký ức về một nền văn minh

đã bị mai một, gây nên tâm trạng buồn thương nhớ tiếc ám ảnh anh, mà

chính là cuộc sống trước mắt lúc bấy giờ, cuộc sống của đích thân người

Việt Nam, dân tộc Việt Nam mà Chế Lan Viên là một thành viên Đó là lúc

chính quyền thực dân, phong kiến trước áp lực thắng lợi của những phong

trào đòi các quyền dân sinh dân chủ ở chính quốc cũng như tại chỗ, bị bắt

buộc phải thực hiện một số yêu sách chính đáng của nhân dân, ban hành

một số điều không thể bưng bít, kìm hãm được nữa, như tự do tổ chức đoàn

Trang 37

thể, tự do hội họp, tự do ngôn luận, báo chí, tự do đi lại… Nhưng vì bản

chất không hề thay đổi, chúng lại nhân tình hình đó, đưa ra một số biện

pháp mị dân, mà cái cốt lõi là tạo nên một cuộc sống phồn vinh giả tạo,

thực chất là trụy lạc, bê tha, nhất là ở các thành thị, để đánh lạc hướng quần

chúng, trong đó đối tượng chủ yếu bị ảnh hưởng là thanh niên, học sinh,

sinh viên Đó là thời kỳ phát triển đến độ cao của văn hóa lãng mạn, văn

học lãng mạn, thơ ca, tiểu thuyết lãng mạn dưới danh nghĩa tự do, tiến bộ

hòng giành giật tâm hồn con người, của mỗi người, không để họ đi theo

con đường cách mạng chân chính Riêng trên mặt trận văn học, một mặt có

sự phổ biến tương đối rộng rãi các sách báo tiến bộ của Đảng ở trong nước,

các tác phẩm văn nghệ tiến bộ của Pháp, cũng như của Liên Xô, do đòi hỏi

chính đáng của người đọc, truyền bá những quan điểm, tư tưởng chính

thống của Đảng cả về chính trị - xã hội, văn hóa, nghệ thuật Nhưng mặt

khác cũng có sự tràn ngập những tác phẩm lãng mạn kiểu nói trên, có khả

năng câu độc giả, làm cho họ nhất là thanh niên, say mê thực sự, đầu độc

tâm hồn, làm lạc hướng suy tư của họ, đưa họ vào con đường ăn chơi sa

đọa – gọi là tự do không còn thấy, không còn nghĩ được rằng bản thân, đất

nước, dân tộc đang còn trong ách nô lệ của đế quốc, phong kiến, dù cái ách

đó có được mạ thêm, sơn phết thêm màu gì đi nữa! Đó là thời kỳ bắt đầu

mọc lên, nhanh chóng phổ cập những quán trà, tiệm nhảy, những kiểu áo

quần, đầu tóc, những giọng hát, bài ca mới ủy mị, “thoải mái” đưa con

người ta thoát khỏi cõi trần gian, làm cho con người không còn thấy cái địa

ngục trên cõi trần gian nữa, mà lâng lâng sống với ước mơ phồn hoa giả

tạo, xa vời, trống rỗng ở một chốn huyền ảo nào đó… Làm sao vạch trần

được điều đó, làm sao tố giác điều đó, làm sao phản ánh điều đó, làm sao

cho con người đã bị lôi cuốn vào cuộc sống ấy hãy dừng lại ở ngưỡng cửa

của sự tha hóa do kẻ địch đang giăng bẫy Không phải là công việc dễ

dàng

Trang 38

Đó là cái mầm mống, đó là điều kích thích tâm hồn của nhà thơ trẻ

lúc ấy có lẽ đang ở ngã ba đường: hoặc là đi vào cuộc sống mà hầu như

mọi người đang sống, có vẽ dễ dàng, thuận chiều nghĩa là cũng sống, cũng

học hành, cũng đỗ đạt, cũng kiếm ra một việc làm khả dĩ giúp mình sống

được… phong lưu, và cứ thế, cũng ăn chơi như mọi người, nào có sao đâu?

Hoặc cố giữ mình đừng sa vào cạm bẫy của địch cũng được rồi… đã khác

thường rồi! Còn viết, cũng có một cách viết dễ dàng, xuôi chiều, ca tụng,

cổ vũ điều mà dường như mọi người ca tụng: yêu đương, sống gấp, âu đó

cũng là thực tiễn của nhân sinh Hoặc viết cái gì khác hơn…

Chế Lan Viên có lẽ đã làm thơ, viết Điêu tàn trong niềm suy tư nói

trên, tự giải đáp cho mình nỗi phân vân đó

Nói lên nỗi đau khổ, nói lên lòng tiếc thương một dân tộc, làm cho

tinh thần yêu nước của mọi người có một chiều sâu mới, có khả năng đi sâu

chen vào giành lại chỗ đứng của nó trong tâm hồn mọi người, lắng đọng lại

để có dịp bung ra thành một sức mạnh mới, như “tiếng sét” làm muôn tinh

cầu toang vỡ dưới trời xanh

Không phải Chế Lan Viên viết Điêu tàn chỉ dành riêng cho dân tộc

Chàm, tuy rất đúng là quá khứ của dân tộc Chàm đã tác động vào chiều sâu

tâm hồn nhà thơ Không phải Chế Lan Viên viết Điêu tàn chỉ để dành cho

một ai khác bó hẹp, nhỏ bé; mà viết cho chính dân tộc Việt Nam, cho

những người Việt lúc bấy giờ đang trên bờ vực thẳm do kẻ thù mưu toan

đẩy vào! Nhà thơ đã lấy hình ảnh Điêu tàn, kinh nghiệm Điêu tàn của nòi

giống Chiêm Thành để nói lên ẩn họa cái chết, sự diệt vong, nỗi đau khổ

của chính người Việt

Còn theo cách nói của Ngô Văn Phú, Điêu tàn cũng đã gieo cho

những người đọc thời ấy nhớ rằng: mình có một tổ quốc vinh quang, tráng

lệ mà đã để mất Đó là công của Điêu tàn

Quay về quá vãng để nói nỗi bi phẫn của hiện tại bằng hình ảnh lạ là

sự độc đáo, riêng biệt của Chế Lan Viên Nước non Chiêm hay nước non

Trang 39

Việt? có cả hai Trong tận cùng tư tưởng thi ca Chế Lan Viên, ta thấy một

tiếng thở dài xót xa cho dân tộc Việt đang lúc vận cùng, hoài vong quốc

Chúng ta lại còn dành riêng cho họ một nhà thơ, để vì họ giải giùm những

nỗi uất ức bao nhiêu năm như nghẹn ngào trên sông núi này (Hoài Thanh)

Nói tóm lại, trước một hiện thực bế tắc, khủng hoảng, người thơ

không biết bấu víu vào đâu Các thi sĩ khác lao vào tình yêu, mộng mơ,

nhưng Chế Lan Viên lại khác, ông thấy thực trạng nước Nam thời ông

sống Họa Điêu tàn có riêng gì cho một dân tộc, một chủng tộc Ông muốn

chọn cho mình một lãnh địa phù hợp nhất để nói lên gián tiếp cái hiện thực

mình đang khắc khoải

1.2.3 Bộc lộ một quan điểm thẩm mĩ mới

Dựng nên một thế giới nghệ thuật như một niềm kinh dị như vậy

trong Điêu tàn cũng là một cách để tác giả bộc lộ một quan niệm thẩm mĩ

mới

Chế Lan Viên, cùng với Hàn Mạc Tử, Yến Lan, Quách Tấn, đã lập

nên Trường Thơ Loạn trên xứ sở kinh đô của vương quốc Chàm xưa Có

thể coi lời tựa Điêu tàn (đã dẫn ra ở trên) do chính ông viết hồi đó chính là

tuyên ngôn và cương lĩnh của trường thơ này Trường Thơ Loạn “chịu ảnh

hưởng trực tiếp những quan niệm thẩm mĩ của Edgar Poe” Quan niệm

thẩm mĩ của Poe là: Xa lánh cái thế giới thường ngày tẻ nhạt, thích tạo ra

một thế giới khác nên thơ hơn, kinh dị hơn Điểm tựa chính của ông là hình

ảnh, khái niệm “dream”, tức là sự mộng mơ, mơ tưởng, mơ ước Thơ ông

mang tính siêu cảm, mọi thứ trong đó đều bao phủ một làn sương khói, bay

bổng, không trọng lượng, không da thịt và hầu như không thể lí giải được;

thơ chủ yếu viết về tâm trạng

Về sau, nhóm thơ Bình Định chịu ảnh hưởng nhiều của các nhà thơ

Pháp, đặc biệt là của Charles Baudelaire Với Baudelaire thì: “Hỡi cái đẹp!

Con quái vật vĩ đại khủng khiếp và chất phác thơ ngây Dù ngươi đến từ

trời cao hay địa ngục Điều đó có hề chi Nếu con mắt, nụ cười và bàn chân

Trang 40

của ngươi mở cho ta cánh cửa của vô tận mà ta mến yêu và chưa hằng biết

đến” Thế giới bên trong ở thơ Baudelaire đầy những nghịch lí: “Người phụ

nữ đẹp sẽ là “một cái xác thối” dưới mồ, giòi bọ xâu xé, ăn thịt; bà già còm

cõi, trước kia là một thiếu nữ có trái tim yêu nồng nàn; con thiên nga lê lết

đôi cánh trắng muốt trong cống rãnh; con hải âu cánh mênh mông, rơi

xuống sàn tàu, trở thành trò đùa cợt ác tâm của những gã thủy thủ” Chịu

ảnh hưởng của quan niệm thẩm mĩ đó, nhóm thơ Bình Định bắt đầu “đi tìm

cái đẹp ở bến bờ xa lạ của cảm giác, tìm những khoái lạc bệnh tật ở những

vùng đất hoang dại chưa được khai phá” Hàn Mạc Tử có Chơi giữa mùa

trăng, Bích Khê có Sọ người, Xác thịt, Ăn mày…, Hoàng Diệp có Người

say, Phút trụy lạc, Chế Lan Viên thể hiện trong Điêu tàn Hàn Mạc Tử đề

tựa Tinh huyết của Bích Khê viết: “Thi sĩ khát khao, hoài vọng với cái mới,

cái đẹp, cái gì rung cảm hồn phách chàng đến tê liệt, dại khờ, dù cái đẹp ấy

cao cả hay ti tiện, tinh khiết hay nhơ bẩn, miễn là có tính chất gây nên đê

mê, khoái lạc Tới đây, ta nhận thấy văn thơ của Bích Khê nhuộm đầy máu

huyết của Baudelaire, tác giả tập Hoa ác (Les fleurs du Mal) Thơ lúc ấy sẽ

ham thích hết sức những cái gì thanh cao, như hương thơm nhân đức của

các vì á thánh hay say mê điên dại cái gì hết sức tội lỗi mà người thế gian

chưa hề phạm tới”

Từ những điều trên ta thấy quan niệm về thơ và nhà thơ của Trường

Thơ Loạn đã có sự thay đổi Yếu tố cực đoan, mạnh mẽ dị thường đã được

tăng cường vào tác phẩm Theo nhà nghiên cứu Hà Minh Đức: “Họ muốn

xác lập một thế giới mới trong thi ca khác với quan hệ quen thuộc của đời

thường… Cái logic của thi ca đã trở nên khác biệt và nhiều khi đối lập với

logic của cuộc đời Nhà thơ, chủ thể sáng tạo là một nhân tố mạnh, xem

mình như một trung tâm của vạn vật mà bộc lộ cảm xúc một cách khác

thường”

Như vậy, cùng với một số nhà thơ khác trong nhóm thơ Bình Định,

Chế Lan Viên đã tỏ lộ một quan niệm nghệ thuật khác lạ so với thơ ca Việt

Ngày đăng: 23/03/2015, 09:45

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Aristốt, Nghệ thuật thơ ca, NXB văn hóa nghệ thuật Hà Nội, 1964 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghệ thuật thơ ca
Nhà XB: NXB văn hóa nghệ thuật Hà Nội
2. Vũ Tuấn Anh (tuyển chọn và giới thiệu, 2007), Chế Lan Viên – Về tác gia và tác phẩm, NXB Giáo Dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chế Lan Viên – Về tác gia và tác phẩm
Nhà XB: NXB Giáo Dục
3. Vũ Tuấn Anh (giới thiệu và tuyển chọn, 2009), Chế Lan Viên – Tác phẩm chọn lọc, NXB giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chế Lan Viên – Tác phẩm chọn lọc
Nhà XB: NXB giáo dục
4. Lại Nguyên Ân (biên soạn, 1999), 150 Thuật ngữ Văn học, NXB ĐHQG Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: 150 Thuật ngữ Văn học
Nhà XB: NXB ĐHQG Hà Nội
5. Nguyến Phan Cảnh (2001), Ngôn ngữ thơ, NXB Văn Hóa – Thông Tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ thơ
Tác giả: Nguyến Phan Cảnh
Nhà XB: NXB Văn Hóa – Thông Tin
Năm: 2001
6. Huy Cận, Trần Khánh Thành sưu tầm, tuyển chọn, Trần Khánh Thành giới thiệu (1999), Huy Cận đời và thơ, NXB Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Huy Cận đời và thơ
Tác giả: Huy Cận, Trần Khánh Thành sưu tầm, tuyển chọn, Trần Khánh Thành giới thiệu
Nhà XB: NXB Văn học
Năm: 1999
7. Đỗ Hữu Châu (1998), Từ vựng ngữ nghĩa tiếng Việt, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ vựng ngữ nghĩa tiếng Việt
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1998
8. Mai Ngọc Chừ - Vũ Đức Nghiệu – Hoàng Trọng Phiến (2008), Cơ sở ngôn ngữ học và tiếng Việt, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở ngôn ngữ học và tiếng Việt
Tác giả: Mai Ngọc Chừ - Vũ Đức Nghiệu – Hoàng Trọng Phiến
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2008
9. Nguyễn Văn Dân (2006), Phương pháp luận nghiên cứu văn học, NXB Khoa Học Xã Hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp luận nghiên cứu văn học
Tác giả: Nguyễn Văn Dân
Nhà XB: NXB Khoa Học Xã Hội
Năm: 2006
10. Gia Dũng (sưu tầm – biên soạn – tuyển chọn, 1998), Chúng tôi đánh giặc và làm thơ, NXB Thanh niên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chúng tôi đánh giặc và làm thơ
Nhà XB: NXB Thanh niên
11. Hoàng Dũng – Bùi Mạnh Hùng (2997), Dẫn luận Ngôn ngữ học, NXB Đại học sư phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dẫn luận Ngôn ngữ học
Nhà XB: NXB Đại học sư phạm
12. Xuân Diệu – Tế Hanh – Hoàng Trung Thông – Chế Lan Viên (tuyển chọn, 1976), Thơ Việt Nam 1945 – 1975, NXB Tác phẩm mới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thơ Việt Nam 1945 – 1975
Nhà XB: NXB Tác phẩm mới
13. Phan Cự Đệ (1982), Phong trào Thơ mới (1932 – 1945), NXB Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phong trào Thơ mới (1932 – 1945)
Tác giả: Phan Cự Đệ
Nhà XB: NXB Khoa học xã hội
Năm: 1982
14. Hà Minh Đức (1974), Thơ và mấy vấn đề trong thơ Việt Nam hiện đại, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thơ và mấy vấn đề trong thơ Việt Nam hiện đại
Tác giả: Hà Minh Đức
Nhà XB: NXB Khoa học xã hội
Năm: 1974
15. Quang Huy – Nguyễn Bùi Vợi – Võ Văn Trực (tuyển chọn, 1994), Tuyển tập thơ lục bát Việt Nam, NXB Văn hóa, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuyển tập thơ lục bát Việt Nam
Nhà XB: NXB Văn hóa
16. Chính Hữu – Hà Minh Đức – Hữu Thỉnh – Lý Hải Châu – Nguyễn Bao – Nguyễn Minh Tấn – Quang Huy – Võ Văn Trực – Xuân Diệu (tuyển chọn, 1985), Thơ Việt Nam 1945 – 1985, NXB Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thơ Việt Nam 1945 – 1985
Nhà XB: NXB Văn học
17. Mai Hương – Thanh Việt (tuyển chọn và biên soạn, 2006), Thơ Chế Lan Viên – Những lời bình, NXB Văn hóa thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thơ Chế Lan Viên – Những lời bình
Nhà XB: NXB Văn hóa thông tin
18. Mai Hương (tuyển chọn và biên soạn, 2000), Thơ Tố Hữu những lời bình, NXB Văn hóa thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thơ Tố Hữu những lời bình
Nhà XB: NXB Văn hóa thông tin
19. Bích Hà (tuyển chọn và giới thiệu, 2006), Xuân Diệu một cái tôi khao khát nồng nàn, NXB Hội Nhà văn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xuân Diệu một cái tôi khao khát nồng nàn
Nhà XB: NXB Hội Nhà văn
20. Bích Hà (tuyển chọn và giới thiệu, 2006), Hàn Mạc Tử một cá tính sáng tạo độc đáo, NXB Hội Nhà văn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hàn Mạc Tử một cá tính sáng tạo độc đáo
Nhà XB: NXB Hội Nhà văn

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w