1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Giọng điệu thơ chế lan viên

114 23 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 114
Dung lượng 898,19 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Có một điểm thống nhất chung ở các nhà nghiên cứu phê bình là Chế Lan Viên có một giọng điệu thơ riêng, không thể lẫn với một ai, giọng điệu thơ riêng đó là "điệu hồn" riêng của nhà thơ

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

GIỌNG ĐIỆU THƠ CHẾ LAN VIÊN

LUẬN ÁN THẠC SĨ KHOA HỌC NGỮ VĂN

CHUYÊN NGÀNH : VĂN HỌC VIỆT NAM

MÃ SỐ : 5.04.33

NGƯỜI HƯỚNG DẪN : PHÓ GIÁO SƯ TIẾN SĨ TRẦN HỮU TÁ

NGƯỜI THỰC HIỆN : NGUYỄN HOÀNG MINH HÀ

KHÓA 8 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

2000

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

GIỌNG ĐIỆU THƠ CHẾ LAN VIÊN

LUẬN ÁN THẠC SĨ KHOA HỌC NGỮ VĂN

CHUYÊN NGÀNH : VĂN HỌC VIỆT NAM

MÃ SỐ : 5.04.33

NGƯỜI HƯỚNG DẪN : PHÓ GIÁO SƯ TIẾN SĨ TRẦN HỮU TÁ

NGƯỜI THỰC HIỆN : NGUYỄN HOÀNG MINH HÀ

KHÓA 8 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

2000

Trang 3

MỤC LỤC

MỤC LỤC 3

LỜI CẢM ƠN 4

DẪN LUẬN 5

1 Lý do chọn đề tài: 5

2 Lịch sử vấn đề: 6

3 Phạm vi nghiên cứu: 9

4 Phương pháp nghiên cứu: 10

4.1 Phương pháp lịch sử: 10

4.2 Phương pháp hệ thống: 10

4.3 Phương pháp so sánh: 10

4.4 Phương pháp phân tích, tổng hợp: 10

5 Phương pháp triển khai đề tài và cấu trúc luận án: 10

CHƯƠNG 1: KHÁI NIỆM VỀ GIỌNG ĐIỆU VĂN CHƯƠNG VÀ GIỌNG ĐIỆU THƠ TRỮ TÌNH 10

1.1 Khái niệm về giọng điệu văn chương: 10

1.1.1 Giọng và giọng điệu: 10

1.1.2 Giọng điệu văn chương: 12

1.2 Giọng điệu thơ trữ tình: 19

1.2.1 Khái niệm trữ tình và thơ trữ tình: 19

1.2.2 Giọng điệu thơ trữ tình: 23

CHƯƠNG 2: GIỌNG ĐIỆU THƠ TRỮ TÌNH SỬ THI CỦA CHẾ LAN VIÊN 38

2.1 Trữ tình sử thi: 38

2.2 Cảm hứng sử thi: 39

2.2.1 Cảm hứng về Cách Mạng: 41

2.2.2 Cảm hứng về Tổ Quốc: 44

2.2.3 Cảm hứng về Đảng: 46

2.2.4 Cảm hứng lịch sử: 48

2.2.5 Cảm hứng về lãnh tụ: 49

2.2.6 Cảm hứng đời thường: 52

2.2.7 Cảm hứng về thơ: 54

2.3 Nhân vật trữ tình: 56

2.4 Những nghệ thuật đặc sắc: 59

Trang 4

2.4.1 Các hình ảnh thơ đối lập về thời gian và không gian: 62

2.4.2 Hình ảnh đối lập giữa hiện tượng và bản chất: 63

2.4.3 Hình ảnh đối lập giữa nguyên nhân và kết quả: 64

2.4.4 Hình ảnh đối lập về các trạng thái cảm xúc: 65

2.4.5 Hình ảnh đối lập về ý thức hệ: 66

2.4.6 Hình ảnh đối lập giữa các tính chất, trạng thái của đối tượng: 67

CHƯƠNG 3: GIỌNG ĐIỆU THƠ TRỮ TÌNH THẾ SỰ CỦA CHẾ LAN VIÊN 69

3.1 Trữ tình thế sự: 69

3.2 Cảm hứng thế sự: 72

3.2.1 Cảm hứng về số phận con người: 72

3.2.2 Cảm hứng về nỗi đau: 76

3.2.3 Cảm hứng thương cảm con người sáng tạo: 79

3.2.4 Cảm hứng tình yêu: 82

3.2.5 Cảm hứng về thơ và nghề thơ: 85

3.2.6 Cảm hứng về chữ vô: 89

3.3 Nhân vật trữ tình: 91

3.4 Những hình ảnh nghệ thuật đặc sắc: 94

3.4.1 Những hình ảnh biểu tượng cố ý nghĩa mới: 94

3.4.2 Những hình ảnh tưởng tượng có tính giả thiết: 97

3.4.3 Những hình ảnh lý luận về thơ và nhà thơ bằng thư: 100

KẾT LUẬN 104

TÀI LIỆU THAM KHẢO 107

TÁC PHẨM CỦA CHẾ LAN VIÊN TỬ 1945 111

Trang 5

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin gửi nơi đây lòng biết ơn sâu sắc đối với phó giáo sư, phó tiến sĩ Trần Hữu

Tá, người trực tiếp hướng dẫn giúp đỡ tôi trong quá trình làm luận án

Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến các giáo sư đã giảng dạy, Ban Giám Hiệu, phòng Đào Tạo sau Đại Học cùng Ban Chủ Nhiệm khoa Ngữ Văn trường Đại Học Sư Phạm Thành Phố Hồ Chí

Minh, Ban Giám Hiệu trường Trung Học Phổ Thông Phan Đăng Lưu đã tạo mọi điều kiện giúp đỡ tôi trong thơi gian học tập và làm luận án đúng thời hạn

Thành phố Hồ Chí Minh

Trang 6

DẪN LUẬN

1 Lý do chọn đề tài:

Nhà thơ Chế Lan Viên tên thật là Phan Ngọc Hoan, sinh ngày 14/1/1920, mất ngày 19/6/1989 Quê ông ở Cam Lộ, Quảng Trị Song ông lớn lên, học hành và làm thơ ở Bình Định, cùng thời với Hàn Mặc Tử, Yến Lan, Xuân Diệu Ông đã từng tham gia Ban lãnh đạo Hội nhà văn Việt Nam, là đại biểu Quốc hội khóa IV, V, VI, nhiều lần là sứ giả của vãn hóa Việt Nam tham dự các diễn đàn văn hóa quốc tế ở Liên Xô, Pháp, Nam Tư, An Độ, Na uy, Thụy Điên

Năm 16 tuổi, lần đầu tiên xuất hiện trên thi đàn với tập Điêu Tàn, Chế Lan Viên đã gây một niềm kinh dị bởi giọng thơ rất riêng không lẫn với một ai và bởi niềm ám ảnh không nguôi về thời gian và sự tồn tại với những đau thương tựa hồ vô lý nhưng thành thực vô cùng Ngay từ tập thơ đầu tay ấy, chất suy nghĩ của Chế Lan Viên đã khác hẳn các thanh niên cùng lứa và cũng chẳng giống bất kỳ một nhà thơ nào

Sau Cách mạng tháng tám năm 1945, đi theo Cách Mạng, Chế Lan Viên thực sự có một

sự chuyển hướng sang quan niệm nghệ thuật cách mạng phù hợp với yêu cầu của dân tộc và thời đại Sự chuyển hướne này đạt đến đỉnh cao vào những năm 60, mở đầu là tập Anh Sáng

và Phù Sa, sau đó là một loạt các tập thơ khác mà giới nghiên cứu văn học đều thống nhất chung một sự đánh giá là thơ Chế Lan Viên sau Cách mạng đã vượt lên tầm của chính mình trước Cách mạng Trên con đường thơ của mình, Chế Lan Viên thực sự đã hình thành phong cách thơ mang đậm chất trí tuệ mà phong cách này có ảnh hưởng đến một số nhà thơ lớp sau như Phạm Tiến Duật, Bằng Việt

Sau khi Chế Lan Viên mất, nhà văn Vũ Thị Thường (vợ ông) đã rút từ trong những bản

thảo còn lại của ông những bài thơ chưa từng công bố: ba tập "Di cảo thơ Chế Lan Viên" đã

ra đời lại là một hiện tượng văn học Năm 1993, Di cảo thơ tập II được trao giải thưởng duy nhất về thơ của Hội nhà văn Việt Nam Năm 1996, Chế Lan Viên là một trong bốn nhà thơ lớn của Việt Nam được nhận giải thưởng cao quý - giải thưởng Hồ Chí Minh

Chế Lan Viên vẫn được xem là một trong những cây đại thụ thơ tỏa bóng mát xum xuê trong khu rừng lớn văn học Việt Nam hiện đại Thơ ông là những gì tinh túy nhất, thơm thảo nhất của cuộc đời ông, của tâm linh ông, của hồn thơ ông mà chúng ta có thể học ở đó rất nhiều điều

Từ lúc sinh thời cũng như cho đến tận ngày hôm nay, năm cuối cùng của thế kỷ 20, các tác phẩm của Chế Lan Viên đều được người đọc đón nhận, yêu mến và được bạn bè đồng

Trang 7

nghiệp đánh giá cao Đã có hàng trăm bài viết, tuyển tập hoặc công trình nghiên cứu, phê bình, tiểu luận, luận án về con người và sự nghiệp thơ ca của ông với tất cả niềm trân trọng, quí mến

Là một trong những người ngưỡng mộ thơ ông, tôi chọn một vấn đề "giọng điệu nghệ

thuật" để làm đề tài cho mình Đây cũng là một trong những vấn đề chưa được nghiên cứu

kỹ Đây đó trong các bài nghiên cứu về Chế Lan Viên, cũng có bàn về giọng điệu thơ Chế Lan Viên nhưng các ý kiến đều chỉ là bàn qua, bàn về Mỗi người có một nhận định chủ quan của mình Chưa có một công trình nào tập trung nghiên cứu riêng về giọng điệu nghệ thuật thơ của ông

Với niềm mong muốn được đóng góp vào việc nghiên cứu một chân dung văn học độc đáo ở một nét tiêu biểu, chúng tôi mong được nhận nhiều đóng góp để có thể đi đến quan

điểm thống nhất về "giọng điệu nghệ thuật thơ Chế Lan Viên"

2 Lịch sử vấn đề:

Từ trước đến nay các nhà nghiến cứu đã dùng nhiều phương pháp khác nhau để đánh giá, phân tích, tìm tòi thế giới nghệ thuật thơ Chế Lan Viên Lịch sử nghiên cứu về Chế Lan Viên bắt đầu có từ khi Điêu tàn ra đời và cho đến nay vẫn chưa thể có một công trình nào bao quát nổi một hiện tượng thơ lớn như vậy Trong 50 năm sáng tác, Chế Lan Viên để lại 1035 bài thơ đã xuất bản, 7 tập văn xuôi, 8 tập phê bình tiểu luận

Cũng giống như bất kỳ nhà văn, nhà thơ lớn hiện đại nào khác, việc đánh giá từng tác phẩm nói riêng hay toàn bộ sự nghiệp của Chế Lan Viên nói chung không thể tránh khỏi cách đánh giá khác biệt nhau, thậm chí trái ngược nhau, tùy theo quan điểm thẩm định riêng của mỗi thời và mỗi người Người nghệ sĩ càng lớn, các tác phẩm càng đa diện, đa thanh, đa sắc

đa tầng thì sự đánh giá càng phong phú và phức tạp Nhất là về ba tập Di cảo thơ Có người

cho rằng "giọng trầm" trong Di cảo thơ là bước lùi, yếu đuối Giáo sư Lê Đình Kỵ lại gọi đó

là "trí tuệ, tài năng, tâm hồn" (1) Giáo sư Trần Thanh Đạm tìm thấy ở giọng thơ Chế Lan Viên một tín hiệu của kiểu thơ trí tuệ (2)

Tính chất đa thanh có thể thấy rõ ở Chế Lan Viên Trong 14 tập thơ, ta có thể thấy cả giọng trữ tình sử thi, cả giọng trữ tình thế sự, giọng chính luận bình luận, giọng trầm tĩnh triết

lý, giọng tiêu tao, hiện thực pha màu huyền ảo, giọng trào lộng pha chút mùi vị chua cay, giọng trầm tư suy ngẫm, giọng nghi vấn, giọng khẳng định, thơ trữ tình điệu nói

(1) Lê Đình Kỵ - Trên đường văn học - NXB văn học, 1995, tập 2 trang 265

(2) Trần Thanh Đạm - những vần thơ triết lý của Chế Lan Viên qua những trang Di cảo - Báo văn nghệ số 36 Ra ngày 4/9/ 1993

Trang 8

Nhưng chưa có một công trình nào tập trung nghiên cứu kỹ về giọng điệu nghệ thuật thơ Chế Lan Viên một cách hoàn chỉnh cả về hình thức biểu hiện lẫn nội dung

Có một điểm thống nhất chung ở các nhà nghiên cứu phê bình là Chế Lan Viên có một

giọng điệu thơ riêng, không thể lẫn với một ai, giọng điệu thơ riêng đó là "điệu hồn" riêng

của nhà thơ, tạo nên một phong cách thơ riêng, trong đó đậm đặc chất tư duy suy ngẫm, suy ngẫm về lý tưởng, về quan niệm sống, về hoạt động, trong đó có hoạt động nghệ thuật cao quý, được nâng lên thành triết lý

Giọng tư duy suy ngẫm của Chế Lan Viên giai đoạn 1945 - 1975 đặt cơ sở trên cái ta trữ tình nên nó mang âm hưởng chung của thời đại là trữ tình sử thi, tráng lệ, hào hùng Nó ca

ngợi đất nước, nhân dân, dân tộc Đó là "giọng cao" như Chế Lan Viên tự nhận xét về thơ

trong tập thể, trong nhân dân, trong cái "ta" chung cửa dân tộc Cái "tôi" nhiều khi phải tạm thời nhường chỗ cho cái "ta" Nhưng bây giờ là hòa bình, con người phải trở về với các giá trị

nhân bản Con người trước kia là đối tượng để ngợi ca hay phê phán, Giờ đây nó còn thêm tính chất là đối tượng để nghiên cứu, phân tích

Cho nên giọng tư duy suy ngẫm của Chế Lan Viên ở giai đoạn cuối đời là tư duy suy ngẫm về bản thể của con người, nhân cách, cái có hạn cái bất cập, cái không may Nhà thơ nghĩ suy về sự hữu hạn của thời gian, về tài năng và sự sáng tạo có cả những bất lực, bất mãn của một nghệ sĩ đặt cho mình những yêu cầu rất cao về sáng tạo nghệ thuật

Thơ Chế Lan Viên trong giai đoạn này chủ yếu là thơ trải nghiệm, kết hợp óc tư duy phân tích tỉnh táo nên giọng thơ triết lý bình thản đến sắc lạnh Đó là nguyên nhân khiến người ta nhận xét Chế Lan Viên đổi giọng thơ Nếu xét như vậy thì cả một nền thơ Việt Nam sau 1975 đều chuyển theo xu thế có một sự thức tỉnh những nhu cầu xã hội và cá nhân trong cái tôi trữ tình Ở đây, không phải là Chế Lan Viên chủ động đổi giọng thơ mà hoàn cảnh đã thay đổi : giọng trữ tình sử thi phải nhạt dần và chuyển sang trữ tình thế sự, trữ tình nhân bản

Trang 9

Giọng tư duy suy ngẫm ở giai đoạn cuối đời của Chế Lan Viên, đặc biệt là ở ba tập Di cảo thơ giúp chúng ta hiểu cái tâm của nhà thơ, cái tâm luôn trăn trở những nghĩ suy sâu sắc

về tình thế, về đất nước, về cuộc đời không hề đơn giản, cũng như cả những lo toan, xao xuyến, vui buồn, mong nhớ chân thật được trải nghiệm trong những năm tháng cuối đời và

nhà thơ cũng tự nhận xét giọng của mình lúc này là "giọng trầm'' [(Xưa giọng cao giờ anh hát giọng trầm - (giọng trầm)]

Dù là giọng cao hay giọng trầm thì sắc thái của nó vẫn là giọng tư duy suy ngẫm Trước kia Chế Lan Viên tư duy suy ngẫm với cả dân tộc, với những tráng ca, những khúc bi hùng, với tâm tư tình cảm của cả cộng đồng, tạo nên chất sử thi anh hùng trong thơ, Giai đoạn sau

1975, Chế Lan Viên tư duy suy ngẫm với những vấn đề sâu lắng trầm tĩnh của con người, của cuộc sống, của nhà thơ, của sự tồn tại, của sự ra đi Đoàn Trọng Huy(1) trong bài "Khuynh

hướng vận động thơ Chế Lan Viên từ sau 1975" có viết : "Lúc này, cần thiết một "định lý đảo" phải đổi "ngôn ngữ thời chiến" qua "ngôn ngữ thời bình"" Giong thơ giai đoạn sau sâu

sắc trầm tĩnh, như chắt lọc tất cả tâm huyết, tất cả kinh lịch, tất cả trải nghiệm một đời Tâm niệm và tâm sự, độc thoại và đối thoại, răn mình và nhắn đời đó chính là điệu hồn của nghệ

Nguyễn Bá Thành trong bài "Đọc hai tập Di cảo thơ" (2) có nhận xét giọng thơ trong Di

cảo : ""là giọng thơ đơn lẻ, não nùng và có phần chua chát" Một cung bậc rất trầm, rất thấp

như một thứ âm thanh thì thào, có khi đứt quãng Nhà thơ cố tình xuống giọng Thế là, tính

đến thời điểm ấy (1987 - 1988), nhà thơ đã hai lần đổi giọng Lần thứ nhất là từ "than" thành

"hỏi", từ "hát" thành "nói" :

Xưa tôi hát mà bây giờ tôi tập nói Chỉ nói thôi mới nói hết được đời"

Nguyễn Bá Thành tiếp "thơ Chế Lan Viên giờ đây là lời độc thoại để tự trấn an"

Theo tôi, những lời nhận xét của Nguyễn Bá Thành có những điểm bi quan hơn chính những vấn đề Chế Lan Viên thể hiện trong Di cảo thơ Võ Tấn Cường khi nói về Di cảo thơ

Chế Lan Viên thì nhận xét : "Ý thức nghệ thuật của ông không còn song hành, đồng nhất với

ý thức công dân mà đã vượt lên, hướng về những triết lý nhân sinh sâu thẳm và sự sinh tồn của nhân loại" (1)

Trang 10

Phạm Xuân Nguyên trong bài "Chế Lan Viên - Người đi tìm mặt" thì cho rằng : "Thành

thực giãi bày và thừa nhận những góc khuất đời thật của mình, đó là điểm khá thú của Di cảo thơ Chế Lan Viên" (2)

Huỳnh Văn Hoa trong bài "Chế Lan Viên với cái nhìn nghệ thuật trong thơ'' (3) lại

không đồng ý với Nguyễn Bá Thành cho là "ở Di cảo Chế Lan Viên rơi vào cái trận đồ siêu

hình hạ thấp thơ mình" mà cho là "vấn đề sống chết, ý nghĩa thời gian, về công nghiệp một đời người, về cõi quên là những vấn đề triết học muôn đời của con người",

Trong bài "Con đường và tầm vóc thơ Chế Lan Viên" (4) Phạm Hổ nhận xét : "Chế Lan

Viên nhiều giọng nói, lúc như có lửa bốc lên rừng rực, lúc như dòng nước mát chảy êm — nhưng cái chất Chế Lan Viên chì một"

Hoài Anh ở bài "Chế Lan Viên - một bản lĩnh một tâm hồn thơ phong phú, đa dạng và

bí ẩn" (5) lại nhận xét Di cảo thơ "mang giọng tiêu tao, hiện thực pha màu huyền ảo"

Còn rất nhiều nhận định khác nhau về thơ Chế Lan Viên Nhưng chỉ là bàn qua, bàn về, chưa làm rõ một sự thống nhất trước sau như một ở thơ ông Sự thay đổi do hoàn cảnh tuyệt đối không phải là bước lùi mà chỉ là một tiếng nói phù hợp với thời đại

Trên cơ sở lịch sử vấn đề đã nêu ở trên, chúng tôi sẽ cố gắng tìm tòi phát hiện vấn đề giọng điệu thơ Chế Lan Viên một cách toàn diện hơn

3 Phạm vi nghiên cứu:

Luận văn chỉ giới hạn nghiên cứu thơ của Chế Lan Viên từ sau cách mạng tháng 8 cho

đến ba tập Di cảo thơ Và cũng chỉ tập trung vào một vấn đề "giọng điệu nghệ thuật" - một

phương diện của cá tính sáng tạo

Một số bài thơ trong Di cảo thơ nhưng năm ra đời từ trước năm 1945 cũng không nằm trong diện khảo sát cua chúng tôi, vì chúng chịu ảnh hưởng quá trình phát triển chung của phong trào Thơ Mới cũng như khuynh hướng thần bí, siêu hình của riêng nhà thơ giai đoạn trước cách mạng tháng 8

Giọng điệu nghệ thuật thuộc về cả nội dung tư tưởng và hình thức thể hiện Nó là "điệu

hồn" của nhà thơ, cái "rám" của nhà thơ và được biểu hiệu qua cảm hứng, ngôn ngữ, hình

ảnh, nhịp điệu, kết cấu và cái nhìn nghệ thuật của nhà thơ, qua nhân vật trữ tình Tim hiểu giọng điệu có nhiều hướng tiếp cận, song trong luận án này, chúng tôi tìm hiểu giọng điệu thông qua một số phương diện : cảm hứng, nhân vật và hệ thống hình ảnh Đi theo hướng này, chúng tồi muốn tìm tính nội dung của giọng điệu Còn các yếu tố ngôn ngữ, nhịp điệu, kết cấu, điểm nhìn nghệ thuật xin được tiếp tục bàn đến trong một thời gian khác

Trang 11

Một điều đáng lưu ý là ba tập Di cảo thơ không phải ra đời dưới bàn tay sắp xếp có chủ đích của chính nhà thơ Chế Lan Viên Mà nó là nhiều bản thảo chưa hoàn chỉnh, ở dạng phác thảo, do vợ nhà văn tuyển chọn, sắp xếp Cũng có một số bài đã hoàn chỉnh, nhưng cũng không phải do chính Chế Lan Viên tuyển chọn, sắp xếp theo ý đồ nghệ thuật của mình Nên theo tôi, đưa ra những nhận xét quyết đoán, thậm chí nặng nề về một công trình không phải

do chính nhà thơ đem đến nhà xuất bản là không nên Chắc gì nếu còn sống nhà thơ sẽ cho in những phác thảo đó bởi vì có thể có bài còn yếu về nội dung hoặc yếu về nghệ thuật

4 Phương pháp nghiên cứu:

Để hoàn thành luận văn này, chúng tôi đã vận dụng các phương pháp nghiên cứu sau :

4.1 Phương pháp lịch sử:

Đọc toàn bộ tác phẩm thơ Chế Lan Viên, luôn luôn đặt tác phẩm vào hoàn cảnh lịch sử

cụ thể để hiểu mối quan hệ tác động qua lại giữa hoàn cảnh và tác phẩm

4.2 Phương pháp hệ thống:

Hệ thống lại những yếu tố gần nhau, tương đồng hoặc những yếu tố khác nhau, đối lập

để làm nổi bật vấn đề chính Việc rút ra những kết luận về giọng điệu thơ Chế Lan Viên phải dựa trên cơ sở phân tích cụ thổ từng yếu tố nghệ thuật của thơ ông : Hệ thống cảm hứng chủ đạo hệ thống hình ảnh, nhân vật trung tâm

4.3 Phương pháp so sánh:

- So sánh thơ Chế Lan Viên với một số nhà thơ lớn cùng thời Xuân Diệu, Tố Hữu để tìm ra những điểm khu biệt

- So sánh thơ Chế Lan Viên giai đoạn 1945 - 1975 và dai đoạn sau của đời ông : từ

1975 - 1989 để làm rõ các luận điểm khác nhau về thơ ông ở hai thời kỳ này Từ đó toát lên cái độc đáo và sự đóng góp của Chế Lan Viên cho thơ Việt Nam hiện đại

4.4 Phương pháp phân tích, tổng hợp:

Đây là phương pháp cơ bản và phổ biến trong nghiên cứu văn học nói chung Chúng tôi

sẽ vận dụng phương pháp này để phân tích, tổng hợp từ cấp độ câu thơ, khổ thơ, đoạn thơ, bài thơ có tính chất tiêu biểu, điển hình để minh họa cho các luận điểm của luận án

5 Phương pháp triển khai đề tài và cấu trúc luận án:

Chúng tôi đi sâu tìm hiểu giọng điệu nghệ thuật thơ Chế Lan Viên nhằm khẳng định những nét đặc trưng làm nên phong cách riêng của Chế Lan Viên Qua đó, tìm hiểu những

Trang 12

đóng góp cho nền thơ hiện đại của Chế Lan Viên : một giọng thơ tư duy chính luận, tư duy suy ngẫm độc đáo và sáng tạo

Cấu trúc của luận văn :

Ngoài phần dẫn luận (9 trang) và phần kết luận (4 trang), nội dung của luận án được triển khai trong ba chương :

Chương 1 : Khái niệm về giọng điệu văn chương và giọng điệu thơ trữ tình (35 trang) Chương 2 : Giọng điệu nghệ thuật trong thơ trữ tình sử thi của Chế Lan Viên (35 trang)

Chương 3 : Giọng điệu nghệ thuật trong thơ trữ tình thế sự của Chế Lan Viên (39 trang)

Trang 13

CHƯƠNG 1: KHÁI NIỆM VỀ GIỌNG ĐIỆU VĂN CHƯƠNG VÀ

GIỌNG ĐIỆU THƠ TRỮ TÌNH

1.1 Khái niệm về giọng điệu văn chương:

1.1.1 Giọng và giọng điệu:

Một trong những yếu tố quan trọng cấu thành nét đặc trưng riêng cho mỗi loại hình lời văn nghệ thuật là giọng và giọng điệu Không những thế giọng và giọng điệu còn góp phần khu biệt đặc trưng phong cách của mỗi một nhà văn, mỗi một khuynh hướng sáng tác Trong bất kỳ hình thức văn học nào cũng đều có sự lựa chọn chung một giọng điệu : giọng của tiểu thuyết khác giọng của thơ trữ tình M Bakhtin đã đưa ra khái

niệm "đa thanh" nhàm ghi nhận sự phát triển của giọng và giọng điệu Ở Việt Nam, các

công trình nghiên cứu của phó giáo sư Đặng Anh Đào (Đổi mới nghệ thuật tiểu thuyết

phương Tây hiện đại, 1995), giáo sư Trần Bình Sử (Lý luận và phê bình văn học, 1996) cũng

đều có quan tâm đến giọng và giọng điệu

Trong nghiên cứu văn học, khi đề cập đến vấn đề âm thanh (sound) của tác phẩm, giới nghiên cứu thường sử dụng hai khái niệm voice và tone Ta có thể dịch là voice = giọng ; tone = giọng điệu

Bách khoa toàn thư Mỹ định nghĩa :(1) : "Voice là âm thanh được sinh vật phát ra",

"Tone là âm thanh được xét trong sự can thiệp của trường độ, cường độ, âm sắc và âm lượng của nó" Như thế, ở đây người ta dựa trên cơ chế xác định âm thanh để phân biệt, và giọng

điệu (tone) thì cụ thể hơn giọng (voice)

Các nhà phê bình văn học đã xác định "voỉce" và "tone" theo nhiều kiểu khác nhau

Năm 1961, trong Nhập môn phê bình văn học, K Danzger và S Johnson (2) không đề

cập đến giọng (voice) mà chỉ ghi nhận giọng điệu (tone) : "Là một phạm trù có liên quan đến

tất cả các yếu tố tạo nên văn phong (style) bao gồm : cách diễn đạt, hình tượng, cú pháp, âm thanh và nhịp điệu, là biểu hiện của một thái độ về phía đối tượng (object) được nêu rõ hay ngụ ý"

Nhưng trong Từ điển thuật ngữ văn học (1971) M H Abrams (1) đã phân biệt giọng và

giọng điệu Theo ông, giọng điệu : "Là thái độ của người phát ngôn văn học đối với người

nghe của anh tà" Bên cạnh đó, ông còn chỉ rõ : "Một số người sử dụng giọng điệu với nghĩa rộng hơn, trùng với phạm vi mà những nhà phê bình khác gọi là giọng, giọng được xác định :

(1) (2) theo Lê Huy Bắc - "Giọng và giọng điệu trong văn xuôi hiện đại" Tạp chí văn học số 9- 1998

(1) (2) (3) theo Lê Huy Bắc - Sách đã dẫn

Trang 14

có một giọng bao trùm lên tất cả các giọng hư cấu trong một tác phẩm và có một người ở đằng sau tất cả những nhân vật văn học, thậm chí kể cả người kể chuyện ở ngôi thứ nhất"

Đến đây ta thấy về cơ bản giọng điệu của Abrams và Danziger là giống nhau nhưng Abrams, ngoài việc phân biệt giọng và giọng điệu, chỉ ra các cấp độ giọng, ông còn nêu thêm

quan niệm khác với Danziger, ở chỗ "thái độ đối với người nghe" chứ không phải với "đối

tượng" như Danziger đã viết

X.LKennedy (2) thì lại không đề cập đến giọng mà ông cho rằng "Bất cứ cái gì giúp ta

luận ra thái độ của tác giả thì thường được gọi là giọng điệu"

Cũng đề cập đến giọng và giọng điệu, Katie Wales (3) trong Từ điển phong cách học

(1989) quan niệm : "Giọng được dùng để miêu tả ai là người nói" "Giọng điệu được dùng

với nghĩa một phẩm chất âm thanh đặc biệt nào đó có liên quan đến những xúc cảm hoặc tình cảm đặc biệt nào đó" Nhưng ông còn nói thêm: "đôi lúc giọng điệu được dùng để chỉ một chất giọng phổ quát được điều hành bởi một tác giả ẩn"

Theo Từ điển tiếng Việt của các soạn giả Việt Nam, giọng được xác định như sau : 1/ Độ cao thấp mạnh yếu của lời nói, tiếng hát

2/ Cách phát âm riêng của một địa phương

3/ Cách diễn đạt bằng ngôn ngữ, biểu thị tình cảm thái độ nhất định

4/ Gam đã xác định âm chủ

Và giọng điệu được xác định như sau :

1/ Giọng nói, lối nói biểu thị một thái độ nhất định

2/ Như ngữ điệu

Như thể điểm chung giữa hai khái niệm là : "Biểu thị một thái độ nhất định"

Đến đây ta thấy, do bản chất của giọng và giọng điệu là âm thanh nên trường giao thoa giữa chúng là khó tránh Nhưng trong lãnh vực phê bình văn học, dựa vào các định nghĩa đã nêu, chúng ta có thể phân biệt chúng như sau :

1/ Giọng : là âm thanh được xét ở góc độ vật lý như cường độ, trường độ, cách phối âm,

âm lượng

Giọng điệu : là âm thanh được xét ở góc độ tâm lý, biểu hiện các thái độ : buồn, vui, giận, hờ hững

Trang 15

2/ Các cơ sở để tạo nên giọng và giọng điệu : cách diễn đạt, hình ảnh, ngôn ngữ, cú

pháp, âm thanh , nhịp điệu, thể loại

3/ Đối tượng của giọng và giọng điệu : là các sự kiện, tình huống, tâm trạng Còn đối tượng để nhận biết giọng và giọng điệu ấy chính là độc giả

Giọng và giọng điệu là một bộ phận của phong cách (Style) và góp phần tạo nên phong cách cho mỗi tác phẩm, tác giả

Giọng và giọng điệu cũng chịu sự chi phối của điểm nhìn (point of view) nhưng lại góp phần thể hiện điểm nhìn

Như vậy đường biên giới giữa các phạm vi điểm nhìn, giọng, giọng ? điệu và phong cách luôn có những điểm giao nhau : nhìn từ góc độ này, chúng là giọng điệu, nhưng ở khía cạnh kia, chúng lại là điểm nhìn hay phong cách Tuy nhiên, các phạm vi ấy vẫn có những nội hàm nhất định để tồn tại như một đơn vị nghệ thuật mang nghĩa trong tổng thể các đơn vị nghệ thuật khác của tác giả

1.1.2 Giọng điệu văn chương:

1.1.2.1 Quan niệm giọng điệu trong văn chương cổ:

Vấn đề giọng điệu văn chương đã được bàn đến từ lâu trong lý luận văn học cổ Những

khái niệm "hơi văn", "điệu văn", "văn khí", "thần văn", "âm hưởng" trong mỹ học phương Đông đều là những khái niệm gần gũi với khái niệm giọng điệu Bởi nó hàm chứa cái "điệu

hồn", cái "tình", cái "mạch", cái "khúc ca bên trong" của người viết Nó là cái cốt lõi làm nên

giọng điệu văn chương

Cách đây năm thế kỷ, người xưa đã nhắc đến giọng Khi đề tựa cho cuốn "Việt Nam thi

tập" do Phan Phu Tiên và Chu Xa biên soạn, Lý Tử Tấn có viết : "Lời ý phải giản dị đầy đủ, mạch lạc thông suốt, chất phác mà vẫn nhã, mới lạ mà không trúc trắc, trung hậu mà không thô kệch, cao siêu mà vẫn giọng ôn hòa" (1)

Để nói về mối quan hệ giữa cảm xúc và cái "điệu hồn" của nhà thơ, Ngô Thời Nhậm trong Cúc hoa thi trận viết : "Hãy xúc động hồn thơ để cho ngòi bút có thần'' (2)

Người xưa làm thơ cót biêu hiện cái chí Phùng Khác Khoan nói : "Nếu chí mà ở đạo đức thì tất phát ra lời lẽ hồn hậu, chí mà ở sự nghiệp tất nhả ra khí phách hào hùng, chí ở

(1) Thơ văn Lý Trần tập I NXB Khoa học xã hội Hà Nội 1989

(2) Tác phẩm mới số 57 (1976) trang 88

Trang 16

rừng núi gò hoang thì thích giọng thơ liêu tịch, chí ở gió mây trăng tuyết thì thích vẻ thơ thanh cao, chí ở niềm thương cảm thì làm ra điệu thơ ai oán" (3)

Người xưa thường bình thơ, bình văn Bình thơ văn là phải đọc lớn tiếng, lên bổng xuống trầm, ngân nga không theo tùy hứng mà phải theo qui luật, nhấn mạnh vào một số tiếng, giọng khoan thai, nhẹ nhàng, kéo dài Bình văn thơ như vậy sẽ thấm được, hiểu được

cái hay của giọng văn, hơi văn, "khí văn", "thần văn" Giọng thơ làm cho con người xúc

động, đồng cảm, thương cảm với số phận con người, hiểu và cảm được cái bí mật cùng cái đẹp của vũ trụ

Như vậy, kể cả ở quan niệm, kể cả ở sinh hoạt bình văn thơ, người xưa đều thấy tầm quan trọng của giọng điệu trong tác phẩm

Theo cổ nhân, "thần" và "khí" là những vấn đề cốt yếu của văn chương Cái "thần" là

độ sâu thẳm của tâm hồn, phút thăng hoa của tâm hồn, và cái "khí" lại là tầm cao của tri thức Trong Thạch Nông toàn tập, Nguyễn Tư Giản viêt: "Bàn về văn của văn nhân có văn nghĩa

lý, có văn chính sự, có văn từ chương mà cốt yếu là ở thần, ở khí Tình nghĩa nhập thần thì cái thần văn sẽ đầy đặn Nuôi tầm nhìn rộng, trông xa thì hơi văn sẽ thăng bằng" (1)

Trong lời tựa tập Thập Anh đường thi tập, nhà giáo Bùi Dương Lịch cho rằng : "Thơ

xuất phát từ tình, nhưng cái thần vận lành ở trong đó Cái đúng ở tình thì ai chẳng có nhưng cái tột cùng của tình lại là cái thần" (2) Theo đó, ta hiểu cái tình là nơi vận hành của cái chần, nhưng không phải cái tình nào cũng là thần Chỉ có cái tình ở mức độ cao mới tạo nên

cái thần, tức giây phút làm nên "điệu hồn" của người nghệ sĩ, phút thăng hoa của tâm hồn,

sáng tạo

Theo quan niệm văn chương cổ, giọng điệu còn là một tiêu chí quan trọng để xác định

tư cách và chí khí của người cầm bút Văn như người vậy Trong "Lịch triều hiến chương loại

chí, Phan Huy Chú nhận xét về thơ Trần Quang Khải : "Lời thơ thanh thoát, nhàn nhã, xem thơ có thể thấy tướng mạo, phong thái của người" Khi đọc truyện Kiều, cái giọng xé ruột xé

gan của Nguyễn Du làm ta đau đến tận bây giờ :

Đau đớn thay phận đàn bà Lời rằng bạc mệnh cũng là lời chung

(3) Đặc trưng văn học trung đại Việt Nam - Lê Trí Viễn - trang 165

(1) (2) Từ trong di sản trang 189 và trang 155 Nhà xuất bản Tác phẩm mới 1988

Trang 17

Không chỉ có ta đau mà các thế hệ mai sau cũng sẽ đau cùng Nguyễn Du Giọng xé ruột

xé gan ấy là cơ sở để xác định Nguyễn Du có tư tưởng nhân đạo và nhân bản Qua giọng điệu, ta biết được tư chất người cầm bút

Trong Nam Sơn Tùng Thoại, Nguyễn Đức Đạt viết : "Văn thâm hậu thì con người của

nó trầm mà tĩnh Vãn ôn nhu thì con người của nó khiêm mà hòa Văn cao khiết thì con người

của nó đạm mà giản Văn hùng hồn thì con người cửa nó thuần tuy mà đứng đắn" (1)

Đúng như vậy, trong Bình Ngô đại cáo, Nguyễn Trãi đã thể hiện giọng hùng văn, truyền cảm và lôi cuốn miêu tả cuộc chiến tranh chính nghĩa của dân tộc

Trận Bồ đằng sấm vang chớp giật

Miền Trà Lân trúc chẻ tro bay

Cơn gió to trút mạnh lá khô

Tổ kiến hổng sụt toang đê vỡ

Đó là giọng hùng tráng, mạnh mẽ, sảng khoái, hào hùng như những đợt sóng dồn dập liên tiếp nhau, gối đầu nhau cho đến cuối bài Giọng hùng văn đó làm Bình Ngô đại cáo có giá trị như một tuyên ngôn độc lập và tên tuổi Nguyễn Trãi mãi sáng rực trên thi đàn dân tộc Giọng điệu là khúc nhạc tự bên trong lòng người Những khúc nhạc tấu lên từ đáy sâu lòng người ấy có tác dụng diệu kỳ Nó có sức lay động, cả non sông trời đất, nó biến cải

những thế lực hắc ám, như trường hợp bài thơ "Thần" của Lý Thường Kiệt

Nam quốc sơn hà Nam đế cư

Tiệt nhiên định phận tại thiên thư

Nhừ hà nghịch lỗ lai xâm phạm

Nhữ đẳng hành khan thủ bại thư

Cái thần của bài thơ là giọng sang sảng khẳng định chủ quyền đất nước, sự mềm dẻo trong cái cứng rắn là ở giọng hỏi và giọng trả lời cuối bài Hỏi thì cứng rắn, giọng chính nghĩa, bề trên còn trả lời giọng lại mềm mỏng : mình đánh nó thất bại mà cứ nói là tự chúng chuốc lấy thất bại vì làm việc phi nghĩa Cái giọng nói lên cái cứng và mềm chính trị, ngoại giao Đó là giọng của một ý chí lớn, một sự nghiệp lớn của một dân tộc mang nhiều tình cảm lớn và cao thượng Chẳng thế mà theo truyền thuyết, Lý Thường Kiệt cho người nấp vào trong điện thờ hai anh em Trương Hướng, Trương Hát bên bờ sông Như Nguyệt, đọc to lên

(1) Từ trong di sản - Sách đã dẫn trang 189

Trang 18

và truyền lan ra, 10 vạn quân Tống đóng bên kia sông nghe thấy đã hồn bay phách lạc ngay

cả trước khi quân ta tiến công tiêu diệt chúng Quân phi nghĩa bao giờ cũng sợ giọng chính nghĩa

Người xưa cũng rất ghét thói rập khuôn, bắt chước, xóa nhòa bản thân mình Trong

"Phương trì Đông dương tiên sinh văn lập", Cao Xuân Dục viết: "Nếu chỉ biết rập khuôn, chắp nhặt thì dù câu đẹp lời hay, vẽ trăng, tả gió, nhưng ý hướng không ký thác được vào, thì rốt cuộc cũng là bắt chước giọng điệu của người khác, chẳng nói lên được giọng thực mình" (1)

Như vậy ta thấy người xưa đã đánh giá đúng về tầm quan trọng của giọng điệu nghệ thuật và còn sử dụng đắc lực giọng điệu trong tác phẩm của mình để thể hiện tư tưởng tình cảm của người viết

1.1.2.2 Quan niệm giọng điệu văn chương hiện đại:

Nếu quan niệm tác phẩm văn học là một chỉnh thể nghệ thuật thì đề tài, chủ đề, hình tượng nghệ thuật, ngôn ngữ, kết cấu, thể loại, cảm hứng và giọng điệu là những yếu tố làm nên chỉnh thể đó

Việc phát huy từng yếu tố trong hệ thống tùy thuộc vào khả năng, sở trường và cái

"tạng" của từng nhà văn Nhưng nhất thiết nó không được tách rời những yếu tố khác trong

Lặng ngồi, lẩm nhẩm giật đầu

"Ta đây phải mượn ai đâu mà rằng Nàng đã biết đến ta chăng

Bể trầm luân, lấp cho bằng mới thôi !"

(1) Văn học số 3/1979-trang 151

Trang 19

(Truyện Kiều - Nguyễn Du)

Bề ngoài thơn thớt nói cười

Mà trong nham hiểm giết người không dao

(Truyện Kiều - Nguyễn Du)

Giọng điệu là âm hưởng chung toát lên từ toàn bộ tác phẩm nghệ thuật Nó là hình thức bộc lộ rõ rệt nhất chủ quan người nghệ sĩ Toàn bộ cách cảm, cách nhìn, phương pháp tư duy, kiểu nhận thức thế giới, tình cảm, thái độ, lập trường, quan điểm, đạo đức của nhà văn được thể hiện đậm nét qua giọng điệu, tạo nên giọng nói riêng, phong cách riêng, mang dấu ấn của

cá tính sáng tạo, không thể bắt chước hoặc thay thế Vì vậy mà giọng điệu văn chương còn có

ý nghĩa như một tiêu chí để xác định chân tài của nhà văn

Như thế đứng ở bình diện thi pháp, chủ yếu chúng ta tìm hiểu các giọng điệu gắn với

tình điệu, với văn khí, với hơi văn, mạch văn, giọng văn, cái giai điệu, cái "hồn" chi phối toàn

tác phẩm và đây chính là một trong những yếu tố quan trọng nhất để phân biệt nhà văn này so

với nhà văn khác Chính cái giọng rời rạc, nhát gừng kiểu "ông bảo", "cô bảo", "tôi bảo",

"cha tôi bảo", " ông Bảo bảo", " ổng Chương bảo" được lặp đi lặp lại nhiều lần trong truyện

ngắn "Tướng về hưu" đã góp phần đắc lực làm cho Nguyễn Huy Thiệp trở thành độc đáo, tất

nhiên là độc đáo có nghệ thuật Chính cái giọng rời rạc cộc lốc này đã góp phần diễn tả khá đậm nét thực chất của mối quan hệ tình cảm đã trở nên hết sức lỏng lẻo rời rạc của những con

người trong gia đình "Tướng về hưu" Từng con người ở đây đã trở thành một thế giới cô độc,

dường như không có mối giao cảm gì với xung quanh, ngay cả đối với những người thân thiết nhất Tác phẩm trở thành tiếng chuông cảnh tỉnh về sự rạn vỡ không tránh khỏi của đạo

lý truyền thống khi có sự xâm nhập của yếu tố thực dụng theo mọi kiểu Lẽ đương nhiên, chủ

đề này được hình thành bởi nhiều yếu tố nghệ thuật khác nữa, trong đó giọng điệu giữ một vai trò quan trọng

Nhưng làm thế nào để có tiếng nói riêng, giọng điệu riêng là một điều không dễ dàng

Nó luôn luôn là nỗi băn khoăn trăn trở, niềm day dứt không nguôi của biết bao thế hệ nhà văn

"Giọng điệu riêng là mục tiêu và kết quả được tạo nên bởi cả quá trình phấn đấu toàn diện, đồng bộ mọi mặt tích lũy, lao động sáng tác trên công cụ chữ nghĩa của nhà văn" "Đó

là sự huy động tổng lực mọi thứ vốn của người viết, trong đó dứt khoát phải có tài năng" (1)

(1) Phong Lê - Trên hành trình của 40 năm văn xuôi, ngôn ngữ và giọng điệu -Tạp chí VH số 5-5/1985

Trang 20

Ngay cả ở những nhà văn lớn thì việc tìm kiếm giọng điệu phù hợp với tác phẩm của

mình cũng không phải là việc dễ Mỗi tác phẩm lại cần có một giọng điệu riêng, Ở "Chảy đi

sông ơi" của Nguyên Huy Thiệp là giọng trầm tư thế sự, ở "Con gái thủy thần", ở "Thung lũng Hua tát" giọng kể lại đẫm màu sắc huyền thoại

Giọng điệu không đợi đến lúc tác phẩm hoàn tất mới định hình mà ngay từ đầu nó đã tham dự trực tiếp vào quá trình sáng tác

Phân tích tác phẩm văn chương mà bỏ qua giọng điệu, tức là tước đi cái phần rất quan trọng tạo nên bản sắc độc đáo của tác phẩm Giáo sư Hoàng Ngọc Hiến đã phân tích một cách

sâu sắc vai trò của giọng điện qua mấy từ "khéo la", "lạ gì", "quen thói" trong truyện Kiều

Chính giọng điệu qua mấy từ trên đã biểu hiện rõ nét thái độ khinh bỉ, chì chiết, căm ghét của tác giả Nguyễn Du đối với cái thói vô lý, nghiệt nsã, ngang trái của cuộc đời Văn học là nghệ

thuật ngôn từ Hoàng Ngọc Hiến quan niệm : "Câu văn phải có hồn Câu văn có hồn là câu

văn có giọng, có ngữ điệu Sự phong phú, tính đa nghĩa, ý vị đậm đù của bài văn trước hết là

ở giọng" (1)

Không có giọng câu văn sẽ trở nên nhạt nhẽo vô vị Ngôn ngữ tạo ra giọng điệu và

giọng điệu lại làm cho ngôn ngữ "có thần"

Nhà văn, nhà thơ trước khi bắt tay vào viết phải bắt đầu từ "khúc ca bên trong" như cách nói của Larmartine, phải chọn được một giọng điệu từ một "tâm trạng mang màu sắc

nhạc tính" như M Amaudov quan niệm (2)

Về giọng điệu và sức mạnh của ngôn từ, Liliem Jimenes nói : "Mỗi từ có tiếng nói

riêng của nó, mỗi từ nôn nao một nổi xúc động riêng Mỗi từ mang sẵn trong đó một tiếng vang cực kỳ sâu sắc Từ này chứa trong mình hơi thờ của gió, từ kia mang tiếng ồn ào của con sông rộng hoặc cái dồn dập của cánh chim đang vỗ, còn trong một từ khác người ta lại nghe cái nhịp câm lặng của đá Nhưng lại có những từ cô đọng cả nước mắt, mồ hôi, hơi thở của con người Ngôn từ xuyên qua thế kỷ" (3)

Không chỉ đóng vai trò chủ yếu trong sáng tạo ngôn ngữ, giọng điệu còn là hơi thở, là

sự sống của đề tài, tư tưởng, hình tượng Cả 3 yếu tố này chỉ có thể được biểu hiện trong một giọng điệu nhất định, trong phạm vi của một thái độ cảm xúc nhất định Giọng điệu trong tác phẩm chính là cái nhạc tính của tâm trạng, nó là chất keo gắn những liên tưởng, những cảm xúc mà thiếu nó thì không thể có sáng tạo nghệ thuật Giọng điệu là chất nghệ thuật đặc sắc

(1) Vãn học học văn - Trường CĐSP TP Hồ Chí Minh và Trường viết văn Nguyễn Du Hà Nội 1990, trang 64 (2) Theo Nguyễn thị Dư Khánh - Phân tích tác phẩm văn học từ góc độ thi pháp -Nhà xuất bản Giáo dục 1995 (3) Mười nhà thơ lớn của thế kỷ - Nhà xuất bản tác phẩm mới Hội nhà văn - 1982

Trang 21

toát ra từ toàn bộ âm hưởng của tác phẩm, là yếu tố để khẳng định, để nhận chân giá trị của tác phẩm văn học Giọng điệu có thể ví như chiếc đũa bé nhỏ mà màu nhiệm trong tay điều khiển của người nhạc trưởng Nó vừa có khả năng "liên kết các yếu tố hình thức khác nhau, làm cho chúng cùng mang một âm hưởng nào đó, vừa là chỗ dựa chính để các yếu tố của tác phẩm quy tụ lại và định hình, thống nhất với nhau theo một kiểu nhất định Chỉ có trong giọng điệu, mỗi yếu tố hiện ra rõ hơn, đầy đủ hơn, có khi mới mẽ hơn (1)

Vấn đề giọng điệu luôn luôn là vấn đề quan trọng, bức thiết đối với sáng tạo văn chương Nhưng không phải sách lý luận văn học nào cũng có chương viết về giọng điệu

Có thể phân loại giọng điệu theo nhiều kiểu :

+ Phân loại theo sắc thái tình cảm : giọng trang trọng hay thân mật, giọng mến thương hay gay gắt, dịu dàng hay dữ dội

+ Phân loại theo nội dung tình cảm : bi, hài, anh hùng ca, lãng mạn hiện thực

+ Phân loại theo khuynh hướng cảm hứng : thông cảm, phê phán, khẳng định, phủ định, yêu thương, căm thù

+ Phân loại theo cấu trúc giọng : giọng đơn, giọng chính, giọng phụ

+ Phân loại theo cấu trúc thể loại : tự sự, trữ tình, chủ quan, khách quan

Ngoài ra còn có thể phân chia giọng theo tính chất, đặc điểm của giọng : giọng tường thuật, giọng nghi vấn, giọng mệnh lệnh, giọng hát., giọng ngâm

Thế kỷ XX, đặc biệt từ những năm 30 trở lại đây, các nhà văn nhà thơ đã cố gắng tìm tòi và ngày càng trở nên đa dạng hơn về giọng điệu Ngay trong phong trào thơ mới ta đã thấy không có nhà thơ nào có giọng trùng với nhà thơ nào

Còn ở văn xuôi đặc điểm nổi bật là tính đa thanh Các tác giả văn xuôi Việt Nam không đông như các tác giả thơ nhưng mỗi người cũng có một giọng điệu riêng Phó giáo sư tiến sĩ

Phùng Quý Nhâm có tổng kết: "Bức tranh văn xuôi nghệ thuật, theo tôi có thể nổi lên một số

giọng điệu chủ yếu như: giọng trầm tư thế sự, giọng trần thuật hoạt kê, giọng phân tích " (1)

Tóm lại, ta thấy giọng điệu là một thành tố quan trọng để làm nên "cấu trúc chỉnh thể" của tác phẩm nghệ thuật, tạo nên phong cách nghệ thuật của người nghệ sĩ, là thước đo tài năng của người nghệ sĩ và là "điệu hồn" của tác phẩm

(1) Lê Ngọc Trà - Lý luận vãn học - Nhà xuất bản Trẻ TP Hồ Chí Minh 1990, trang 152

(1) Thẩm định văn học - Phùng Quý Nhâm - Nhà xuất bản văn nghệ TP Hồ Chí Minh 1991, trang 148

Trang 22

1.2 Giọng điệu thơ trữ tình:

1.2.1 Khái niệm trữ tình và thơ trữ tình:

1.2.1.1 Khái niêm trữ tình:

"Trữ tình là những suy tư và miêu tả có màu sắc xúc cảm" (1)

Trong văn học, khái niệm trữ tình được hiểu là một trong ba loại hình của văn chương

(cùng với sử thi và kịch) phân biệt bởi sự tái hiện hiện thực qua biểu hiện của cuộc sống tinh

thần của con người Trữ tình công nhiên tỏ rõ thái độ của tác giả đối với những hiện tượng được biểu hiện : Trữ tình đưa người đọc thẳng vào thế giới lý tưởng thẩm mỹ của nghệ sĩ bằng cách biểu hiện nó dưới một hình thức cảm xúc mạnh mẽ

Do việc bộc lộ thái độ tình cảm xúc cảm công khai trong nghệ thuật biểu hiện mà loại hình trữ tình bao giờ cũng in đậm dấu ấn chủ quan của người nghệ sĩ

Đối tượng chính của nhận thức nghệ thuật trong trữ tình là tính cách của bản thân người nghệ sĩ, trước hết là thế giới nội tâm của anh ta, tâm trạng và thái độ xúc cảm của anh ta trước

cuộc đời Hêghen viết : ''Nhà thơ trữ tình có thể tìm kiếm sự kích thích sáng tạo và tìm kiếm

nội dung ở bên trong bản thân mình, tập trung vào những tình thế, trạng thái, xúc cảm và dục vọng nội tại của trái tim và tinh thần mình" (2) Nhà thơ Đức Johannes Becher khẳng định

rằng nhà trữ tình là "người tự biểu hiện mình Bản thân anh ta là nhân vật trong thiên trữ tình

của mình"

Ở trữ tình, "chủ thể" và "khách thề'' của sự miêu tả nghệ thuật rất gần gũi nhau và trong

một số trường hợp thì xem như hòa lẫn vào nhau : Cả hai đều là thế giới nội tâm của tác giả

Sự nhận thức đời sống trong sáng tác trữ tình hiện diện trước hết như là "tự nhận thức"

Sự "tự biểu hiện" trữ tình của nhà thơ có thể khác nhau Thường thường tác giả thể hiện

những suy nghĩ và tình cảm mà anh ta vốn có, với tư cách là một cá thể, thì ở các tác phẩm

của anh ta hiện diện một cái "tôi" trữ tình nào đó Nhưng đôi khi nhà thơ trữ tình còn xuất

hiện như là người diễn đạt trực tiếp những quan điểm, tâm trạng và xu hướng của một nhóm người, đôi khi của cả một giai cấp, cả một dân tộc và thậm chí cả toàn nhân loại Ở đây thay

cho cái "tôi" trữ tình là cái "ta" trữ tình

Những tâm trạng được thể hiện một cách trữ tình không phải là sự sao chép y nguyên những gì nhà thơ đã trãi qua Không phải tất cả những gì từng nếm trải đều được nhà trữ tình thể hiện bằng thơ Lọt vào phạm vi sáng tác của anh ta thường chỉ có là những xúc cảm có ý

(1) G.N Pôxpêlôp - Dẫn luận nghiên cứu văn học - Nhà xuất bản Giáo dục -1998, trang 323

(2) Hêghen - Mỹ học tập 3 trang 501 Viện Văn học Việt Nam Hà Nội - 1973

Trang 23

nghĩa nhất Trữ tình không chỉ tái tạo lại những tình cảm của nhà thơ mà ở một mức đáng kể còn làm cho những tình cảm ấy trở nên năng động, giàu có, sáng tạo lại các tình cảm ấy Cảm xúc được thể hiện bằng trữ tình - là kết quả của khái quát hóa nghệ thuật Johannes Becher (1)viết : "Khi thể hiện bản thân mình - nhói thơ trữ tình biểu hiện vấn đề

của thời đại mình, thêm nữa nhân cách nhà thơ cần phải lớn lên thành một tính cách đại diện cho thời đại" Các cảm xúc được thể hiện bằng trữ tình mang một tính cách xã hội - lịch

sử Dấu ấn của các truyền thống văn hóa dân tộc và của các quan hệ xã hội đều in đậm ở chủ thể của lời nói trữ tình

Nội dung các tác phẩm trữ tình có một phẩm chất đặc biệt Khi người đọc tiếp nhận đầy

đủ tác phẩm trữ tình - nghĩa là để cho tâm trạng của nhà thơ thấm vào mình, cảm thấy như một lần nữa sống qua các tâm trạng ấy, như một cái gì của mình, một cái gì riêng tư, thân thiết của mình Jonathan Becher viết (1): "Tinh cảm biểu hiện trong một bài thơ không nhất

thiết phải đồng nhất với tình cảm của chúng ta, nhưng tình cảm ấy bao giờ cũng phải khiến chúng ta có thể đào sâu và mở rộng thêm tình cảm của mỗi chúng ta" Nói cách khác, lời thơ

trữ tình có sức mạnh khêu gợi, ám ảnh

Do vậy, các hình tượng trữ tình dễ dàng vượt qua sự ngăn cách của thời đại và được tiếp nhận như là những hình tượng trữ tình của con người nói chung Các xúc cảm do trữ tình ghi lại có một độ hàm chứa khác thường Nó gần gũi và dễ đồng cảm với nhiều người Người đọc dễ dàng đồng nhất mình với nhân vật trữ tình và tiếp nhận những suy nghĩ và tình cảm do nhà thơ biểu đạt như là những suy nghĩ và tình cảm của chính mình Cái tình cảm của nhà thơ

trữ tình có uy lực "lây truyền" sang người đọc, trở thành tài sản tinh thần của người đọc

1.2.1.2 Thơ trữ tình:

Người ta có thể nói rất nhiều, rất khác nhau về thơ trữ tình Nhưng về phương diện lý luận, có thể thống nhất một số điểm chung nhất như sau :

Thơ trữ tình xuất phát từ thế giới bên trong, thế giới tinh thần phong phú và bí ẩn của

tâm hồn, của "trạng thái nội cảm" (Hêghen) Nó là "một điệu hồn đi tìm những điệu hồn'" (Tố Hữu), là "tiếng vang cảm xúc", "tiếng lòng"' Tất cả những cách nói ấy đều nhằm khẳng

định đặc điểm căn bản đầu tiên của thơ trữ tình là thiên về tình cảm

Quan niệm thơ là tiếng nói của tình cảm là quan điểm chung của cả phương Đông và

phương Tây Thơ ca cổ Trung Quốc quan niệm : "thi dĩ ngôn chí " chữ "chí" ở đây bao hàm

(1) G.N Pôxpêlôp - Dẫn luận nghiên cứu văn học - Nhà xuất bản giáo dục -1998 - trang 330

(1) G.N Pôxpêlôp - Sách đã dẫn

Trang 24

cái chủ quan - chủ thể, nghĩa là cả thế giới nội tâm của con người Thơ ca cổ điển nước ta

cũng theo quan niệm đó nhưng được bổ sung, hoàn thiện dần Phan Phù Tiên trong "Tựa Việt

âm thi tập tân san" đã gắn chữ "chí” liền với chữ "tâm" mà chữ "tâm" thì gần gũi với chữ

"tình" Theo Lê Quí Đôn thì cái "tình" là điểm tựa của thơ : "Thơ phát khởi trong lòng người ta"

Ở phương Tây, Guy Ô cho rằng : "Thơ là một hình thức được tổ chức có tình cảm của

lời nói" Dubenlay cho rằng : "Thơ là người thư ký trung thành của trái tim" (1)

Ở Việt Nam, Sóng Hồng trong lời tựa tập thơ của mình có viết: "Thơ là một hình thức

nghệ thuật cao quý, tinh vi Người làm thơ phải có tình cảm nồng nhiệt, nồng cháy ở trong lòng''' (2) Tố Hữu thì nói giản dị hơn : "Thơ không chỉ là chuyện văn chương mà chính là gan

ruột" "Bài thơ hay làm cho người ta không còn cảm thấy câu thơ mà chỉ còn cảm thấy tình người"

Như vậy ở Đông Tây cổ kim, cả xưa và nay đều cho yếu tố tình cảm là yếu tố quan trọng bậc nhất của thơ trữ tình Nó chi phối mạnh mẽ đến các yếu tố khác như xây dựng hình tượng, tổ chức câu thơ và chất nhạc của thơ

Vấn đề cơ bản nhất giúp ta phân biệt thơ trữ tình với thơ tự sự là vấn đề "cái tôi trữ

tình"

Trong tác phẩm tự sự, cái tôi nghệ thuật bộc lộ gián tiếp qua những hình tượng khách quan còn trong tác phẩm trữ tình, cái tôi bộc lộ một cách trực liếp, thành thực và đầy bản lĩnh

Cái tôi trữ tình là biểu hiện tập trung của tính chủ quan trong thơ trữ tình Người đọc sẽ lĩnh hội thế giới thông qua nhân cách của nguôi tình Trong thơ trữ tình, cuộc sống được nhận

thức, lý giải, đánh giá không phải bằng những hệ thống quan niệm, nguyên tắc thông thường

quen thuộc mà chính bằng suy nghĩ, tình cảm, thái độ, nhân cách của người trữ tình Khi

Nguyễn Du viết : "Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ" (Truyện Kiều) chính là đã nói lên

được bản chất của cái tôi trữ tình, viết về điều mà nhà thơ cảm thấy trong lòng

Cái tôi trữ tình dù ở hoàn cảnh nào, cương vị nào, trạng thái nào nó cũng hoàn toàn thành thực Nhà thơ mượn lời thơ để nói với chính mình, để tự giải tỏa những xúc cảm, bức xúc đang dồn dập trong lòng Người ta không thể giả dối với chính mình, vì thế thơ trữ tình thành thực đến tận cùng Nó bộc lộ tất cả những gì trong sâu thẳm lòng người, những trạng

(1) Theo Lê Khánh Mai - giọng điệu nghệ thuật thơ trữ tình Xuân Quỳnh - Luận án thạc sĩ - Đại học Sư Phạm thành phố Hồ Chí Minh - 1996

(2) Sóng Hồng - Thơ - Nhà xuất bản Vãn học Hà Nội 1966

Trang 25

thái thực của tâm hồn : niềm vui, nỗi buồn, tình yêu, niềm căm giận nó không ngại nói đến những thất bại, hẩm hiu, thua thiệt, mất mát, đau đớn, khát vọng Chế Lan Viên thường xuyên soi rọi tâm hồn mình :

Tâm hồn tôi khi Tổ Quốc soi vào

Thấy ngàn núi trăn sông diễm lệ

(Suy nghĩ 1966)

Đảng dạy ta không thể đưa lòng đi theo Đảng

Lại xa những gì dân tộc thương yêu

Tôi buộc hồn tôi với mọi người

Để tình trang trải với trăm nơi

Để hồn tôi với bao hồn khổ

Gần gũi nhau thêm mạnh cõi đời

Chớ bao giờ quên nỗi chua cay của một thời thơ ấy

Tổ Quốc trong lòng ta mà có cũng như không ! Nhân dân ở quanh mà ta chẳng thấy

Trang 26

Thơ xuôi tay như nước chảy xuôi dòng !

(Người thay đổi đời tôi - Người thay đổi thơ tôi)

Chế Lan Viên

Đó là những câu thơ nhớ lại một thời nô lệ phải học "Tổ tiên ta là người Gô - Loa" nên

"Tổ Quốc trong lòng ta mà có cũng như không" và thơ phải xuôi tay, bất lực mà thôi

Những nhà thơ có tâm hồn lớn, dũng khí lớn luôn luôn vươn lên, luôn luôn có ý thức tự vượt mình để vươn tới tầm cao thời đại, là người phát ngôn của thời đại

Trên đây là những đặc điểm bản chất của thơ trữ tình Đó là những căn cứ quan trọng

để ta xác định các cung bậc giọng điệu thơ trữ tình

1.2.2 Giọng điệu thơ trữ tình:

1.2.2.1 Giong điệu với nôi dung thơ trữ tình:

Giọng điệu nổi bật và bao trùm của thơ trữ tình là tự biểu hiện Tự biểu hiện mình (và thời đại mình) qua niềm vui, nỗi khổ, đớn đau, hạnh phúc, chua cay, ngọt bùi

Giọng điệu chung để thể hiện nội dung thơ trữ tình là trình bày, giãi bày, tâm tình, thổ

lộ các nỗi niềm, suy tư, khát vọng để giải tỏa, giải thoát hoặc tìm sự đồng cảm, sẻ chia

Ở thể thơ tự sự, có thể là "đa thanh" (đa giọng) (Bakhtin) còn ở thơ trữ tình, có thể là tiếng nói "đơn giọng", ở đây tiếng nói của chủ thể trữ tình lấn át hoặc trùng khít với khách thể Theo Bakhtin "cả những cái xa lạ với mình nhà thơ cũng nói đến bằng tiếng nói của

mình" (1) "Còn người viết văn xuôi thì ngay cả cái của mình cũng cố nói đến bằng tiếng

người khác''' (2).

Nhà thơ trữ tình có thể viết về cái chung hay cái riêng, nhưng dù là chung hay riêng bao giờ cũng phải gắn với một xúc cảm mãnh liệt, chân thành tạo nên giọng điệu riêng của mình

Trường xúc cảm mãnh liệt ấy còn gọi là tâm trạng Người ta còn gọi thơ trữ tình là "bản

tự thuật tâm trạng" Tâm trạng là trạng thái tâm hồn vừa cụ thể vừa trừu tượng không dễ gì

gọi tên ra được Nó giống như một giai điệu đang vang lên trong tâm hồn Giai điệu ấy buồn

hay vui, hạnh phúc hay đau khổ nó sẽ được biểu hiện ra bằng giọng điệu tương tự, bằng nội dung tương tự

Trong lịch sử thơ trữ tình có những bản tự thuật tâm trạng sống lâu hơn người viết ra

nó, sống lâu hơn thời đại của nó Ví dụ câu thơ của Hồ Xuân Hương :

(1) (2) Bakhtin - Lý luận và thi pháp tiểu thuyết - Trường viết văn Nguyễn Du -Hà Nội - 1992-trang 105

Trang 27

Trơ cái hồng nhan với nước non

(Tự tình II)

Đó chính là tâm trạng cô đơn của người phụ nữ tài sắc mà truân chuyên, tâm trạng ấy còn được đồng cảm mãi, còn sống mãi trong lòng những người cùng cảnh ngộ với Xuân Hương Bởi thế gian đâu phải ai ai cũng đều có hạnh phúc Còn nhiều tai ương, còn nhiều éo

le, nhiều tai quái của số phận vẫn xảy ra vô số trong cuộc đời

Thơ hiện đại càng giàu tâm trạng Bởi các nhà thơ hiện đại không chịu sự chi phối của thời đại văn chương phi ngã Chính sự giải phóng cá nhân đã dẫn đến sự giải phóng văn chương Trong phong trào thơ mới 1930 - 1945, ta thấy có vô vàn giọng nói riêng biệt biểu hiện tâm trạng khác nhau Mỗi một nghệ sĩ đều có ý thức sâu sắc về tính cá biệt trong giọng

điệu của mình : "Chưa bao giờ người ta thấy xuất hiện cùng một lúc hồn thơ rộng mở như

Thế Lữ, mơ màng như Lưu Trọng Lư, hùng tráng như Huy Thông, trong sáng như Nguyễn Nhược Pháp, ảo não như Huy Cận, quê mùa như Nguyễn Bính, kỳ dị như Chế Lan Viên và thiết tha, rạo rực, đắm say như Xuân Diệu" (1)

Tâm trạng chung của các nhà thơ mới là nỗi buồn Mà không buồn sao được, một đất nước bị thực dân Pháp cai trị 100 năm, thân phận nô lệ biết đi đâu về đâu ? Nên các thi sĩ biểu hiện tâm trạng chung là nỗi buồn, nhưng vẫn mỗi người một giọng điệu khác nhau : Chế Lan Viên thì "nhuốm màu triết lý"

Với tôi tất cả như vô nghĩa

Tất cả không ngoài nghĩa khổ đau

Xuân Diệu thì kêu lên :

Trời ơi hôm nay tôi chán hết Những sắc màu hình ảnh của trần gian

Huy Cận :

Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp

Con thuyền xuôi mái nước song song

Trang 28

chính thảm kịch của cuộc đời mới làm tâm tư con người biết suy nghĩ cao hơn về ý nghĩa cuộc sống : trong văn học cổ đại chúng ta luôn tìm thấy cái bi đát, không phải là không có ý nghĩa gì đâu" (1), tác động của tâm trạng buồn nhiều khi lại mang ý nghĩa tích cực

Thơ sau cách mạng diễn tả tâm trạng vui nhiều hơn tâm trạng buồn Niềm vui quả là có nhiều thật và giọng điệu chính của thơ nhiều tác giả là niềm vui thật vì con người với tư thế

chủ nhân xã hội, tư thế chiến thắng thì giọng điệu giống như bài ca bất tuyệt: "vui sao một

sáng tháng năm", "vui thế hôm nay, ta nhảy ta bay" "Ta hát suốt đêm nay vui bất tuyệt"

Nhưng không phải tâm trạng các nhà thơ cách mạng chỉ toàn niềm vui Trong thơ cách mạng cũng có những nỗi buồn, trăn trở, khắc khoải, lo âu, đớn đau, hoài nghi, giận dữ Đủ mọi sắc thái cung bậc tình cảm của con người Ngay Tố Hữu, giọng điệu thơ chính là giọng khẳng định, giọng mến thương mà cũng có khi giọng buồn đau đến nhức nhối như trong bài

"Nước non ngàn dặm" Hơn 300 câu trong đó có một âm chủ là giọng buồn, buồn nhưng

không bi lụy, nhưng rõ ràng là không thể là giọng vui như "Ta đi tới" hay "Vui bất tuyệt"

Rõ ràng là tư thế của "ngày về" vậy mà giọng vẫn buồn :

Xe lên đường 9 cheo leo

Hố bom đỏ mắt, trắng đèo bông lau Cây khô chết chẳng nghiêng đầu Nghìn tay than cháy sạch màu trời xanh

Đó là những câu thơ trong "Nước non ngàn dặm" Và ta hiểu nguyên nhân giọng điệu

buồn đến nhức nhối tâm can của nhà thơ cách mạng khi ngày trở về thấy quê hương bị chiến

tranh tàn phá đến đau thương, đến "lặng" cả người : "Lặng nhìn quán Ngang"

Rõ ràng đấy là tình cảm rất thật nên nó chi phối toàn bộ giọng điệu của bài "Nước non

ngàn dặm'

(1) - "Nhìn lại một cuộc cách mạng trong thi ca"

- Nhiều tác giả - Nhà xuất bản Giáo dục 1997, trang 72

Trang 29

Và những khắc khoải lo âu của Xuân Quỳnh cũng là tâm trạng thật :

Nếu phải cách xa anh

Em chỉ còn bão tố

(Thuyền và biển)

Thật ra niềm vui và nỗi buồn luôn thay nhau bước ngang đời chúng ta từ ngày này sang tháng nọ, và ta phải biết chấp nhận nó :

Nỗi khổ đau của ta ơi

Nếu không thể dừng thì ngươi cứ đến

(Nguyễn Nhật Anh - Thơ gửi khổ đau)

Trương Nam Hương cũng có cái ám ảnh của nỗi buồn :

Ôi sông Hương, hỡi sông Hồng Giọng tôi lạc giữa mênh mông nỗi buồn !

Những bài thơ đầy tâm trạng, đầy nỗi niềm thường được trình bày bằng giọng điệu trầm

tư thế sự Còn những bài thơ xuất phát từ cảm hứng lịch sử, thời đại, dân tộc, chiến tranh, cách mạng, hòa bình, xây dựng thì thường có giọng điệu sử thi Nhà thơ thường đứng trên

tư cách công dân để cảm nhận, suy ngẫm, tự hào, ngợi ca cuộc sống với ý thức trách nhiệm cao trước lịch sử và xã hội Cho nên ta thấy dường như cái chung được nói đến nhiều hơn cái riêng Cái riêng có được nói đến cũng phải phù hợp với lợi ích của cái chung Con người trữ

tình ít nói đến cái "tôi trữ tình" mà thường nói đến cái "ta trữ tình" Con người trữ tình tạm gác những vấn đề nhỏ bé cá nhân để gánh vác những nhiệm vụ lịch sử : "Vóc nhà thơ đứng

ngang tầm chiến lũy" (Chế Lan Viên)

Tương đương với cái "ta trữ tình" là các khái niệm : Tổ quốc, đất nước, quê hương,

làng mạc, sông núi:

- Nước Việt Nam từ máu lửa

Rũ bùn đứng dậy sáng lòa

(Nguyễn Đình Thi)

- Không nỗi đau nào của riêng ai

Của chung nhân loại chiến công này

Trang 30

Việt Nam ơi! Máu và hao ấy

Có đủ mai sau thắm những ngày ?

- Hỡi sông Hồng tiếng hát bốn nghìn năm

Tổ quốc bao giờ đẹp thế này chăng ?

- Đất nước bốn nghìn năm không nghỉ,

Những đạo quân song song cùng lịch sử

Đi suốt thời gian, đi suốt không gia

- Hãy đứng dậy! Ta có quyền vui sống

- Khóc là nhục, rên hèn, van yếu đuối

Giọng quyền uy thể hiện rõ nhất trong bài "Hoan hô chiến sĩ Diện Biên"

- Hoan hô chiến sĩ Điện Biên Chiến sĩ anh hùng

Đầu nung lửa sắt Năm mươi sáu ngày đêm khoét núi, ngủ hầm, mưa dầm, cơm vắt

Trang 31

Trong thơ trữ tình sử thi, con người không phải là biểu hiện của cá nhân đơn lẻ mà thường là biểu hiện của con người tập thể, cộng đồng, dân tộc, con người trong đội ngũ :

- Đội ngũ ta trùng trùng điệp điệp

- Đội ngũ ta đi dài như tiếng hát

(Chính Hữu)

- Anh giải phóng quân ơi!

Tên Anh đã thành tên đất nước

- Đất nước của những người con gái, con trai

Đẹp hơn hoa hồng, mạnh hơn sắt thép

Trong cái "ta trữ tình" ấy, mọi tâm tư tình cảm, những quan niệm về hạnh phúc, tình

yêu cũng mang màu sắc chung, có tính chất lý tưởng :

Miền Nam gọi! Hai đứa mình có mặt

(Bài thơ hạnh phúc - Dương Hương hy)

- Mà nói vậy trái tim anh đó Rất chân thật chia ba phần tươi đỏ

Anh dành phần riêng cho Đảng phần nhiều

Phần cho thơ và phần để em yêu

(Bài ca xuân 61 - Tố Hữu)

Trang 32

Trong giọng điệu sử thi, ngay cả vấn đề sống chết cũng được lý giải bằng lợi ích cộng

đồng, bằng lý tưởng cách mạng

- Có cái chết hóa thành bất tử

- Nay yêu quê hương vì trong từng nắm đất có một phần xương thịt của em tôi

(Quê hương - Giang Nam)

1.2.2.2 Giọng điệu thơ trữ tình với hình thức biểu hiện:

Giọng điệu chỉ là một yếu tố của chỉnh thể nghệ thuật là tác phẩm thơ nhưng nó không xuất hiện đơn lẻ, rời rạc mà nó chi phối toàn bộ các yếu tố khác của tác phẩm như ngôn ngữ, thể loại, kết cấu, âm thanh nhip điệu, hình ảnh

1.2.2.2.1 Giọng điệu với ngôn ngữ thơ:

Về giọng điệu và sức mạnh của ngôn từ, Liliem Jimenes nói : "Mỗi từ có tiếng nói

riêng của nó, mỗi từ nôn nao một nỗi xúc động riêng Mỗi từ mang sẵn trong nó một tiếng vang cực kỳ sâu sắc Có những từ có đọng cả nước mắt, mồ hôi, hơi thở con người" (1) Như vậy theo ông, mỗi từ đã có sắc thái biểu cảm riêng, có giọng riêng của nó vấn đề ở chỗ là làm sao tìm đúng từ ấy, ngôn ngữ ấy đặt đúng vào vị trí của nó trong câu thơ

Ta thường nói thơ Tố Hữu có giọng thương mến, có tính dân tộc, là vì Tố Hữu đưa vào thơ hệ thống xứng hô trữ tình phong phú : Bác ơi, đồng bào ơi, Việt Nam ơi, Xuân ơi, Huế ơi tạo ra mối quan hệ hết sức gần gũi trong xưng hô của tiếng thơ, tạo thành giọng thương mến

(1) Mười nhà thơ lớn của thế kỷ - Nhà xuất bản tác phẩm mới Hội nhà văn 1982

Trang 33

Cũng như vậy thơ Tố Hữu được đánh giá có tính dân tộc vì ông sử dụng các từ địa phương đúng lúc, đúng chỗ :

Ta thử đưa vào không phải "chi rứa" mà là "chi thế" "gì thế" câu thơ trở nên vô

duyên và hỏng hẳn Cho nên ngôn ngữ địa phương đặt đúng lúc đúng chỗ ở đây thật ngọt, thật tình cảm thân thương Đó là một yếu tố làm nên tính dân tộc ở Tố Hữu

Những ví dụ trên cho ta thấy sức mạnh của ngôn ngữ đối với việc tạo nên giọng điệu riêng cho tác giả Còn Chế Lan Viên thì luôn thích dùng những từ to tát, những khái niệm lớn : vũ trụ, nhân loại, thời đại, cứ muốn nói đến những quá trình : sinh nở, hồi sinh, tái sinh, cứ muốn dùng những danh từ tôn giáo : Thích ca, Đức Phật, cà sa, Đức Chúa trời, quỷ dữ sa tăng, xám hối những từ ngữ ấy làm cho thơ Chế Lan Viên có phần xa lạ với quần chúng

cần lao Những từ ngữ ấy hợp với giọng triết lý của Chế Lan Viên "ưa những điều trọng đại"

Giọng thơ Phạm Tiến Duật đặc sắc không lẫn vào với ai ở khía cạnh lạc quan, khúc khích, hóm hỉnh của ngôn ngữ :

- Em ở Thạch Kim sao lại nói lừa anh là Thạch Nhọn

- Không có kính, ừ thì có bụi

Bụi phun tóc trắng như người già

chưa cần sửa, phì phèo châm điếu thuốc

Nhìn nhau mặt lấm cười ha ha

(Tiểu đội xe không kính)

Cái giọng hóm hỉnh, lạc quan, khúc khích này rõ ràng là Ưu thế của tuổi trẻ Nó được

hình thành nhờ thái độ thản nhiên đi vào cuộc chiên tranh, coi thường mọi gian khó : "không

có kính, ừ thì có bụi" Thái độ "phì phèo" và cười "ha ha." Những từ "ừ, phì phèo, ha ha" rất

đời thường được đưa vào thơ làm nên chất trẻ, làm nên giọng hóm hỉnh, lạc quan yêu đời của Phạm Tiến Duật

Rõ ràng ta thấy mỗi nhà thơ có một ưu thế riêng trong việc sử dụng sức mạnh của ngôn ngữ tạo nên giọng điệu thơ riêng cho mình

Hô ứng cũng làm cho tiếng thơ âm vang, mà tiếng vang chính là hình thức của giọng điệu Tố Hữu chủ trương tiếng thơ phải có âm vang Không chỉ tiếng vang của chữ a, chữ b,

mà "cả tiếng vang lên trong chữ", "của khoảng cách giữa những chữ, những dòng", "tiếng

Trang 34

vang dội rất đa dạng và tinh tế" trong "sự im lặng giữa các từ" (1) Yêu cầu đó đòi hỏi phải sử dụng thủ pháp trùng điệp từ rộng rãi khắp bài thơ, bởi vì trùng điệp từ tạo nên một tiếng vang vốn không có trong yếu tố cá biệt khi đứng riêng lẻ Nếu điệp âm mới tạo ra tiếng vang trong chữ, giữa chữ, thì điệp từ mới tạo thành âm vang của lời nói và giọng điệu :

Tôi đã là con của vạn nhà

Là em của vạn kiếp phôi pha

Là anh của vạn đầu em nhỏ

Không áo cơm cù bất cù bơ

Điệp từ làm cho từ "là" vốn rất thông thường bỗng có âm vang khác lạ, làm cho giọng

thơ liền hơi, liền mạch và là giọng khẳng định sắt đá

Chủ thể sáng tác thi ca là một cá nhân Phút bùng cháy của tâm hồn là hành vi sáng tác thi ca Nhưng tôi nghĩ phút bùng cháy của tâm hồn chính là lúc nhà thơ tìm được giọng thích hợp với tâm trạng mình và ngôn ngữ phù hợp để biểu hiện tâm trạng ấy Giọng điệu và ngôn ngữ luôn đi đôi với nhau tạo nên bản sắc riêng của nhà thơ

1.2.2.2.2 Giọng điệu và hình ảnh thơ:

Thơ trữ tình luôn mã hóa những rung động, xúc cảm của nhà thơ để tạo nến một hệ thống biểu tượng, hình ảnh Hình ảnh trong thơ không chỉ có tính chất trực quan, mà nó còn

có giọng của nó Ví dụ hình ảnh "mặt trời'" luôn luôn gợi cho ta âm hưởng của một cái gì chói chang, bùng cháy, tỏa sáng, đúng đắn như chân lý Nhưng hình ảnh "mặt trời đen" trong

văn chương thế giới lại mang giọng khủng khiếp, đe dọa, đen tối Nhà thơ Lý Hạ đời Đường

có câu : "Hai mặt trời cùng mọc, ánh đen chiếu đầy trời" Vichto Huygô có câu : "Một mặt

trời đen khủng khiếp chiếu tỏa ra một đêm âm u" (Tỉnh quan)

Xét các hình ảnh trong thơ Tố Hữu ta thấy đó là cả một thế giới bùng cháy, tỏa sáng,

nẩy nở tột cùng Thơ Tố Hữu đầy nắng : nắng cháy, nắng lửa, nắng say Nhà thơ thích dùng

các hình ảnh về sức nóng và ánh sáng mặt trời, ngọn lửa Hệ thống hình ảnh ấy làm cho thơ

Tố Hữu thực sự là giọng thơ nóng bỏng, sáng ngời, bay bổng, nhiệt huyết

Một trong những điều làm nên giọng thân thương giản dị ở Tố Hữu là Tố Hữu không dùng các hình ảnh cầu kỳ, không biến đổi nghĩa của từ, ông vẫn dùng các từ, các hình ảnh mang thuộc tính khách quan vốn có : tóc xanh, mắt đen, mây trắng, non cao, rừng xanh, cát

(1) Trần Đình Sử-Những thế giới nghệ thuật thơ-Nhà xuất bản Giáo dục 1997

Trang 35

trắng Những hình ảnh quen thuộc, giản dị, gần gũi với quần chúng, và quần chúng thấy thơ Tố Hữu dễ hiểu, dễ truyền cảm, lôi cuốn Quần chúng chấp nhận Tố Hữu là nhà thơ của

họ, và giọng kêu gọi đấu tranh của Tố Hữu được quần chúng hưởng ứng Thực ra thơ Tố Hữu chính là những nghĩ suy, những nỗi niềm của quần chúng mà Tố Hữu chỉ là người phát biểu những nghĩ suy, những nỗi niềm ấy bằng thơ ca

Điều đó cho chúng ta thấy việc lựa chọn hình ảnh để tổ chức nên câu thơ, bài thơ cũng quan hệ gắn bó đến việc tạo nên giọng điệu riêng

Hình ảnh trong thơ làm cho thế giới trữ tình vốn vô hình, vô ảnh được hữu hình hóa Ví như nỗi nhớ, nỗi buồn, nỗi cô đơn là những biểu hiện của tâm trạng con người Nó không có hình dạng, kích thước Hình ảnh

thơ tạo ra được những hình ảnh, kích thước ấy cho người đọc hình dung được, cảm được, hiểu được Trong câu thơ của Xuân Diệu :

Chiếc đảo hồn tôi rợn bốn bề

"Hồn" được hình tượng thành "chiếc đảo" "rợn bốn bề" là để miêu tả sự cô đơn tràn

ngập bốn bề nhung lại cũng có biên giới, có vùng đất riêng : "chiếc đảo", còn vùng trời lại là

cả "bốn bề" Hình ảnh diễn tả cô đơn ấy cũng xác lập một giọng điệu riêng : giọng tự khẳng

định cái "tôi" cá nhân, cái "tôi" cô đơn

1.2.2.2.3 Giọng điệu với nhịp điệu thơ:

Cảm xúc trữ tình cũng được mã hóa ở âm thanh, nhịp điệu Con người ở trạng thái tình cảm nào, sẽ tự nhiên cất lên giọng điệu tương tự và nhíp điệu góp phần diễn tả cái giọng điệu

ấy Trong tác phẩm, nhịp điệu xuất hiện trong hai tư thế :

a) Là xương cốt vận hành của giọng điệu

b)Tiết chế để giọng điệu thể hiện một cách trung thực lập trường, thái độ, cảm xúc nhà

thơ Nhịp điệu nhanh, gấp của "vội vàng" cho thấy cái mê đắm, rạo rực của hồn thơ Xuân Diệu Còn ở Huy Cận, nhịp thơ chậm rãi thể hiện "cái khắc khoải không gian", cái "ảo não" mang '''thiên cổ sầu"'

Nhịp điệu trong thơ xuất hiện trên cơ sở nhịp điệu của cuộc sống Lời ru có nhịp êm đềm, hành khúc có nhịp mạnh, hùng tráng, tình yêu có nhịp sâu lắng thiết tha, đau đớn có nhịp chậm và nghẹn tắc Chuyển đổi nhịp lập tức giọng điệu chuyển đổi theo :

Tôi lại về / quê mẹ nuôi xưa 3/4

Một buổi trưa/ nắng dài bãi cát 3/4

Trang 36

Gió lộng xôn xao/ sóng biển đu đưa 4/4

Mạt rượi lòng ta/ ngân nga tiếng hát 4/4

Nhịp của hai câu thơ đầu là nhịp kể và miêu tả bình thường Hai câu thơ sau có âm vang của gió và sóng, có âm vang của một tấm lòng Hai câu sau không chỉ tả cảnh mà còn tả tình trong cảnh Nhịp điệu của hai câu thơ sau là nhịp điệu của sóng gió và cũng là nhịp điệu náo nức, xôn xao và biết bao sung sướng êm ái trong lòng người trở về quê cũ, nơi đã nuôi mình

Nhịp điệu mang bản sắc riêng của từng nhà thơ Trong quá trình chọn từ, tìm hình ảnh, kiến tạo câu thơ, nhà thơ không thể tách rời năng lực rổ chức nhịp điệu

Câu thơ : Vàng vàng bay đẹp quá sao sao ơi (Tố Hữu) có nhịp nó :

Vàng/ vàng bay/ đẹp quá/ sao/ sao ơi

Nhịp của câu thơ diễn tả trạng thái hạnh phúc đến dồn dập to lớn bất ngờ làm con người sung sướng đến cực độ Giọng thơ là giọng hồ hởi phấn khởi và nhịp thơ là nhịp náo nức dồn dập Giọng thơ và nhịp thơ hoàn toàn tỉ lệ thuận

Trong thơ, ngắt nhịp hoàn toàn phụ thuộc vào bản chất của ngôn ngữ thơ chứ không

phụ thuộc vào quãng cách như trong âm nhạc Ví dụ câu thơ của Chế Lan Viên "Cái xào xạc

hồn anh chính là xào xạc lá" có nhịp điệu thơ là :

Cái xào xạc hồn anh/ chính là / xào xạc lá

Nhưng nếu ngắt theo "cảm tính về tính nhạc" thì người ta sẽ ngắt là :

Cái xào xạc / hồn anh / chính là / xào xạc lá

Ta thấy cách ngắt nhịp sau có nhạc hơn là có hồn thơ Điều đó đòi hỏi khi phân tích

nhịp điệu thơ trên phương diện ngôn ngữ đòi hỏi phải cảm thụ thơ tốt, hiểu được cái "điệu

hồn", cái giọng điệu của tác giả, cảm xúc của tác giả

1.2.2.2.4 Giọng điệu với ngữ điệu thơ:

Ngữ điệu trong thơ là âm thanh biểu thị ở giọng lên cao hay xuống thấp, lời chậm và nhanh, giọng mạnh và yếu, ngắt hơi nhiều ít Ngữ điệu vừa là nguyên nhân vừa là kết quả của tính gợi cảm

Tính gợi cảm tự nó không có ý nghĩa độc lập mà nó sống trong một văn cảnh nhất định Ngữ điệu có ở các loại văn thơ Có ngữ điệu lôzic và ngữ điệu nghệ thuật tạo cho lời nói sự thống nhất hữu cơ

Trang 37

Ngữ điệu diễn cảm có chức năng riêng mà nếu mất chức năng diễn cảm đi thì nội dung

ấy cũng mất luôn Ngữ điệu lôzic không góp gì thêm vào nội dung diễn cảm ngoài cái đã có trong hệ thống ngữ điệu Ngữ điệu lôzic tùy thuộc vào người đọc nhanh hay chậm, trầm hay bổng tùy thuộc vào chỗ ngừng Chỗ ngừng nhiều hay ít tùy thuộc vào cách đọc có diễn cảm hay không có diễn cảm

Trong thơ trữ tình, ngữ điệu là một dấu hiệu mang tính chủ quan của người nghệ sĩ và

nó cũng là dấu hiệu của giọng điệu

Trong tiếng Việt, các thanh bằng và thanh không thường kết thành ngữ điệu nhẹ nhàng, bay cao, lan tỏa :

Em ơi Ba Lan mùa tuyết lan

Đường Bạch dương sương trắng nắng tràn :10 thanh bằng / 14 âm Còn các thanh trắc

thường kết thành ngữ điệu mạnh, khẳng định :

Nếu phải cách xa anh

Em chỉ còn bão tố : 6 thanh trắc /10 âm

Nếu ta dùng giọng ta đọc diễn cảm hai câu thơ của Chế Lan Viên :

Ai không đau khi lửa cháy các ngôi nhà

Chỉ gỗ rách nát tươm đủ lòng ta đau buốt

Ta cũng thấy ở các thanh trắc, giọng phải lên cao và ở các thanh bằng giọng xuống thấp, đó là ngữ điệu lôzic Còn ngữ điệu nghệ thuật là cách đọc diễn cảm cả các thanh bằng

và thanh trắc ấy sao cho gợi cảm

Ngữ điệu trong thơ chia thành hai nhóm cơ bản : thơ trữ tình điệu nói và trữ tình điệu ngâm Trữ tình điệu ngâm là sản phẩm của tư duy thơ truyền thống, biểu hiện cái phi ngã Trữ tình điệu nói lại hướng tới cái bản ngã, cái cá nhân Phải đến trữ tình điệu nói, giọng điệu

cá nhân nghệ sĩ mới thực sự có đường nét

Thơ trữ tình điệu ngâm có qui luật chặt chẽ về âm luật Chẳng phải ngẫu nhiên mà Tố Hữu lại chọn thể lục bát để diễn tả nội dung bài Tiếng ru Vì bản thân thể lục bát, cả câu 6, câu 8, luật bằng trắc và vần của nó đã là ngữ điệu của giọng ru, giọng ngâm :

Con ong làm mật yêu hoa Con cá bơi yêu nước, con chim ca yêu trời Con người muốn sống con ơi

Trang 38

Phải yêu đồng chí, yêu người anh em

Cái sáng tạo của Tố Hữu là mở rộng thêm bên trong câu thơ lục bát (câu 8 thành câu

10) : Con cá bơi yêu nước, con chim ca yêu trời

Thơ trữ tình điệu nói thì âm luật tự do hơn, câu thơ có thể mở rộng ra để diễn tả phần ý muốn khai triển đến tận cùng của tác giả :

Ta biết ơn những giòng máu người xưa đã đổ

Càng yêu những người hôm nay cùng ta một tháng, một năm, một ngày lịch sử

Khi câu thơ mở rộng ra như vậy thì nó gần với văn xuôi, gần với lời nói và ngữ điệu của nó cũng gần với ngữ điệu của văn xuôi, mở rộng chất thơ sang phạm vi tư duy

1.2.2.2.5 Giọng điệu với thể thơ:

Mỗi thể loại thơ hàm chứa trong nó những sức mạnh nội tại riêng nên nó phát ra những giọng điệu riêng : lục bát thường ngọt ngào, vỗ về, song thất lục bát ngâm nga và thống -thiết,-giãi-bày, sâu lắng, thơ năm chữ nén chặt và bay bổng, thơ tự do chân thành phóng khoáng Tùy sở trường, tùy chất giọng của mỗi nhà thơ mà các thể loại thơ khác nhau được

sử dụng Chế Lan Viên hay viết theo thể thơ tự do nhưng ông cũng có khá nhiều bài tứ tuyệt Thơ Nguyễn Duy giàu tính dân tộc và Nguyễn Duy cũng ưa dùng thể loại thơ dân tộc, nhất là thể lục bát:

Bốn tuần loáng thoáng hàng dâu

Em xa vườn lựu từ lâu lắm rồi

Lối mòn đá cuội rong chơi

Lơ thơ trắng dưới chân đồi hoa mơ

Lan báo hỉ nở tình cờ

Bông ngô đồng rụng xuống bờ Hương Giang

Chợ chiều Bến Ngự chưa tan

Anh đi ngược dốc Phú Cam một mình

Tố Hữu thường sử dụng thể thơ truyền thống của dân tộc vì bản thân nhà thơ gắn bó cuộc đời làm thơ của mình với vận mệnh dân tộc Nhưng Tố Hữu có kết hợp thơ điệu nói

Trang 39

trong hình thức truyền thống Giáo sư Lê Đình Trọng có nói : "Tô Hữu đã tháo tung câu thơ

bảy chữ cổ truyền (thơ luật Đường) và làm một sự lắp ghép lại" :

Cả muôn triệu một lời đáp: có

Nhưng trường sơn say gió biển Đông

Vâng Bác nói: chúng con nghe rõ

Mỗi tiếng Người mang nặng núi sông

Đó là câu thơ bảy chữ điệu nói hiện đại, không thể đọc theo nhịp cố hữu của thể thơ bảy chữ mà phải theo nhịp của lời nói được đưa vào thơ

Thế mạnh của Xuân Quỳnh lại ở thơ năm chứ Những bài thơ năm chữ là sở trường của Xuân Quỳnh và thường là những bài hay nhất, được phổ nhạc và được người đọc yêu thích

Đó là các bài : Sóng, Thuyền và biển, Thơ tình cuối mùa thu

Sau khi xét giọng điệu với các hình thức biểu hiện như ngôn ngữ, hình ảnh, nhịp thơ, ngữ điệu, thể loại, ta thấy giọng điệu hiện ra như một yếu tố cơ bản thuộc phong cách nghệ thuật, giọng điệu cho phép người đọc nhận ra vẻ riêng nghệ sĩ, vừa có ý nghĩa như một tiêu chí xác định chân tài nhà văn Xét ở tầng sâu, giọng điệu còn chi phối cả kết cấu nghệ thuật Đây thực sự là mối liên hệ bên trong và sự chi phối, tươnp, liên này góp phần làm nên sự

thống nhất cơ bản của tác phẩm Ngay bố cục văn bản (được hiểu như yếu tố lộ thiên của kết

cấu) cũng cho thấy sự luân chuyển giọng điệu Không ít người phân tích "Đây thôn Vĩ Dạ"

của Hàn Mặc Tử tỏ ra rất khó xử lý khổ thứ nhất và khổ thứ hai được triển khai theo các

mạch khác nhau Nhưng chính sự "lệch pha" này cho thấy trong cái : ''Gió theo lối gió mây

đường mây" là sự thống nhất của hệ thống cảm xúc phóng khoáng Hàn Mặc Tử

Giọng điệu còn bộc lộ ở việc tổ chức, bài trí điểm nhìn nghệ thuật Chính ở đây người đọc nhận ra thái độ cảm thụ, cự ly soi ngắm hiện tượng, khoảng cách giữa cái đang nói và cái

sẽ nói, mức độ gần gũi, xa cách, thân sơ hay ngợi ca, châm biếm của giọng điệu Trong thơ mới, cái thi sĩ như Nguyễn Bính, Bàng Bá Lân, Anh Thơ cùng viết về đồng nội, nhưng rốt cuộc, chỉ mình Nguyễn Bính là đạt tới cái hồn quê dân tộc Bởi vì Nguyễn Bính đã nhìn đồng

quê với "cái nhìn tâm tưởng"., sau cái nhìn có vẻ tĩnh lặng này là những rạn vỡ bên trong, đó

là lý do để giọng Nguyễn Bính thấm đầy "hồn đồng nội" hơn cả

Cuối cùng giọng điệu bao giờ cũng in đậm dấu ấn cá tính nghệ sĩ Dấu vết môi trường, vùng miền văn hóa, các quan hệ có liên quan đến nhà thơ cũng góp phần tạo nên sự phong

phú và màu sắc độc đáo của giọng điệu Ví như thơ Hoàng Cầm được coi là một "điệu thơ

quan họ'' với đầy chất dân gian vùng Kinh Bắc, Hoàng Trung Thông, Trần Hữu Thung lại

Trang 40

đậm chất Nghệ Tĩnh, Quang Dũng bảng lảng "xứ Đoài mây trắng" Lữ Hoàng Chương luôn trong trạng thái "cung bậc ngã nghiêng" thành ra giọng điệu thơ say Cá tính sáng tạo, với tư

cách là sự thể hiện một cách tập trung, rực rỡ của cái cá biệt, chủ quan thực sự là yếu tố nền tảng làm nên giọng điệu thơ ca Điều này cũng dễ hiểu vì cá tính sáng tạo là cơ sở hình thành phong cách nghệ thuật Do vậy, giọng điệu như là hợp lưu của hai yếu tố : tính trời phú, bẩm

sinh và sự khổ công tìm tòi, thể hiện Dĩ nhiên, đi vào tác phẩm, mặt "thiền phú", cái khẩu

khí vốn có của thi nhân phải tuân thủ những nguyên tắc khái quái nghệ thuật Thông qua nghệ thuật, giọng điệu bộc lộ trung thực khí lực nhà thơ, tạo cầu nối cho sự giao tiếp, mở rộng biên giới thơ ca

Nhưng cũng có điều cần lưu ý : có những nhà thơ, ngoài đời có vẻ "gai góc" nhưng thơ

họ lại trong sáng lạ thường Bởi vì thơ là sự tụ kết, thăng hoa của cái đẹp Trong quá trình sáng tạo, ngoài nhi: cầu thể hiện bản thể, nhà thơ còn phải biểu hiện được cả những vấn đề lớn lao của thời đại Trước yêu cầu ấy, nhân cách của nhà thơ phải được nhân lên ngang tầm lịch sử Giọng điệu thi nhân, vì vậy, vừa mang âm hưởng thời đại, vừa phải trở thành một sở hữu cá nhân, cá biệt Việc xây dựng giọng điệu cá nhân bao giờ cũng là một thử thách đối với người viết

Một nền văn học nhân bản phát triển phong phú đa dạng cũng có nghĩa là nền văn học

ấy chấp nhận đa phong cách, đa giọng điệu Lẽ tất nhiên, giọng điệu văn chương chân thực bao giờ cũng thể hiện khát vọng vươn tới cái cao cả, cái đẹp nhân văn Đạt đến sự hài hòa ấy, giọng điệu mới trở thành một nhân tố lôi cuốn, thuyết phục người đọc bằng sự truyền cảm không cưỡng nổi của nó

Ta có thể tiếp cận vấn đề giọng điệu theo nhiều hướng khác nhau nhưng trong khuôn khổ luận án này chúng tôi triển khai nghiên cứu giọng thơ Chế Lan Viên theo ba hướng chính

là cảm hứng, nhân vật trữ tình và hệ thống hình ảnh

Ngày đăng: 01/01/2021, 13:43

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w