1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Tinh chat thuc dung trong phuong phap day

5 7 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 5
Dung lượng 9,68 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đấy là còn chưa nói đến việc phải có ý thức thực hiện tích hợp ngang (theo nghĩa hẹp: với phần Tiếng Việt và phần Tập làm văn; theo nghĩa rộng: với các môn học khác và với thực tế cuộc[r]

Trang 1

Tính chất thực dụng trong phương pháp dạy - học văn!

Đọc hai bài viết của GS Trần Đình Sử (Con đường đổi mới căn bản phương pháp dạy – học văn / Văn nghệ, số 10, 7.3.2009) và của nhà giáo Nguyễn Minh Phương (Trở về với văn bản hay hướng tới bạn đọc – học sinh?/ Văn nghệ, số 13, 28.3.2009); tôi chợt nghĩ,

có một vấn đề còn quan thiết hơn cả “Trở về với văn bản” và “Hướng tới bạn đọc – học sinh”, ấy là tính chất thực dụng của môn học: Học văn để làm bài thi! Thi học kì, thi cuối năm và thi tuyển sinh đại học! Muốn có một kết quả thi khả dĩ thì hiển nhiên bài văn phải

có ý, mà các ý thì luôn được chẻ ra li ti trong đáp án với biểu điểm chi tiết tới 0,5 điểm/ý Người chấm cứ nhặt ý mà cho điểm Vậy thì làm gì có “đất” cho những chuyện “sang trọng” như tìm kiếm những “điểm chưa xác định”, “điểm còn để trống” hoặc những phương pháp “trở về”, “hướng tới”…?!

Môn văn chỉ là một trong những môn học ở nhà trường phổ thông, có học có thi, có thi thì phải có điểm, thi tuyển sinh đại học lại càng cần có điểm, vậy thôi! Nếu môn văn được thiết kế chỉ để thực hiện sứ mệnh cao quí là bồi dưỡng tâm hồn, hoàn thiện nhân cách… cho học sinh, mà không dính dáng gì đến thi cử thì lại là chuyện hoàn toàn khác Bấy giờ ta có thể bàn đến nhiều chuyện cao siêu, sang trọng lắm! Thế cho nên, việc có sách tham khảo, có bài văn mẫu, có dạy thêm, có luyện thi môn văn… cũng nên coi là chuyện bình thường, thậm chí là cần thiết; bởi nếu không có những thứ ấy thì học sinh lấy đâu ra ý để lấp đầy bài viết?! Cách đây vài năm, dư luận từng xôn xao về một bài văn thi tuyển sinh đại học đạt điểm 10 (đề thi hỏi về tác phẩm “Vợ nhặt” của Kim Lân) bởi nó

y chang… một bài văn mẫu có bày bán ê hề trên thị trường! Nếu bình tĩnh mà suy xét thì

cũng chẳng có gì đáng phải ồn ào như thế cả Có cầu thì có cung Tại sao bác sĩ có quyền

mở phòng mạch tư mà thầy giáo lại không có quyền dạy thêm? Ai nghiên cứu khoa học hoặc làm luận án tiến sĩ mà chẳng phải đọc hàng chồng sách tham khảo? Vậy thì đương

nhiên học sinh cũng có cái quyền ấy! Và còn nhiều cái tại sao nữa, mà cái tại sao nào

cũng hàm chứa trong nó cả cái tích cực lẫn cái tiêu cực Mâu thuẫn là động lực của sự phát triển mà!

Bài viết này của tôi chỉ muốn bày tỏ một suy nghĩ rằng: Phương pháp nào có thể giúp cho học sinh đỡ “khiếp đảm” trước các đáp án của môn văn thì phương pháp ấy là tối ưu! Tức

là chúng ta phải giải quyết hài hoà mối quan hệ giữa Phương pháp dạy – học văn với Kết quả thi môn văn Tôi nghĩ nhà giáo Nguyễn Minh Phương đã đúng khi cho rằng luận điểm “Trở về với văn bản” không có gì mới, bởi xưa nay, trừ mấy nhà phê bình xã hội học dung tục ra thì chẳng có ai “rời bỏ” tác phẩm văn chương mà có thể cảm thụ được nó cả! Nhưng “Hướng tới bạn đọc – học sinh” liệu có thể giải quyết được những “bức xúc” của học sinh sau mỗi kì thi văn? Nghĩa là, nếu bỏ qua tính chất thực dụng của môn văn và

Trang 2

quên mất rằng môn văn luôn được đối xử bình đẳng với các môn khác như sử, địa, toán,

lí, hoá, sinh… trong hệ thống giáo dục ở nhà trường phổ thông thì có phiến diện và duy ý

chí không?

Để có cơ sở cho ý kiến của mình, tôi xin dẫn ra ba chứng cớ

Thứ nhất, cách đây bốn năm, em Nguyễn Kim Ngân, học sinh lớp 12 trường THPT Trần

Phú, Hà Nội có viết một bức thư nhan đề “Hãy cứu chúng em!” (đăng trên báo Khuyến

học & Dân trí, số 22, 2.6.2005) Một bức thư dài, chân thành, chừng mực, đáng để chúng

ta phải suy nghĩ Bức thư nói về những cái đáp án và biểu điểm chấm thi môn văn, những cái mà Ngân và bạn bè của em “nghe đã thấy hãi” vì nó được chia li ti tới 0,5 điểm/ý!

Bức thư kết luận:

“Liệu mai sau, xã hội, cơ quan của chúng em có cái đáp án chi tiết nào cho bài báo, tác phẩm của chúng em không?

Chúng em bước vào phòng thi giờ không còn nghĩ viết sao cho hay, cho chân thành, cảm xúc, mà thay vào đó, chúng em ngồi đoán xem các thầy cô ra đáp án nghĩ gì, tư duy ra sao, gạch đầu dòng bao nhiêu ý thì đủ với yêu cầu của Bộ?

Đọc xong bài này, có thể mọi người sẽ cho là em viết thiếu dẫn chứng cụ thể bởi mục tiêu của bức thư này là trình bày nỗi lo lắng và băn khoăn của chúng em”.

Vậy thì việc “Trở về với văn bản” hay “Hướng tới bạn đọc – học sinh”, cái nào có thể giúp học sinh giải toả nỗi “sợ hãi” trên?

Thứ hai, nói về việc dạy – học văn ngày nay, nhà giáo Trần Quang Đại cũng bày tỏ không ít ưu tư, trăn trở:

“… Nhiều giáo viên tâm sự, điều mà họ sợ nhất không là gì khác mà chính là sự thờ ơ của học sinh Khi học sinh đã coi môn Ngữ văn là môn phụ, và các em “một lòng một dạ” theo đuổi các “môn chính” để thi đại học thì làm sao có thể rung động được trước

số phận của Thuý Kiều, chị Dậu, Chí Phèo, Lão Hạc, bé Vania, những vần thơ như

“Sông dài, trời rộng, bến cô liêu” hay “Những luồng run rẩy rung rinh lá/Đôi nhánh khô gầy xương mỏng manh”? Để chuẩn bị cho một bài giảng, người giáo viên đầu tư bao nhiêu công sức, tâm huyết, trăn trở… thế nhưng đã bị “dội một gáo nước lạnh” từ thái độ vô cảm của học sinh: những ánh mắt thờ ơ, lạnh lùng, những hành vi đối phó: thản nhiên làm bài tập toán, lí, ngoại ngữ trong giờ, thì thầm nói chuyện, đọc truyện

Trang 3

tranh, hí hoáy nhắn tin, xin nghỉ ốm… Bao nhiêu điều thú vị, sâu sắc chực thăng hoa bỗng nghẹn ngào Đối với giáo viên, có niềm hạnh phúc nào lớn hơn được học sinh chờ đón, say mê học hỏi và có nỗi buồn, nỗi thất vọng nào sâu sắc hơn khi thấy mình đang trở thành một “người thừa” trong con mắt học sinh!

Dĩ nhiên, chúng tôi không trách học sinh: các em phải học quá nhiều môn và do yêu cầu gắt gao của cuộc mưu sinh, sự định hướng của gia đình, các em phải đầu tư cho những môn học có thể giúp các em tìm kiếm việc làm, có chỗ đứng trong xã hội Và liệu có bất công không khi mà người lớn thì toan tính thực dụng, miệt mài theo đuổi lợi danh nhưng lại yêu cầu các em vô tư, lãng mạn, hiệp nghĩa?”…

(Trần Quang Đại: Ba nghịch lí của môn Ngữ văn trong trường phổ thông Báo Văn nghệ Trẻ, số 44, 2.11.2008)

Hoá ra, đối với môn văn, thầy có nỗi “bức xúc” của thầy, trò có nỗi “bức xúc” của trò; vậy thì Phương pháp dạy – học văn có vai trò gì trong việc giải toả những bức xúc kia để thầy – trò – tác phẩm có tiếng nói chung?

Thứ ba, trong một lần chấm thi tuyển sinh đại học môn văn, đề thi hỏi về tác phẩm “Vợ nhặt” của nhà văn Kim Lân, một thí sinh (tôi đoán là nữ sinh vì nét chữ rất mềm, đẹp) viết thế này: “ Người đàn bà theo Tràng về làm vợ thuộc loại nhân vật vô danh, chị ta không có nhân dạng, không có tuổi tác, không có quê quán Dường như nhân vật này chỉ

là cái cớ để phát triển cốt truyện, tức chỉ là một nhân vật phụ – Nhưng chính nhân vật phụ này lại là điểm tựa cho cả câu chuyện và cho sự tồn tại có lí của các nhân vật khác, nhất

là nhân vật Tràng Người ta thật khó tin khi anh cu Tràng, thuộc hạng cùng đinh, lại dân ngụ cư, thất học; vậy mà chỉ sau một đêm có vợ, anh ta đã thay đổi nhanh như một phép mầu, tức là trở thành một người đàn ông hoàn toàn khác: chững chạc, có trách nhiệm, có tình yêu thương… Có lẽ bây giờ và cả mãi mãi sau này, chúng ta sẽ không đòi hỏi gì nhiều hơn ở những người đàn ông, chỉ cần họ có được những phẩm chất như anh cu Tràng… sau một đêm có vợ! Rõ ràng, người đàn bà vô danh, nhưng không vô hồn, vô cảm Có thể, vào cái khoảnh khắc trước khi làm vợ Tràng, người đàn bà bỗng lặng đi vì buồn tủi và cay đắng? Chị tự hỏi chẳng lẽ cái đói có thể xô đẩy con người đến những hành động đáng xấu hổ như thế này ư?

Tiết trinh của một đời con gái chỉ đổi được mấy bát bánh đúc thôi ư? Rồi có thể, chị đã nói cho Tràng biết về cái mặc cảm đang giày vò chị, khiến cho Tràng bừng tỉnh, khôn lên

Trang 4

và biết ơn chị? Ai đó nói rằng tình yêu có sức mạnh cải tạo con người, điều đó thì đúng rồi; nhưng trong trường hợp này, chính tình thương của người đàn bà đã giúp Tràng trưởng thành; mà cụ thể là ý thức sâu sắc được cảnh ngộ của bản thân, của “người bạn đời”, của cái gia đình nhỏ bé đang chao đảo trong nạn đói thế kỉ…; từ đó mà nhen nhóm

ý chí phải cố kết với nhau để tự cứu mình! Nếu tình cảm chân thành của Thị Nở là tác nhân đẩy nhanh quá trình hoàn lương của Chí Phèo thì nỗi buồn của người đàn bà trong đêm động phòng ở truyện “Vợ nhặt” cũng là một tác nhân giúp Tràng người hơn rất nhiều! Đây mới chính là vẻ đẹp nhân văn của câu chuyện, nó thể hiện cái tâm và cái tài rất đáng trân trọng của nhà văn Kim Lân” Cái ý mà thí sinh phân tích khá độc đáo trên không có trong đáp án! Tất nhiên không có trong biểu điểm, nghĩa là thí sinh sẽ chẳng

“nhặt” nổi 0,25 điểm! Nhưng mà tôi cảm thấy “sướng” nên vẫn cho điểm, mà là 2 điểm chứ không ít! Tuy nhiên, đến người chấm vòng 2 thì không đơn giản như tôi nghĩ! Tôi tiếc cho thí sinh đó và chợt thấy “giận” cái đáp án văn tưởng là rất “khoa học” kia! Tôi nhớ một danh ngôn, đại ý: “Người thầy giáo dạy học trò và cũng được học trò dạy lại nhiều điều!” Nghĩa là tôi đã lẳng lặng “cóp” cái ý “không có trong đáp án” kia để đưa vào bài giảng của mình - và, trớ trêu thay, không ít lần cái ý của thí sinh “vô danh” ấy, qua lời của tôi, đã từng được không ít sinh viên gật gù là sâu sắc!

Thử hỏi đoạn dẫn trong bài làm của thí sinh trên kia không phải là “điểm chưa xác định” trong tác phẩm thì là cái gì? Nó quá hay! Nhưng oái oăm thay, người làm đáp án và biểu điểm lại chưa hề nghĩ tới hay là không thể nghĩ tới?!

Có thể thấy, một tác phẩm văn chương được đưa vào sách giáo khoa cần phải đồng thời giải quyết ba việc (mà việc nào cũng khó khăn): đọc – hiểu (tiếp nhận ở mức độ đạt yêu

cầu), phát hiện ra những “điểm chưa xác định” (thực hiện các chức năng nhận thức, giáo

dục, thẩm mĩ, giải trí… và tạo hứng thú) và làm bài thi có kết quả Đấy là còn chưa nói

đến việc phải có ý thức thực hiện tích hợp ngang (theo nghĩa hẹp: với phần Tiếng Việt và phần Tập làm văn; theo nghĩa rộng: với các môn học khác và với thực tế cuộc sống); thực hiện lồng ghép với việc giáo dục đạo đức, lí tưởng, pháp luật… Với một môn học được chất lên vai nhiều “sứ mệnh” như vậy thì việc tách riêng Phương pháp dạy – học ra để bàn bạc rõ ràng là chưa ổn Cần tính tới sự chi phối của các yếu tố bên ngoài phương pháp nhưng lại đang tạo ra một sức ép ghê gớm lên phương pháp thì chúng ta mới có thể

dễ dàng tìm ra tiếng nói đồng thuận – và điều quan trọng hơn – là mới có hi vọng khắc phục được tình trạng học sinh chán văn, sợ văn, vô cảm với môn văn (có lẽ đây mới chính là nghịch lí đau lòng nhất!) Chúng ta đã tốn khá nhiều giấy mực bàn về Phương pháp dạy – học văn, nhưng học sinh thì càng ngày càng chán môn văn vì nó có vẻ xa lạ

và “vô tích sự”; sợ môn văn vì thi cử thì làm bài cật lực mà chẳng biết sẽ được mấy điểm – một môn thi mù mờ và đầy may rủi! Không hiểu các môn học khác, như môn toán chẳng hạn, có “nhiễu sự” như môn văn của chúng ta không nhỉ?!

Ngày đăng: 19/04/2021, 18:29

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w