Dưới sự lãnh đạo của Đảng uỷ, Ban giám đốc, Học viện ANND đã khôngngừng phát triển trở thành cơ sở đào tạo đa ngành, đa lĩnh vực, là trung tâm nghiêncứu khoa học hàng đầu của ngành Công
Trang 1VIỆN KHOA HỌC THỂ DỤC THỂ THAO
=================
THIỀU TÂN THẾ
ỨNG DỤNG NHÓM PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC CÁC MÔN TRONG CHƯƠNG TRÌNH GIÁO DỤC THỂ CHẤT Ở HỌC VIỆN AN NINH NHÂN DÂN
LUẬN ÁN TIẾN SĨ GIÁO DỤC HỌC
HÀ NỘI - 2019
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ VĂN HÓA, THỂ THAO VÀ DU LỊCH
VIỆN KHOA HỌC THỂ DỤC THỂ THAO
======================
THIỀU TÂN THẾ
ỨNG DỤNG NHÓM PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC CÁC MÔN TRONG CHƯƠNG TRÌNH GIÁO DỤC THỂ CHẤT Ở HỌC VIỆN AN NINH NHÂN
DÂN
Chuyên ngành:
Mã số:
Giáo dục học 9140101
LUẬN ÁN TIẾN SĨ GIÁO DỤC HỌC
Cán bộ hướng dẫn khoa học
1 GS.TS Nguyễn Đại Dương
2 PGS Nguyễn Văn Trạch
HÀ NỘI – 2019
Trang 3Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận án là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào khác.
Tác giả luận án
Thiều Tân Thế
Trang 4Danh mục ký hiệu viết tắt trong luận án.
Danh mục đơn vị đo lường trong luận án
Danh mục các biểu bảng, biểu đồ trong luận án
PHẦN MỞ ĐẦU
Chương 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 Quan điểm của Đảng và Nhà nước về vấn đề đổi mới phươngpháp dạy học
1.2 Khái quát về phương pháp dạy học và phương pháp dạy họcThể dục thể thao
1.3 Phương pháp dạy học tích cực và xu hướng ứng dụng nhómphương pháp dạy học tích cực
1.4 Đặc điểm phương pháp Giáo dục thể chất
1.5 Yêu cầu, nguyên tắc và tiêu chuẩn lựa chọn phương pháp dạyhọc đại học và dạy học môn học Giáo dục thể chất
1.6 Vai trò của công tác rèn luyện thân thể đối với sức khoẻ củacán bộ, chiến sỹ trong lực lượng Công an nhân dân và với sinh viênHọc viện ANND
1.7 Một số công trình nghiên cứu có liên quan
Chương 2 PHƯƠNG PHÁP VÀ TỔ CHỨC NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu
2.1.2 Khách thể nghiên cứu
2.2 Phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Phương pháp phân tích và tổng hợp tài liệu
2.2.2 Phương pháp phỏng vấn, tọa đàm
Trang 52.2.4 Phương pháp kiểm tra sư phạm
2.2.5 Phương pháp thực nghiệm sư phạm
2.2.6 Phương pháp toán học thống kê
2.3 Tổ chức nghiên cứu
2.3.1 Địa điểm nghiên cứu
2.3.2 Phạm vi nghiên cứu
2.3.3 Kế hoạch nghiên cứu
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN
3.1 Khảo sát đánh giá thực trạng dạy học các môn thể thao trong chương trình Giáo dục thể chất ở Học viện An ninh nhân dân
3.1.1 Xác định các yếu tố cơ bản chi phối tới hiệu quả môn họcGiáo dục thể chất tại Học viện An ninh nhân dân
3.1.2 Thực trạng các yếu tố chi phối tới hiệu quả môn học Giáodục thể chất tại Học viện An ninh nhân dân
3.1.3 Bàn luận kết quả nghiên cứu
3.2 Lựa chọn các nhóm phương pháp dạy học phù hợp trong dạy học Giáo dục thể chất ở Học viện An ninh nhân dân
3.2.1 Căn cứ khoa học lựa chọn nhóm phương pháp dạy học Giáodục thể chất cho sinh viên Học viện An ninh nhân dân
3.2.2 Xác định nhóm phương pháp dạy học Giáo dục thể chất chosinh viên Học viện An ninh nhân dân
3.2.3 Kiểm định mức độ phù hợp của nhóm phương pháp dạy họccho sinh viên Học viện An ninh nhân dân qua phỏng vấn các đối tượng
có liên quan
3.2.4 Kết quả lựa chọn các nhóm phương pháp dạy học các môntrong chương trình Giáo dục thể chất ở Học viện An ninh nhân dân quaphương pháp hội thảo khoa học
3.2.5 Bàn luận kết quả nghiên cứu
3.3 Ứng dụng và đánh giá hiệu quả các nhóm phương pháp
Trang 6giảng dạy các môn trong chương trình Giáo dục thể chất ở Học viện
An ninh nhân dân
3.3.1 Tổ chức thực nghiệm
3.3.2 Đánh giá hiệu quả thực nghiệm
3.3.3 Bàn luận kết quả nghiên cứu
Trang 7: Chỉ thị: Giáo dục thể chất: Nghị định
: Nghị quyết: Nhà xuất bản: Phương pháp dạy học: Quyết định
: Sinh viên: Thể dục thể thao: Trung ương: Ủy ban TDTT: Xuất phát cao
2 Đơn vị đo lường viết tắt:
Trang 8DANH MỤC CÁC BIỂU BẢNG, SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ TRONG LUẬN ÁN
Trang 9Bảng 3.16.Bảng 3.17.Bảng 3.18.Bảng 3.19.
Bảng 3.20.Bảng 3.21
Trang 11Bảng 3.38.Bảng 3.39.Bảng 3.40.
Sơ đồ 1.1
Sơ đồ 3.1
Biểu đồ 3.1.Biểu đồ 3.2
Biểu đồ 3.3.Biểu đồ 3.4
Trang 12PHẦN MỞ ĐẦU
Học viện An ninh nhân dân, tiền thân là Trường Huấn luyện Công an đượcthành lập ngày 25/6/1946 Cùng với sự phát triển chung của hệ thống giáo dục quốcdân, Học viện ANND đã có những bước phát triển quan trọng, đóng góp to lớn cho
sự nghiệp giáo dục, đào tạo của Ngành Trải qua hơn 70 năm xây dựng và pháttriển, Học viện ANND đã, đang và ngày càng khẳng định vị thế và uy tín của một
cơ sở giáo dục đại học trọng điểm của ngành Công an
Ngày 22/7/2011, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 1229/QĐ-TTgphê duyệt Đề án “Quy hoạch tổng thể, nâng cao năng lực và chất lượng đào tạo củacác cơ sở đào tạo, bồi dưỡng trong Công an nhân dân đến năm 2020” Trong đó,nội dung của Đề án chỉ rõ “Ưu tiên đầu tư, phát triển Học viện ANND trở thành cơ
sở đào tạo, nghiên cứu khoa học đầu ngành, có chất lượng cao, làm nòng cốt cho sựphát triển của hệ thống giáo dục, đào tạo Công an nhân dân”
Ngày 26/6/2015, Bộ trưởng Bộ Công an đã ký Quyết định số BCA-X11 công nhận Học viện ANND là cơ sở giáo dục đại học trọng điểm củangành Công an Đây là dấu mốc quan trọng ghi nhận quá trình xây dựng, phát triển
3969/QĐ-và những đóng góp của Học viện ANND trong sự nghiệp giáo dục, đào tạo, đồngthời là tiền đề vững chắc, là cơ sở đảm bảo cho Học viện phát triển nhanh và bềnvững, trở thành cơ sở giáo dục đại học trọng điểm quốc gia vào năm 2020 Sớm đạtcác tiêu chuẩn theo Thông tư số 24/2015/TT-BGDĐT của Bộ Giáo dục và Đào tạoqui định chuẩn quốc gia đối với cơ sở giáo dục đại học
Dưới sự lãnh đạo của Đảng uỷ, Ban giám đốc, Học viện ANND đã khôngngừng phát triển trở thành cơ sở đào tạo đa ngành, đa lĩnh vực, là trung tâm nghiêncứu khoa học hàng đầu của ngành Công an, có uy tín trong hệ thống các trường đạihọc; từng bước xây dựng được cơ cấu tổ chức bộ máy phù hợp chức năng, nhiệm
vụ trường đại học trọng điểm với đội ngũ giảng viên, cán bộ quản lý giáo dục đủ về
số lượng, chuẩn về trình độ và cơ cấu chức danh, cơ sở vật chất được hoàn thiệntheo hướng đồng bộ, hiện đại, tiến tới đạt chuẩn theo qui mô đào tạo và yêu cầugiảng dạy, học tập, nghiên cứu khoa học
Thực hiện Nghị quyết số 29 (Khoá XI) của Đảng về đổi mới căn bản vàtoàn diện giáo dục, đào tạo, trong những năm qua, Học viện đã chủ động, tích cựctriển khai xây dựng và đổi mới nội dung, phương pháp giảng dạy, chương trình đào
Trang 13tạo theo chủ trương chung của Bộ Giáo dục và Đào tạo, của Bộ Công an Nhờ đó,chương trình đào tạo các bậc học, ngành học được xây dựng, hoàn thiện, đảm bảotính hiện đại, bám sát yêu cầu của thực tiễn và sự phát triển của lý luận nghiệp vụcũng như tính liên thông về hệ thống kiến thức các bậc học đáp ứng yêu cầu, nhiệm
vụ bảo vệ ANQG và nhu cầu đào tạo, cung cấp nguồn nhân lực chất lượng cao cho
Trong tổng thể chương trình giáo dục, đào tạo chung của Học viện ANND,môn Giáo dục thể chất (GDTC) là môn học bắt buộc thuộc khối kiến thức cơ bảnđại cương trong chương trình khung giáo dục đại học, khoa học an ninh với mụctiêu đào tạo như sau: Giáo dục và nâng cao các kỹ năng vận động cơ bản cho họcviên; nâng cao thể chất cho các học viên và sinh viên; bồi dưỡng phương pháp tậpluyện thể thao suốt đời cho người học
Trong nhiều năm qua Bộ môn Quân sự - Võ thuật - TDTT của Học việnANND đã hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ trong công tác giảng dạy và huấn luyệnTDTT Hàng năm học viên tốt nghiệp ra trường đã có thể lực và kỹ năng vận động
cơ bản tương đối tốt đáp ứng được yêu cầu của công tác thực tế
Tuy vậy, nghiêm túc nhìn nhận công tác giảng dạy môn GDTC ở Học việnANND vẫn còn tồn tại một số mặt hạn chế dẫn tới hiệu quả công tác GDTC chưathực sự cao Chương trình môn học GDTC tại học viện ANND được xây dựng với
3 tín chỉ, trong đó có 2 tín chỉ bắt buộc và 1 tín chỉ tự chọn Phân phối chương trình
đa dạng cả về lý thuyết và thực hành; đội ngũ giảng viên có trình độ cao; cơ sở vậtchất tương đối đầy đủ… tuy nhiên, việc sử dụng các PPDH của giảng viên quaquan sát và nhận định của một số chuyên gia còn chậm đổi mới, chưa tiếp cận xuthế phát triển của lý luận dạy học chung cũng như lý luận dạy học thể dục thể thaonói riêng
Trang 14Phương pháp dạy học tốt có thể tận dụng triệt để và tối ưu các điều kiện dạyhọc như trình độ kinh nghiệm người thầy, điều kiện phương tiện dạy học…, nhằmphát huy tối đa được tính tích cực học tập của người học, đạt được các kết quả họctập cao nhất Tuy nhiên, vấn đề này trên thực tế tại Học viện ANND lại chưa đượcquan tâm hợp lý
Vấn đề nghiên cứu, bổ sung và hoàn thiện các PPDH đã được một số tácgiả quan tâm nghiên cứu như: Đồng Văn Triệu (2006) [70], Đỗ Hữu Trường (2008)[738], Nguyễn Hải Bằng (2016) [8], Chu Thị Thu Huyền (2013) [30], Trần ThịHồng Việt (2016) [80] và gần đây nhất là tác giả Lê Vương Anh (2018) [1]… Cáctác giả đã nghiên cứu về cả vấn đề giảng dạy lý thuyết cũng như giảng dạy thựchành TDTT nhưng phần lớn mới tiến hành nghiên cứu cho sinh viên chuyên TDTThoặc nghiên cứu phương pháp dạy học lý thuyết hay thực hành trong giảng dạy mộtmôn học hay một môn thể thao, còn việc nghiên cứu các phương pháp tập luyệnTDTT cho các đối tượng tập luyện không chuyên và đặc biệt là sinh viên khối cáctrường lực lượng vũ trang thì chưa có tác giả nào quan tâm nghiên cứu
Xuất phát từ ý nghĩa và tầm quan trọng của việc đổi mới, sử dụng phươngpháp dạy học các môn trong chương trình GDTC ở trong các học viện, trường đạihọc công an nhân dân (CAND) nói chung và Học viện ANND nói riêng Tôi nghiêncứu đề tài:
“Ứng dụng nhóm phương pháp dạy học các môn trong chương trình giáo dục thể chất ở Học viện An ninh nhân dân”.
Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn, lựa chọn và xây dựng cácPPDH khoa học, tích cực, hợp lý và có hiệu quả để nâng cao chất lượng dạy họccác môn GDTC tại Học viện ANND Bước đầu ứng dụng được các nhóm PPDH đãlựa chọn và xây dựng trong thực tế và đánh giá hiệu quả Kết quả nghiên cứu củaluận án sẽ giúp nâng cao hiệu quả giảng dạy các môn trong chương trình GDTCcho sinh viên Học viện ANND, từ đó góp phần nâng cao chất lượng đào tạo sinhviên trong Nhà trường
Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu 1: Khảo sát đánh giá thực trạng dạy học các môn thể thao trong
chương trình GDTC ở Học viện ANND
Trang 15Mục tiêu 2: Lựa chọn các nhóm PPDH phù hợp trong dạy học GDTC ở
Học viện ANND
Mục tiêu 3: Ứng dụng và đánh giá hiệu quả các nhóm phương pháp giảng
dạy các môn trong chương trình GDTC cho sinh viên Học viện ANND
Giả thuyết khoa học của đề tài
Kết quả dạy học môn học GDTC tại học viện ANND chịu ảnh hưởng bởinhiều yếu tố Yếu tố chính ảnh hưởng chưa tốt tới kết quả học tập môn học GDTCcủa sinh viên Học viện ANND là giảng viên sử dụng các PPDH chưa thực sự phùhợp, có hiệu quả Nếu xác định được các nhóm PPDH khoa học, tích cực, hợp lý và
có hiệu quả áp dụng trong dạy học GDTC tại Học viện ANND sẽ giúp nâng caođược chất lượng dạy học các môn trong chương trình GDTC, từ đó nâng cao hiệuquả GDTC cho sinh viên trong Nhà trường
Trang 16CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 Quan điểm của Đảng và Nhà nước về vấn đề đổi mới phương pháp dạy học
Chủ tịch Hồ Chí Minh lúc sinh thời người đã có một thời kỳ trực tiếp làmcông tác dạy học đó là vào những năm đầu của thế kỷ 20 Bác đã làm thầy củanhiều em nhỏ ở Trường Dục Thanh tỉnh Phan Thiết Năm 1911, Bác Hồ ra đi tìmđường cứu nước ở khắp các nước trên thế giới, năm 1929 Bác Hồ trở về QuảngChâu Trung Quốc với tên gọi Nguyễn Ái Quốc, Người đã mở lớp huấn luyện chínhtrị cho các thanh niên yêu nước của Việt Nam để đào tạo các cán bộ nòng cốt chocách mạng Việt Nam Ở các lớp học này, Bác Hồ đã thể hiện một phong cách mẫumực trong giảng dạy Các bài giảng của Bác được biên soạn không theo kiểu “Bàysẵn kiến thức” mà Người sử dụng lối cấu trúc theo hướng phát huy tính tích cựcđộng não suy nghĩ của người học Trong quá trình dạy học Bác đã luôn quan tâmtới việc chọn các nội dung sao cho thiết thực không quá “nặng” hoặc quá “nhẹ”.Người nói “trong quá trình dạy học, nếu chương trình quá nặng thì dù vận dụng bất
cứ cách nào học viên cũng không thể tiếp thu được” [25]
Cũng theo Bác Hồ thì việc cải tiến nội dung và phương pháp dạy học thìkhông chỉ là lựa chọn các chất liệu mà còn là cải tiến cách xác định liều lượng và
bố trí sao cho phù hợp với các mục tiêu đào tạo để từ đó giúp người học đào sâusuy nghĩ hiểu kỹ hiểu sâu để từ đó đề ra và trình bày ý kiến của mình góp phần làm
sáng tỏ chân lý Bác từng nói “những người làm thầy giáo phải tránh kiểu nhồi sọ không nên đào tạo ra những con người thuộc sách làu làu nhưng nhiệm vụ được giao thì không thành được” [28]
Để khắc phục dạy học theo kiểu “nhồi sọ”, Người dạy phải vận dụng triệt để
nguyên lý dạy học “học đi đôi với hành, lý luận gắn với thực tiễn” Với quan điểm này Bác Hồ đã dạy “Lý luận cốt để ứng dụng vào thực tế, lý luận mà không áp dụng vào thực tế là lý luận xuông Dù xem được hàng vạn quyển lý luận nếu không biết đem ra thực hành thì có khác nào các hòm đựng sách” [29].
Đặc biệt Bác còn đặc biệt coi trọng phương pháp dạy học trong quá trình dạyhọc Bác nhấn mạnh “phải tìm cách dạy để người học biết tự học làm cốt, dùng chỉ
Trang 17đạo và thảo luận trợ giúp vào” Ở đây, vai trò của người thầy giáo và của tập thểđược Người đề cập đến như một người trang bị cho học sinh về phương pháp họctập, tư duy và nhận thức Đồng thời khắc phục lối dạy học thụ động, truyền thụ mộtchiều, cần tổ chức dạy học bằng phương pháp thảo luận, tăng cường đối thoại thầytrò và tập thể học sinh Chỉ có như vậy mới phát huy được tính tích cực nhận thứccủa người học Chính quan điểm và tư tưởng giáo dục này của Bác trở thành đặctrưng của hệ phương pháp dạy học phát huy tính tích cực nhận thức của người học.[28]
Quán triệt và thực hiện tư tưởng, quan điểm của Bác về đổi mới phương phápdạy học, Đảng và Nhà nước ta đã định hướng cho công tác đổi mới phương phápdạy học thông qua các Báo cáo chính trị, Nghị quyết, chỉ thị của Đảng và Chínhphủ cũng như các lời huấn thị của các nhà lãnh đạo Đảng và Nhà nước ta
Trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, đặc biệt là thời kỳ sauthống nhất đất nước năm 1975 đến nay, Đảng ta hết sức coi trọng đổi mới sựnghiệp giáo dục đào tạo trong đó có đổi mới hình thức và phương pháp giáo dụcđào tạo
Năm 1979, Bộ Chính trị Khóa IV đã ban hành Nghị quyết số: 14-NQ/TWngày 11 tháng 01 năm 1979 về cải cách giáo dục Nghị quyết nêu mục tiêu của cảicách giáo dục lần này là “làm tốt việc chăm sóc và giáo dục thế hệ trẻ ngay từ tuổi
ấu thơ cho tới lúc trưởng thành, nhằm tạo cơ sở ban đầu rất quan trọng của conngười Việt Nam mới, người lao động làm chủ tập thể và phát triển toàn diện”.Nguyên lý cải cách giáo dục là việc học phải đi đôi với hành, giáo dục kết hợp vớilao động sản xuất, nhà trường gắn với xã hội Nội dung chủ yếu của công tác cảicách giáo dục lần này gồm ba mặt: cải cách cơ cấu của hệ thống giáo dục, cải cáchnội dung giáo dục và cải cách phương pháp giáo dục Nghị quyết nêu hệ thống giáodục mới của nước ta là: “một thể thống nhất và hoàn chỉnh”, bao gồm: “giáo dụcmầm non, giáo dục phổ thông, giáo dục chuyên nghiệp và đại học; mạng lướitrường, lớp tập trung và mạng lưới trường, lớp không thoát ly sản xuất và côngtác” Nghị quyết nhấn mạnh biện pháp cải tiến chương trình học và biên soạn sáchgiáo khoa mới; tăng cường cơ sở vật chất kỹ thuật cho các trường học bằng cáchtăng đầu tư; kiện toàn tổ chức quản lý và tăng cường công tác quản lý của ngànhgiáo dục; đẩy mạnh công tác nghiên cứu khoa học giáo dục Đây là nghị quyết đầu
Trang 18tiên về chuyên đề giáo dục sau khi đất nước được thống nhất, có nhiều vấn đề cần
cụ thể hoá bằng các chính sách, các đề án để thực hiện, từ xác định mục tiêu cụ thể,sắp xếp lại cơ cấu hệ thống cho đến vấn đề biên soạn sách giáo khoa thống nhất chocác cấp học bậc học Nghị quyết số 14-NQ/TW của Bộ Chính trị (khoá IV) là mộtNghị quyết rất quan trọng Nó đặt nền móng cho công cuộc cải cách giáo dục củađất nước trong những năm 80 của thế kỷ XX Do vậy, việc cải cách toàn diện nềngiáo dục nước nhà là một việc rất cần thiết và cấp bách Nhu cầu xây dựng một hệthống giáo dục thống nhất là nhu cầu thực tiễn đặt ra tại thời điểm ban hành Nghịquyết [9]
Năm 1993, Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ 4 khóa VII đã ra Nghịquyết số: 04-NQHNTW ngày 14/01/1993 về tiếp tục đổi mới sự nghiệp giáo dục và
đào tạo, trong đó, một trong mười chủ trương, chính sách và biện pháp lớn là: “Đổi mới phương pháp dạy và học ở tất cả các cấp học, bậc học Kết hợp tốt học với hành, học tập với lao động sản xuất, thực nghiệm và nghiên cứu khoa học, gắn nhà trường với xã hội Áp dụng những phương pháp giáo dục hiện đại để bồi dưỡng cho học sinh năng lực tư duy sáng tạo, năng lực giải quyết vấn đề Chú ý bồi dưỡng những học sinh có năng khiếu” [3] Như vậy, vấn đề đổi mới phương pháp dạy và học ở tất cả các cấp học đã được Đảng và Nhà nước ta quan tâm từ rất sớm.
Đây là lần đầu tiên trong lịch sử Đảng ta, Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã có
kỳ họp riêng bàn về một số vấn đề xã hội, trong đó tập trung xem xét sâu rộng vấn
đề giáo dục, đào tạo và ra Nghị quyết về tiếp tục đổi mới sự nghiệp giáo dục, đàotạo Đây là Nghị quyết đáp ứng lòng mong đợi từ lâu của toàn Đảng, toàn dân ta,nhất là đội ngũ giáo viên, cán bộ quản lý giáo dục, học sinh, sinh viên trong cảnước, về việc xác định quan điểm, chủ trương, chính sách, biện pháp tiếp tục pháttriển mạnh mẽ sự nghiệp giáo dục Nghị quyết không những chỉ ra những giải phápcấp bách để xử lý những vấn đề nóng bỏng đối với công tác giáo dục và đào tạo màcòn định hướng lâu dài cho việc phát triển sự nghiệp này theo cương lĩnh và chiếnlược của Đảng ta cho đến sau năm 2000, nhằm chuẩn bị cho nhân dân ta, đặc biệtcho thế hệ trẻ vững bước tiến vào thế kỷ XXI
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng đã quyết định đẩy mạnhcông nghiệp hoá, hiện đại hoá nhằm mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội côngbằng, vǎn minh, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội Muốn tiến hành công nghiệp
Trang 19hoá, hiện đại hoá thắng lợi phải phát triển mạnh giáo dục - đào tạo, phát huy nguồnlực con người, yếu tố cơ bản của sự phát triển nhanh và bền vững Để thực hiệnNghị quyết Đại hội VIII, Hội nghị lần thứ hai Ban Chấp hành Trung ương quyếtđịnh định hướng chiến lược phát triển giáo dục - đào tạo trong thời kỳ công nghiệphoá, hiện đại hoá và nhiệm vụ đến nǎm 2000, trong đó, một trong 4 giải pháp chủ
yếu là đổi mới công tác quản lý giáo dục, trong đó khẳng định: “Các chủ trương về chính sách giáo dục, những đổi mới về nội dung, quy trình, phương pháp giáo dục, đánh giá, thi đều phải dựa trên cơ sở nghiên cứu kỹ lưỡng và trải qua thực nghiệm, phù hợp với thực tiễn Việt Nam và đưa vào nhà trường theo đúng quy định” [4] Như vậy, việc cải cách phương pháp giáo dục đã bắt đầu được chú trọng
về chất lượng
Tại Đại hội IX, về vấn đề giáo dục và đào tạo, Nghị quyết nêu rõ: “ Tiếp tục
nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, đổi mới nội dung, phương pháp dạy và học, hệ thống trường lớp và hệ thống quản lý giáo dục; thực hiện “chuẩn hoá, hiện
đại hoá, xã hội hoá” Phát huy tinh thần độc lập suy nghĩ và sáng tạo của học sinh,sinh viên, đề cao năng lực tự học, tự hoàn thiện học vấn và tay nghề, đẩy mạnhphong trào tự học tập trong nhân dân bằng những hình thức giáo dục chính quy vàkhông chính quy, thực hiện “giáo dục cho mọi người”, “cả nước trở thành một xãhội học tập” Thực hiện phương châm “học đi đôi với hành, giáo dục kết hợp vớilao động sản xuất, nhà trường gắn với xã hội” Coi trọng công tác hướng nghiệp
và phân luồng học sinh trung học, chuẩn bị cho thanh niên, thiếu niên đi vào laođộng nghề nghiệp phù hợp với sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong cả nước và từngđịa phương Xây dựng quy hoạch đào tạo nhân lực theo phương thức kết hợp họctập trung, học từ xa, học qua máy tính [5] Như vậy, vấn đề đổi mới phương phápdạy và học đã được đặt ra rất rõ ràng trong giải pháp phát triển giáo dục Việt Namgiai đoạn này
Trong Luật Giáo dục năm 2005 cũng đã chỉ rõ: “Phương pháp giáo dục phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, tư duy sáng tạo của người học; bồi dưỡng cho người học năng lực tự học, khả năng thực hành, lòng say mê học tập và
ý chí vươn lên”, đặc biệt, trong giáo dục đại học, “Phương pháp đào tạo trình độ cao đẳng, trình độ đại học phải coi trọng việc bồi dưỡng ý thức tự giác trong học tập, năng lực tự học, tự nghiên cứu, phát triển tư duy sáng tạo, rèn luyện kỹ năng thực
Trang 20hành, tạo điều kiện cho người học tham gia nghiên cứu, thực nghiệm, ứng dụng”
[49] Như vậy, vấn đề về phương pháp giáo dục, đào tạo đã được Đảng và Nhànước ta quy định ngay trong Luật Giáo dục, văn bản pháp quy cao nhất trong vấn
đề giáo dục tại Việt Nam
Trong Nghị quyết Số 29-NQ/TW ngày 04 tháng 11 năm 2013 của Ban chấphành Trung ương Đảng về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo đáp ứngyêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế cũng đã khẳng định: “Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy và học theo hướng hiện đại; phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và vận dụng kiến thức, kỹ năng của người học, khắc phục lối truyền thụ áp đặt một chiều, ghi nhớ máy móc Tập trung dạy cách học, cách nghĩ, khuyến khích tự học, tạo cơ sở để người học tự cập nhật và đổi mới tri thức, kỹ năng, phát triển năng lực Chuyển từ học chủ yếu trên lớp sang tổ chức hình thức học tập đa dạng, chú ý các hoạt động xã hội, ngoại khóa, nghiên cứu khoa học Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông trong dạy và học” [7] Có thể nói, quan điểm trên của Đảng cộng sản Việt Nam đã thể hiện sự đổi mới về tư duy giáo
dục toàn diện, về những vấn để nổi bật, quan trọng nhất trong nền giáo dục ViệtNam
Như vậy, các Nghị quyết của Đảng, Quốc hội và Chính phủ đều tập trung vàoviệc xây dựng nền giáo dục thực học, thực nghiệp và dân chủ Điều đó đã được thểhiện rõ trên các bình diện mục tiêu: Hình thành, phát triển năng lực thực tiễn chongười học, quán triệt yêu cầu hướng nghiệp để thực hiện phân luồng mạnh sautrung học cơ sở và bảo đảm tiếp cận nghề nghiệp ở trung học phổ thông; trao quyền
và trách nhiệm tổ chức kế hoạch dạy học cho cơ sở giáo dục phù hợp với yêu cầucủa địa phương, tạo điều kiện cho người học được lựa chọn môn học và hoạt độnggiáo dục phù hợp sở trường và nguyện vọng; phát huy tính năng động, tư duy độclập và sáng tạo của người học Trong đó, yếu tố được cho là quyết định chính là sựtương tác đồng bộ của các thành tố trong các phương pháp dạy học tích cực (ngườidạy, người học, học liệu, môi trường…) Việc kết hợp hài hòa giữa dạy kiến thứccông cụ với kiến thức phương pháp, đặc biệt chú trọng dạy cách học, phương pháp
tự học để người học có thể học tập suốt đời
Từ ưu thế của các phương pháp giáo dục, hình thức tổ chức dạy học mới đãtriển khai trong những năm gần đây như: Phương pháp bàn tay nặn bột, giáo dục
Trang 21trải nghiệm sáng tạo, giáo dục STEM Việc đổi mới phương pháp dạy học cầnđược thực hiện trên cơ sở phân hóa đối tượng, các căn cứ về điều kiện, loại hìnhnăng lực và phẩm chất cần phát triển ở người học Cũng chính từ đó để lựa chọncác hình thức tổ chức dạy học phù hợp, tăng cường các hoạt động trải nghiệm sángtạo và ứng dụng công nghệ thông tin, truyền thông trong tổ chức dạy học thông quaviệc sử dụng các mô hình học tập kết hợp giữa lớp học truyền thống với các lớphọc trực tuyến.
Cùng với việc tổ chức cho người học thực hiện các nhiệm vụ học tập ở trênlớp, cần coi trọng giao nhiệm vụ và hướng dẫn việc học tập ở nhà, ở ngoài nhàtrường Chú trọng đẩy mạnh hoạt động nghiên cứu khoa học để nâng cao chấtlượng dạy học theo chiều sâu Tăng cường xây dựng các mô hình học tập gắn vớithực tiễn Cùng với đó cần tăng cường hơn nữa các hoạt động giao lưu, hợp tácnhằm thúc đẩy hứng thú học tập, rèn luyện kỹ năng sống, nâng cao hiểu biết về cácgiá trị văn hóa truyền thống dân tộc và tinh hoa văn hóa thế giới…
Giáo viên tổ chức, hướng dẫn hoạt động học tập cần tạo ra môi trường học tậpthân thiện và những tình huống có vấn đề nhằm khuyến khích người học tích cựctham gia các hoạt động học tập Chính người thầy giáo phải khơi gợi, khuyến khíchhọc sinh tự khẳng định năng lực và nguyện vọng của bản thân, đồng thời rèn chocác em thói quen và khả năng tự học, phát huy tiềm năng và vận dụng hiệu quảnhững kiến thức, kỹ năng đã tích lũy Từ đây tạo tiền đề để phát triển con ngườitoàn diện trong bối cảnh phát triển của cách mạng công nghiệp 4.0, hướng tới mộtnền giáo dục Việt Nam hiện đại và hội nhập quốc tế
1.2 Khái quát về phương pháp dạy học và phương pháp dạy học Thể dục thể thao
1.2.1 Một số khái niệm có liên quan
Để tìm hiểu khái quát về phương pháp dạy học và phương pháp dạy họcTDTT, trước tiên, chúng tôi tìm hiểu về một số khái niệm có liên quan tới vấn đềnghiên cứu như:
1.2.1.1 Khái niệm “Phương pháp”
Theo từ điển Tiếng Việt của Hoàng Phê [45], Phương pháp có nghĩa là cáchthức, nhận thức, nghiên cứu hiện tượng của tự nhiên và đời sống xã hội (phươngpháp biện chứng, phương pháp thực nghiệm) hoặc là hệ thống các cách sử
Trang 22dụng để tiến hành một hoạt động nào đó (Phương pháp học tập, làm việc cóphương pháp) Theo vấn đề nghiên cứu của luận án, chúng tôi tiếp cận ý nghĩa thứ
2, phương pháp là hệ thống các cách sử dụng để tiến hành một hoạt động nào đó
Các tác giả Lecne I.Ia (1984) [37], Phan Trọng Ngọ (2005) [41] và PhạmViết Vượng (2014) [84] đã tiếp cận khái niệm “phương pháp” theo ngôn ngữ gốcbắt nguồn từ tiếng Hy Lạp: "Metodos" có nghĩa là con đường, cách thức hoạt độngnhằm đạt được mục đích nhất định Khái niệm này gần tương đương với khái niệmtiếp cận trong Từ điển Tiếng Việt của tác giả Hoàng Phê và cộng sự
Cũng tiếp cận từ góc độ tương tự, Nguyễn Bá Kim (2009) sử dụng kháiniệm: “Phương pháp là con đường, cách thức để đạt mục đích nhất định” [36] Haytác giả I.Ia Lecner (1997) đã sử dụng khái niệm: “Phương pháp là xây dựng hoạtđộng và các hình thức của nó, với một trình tự nhất định với những phương tiệntương ứng để đạt mục đích dự kiến” [38]
Như vậy, tiếp cận với những nghĩa rộng, hẹp, nông sâu khác nhau, trongthực tế ta còn hiểu phương pháp là hệ thống những quy tắc, nguyên tắc, quy phạmdùng để chỉ đạo kỹ thuật; là tổ hợp các bước đi, là quy trình mà trí tuệ phải đi theo
để tìm ra và chứng minh chân lý, phương pháp còn được hiểu theo nghĩa kế hoạchđược tổ chức hợp lý trong quản lý Tuy nhiên, dưới góc độ nghiên cứu luận án,chúng tôi thống nhất sử dụng khái niệm: “Phương pháp là hệ thống các cách sửdụng để tiến hành một hoạt động nào đó”
1.2.1.2 Khái niệm “Phương pháp dạy học”
Có rất nhiều tác giả đã tiếp cận về phương pháp dạy học dưới nhiều góc độkhác nhau Có thể tham khảo các quan điểm của một số tác giả sau:
Theo quan điểm của Lecne I Ia (1997), PPDH là một hệ thống hành động
có mục đích của giáo viên nhằm tổ chức các hoạt động nhận thức và thực hành củahọc sinh, đảm bảo học sinh lĩnh hội nội dung học vấn [38] Ở quan điểm này, LecneI.Ia đã tuyệt đối hóa vai trò của người thầy trong dạy học, người thầy đóng vai tròchủ đạo và đảm bảo lượng kiến thức học trò lĩnh hội, như vậy, người học hoàn toànthụ động
Cũng tiếp cận dưới góc độ của Lecne I Ia., nhóm tác giả Trần Thị TuyếtOanh, Phạm Khắc Chương, Phạm Tuyết Vượng, Bùi Minh Hiền, Nguyễn NgọcBảo, Bùi Văn Quân, Phan Hồng Vinh, Từ Đức Văn (2011) cho rằng: PPDH là cách
Trang 23thức hoạt động phối hợp thống nhất của giáo viên và học sinh trong quá trình dạyhọc được tiến hành dưới vai trò chủ đạo của giáo viên nhằm thực hiện tối ưu mụctiêu và các nhiệm vụ dạy học [44] Hay Đặng Vũ Hoạt và Hà Thị Đức (2013) sửdụng quan điểm: PPDH ở đại học là tổng hợp các cách thức hoạt động của giáoviên và sinh viên nhằm thực hiện tốt các nhiệm vụ dạy học ở đại học góp phần đàotạo đội ngũ cán bộ khoa học, kĩ thuật, cán bộ quản lí, nghiệp vụ có trình độ đại học[26] Có thể nói, đây là cách tiếp cận phản ánh quan niệm cũ về vai trò của ngườigiáo viên trong quá trình dạy học Theo quan niệm này thì giáo viên là nhân vậttrung tâm, giữ vai trò chủ đạo, hoạt động tích cực, còn học sinh thì thụ động thựchiện những điều thầy dạy Quan niệm đó cũng dẫn tới coi các PPDH đều là phươngpháp của thầy.
Tiếp cận ở một góc độ khác, tác giả Nguyễn Cảnh Toàn, Lê Khánh Bằng(2009) [66] cho rằng: PPDH là tổng hợp các cách thức làm việc, phối hợp thốngnhất của thầy và trò (trong đó thầy đóng vai trò chủ đạo, trò đóng vai trò tích cực-chủ động) nhằm thực hiện các nhiệm vụ dạy học Ở đây, dễ dàng nhận thấy, tác giảNguyễn Cảnh Toàn và Lê Khánh Bằng đã tiếp cận dưới cả góc độ người thầy đóngvai trò chủ đạo, nhưng người trò không tiếp thu thụ động mà đóng vai trò tích cực-chủ động trong quá trình tiếp thu kiến thức Cũng theo góc độ này, tác giả TrịnhTrung Hiếu (1999) sử dụng khái niệm: Phương pháp giảng dạy là những hình thức,những biện pháp được đặt ra trong quá trình giảng dạy để hoàn thành tốt các nhiệm
vụ đề ra [21], tác giả Nguyễn Ngọc Quang (1990) [47] cho rằng: "PPDH là cáchthức làm việc của thầy và trò trong sự phối hợp thống nhất dưới sự chỉ đạo củathầy, nhằm làm cho trò tự giác, tự lực đạt tới mục đích dạy học" Như vậy, khác sovới các quan điểm cũ đã trình bày, các tác giả đã tiếp cận theo một khái niệm mới,PPDH là một sự kết hợp ngang hàng của hai hoạt động dạy và học Nhiệm vụtruyền tri thức của thầy cũng quan trọng như nhiệm vụ lĩnh hội tri thức của trò
Có một quan điểm xuất hiện hiện sau khi lý thuyết về sự lĩnh hội tri thức rađời Theo quan điểm này thì dạy học chính là quá trình tổ chức cho sinh viên lĩnhhội tri thức Vai trò của sinh viên trong quá trình dạy học là vai trò chủ động Nóikhác đi thì phương pháp học tập, xuất phát từ các qui luật của sự lĩnh hội tri thứcquyết định hoạt động của giáo viên, phương pháp dạy của giáo viên Tiếp cận từquan điểm này, có thể tham khảo một số tác giả: Theo tác giả Bùi Hiển, Vũ Văn
Trang 24Tảo, Nguyễn Văn Giao, Nguyễn Hữu Quỳnh (2013) sử dụng khái niệm: PPDH làcách thầy tiến hành việc dạy nội dung đi đôi với việc dạy cách học cho trò trau dồiphương pháp tự học, để nắm vững nội dung dạy học đồng thời để rèn luyện cáchhọc suốt đời [22]; Tác giả Phạm Viết Vượng (2014) coi: PPDH là tổng hợp cáccách thức hoạt động phối hợp, tương tác giữa giáo viên và học sinh, nhằm giúp họcsinh chiếm lĩnh hệ thống kiến thức khoa học, hình thành hệ thống kĩ năng kĩ xảo,thực hành sáng tạo và thái độ chuẩn mực theo mục tiêu của quá trình dạy học [84];Tác giả Lê Đức Ngọc (1996) cho rằng: PPDH là một “khoa học và cũng là mộtnghệ thuật” Tính khoa học của PPDH đại học đòi hỏi phải hiểu rõ bản chất của quátrình đào tạo đại học Tính nghệ thuật của việc dạy học đại học thể hiện ở năng lựctruyền đạt của giáo viên sao cho khơi dậy được tiềm năng tiếp thu, phát triển vàsáng tạo của người học để nhận thức, để cảm nhận và để có kỹ năng cao [42]…
Nói chung, khi định nghĩa về PPDH, tuy các tác giả đề cập tới nhiều mặtcủa quá trình dạy học, nhưng mặt hoạt động tương tác giữa thầy và trò được nhiềutác giả quan tâm và đi sâu nghiên cứu nhất
Về tính chất quá trình dạy học này có hai mặt: Dạy của thầy và học của trò.Hai mặt, hoạt động này có mối quan hệ biện chứng Do đó, PPDH không chỉ hoạtđộng của giáo viên hoặc chỉ của sinh viên Mà phải là tổng hợp các cách thức làmviệc chung cả giáo viên và sinh viên, trong đó giáo viên đóng vai trò chủ đạo, sinhviên đóng vai trò tích cực, chủ động
Tiếp cận từ góc độ này, luận án sử dụng khái niệm: “Phương pháp dạy học
là cách thức hoạt động phối hợp, tương tác giữa người dạy và người học, giúpngười học chủ động, tự giác, tích cực chiếm lĩnh hệ thống kiến thức khoa học,nhằm mục đích thực hiện tốt các nhiệm vụ dạy học”
1.2.1.3 Khái niệm “Phương pháp dạy học Thể dục thể thao”
Tương tự như các phương pháp dạy học, phương pháp dạy học Thể dục thểthao cũng đã được một số tác giả quan tâm nghiên cứu như:
Tác giả Đồng Văn Triệu (2006) trong luận án tiến sĩ của mình đã sử dụngkhái niệm: PPDH môn Lí luận và phương pháp TDTT là hệ thống những biệnpháp, cách thức dạy và học nhằm thực hiện nhiệm vụ dạy học và mục tiêu đào tạomôn học Trong đó, phương pháp học là chủ động tích cực, phương pháp giảng dạy
là tổ chức hướng dẫn [79]
Trang 25Tác giả Lecne.I.Ia (1984) khi nghiên cứu về cơ sở của phương pháp dạy học
đã cho rằng: “Phương pháp giảng dạy TDTT là phương thức vận dụng tập luyện cơthể trong giáo dục TDTT” [37]
Tác giả Khúc Miên Nghị, Lý Tường (2000) khi nghiên cứu về giáo dục thểthao đã cho rằng: “PPDH TDTT là các phương thức công tác mà thầy và trò sửdụng để hoàn thành nhiệm vụ dạy và học TDTT để thực hiện mục đích dạy họcTDTT” [86]
Các tác giả Exipov (1977), Kharlamop (1979) trong các nghiên cứu củamình đã sử dụng quan điểm: “PPDH TDTT là những phương pháp mà thầy và tròdựa vào đó để đạt được mục đích dự định” [15], [35]
Trong luận án Tiến sĩ của mình, tác giả Lê Vương Anh (2018) đã tiếp cậnquan điểm: PPDH TDTT đều giải quyết các nhiệm vụ dạy học, được thể hiện mốiquan hệ chặt chẽ giữa giáo viên và sinh viên thông qua các phương tiện dạy học đểđạt được mục đích dạy học [1]
Như vậy, có thể thấy các quan điểm về PPDH TDTT được các nhà khoa học,các nhà nghiên cứu lý luận dạy học tiếp cận từ nhiều góc độ khác nhau Trongphạm vi nghiên cứu của luận án, chúng tôi sử dụng quan điểm: PPDH TDTT làcách thức giải quyết các nhiệm vụ dạy học TDTT thể hiện mối quan hệ chặt chẽgiữa giáo viên và sinh viên thông qua các phương tiện dạy học để trang bị kỹ năng,
kỹ xảo vận động, phát triển thể chất và tạo thói quen vận động suốt đời cho ngườihọc
1.2.2 Đặc điểm cơ bản của phương pháp dạy học đại học và phương pháp dạy học Thể dục thể thao
1.2.2.1 Đặc điểm cơ bản của phương pháp dạy học đại học
Căn cứ vào mục đích, nhiệm vụ, đặc điểm của nhà trường hiện nay, căn cứvào bản chất của quá trình dạy học, có thể thấy đặc điểm cơ bản của phương phápdạy học đại học gồm:
- Phương pháp dạy học đại học gắn liền với ngành nghề đào tạo ở trường đại học Đặc điểm này thể hiện tính mục đích đào tạo của nhà trường đại học Nó
đòi hỏi giảng viên khi tìm chọn các phương pháp dạy học Các bộ môn khoa học cơbản, cơ sở chuyên ngành và chuyên ngành đều phải hướng vào mục tiêu đào tạo
Trang 26và kịp thời đổi mới nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức dạy học nhằm gópphần nâng cao chất lượng và hiệu quả đào tạo ở đại học [32], [39]
- Phương pháp dạy học đại học ngày càng tiếp cận với phương pháp nghiên cứu khoa học Đặc điểm này phản ánh yêu cầu cao về mục đích, nội dung, phương
pháp dạy học ở đại học Nó đòi hỏi giảng viên trong quá trình dạy học phải chú ýtrình bày các tư tưởng, quan điểm khác nhau, các học thuyết khác nhau, các giảipháp khác nhau về một vấn đề nào đó; đặc biệt phải quan tâm đến việc bồi dưỡngphương pháp nghiên cứu khoa học cho sinh viên [53], [55]
- Phương pháp dạy học đại học có tác dụng phát huy cao độ tính tự giác, tích cực, độc lập và sáng tạo của sinh viên Đặc điểm này, một mặt phản ánh yêu
cầu của mục đích, nội dung dạy học ở đại học, mặt khác phản ánh đặc điểm của đối
tượng sinh viên, lứa tuổi đang trưởng thành, đang “phát triển về trí tuệ” Đòi hỏi
giảng viên phải tôn trọng ý kiến của sinh viên trong quá trình dạy học đại học; tổchức, hướng dẫn sinh viên tích cực tham gia hoạt động học tập, tự học và nghiêncứu khoa học Đặc biệt, trong giảng dạy, giảng viên dùng phương pháp giúp sinh
viên sáng tạo “cái mới” trong khoa học [64]
- Phương pháp dạy học đại học phong phú, đa dạng, nó thay đổi tùy theo trường đại học, đặc điểm, điều kiện của bộ môn, phương tiện dạy học, đặc điểm nhân cách của giảng viên và sinh viên Đặc điểm này phản ánh tính chất phong
phú, đa dạng, phức tạp của hoạt động dạy học ở đại học, đòi hỏi giảng viên tronggiảng dạy phải vận dụng các phương pháp dạy học một cách linh hoạt, sáng tạo saocho đảm bảo các yếu tố nói trên, đặc biệt là phù hợp với đặc điểm bộ môn, đặcđiểm của sinh viên và trình độ của chính bản thân mình [65]
Trang 27- Phương pháp dạy học đại học ngày càng gắn liền với các thiết bị và các phương tiện dạy học hiện đại.
Dạy học môn học GDTC trong các trường đại học nói chung và trong Họcviện ANND nói riêng cũng có đầy đủ các đặc điểm về phương pháp dạy học đạihọc đã kể trên
1.2.2.2 Đặc điểm phương pháp dạy học Thể dục thể thao
Dạy học TDTT đã hình thành và phát triển từ thế kỷ 19 cho đến nay trải quahàng trăm năm cũng đã hình thành nên một số khái niệm tuy có khác nhau về cáchtrình bày song đều có chung bản chất là dạy học vận động
Giáo dục thể chất và văn hóa thể chất đã hình thành khá sớm cùng lịch sửloài người Do vậy loài người đã sớm hình thành nên các phương pháp giáo dục thểchất Song phương pháp dạy học môn GDTC thực sự mới được phát triển từ khinền giáo dục và đào tạo được phát triển từ cuối thế kỷ 19 đến nay Trải qua hàngtrăm năm phát triển cộng với quá trình đi sâu nghiên cứu đổi mới tìm tòi, các họcgiả giáo dục học và lý luận dạy học TDTT đã sớm hình thành nên 1 loạt cácphương pháp dạy học truyền thống đối với môn GDTC như:
-Phương pháp giảng giải
-Phương pháp thị phạm (còn gọi là trực quan trực tiếp): làm mẫu động tác
-Phương pháp trực quan gián tiếp mô hình, tranh vẽ
-Phương pháp tập luyện lặp lại
-Phương pháp tập luyện dòng chảy
-Phương pháp trò chơi
-Phương pháp thi đấu
Đến cuối thế kỷ 20 cùng với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học và côngnghệ Các học giả nghiên cứu về phương pháp dạy học TDTT đã sáng tạo thêm cácphương pháp khác nhau như:
-Phương pháp tập luyện vòng tròn
-Phương pháp dạy học tích cực
-Phương pháp dạy học ứng dụng công nghệ thông tin
Do mục tiêu của môn GDTC là ngoài việc dạy kỹ thuật thể thao còn phải tậpluyện nâng cao các tố chất thể lực cho người học Bởi vậy trong dạy học môn
Trang 28Trong giảng dạy kỹ thuật TDTT còn sử dụng một số phương pháp như:
-Phương pháp tập luyện nguyên vẹn
-Phương pháp phân chia hợp nhất
1.2.3.1 Cách phân loại phương pháp dạy học đại học
Việc phân loại các PPDH là một số vấn đề hết sức phức tạp Hiện nay ở nước
ta cũng như ở nước ngoài đã và đang tồn tại nhiều cách phân loại khác nhau, do đó
có nhiều hệ thống phân loại khác nhau, sau đây, Tác giả luận án đưa ra các cáchphân loại PPDH được các nhà khoa học quan tâm nhiều nhất
Theo I Ia Lecne (1997) [38], dựa trên mức độ sáng tạo trong nhận thức củahọc sinh chia PPDH thành các nhóm: nhóm phương pháp giải thích - minh họa,nhóm phương pháp tái hiện, phương pháp trình bày nêu vấn đề, tìm hiểu từng phần,nghiên cứu
Hilbert Meyer (2014) [20,Tr.99 ], tác giả đã mô tả cấu trúc PPDH theo mặtbên trong và mặt bên ngoài Mặt bên ngoài của PPDH: Là những hình thức bênngoài hoạt động của giáo viên và người học trong dạy học, có thể nhận biết ngaykhi quan sát giờ học Mặt bên trong của PPDH: Là những thành phần dễ dàng nhậnbiết ngay, thông qua ngay, qua quan sát giờ dạy cần có sự quan sát kĩ và phân tích
để nhận biết chúng
Trong công trình nghiên cứu của mình về phương pháp dạy và học đại học, tácgiả Nguyễn Cảnh Toàn và Lê Khánh Bằng (2009) [66] đã phân loại PPDH đại họcthành 5 nhóm: Các phương pháp kích thích sinh viên tự giác học tập; Các
Trang 29phương pháp trình bày và nắm vững thông tin mới Ở đây, các phương pháp thôngbáo (giảng giải, minh họa), nêu vấn đề, nghiên cứu dạy học chương trình hóa vàcác phương pháp cụ thể như diễn giảng, đọc sách, tự học ; Các phương pháp rènluyện kĩ năng, kĩ xảo (luyện tập); Các phương pháp củng cố và hệ thống hóa trithức, kĩ năng, kĩ xảo và các phương pháp kiểm tra - đánh giá uốn nắn tri thức, kĩnăng, kĩ xảo, tổ chức thi sát hạch, bảo vệ khóa luận, luận văn.
Tiếp cận từ các quan điểm khác, cũng có những tác giả phân loại PPDH thành
2 nhóm: Phương pháp dạy học truyền thống: Là những phương pháp đã có từ lâu,hiện nay vẫn được sử dụng như phương pháp thuyết trình, phương pháp đàm thoạivấn đáp, phương pháp trực quan Phương pháp dạy học không truyền thống: Lànhững PPDH theo định hướng hoạt động hóa người học, xuất phát từ những yêucầu và bản chất của quá trình nhận thức như: phương pháp phát hiện và giải quyếtvấn đề, phương pháp nghiên cứu tình huống, phương pháp hợp tác theo nhóm Một cách phân loại thường được sử dụng rộng rãi trong dạy học đại học ở ViệtNam hiện nay là phân thành 4 nhóm: Nhóm PPDH sử dụng ngôn ngữ, nhóm PPDHtrực quan, nhóm PPDH thực hành và nhóm PPDH kiểm tra - đánh giá kết quả họctập Chúng tôi tiếp cận cách phân loại này trong quá trình nghiên cứu tiếp theo củaluận án
1.2.3.2 Cách phân loại phương pháp dạy học môn Giáo dục thể chất
Về cách phân loại và việc xác định các đặc điểm của các nhóm phương phápdạy học môn GDTC của các học giả trong và ngoài nước cho thấy Hầu hết các họcgiả về lý luận và phương pháp giáo dục thể chất trong và ngoài nước như Novicop
và Matveep (1979) (Nga), Hàn Quế Phong (2003) (Trung Quốc), Nhiếp Lâm Hổ(2003) (Trung Quốc), Nguyễn Toán, Phạm Danh Tốn (2006) (Việt Nam) đều đemcác phương pháp dạy học môn GDTC phân thành các nhóm phương pháp sau:
-Nhóm phương pháp dùng lời nói chữ viết
-Nhóm phương pháp trực quan, thị phạm, hình ảnh mô hình …
-Nhóm phương pháp tập luyện
-Nhóm phương pháp trò chơi và thi đấu
Ngoài ra một số học giả nước ngoài như: Babanxki, Exipov (Nga), HànQuế Phong, Nhiếp Lâm Hổ (Trung Quốc) còn đưa vào hệ phương pháp dạy họcmôn GDTC thêm 1 nhóm phương pháp mới đó là nhóm phương pháp dạy học phát
Trang 30huy tính tích cực học tập của học sinh như dạy học nêu vấn đề, xinema hoặc ứngdụng công nghệ thông tin trong dạy học TDTT Các nhà khoa học trong và ngoàinước đều có quan điểm chung về việc xác định các đặc điểm chung của các nhómphương pháp:
Đặc điểm chung của các nhóm phương pháp dạy học môn GDTC là phảituân thủ 5 nguyên tắc về phương pháp giáo dục thể chất là:
-Nguyên tắc tự giác tích cực
-Nguyên tắc trực quan
-Nguyên tắc thích hợp và cá biệt hóa
-Nguyên tắc hệ thống
-Nguyên tắc tăng dần yêu cầu
Đối với nhóm phương pháp dạy học dùng lời nói chữ viết có đặc điểm là:lợi dụng hệ thống tín hiệu 2 là ngôn ngữ chữ viết để xây dựng biểu tượng vận độngmột cách nhanh chóng và chính xác Đồng thời thông qua ngôn ngữ có thể kịp thờiuốn nắn sai lệch kỹ thuật, kích thích động viên được sự chú ý và nâng cao đượctính tích cực học tập
Đối với nhóm phương pháp trực quan có đặc điểm là tận dụng các cơ quannghe nhìn và các cơ quan cảm thụ khác phối hợp chặt chẽ với nhóm phương phápdùng lời nói chữ viết thúc đẩy nhanh quá trình hình thành kỹ năng kỹ xảo vận độngcho người tập
Nhóm phương pháp tập luyện là nhóm phương pháp quan trọng hàng đầutrong việc hình thành kỹ năng kỹ xảo vận động, đặc điểm cơ bản của nhóm phươngpháp này là thông qua các hình thức và phương pháp tập luyện khác nhau giúpngười học nhanh chóng hình thành biểu tượng vận động và tiến tới việc hình thành
kỹ năng kỹ xảo vận động
Đặc điểm của nhóm phương pháp trò chơi và thi đấu là giúp người học cóthể vận dụng kỹ thuật học được vào việc nâng cao kỹ thuật thể lực và thành tíchhọc tập môn GDTC Đây cũng là phương pháp tạo ra hứng thú, tích cực sáng tạocho người học
Đặc điểm nổi bật của phương pháp dạy học phát huy tính tích cực nhận thứccủa người học (gọi tắt là dạy học tích cực) là 1 phương pháp dạy học chú trọng tớiquá trình tâm lý của người học đặc biệt là chú ý tới việc hình thành và phát triển
Trang 31động cơ hứng thú học tập, tập luyện, nghiên cứu, tìm cách hoàn thành tốt nhiệm vụhọc tập Nhóm phương pháp này coi trọng gợi mở tính độc lập sáng tạo của ngườihọc Đặc biệt trong thời kỳ bùng nổ thông tin thì việc ứng dụng công nghệ thông tinvào dạy học là một phương pháp quan trọng của nhóm phương pháp dạy học tíchcực.
Với đặc điểm dạy học môn học GDTC tại Học viện ANND, luận án sử dụngcách phân chia nhóm phương pháp sau:
- Nhóm phương pháp dạy học chung: Bao gồm phương pháp sử dụng lời nói
và phương pháp trực quan Đây là nhóm phương pháp sử dụng trong toàn bộ quátrình dạy học GDTC, cả lý thuyết và thực hành
- Nhóm phương pháp dạy học lý thuyết: Sử dụng trong quá trình dạy học lý thuyết trong chương trình môn học GDTC
- Nhóm phương pháp dạy học động tác: Sử dụng trong quá trình trang bị kỹ năng vận động, kỹ thuật các môn thể thao
- Nhóm phương pháp phát triển thể lực: Sử dụng trong quá trình phát triển thể lực cho sinh viên
1.2.4 Các yếu tố cơ bản chi phối hiệu quả các phương pháp dạy học môn Giáo dục thể chất
Theo các học giả trong và ngoài nước như Novicop và Matveep (1979)(Nga), Hàn Quế Phong (2003) (Trung Quốc), Nhiếp Lâm Hổ (2003) (Trung Quốc),Nguyễn Toán, Phạm Danh Tốn (2006) (Việt Nam) thì ảnh hưởng đến hiệu quả sửdụng các nhóm phương pháp trên gồm các yếu tố sau:
- Yếu tố mục tiêu yêu cầu môn GDTC, sự tương thích của phương pháp dạyhọc đối với mục tiêu yêu cầu và nhiệm vụ của môn học GDTC Các nhóm phươngpháp đều phải hướng tới thực hiện 2 mục tiêu cơ bản của GDTC là hình thành kỹnăng kỹ xảo và phát triển thể chất cho người học
- Yếu tố trình độ năng lực của đối tượng học tập môn GDTC Đối tượng củaGDTC ở bậc đại học là những sinh viên có thể chất và năng khiếu nắm bắt kỹ thuậtbình thường bởi vậy việc lựa chọn phương pháp, nội dung và liều lượng vận độngphải phù hợp
- Yếu tố điều kiện sân bãi dụng cụ, thời tiết … cũng là những yếu tố chi phối hiệu quả phương pháp dạy học môn GDTC
Trang 321.3 Phương pháp dạy học tích cực và xu hướng ứng dụng nhóm phương pháp dạy học tích cực
1.3.1 Khái quát về phương pháp dạy học tích cực
“Phương pháp dạy học tích cực là một thuật ngữ rút gọn dùng để chỉ những phương pháp dạy học và giáo dục theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của người học” Trong đó bao gồm những phương pháp dạy học quen
thuộc như: Dùng lời nói, trực quan, minh họa, vấn đáp, thảo luận nhóm, dạy họcnêu và giải quyết vấn đề, trò chơi, thực hành, thí nghiệm và một số phương phápmới đang áp dụng ở một số nước trên thế giới như: Học theo góc, học theo hợpđồng, học theo dự án, dạy học kiến tạo…
Phương pháp dạy học tích cực xuất hiện ở các nước phương Tây (ở Mỹ, ởPháp ) từ đầu thế kỷ XX và được phát triển mạnh từ nửa sau của thế kỷ này, nó cóảnh hưởng sâu rộng tới các nước trên thế giới, trong đó có Việt Nam Đó là cáchthức dạy học theo lối phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh (nghĩa là tậptrung vào phát huy tính tích cực của người học chứ không phải là tập trung vàongười dạy) Vì thế thường gọi phương pháp này là phương pháp dạy học tích cực; ở
đó, giáo viên là người giữ vai trò hướng dẫn, gợi ý, tổ chức, giúp cho người học tựtìm kiếm, khám phá những tri thức mới theo kiểu tranh luận, hội thảo theo nhóm.Người thầy có vai trò là trọng tài, cố vấn điều khiển tiến trình giờ dạy phương phápdạy học này rất đáng chú ý đến đối tượng học sinh, coi trọng việc nâng cao quyềnnăng cho người học Giáo viên là người nêu tình huống, kích thích hứng thú, suynghĩ và phân xử các ý kiến đối lập của học sinh; từ đó hệ thống hoá các vấn đề,tổng kết bài giảng, khắc sâu những tri thức cần nắm vững Giáo án dạy học theophương pháp tích cực được thiết kế kiểu chiều ngang theo hai hướng song hànhgiữa hoạt động dạy của thầy và học của trò
Ưu điểm của phương pháp dạy học tích cực rất chú trọng kỹ năng thực hành,vận dụng giải quyết các vấn đề thực tiễn, coi trọng rèn luyện và tự học
Đặc điểm của dạy học theo phương pháp này là giảm bớt thuyết trình, diễngiải; tăng cường dẫn dắt, điều khiển, tổ chức, xử lý tình huống song nếu không tậptrung cao, học sinh sẽ không hệ thống và logic Yêu cầu của phương pháp dạy họctích cực cần có các phương tiện dạy học, học sinh chuẩn bị bài kỹ ở nhà trước khiđến lớp và phải mạnh dạn, tự tin bộc lộ ý kiến, quan điểm Giáo viên phải chuẩn bị
Trang 33kỹ bài giảng, thiết kế giờ dạy, lường trước các tình huống để chủ động tổ chức giờ dạy có sự phối hợp nhịp nhàng giữa hoạt động của thầy và hoạt động của trò.
1.3.2 Những dấu hiệu đặc trưng của các phương pháp dạy học tích cực
Phương pháp dạy học tích cực có những dấu hiệu đặc trưng sau:
- Dạy học thông qua tổ chức các hoạt động học tập cho học sinh (học sinh trực tiếp quan sát, thảo luận, làm thí nghiệm, giải quyết vấn đề, vận dụng kiến thức vào cuộc sống…)
- Chú trọng rèn luyện phương pháp tự học
- Tăng cường học tập cá thể phối hợp với học tập hợp tác, tạo môi trường hợp tác tích cực giữa thầy-trò, trò-trò
- Kết hợp đánh giá của giáo viên với tự đánh giá của học sinh
- Tăng cường vận dụng kiến thức đã học vào giải quyết những vấn đề mà thực tiễn đòi hỏi
1.3.3 Xu hướng ứng dụng phương pháp dạy học tích cực trong và ngoài nước
Lý do sử dụng phương pháp dạy học tích cực bởi:
- Vì mục tiêu, yêu cầu đào tạo có sự thay đổi, cần có những con người năng động, sáng tạo, có phương pháp học tập trong thời đại mới
- Định hướng đổi mới PPDH đã được xác định trong các Nghị quyết về giáo dục và Luật giáo dục
- Vì các phương pháp dạy học truyền thống bộc lộ nhiều hạn chế…
- Tình trạng chung vẫn là đọc chép; thày nói trò nghe, truyền giảng thụ động,
áp đặt một chiều Đôi khi giảng giải xen kẽ với vấn đáp, giải thích, minh hoạ và kếthợp với các đồ dùng trực quan
- Giáo viên ít tìm tòi sáng tạo trong việc cải tiến, nâng cao chất lượng bàigiảng
- Có tâm lý ngại thay đổi trước những cái mới (trì trệ), quen với lối dạy truyền thống
- Ngại tổ chức ngoại khoá hoặc các hình thức tổ chức dạy học khác (vì thời gian, kinh phí, công tác tổ chức khó khăn )
- Giáo viên thiếu các tài liệu, phương tiện cần thiết để đổi mới phương pháp
Trang 34- Chưa hiểu rõ yêu cầu và cách thức đổi mới phương pháp dạy học phù hợpvới đặc trưng từng bộ môn; còn lúng túng khi sử dụng các phương pháp dạy họctích cực
- Sự quản lí chuyên môn của các cấp còn khuôn cứng, máy móc, khó chấp nhận những cách dạy khác với qui định cũ hoặc ý của riêng mình
Do tác động của việc đổi mới thi, kiểm tra, đánh giá, đặc biệt là cách ra đề thi tuyển sinh vào đại học những năm gần đây
Do các phương pháp dạy học tích cực mang lại nhiều cơ hội, ưu thế so với các phương pháp dạy học truyền thống
Do vậy, xu thế ứng dụng phương pháp dạy học tích cực được áp dụng sâurộng ở các nước có nền giáo dục tiên tiến và ở Việt Nam chúng ta hiện nay đang cổđộng, khuyến khích cho việc ứng dụng phương pháp này vào quá trình giảng dạycác môn học cũng như các hình thức học
1.4 Đặc điểm phương pháp Giáo dục thể chất
GDTC là môn học đặc thù và vì vậy, nó cũng đòi hỏi phải có các PPDH đặcthù phù hợp Khi nghiên cứu về phương pháp GDTC, có thể kể tới một số nhómphương pháp sau:
Việc thực hiện LVĐ và quãng nghỉ cũng được định mức trước
Sử dụng các điều kiện bên ngoài, các dụng cụ tập luyện cũng được địnhtrước
Ý nghĩa của việc định mức là ở chỗ đảm bảo điều kiện tối ưu cho tiếp thu kỹ năng, kỹ xảo vận động mới và phát triển tố chất thể lực
Phương pháp tập định mức chặt chẽ có rất nhiều phương án cụ thể việc sử dụng chúng tuỳ thuộc vào nội dung buổi tập và từng thời kì trong quá trình GDTC
1.4.1.1 Phương pháp tập luyện trong quá trình dạy học động
tác Việc tiếp thu ban đầu các động tác có thể diễn ra theo 2
hướng Phương pháp phân chia hợp nhất:
Trang 35Phương pháp phân chia được sử dụng trong trường hợp đối với động táchoặc tổ hợp những động tác cần học có thể phân chia thành những phần tương đốiđộc lập mà không ảnh hưởng tới cấu trúc động tác VD: Trong giảng dạy kỹ thuậtbơi ếch người ta có thể phân chia thành các giai đoạn kỹ thuật động tác: Tay, chân,phối hợp tay chân
Phương pháp tập luyện nguyên vẹn: Sử dụng khi việc phân chia nhỏ động
tác gây ra những biến đổi lớn tới cấu trúc chung của nó Đối với những động tác có
kỹ thuật phức tạp thì lúc đầu cơ cấu của động tác nguyên vẹn được đơn giản hóanhờ được bỏ bớt các chi tiết riêng lẻ tương đối độc lập Sau đó người ta lại ghép nótrên cơ sở nguyên vẹn động tác Kết hợp với việc sử dụng các bài tập bổ trợ, bài tậpdẫn dắt
1.4.1.2 Các phương pháp tập luyện định mức lượng vận động và quãng nghỉ Các
phương pháp này nhằm hoàn thiện kỹ năng kỹ xảo vận động và phát triển các tố
chất thể lực Căn cứ vào mục đích sử dụng và tuỳ thuộc vào đặc điểmđịnh hướng và biến thiên các thông số bên ngoài của LVĐ mà sử dụng cho phùhợp phương pháp này được chia thành 2 nhóm phương pháp: phương pháp tậpluyện lặp lại ổn định, phương pháp tập luyện lặp lại biến đổi
Phương pháp bài tập lặp lại ổn định là các thông số của LVĐ được ổn định
và tập lặp đi lặp lại bài tập đó
Căn cứ vào quãng nghỉ, phương pháp này được chia làm 2 loại:
Phương pháp ổn định liên tục: Không có quãng nghỉ, nhằm giáo dục tố chất
sức bền, như chạy đồng đều
Phương pháp ổn định ngắt quãng: Giữa các lần lặp lại có quãng nghỉ (có thể
là nghỉ ngắn, đầy đủ hay vượt mức) VD: chạy 5 lần x 60m với 100% sức, quãngnghỉ 3-5phút
Khi cơ thể đã thích nghi với LVĐ cũ rồi thì cần thay đổi với LVĐ mớitương ứng với khả năng chức phận đã tăng của cơ thể Do đó cần chuyển sangphương pháp thứ 2 là:
Phương pháp tập luyện biến đổi theo chế độ LVĐ liên tục và ngắt quãng: tuỳ
từng trường hợp mà thay đổi các thông số vận động (tốc độ, nhịp điệu động tác )thay đổi cách thức thực hiện động tác, thay đổi quãng nghỉ và các điều kiện tácđộng bên ngoài
Trang 36Bản chất của vấn đề thể hiện ở chỗ đặt ra những yêu cầu mới cao hơn đểkích thích sự phát triển các chức năng cơ thể đồng thời mở rộng tính linh hoạt vàhoàn thiện kĩ xảo vận động phương pháp này gồm:
Các phương pháp tập luyện biến đổi liên tục (không có quãng nghỉ): phươngpháp này chủ yếu áp dụng cho các bài tập có chu kì và là phương pháp điển hìnhcủa nhóm phương pháp bài tập biến tốc
Phương pháp tập luyện biến đổi ngắt quãng: đặc điểm tiêu biểu của phươngpháp này là luân phiên các hệ thống giữa LVĐ và nghỉ ngơi Trong đó LVĐ vàquãng nghỉ đều có thể thay đổi
Sự kết hợp 2 nhóm phương pháp trên tạo nên phương pháp tổng hợp với rất nhiều các phương pháp khác nhau (Phương pháp tập luyện tổng hợp):
Phương pháp tập luyện lặp lại tăng tiến: Khối lượng không đổi nhưng
cường độ thay đổi VD: Chạy 3lần x 100m với 80-85-100% sức
Phương pháp tập luyện lặp lại với quãng nghỉ giảm dần: Có đặc điểm LVĐ
ổn định nhưng quãng nghỉ giảm dần Nhờ phương pháp này mà sự biến đổi mạnh
mẽ trong cơ thể khi thực hiện bài tập VD: chạy 4 lần x 400m với quãng nghỉ là: 5-4 phút
7-Phương pháp tập luyện vòng tròn: Quá trình thực hiện các bài tập theo thứ
tự từng nhóm với những bài tập đã được lựa chọn và hợp nhất lại thành bài tập liênhợp Các bài tập được thực hiện theo từng trạm kế tiếp nhau, các trạm được bố trítheo dạng vòng tròn Tại mỗi trạm người tập thực hiện một loạt các động tác hoặcnhững hành động nhất định Số lần lặp lại ở mỗi trạm được xác định theo đặc điểmcủa người tập, thông thường số lần lặp lại được thực hiện 1/3 đến 2/3 số lần lặp lạitối đa
Hình thức tập luyện vòng tròn nhằm giáo dục các tố chất thể lực, khi thựchiện tập luyện theo phương pháp vòng tròn thường sử dụng những bài tập có kĩthuật đơn giản và người tập đã nắm vững các kĩ thuật động tác trước đó Ưu điểmcủa phương pháp vòng tròn là những ưu điểm của tác động chọn lọc được kết hợpvới tác động chung, tác động ổn định được kết hợp với tác động biến đổi Đặc biệt
là hiệu quả của sự chuyển quãng (thay đổi hoạt động) được sử dụng rộng rãi Nhờvậy phát huy được khả năng vận động thể lực và cảm xúc tích cực
Trang 37Phương pháp tập luyện vòng tròn có nhiều dạng khác nhau và các dạng cơ bản của phương pháp tập luyện vòng tròn là:
Tập luyện vòng tròn theo phương pháp tập kéo dài liên tục chủ yếu được sử dụng để phát triển sức bền chung
Tập luyện vòng tròn theo phương pháp giãn cách với quãng nghỉ ngắn được
sử dụng chủ yếu để phát triển sức bền tốc độ và sức mạnh bền
Tập luyện vòng tròn theo phương pháp giãn cách với quãng nghỉ đầy đủ được sử dụng phát triển sức mạnh tốc độ
1.4.2 Phương pháp trò chơi và thi đấu
Mặc dù phương pháp tập luyện có định mức chặt chẽ có nhiều ưu điểm, nhưng phương pháp trò chơi và phương pháp thi đấu không kém phần quan trọng
1.4.2.1 Phương pháp trò chơi
Ý nghĩa phương pháp trò chơi như một hiện tượng xã hội đa diện đã vượtqua ngoài phạm vi GDTC và GD nói chung Xong một trong những chức năng chủyếu nhất của trò chơi là chức năng GD Từ xa xưa, trò chơi đã là một trong nhữngphương tiện và phương pháp cơ bản của GD theo nghĩa rộng của từ đó
Phương pháp trò chơi không nhất thiết phải gắn với một trò chơi cụ thể nào
đó như bóng đá, bóng chuyền hoặc các trò chơi vận động đơn giản Về nguyên tắc,phương pháp trò chơi có thể sử dụng trong bất kì động tác thể lực nào Tất nhiênchúng phải được tổ chức phù hợp với nguyên tắc trò chơi
Phương pháp trò chơi trong GDTC có những đặc điểm sau:
Tổ chức theo chủ đề Hoạt động của những người chơi được tổ chức tương ứng với chủ đề giả định hoặc có tính chất hình ảnh
Phong phú về phương thức đạt mục đích Hầu như bao giờ cũng có nhiều cách để chiến thắng được luật chơi cho phép
Là một hoạt động độc lập sáng tạo, có yêu cầu cao về sự nhanh trí khéo léo của người chơi
Tạo nên sự đua tranh cẳng thẳng giữa các cá nhân hoặc các nhóm người và tạo nên cảm xúc mạnh mẽ
Nhược điểm: Khả năng điều chỉnh LVĐ bị hạn chế và việc chương trình hoá chỉ ở mức tương đối
Trang 38Ý nghĩa tác dụng: Củng cố và hoàn thiện kỹ năng, kỹ xảo vận động, phát triển các tố chất thể lực, giáo dục tính kỉ luật, tính đồng đội
1.4.2.2 Phương pháp thi đấu
Trong GDTC thi đấu được sử dụng cả dưới hình thức tương đối đơn giản và hình thức phát triển phức tạp
Trong trường hợp thứ nhất được sử dụng các dạng như đấu tập, thi thử có sửdụng thi đấu ngay cả những động tác riêng lẻ nhằm kích thích hứng thú và sự tíchcực của người tập Trong trường hợp thứ hai được sử dụng tương đối như một hìnhthức độc lập như thi kiểm tra, các cuộc thi đấu thể thao chính thức
Đặc điểm cơ bản của phương pháp thi đấu là so sánh sức lực trong điều kiệnđua tranh thứ bậc, vị trí để đạt thành tích cao nhất Yếu tố đua tranh trong thi đấu làđiều kiện tiến hành tổ chức cuộc thi sẽ tạo nên cảm xúc tâm lí đặc biệt làm tăngthêm tác dụng của bài tập Sự đua tranh giữa các cá nhân hoặc các tập thể diễn ramột cách gay gắt Vì vậy, nó đòi hỏi phát huy tính tập thể, tính kỉ luật và sự nỗ lực
ý trí cao
Phương pháp thi đấu còn có đặc điểm chuẩn hoá đối tượng thi, quy tắc thi vàphương pháp đánh giá thành tích Nhưng phương pháp thi đấu hạn chế sự điềuchỉnh LVĐ
Ý nghĩa tác dụng: Phương pháp thi đấu được sử dụng và giải quyết nhiềunhiệm vụ khác nhau như phát triển tố chất thể lực, củng cố hoàn thiện kỹ năng, kỹxảo vận động và khả năng thể hiện chúng trong những điều kiện phức tạp
Phương pháp thi đấu còn có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong giáo dục cácphẩm chất ý chí, tinh thần trách nhiệm đồng thời do sự ganh đua trong thi đấu đểhình thành nên những nét tính cách ích kỉ, háo danh, hiếu thắng Vì vậy phải cóphương pháp giáo dục đúng đắn
1.4.3 Các phương pháp sử dụng lời nói và trực quan trong quá trình giáo dục thể chất
1.4.3.1 Phương pháp sử dụng bằng lời nói
Bằng lời nói để truyền thụ kiến thức cho người học, kích thích tư duy và điềukhiển chúng Phương pháp lời nói còn sử dụng để phân tích, đánh giá kết quả vàđiều chỉnh hành vi người học
Trang 39Phương pháp lời nói cũng rất cần thiết trong quá trình nhận thức, tự nhậnthức, tự đánh giá, tự điều chỉnh hành động.
Do có chức năng đa dạng đó mà lời nói được sử dụng trong nhiều phươngpháp khác nhau: Phân tích, giảng giải, chỉ thị, mệnh lệnh
1.4.3.2 Phương pháp trực quan
Quá trình nhận thức của con người bằng trực quan tư duy thực tiễn
Trực quan có hai loại: Trực quan trực tiếp và trực quan gián tiếp Tuỳ theotừng trường hợp cụ thể trong GDTC mà sử dụng trực quan trực tiếp hoặc trực quangián tiếp cho phù hợp
Sự cảm thụ của các giác quan bao gồm: Thị giác, thính giác, khứu giác, vịgiác, xúc giác và giác quan thứ 6
Các phương pháp trực quan chủ yếu gồm:
Các phương pháp biểu diễn, thị phạm động tác
Thông qua tài liệu, sơ đồ, hình ảnh, hình vẽ
Mô hình, xa bàn
Biểu diễn bằng cảm giác lựa chọn
Phương pháp cảm giác sơ bộ có chủ đích về động tác (cảm giác chuyênmôn)
Phương pháp định hướng (sử dụng âm thanh)
Phương pháp dẫn dắt và chương trình hoá tức thời gian cảm giác
Phương pháp thông tin cấp tốc các thông số vận động
Cụ thể về các phươnng pháp GDTC được trình bày tại Sơ đồ 1.1
Trang 40SƠ ĐỒ CÁC PHƯƠNG PHÁP GIÁO DỤC THỂ CHẤT
Lời nói và trực quan
Phương pháp tập luyện lặp lại ổn định
PP tập luyện lặp lại ổn định liên tục
PP tập luyện lặp
lại ổn định ngắt
quãng
Sơ đồ 1.1 Sơ đồ các phương pháp giáo dục thể chất
1.4.4 Đặc điểm, nội dung, phương pháp giáo dục thể chất mang tính nghề nghiệp trong các trường Đại học và Học viện An ninh nhân dân