1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Văn hóa ẩm thực hàn quốc thông qua tục ngữ

163 1,1K 5

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Văn hóa ẩm thực hàn quốc thông qua tục ngữ
Tác giả Nguyễn Thị Nga
Người hướng dẫn TS. Nguyễn Thị Hiền
Trường học Đại Học Khoa Học Xã Hội Và Nhân Văn
Chuyên ngành Châu Á học
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2019
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 163
Dung lượng 5,33 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Với mục đích tìm hiểu những nét đặc trưng nhất về văn hóa ẩm thực Hàn Quốc thông qua tục ngữ, nghiên cứu sâu hơn về văn hóa ẩm thực Hàn Quốc, giúp người học không chỉ giỏi về tiếng Hàn m

Trang 2

ực hiện dưới sự hướng dẫn trực tiếp của TS Nguyễn Thị Hiền Các tài liệu tham khảo dùng trong luận văn được trích dẫn đầy đủ tên tác giả, tên công trình, thời gian, địa điểm công bố./

Học viên cao học Châu Á học khóa 2015 – 2017

Nguyễn Thị Nga

Trang 3

Em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất đến Cô Nguyễn Thị Hiền, đã hết lòng giúp

đỡ, hướng dẫn và chỉ dạy cho em trong suốt quá trình thực hiện luận văn này

Em cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành đến Quý Thầy Cô của Khoa Đông

Phương, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Thành phố Hồ Chí Minh đã tận tình giảng dạy và truyền đạt những kiến thức quý báu trong suốt thời gian học tập, cũng như thời gian nghiên cứu để hoàn thành luận văn Em xin cảm ơn các anh, chị,

em lớp Châu Á học khóa 2015 - 2017 đã luôn động viên và giúp đỡ em trong các năm

học vừa qua

Cảm ơn gia đình, người thân cùng bạn bè đã luôn luôn ủng hộ và động viên em, để

em có thể hoàn thành chương trình cao học này

Một lần nữa, em xin chân thành cảm ơn quý Thầy, Cô./

Học viên cao học Châu Á học khóa 2015 – 2017

Nguyễn Thị Nga

Trang 4

M ỤC LỤC

M Ở ĐẦU 5

1 Lý do ch ọn đề tài 5

2 M ục đích nghiên cứu vấn đề 6

3 L ịch sử nghiên cứu vấn đề 7

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 11

5 Phương pháp nghiên cứu và nguồn tư liệu 11

6 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn 12

7 B ố cục luận văn 13

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 14

1.1 Cơ sở lý luận 14

1.1.1 Khái niệm văn hóa 14

1.1.2 Khái niệm tục ngữ 15

1.1.3 Ẩm thực và văn hóa ẩm thực 17

1.1.3.1 Khái ni ệm ẩm thực 17

1.1.3.2 Văn hóa ẩm thực 17

1.1.4 M ối quan hệ giữa tục ngữ và văn hóa 18

1.2 Cơ sở thực tiễn 19

1.2.1 Vị trí địa lí, điều kiện tự nhiên và ẩm thực Hàn Quốc 20

1.2.2 Điều kiện lịch sử, xã hội và ẩm thực Hàn Quốc 21

1.3 Khái quát v ề tục ngữ Hàn Quốc 24

1.3.1 Đặc trưng về mặt cú pháp, ngữ nghĩa 24

1.3.1.1 Đặc trưng về mặt cú pháp 24

1.3.1.2 Đặc trưng về mặt ngữ nghĩa 26

1.3.2 Chất liệu sử dụng 30

1.3.3 Vai trò của tục ngữ 33

Ti ểu kết Chương 1 35

CHƯƠNG 2: ĐẶC TRƯNG ẨM THỰC HÀN QU ỐC THỂ HIỆN QUA TỤC NG Ữ 36

2.1 Đặc trưng ẩm thực Hàn Quốc theo bữa ăn hàng ngày 37

2.1.1 Cơm – 밥 37

Trang 5

2.1.2 Banchan -반찬 43

2.1.3 Canh -국 44

2.1.4 Cháo -죽 45

2.1.5 Thịt, hải sản고기 – 해산물 46

2.1.6 Rau củ - 채소류 47

2.1.7 Gia vị - 양념 51

2.1.8 Bánh tteok – 떡 53

2.1.9 Rượu – 술 55

2.2 Đặc trưng ẩm thực theo vùng miền, theo mùa và theo dịp đặc biệt 57

2.2.1 Ẩm thực theo vùng miền và theo mùa 57

2.2.1.1 Ẩm thực theo vùng miền 57

2.2.1.2 Ẩm thực theo mùa 67

2.2.2 Ẩm thực lễ tết 74

2.2.3 Ẩm thực theo nghi lễ vòng đời 81

2.2.3.1 Vào ngày sinh nh ật 81

2.2.3.2 Vào ngày k ết hôn 84

2.2.3.3 Vào ngày m ừng thọ 88

2.2.3.4 Vào ngày tang l ễ 89

Ti ểu kết Chương 2 93

CHƯƠNG 3 VĂN HÓA ỨNG XỬ TRONG ẨM THỰC C ỦA NGƯỜI HÀN QU ỐC THỂ HIỆN QUA TỤC NGỮ 94

3.1 Văn hóa ứng xử với môi trường tự nhiên 94

3.1.1 Đề cao giá trị của ẩm thực 94

3.1.2 Đề cao tính khoa học và mỹ học trong ẩm thực 101

3.2 Văn hóa ứng xử trong gia đình và xã hội 109

3.2.1 Lễ nghi, phép tắc ăn uống 109

3.2.2 Ý nghĩa giáo huấn, trào phúng 117

Ti ểu kết Chương 3 132

K ẾT LUẬN 133

TÀI LI ỆU THAM KHẢO 135

PH Ụ LỤC 140

Trang 6

DANH M ỤC CÁC BẢNG

Bảng 1.1 Một số định nghĩa tục ngữ được ghi chép lại trong các từ điển của Hàn

Quốc 15

Bảng 2.1 Số lượng câu tục ngữ về ẩm thực các loại 38

Bảng 2.2 Đặc trưng và món ăn tiêu biểu của ẩm thực các vùng 60

Bảng 3.1 Gia vị cơ bản và thực phẩm trang trí 105

Trang 7

DANH M ỤC CÁC HÌNH ẢNH

Hình 2.1 Ẩm thực thường ngày của người Hàn Quốc 40

Hình 2.2 Hình ảnh làm kimjang của người Hàn Quốc 49

Hình 2.3 Các loại kim chi tiêu biểu 51

Hình 2.4 Rót rượu và nhận rượu 56

Hình 2.5 Bản đồ 8 tỉnh của Joseon 58

Hình 2.6 Món cá 65

Hình 2.7 Cơm trộn bibimbap ở Jeonju 66

Hình 2.8 Bánh tteok tẩm lá ngải cứu (쑥갠떡) 69

Hình 2.9 Cuốn rau xà lách (상추쌈) 72

Hình 2.10 Canh Tteok (떡국) 75

Hình 2.11 Tết Trung thu ở Hàn Quốc 76

Hình 2.12 Bánh Songpyeon- món ăn không thể thiếu vào Tết Trung thu 77

Hình 2.13 Lễ hội Dano ở thành phố Gangneung 79

Hình 2.14 Bánh Suritteok 80

Hình 2.15 Lễ thôi nôi (sinh nhật) ở Hàn Quốc 82

Hình 2.16 Các món ăn trong lễ Pyebaek 85

Hình 2.17 Táo đỏ và hạt dẻ được trang trí trong lễ Pyebaek vào ngày kết hôn 86

Hình 2.18 Các món Ibaji 87

Hình 2.19 Bánh tteok dùng làm quà cho khách đến dự lễ kết hôn với dòng chữ “C ảm ơn vì đã đến chúc mừng” 88

Hình 2.20 Hình thức tổ chức lễ tang của người Hàn Quốc 90

Hình 2.21 Bàn cúng tổ tiên vào ngày tết 91

Hình 3.1 Mâm cúng ngày giỗ ở Việt Nam 101

Hình 3.2 Cơm ngũ cốc (오곡밥) 103

Hình 3.3 Gà hầm sâm (삼계탕) 103

Hình 3.4 Mỳ lạnh (냉면) 103

Hình 3.5 Cơm trộn (비빔밥) 103

Trang 8

M Ở ĐẦU

1 Lý do ch ọn đề tài

Trải qua gần 25 năm thiết lập quan hệ ngoại giao giữa Việt Nam và Hàn Quốc, hai nước đã có nhiều dấu mốc quan trọng trong hợp tác trên tất cả các lĩnh vực về kinh tế, văn hóa, xã hội, giao lưu … Theo cục thống kê Hàn Quốc, năm 2016, Hàn

Quốc có 21,709 cặp vợ chồng đa văn hóa đăng kí kết hôn tại các cơ quan hành chính, tư pháp của Hàn Quốc Trong đó trường hợp chồng là người Hàn Quốc và vợ

là người Việt Nam chiếm tỉ lệ cao nhất Thời điểm năm 2008, tỷ lệ gia đình Hàn –Trung chiếm tỉ lệ cao nhất, đạt 38,6% nhưng đến năm 2015, tỉ lệ gia đình Hàn –

Việt đã vươn lên dẫn đầu với 27,9%.Hiện tại, mối quan hệ hai nước Hàn Quốc và

Việt Nam ngày càng gắn chặt hơn trên nhiều lĩnh vực Một trong những yếu tố quan

trọng, là tiền đề để thúc đẩy mối quan hệ bền vững giữa hai nước là ngôn ngữ và văn hóa

Thời gian qua số lượng người học tiếng Hàn Quốc ngày càng tăng nhiều, ở

một số địa phương tập trung các khu công nghiệp hay các công ty Hàn Quốc có nhu

cầu về người biết tiếng Hàn rất cao như Thành phố Hồ Chí Minh, Đồng Nai, Bình Dương, Bà Rịa - Vũng Tàu…Tuy nhiên nếu chỉ qua ngôn ngữ không thì chưa thể

hiểu hết được văn hóa của Hàn Quốc vì vậy cần phải thông qua tài liệu hay giáo trình để tìm hiểu sâu hơn về văn hóa Hàn Quốc Việc tìm hiểu về văn hóa là một trong những yếu tố cần thiết cho những người học tiếng Hàn, cũng như rất cần thiết trong quá trình sinh sống và làm việc với người Hàn Quốc

Nói đến văn hóa thì có các nét văn hóa đặc trưng là văn hóa ăn, mặc, ở, đi lại Trong đó ẩm thực giữ vai trò tất yếu và ảnh hưởng đến mọi sinh hoạt khác của con người Ở Hàn Quốc cũng có tục ngữ về tầm quan trọng của thức ăn “금강산도 식후경이다” “Có lên núi Geumgang thì cũng phải ăn trước đã”, còn ở Việt Nam thì cũng có câu “Có thực mới vực được đạo” Như vậy rõ ràng ẩm thực không thể

tách khỏi cuộc sống của mỗi con người chúng ta dù ở bất cứ quốc gia nào

Ẩm thực hay nói cách khác là ăn và uống, đây vốn dĩ là chuyện diễn ra một cách thân thuộc hàng ngày, rất gần gũi và cũng rất đời thường Nhưng ở mỗi thời

Trang 9

đại khác nhau thì vấn đề ăn uống lại được nhìn nhận theo cách khác nhau Ngày nay, khi xã hội ngày càng phát triển, nhu cầu của con người ngày một cao hơn thì yêu

cầu về ẩm thực cũng theo đó thay đổi Và vì thế không còn là quan niệm “Ăn no

m ặc ấm” nữa mà dần hướng đến “Ăn ngon mặc đẹp” Ẩm thực đã không còn đơn

thuần là giá trị vật chất, mà xa hơn chính là yếu tố văn hóa tinh thần Tìm hiểu về

ẩm thực của một đất nước chính là cách đơn giản nhất để có thể hiểu thêm về lịch

sử và con người của đất nước ấy

Hiện tại bản thân tác giả cũng là người đang tham gia giảng dạy ngôn ngữ Hàn Quốc tại trường ở địa phương Theo nhìn nhận thực tiễn từ quá trình giảng dạy trong thời gian vừa qua thì tài liệu, giáo trình cho việc giảng dạy ngôn ngữ khá nhiều tuy nhiên tài liệu chuyên ngành cho việc nghiên cứu về văn hóa, ẩm thực của Hàn Quốc hiện tại chưa nhiều và chưa phổ biến Sinh viên khi chọn học ngoại ngữ thì ngoài ngôn ngữ ra thì sinh viên vẫn muốn tìm đọc và nghiên cứu nhiều tài liệu

về các lĩnh vực như văn hóa, xã hội…liên quan đến đất nước đó để có cái nhìn tổng quan và có sự thấu hiểu chi tiết hơn về con người về đất nước ấy

Với mục đích tìm hiểu những nét đặc trưng nhất về văn hóa ẩm thực Hàn

Quốc thông qua tục ngữ, nghiên cứu sâu hơn về văn hóa ẩm thực Hàn Quốc, giúp người học không chỉ giỏi về tiếng Hàn mà còn am hiểu về văn hóa Hàn Quốc sâu hơn, đồng thời đảm bảo tính phù hợp với chuyên ngành và khả năng của bản thân nên tác giả đã chọn đề tài nghiên cứu “Văn hóa ẩm thực Hàn Quốc thông qua tục

ng ữ” để làm luận văn tốt nghiệp

Trang 10

rõ ràng am hiểu về văn hóa, bên cạnh ngôn ngữ, là một ưu thế trong giao tiếp ở mọi lĩnh vực

Trong số nhiều phương thức tìm hiểu về văn hóa Hàn Quốc nói chung, văn hóa ẩm thực Hàn Quốc nói riêng, thì thông qua tục ngữ cũng là một hình thức để

tiếp cận thực tế hơn về văn hóa ẩm thực Hàn Quốc Tục ngữ không chỉ là những kinh nghiệm dân gian của ông cha mà chứa đựng trong đó còn là kết tinh nền văn hóa của cả một dân tộc

Mục đích nghiên cứu của đề tài là thông qua quá trình chọn lọc, phân loại và phân tích những câu tục ngữ đã chọn, chúng tôi muốn tìm ra những nét đặc trưng trong văn hóa ẩm thực Hàn Quốc từ bữa ăn hàng ngày đến các dịp lễ, tết trong năm

và ngoài ra đó còn là đặc trưng trong văn hóa ứng xử với môi trường tự nhiên và môi trường xã hội của người Hàn Quốc

3 L ịch sử nghiên cứu vấn đề

Trước đây cũng đã có nhiều công trình nghiên cứu về văn hóa ẩm thực Hàn

Quốc như:

Luận văn thạc sỹ “한.중.일 문화비교 고찰: 세 나라의 음식문화 비교 분석을 중심으로” (Khảo sát so sánh văn hóa Hàn – Nhật – Trung mà trọng tâm là phân tích

so sánh văn hóa ẩm thực của ba quốc gia) của tác giả Ha Cheong (2004) Trong công trình nghiên cứu này, tác giả giới thiệu về các món ăn truyền thống dựa trên các đặc trưng về điều kiện tự nhiên và xã hội của ba quốc gia Hàn Quốc, Nhật Bản, Trung Quốc Từ đó tác giả phân tích và chỉ ra được những điểm giống và khác nhau đặc trưng về văn hóa ẩm thực của ba quốc gia này

Luận văn thạc sỹ “한.중 혼례와 혼례음식의 비교 연구” (Nghiên cứu so sánh

ẩm thực trong hôn lễ của Hàn Quốc và Trung Quốc) của tác giả Ju Ryeong Thông qua việc đưa ra các thủ tục cùng với những món ăn đặc trưng cần chuẩn bị trong ngày hôn lễ ở Hàn Quốc và Trung Quốc mà tác giả đã chỉ ra những điểm giống và khác biệt về thủ tục và đặc biệt là về văn hóa ẩm thực trong ngày hôn lễ của Hàn

Quốc và Trung Quốc

Trang 11

Có nhiều công trình nghiên cứu và biên soạn về tục ngữ ở Hàn Quốc, trước tiên có thể đề cập đến cuốn Từ điển cơ bản 한국의 속담 대사전 (Đại từ điển tục

ng ữ Hàn Quốc) của Jeong Jong Jin (2006) với những câu tục ngữ được phân tích ý

nghĩa một cách đầy đủ và dễ hiểu Tiếp theo là cuốn Từ điển tiêu biểu liên quan trực

tiếp đến đề tài 음식 속담 사전 (T ừ điển tục ngữ ẩm thực) của Song Jae Seon (2000),

tác giả đã đưa ra nhận định thức ăn là yếu tố cơ bản và cần thiết tuyệt đối đến sự phát triển của các hoạt động phát triển và duy trì sinh mệnh của con người với gần

3000 câu tục ngữ và chia ra thành 6 chủ đề nói về các món ăn, đồ uống hàng ngày

Cuốn sách 속담 한상 푸짐하네 (T ục ngữ đa dạng và phong phú trên bàn ăn) của Park Jeong Ah (2015) đã vẽ nên bức tranh văn hóa ẩm thực của Hàn Quốc trên chiếc bàn ăn thông qua gần 200 câu tục ngữ

Công trình nghiên cứu “So sánh tục ngữ xuất hiện trong giáo trình tiếng Hàn

và phương pháp giảng dạy tục ngữ dành cho đối tượng học tiếng Hàn ở Đông Nam Á” c ủa tác giả Yang Chi Seon (2006) Trong công trình nghiên cứu này, đối tượng

là người học tiếng Hàn ở Đông Nam Á như Thái Lan, Inđônêsia hay Việt Nam có

thể ứng dụng tục ngữ hiệu quả thiết thực trong sinh hoạt hàng ngày và đồng thời

muốn nâng cao năng lực tiếng Hàn tốt hơn cho người học Ngoài ra người học ở ba

quốc gia Đông Nam Á này sẽ thể hiện sự hiểu biết về đời sống văn hóa, phong tục

tập quán, giá trị quan của người Hàn Quốc và so sánh, đối chiếu với đất nước nơi mình sinh sống

Luận văn thạc sĩ “한국어 학습자를 위한 속담 지도 연구” (Nghiên c ứu hướng

d ẫn tục ngữ dành cho đối tượng học tiếng Hàn) của Kwon Se Yeong (2009) là một

công trình nghiên cứu tục ngữ dành cho đối tượng người học tiếng Hàn ở cấp độ cao cấp Thông qua luận văn, tác giả đã phân tích các giáo trình tiếng hàn ở một số trường đại học và từ đó đưa ra những phương hướng cụ thể khi phân tích ý nghĩa và cách ứng dụng tục ngữ vào trong giảng dạy tiếng Hàn một cách hiệu quả

Công trình nghiên cứu của tác giả Won Soo Eun (2002) có nội dung là so sánh

về văn hóa và xã hội của Việt Nam và Hàn Quốc thể hiện qua tục ngữ của hai nước, thông qua các giáo trình đang được sử dụng ở các cơ sở giáo dục để nắm thông tin

Trang 12

về tình hình giảng dạy tục ngữ Hàn Quốc và từ đó chọn lọc tục ngữ Hàn Quốc dành riêng cho việc giảng dạy cho đối tượng học là người Việt Nam Đồng thời đưa ra

một số phương pháp thuận tiện cho việc giải thích, phân tích tục ngữ Hàn Quốc

Cuốn sách 한국 음식 문화 ( Văn hóa ẩm thực Hàn Quốc) của Son Jong Yeon (2007), tác giả đã đưa ra nhận định chung về văn hóa ẩm thực của Hàn Quốc và sau

đó phân loại thành 13 mục và với mỗi mục là nét đặc trưng văn hóa về các loại thức

ăn khác nhau Tác giả ưu tiên đưa ra những món ăn mang tính truyền thống nhất, và

mới mỗi loại thức ăn là sự diễn giải về bối cảnh lịch sử, sự phát triển và thay đổi theo thời đại, cách chế biến, đặc trưng riêng, tính ưu thế và thông qua đó những vấn

đề hay những đắn đo cần được cân nhắc, suy nghĩ cũng được thể hiện

Công trình nghiên cứu điển hình ở Việt Nam có thể đề cập đến là luận án Tiến

sĩ ngôn ngữ học của tác giả Trần Văn Tiếng (2006) có tên là: “So sánh một số đặc điểm cú pháp, ngữ nghĩa của tục ngữ tiếng Việt và tiếng Hàn” Thông qua luận án,

tác giả Trần Văn Tiếng đã phân tích và đưa ra được các đặc điểm và sự khác nhau

giữa tục ngữ Việt Nam và tục ngữ Hàn Quốc về cấu trúc ngữ nghĩa và cấu tạo ngữ pháp

Tiếp theo là luận văn Thạc sĩ của tác giả Nguyễn Thị Hồng Hạnh (2013) về

“Văn hóa ứng xử của người Hàn Quốc qua tục ngữ, thành ngữ” (so sánh với Việt Nam) đã vẽ ra một bức tranh mà thông qua thành ngữ, tục ngữ thể hiện rõ những đặc trưng về văn hóa ứng xử trong quan hệ xã hội và gia đình ở Hàn Quốc Qua đó khái quát được những nét giống và khác nhau về văn hóa ứng xử trong xã hội của người Hàn và người Việt

Luận văn thạc sĩ của tác giả Nguyễn Thùy Dương (2013) với đề tài “Một số tín

hi ệu thẩm mỹ trong thành ngữ, tục ngữ tiếng Hàn”, đã khái quát những đặc trưng văn

hóa – dân tộc của người dân Hàn Quốc thông qua năm nhóm chất liệu điển hình: tự nhiên, động vật, thực vật, vật thể nhân tạo và các bộ phận cơ thể con người

Luận văn thạc sĩ của tác giả Lương Quốc An (2107) về “Những đặc trưng văn

hó a đảo Jeju (Hàn Quốc) qua tục ngữ địa phương” Thông qua luận văn, tác giả đã

vẽ lên bức tranh thể hiện rõ nét các đặc trưng văn hóa của hòn đảo Jeju (Hàn Quốc)

Trang 13

thông qua tục ngữ địa phương, và đó là sự phản ánh nét văn hóa đặc trưng một cách

rõ rệt nhất của đảo Jeju xinh đẹp và độc đáo

Luận văn thạc sĩ của tác giả Mai Thị Mỹ Trinh (2018) viết về “Hình ảnh người phụ nữ Hàn Quốc qua tục ngữ” Luận văn đã phác họa lại hình ảnh người

phụ nữ Hàn Quốc trong xã hội truyền thống với những nét đẹp qua ngoại hình, phẩm hạnh, vai trò của người phụ nữ với bổn phận là người vợ, người con dâu, người mẹ

Ngoài những công trình nghiên cứu trong nước nói trên, việc nghiên cứu văn hóa ẩm thực Hàn Quốc thể hiện qua tục ngữ hiện chưa có nhiều

Bên cạnh đó cũng có một số công trình nghiên cứu hay sách đã xuất bản cũng

đề cập về tục ngữ, thành ngữ như sách Tục ngữ - Thành ngữ tiếng Hàn của tác giả

Lê Huy Khoa – Lê Huy Khảng (2008) là quyển sách cung cấp kiến thức không chỉ

về ngôn ngữ mà cả về đặc điểm văn hóa xã hội của Hàn Quốc Sách được bao gồm hơn 1800 câu tục ngữ, thành ngữ thông dụng trong đời sống Hàn Quốc Với mỗi câu trong tiếng Hàn, tác giả đều cố gắng sưu tầm, tìm kiếm những câu thành ngữ, tục ngữ tương đương trong tiếng Việt, nếu có, nhằm giúp cho người đọc dễ dàng cảm nhận được ý nghĩa Ngoài ra còn có phần phụ lục cung cấp thêm một số kiến thức hữu ích khác về xã hội Hàn Quốc

Về các bài nghiên cứu khoa học, có một số công trình tiêu biểu sau:

Trong bài viết có tiêu đề 오방색 – 한국의 문화 색채 (Obangseak – S ắc màu văn hóa Hàn Quốc) của tác giả Nguyễn Thị Hương Nhài đăng trên Tạp chí Hàn

Quốc của Hội nghiên cứu khoa học về Hàn Quốc của Việt Nam, quyển số 1 (23) tháng 3/2018, phạm vi tuy chỉ là bài viết ngắn nhưng qua đó có thể thấy năm màu

sắc Obangseak đi vào văn hóa Hàn Quốc từ rất lâu và trải qua nhiều thế hệ đã trở thành nét văn hóa đặc trưng của Hàn Quốc từ trang phục, các công trình kiến trúc đến các bữa ăn hàng ngày

Bài viết “Vài ý kiến về việc học ngôn ngữ và văn hóa Hàn Quốc qua tục ngữ dành cho sinh viên Vi ệt Nam” của ThS Nguyễn Thị Hồng Hạnh đăng trên Kỷ yếu

hội thảo Hàn Quốc học năm 2017, thông qua bài viết tác giả đưa ra cách tìm hiểu

Trang 14

nghĩa và ngữ cảnh ứng dụng tục ngữ và từ đó gợi ý cho người học một vài phương pháp, cách tiếp cận ngôn ngữ và văn hóa Hàn Quốc qua tục ngữ

Vì vậy việc tiếp tục nghiên cứu và tìm hiểu về văn hóa Hàn Quốc được coi là

cần thiết để giải quyết vấn đề trên trong xu hướng mở cửa và phát triển như hiện nay Đặc biệt là giữa Việt Nam và Hàn Quốc đang ngày càng có mối quan hệ giao lưu mật thiết hơn trong mọi lĩnh vực như kinh tế, văn hóa, thương mại Và qua đó tác giả nhận thấy đề tài nghiên cứu này có ý nghĩa vì vừa phù hợp với chuyên ngành

vừa có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo cho người quan tâm đến tiếng Hàn, nghiên cứu, học tập, giảng dạy ngôn ngữ, văn hóa của Hàn Quốc

Nhìn chung, cả ở Việt Nam và Hàn Quốc đều đã có nhiều công trình nghiên

cứu về ẩm thực Hàn Quốc nhưng hiện tại chưa có những công trình dựng lên bức tranh rõ nét về văn hóa ẩm thực thông qua tục ngữ mà chỉ có các nghiên cứu về một vài nét đặc trưng về ẩm thực nói chung Đồng thời, những công trình nghiên cứu

của Hàn Quốc về tục ngữ đa số đi vào phân tích đặc trưng và ứng dụng trong việc

giảng dạy hoặc là so sánh tục ngữ của hai đất nước Vì vậy đề tài này dưới sự tiếp thu, kế thừa và chọn lọc của những công trình đi trước, sẽ tiếp tục làm rõ hơn các nét đặc trưng trong văn hóa ẩm thực của Hàn Quốc thông qua tục ngữ

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

* Đối tượng nghiên cứu: Đối tượng nghiên cứu chính của luận văn là tìm hiểu

về văn hóa ẩm thực Hàn Quốc qua tục ngữ

* Phạm vi nghiên cứu: Các tục ngữ về ẩm thực của Hàn Quốc trong sách “Từ điển tục ngữ ẩm thực” của tác giả Song Jae Seon và một số tục ngữ của sách “Tục

ng ữ đa dạng và phong phú trên bàn ăn” của tác giả Park Jeong Ah

5 Phương pháp nghiên cứu và nguồn tư liệu

* Phương pháp nghiên cứu:

Để thực hiện đề tài, chúng tôi sử dụng những phương pháp sau:

Phương pháp thống kê tư liệu: Sử dụng phương pháp này để tìm ra các câu tục

ngữ cùng chủ đề như về ẩm thực trong bữa ăn hàng ngày như cơm, canh, rau củ, rượu và một số lễ nghi, quy tắc ứng xử trên bàn ăn, … Sau đó, thống kê số lượng

Trang 15

câu tục ngữ của từng chủ đề liên quan đến đề tài luận văn để từ đó có cái nhìn tổng quát hơn khi tiến hành phân tích vấn đề

Phương pháp phân tích và tổng hợp: Phương pháp này được sử dụng xuyên

suốt trong quá trình thực hiện đề tài luận văn Áp dụng phương pháp này để phân tích các câu tục ngữ trên phương diện ngữ nghĩa với mục đích đưa ra nội dung chính xác của từng câu tục ngữ và từ đó tìm ra những nét đặc trưng về văn hóa ẩm

thực Hàn Quốc

Phương pháp so sánh: Đây là phương pháp được sử dụng trong luận văn để so sánh với tục ngữ Việt Nam về một số nội dung tương ứng, từ đó để thấy được nét tương đồng trong văn hóa ẩm thực của Việt Nam và Hàn Quốc

Phương pháp nghiên cứu liên ngành: Chúng tôi sử dụng kết hợp kiến thức của

một số chuyên ngành khác có liên quan đến đề tài như sử học và văn hóa học

* Nguồn tư liệu:

Để hoàn thành đề tài này, chúng tôi sử dụng tư liệu chính là cuốn Từ điển tục

ngữ ẩm thực của Hàn Quốc (음식 속담 사전) của Song Jae Seon (1998) với hơn 985

câu tục ngữ và sáu chủ đề đa dạng liên quan đến văn hóa ẩm thực Hàn Quốc Hiện

tại cuốn từ điển này chưa được biên dịch sang tiếng Việt

Ngoài ra, chúng tôi còn tham khảo thêm một số sách, bài báo khoa học và

những công trình nghiên cứu liên quan đến tục ngữ và ẩm thực Hàn Quốc

6 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn

Sau khi luận văn hoàn thành và được hội đồng chấp thuận, luận văn có thể có

một số đóng góp nhất định về mặt khoa học Như đã trình bày ở các phần trước, với

thực tiễn về nguồn tài liệu trong nước còn thiếu những tài liệu liên quan đến văn hóa ẩm thực Hàn Quốc Luận văn sau khi hoàn thành có thể được sử dụng trong học

tập, nghiên cứu, giảng dạy ngôn ngữ và văn hóa Hàn Quốc, trong chuyên ngành cho sinh viên ngành Hàn Quốc học và đây cũng sẽ là tài liệu tham khảo hữu ích cho

những người quan tâm đến Hàn Quốc

Trang 16

7 B ố cục luận văn

Ngoài phần mở đầu và kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung luận văn được chia thành ba chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn

Chương này sẽ giới thiệu các khái niệm và thuật ngữ liên quan đến đề tài luận văn như văn hóa, văn hóa ẩm thực, tục ngữ và mối quan hệ giữa văn hóa với tục

ngữ Ngoài ra, chúng tôi cũng khái quát về vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên, xã hội có

ảnh hưởng đến sự hình thành ẩm thực Hàn Quốc và tục ngữ Hàn Quốc (bao gồm

c ấu trúc cú pháp, ngữ nghĩa, chất liệu sử dụng trong tục ngữ và vai trò của tục ngữ) Chương 2: Đặc trưng ẩm thực Hàn Quốc thể hiện qua tục ngữ

Chương này trình bày về đặc trưng ẩm thực Hàn Quốc thể hiện qua tục ngữ

với trình tự là ẩm thực theo bữa ăn hàng ngày, ẩm thực theo vùng miền, theo mùa

và theo một số dịp như ngày lễ tết và ẩm thực theo nghi lễ vòng đời của người Hàn

Quốc Từ đó chúng tôi sẽ tìm ra những nét đặc trưng là ẩm thực gắn liền với thiên nhiên và có sự khác nhau theo từng vùng Đó không chỉ đơn thuần là những món ăn được chế biến riêng biệt mà chính là sự kết hợp hài hòa giữa nguyên liệu và gia vị

để tạo ra những món ăn ngon

C hương 3: Văn hóa ứng xử trong ẩm thực của người Hàn Quốc thể hiện qua

tục ngữ

Ở chương này, chúng tôi sẽ trình bày văn hóa ứng xử trong ẩm thực của người Hàn Quốc đối với môi trường tự nhiên (đề cao vai trò của ẩm thực, tính mỹ học và khoa h ọc trong ẩm thực) và môi trường gia đình, xã hội (lễ nghi, phép tắc trong ăn

u ống và tính giáo huấn, trào phúng)

Phần phụ lục là tập hợp những câu tục ngữ về ẩm thực được sử dụng trong

luận văn được chọn lọc và biên dịch sang tiếng Việt

Trang 17

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1.1 Cơ sở lý luận

1.1.1 Khái ni ệm văn hóa

Văn hóa là một khái niệm đa dạng và khá phức tạp, nó được hiểu và định nghĩa theo nhiều góc độ tùy theo từng nhà nghiên cứu

Theo quan niệm của UNESCO (Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên

Hi ệp Quốc): “Văn hóa là tổng thể những nét riêng biệt về tinh thần và vật chất, trí

tu ệ và cảm xúc, quyết định tính cách của xã hội hay một nhóm người trong xã hội Văn hóa bao gồm nghệ thuật và văn chương, những lối sống những quyền cơ bản

c ủa con người, những hệ thống các giá trị, những tập tục và tín ngưỡng” [Dẫn theo 2, tr.23, 24]

Theo E.B.Tylor đưa ra định nghĩa “Văn hóa hay văn minh, theo nghĩa rộng về

t ộc người học, nói chung gồm có tri thức, tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức, luật pháp, t ập quán và một số năng lực và thói quen khác được con người chiếm lĩnh với

tư cách một thành viên của xã hội” [3, tr.13] Theo định nghĩa này thì văn hóa và

văn minh là một; nó bao gồm tất cả những lĩnh vực liên quan đến đời sống con người, từ tri thức, tín ngưỡng đến nghệ thuật, đạo đức, pháp luật

Theo Trần Ngọc Thêm, văn hóa được xem như một quá trình, là phương thức ứng xử của con người với môi trường tự nhiên và xã hội Trần Ngọc Thêm cũng

định nghĩa về văn hóa như sau “Văn hóa, dựa trên các đặc trưng cơ bản, được hiểu

là m ột hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội của mình” [4, tr.56] Từ đó có thể rút ra một số đặc

trưng của văn hóa qua định nghĩa này Thứ nhất, chủ thể của văn hóa chính là con người Thứ hai, điều kiện không gian để văn hóa hình thành đó là môi trường tự nhiên và xã hội Thứ ba, văn hóa chính là sản phẩm được con người sáng tạo và tích lũy thông qua những hoạt động thực tiễn

Trang 18

Tóm lại, có rất nhiều cách hiểu khác nhau về văn hóa tùy vào từng góc độ nghiên cứu của từng tác giả Và trong phạm vi luận văn này, tôi xin chọn định nghĩa văn hóa của tác giả Trần Ngọc Thêm để làm cơ sở lý luận của đề tài luận văn

1.1.2 Khái ni ệm tục ngữ

Tại Việt Nam, có rất nhiều định nghĩa khác nhau về tục ngữ:

Theo Nguyễn Văn Nở: “Tục ngữ là sản phẩm của tư duy, là công cụ diễn đạt

nh ững tri thức, kinh nghiệm quý báu, những triết lý nhân sinh vừa sâu sắc, thâm thúy v ừa không kém phần nghệ thuật, được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác” [15, tr.65]

Theo “T ừ điển Tiếng Việt” của tác giả Hoàng Phê, “Tục ngữ là câu nói ngắn

g ọn, thường có vần điệu, đúc kết tri thức, kinh nghiệm sống và đạo đức thực tiễn

c ủa nhân dân” [9, tr.1062]

“T ừ điển văn học” của tác giả Chu Xuân Diên đưa ra cách nhìn nhận và quan điểm rằng “Tục ngữ là những câu nói ngắn gọn, có nhịp điệu, có hình thức bền

v ững, được dùng trong lời nói hằng ngày, thường có nhiều nghĩa, hình thành bằng cách liên tưởng loại suy” [10, tr.37]

Ở Hàn Quốc cũng có nhiều định nghĩa về tục ngữ, cụ thể được tổng hợp qua

- Là châm ngôn, cách ngôn dễ nhớ

từ thời xưa được lưu truyền trong dân gian

- Là những câu chuyện đời thường, truyền thuyết

Trang 19

<T ừ điển quốc

ng ữ> (1997) Nam Yeong Sin biên soạn

- Là những câu chuyện đời thường, truyền thuyết

- Là những câu châm ngôn xuất phát từ trong cuộc sống hàng ngày

của người dân một cách tự nhiên và được lưu truyền rộng rãi Chủ yếu

phản ánh về tư tưởng, suy nghĩ, giá

trị quan, trí tuệ của người dân

Lời nói ngắn gọn có ý nghĩa hay

mà mọi người hay trích dẫn

<Đại từ điển

qu ốc ngữ>

(2002)

Nhà xuất bản nhân dân – Lee Hee Seong

Lời nói, câu châm ngôn ngắn gọn

chứa đựng ý nghĩa giáo huấn, châm

biếm, kinh nghiệm và giải trí như

những lời nói cách ngôn của dân gian được truyền lại từ thời xa xưa

- Là những câu chuyện đời thường, truyền thuyết

Theo Bảng 1.1 có thể thấy tục ngữ là những lời nói ngắn mang ý nghĩa như giáo huấn, châm biếm, trào phúng được truyền miệng trong dân gian từ thời xa xưa Như vậy có thể thấy ở Việt Nam hay Hàn Quốc đều có quan điểm chung về

tục ngữ được tổng hợp như sau: “Tục ngữ là những câu châm ngôn, những câu nói

Trang 20

ng ắn gọn, súc tích, hàm chứa những đúc kết trong cuộc sống như bài học kinh nghi ệm, giáo huấn”

1.1.3 Ẩm thực và văn hóa ẩm thực

1.1.3.1 Khái ni ệm ẩm thực

Theo “T ừ điển tiếng Việt thông dụng” thì ẩm thực chính là ăn uống, là hoạt

động để cung cấp năng lượng cho con người sống và hoạt động Vì vậy nói đến văn hóa ẩm thực là nói đến việc ăn uống và các món ăn uống cùng với nguồn gốc lịch

sử của nó Ăn là hoạt động cơ bản nhất của con người, gắn liền với con người ngay

từ buổi sơ khai Nên vào thời điểm ấy ăn uống chỉ là một hoạt động sinh học, một

phản ứng tự nhiên không điều kiện của con người Con người khi đó chỉ ăn theo bản năng, giống như tất cả các loài động vật khác, ăn để duy trì sự sống và bảo tồn

giống nòi Thời kỳ này, ăn uống chưa có chọn lọc, họ ăn tất cả những gì kiếm được,

và đặc biệt là ăn sống, uống sống Cùng với sự phát triển của con người thì hoạt động nghệ thuật trong ăn uống hay ẩm thực cũng thay đổi theo hướng tích cực với

sự đa dạng của các món ăn và cách chế biến

Ẩm thực Hàn Quốc được giải thích theo hướng từ điển là “Món ăn hay thực

ph ẩm đặc trưng vốn có của Hàn Quốc”, thông thường người Hàn Quốc đã sử dụng

những cách chế biến có nguồn gốc từ trong quá khứ và với những món ăn được chế

biến còn được sử dụng với ý nghĩa tương tự như “ẩm thực vùng miền”, “ẩm thực truy ền thống” 1 Bên cạnh đó, theo tác giả Lee Yeon Jeong cho rằng “ẩm thực Hàn

Qu ốc theo cách hiểu cơ bản nhất là muốn đề cập đến các món ăn mà chính những con người sống trên đất nước Hàn Quốc hiện tại ăn hàng ngày” 2

1 Hwang Kyo Ick, Sách B ảo tàng văn hóa ẩm thực Hàn Quốc, Nxb Davi, 2014, tr14

2 Lee Yeon Jeong, Nh ững ảnh hưởng trong việc mua bán sản phẩm và hình ảnh của Hàn Quốc trong mắt người nước ngoài với xu hướng thế giới hóa ẩm thực Hàn Quốc, luận văn tiến sĩ, 2008

Trang 21

hóa ẩm thực ở một đất nước hay một vùng miền nào đó thì phải nói đến đặc điểm tình hình sau đó mới có thể nêu được bản sắc văn hóa của từng dân tộc hay từng vùng miền cụ thể

Khái niệm văn hóa ẩm thực là một khái niệm phức tạp và mới Văn hóa ẩm

thực là những tập quán và khẩu vị ăn uống của con người; những ứng xử của con người trong ăn uống; những tập tục kiêng kỵ trong ăn uống; những phương thức chế

biến, bày biện món ăn thể hiện giá trị nghệ thuật, thẩm mĩ trong các món ăn; cách thưởng thức món ăn…3 Nói như vậy thì từ thời xa xưa, ở Việt Nam, thế hệ trước đã chú ý đến văn hóa ẩm thực “Ăn trông nồi, ngồi trông hướng” không chỉ phản ánh

ở yếu tố vật chất mà còn chứa đựng trong đó là cách ứng xử với gia đình – xã hội Theo tác giả Ju Yeong Ha (2000:19) thì ẩm thực là có thể gọi là yếu tố cần

thiết để duy trì cuộc sống sinh hoạt hàng ngày của con người Từ xa xưa, văn hóa

ẩm thực đã chiếm giữ vai trò quan trọng trong cuộc sống của mọi người và đồng

thời văn hóa ẩm thực được chia thành bốn loại phù hợp với hoàn cảnh sống đó là ăn,

ở, ngủ, đi lại và trong số đó rõ ràng thấy được tầm quan trọng của ẩm thực.4

Việc ăn uống có thể nói là yếu tố cơ bản và giữ vai trò quan trọng hàng đầu Hơn nữa nó đã trở thành một nét văn hóa mà từ xưa người Việt Nam đã luôn gìn

giữ và phát huy những nét văn hóa ẩm thực quý báu của dân tộc mình

1.1.4 M ối quan hệ giữa tục ngữ và văn hóa

Tục ngữ là bức tranh chứa đựng ý thức và văn hóa của một đất nước Ngôn

ngữ và văn hóa có mối quan hệ mật thiết nên thông qua ngôn ngữ mà cụ thể thông qua tục ngữ thì việc tìm hiểu về văn hóa sẽ dễ hơn Qua mỗi câu tục ngữ ngoài nghĩa trực tiếp của câu tục ngữ thì bên cạnh đó là cả những nét văn hóa đặc trưng

của dân tộc đó được thể hiện Thông qua tục ngữ, mọi người nhận ra những điểm

giống và khác nhau của nền văn hóa của đất nước mình với quốc gia khác

Cụ thể ở Việt Nam có câu tục ngữ:

3 Nguy ễn Nguyệt Cầm, Giáo trình văn hóa ẩm thực, Nxb Hà Nội, 2008

4 Nguyê n văn: 음식은 인간이 정상적인 사회생활을 유지하기 위한 필수적인 조건이라고 할 수

있다 옛날부터 음식문화는 인간의 일상생활에서 중요한 자리매김을 하고 있으며 나아가 인간이 사회생활을 하기 위한 기반이 되는 4 개의 필수적 요인인의 의, 식, 주, 행에서 식의 하나로서 음식의 중요성을 알 수 있다

Trang 22

“L ời nói không mất tiền mua

L ựa lời mà nói cho vừa lòng nhau”

Câu tục ngữ trên ngoài việc thể hiện sự cẩn thận trong việc sử dụng lời nói còn

thể hiện nét văn hóa trong việc đối nhân xử thế của con người Tương tự ở Hàn

Quốc cũng có câu tục ngữ có nội dung giống như vậy “가는 말이 고와야 오는 말이 곱다” (L ời nói đến đẹp thì lời nói đi sẽ đẹp)

Trong cuộc sống ta không thể tồn tại một cách lẻ loi, cô độc mà phải tập hợp thành cộng đồng, ở đó, chúng ta có những mối quan hệ khác nhau mà lời nói là công cụ giúp ta trao đổi, giao tiếp ứng xử với nhau Hơn nữa lời nói là một trong

những phương tiện để đánh giá phẩm chất của con người Câu tục ngữ là một lời giáo huấn về cách đối nhân xử thế Rõ ràng là hai ngôn ngữ của hai đất nước khác nhau nhưng thông qua tục ngữ lại làm toát lên nét văn hóa đặc trưng và có thể thấy

là nét văn hóa tương đồng của Việt Nam và Hàn Quốc

“Có th ể nói con người là động vật mang tính xã hội còn tục ngữ là sản phẩm mang tính xã h ội Khó có thể biết được ai là người đầu tiên sử dụng tục ngữ Nhưng

t ục ngữ lại là cái mà tất cả người dân của đất nước đó từ thời xa xưa đến thời điểm

hi ện tại đều sử dụng một cách rất tự nhiên và thuần thục Vì vậy tục ngữ vừa là tấm gương phản chiếu những giá trị quan hay diện mạo cuộc sống của đất nước vừa là

bi ểu tượng quan trọng thuộc quyền sở hữu của dân tộc đó Dần dần do ảnh hưởng

s ự thay đổi của lịch sử và xã hội, tư tưởng của mọi người cũng như các khái niệm cũng có sự thay đổi Tục ngữ cũng có sự thay đổi nên những câu tục ngữ không dùng s ẽ biến mất và sẽ được thay thế bằng tục ngữ mới Vì vậy có thể nói tục ngữ cho dù t ừ thời xa xưa đến hiện tại thì vẫn sẽ thay đổi liên tục cùng với dân tộc đó và

ph ản ánh diện mạo của thời đại đó Tục ngữ là từ điển bách khoa nhìn vào quá khứ,

là chi ếc màn hình vi tính nhìn về hiện tại và là chiếc gương phản chiếu tương lai”5

Vì vậy, việc tìm hiểu và nghiên cứu tục ngữ là một hình thức để làm thể hiện

rõ những nét văn hóa của dân tộc đó

1.2 Cơ sở thực tiễn

5 Kim Seok Sin, Tiếp cận theo nguyên lý ẩm thực về tục ngữ ẩm thực Hàn Quốc, Cuốn 27 số 2, Hiệp

h ội Văn hóa đời sống ẩm thực Hàn Quốc, 2012, trang 158

Trang 23

1.2.1 V ị trí địa lí, điều kiện tự nhiên và ẩm thực Hàn Quốc

Hàn Quốc là một quốc gia thuộc vùng Đông Bắc Á Người Hàn Quốc đã có

mặt và sinh sống trên bán đảo Hàn Quốc từ hơn 5000 năm về trước, do đó đất nước này có một bề dày lịch sử cũng như truyền thống văn hóa rất lâu dài

Hàn Quốc tên đầy đủ là Đại Hàn Dân Quốc, là một quốc gia thuộc tiểu vùng Đông Bắc Á, nằm ở nửa phía Nam của bán đảo Triều Tiên Phía Bắc giáp với Triều Tiên, phía Đông giáp với biển Nhật Bản và phía Tây giáp với biển Hoàng Hải Hàn

Quốc có diện tích 100.190 km2 với dân số 51.569.536 người (tháng 3/2016)6 Thủ

đô của Hàn Quốc là Seoul, chiếm khoảng 1/5 dân số cả nước với 10.009.588 người

(3/2016)7 Hàn Quốc chỉ có một dân tộc duy nhất gọi là dân tộc Hàn, sử dụng ngôn

ngữ chính thức là tiếng Hàn Quốc

Nằm ở vùng ôn đới với một năm có 4 mùa Xuân – Hạ – Thu – Đông, cộng thêm vị trí địa lý ba phía giáp biển đã trở thành những điều kiện vô cùng thuận lợi

để Hàn Quốc tạo nên một nền văn hóa ẩm thực vô cùng phong phú và đậm đà bản

sắc dân tộc Với đặc điểm địa hình là núi và đồng bằng, biển cả chiếm phần lớn bề

mặt bao quanh ba phía, đất nước Hàn Quốc có nguồn tài nguyên dồi dào về thủy hải

sản, nông nghiệp với các kỹ thuật trồng lúa phát triển từ rất lâu đời Vì thế mà

những món ăn Hàn Quốc thường rất phong phú về nguyên liệu được lấy từ thiên nhiên do con người tạo ra, rất đầy đủ dinh dưỡng, thanh đạm nhưng không kém

phần cao sang, làm cho người ăn cảm nhận được tất cả các mùi vị của tự nhiên Phát triển hài hòa cùng với thiên nhiên, xã hội và điều kiện môi trường… với khí hậu mát mẻ quanh năm, đặc trưng của một đất nước vùng ôn đới, ở Hàn Quốc nuôi trồng và sản xuất rất nhiều loại thực phẩm theo mùa như các loại hạt, các loại đậu, rau củ và hải sản Đây cũng là lý do mà Hàn Quốc được biết đến với một số

thực phẩm có cách chế biến và bảo quản đặc biệt như kim chi, hải sản muối… Ẩm

thực Hàn Quốc rất đa dạng, từ những món ăn cung đình sang trọng với cách chế

biến cầu kỳ, phức tạp cho đến những món ăn bình dân quen thuộc, tuy đơn giản nhưng luôn xuất hiện trong các bữa cơm hằng ngày Ngoài ra, nhắc đến ẩm thực

6 Số liệu từ “Thống kê nhân khẩu đăng kí” - http://rcps.egov.go.kr:8081/jsp/stat/ppl_stat_jf.jsp

7 Số liệu từ “Thống kê nhân khẩu đăng kí” - http://rcps.egov.go.kr:8081/jsp/stat/ppl_stat_jf.jsp

Trang 24

Hàn Quốc, không thể không kể đến những món ăn đặc biệt chỉ được dùng vào

những ngày lễ Tết truyền thống hoặc những món ăn đường phố phong phú, nhiều

thể loại, không chỉ thu hút được sự thèm ăn của người dân Hàn Quốc mà còn cả

những người nước ngoài khi viếng thăm và du lịch tại nước này

1.2.2 Điều kiện lịch sử, xã hội và ẩm thực Hàn Quốc

Văn hóa ẩm thực của Hàn Quốc hình thành dựa trên các yếu tố mang tính xã

hội, địa lí, chính trị, tôn giáo và sự du nhập của văn hóa ngoại lai nên nó trải dài theo thời đại và phát triển đa dạng Khoảng 6000 năm trước Công nguyên, trên khu

vực bán đảo Hàn Quốc, văn hóa ẩm thực của Hàn Quốc có thể hình thành cùng với

thời kỳ đồ đá – thời kỳ chủ yếu sử dụng đồ gốm hoa văn hình răng lược Lúc này, con người ở thời kỳ đồ đá chủ yếu sinh sống bằng nghề săn bắn, hái lượm, đánh bắt

cá và sau giai đoạn thời kỳ đồ đá thì bắt đầu tiếp cận với đời sống canh tác Văn hóa

ẩm thực truyền thống của Hàn Quốc được chuyển qua xã hội nông canh từ sau thời

kỳ đồ đá và thời gian sau đó lại càng phát triển rõ rệt hơn nữa Với đặc trưng khí

hậu cơ bản là bốn mùa rõ rệt thì thực phẩm chính là lúa gạo, và cũng từ rau củ và các loại rau trên núi mà bắt đầu hình thành thực phẩm lên men Nhìn dưới góc độ

thời đại thì ở thời đại Joseon cổ, vì đời sống con người có sự thay đổi từ đời sống du

mục sang đời sống nông canh nên xuất hiện ẩm thực chính là cơm và bánh tteok Bên cạnh đó bếp nướng có thể gọi là nguồn gốc của món 불고기 (bulgogi) cũng đã

xuất hiện vào thời điểm này

Thời kỳ Tam quốc là thời kỳ hình thành các đặc trưng về đời sống ẩm thực rõ

rệt và đậm nét nhất của quốc gia bán đảo như Hàn Quốc Ở thời kỳ văn hóa đồ sắt,

kỹ thuật nông nghiệp phát triển tốt nên thời kỳ Goryeo, Silla, Baekje Tam quốc thì nghề trồng lúa phát triển và là nghề chủ lực nên gạo lúc này là thực phẩm chính Người ta trồng trọt một số loại cây khác tùy theo từng vùng như khu vực phía Bắc canh tác các loại tạp cốc, hạt kê còn phía Nam lại phát triển trồng lúa mạch và lúa

mì cũng được trồng thêm ở một số khu vực khác Ngoài ra những loại rau củ như cà tím, củ cải, rau xà lách cũng được trồng thêm và dùng làm thức ăn cùng với một số

loại rau trên rừng và núi Nghề chăn nuôi gia súc như bò, heo, cừu… cũng phát triển

Trang 25

Thời kỳ này phát triển kỹ thuật nấu ăn lưu trữ, bảo quản những sản phẩm nông sản trong thời gian dài cụ thể những món ăn như 김치 (kim chi – dưa cải muối),

(jang – các lo ại tương), 젓갈 (jeotgal – các lo ại mắm tép, mắm tôm), (sul – các

lo ại rượu) Bước vào thời kỳ Silla Thống nhất thì vẫn tiếp nhận, duy trì những nét

văn hóa ẩm thực của thời kỳ Tam quốc Đồng thời thông qua việc cử sứ thần đi thăm viếng và giao lưu, trao đổi những sản vật nước ngoài nên văn hóa ẩm thực của Hàn Quốc được hình thành mang tính đặc biệt Ngoài những thực phẩm đã có từ trước của thời kỳ Tam quốc như gạo, ngũ cốc, lúa mạch, đậu, kê, cao lương thì còn khai quật được đậu xanh và lúa mì ở nơi quân đội Baekje Buyeo, đã cho thấy rằng

những loại thực phẩm này được dùng làm lương thực hàng ngày của con người

Tầng lớp quý tộc chủ yếu trồng lúa gạo là thức ăn chính, người dân thường thì thức

ăn chính là lúa mạch và đậu 8

Đi qua thời kỳ này và bước sang thời kỳ Goryeo, lúc này Phật giáo phát triển

mạnh và có sức ảnh hưởng lớn, đã hình thành văn hóa hạn chế ăn thịt nên thời kỳ này phát triển phương pháp chế biến thức ăn chủ yếu sử dụng thực phẩm thực vật như các loại rau củ quả cùng với gia vị hơn là sử dụng các loại thực phẩm động vật Đồng thời với sự ảnh hưởng của văn hóa chùa chiền nên thời điểm này các loại thực

phẩm chủ yếu như trà ngũ cốc hay mì sợi rất phát triển và được ưa chuộng Sau này khi nhà Nguyên xâm lược thì văn hóa ẩm thực của nhà Nguyên du nhập vào nên cách chế biến các món thịt rất phổ biến và văn hóa rượu cũng phát triển 9 Những món ăn của thời kỳ này như mì sợi, bánh tteok, bánh mật ong Hàn Quốc, bánh kẹo làm từ ngũ cốc… có cách chế biến giống như ngày nay, đồng thời bắt đầu làm

những thực phẩm lên men có thể dùng trong thời gian dài như nước tương, đậu tương, rượu, kim chi… Những thực phẩm được chế biến từ các loại đậu, đậu hủ, giá đậu tương xuất hiện và cách chế biến món ăn Hàn dần dần đạt được những tiêu chuẩn cao hơn Bên cạnh đó, việc kinh doanh muối và sự phát triển của gốm sứ xanh Goryeo góp phần làm cho đời sống văn hóa ẩm thực được mở rộng, phát triển

8 Kim Kyeong Soo, Sách Lịch sử Hàn Quốc, Nghệ thuật chạm nổi, 2007, tr.153

9 Lý Xã Huy ền, Trường Trù Căn, Lý Kim Quế, Đại cương dân tộc học Hàn Quốc, NXB Học Nghiên Xã

Trang 26

Thời kỳ Joseon là thời kỳ hoàn thiện của văn hóa ẩm thực, thời kỳ này là hình thái điển hình của văn hóa ẩm thực truyền thống của Hàn Quốc Do ảnh hưởng của Nho giáo nên văn hóa uống trà dần dần biến mất và đa số lúc này xuất hiện các loại rượu và trà dùng nguyên liệu thuốc Đông y hoặc chè hoa quả Khoảng thời gian

giữa sau của thời kỳ Joseon thì du nhập một số thực phẩm như ớt và bí đỏ Ớt sau này trở thành món ăn tiêu biểu của Hàn Quốc vì đó là nguyên liệu không thể thiếu khi làm tương ớt và kim chi, và nó đã trở thành nguyên liệu không thể không có trong đời sống ẩm thực hằng ngày của người dân Hàn Quốc lúc bấy giờ Đồng thời khoai tây, khoai lang, bắp, cà chua, dưa hấu dần dần du nhập vào và đã góp phần làm cho tiêu chuẩn trong đời sống sinh hoạt của người dân đã được nâng cao Ở thời

kỳ này vẫn tiếp tục phát triển các cách chế biến món ăn của thời kỳ Goryeo, sau đó

một số sách liên quan đến cách nấu ăn được viết và cho xuất bản sách báo về phương pháp nấu rượu

Cuối thời kỳ Joseon, nhiều phương pháp chế biến món ăn xuất hiện mà không khác gì so với thời điểm hiện tại Cụ thể như là thực phẩm lên men (rượu, kim chi, tương), nướng (thịt nướng, cá nướng), phơi sấy khô (cá khô, thịt bò lát sấy khô,

h ồng khô), hấp (thịt hấp, cá hấp), kho rim (cá kho, củ sen rim), xào (thịt xào, rau xào), áp ch ảo (cá áp chảo, thịt áp chảo), trộn (rau củ), đun sôi (cơm, cháo, canh),

luộc (thịt luộc, rau củ luộc, bánh tteok luộc), xay tạo bột (muối mè, bột ớt, bột

m ỳ)…đó là những cách chế biến đều xuất hiện trong thời kỳ này Vào thời kỳ

Joseon có ghi chép lại những nội dung liên quan đến ẩm thực rất nhiều 10

Vào thời kỳ cận đại, lúc này do sự chi phối của thực dân Nhật Bản nên sinh

hoạt và đời sống ẩm thực của người dân rất khốn cùng Ảnh hưởng của làn sóng phương Tây hóa cùng với việc du nhập những thực phẩm, cách chế biến món ăn,

những phong tục trong đời sống ẩm thực làm cho ẩm thực Hàn Quốc cũng có nhiều ảnh hưởng và thay đổi Ẩm thực ngoại lai du nhập làm cho ẩm thực truyền thống

một phần bị đẩy lùi, tầng lớp thượng lưu làm quen với các ẩm thực phương Tây, ẩm

thực Trung Quốc, các loại trà, cà phê và rượu nước ngoài, còn người dân dần dần

10 Won Yoong Hee, Nghiên cứu so sánh văn hóa đời sống ẩm thực, Số 3, Phòng nghiên cứu kinh doanh công nghi ệp, 1998, 157-158

Trang 27

tiếp cận với một số món ăn Trung Quốc và Nhật Bản Giai đoạn này tầng lớp thượng lưu vẫn dùng những món ăn chính như mỳ sợi, hoành thánh, canh tteok

(canh bánh g ạo nấu)…và một số món ăn ưa thích như bánh ngọt, nước hoa quả…

Trong khu vực trung tâm hình thành rất nhiều các quán ăn bán món Nhật, Trung và món ăn phương Tây Trong thời gian Nhật Bản chiếm đóng, đời sống ẩm thực không được đa dạng, phong phú và mỗi địa phương mỗi khu vực vẫn tiếp tục duy trì

những món ăn đặc trưng của địa phương Hội Phụ nữ lúc này nỗ lực hết sức để thực

hiện chuyển giao những món ăn Hàn cùng với cách chế biến để hỗ trợ cho người dân địa phương Năm 1930 đã phát hành sách nấu ăn mà trong đó là những thực đơn món ăn, cách bài trí món ăn cùng với cách nấu và những lễ nghi trong ăn uống

nhằm để duy trì những nét truyền thống trong đời sống ẩm thực của Hàn Quốc Dù

bị ảnh hưởng rất nhiều từ Nhật Bản cụ thể là trong đời sống có nhiều thay đổi nhưng cái gốc rễ đời sống ẩm thực truyền thống thì không hề bị lung lay mà ngược

lại còn duy trì được những nét đặc trưng truyền thống của đất nước Hàn11

1.3 Khái quát v ề tục ngữ Hàn Quốc

b) “두부 먹다 이 빠지고, 수박 먹다 이 빠지다” “Ăn đậu hủ thì răng cũng

r ụng, ăn dưa hấu thì răng cũng rụng”

Cả 2 ví dụ trên có sự lặp lại âm tiết trong từng câu, cụ thể là từ “산 – núi” ở câu a, “이 빠지 – răng cũng rụng” ở câu b Vì tục ngữ mang tính khẩu ngữ cao nên

với việc lặp lại âm tiết như vậy sẽ giúp dễ nhớ và dễ sử dụng hơn

Theo tác giả Shim Jae Ki (Shim Jae Ki 2000:252~264) thì cấu trúc của tục ngữ

đa số được cấu tạo lặp từ và cách sử dụng các phó từ

“떡은 돌아가면서 떼고, 말은 돌아가면서 보탠다”

11 Han Bok Jin, Đời sống ẩm thực 100 năm, 2002, tr.14-23

Trang 28

“Bánh tteok khi chuy ển qua chuyển lại thì sẽ có người ăn, lời nói chuyển qua chuy ển lại thì sẽ lan truyền rộng rãi”

Với cách nói một cách ngẫu nhiên, sử dụng hai hình ảnh là món ăn và lời nói

Rõ ràng món ăn khi chuyền từ người này sang người khác thì sẽ có người ăn món

đó và cuối cùng món ăn đó có thể ít dần đi nhưng lời nói thì ngược lại, khi lời nói được chuyển từ người này sang người khác thì so với lời nói ban đầu thì lời nói càng về sau càng thay đổi và nội dung sẽ có thể bị thêm bớt vào dẫn đến sự sai lệch

so với nội dung ban đầu Trong câu tục ngữ này chữ “ 돌아가면서 – v ừa chuyển qua chuy ển lại” được lặp lại càng làm rõ và nhấn mạnh ý nghĩa của nó

“떡도 주고, 밥도 준다”

Đã cho cơm và còn cho bánh tteok”

Muốn nói đến tính nhân hậu và tình thương của mọi người dành cho nhau trong cuộc sống, khi thấy ai đó khó khăn và muốn giúp đỡ cho người đó thì giúp đến cùng với tấm lòng rộng rãi, cụ thể ở đây là giúp cho người đang rất đói cả cơm

và bánh tteok Hình ảnh cơm và bánh tteok là hai hình ảnh rất gần gũi và bình thường trong sinh hoạt hằng ngày nhưng ngược lại nó lại rất quan trọng đối với

những người thiếu thốn, không có gì để ăn Trong câu tục ngữ là sự kết hợp hài hòa mang tính cú pháp khi sử dụng vĩ tố dạng phó từ “ -도 (- cũng)” đã tạo thành mệnh đề

thể hiện nội hàm ý nghĩa của câu tục ngữ càng được nhấn mạnh và súc tích hơn Nhìn chung các tục ngữ thường có cấu tạo là một cụm danh từ, một câu, đoạn văn hoàn chỉnh ở dạng trần thuật, nghi vấn và mệnh lệnh

- Tục ngữ có cấu tạo là một cụm từ: “그림의 떡” (Bánh Tteok trong tranh, Bánh v ẽ)

- Tục ngữ có cấu tạo là một câu: “ 달걀로 바위치기 ” (Tr ứng chọi đá)

- Tục ngữ có cấu tạo là đoạn văn hoàn chỉnh ở dạng trần thuật, nghi vấn và

mệnh lệnh

+ Dạng câu trần thuật: “송편 예쁘게 빚으면 예쁜 딸 낳는다” (N ếu nặn bánh songpyeon đẹp thì sẽ sinh con gái đẹp)

Trang 29

+ Dạng câu nghi vấn: “얻어먹는 놈이 더운밥 찬밥 가릴까?” (Người đi xin ăn

ch ẳng lẽ còn đòi cơm nguội với cơm nóng; Ăn mày đòi xôi gấc; Kén cá chọn canh;

Có còn hơn không?)

+ Dạng câu mệnh lệnh: “술이 없으면 잔치도 안 된다” (N ếu không có rượu thì không th ể là bữa tiệc được)

1.3.1.2 Đặc trưng về mặt ngữ nghĩa

Có rất nhiều nghiên cứu về đặc trưng của tục ngữ và trong số đó tác giả Lee

Jong Cheol có đưa ra quan điểm như sau “Tục ngữ của chúng ta rất đúng đắn và cách vi ết mang tính sáng tạo”

Tục ngữ thường thể hiện hai hình thức nghĩa đó là nghĩa đen và nghĩa bóng Nghĩa đen là nghĩa trực tiếp thể hiện qua các từ trong câu tục ngữ còn nghĩa bóng là nghĩa gián tiếp mà người nói muốn truyền đạt đến người nghe

Theo quan điểm của tác giả Lee Jong Cheol (2003:11-15) và một số tác giả

khác, đặc trưng về mặt ngữ nghĩa của tục ngữ cụ thể như sau:

Thứ nhất, từ vựng được sử dụng trong tục ngữ đa số dùng rất nhiều từ lóng, từ thô tục Vì tục ngữ chứa đựng nội dung chủ yếu là giáo huấn và trào phúng nên việc

sử dụng từ lóng, từ thô tục cũng rất dễ hiểu Tục ngữ được thể hiện mang tính ẩn dụ nên không chỉ truyền tải nội dung cơ bản mà còn đồng thời phản ánh cả hình ảnh

tổng thể của môi trường Vì sử dụng từ lóng và từ thô tục nên việc diễn đạt tính trào phúng, phê phán và tình cảm, cảm xúc mang tính tiêu cực sẽ thể hiện sâu sắc hơn

cảm giác ca thán, trách than về số phận của bản thân Ngoài từ “chó” ra còn có các

từ khác như “thằng, cơm, phân, …” Lý do trong tục ngữ có sử dụng một số từ thô

tục là do đó là những sự vật, những thứ gần gũi với sinh hoạt hằng ngày của người

Trang 30

dân lúc bấy giờ nên người ta đã sử dụng luôn những từ vựng này để đưa vào tục

ngữ và sử dụng nên có thể dễ hiểu được việc sử dụng các từ thô tục này

Thứ hai, tục ngữ được hình thành theo quan hệ gần giống nhau Rất nhiều tục

ngữ có hình thái khác nhau nhưng về mặt ngữ nghĩa lại giống nhau Ví dụ:

“누워서 떡 먹기” (N ằm ăn bánh teok)

“식은 죽 먹기” (Ăn cháo nguội)

Những câu tục ngữ trên đều mang ý nghĩa cơ bản là “làm một việc gì đó rất dễ dàng” Thông qua các câu tục ngữ có quan hệ gần giống mà thể hiện nội dung rất súc tích

Một số tác giả ở Hàn Quốc đã đưa ra một số nhận định cụ thể thông qua các

luận văn, công trình nghiên cứu của mình Có thể tham khảo công trình của các tác

giả như: Choi Chang Ryeol (1999), Jeong Dal Yeong (1998), Cho Bok Hee (2014)

Đầu tiên, theo tác giả Choi Chang Ryeol12 thì tục ngữ có các đặc trưng như sau:

Thứ nhất, tục ngữ là sản phẩm được hình thành từ xã hội

Thứ hai, tục ngữ phản ánh tính phong tục của địa phương đó

Thứ ba, tục ngữ là công cụ phản ánh thời đại lúc đó hình thành

Thứ tư, tục ngữ phản ánh một cách nguyên trạng triết lý cuộc sống

Thứ năm, tục ngữ rất ngắn gọn, thể hiện dưới dạng ngôn từ chau truốt và không chứa các yếu tố không cần thiết

Thứ sáu, tục ngữ thể hiện sự trao đổi, giao tiếp với nhau rất mềm mại

Tiếp theo, theo tác giả Jeong Dal Yeong 13thì đưa ra nhận định về đặc trưng

của tục ngữ như sau:

Đầu tiên, tục ngữ mang đặc trưng được hình thành, xuất hiện từ trong kinh nghiệm hàng ngày của người dân trong suốt khoảng thời gian dài

Thứ hai, tục ngữ mang đặc trưng là điểm sáng của trí tuệ rất độc đáo, sắc bén

Thứ ba, tục ngữ mang đặc trưng là câu được hoàn chỉnh rất súc tích, ngắn gọn

12 Choi Chang Ryeol (1999), (Nghiên cứu tục ngữ Hàn Quốc), tr.12

13 Jeong Dal Yeong (1998), (Đại từ điển tục ngữ thế giới)

Trang 31

Thứ tư, tục ngữ thể hiện dưới dạng từ rất lôi cuốn thông qua các biện pháp tu

từ như so sánh, ẩn dụ

Cuối cùng, theo tác giả Cho Bok Hee 14thì các đặc trưng của tục ngữ thể hiện như sau:

Thứ nhất, tục ngữ rất ngắn gọn

Thứ hai, tục ngữ thể hiện dưới hình thức tu từ Nghĩa là thể hiện dưới hình

thức tu từ là sự thật mang tính cụ thể hóa một chân lý nào đó mang tính trừu tượng,

phổ biến

Thứ ba, kỹ xảo sử dụng biện pháp tu từ rất nổi bật và đặc sắc Vì thế dễ thu hút

sự quan tâm của đối phương và tạo ấn tượng tốt

Thứ tư, là sản phẩm mang tính xã hội Tục ngữ được tạo ra không chỉ cho một

cá nhân mà dựa theo tiêu chí của tập thể

Thứ năm, tục ngữ thể hiện hình ảnh của cả một xã hội Nó thể hiện dáng vẻ

của cuộc sống, giá trị quan của xã hội đó

Thứ sáu, tục ngữ mang tính giáo huấn đạo đức rất sâu sắc

Tổng hợp từ những quan điểm của các tác giả cho thấy, đầu tiên, tục ngữ là

sản phẩm mang tính xã hội Qua tục ngữ cho thấy được diện mạo, hình ảnh thiên nhiên, xã hội và cả giá trị quan của xã hội đó Thứ hai, tục ngữ là thể hiện mang tính

ẩn dụ Nó được biểu hiện bằng hình thức ẩn dụ biến những chân lý mang tính đời thường, trừu tượng thành sự thật mang tính cụ thể nhất Thứ ba, tục ngữ làm cho

việc giao tiếp giữa mọi người với nhau thêm gần gũi và tạo ấn tượng tốt Cuối cùng,

tục ngữ là những câu được tạo thành rất ngắn gọn và súc tích

Ngày xưa, ngoài tục ngữ, người ta còn sử dụng thành ngữ rất nhiều Như vậy

tục ngữ và thành ngữ có phải là một hay khác nhau

Thành ngữ là những câu nói không nhằm mục đích để hiểu theo nghĩa thông thường, đồng thời ý nghĩa của một thành ngữ thường rất khác với ý nghĩa của từng

chữ một trong câu Hiện có hàng ngàn các thành ngữ khác nhau và chúng thường xuyên được tạo ra ở hầu hết các ngôn ngữ trên thế giới Thành ngữ là cụm từ sử

14 Cho Bok Hee (2014), Tục ngữ và sự phát triển của trẻ con

Trang 32

dụng theo thói quen Theo nội dung luận văn của tác giả Jeong Sang Jin (1995:376)

đã đưa ra hai nội dung cụ thể như sau Thứ nhất, tục ngữ nhìn toàn diện là câu độc

lập nhưng thành ngữ thì cần có những thành phần câu khác bổ sung mới phát huy được vai trò của mình Thứ hai, về mặt ý nghĩa thì tục ngữ mang tính nhấn mạnh

với ý nghĩa mang tính phổ biến, đời thường và trừu tượng nhưng ngược lại đặc trưng của thành ngữ là chỉ thể hiện mang tính ẩn dụ một cách đơn thuần về một sự

thật nào đó Bên cạnh đó luận văn nghiên cứu của tác giả Ju Kyeong Hee

(2002:104) thì đưa ra quan điểm như sau: có thể phân loại thành tục ngữ hay thành

ngữ qua cách thể hiện cụm danh từ “두부 끊기다” (Lu ộc đậu hủ), “굴레 벗을 말”

(Như ngựa tháo cương) Cách thể hiện hình ảnh và thể hiện ý nghĩa của tục ngữ và

thành ngữ khác nhau Ở tục ngữ thì sử dụng phương pháp “trích dẫn”, “liên kết”,

“vi ết lại” nhưng trái lại thành ngữ lại phân tích dựa vào đặc điểm duy nhất là ý

nghĩa của từ vựng trong câu

Với một cách nhìn nhận khác, tác giả Park Se Yeong (2000) đưa ra quan điểm

là thành ngữ không thể hiện rõ những phán đoán mang tính chủ quan của người nói

mà chỉ đơn thuần là đưa ra ý nghĩa mới thông qua hình thức ẩn dụ, so sánh từ và câu, nhưng tục ngữ lại thể hiện sự nhận thức bao gồm sự phán đoán các giá trị mang tính chủ quan của người nói dù là mang tính tích cực hay không tích cực về hoàn

cảnh hiện thực Hơn nữa bản thân tục ngữ được biểu hiện bằng mệnh đề hoàn chỉnh nên thể hiện được cấu trúc ý nghĩa và cấu trúc cú pháp nhưng ngược lại thành ngữ

tự bản thân không thể biểu hiện mệnh đề hoàn chỉnh mà chỉ được viết dưới dạng là thành phần câu giữ vai trò vị từ Và trong câu tục ngữ, việc trích dẫn rất tự do nhưng thành ngữ lại không thể đưa vào tự do như vậy được Ví dụ như trong tục

ngữ thường sử dụng các cách trích dẫn hay cách ví von, so sánh trực tiếp như

“-듯이 (- như, như thể)”, “-처럼 (gi ống như, đã là)”, “-같이 (cùng, gi ống là” rồi đưa

vào trong câu rất tự nhiên Nhưng thành ngữ khi đưa ra câu ví dụ như “미역국을

먹는 것처럼, 그는 시험에 떨어졌다” (Đã là ăn canh rong biển, anh ấy đã rớt kỳ thi),

nếu viết như hình thức này thì đã đánh mất tính chất của thành ngữ

Trang 33

Tục ngữ chứa đựng nhiều suy nghĩ, tư tưởng và được rút gọn gần giống như thơ trong quá trình truyền miệng và đạt được tính hài hòa nhịp điệu, vần điệu nhưng thành ngữ so với tục ngữ thì độ dài cũng ngắn nhưng không thể hiện rõ tính nhịp điệu, vần điệu đó nên có thể so sánh và phân biệt tục ngữ và thành ngữ thông qua tính vần điệu này15

Như vậy, qua các phân tích trên có thể thấy giữa tục ngữ và thành ngữ, cách ngôn có các điểm tương đồng và vì thế rất khó phân biệt rõ rệt qua các khái niệm hay định nghĩa mà cần đi vào đặc tính riêng về cú pháp để nhận biết

1.3.2 Ch ất liệu sử dụng

Tục ngữ mang đặc trưng hình thức thể hiện và nội dung đa dạng được hình thành trong tầng lớp bình dân trong xã hội Vì nội dung và hình thức thể hiện khá đa

dạng nên khó có thể đưa ra các đặc trưng về chất liệu sử dụng của tục ngữ

Theo tác giả Lee Gi Mun 16 thì chia tục ngữ thành chín chủ đề sau như: ngôn

ngữ, nhân sinh, gia đình, xã hội, trí tuệ, chân lý, tâm tính hay tấm lòng, hành vi hay cách cư xử và một số cái khác như về công việc đồng áng hay khí hậu

-Tục ngữ về ngôn ngữ:

“밥맛없는 소리는 하지도 말랬다”

“N ếu được thì đừng nên nói rằng cơm không ngon”

“말 한 마디로 천냥 빛 갚는다”

“B ằng một lời nói có thể trả nợ 1000 lượng”

Hai câu tục ngữ trên nhấn mạnh tầm quan trọng của lời nói, tục ngữ về việc

cẩn trọng với lời nói rất nhiều Chẳng hạn như “가는 말이 고와야, 오는 말이 곱다”

(L ời nói đến đẹp thì lời nói đi cũng đẹp)

Rõ ràng trong cuộc sống hàng ngày, lời nói giữ vai trò rất quan trọng trong giao tiếp, vì vậy sống trong xã hội, không được dùng tùy tiện lời nói mà cần thể

hiện lời nói là một nét văn hóa đẹp của đất nước đó 17

15 Park Se Yeong (2000) [Trọng tâm điểm khác nhau: đặc tính của tục ngữ và thành ngữ], tr.10, Khoa

Qu ốc ngữ trường đại học Gang Nam

16 Lee Ki Mun (1975), (T ục ngữ Hàn Quốc), tập đoàn văn hóa Samsung

17 Kim Jeong A (2002), Nghiên cứu phương án sử dụng tục ngữ trong giáo dục tiếng hàn quốc, luận

văn Thạc sĩ trường Đại học ngoại ngữ Hàn Quốc, tr.38

Trang 34

-Tục ngữ về nhân sinh:

“거지도 부지런해야 더운밥을 얻어먹는다”

Người ăn mày nếu như làm chăm chỉ thì cũng sẽ có cơm nóng để ăn”

“한술 밥에 배부를까?”

“Sao có th ể no bụng với chỉ một muỗng cơm?”

Câu tục ngữ đầu tiên nói về khả năng chịu đựng vất vả khó khăn, nếu ai kiên trì chịu đựng vượt qua thì sẽ có kết quả tốt Câu thứ hai nói về tinh thần lạc quan,

nhắc nhở mọi người không nên nản chí để có được thành công hay thắng lợi, bởi vì theo quy luật tự nhiên muốn có được thành quả tốt từ công việc thì phải trải qua vất

vả, khó khăn và thậm chí có cả thất bại “Vạn sự khởi đầu nan” Rõ ràng hai câu tục

ngữ trên nhấn mạnh về bản chất, tinh thần lạc quan và tính kiên trì Nếu có những điều này thì chắc chắn sẽ vượt qua tất cả khó khăn và đạt được nhiều kết quả tốt

- Tục ngữ về gia đình: Nếu nhìn vào các câu tục ngữ nói về gia đình thì sẽ thấy

xuất hiện các nội dung như “bố mẹ và con cái, anh em, vợ chồng, chữ hiếu…”

“부모 밥도 어렸을 때고, 형의 밥도 어렸을 때다”

(Cơm của Bố Mẹ thì chỉ khi còn nhỏ, cơm của Anh, Chị cũng chỉ khi còn nhỏ)

“자식을 길러 봐야 부모의 은공을 안다”

(Nuôi con m ới biết công ơn của Cha Mẹ)

Gia đình chính là nơi nuôi dưỡng chúng ta trưởng thành Khi còn nhỏ thì Bố

Mẹ là người lo lắng, chăm sóc cho chúng ta, đồng thời Anh, Chị cũng là người giúp

đỡ hay hỗ trợ cho chúng ta Lúc nhỏ, mọi người đều phụ thuộc vào gia đình rất nhiều nhưng đến khi đã lớn thì mỗi người cần tự lập, tự cân nhắc cho cuộc sống của chính bản thân mình, có như vậy mới tự tin bước vào xã hội với cuộc sống mới Bên

cạnh đó có những người vẫn chưa thấu hiểu sự vất vả của đấng sinh thành nhưng đến khi bản thân có gia đình thì lúc đó mới hiểu và cảm nhận được sự vất vả của cha mẹ mình

- Tục ngữ về xã hội: Trong xã hội luôn tồn tại nhiều hình thái của cuộc sống,

vì vậy ra ngoài xã hội cần cân nhắc kỹ trước khi làm việc gì Có những người chỉ luôn nghĩ đến lợi ích của bản thân mà không cần nghĩ đến người khác, câu tục ngữ:

Trang 35

“떡 사먹을 양반은 눈만 봐도 안다” (Ch ỉ cần nhìn bằng mắt người mua bánh tteok ăn là biết) muốn nói về cách nhìn nhận, đánh giá con người nào đó qua hành

động Qua sự việc cụ thể là có thể biết được người đó là người như thế nào Bên

cạnh đó, đôi lúc trong cuộc sống không nên đặt niềm tin quá nhiều vào bất cứ ai, vì đôi khi vì quá tin tưởng nhưng người đó sẽ phản bội lại mình

“내 밥 먹은 놈이 내 흉 더 본다” (Người mà ăn cơm của mình lại cho thấy nhược điểm của mình)

- Tục ngữ về trí tuệ: “장과 의사는 오래 묵을수록 좋다” (Tương và bác sĩ càng để lâu thì sẽ càng tốt), rõ ràng dù là người chưa có kiến thức hay kinh nghiệm

nhưng sau một thời gian thì sẽ tích lũy được kiến thức và kinh nghiệm, bác sĩ mà

chữa bệnh lâu thì dần dần kinh nghiệm và chuyên môn cũng sẽ giỏi lên, tương tự khi tương mà được ngâm ủ càng lâu thì vị sẽ càng ngon và đậm đà

- Tục ngữ về chân lý:

“소금 먹은 놈이 물도 켠다”

(Ai ăn muối thì sẽ khát nước)

Đây chính là chân lý trong cuộc sống, những gì chúng ta làm thì kết quả sẽ

tương ứng với công việc ấy Ở Việt Nam cũng có câu tục ngữ tương tự “Gieo nhân nào, g ặt quả ấy”

- Tục ngữ về tâm tính hay tấm lòng, bản chất rất nhiều, cụ thể như: “가는 떡이

하나면 오는 떡도 하나다” (M ột miếng bánh tteok cho đi thì sẽ có một miếng bánh tteok chuy ển đến) Dù là ai, người lạ hay hàng xóm nhưng nếu chúng ta sống tốt và

hỗ trợ, chia sẻ với người ta lúc khó khăn thì chắc chắn chúng ta cũng sẽ nhận lại sự

hỗ trợ, giúp đỡ của người khác

- Tục ngữ về hành vi, cách cư xử: “쉬파리 무서워 장 못 담글까?” (Vì m ột con

ru ồi nhặng mà không thể làm tương sao?), câu tục ngữ nhấn mạnh về sự nỗ lực, khả

năng chịu đựng cao, một khi đã cố gắng, nỗ lực hết sức mình thì bất cứ việc gì cũng

sẽ gặt hái được kết quả tốt, không nên vì một lý do hay cản trở nào đó rất nhỏ mà lại không dám tự tin để làm việc mình muốn

Trang 36

-Tục ngữ về cái khác như về công việc đồng áng hay khí hậu: “호미로 막을

것을 가래로 막는다” (Ch ặn bằng xẻng cái chằng bằng liềm móc, Dùng dao mổ trâu để mổ gà), câu tục ngữ muốn nói về việc sử dụng sức lực và công sức quá lớn

quá nhiều cho một công việc quá nhỏ, nghĩa là chưa có sự cân nhắc phù hợp cho công việc dự định làm

Qua các quan điểm đưa ra, rõ ràng tục ngữ mang nhiều đặc trưng nhưng xét cho cùng vẫn là những đặc trưng gần gũi, gắn liền với sinh hoạt hàng ngày của người dân để từ đó được hình thành và sử dụng rất tự nhiên trong giao tiếp

1.3.3 Vai trò c ủa tục ngữ

Từ xưa, trong đời sống sinh hoạt hằng ngày, tục ngữ giữ vai trò quan trọng và cũng là nét văn hóa truyền thống tốt đẹp của dân tộc Thông qua tục ngữ có thể hiểu

rõ về những đặc trưng về phong tục, tập quán, những nét văn hóa đặc trưng của dân

tộc đó Tác giả Kim Seo Yon cũng đã đưa quan niệm về tục ngữ “Tục ngữ là thể

lo ại văn học ngắn nhất được tổ tiên lưu truyền lại từ xưa”18 Vì tục ngữ thể hiện ý nghĩa hàm chứa những lời giáo huấn sâu sắc mà gần gũi trong khoảng thời gian rất dài Và thông qua tục ngữ thì có thể hiểu được suy nghĩ, lối sống và cách tư duy của các thế hệ trước

Tác giả Choi Chang Ryeol (1999)19đã đưa ra quan điểm về vai trò của tục ngữ

gồm hai nội dung là giáo huấn và trào phúng

Nói đến vai trò mang tính giáo huấn: giúp mọi người nhận biết ra về cách đối nhân xử thế và bài học kinh nghiệm về cuộc sống bằng phương pháp ẩn dụ những chân lý mang tính truyền thống, đại chúng nhất

“돌다리도 두드려고 보고 건넌다”

“Qua c ầu đá cũng phải ngó quanh” (Cẩn tắc vô ưu)

Đây là câu tục ngữ rất gần gũi mà hầu như ai cũng biết, nói về tính cách, bản tính của con người là cần cẩn thận và cân nhắc kỹ trước khi quyết định làm việc gì

Trang 37

(Cân nh ắc về mặt bàn mà thực hiện) (Liệu cơm gắp mắm)

Câu tục ngữ sử dụng câu mệnh lệnh với nghĩa đen là cân nhắc hình dáng hay

độ nghiêng của mặt bàn mà trang trí hay bày thức ăn Đồng thời nó còn có vai trò giáo huấn

Tục ngữ không chỉ thông qua các sản phẩm của trí tuệ và chân lý mang tính đời thường từ trong sinh hoạt hàng ngày rồi đưa ra phương hướng của cuộc sống mà bên cạnh đó tục ngữ còn mang yếu tố thuyết phục rất đơn thuần, mộc mạc, khuyên răn đối phương nên có thể thấy rõ ràng tục ngữ mang tính giáo huấn

Tính châm biếm, trào phúng trong tục ngữ cũng được thể hiện rất nhiều bên

cạnh tính giáo huấn

“우물 안 개구리” (Ếch ngồi đáy giếng), câu tục ngữ này muốn nói đến những

người luôn hay khoe khoang hay tỏ ra mình hoàn hảo trong khi những gì mình biết

chỉ là một phần nhỏ trong thế giới tri thức

“고래 싸움에 새우 등 터진다” (Cá voi đánh nhau lưng tôm bị vỡ, Trâu bò húc nhau ru ồi muỗi chết), câu tục ngữ thể hiện sự châm biếm về việc những thế lực

mạnh, kẻ mạnh mà xảy ra tranh cãi hay đánh nhau thì dù không liên quan đến bản thân nhưng kẻ yếu vẫn bị ảnh hưởng

Trong tục ngữ của Hàn Quốc, những hình ảnh động vật như “con ếch”, “con tôm”, “cá voi” được sử dụng rất nhiều để thể hiện rõ tính châm biếm, trào phúng

Tục ngữ thể hiện tính trào phúng có đặc trưng chủ yếu sử dụng hình thức như:

“miêu t ả”, “cảnh báo”, “cấm đoán, cấm kỵ”

Trang 38

Ti ểu kết Chương 1

Qua chương 1, chúng tôi đã khái quát những nội dung liên quan đến phạm vi

và nghiên cứu của đề tài cụ thể là khái niệm về văn hóa, tục ngữ, từ đó đưa ra mối quan hệ giữa văn hóa và tục ngữ để làm nội dung phân tích và tìm hiểu cụ thể hơn cho các nội dung sau đó

Bên cạnh việc khái quát về đất nước Hàn Quốc, luận văn trình bày nội dung về điều kiện tự nhiên và lịch sử hình thành và đưa ra những yếu tố chi phối, ảnh hưởng đến văn hóa ẩm thực của người Hàn Quốc ở mỗi thời kỳ lịch sử Và sau đó phân tích, tìm hiểu về các đặc trưng của tục ngữ như về mặt ngữ pháp, ngữ nghĩa, về chất

liệu sử dụng và vai trò của tục ngữ Tục ngữ thường bao hàm hai lớp nghĩa đó là nghĩa đen và nghĩa bóng và có thể nói hai lớp nghĩa này sẽ làm nổi bật hơn những nét văn hóa nói chung và văn hóa ẩm thực nói riêng của đất nước Hàn Quốc ở

những chương sau

Trang 39

CHƯƠNG 2: ĐẶC TRƯNG ẨM THỰC HÀN QU ỐC THỂ HIỆN QUA TỤC NGỮ

Thức ăn đáp ứng nhu cầu tất yếu và cơ bản nhất để duy trì cuộc sống của tất cả

mọi người nên nó giữ vai trò rất mật thiết đối với sự phát triển của nhân loại, từ đời

sống cá nhân đến đời sống văn hóa, xã hội Và thông qua ẩm thực của một dân tộc, chúng ta có thể tìm hiểu và biết được nhiều nét văn hóa đặc trưng của dân tộc đó Văn hóa ẩm thực của một dân tộc được hình thành chủ yếu dựa trên những điều

kiện tự nhiên của khu vực nơi mà dân tộc đó sinh sống, bên cạnh đó từ ảnh hưởng

của môi trường xã hội mà văn hóa ẩm thực sẽ có sự phát triển và thay đổi Hàn

Quốc là bán đảo nằm ở vị trí nhô ra ở phía đông Châu Á, sự thay đổi bốn mùa của khí hậu một cách rõ rệt, và lại có sự khác nhau về khí hậu theo từng nơi vì vậy mà

những thực phẩm hình thành một cách tự nhiên theo đặc trưng của từng địa phương Qua đây có thể thấy những đặc trưng của ẩm thực Hàn Quốc như sau

Đầu tiên là sự phát triển của thực phẩm lên men, việc chế biến các thực phẩm lên men như tương, kim chi, mắm… và cả kỹ thuật bảo quản thực phẩm cũng được

tiếp cận từ rất sớm Thứ hai, ẩm thực Hàn Quốc so với ẩm thực của các quốc gia khác đó là khi món ăn được chế biến, chứa đựng trong đó là sự chân thành và sự nỗ

lực hết mình Trong quá trình làm món ăn, người chế biến đã thể hiện sự quyết tâm

của bản thân, thái độ đúng đắn và mong muốn tạo được vị ngon thực sự của món ăn

đó Thứ ba, thưởng thức ẩm thực một cách tích cực Người Hàn Quốc thích những món ăn nóng có nước canh và thích các loại gia vị mạnh Trong đời sống ẩm thực hàng ngày ở Hàn Quốc, món chủ đạo là cơm có vị thanh đạm, nhạt và cần có sự kết

hợp hài hòa với các vị khác như mặn, ngọt, cay… nên đó cũng là nguồn gốc của

việc xuất hiện những món ăn phụ kèm theo với cơm Đồng thời các loại gia vị như

tỏi, ớt, gừng, hành… đều có mặt trong chế biến các món ăn thông thường, vai trò

của các gia vị này không chỉ giúp cho cảm giác ngon miệng mà mặt khác còn giúp

bảo quản lưu trữ thức ăn Thứ tư, chú ý đến các món ăn được gọi là yaksik dong

won (약식동원), đó là thức ăn vừa bổ dưỡng cho cơ thể vừa như là bài thuốc để ngăn ngừa được bệnh tật hoặc hồi phục cơ thể nhanh sau bệnh, nhiều nguyên liệu

Trang 40

làm thuốc phù hợp với món ăn cũng được sử dụng rất nhiều trong chế biến các món

ăn ở Hàn Quốc, cụ thể như gừng, quế, lá ngải cứu, bạc hà, lựu, sâm… vẫn được sử

dụng rộng rãi trong chế biến món ăn cho đến thời điểm hiện tại 20 Vì vậy những món ăn ngon và đầy đủ chất sẽ giúp cho cơ thể khỏe mạnh nên người Hàn còn ví von rằng nếu ăn món ngon thì sẽ món ăn đó sẽ ở lại trong bụng “맛있는 음식이 뱃속에 남는다” (Món ăn ngon thì còn lại trong bụng)

Hàn Quốc với khí hậu có bốn mùa rõ rệt cùng với sự phát triển của nông nghiệp nên sản xuất ra gạo và ngũ cốc rất nhiều và đa dạng Ba mặt giáp biển nên nguồn thủy hải sản rất phong phú, từ đó hình thành việc chế biến món ăn với rau củ

và thịt, và sớm hình thành các món ăn lên men như các loại tương, kim chi và mắm cùng với cách thức bảo quản thực phẩm sử dụng trong sinh hoạt hàng ngày

Thức ăn cơ bản ở Hàn Quốc là cơm, canh và nhiều loại món ăn kèm theo Tất

cả những món này sẽ được bày trên bàn và người Hàn Quốc sử dụng muỗng, đũa để

ăn Nói đến thực phẩm Hàn Quốc thì thông thường cơm sẽ ăn kèm với các món ăn

phụ và việc hấp thụ các chất dinh dưỡng đều như nhau nên rất tốt cho sức khỏe.21

2.1 Đặc trưng ẩm thực Hàn Quốc theo bữa ăn hàng ngày

2.1.1 Cơm –

Bàn ăn thường ngày của người Hàn Quốc được chia thành cơm (밥, bap) và

món ăn kèm (반찬, banchan) Những món ăn thường ngày chủ yếu gồm cơm, kim chi (김치, kimchi), các loại tương (장류, jangryu), canh (국, guk), mắm (젓갈,

jeotgal) [Lim Kyung Sun 2009: 110]

Cơm được coi là món ăn chính và chủ yếu trong sinh hoạt hàng ngày Cơm thì cũng có rất nhiều loại cơm như cơm trắng, cơm đậu, cơm lúa mạch, cơm đậu

phộng…Trong cuốn sách từ điển tục ngữ ẩm thực của tác giả Song Chae Seon

(1998), tác giả đã tổng hợp được 985 câu tục ngữ về ẩm thực các loại

20 Lee Bo Sun, Ham Hyeong Man, Kim Jeong Su, Lee Han Suk, Bae Hyun Su, Ẩm thực truyền thống

và văn hóa ẩm thực của Hàn Quốc, Nxb Baek San, 2013, tr 20, 21

21 Bộ Nội vụ, Cục Quản lý Xuất Nhập cảnh – Bộ phận chính sách người nước ngoài, Tìm hiểu về xã

h ội Hàn Quốc, tr 63, 64

Ngày đăng: 18/04/2021, 23:02

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
7. Nguy ễ n Th ị H ồ ng H ạnh (2013), Văn hóa ứ ng x ử c ủa ngườ i Hàn Qu ố c qua t ụ c ng ữ , thành ng ữ (so sánh v ới Việt Nam), Lu ận văn Th ạ c s ĩ Trường Đạ i h ọ c Khoa h ọ c xã h ội và Nhân văn Tp. H ồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: (so sánh với Việt Nam)
Tác giả: Nguy ễ n Th ị H ồ ng H ạnh
Năm: 2013
9. Hoàng Phê (Ch ủ biên, 1995), T ừ điể n Ti ế ng Vi ệ t, Nxb. Đà Nẵ ng Sách, tạp chí
Tiêu đề: (Chủ biên, 1995)
Nhà XB: Nxb. Đà Nẵng
23. 곽군아 (2009), 한 - 중 속담 대비 연구, 성균관대학교 일반대학원 석사 학위논문 (Kwak Gun A 2009, Nghiên c ứu so sánh đối chiếu tục ngữ Hàn – Trung, Lu ận văn Thạc sĩ, trường Đại học Sunggyunkwan).24. 박정아 (2015), 속담 한 상 푸짐하네, 개암나무 출판사 (Park Jeong A Sách, tạp chí
Tiêu đề: (Kwak Gun A 2009, Nghiên cứu so sánh đối chiếu tục ngữ Hàn – Trung, Luận văn Thạc sĩ, trường Đại học Sunggyunkwan)."24. 박정아 (2015), 속담 한 상 푸짐하네, 개암나무 출판사
Tác giả: 곽군아 (2009), 한 - 중 속담 대비 연구, 성균관대학교 일반대학원 석사 학위논문 (Kwak Gun A 2009, Nghiên c ứu so sánh đối chiếu tục ngữ Hàn – Trung, Lu ận văn Thạc sĩ, trường Đại học Sunggyunkwan).24. 박정아
Năm: 2015
30. 조효순 (2005), 한국 전통생활문화와 현대예절, 일지사 출판사 (Jo Hyo Sun (2005), Văn hóa sinh hoạt truyền thống và lễ nghi hiện đại của Hàn Quốc, Nxb Iljisa, 515tr.)31. 임경순, (2009), 한국어문화교육을 위한 한국문화의 이 해, 한국외국어대학교 Sách, tạp chí
Tiêu đề: (Jo Hyo Sun (2005), Văn hóa sinh hoạt truyền thống và lễ nghi hiện đại của Hàn Quốc, Nxb Iljisa, 515tr.)
Tác giả: 조효순 (2005), 한국 전통생활문화와 현대예절, 일지사 출판사 (Jo Hyo Sun (2005), Văn hóa sinh hoạt truyền thống và lễ nghi hiện đại của Hàn Quốc, Nxb Iljisa, 515tr.)31. 임경순
Nhà XB: Nxb Iljisa
Năm: 2009
43. 이지선 (2006), 한중 속담 비교연구, 강릉대학교 교육대학원, 중국어교육전공 석사학위논문 (Lee Ji Seon 2006, Nghiên c ứu so sánh tục ngữ Hàn – Trung, Lu ận văn Thạc sĩ, Họ c vi ệ n Giáo d ục trường Đạ i h ọ c GangRyung) Sách, tạp chí
Tiêu đề: (Lee Ji Seon 2006, Nghiên cứu so sánh tục ngữ Hàn – Trung
Tác giả: 이지선
Năm: 2006
46. 하청 (2004), 한 . 중 . 일 문화비교 고찰 : 세 나라의 음식문화 비교 분석을 증심으로 (Ha Cheong (2004), Kh ảo sát so sánh văn hóa Hàn – Nhật – Trung:tr ọng tâm là phân tích so sánh văn hóa ẩm thực của ba quốc gia, Lu ận văn Th ạ c s ỹ , trường đạ i h ọ c Chung Nam) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ha Cheong (2004), Kh"ảo sát so sánh văn hóa Hàn – Nhật – Trung: "trọng tâm là phân tích so sánhvăn hóa ẩm thực của ba quốc gia
Tác giả: 하청 (2004), 한 . 중 . 일 문화비교 고찰 : 세 나라의 음식문화 비교 분석을 증심으로 (Ha Cheong
Năm: 2004
47.주령 (2008), 한.중 혼례와 혼례음식의 비교 연구 (Ju Ryeong (2008), Nghiên c ứu so sánh ẩm thực trong ngày hôn lễ Hàn – Trung, Lu ận văn Thạ c s ỹ , trường Đạ i h ọ c Busan).III. Website48. 재미있는 농사 속담 홈페이지:http://m.blog.daum.net/wellbeingapples/1078 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu so sánh ẩm thực trong ngày hôn lễ Hàn – Trung, "Luận văn Thạc sỹ, trường Đại học Busan). "III. Website
Tác giả: 주령 (2008), 한.중 혼례와 혼례음식의 비교 연구 (Ju Ryeong
Năm: 2008
50. 한국세시풍속사전 홈페이지: http://folkency.nfm.go.kr/sesi/index.jsp 51. 한국전통음식연구소 홈페이지: http://www.kfr.or.kr Link
1. Nguy ễ n Th ị Nga (2018), Văn hóa ẩ m th ự c Hàn Qu ố c qua t ụ c ng ữ , T ạ p chí Hàn Qu ố c, s ố 1(23), 3/2018, tr 70-82 Khác
2. Nhi ề u tác gi ả (2016), Nhân h ọc đại cương, Khoa Nhân họ c – Trườ ng Đạ i h ọ c Khoa h ọ c xã h ội và Nhân văn Tp. H ồ Chí Minh Khác
3. E.B.Tyl or, Văn hóa nguyên thủ y, Huy ề n Giang d ị ch t ừ ti ế ng Nga, T ạ p chí Văn hóa Nghệ thu ậ t, Hà N ộ i, tr.13 Khác
4. Tr ầ n Ng ọ c Thêm (2013), Nh ữ ng v ấn đề văn hóa họ c lí lu ậ n và ứ ng d ụ ng, Nxb. Văn hóa – Văn ng h ệ Khác
5. Ban biên so ạ n giáo trình Hàn Qu ố c h ọ c (2008), Xã h ộ i Hàn Qu ố c hi ện đạ i, Nxb. Đạ i h ọ c Qu ố c gia Hà N ộ i Khác
6. Lương Quố c An (2017), H ả i n ữ Jeju – Nhìn t ừ góc độ văn hóa biể n, T ạ p chí Hàn Qu ố c, s ố 01 (19), tr.38-45 Khác
8. Tr ầ n Th ị Thu Lương (2011), Đặc trưng văn hóa Hàn Quố c t ừ truy ề n th ố ng đế n hi ện đạ i, Nxb. T ổ ng h ợ p Tp. H ồ Chí Minh Khác
10. H ội Văn nghệ Dân gian Vi ệ t Nam (2010), Kh ả o lu ậ n v ề t ụ c ng ữ , Nxb. Khoa h ọ c xã h ộ i Khác
11. Tr ần Văn Tiế ng (2002), Gi ớ i thi ệ u m ộ t vài t ụ c ng ữ Hàn Qu ố c g ần nghĩa v ớ i t ụ c ng ữ Vi ệ t, T ạ p chí Nghiên c ứ u Vi ệ t Nam, s ố 3, Hàn Qu ố c, tr. 502-509 Khác
12. Tr ần Văn Tiế ng (2006), So sánh m ộ t s ố đặc điể m cú pháp, ng ữ nghĩa củ a t ụ c ng ữ ti ế ng Vi ệ t và ti ế ng Hàn, Lu ậ n án Ti ế n s ĩ , Vi ệ n Khoa h ọ c xã h ộ i vùng Nam B ộ Tp. H ồ Chí Minh Khác
13. Nguy ễ n Long Châu (2000), Tìm hi ểu văn hóa Hàn Quố c, Nxb. Giáo d ụ c Hà N ộ i Khác
14. Ki ế n V ăn, Nguyễn Anh Dũng (biên dị ch) 2010: Hàn Qu ố c – Đất nướ c &amp; Con ngườ i – Nxb Th ời đạ i, 775 tr Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w