1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Khảo sát thành ngữ, tục ngữ có thành tố chỉ con số trong tiếng lào, có so sánh với tiếng việt

103 176 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 103
Dung lượng 1,6 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tác giả đã khái quát các phương diện cơ bản của thành ngữ về đặc trưng cấu trúc, ngữ nghĩa của thành ngữ tiếng Việt, phân biệt thành ngữ với tục ngữ, quan hệ giữa thành ngữ với văn hoá v

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Phoukham MATTHIVONG

KHẢO SÁT THÀNH NGỮ, TỤC NGỮ CÓ THÀNH TỐ CHỈ

CON SỐ TRONG TIẾNG LÀO, CÓ SO SÁNH

VỚI TIẾNG VIỆT

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Phoukham MATTHIVONG

KHẢO SÁT THÀNH NGỮ, TỤC NGỮ CÓ THÀNH TỐ CHỈ CON SỐ TRONG TIẾNG LÀO, CÓ SO SÁNH

VỚI TIẾNG VIỆT

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi, Phoukham MATTHIVONG xin cam đoan luận văn: “Khảo sát thành ngữ, tục ngữ có thành tố chỉ con số trong tiếng Lào có so sánh với tiếng Việt” là

công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu trong luận văn là chính xác và có nguồn gốc rõ ràng Toàn bộ kết quả nghiên cứu của luận văn chƣa đƣợc công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào khác

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Lời đầu tiên tôi xin được gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc nhất đến PGS.TS Phạm Hùng Việt, người đã nhiệt tình trực tiếp chỉ dẫn tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn, hướng dẫn tôi xác định được hướng đi, khắc phục được những hạn chế, và giúp tôi vượt qua nhiều khó khăn để hoàn thành luận văn này

Tôi cũng xin chân thành cảm ơn các Thầy Cô trong trường Đại học khoa học xã hội & nhân văn, đặc biệt là các thầy cô trong Khoa Đào tạo Sau Đại học

đã cho tôi những kiến thức bổ trợ, vô cùng có ích trong những năm học vừa qua, cũng như giúp tôi có kiến thức để thực hiện luận văn của mình

Cuối cùng tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn đến gia đình, bạn bè, những người đã luôn bên tôi, động viên và khuyến khích tôi trong quá trình thực hiện

đề tài luận văn của mình

Tôi xin chân thành cảm ơn

Hà Nội, ngày tháng năm 2018

TÁC GIẢ LUẬN VĂN

Phoukham MATTHIVONG

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC BẢNG, BIỂU ĐỒ vi

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử nghiên cứu đề tài 2

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 6

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 7

5 Phương pháp nghiên cứu 7

6 Ý nghĩa của đề tài 7

7 Bố cục luận văn 8

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN 9

1.1 LÝ THUYẾT VỀ THÀNH NGỮ 9

1.1.1 Khái niệm thành ngữ, tục ngữ 9

1.1.1.1 Đặt vấn đề 9

1.1.1.2 Thành ngữ,tục ngữ trong tiếng Lào 11

1.1.1.3 Thành ngữ trong tiếng Việt 12

1.1.2 Đặc trưng của thành ngữ, tục ngữ 14

1.1.2.1 Trong tiếng Lào 14

1.1.2.2 Trong tiếng Việt 17

1.1.3 Phân biệt thành ngữ với tục ngữ 21

1.2 NHÓM THÀNH TỐ CHỈ CON SỐ TRONG TIẾNG LÀO VÀ TIẾNG VIỆT 24

1.2.1 Khái niệm con số 24

1.2.2 Đặc trưng của con số 26

1.2.3 Ý nghĩa của con số trong vốn từ cơ bản 28

1.3 VẤN ĐỀ NGHĨA BIỂU TRƯNG 29

Trang 6

1.3.1 Khái niệm nghĩa biểu trưng 29

1.3.2 Nghĩa biểu trưng trong thành ngữ 30

TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 32

CHƯƠNG 2 ĐẶC ĐIỂM CẤU TẠO CỦA THÀNH NGỮ, TỤC NGỮ CÓ THÀNH TỐ CHỈ CON SỐ TRONG TIẾNG LÀO (SO SÁNH VỚI TIẾNG VIỆT) 33

2.1 THÀNH TỐ CHỈ CON SỐ TRONG THÀNH NGỮ, TỤC NGỮ TIẾNG LÀO VÀ TIẾNG VIỆT 33

2.1.1 Thành tố chỉ con số trong thành ngữ, tục ngữ tiếng Lào 33

2.1.2 Thành tố chỉ con số trong thành ngữ tiếng Việt 37

2.1.3 So sánh thành tố chỉ con số trong thành ngữ, tục ngữ tiếng Lào và tiếng Việt 42

2.2 CẤU TẠO CỦA THÀNH NGỮ CÓ THÀNH TỐ CHỈ CON SỐ TRONG TIẾNG LÀO VÀ TIẾNG VIỆT 49

2.2.1 Cấu tạo của thành ngữ, tục ngữ có thành tố chỉ con số trong tiếng Lào 50

2.2.1.1 Thành ngữ gồm 3 thành tố 50

2.2.1.2 Thành ngữ gồm 4 thành tố 50

2.2.1.3 Thành ngữ gồm 5 thành tố 50

2.2.1.4 Thành ngữ gồm từ 6 thành tố trở lên 51

2.2.2 Cấu tạo của thành ngữ có thành tố chỉ con số trong tiếng Việt 52

2.2.2.1 Thành ngữ gồm 3 thành tố 52

2.2.2.2 Thành ngữ gồm 4 thành tố 52

2.2.2.3 Thành ngữ gồm 5 thành tố 53

2.2.2.4 Thành ngữ gồm từ 6 thành tố trở lên 53

2.2.3 So sánh cấu tạo của thành ngữ, tục ngữ có thành tố chỉ con số trong tiếng Lào với tiếng Việt 53

TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 56

Trang 7

CHƯƠNG 3 ĐẶC ĐIỂM NGỮ NGHĨA CỦA THÀNH NGỮ, TỤC NGỮ

CÓ THÀNH TỐ CHỈ CON SỐ TRONG TIẾNG LÀO (CÓ SO SÁNH VỚI

TIẾNG VIỆT) 58

3.1 NGỮ NGHĨA CỦA CÁC THÀNH TỐ CHỈ CON SỐ TRONG THÀNH NGỮ, TỤC NGỮ TIẾNG LÀO 58

3.1.1 Sự kết hợp của các con số với các từ loại trong thành ngữ, tục ngữ tiếng Lào 58

3.1.1.1 Con số kết hợp với danh từchỉ thời gian 59

3.1.1.2 Con số kết hợp với danh từ chỉ người 60

3.1.1.3 Con số kết hợp với danh từ chỉ bộ phận cơ thể người 60

3.1.1.4 Con số kết hợp với danh từ chỉ động vật 61

3.1.1.5 Con số kết hợp với danh từ chỉ thực vật 61

3.1.1.6 Con sốkết hợp với danh từ chỉ sự vật, hiện tượng 61

3.1.2 Nghĩa biểu trưng của các con số trong thành ngữ, tục ngữ Lào 62

3.1.2.1 Nghĩa biểu trưng của các con số lẻ 62

3.1.2.2 Nghĩa biểu trưng của các con số chẵn 65

3.1.2.3 Nghĩa biểu trưng của các con số lớn 67

3.2 BIỂU TRƯNG VĂN HÓA CỦA THÀNH NGỮ, TỤC NGƯ CÓ THÀNH TỐ CHỈ CON SỐ TRONG TIẾNG LÀO 67

3.2.1 Thành ngữ thể hiện nhận thức về tự nhiên 68

3.2.2 Thành ngữ thể hiện nhận thức về gia đình, xã hội 70

3.3 SO SÁNH ĐẶC ĐIỂM NGỮ NGHĨA CỦA THÀNH NGỮ CÓ THÀNH TỐ CHỈ CON SỐ TRONG TIẾNG LÀO VỚI TIẾNG VIỆT 76

3.2.1 Những điểm tương đồng 76

3.2.2 Những điểm khác biệt 83

TIỂU KẾT CHƯƠNG 3 86

KẾT LUẬN 88

TÀI LIỆU THAM KHẢO 90

Trang 8

DANH MỤC BẢNG, BIỂU ĐỒ

Danh mục biểu đồ

Biểu đồ 2.1 Biểu đồ về cấu tạo thành ngữ, tục ngữ có thành tố chỉ con số trong tiếng Lào 54 Biểu đồ 2 2 Biểu đồ về cấu tạo thành ngữ có thành tố chỉ con số trong tiếng Việt 54

Danh mục bảng

Bảng 2.1 Thống kê các thành tố chỉ con số xuất hiện trong thành ngữ, tục ngữ Lào 34 Bảng 2.2 Thống kê số thành tố chỉ con số xuất hiện trong một thành ngữ, tục ngữ tiếng Lào 35 Bảng 2.3 Thống kê các thành tố chỉ con số xuất hiện trong thành ngữ Việt 38 Bảng 2.4 Thống kê số thành tố chỉ con số xuất hiện trong một thành ngữ tiếng Việt 40 Bảng 2.5 Thống kê các thành tố chỉ con số xuất hiện cả trong thành ngữ, tục ngữ tiếng Lào và thành ngữ tiếng Việt 43 Bảng 2.6 Thứ tự về số lần xuất hiện của các thành tố chỉ con số trong thành ngữ, tục ngữ tiếng Lào và thành ngữ tiếng Việt 44 Bảng 2.7 So sánh số thành tố chỉ con số trong một thành ngữ, tục ngữ tiếng Lào

và tiếng Việt 48 Bảng 2.8 So sánh số lƣợng và tỷ lệ các loại cấu tạo thành ngữ, tục ngữ có thành

tố chỉ con số trong tiếng Lào và tiếng Việt 55 Bảng 2.9 So sánh thứ tự về tỷ lệ xuất hiện của các loại cấu tạo thành ngữ, tục ngữ có thành tố chỉ con số trong tiếng Lào và tiếng Việt 56 Bảng 3.1 Bảng thống kê về sự kết hợp của con số với các danh từ trong thành ngữ, tục ngữ Lào……… 58 Bảng 3.2 So sánh về ngữ nghĩa của con số và các thành ngữ chỉ con số trong thành ngữ, tục ngữ tiếng Lào và thành ngữ Việt 83

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Thành ngữ là một bộ phận quan trọng trong kho tàng văn học dân gian của Lào cũng như Việt Nam, và được xem là những viên ngọc quý giá Do được hình thành và phát triển lâu dài trong lịch sử dân tộc, thành ngữ có nội dung ngữ nghĩa sâu rộng Thành ngữ phản ánh nhiều mặt tri thức về thế giới tự nhiên và về đời sống xã hội của con người qua các thời đại đã sản sinh ra nó Thành ngữ góp phần làm giàu, làm đẹp cho ngôn ngữ dân tộc trên nhiều phương diện, lưu giữ được nhiều giá trị văn hóa truyền thống và góp phần làm nên bản sắc văn hóa dân tộc

Khảo sát nhóm thành ngữ, tục ngữ có thành tố chỉ con số là một việc rất ý nghĩa Vì các thành ngữ có thành tố chỉ con số có số lượng khá lớn, và phong phú trong thành ngữ tiếng Lào Việc khảo sát nhóm thành ngữ này sẽ giúp ta hiểu thêm về thành ngữ tiếng Lào, vai trò của nhóm từ chỉ con số trong thành ngữ, từ đó hiểu thêm về vốn từ cơ bản của tiếng Lào

Lào và Việt Nam là hai nước láng giềng có mối quan hệ gần gũi, gắn bó với chung hàng nghìn kilômét đường biên giới, cùng dùng chung dòng nước Mêkông, cùng dựa lưng vào dãy Trường Sơn hùng vĩ Tình cảm thuỷ chung, son sắt của hai nước được hình thành và vun đắp trong suốt chiều dài đấu tranh bảo

vệ đất nước cũng như quá trình xây dựng, phát triển đất đến ngày hôm nay Cả Lào và Việt Nam đều là những quốc gia đa dân tộc, có lịch sử phát triển lâu đời trên bán đảo Đông Dương Trong quá trình cộng cư, sống xem cài những cư dân Việt Nam và cư dân Lào trên địa bàn biên giới của hai nước đã tạo nên những nét giao thoa, tương đồng trong văn hoá, tôn giáo giữa hai dân tộc

Thành ngữ cũng chính là m ột sản phẩm văn hoá vô giá đối với Lào cũng

như Việt Nam Vì vậy việc nghiên cứu “Khảo sát thành ngữ, tục ngữ có thành

tố chỉ con số trong tiếng Lào có so sánh với tiếng Việt” có ý nghĩa rất lớn Người

viết hy vo ̣ng qua đề tài này sẽ chỉ ra được sự giống nhau và khác nhau trong các thành ngữ có thành tố chỉ con số trong tiếng Lào và tiếng Việt, qua đó vừa khẳng

Trang 10

đi ̣nh nét riêng biê ̣t trong ngôn ngữ , văn hoá đă ̣c sắc riêng của mỗi dân tô ̣c cũng như vừa khẳng đi ̣nh được sự gần gũi , gắn bó giữa hai nước trong những nét tương đồng Đặc biệt người viết mong muốn qua bài nghiên cứu của mình có thể giúp cho mọi người có những hiểu biết sâu sắc hơn về văn hóa đ ặc trưng của nước mình và nước ba ̣n, qua đó góp phần nâng cao hơn nữa mối quan hê ̣ gắn bó hữu nghị giữa hai nước Lào - Việt

2 Lịch sử nghiên cứu đề tài

Do đóng vai trò quan trọng trong kho tàng văn học Lào cũng như trong kho từ vựng của một ngôn ngữ, nên thành ngữ là một trong những thể loại văn học dân gian có sức thu hút mạnh mẽ đối với nhiều người trong giới nghiên cứu Không chỉ vì thành ngữ là sản phẩm của tư duy mà còn là công cụ diễn đạt những tri thức, kinh nghiệm quý báu, những triết lý nhân sinh sâu sắc được lưu truyền từ đời này sang đời khác Cho đến nay việc nghiên cứu về thành ngữ của Lào cũng như Việt Nam đã được quan tâm và nghiên cứu nhiều hơn

Tại Lào, năm 1987, cuốn Văn học Lào dày 527 trang, một công trình hợp

tác giữa Uỷ ban Khoa học Xã hội Lào với Viện Nghiên cứu Đông Nam Á trực thuộc Uỷ ban Khoa học Xã hội Việt Nam được in tại Nhà xuất bản Quốc gia Lào Đây là một công trình nghiên cứu tương đối có hệ thống, có độ tin cậy khoa học về văn học Lào Do mục đích của công trình là giới thiệu một cách khái quát

về văn học Lào, nên phần giới thiệu và nghiên cứu tục ngữ và thành ngữ Lào còn

sơ lược

Cuốn “Văn học phổ thông” (do một số tác giả Lào biên soạn, nhà xuất bản

Giáo dục Thể thao và Lễ nghi xuất bản năm 1982) đã giới thiệu một cách sơ lược tình hình văn học Lào, trong đó có văn học dân gian dành cho học sinh hệ phổ thông trung học Lào

Cuốn “Câu thơ dân gian Lào” của Bò Xẻng Khăm, Xúc Xạ Vàng, Bun

Khiển, được biên soạn chung, gồm nhiều phần, trong đó phần thành ngữ gồm một số câu mới được sưu tầm, biên soạn không theo chủ đề hoặc tiêu chí nào

Trang 11

Tại Việt Nam, việc nghiên cứu về thành ngữ được chú ý nhiều hơn Các

công trình sưu tầm về hệ thống từ điển thành ngữ tiếng Việt phải kể đến: “Từ điển giải thích thành ngữ tiếng Việt” do Nguyễn Như Ý chủ biên và các tác giả

cộng sự Hoàng Văn Hành, Lê Xuân Thại, Nguyễn Văn Khang, Phan Xuân

Thành, NXB Giáo dục, 1995; “Từ Điển Thành Ngữ & Tục Ngữ Việt Nam ” của Giáo sư Nguyễn Lân, nhà xuất bản: Nxb Văn hóa Thông tin, 2010; “Từ Điển Thành Ngữ, Tục Ngữ, Ca Dao Việt Nam” của các tác giả: Thanh Long, Tường Ngọc; Nhà xuất bản Đồng Nai, 2013; “Từ điển thành ngữ tục ngữ Việt Nam” của

Vũ Dung, Vũ Thúy Anh, Vũ Quang Hào, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 2000; “Từ điển Thành ngữ” của Nguyễn Lực, NXB Thanh Niên, 2001; “Thành ngữ tiếng Việt”

của Nguyễn Lân và Lương Văn Đang, NXB Khoa Học Xã Hội Nhân Văn Hà Nội, 1978

Các công trình nghiên cứu sâu hơn về thành ngữ tiếng Việt phải kể đến

các nghiên cứu: “Góp ý kiến về phân biệt tục ngữ và thành ngữ” của Cù Đình

Đặc biệt có những công trình nghiên cứu chuyên sâu và có giá trị lớn như:

Công trình “Tục ngữ, ca dao, dân ca Việt Nam” của Vũ Ngọc Phan,

1971… Tác giả đã chỉ ra những nét cơ bản nhất của thành ngữ, giúp người đọc

có thể nhận diện được đơn vị này Vì vậy, đây có thể xem đây là nền móng đầu tiên mở đường cho các nhà nghiên cứu tiếp tục tìm hiểu và hoàn thiện các đặc trưng của thành ngữ

Từ góc độ ngôn ngữ, các nhà ngôn ngữ học đã đưa ra những kiến giải góp phần xây dựng khái niệm thành ngữ một cách hoàn thiện, như bài viết: Nguyễn

Văn Mệnh: Ranh giới giữa thành ngữ và tục ngữ (1972) và “Vài suy nghĩ góp

Trang 12

phần xác định khái niệm thành ngữ tiếng Việt (1987); “Về khái niệm thành ngữ tiếng Việt” của Nguyễn Thiện Giáp (1975); “Thành ngữ trong tiếng Việt” của Hoàng Văn Hành, 1987; “Biến thể của thành ngữ, tục ngữ” của Vũ Quang Hào,

199) Nhìn chung, các bài viết này đã đưa ra cách hiểu về thành ngữ và phân biệt hai đơn vị gần gũi là thành ngữ và tục ngữ để giúp người đọc tránh nhầm lẫn khi xác định thành ngữ Đặc biệt, trong số các công trình nghiên cứu về thành ngữ,

thì nghiên cứu “Thành ngữ học tiếng Việt” của GS Hoàng Văn Hành (2004) là

một trong những công trình có ý nghĩa nhất Tác giả đã khái quát các phương diện cơ bản của thành ngữ về đặc trưng cấu trúc, ngữ nghĩa của thành ngữ tiếng Việt, phân biệt thành ngữ với tục ngữ, quan hệ giữa thành ngữ với văn hoá và thành ngữ trong sử dụng… Có thể nói cuốn sách đã tạo một cơ sở, một nền tảng

lý thuyết vững chắc cho những người đi sau tiếp tục khám phá kho tàng thành ngữ của dân tộc và của từng địa phương

Hiện nay việc nghiên cứu thành ngữ đang mở rộng với hướng khảo sát

những thành ngữ cụ thể Ví dụ như một số nghiên cứu trên các tạp chí: “Suy nghĩ

về cách dùng thành ngữ qua thơ văn của Hồ Chủ Tịch” của Hoàng Văn Hành, Tạp chí Ngôn ngữ, số (1) 1973; “Thành ngữ có từ số trong tiếng Việt” của Bùi Duy Khánh, 1980, Hội nghị khoa học cán bộ trẻ Viện Ngôn ngữ học; “Về bản chất của thành ngữ so sánh trong tiếng Việt” của Hoàng Văn Hành, Tạp chí Ngôn ngữ, số (1) 1976; “Về tính biểu trưng của thành ngữ trong tiếng Việt” của Bùi Khắc Việt, Tạp chí Ngôn ngữ, số (1), 1978; “Tính biểu trưng của thành ngữ tiếng Việt” của Pham Xuân Thành, Tạp chí Văn hóa dân gian, số (3), 1990; “Ngữ nghĩa các từ chỉ bộ phận cơ thể người trong tiếng Việt và tiếng Nga” của Nguyễn Đức Tồn Tạp chí Ngôn ngữ, Số (4), 1989; “Cơ chế chuyển nghĩa theo phương thức ẩn dụ từ chỉ bộ phận cơ thể người trong tiếng Việt (bậc phân loại toàn bộ - bộ phận” của Phan Thị Hồng Xuân, Tạp chí Ngôn ngữ, Số (5), 1999;

“Biểu trưng ngữ nghĩa của thành ngữ tiếng Việt (trên cứ liệu thành ngữ có thành

tố chỉ tên gọi động vật” của Trịnh Cẩm Lan, Tạp chí ngôn ngữ và Đời sống, Số 5

(163), 2009; “Thành ngữ tiếng Việt có thành tố chỉ tay, chân với đặc trưng văn

Trang 13

hóa dân tộc” của Nguyễn Thị Thu Tạp chí Ngôn ngữ và Đời sống, Số (3), 2006…

Ngoài ra còn một số khóa luận, luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ nghiên cứu

về vấn đề này như: “Nghiên cứu thành ngữ tiếng Việt từ bình diện ngôn ngữ học nhân chủng” của Trần Thị Hồng Hạnh, Luận án tiến sỹ ngôn ngữ học, Trường đại học Khoa học xã hội và Nhân văn, 2011;“Khảo sát nhóm tục ngữ tiếng việt có thành tố chỉ bộ phận cơ thể người” của Nguyễn Thị Thu Hà, Luận văn Đại học- Đại học Vinh, 2006; “Khảo sát ngữ nghĩa thành ngữ, quán ngữ thời hiện đại, những giá trị biểu trưng” của Nguyễn Thị Nguyệt Minh, Luận văn

thạc sĩ chuyên ngành Ngôn ngữ học, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân

văn, 2012; “Trường nghĩa động vật trong tục ngữ của người Tày”, Phùng Thị

Ngọc (2013), Luận văn tốt nghiệp Thạc sĩ, Đại học sư phạm Hà Nội

Tại Việt Nam , văn học dân gian Lào nói chung , thành ngữ Lào nói riêng chưa được nhiều người Việt Nam biết đến Mới chỉ có mô ̣t số bài nghiên cứu nhỏ, sơ lươ ̣c về thành ngữ Lào Do sự giao lưu giáo du ̣c hai nước được mở rô ̣ng, nhiều sinh viên Lào sang Viê ̣t Nam ho ̣c tâ ̣p và nghiên cứu vì thế có một số quyển từ điển về tu ̣c ngữ, thành ngữ Việt Lào đã được xuất bản

Về nghiên cứu so sánh giữa thành ngữ, tục ngữ tiếng Lào và tiếng Việt phải kể đến các công trình biên soạn, sưu tầm, dịch nghĩa thành ngữ, tục ngữ của

Lào và Việt như cuốn “Từ điển thành ngữ và tục ngữ Lào - Việt” của Nguyễn

Văn Thông năm 2011 do Nhà xuất bản đại học Quốc gia Hà Nội phát hành;

Cuốn “ Xú pha xít và lời nói giao duyên Lào” của Nguyễn Đình Phúc do Nhà xuất bản Khoa học Xã hội xuất bản năm 1976; Cuốn “Hợp tuyển văn học Lào”

của Nxb Văn học, Hà Nội, do nhóm tác giả Tuyết Phượng, Đinh Kim Cương, Võ Quang Nhơn biên soạn và dịch năm 1981

Ngoài ra còn một số luận văn, luận án như luận văn thạc sĩ “Tìm hiểu tục ngữ Việt và xú pha xít Lào về văn hoá ứng xử” của Nguyễn Văn Thông năm

2002, chuyên ngành Lý thuyết và lịch sử văn học, Trường đại học KHXH&NV,

Trang 14

ĐHQGHN; Luận án tiến sĩ “So sánh tục ngữ Việt và tục ngữ Lào”, chuyên

ngành Văn học dân gian, Trường đại học KHXH&NV, ĐHQGHN năm 2009

Như vậy có thể thấy rằng hiện nay đã có một số nghiên cứu về tục ngữ, thành ngữ tiếng Lào và tiếng Việt nói chung cũng như thành ngữ, tục ngữ Lào so sánh với Việt nói riêng, tuy nhiên, chưa có công trình nghiên cứu về thành ngữ

có thành tố chỉ con số trong tiếng Lào (có so sánh với tiếng Việt) Vì vậy có thể cho rằng việc tìm hiểu về thành ngữ có thành tố chỉ con số trong tiếng Lào (có so sánh với tiếng Việt) sẽ góp phần vào công tác nghiên cứu thành ngữ của Lào nói riêng và Việt - Lào nói chung

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu của luận văn là làm rõ các đặc điểm về cấu tạo và ngữ nghĩa các thành ngữ, tục ngữ có thành tố chỉ con số trong tiếng Lào, để làm sáng tỏ đặc trưng ngôn ngữ và văn hóa độc đáo của thành ngữ tiếng Lào Đặc

biệt đối chiếu, so sánh với tiếng Việt tìm ra những nét tương đồng và khác biệt,

qua đó góp phần làm rõ hơn bản sắc văn hoá của mỗi dân tộc thể hiện qua thành ngữ có có thành tố chỉ con số

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Trình bày cơ sở lí luận về vấn đề nghiên cứu, bao gồm khái niệm, quan niệm về thành ngữ, tục ngữ, đặc điểm của thành ngữ tiếng Lào cũng như tiếng Việt, và đặc điểm lớp từ chỉ con số trong tiếng Lào

- Khảo sát, thống kê, phân loại thành ngữ có thành tố chỉ con số trong các

thành ngữ, tục ngữ Lào So sánh với thành ngữ có có thành tố chỉ con số trong tiếng Việt

- Phân tích thành ngữ có thành tố chỉ con số trong thành ngữ, tục ngữ Lào trên phương diện cấu tạo, ngữ nghĩa, so sánh với thành ngữ Việt để từ đó góp phần khẳng định đặc trưng văn hóa riêng của mỗi dân tộc

Trang 15

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là thành ng ữ, tục ngữ có thành tố chỉ con số trong thành ngữ Lào và Việt

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Luâ ̣n văn tâ ̣p trung nghiên c ứu những thành ngữ, tục ngữ của Lào có các thành tố chỉ con số thông qua các đặc điểm về cấu tạo, ngữ nghĩa và so sánh, đối chiếu thành ngữ này với các hình thức tương đương trong tiếng Việt

5 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu chủ yếu sau:

- Phương pháp phân tích ngữ nghĩa: Để xác định ý nghĩa của các từ ngữ

chỉ con số trong thành ngữ Lào, Việt và rút ra những kết luận cần thiết trong quá trình nghiên cứu

- Phương pháp miêu tả để làm rõ các đặc điểm về cấu tạo, ngữ nghĩa của thành ngữ có thành tố chỉ con số trong tiếng Lào và tiếng Việt

- Phương pháp so sánh, đối chiếu được sử dụng để làm sáng tỏ những đặc

điểm tương đồng và khác biệt của thành ngữ có thành tố chỉ con số trong tiếng Lào và tiếng Việt

Ngoài ra luận văn còn sử dụng thủ pháp thống kê phân loại để thu thập và phân loại tư liệu

6 Ý nghĩa của đề tài

6.1 Ý nghĩa khoa học

Trên cơ sở tư liệu thực tế, luâ ̣n văn đã góp ph ần làm rõ thêm hê ̣ thống cơ sở lý thuyết về thành ngữ , phân biệt giữa thành ngữ, tục ngữ, giúp người đọc hiểu rõ hơn về thành ngữ tiếng Lào và thành ngữ tiếng Việt

6.2 Ý nghĩa thực tiễn

Luận văn đã thống kê một cách có hệ thống thành ngữ có thành tố chỉ con

số trong tiếng Lào và tiếng Việt, làm rõ các đặc điểm về cấu tạo và ngữ nghĩa của loại thành ngữ này, qua đó làm phong phú thêm nguồn tài liệu nghiên cứu về

Trang 16

thành ngữ tiếng Việt Do đó luận văn có ý nghĩa là nguồn tư liệu tham khảo cho giáo viên, học sinh có nhu cầu tìm hiểu thành ngữ tiếng Lào và Việt

7 Bố cục luận văn

Ngoài mở đầu, kết luận, luận văn gồm 3 chương chính:

Chương 1: Cơ sở lý luận

Chương 2: Khảo sát đặc điểm cấu tạo của thành ngữ, tục ngữ có thành tố chỉ con số trong tiếng Lào (có so sánh với tiếng Việt)

Chương 3: Khảo sát đặc điểm ngữ nghĩa của thành ngữ, tục ngữ có thành

tố chỉ con số trong tiếng Lào (có so sánh với tiếng Việt)

Trang 17

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN

tự nhiên trong đời sống xã hội Thành ngữ (tiếng Latinh: idioma, tiếng Hy Lạp: ἰδίωμα – idiōma, tiếng Hy Lạp: ἴδιος – idios) là những câu nói không nhằm mục đích để hiểu theo nghĩa thông thường, đồng thời ý nghĩa của một thành ngữ thường rất khác với ý nghĩa của từng chữ một trong câu

Thành ngữ là đối tượng của nhiều ngành khoa học khác nhau, do đó việc xác định khái niệm thành ngữ là một công việc khó khăn Tùy theo góc nhìn mà thành ngữ, tục ngữ được hiểu bằng những nội hàm khác nhau Ngay dưới góc nhìn của ngôn ngữ học, thành ngữ cũng được xem xét và kiến giải khác nhau…

Nhìn chung thuật ngữ thành ngữ bao gồm hai nội dung:

+ Nội dung thứ nhất: Thành ngữ là loại đơn vị có tính chất đặc trưng, riêng biệt nằm trong hệ thống ngôn ngữ, mà cụ thể là trong hệ thống từ vựng chung của một dân tộc, một đất nước, hay thậm chí là một vùng Vì vậy thành ngữ có một lượng thông tin vô cùng phong phú, giới thiệu cho người học ngoại ngữ các tri thức: lịch sử, văn hoá, kinh tế, tổ chức xã hội, sáng tác dân gian, văn học và các tập tục của nhân dân Ngoài những chức năng cơ bản giống từ, thành ngữ còn là loại đơn vị có khả năng có đựng nhiều hơn từ những giá trị ngôn ngữ

- văn hóa, mặc dù kích thước vật chất của nó không lớn V M Mokienko đã nói:

“Đơn vị thành ngữ, cùng với các từ vị của mình, chính là nguồn ngữ liệu chủ yếu cho tri thức nền của một dân tộc và còn có khả năng tích lũy thông tin ngoài ngôn ngữ” [2, tr.158] X G Gavrin cũng đã nhấn mạnh rằng: “Không thể gọi là nắm được một ngôn ngữ nếu không nghiên cứu hệ thống các thành ngữ của ngôn ngữ đó, nhưng c ũng không thể nói là nắm được các thành ngữ nếu không hiểu

Trang 18

rõ xuất xứ của chúng” [2, tr.158] Chính bản chất, nội dung của thành ngữ quy định những đặc điểm thành tố văn hoá dân tộc trong ngữ nghĩa của chúng Ngữ nghĩa của thành ngữ không chỉ bao gồm khái niệm của nó, mà phần ngữ nghĩa này còn do nền của thành ngữ quyết định

+ Nội dung thứ hai, xét về mặt cú pháp, thành ngữ là một cụm từ mà nghĩa của nó không chỉ là “phép cộng” đơn giản nghĩa các từ thành viên lại với nhau Trong công trình “English idioms”, J Seidl và W McMordie quan niệm:

“thành ngữ có thể định nghĩa là một số các từ, khi đi với nhau, có nghĩa khác với nghĩa của mỗi từ riêng lẻ” [36] Hay trong “English idioms in use”, các tác giả cũng cho rằng: “Thành ngữ là những cụm từ cố định mà nghĩa của chúng không được trực tiếp nhận ra từ nghĩa của các từ riêng lẻ trong thành ngữ” [35]

Hiện có hàng ngàn các thành ngữ khác nhau và chúng thường xuyên được tạo ra ở hầu hết các ngôn ngữ trên thế giới Để đi đến sự thống nhất trong cách hiểu khái niệm thành ngữ, các nhà ngôn ngữ học đã gặp những khó khăn nhất định, mà một trong những khó khăn đó là sự khác biệt về loại hình ngôn ngữ

Tiếng Lào (tên gốc: ພາສາລາວ; phát âm: phasa lao là ngôn ngữ chính thức của Lào Đây là một ngôn ngữ thuộc hệ ngôn ngữ Tai-Kadai, chịu những ảnh hưởng của tiếng Phạm Tiếng Lào cũng là ngôn ngữ truyền thống của hoàng gia Lào, được truyền đạt tư tưởng Ấn Độ giáo và Phật giáo Tiếng Lào có ảnh hưởng ít nhiều đến những sinh ngữ khác trong vùng đối với các lân bang như tiếng Thái, tiếng Khmer, tiếng Việt Lào ngữ được coi là một ngôn ngữ đơn lập ở bán đảo Đông Nam Á Hiện nay tiếng Lào được hai trường phái khác nhau phiên

âm, một là do các Hiệp hội Văn hóa Hữu nghị Lào - Việt thực hiện thì họ phiên sang âm tiếng Việt vì tiếng Việt gần như có khá đầy đủ các bộ âm chuẩn mà không thể phát âm sai được Một trường phái khác là phiên âm sang hệ ngữ Latinh Ở Việt Nam, tiếng Lào được công nhận là ngôn ngữ thiểu số, tuy nhiên tiếng Lào được nói tại một số vùng núi gần biên giới Việt-Lào và người dân ở đó xem tiếng Lào là ngôn ngữ thương mại ở khu vực này

Trang 19

1.1.1.2 Thành ngữ, tục ngữ trong tiếng Lào

Trong tiếng Lào, các nhà folklore Lào không phân chia thành ngữ, tục ngữ

riêng biệt mà gọi chung là xú pha xít Khái niệm xú pha xít của người Lào đồng

nghĩa với khái niệm tục ngữ và khái niệm thành ngữ của người Việt , tức là trong

xú pha xít có hai bộ phận , một bộ phận là thành ngữ , bộ phận còn lại là tục ngữ [25, tr.1] Trong luâ ̣n văn này người viết tiến hành so sánh đối chiếu thành ngữ trong tiếng Lào và tiếng Việt thực chất là so sánh giữa xú pha xít trong tiếng Lào

và thành ngữ tiếng Viê ̣t

“Xú pha xít” - lời dạy có tính chất giáo huấn của Lào xu ất phát từ tác phẩm điêu khắc cổ xưa của Bruce Hahn Trong đó thành ngữ tiếng Lào là đơn vị tiêu biểu của ngữ cố định trong tiếng Lào, do người Lào sáng tạo và lưu truyền

Trong giáo trình “Tiếng Lào và văn học lớp 6” (Bộ giáo dục và thể thao) cho rằng: thành ngữ là những lời nói có ý nghĩa sâu sắc nhưng ngắn do người dân sáng tạo từ thời xưa Thành ngữ là một thể loại văn học cổ truyền của Lào

mà tác giả thường sử dụng các từ ngắn có lien hệ với nhau để người nghe dễ hiểu

và dễ nhớ lâu Nội dung của thành ngữ là lời khuyên để con người nhìn nhận lại bản thân mình đúng hay sai, hay nói cách khác Thành ngữ là một bài học kinh

nghiệm phản ánh đúng cuộc sống của người lao động [32]

Giáo trình “Văn học lớp 9” (Bộ giáo dục và thể thao, viện nghiên cứu giáo dục học) cho rằng: thành ngữ là những lời nói tốt đẹp và đúng đắn, là những lời

có ý nghĩa sâu sắc nhưng ngắn, do người lao động sang tạo để làm lời khuyên và lời nhắc nhở để người lao động thực hiện đúng và hợp với cuộc sống trong xã

hội [33]

Giáo trình “Văn học cổ truyền Lào II”(Khoa Tiếng Lào – Văn học, Đại học

sư phạm Luangprabang) cho răng: thành ngữ là những lời tốt đẹp và đúng, là những lời có ý nghĩa sâu sắc nhưng ngắn, do người lao động của các dân tộc sang tạo từ thời xưa, để phản ánh nội dung và văn nghệ, có thể nói thành ngữ là những lời nói rất phong phú, có nội dung đầy đủ Thành ngữ là những lời nói cổ truyền

Trang 20

của dân tộc Lào, là một thể loại bài thơ, các từ có lien hệ với nhau, dung từ và

hình ảnh dễ hiểu nhưng cũng có một số Thành ngữ là lời nói bình thường [34]

Trong tiếng Lào, thành ngữ là một thành tố có số lượng cũng như phạm vi

sử dụng hạn chế hơn các thành tố khác của ngôn ngữ Tuy nhiên, thành ngữ lại là một trong những thành tố hết sức đặc biệt của ngôn ngữ dân tộc Lào, là một sản phẩm văn hoá vô giá đối với Lào , là kết quả của sự sáng tạo của nhân dân Lào trong quá trình lao động và sinh hoạt Thành ngữ Lào đã thể hiện được văn hóa ngôn ngữ, giao tiếp đậm đà bản sắc dân tộc của người Lào, cùng đó là cách nhìn, đánh giá về mọi việc trong tự nhiên và xã hội của họ

1.1.1.3 Thành ngữ trong tiếng Việt

Thành ngữ là những sáng tạo mang giá trị nghệ thuật của người dân lao động Việt Nam từ ngàn xưa đến nay Tuy nhiên để đưa ra một khái niệm thành ngữ thống nhất không phải là điều dễ dàng Trong giao tiếp hàng ngày thành ngữ được sử dụng một cách thường xuyên và rất tự nhiên theo thói quen, nhưng nội hàm của khái niệm thành ngữ vẫn còn mơ hồ đối với nhiều người Cho đến nay,

có rất nhiều quan điểm khác nhau về thành ngữ

Theo Nguyễn Văn Mệnh trong “Ranh giới giữa tục ngữ và thành ngữ”,

thì: “Thành ngữ là đơn vị có nội dung bên trong miêu tả hình ảnh của các hiện

tượng cũng như hành động và quan hệ” [15, tr.76] Hay trong “Vài suy nghĩ góp

phần xác định khái niệm thành ngữ tiếng Việt”: “Thành ngữ là một đơn vị ngôn ngữ có sẵn Chúng là những ngữ có kết cấu chặt chẽ và ổn định, mang một ý nghĩa nhất định, có chức năng định danh và được tái hiện trong giao tế” [16, tr 18-23]

Trương Đông San (1974) cho rằng: “Thành ngữ là những cụm từ cố định

có nghĩa hình tượng tổng quát không suy trực tiếp từ ý nghĩa của các từ vị tạo ra

nó Thành ngữ gồm có những đơn vị mang nghĩa hình tượng chung, trong đó tất

cả các từ vị tạo ra nó đều mất nghĩa đen (tuần trăng mật, há miệng mắc quai, đèn nhà ai nấy rạng…) và những đơn vị mang nghĩa hình tượng bộ phận, trong đó có

Trang 21

một phần mất nghĩa đen và một phần vẫn giữ được nghĩa đen (giết thời gian, sách gối đầu giường…)” [22]

Đái Xuân Ninh trong “Hoạt động của từ tiếng Việt” (1978) định nghĩa:

Vũ Ngọc Phan “Tục ngữ, ca dao, dân ca Việt Nam tập 3” (2004) cho rằng:

“Thành ngữ là một phần câu sẵn có, nó là một bộ phận của câu mà nhiều người đã quen dùng nhưng tự riêng nó không diễn đạt được một ý trọn vẹn” [19] Còn trong

“Tục ngữ, ca dao, dân ca Việt Nam” (tập 3) (2008) ông tiếp tục đưa ra khái niệm:

“Thành ngữ là một phần câu sẵn có, nó là một bộ phận của câu mà nhiều người đã quen dùng nhưng tự riêng nó không diễn đạt được một ý trọn vẹn” [20]

Trong “Từ điển tiếng Việt” của Viện Ngôn ngữ học (1992) thì thành ngữ

được hiểu là “tập hợp từ cố định, đã quen dùng mà nghĩa không thể giải thích được một cách đơn giản bằng nghĩa của những từ tạo nên nó” [28]

Theo Từ điển giải thích thuật ngữ ngôn ngữ học (1997), thành ngữ là

“cụm từ hay ngữ cố định, có tính nguyên khối về nghĩa, tạo thành một chỉnh thể định danh có ý nghĩa chung khác với tổng số ý nghĩa của các thành tố cấu thành

nó tức là không có nghĩa đen và hoạt động như một từ riêng biệt ở trong câu” [31, tr.79]

Như vậy có rất nhiều khái niệm khác nhau về thành ngữ Mỗi tác giả với những quan niệm khác nhau về nội hàm và ngoại diên của thành ngữ Tuy nhiên

từ những khái niệm trên có thể rút ra được những những tính chất đă ̣c tr ưng, những điểm chung nhất của thành ngữ tiếng Viê ̣t Theo đó: Thành ngữ là những cụm từ mang ngữ nghĩa cố định (phần lớn không tạo thành câu hoàn chỉnh về mặt ngữ pháp; không thể thay thế và sửa đổi về mặt ngôn từ) và độc lập riêng rẽ

Trang 22

với từ ngữ hay hình ảnh mà thành ngữ sử dụng, thành ngữ thường được sử dụng trong việc tạo thành những câu nói hoàn chỉnh Trong tiếng Việt thành ngữ luôn được xem là loại hình ngôn ngữ đặc sắc, thành ngữ vốn gắn liền với lời ăn tiếng nói hàng ngày của nhân dân Thành ngữ bao gồm một tập hợp từ cố định đã quen dùng những nghĩa của nó thường không thể giải thích được một cách đơn giản bằng nghĩa của các từ tạo nên nó

1.1.2 Đặc trưng của thành ngữ

1.1.2.1 Trong tiếng Lào

Đặc trưng của thành ngữ , tục ngữ Lào (xú pha xít) có nhiều nét tương đồng với thành ngữ Viê ̣t Thành ngữ, tục ngữ Lào có kết cấu ổn định, ý nghĩa ngắn nhưng hoàn chỉnh, hình thức giản tiện, nhưng khả năng biểu đạt cô đọng, súc tích, hàm ẩn, hình tượng, sinh động và độc đáo

Đặc trưng về cấu tạo: Thành ngữ, tục ngữ Lào thường là một ngữ, một

cụm từ cố định, làm thành phần cấu tạo câu Kết cấu thành ng ữ Lào đơn giản hơn của Viê ̣t, nó có thể tối giản chỉ còn 1 vế, nhưng thường là có 2 vế có thể đối nhau song song, có thể lê ̣ch nhau

- Kết cấu một vế: Thường là kết cấu tối giản Cấu trúc tối giản nhất của

Lào cũng gồm 3 âm tiết Ví dụ: “Kin khư meo” (Ăn như mèo); “Nốc xoỏng hủa” (Chim hai đầu); “Hột khư xửa” (Dữ như hổ)…

- Kết cấu hai vế: Phần lớn thành ngữ, tục ngữ Lào có kết cấu hai vế, trong

đó nhiều câu cấu trúc cân đối Cấu trúc cân đối là cấu trúc có số âm tiết bằng nhau ở cả 2 vế của một thành ngữ tạo nên tính đối xứng và nhịp nhàng Ví dụ:

“Pa xoọc hè tồ nhày, mạy du hày đu ngam” (Cá lọt lưới cá to, cây ở rẫy cây đẹp); “Hết na bò tì hày, liệng cày bò pốc hăng” (Làm ruộng không be bờ, nuôi

ga không đậy ổ); “Phụ thậu đạy mỉa xảo pan đạy khoai xao mè, xảo kè đạy bảo mọi khoảng tọn bò hượt mư” (Người già lấy được vợ trẻ được cả trâu và nghé, gái già được chông trẻ như có của cả đời); “Xửa phờng pà pa phờng nặm” (Hổ

cậy rừng, cá cậy nước)…

Trang 23

Ngoài ra thành ngữ Lào còn có kết cấu lệch, là kết cấu có số âm tiết không

bằng nhau ở hai vế Ví dụ: “Bạn cày pà đạy dù hườn phê, bạn cạy xê ứt pà đẹc” (Làng gần rừng mà ở nhà hỏng, làng gần sông lại thiếu cá mắm” (7/6); “Khoai tụ mắc ha, khồn phan mắc hả khoam” (Trâu mộng thích chọi, kẻ ác thích kiếm lời) (4/5); “Cốp tài nhọn pạc, khăn khạc tài nhọn xiểng”(Ếch chết vì miệng, cóc chết

vì tiếng) (4/5)…

- Kết cấu nhiều vế: Trong thành ngữ Lào có nhiều câu có kết cấu nhiều

vế Ví dụ: “Khoam lắp bò hạy thởng xảm/ Khoam ngam bò hạy thởng xì/ Khoam mít mì bò hạy thởng hạ thở hốc” (Sự bí mật không cho tới người thứ ba biết/ Vẻ

đẹp không cho người thứ ba ngắm/ Sự im lặng không đến người thứ năm thứ

sáu); “Lải khồn đì/ Lải phỉ pương cạy/ Lải mạy púc hườn ngam” (Nhiều người

thì tốt/ Nhiều ma tốn gà/ Nhiều gỗ dựng nhà đẹp”… Cấu trúc dài nhất thường gồm 4 vắc (4 câu) Bốn câu này làm thành một bát (một khổ) Hai câu trên và dưới gộp lại gọi là phương (nửa khổ) Một bát có hai phương, hai câu trên gọi là phương cốc, hai câu dưới gọi là phương pai Mỗi vắc (câu) gồm 2 nhịp

- Kết cấu so sánh: Kết cấu so sánh chiếm một tỷ lệ lớn trong thành ngữ

Lào Ví dụ: “Hại khư xửa” (Dữ như hổ); “Khư mốt đeng cắt”(Như kiến lửa đốt);

“Xạ nghiệp xạ ngắt” (Im như trứng ốc); “Kin khư mủ dù khư mả” (Ăn như lợn, ở như chó); “Khoai bạn noọc nò thò khị khoọc nay mương” (Trâu nhà quê không

bằng tôi tớ thành thị)…

Đặc trưng về chức năng: Thành ngữ Lào thường miêu tả một hành động,

sự vật, sự việc, tính chất, trạng thái,… của người hay vật, sự vật Nội dung những miêu tả đó thường mang tính chất ngẫu nhiên và riêng lẻ Vì vậy thành ngữ Lào thường mang chức năng gọi tên (định danh) sự vật, hiện tượng

Đặc trưng về ngữ nghĩa: Nghĩa của thành ngữ thường là nghĩa hàm ẩn,

mang tính chất bóng bẩy, biểu trưng ngầm nói lên đặc điểm tư duy, văn hoá của một dân tộc, mang tính biểu tượng cao Cũng giống như thành ngữ tiếng Việt,

thành ngữ Lào thường có thêm nghĩa bóng, nghĩa biểu trưng Qua những nghĩa

Trang 24

biểu trưng trong thành ngữ Lào sẽ giúp ta có thể hiểu hơn về đặc trưng văn hóa, dân tộc Lào

Những ý nghĩa, nội dung thường thấy trong thành ngữ, tục ngữ Lào đó là:

- Thành ngữ, tục ngữ Lào phản ánh về cuô ̣c sống lao đô ̣ng, sinh hoạt, hình

ảnh đất nước, con người của nhân dân Lào: “Lặng xụ phạ nạ xụ đìn” (Lưng bám trời, mặt bám đất); “Lôm giền đườn chẹn” (Gió mát trăng thanh); “Khèng đẹt khèng phổn” (Dãi nắng dầm mưa)…

- Thành ngữ Lào nói về mối quan hê ̣ , tình cảm trong gia đình , làng xóm

và cộng đồng: “Ai noọng khing khư tin lẹ mư” (Anh em ruột như chân với tay);

“Vẹn đì nhọn hủa phủa đì nhọn mia” (Nhẫn tốt vì thợ , chồng tốt vì vợ); “Khun phò thò phu khẩu cạ, khun mè thò phạ cắp phèn đìn” (Ơn bố bằng trái núi, ơn mẹ

bằng trời và đất)

- Thành ngữ, tục ngữ Lào đúc kết kinh nghiệm về cuộc sống, nhân sinh:

Khăn chậu đạy khì xạng cặng hồm pền phạ nha, dà đạy lưm xao na hè năm tin xạng” (Nếu anh được cưỡi voi che lọng thành quan, đừng quên người nông dân hều theo chân voi); Xíp mạy mẹn bò thò mư thởng (Mười que khều không bằng một tay với); “Dà pợt xựa hạy khồn ừn hển lẳng, dạ vạu khoam bò đì khoỏng tồ Hạy khồn ừn phăng” (Đừng vạch áo cho người xem lưng, đừng nói lời không tốt cho người khác nghe)…

- Thành ngữ, tục ngữ Lào phê phán những thói hư, tật xấu của con người

trong xã hội: Đạy nốc hắc nạ, đậy pa hắc bết” (Được chim bẻ ná, được cá bẻ cần câu); “Kin khư mủ dù khư mả” (Ăn như lợn, ở như chó); Tà bọt mắc mong lẳng ong mắc ngẻn (Mắt mù thích nhìn, lưng còng thích dâm dục); “Hển ngân nạ đăm, hển khăm nạ mựt” (Thấy tiền tối mặt, thấy vàng tối mắt)…

- Thành ngữ, tục ngữ Lào miêu tả về đặc điểm ngoại hình, tính cách con

người: “Heng khư xạng” (Khoẻ như voi); “Hủa xạng hảng nủ” (Đầu voi đuôi chuột); “Từn đớc khư ca, hả kin khư cày” (Dạy sớm như quạ, kiếm ăn như gà)

- Đặc biệt do văn hóa Lào ảnh hưởng sâu sắc tinh thần Phật giáo , vì vậy những thành ngữ, tục ngữ Lào cũng thấm đẫm tinh thần Phật giáo Mô ̣t số thành

Trang 25

ngữ mang tinh thần Phâ ̣t giáo như : “Pạc pền thăm chày pốn nhắc” (Miệng là Phật, lòng là quỷ); “Xạ vẳn nay ôốc nạ rôốc nay chày” (Thiên đàng trong ngục, đia ngục trong tim), “Mỏ phỉ giạn phệt” (Quỷ xứ sợ Phật)

Có thể nói rằng thành ngữ, tục ngữ Lào chính là những di sản văn hoá, được đúc kết trong quá trình lao động, sinh hoạt, do sự trải nghiệm của người dân,

phản ánh lối sống, in dấu lối nghĩ, tiêu biểu cho lối nói của người lao động Lào

1.1.2.2 Trong tiếng Việt

Đặc trưng của thành ngữ được thể hiện qua hai đặc trưng cơ bản đó là đặc trưng về cấu tạo và đặc trưng về ý nghĩa:

Đặc trưng về cấu tạo

Về đặc trưng cấu tạo, thì thành ngữ trong tiếng Việt được coi là một loại cụm từ cố định, có hình thái – cấu trúc bền vững

Theo Nguyễn Công Đức (1995) tập trung nghiên cứu thành ngữ ở hai bình diện cấu trúc hình thái và ngữ nghĩa của thành ngữ tiếng Việt Về cấu trúc hình thái, ông cho rằng có thể chia thành ngữ tiếng Việt thành ba loại: thành ngữ đối, thành ngữ so sánh và thành ngữ thường [7]

Hoàng Văn Hành dựa vào cấu trúc đã chia thành ngữ tiếng Việt thành hai loại lớn là thành ngữ so sánh và thành ngữ ẩn dụ hoá Thành ngữ ẩn dụ hoá đối xứng lại được chia thành hai kiểu là thành ngữ ẩn dụ hoá đối xứng và thành ngữ ẩn dụ hoá phi đối xứng Mỗi loại lại có đặc điểm ngữ nghĩa tương ứng [11]

Lương Văn Đang - Nguyễn Lực xác định ba đặc tính cơ bản của thành ngữ tiếng Việt [14]:

a Về mặt kết cấu hình thái, thành ngữ tiếng Việt phổ biến thuộc loại cụm

từ cố định, cũng có thể có thành ngữ tính cố định cao, kết cấu vững chắc, đạt mức một ngữ cú cố định

b Ngoài kết cấu hình thái, còn cần phải xem về mặt biểu hiện nghĩa của thành ngữ Mặt này rất phức tạp (…) Có người xem nghĩa của thành ngữ có tính chất biểu trưng

Trang 26

c Xem xét quá trình vận động và sử dụng của thành ngữ tiếng Việt cũng

là một vấn đề phức tạp

Xét về mặt cấu tạo, có thể chia thành ngữ tiếng Việt thành 3 loại:

- Thành ngữ được cấu tạo theo quy tắc đối: Loại này phổ biến nhất, chiếm 56% tổng số, có tính chất đối ứng giữa các bộ phận và các thành tố tạo nên thành ngữ [17] Hầu hết là gồm 4 thành tố lập thành hai vế đối ứng nhau, quan

hệ giữa hai vế được thiết lập nhờ tính tương đồng về ngữ nghĩa, ngữ pháp Phép đối ứng được xây dựng qua hai bậc: đối ý và đối lời:

Ví dụ: “Đầu voi đuôi chuột”; “Đầu xuôi đuôi lọt”; “Trên đe dưới búa”;

“Mẹ tròn con vuông”…

- Thành ngữ được cấu tạo theo quy tắc so sánh: Trong đó thành ngữ so sánh là một loại thành ngữ quan trọng trong kho tàng thành ngữ tiếng Việt Theo thống kê của chúng tôi, loại thành ngữ này có khoảng hơn 600 đơn vị [17] Thành ngữ so sánh là một cụm từ bền vững, được hình thành từ phép so sánh và thường có nghĩa biểu trưng

Ví dụ: “Ăn ở như bát nước đầy”; “Chắc như cua gạch”; “Dai như đỉa đói”; “Gắt như mắm tôm”; “Len lét như rắn mồng năm”…

- Thành ngữ cấu tạo bằng ghép từ: Loại này không sử dụng phép đối,

phép so sánh mà là cố định hóa, thành ngữ hóa một đoạn tác ngôn vốn được cấu

tạo trên cơ sở luật kết hợp bình thường trong tiếng Việt:

Ví dụ: “Theo voi hít bã mía”; “Gió chiều nào xoay chiều ấy”; “Trăm voi không được bát nước xáo”; “Vạch áo cho người xem lưng”…

Thành ngữ được xem là một tổ hợp có nghĩa khi phát ngôn và chúng thường không thể tách thành các thành tố nhỏ hơn hay có thể tổng hợp thành những đơn vị lớn hơn Do vậy, thành ngữ được xem như là một hiện tượng ngôn ngữ đặc biệt Nhìn chung về hình thức cấu tạo, thành ngữ trong tiếng Việt là những nhóm từ cố định, quen đi với nhau để truyền đạt một ý nghĩa theo ngôn ngữ truyền thống Tuy nhiên chữ cố định ở đây cũng có nghĩa tương đối Ví dụ

chúng ta có câu “dày gió dạn sương”, nhưng cũng có thể nói “gió sương dày

Trang 27

dạn”; chúng ta nói “dễ như trở bàn tay”, nhưng cũng có thể nói “dễ như lật bàn tay” Trật tự của các từ trong nhóm có thể thay đổi, thậm chí từ cũng có thể thay

thế, nhưng vẫn đảm bảo giữ nguyên ý nghĩa

Đặc trưng về ngữ nghĩa:

Phần lớn các tác giả trong những công trình nghiên cứu về từ vựng – ngữ nghĩa nói chung đều ghi nhận nghĩa của thành ngữ là một chỉnh thể được khái quát từ nghĩa của các thành tố cấu tạo Nghĩa khái quát được tạo lập không phải bằng phép cộng giản đơn nghĩa của các thành tố trong thành ngữ Nghĩa của các thành ngữ là một chỉnh thể hoàn chỉnh, không phải do nghĩa các thành tố tạo nên

nó cộng lại, nó biểu thị phản ánh khái niệm và có tính bóng bẩy, gợi cảm

Điều này có thể thấy qua quan niệm, ý kiến của các tác giả về đặc trưng ngữ nghĩa trong thành ngữ Việt

Xét về đặc trưng ngữ nghĩa của thành ngữ tiếng Việt, Nguyễn Đức Dân (1986) cho rằng “Nghĩa của thành ngữ được hình thành qua sự biểu trưng nghĩa của cụm từ” Sau khi phân tích một loạt các ví dụ, ông đã khái quát được một số phương thức biểu trưng nghĩa của thành ngữ Từ các phương thức biểu trưng ngữ nghĩa đó có thể dễ dàng tìm được các biến thể của thành ngữ [3]

Phan Xuân Thành (1990) cũng nhấn mạnh tính biểu trưng ngữ nghĩa của thành ngữ khi ông cho rằng ý nghĩa của thành ngữ là sự hoà hợp, chung đúc nghĩa của từng thành tố tạo nên nó Ở mỗi thành ngữ, các thành tố có tính biểu trưng khác nhau Có thành tốmang tính biểu trưng cao, như chìa khoá của thành ngữ Cũng có những thành tố có tính biểu trưng đơn giản, những thành tố này thường gặp ở thành ngữ so sánh Đặc biệt, có những thành tố mang tính biểu trưng phức tạp mà ở đó thường tàng ẩn những tri thức dân gian sâu sắc [24]

Qua đó cho thấy tính biểu trưng có ý nghĩa rất lớn đối với thành ngữ Tính biểu trưng của thành ngữ liên quan mật thiết đến đời sống xã hội, phong tục tập quán, tín ngưỡng của nhân dân Các thành tố trong thành ngữ có mức độ biểu trưng khác nhau và một thành tố có thể mang nhiều ý nghĩa biểu trưng khác nhau

Trang 28

Do tính chất đặc thù về cấu tạo hình thức và về nội dung ý nghĩa nên thành ngữ thường lưu giữ rất nhiều những đặc trưng phản ánh rõ cách tư duy, đặc điểm lịch sử văn hoá cũng như không gian, môi trường tự nhiên và xã hội của con người là chủ nhân của kho tàng thành ngữ đó Thành ngữ tiếng Việt thường thể hiện một trong những ngữ nghĩa sau:

- Thành ngữ Việt còn đúc kết về những kinh nghiệm tự nhiên, kinh

nghiệm trong lao động sản xuất: “Gần sông quen tiếng cá, gần rừng không lạ tiếng chim”; “Kiến đen tha trứng lên cao, thế nào cũng có mưa rào rất to”;

“Ếch kêu uôm uôm, ao chuôm đầy nước”…

- Thành ngữ đúc kết những kinh nghiệm về cuộc sống, nhân sinh: “Biết mèo nào cắn mèo nào”; “Chim khôn tiếc lông, người khôn tiếc lời”; “Chim khôn

ai nỡ bắn, người khôn ai nỡ nói nặng”; “Đường dài hay sức ngựa, nước loạn biết tôi ngay”

- Thành ngữ thể hiện tình cảm về gia đình, làng xóm, cộng đồng, quê

hương, đất nước: Anh em hạt máu sẻ đôi”; “Con chẳng chê cha mẹ khó, chó chẳng chê chủ nghèo”; Có vợ có chồng như đũa có đôi”; Bán anh em xa mua láng giềng gần”

- Thành ngữ phản ánh những tiêu cực của xã hội: “Mua quan bán tước”;

“Con ông cháu cha”; “Chân ngoài dài hơn chân trong”…

- Thành ngữ phản ánh về hoàn cảnh sống của con người: “Chim trời cá

nước”; “Cơm gà cá gỏi”; “Lên voi xuống chó”; “Cá chậu chim lồng”

- Thành ngữ phản ánh về tâm trạng, cảm xúc của con người: “Mát mày mát mặt”, “Mặt như gà cắt tiết”, “Lòng như lửa đốt”

- Thành ngữ miêu tả đặc điểm thể chất, ngoại hình, tính cách của con

người như: “Thắt đáy lưng ong”; “Mày ngài, mắt phượng”; “Chim sa cá lặn”,“Dữ như cọp”; “Miệng hùm gan sứa”; “Dạ cá long chim”; “Cáo giả oai hùm”

Thành ngữ tiếng Việt có thể được xem là một mảng hiện thực, là một sự thể hiện nào đó của tư duy, đánh giá, suy nghĩ của người Việt đối với hiện thực

Trang 29

khách quan Bên trong thành ngữ bao gồm cả những thành tố ngôn ngữ, phong tục, tập quán, văn hóa, tâm thức và những quan niệm nhân sinh của những người

đã sáng tạo ra thành ngữ Chính vì vậy những giá trị biểu trưng ngữ nghĩa của thành ngữ đã phản ánh được chiều sâu văn hóa của dân tộc Từ các nghiên cứu trên, ta rút ra hai đặc trưng cơ bản trong thành ngữ tiếng Việt đó là:

- Đặc trưng thứ nhất là tính cố định, bền vững về hình thái – cấu trúc (thể hiện ở sự ổn định về số lượng và về trật tự của các thành tố tạo nên thành ngữ trong sử dụng)

- Đặc trưng thứ hai là tính hoàn chỉnh và bóng bảy về nghĩa (thể hiện ở tính trọn vẹn trong cách biểu thị những khái niệm, các sự vật, các thuộc tính, quá trình hay biểu tượng)

1.1.3 Phân biệt thành ngữ với tục ngữ

Thành ngữ và tục ngữ đều là những sản phẩm của sự nhận thức của nhân dân về các sự vật và hiện tượng của thế giới khách quan, đều có đựng và phản ánh tri thức của nhân dân Đồng thời thành ngữ và tục ngữ là hai thể loại có điểm tương đồng nhau cả về hình thái cấu trúc lẫn khả năng thể hiện trong quá trình giao tiếp Chúng đều là những đơn vị có sẵn, có tính cố định, bền vững về thành phần từ vựng và cấu trúc, giàu sắc thái biểu cảm khi đi vào hoạt động giao tiếp

Vì vậy để phân biệt thành ngữ và tục ngữ không phải điều đơn giản

Trong bài “Về ranh giới giữa thành ngữ và tục ngữ”, Nguyễn Văn Mệnh

cho rằng “giữa thành ngữ và tục ngữ vẫn có thể tìm ra những điểm ku biệt rõ ràng ở cả phương diện nội dung và hình thức” Từ đó ông kết luận: “Nội dung của thành ngữ mang tính chất hiện tượng, còn nội dung của tục ngữ mang tính chất quy luật Từ sự khác nhau cơ bản về mặt nội dung dẫn đến sự khác nhau về hình thức ngữ pháp, về năng lực hoạt động trong chuỗi lời nói và sự khác nhau

về số lượng tuyệt đối nữa Về hình thức ngữ pháp, nói chung mỗi thành ngữ chỉ

là một cụm từ, không phải là câu hoàn chỉnh Tục ngữ thì khác hẳn Mỗi tục ngữ tối thiểu là một câu” [15, tr.13]

Trang 30

Trong bài “Góp ý kiến về sự phân biệt giữa thành ngữ và tục ngữ”, Cù Đình Tú cho rằng: “Sự khác nhau cơ bản giữa thành ngữ và tục ngữ là sự khác

nhau về chức năng Thành ngữ là những đơn vị có sẵn mang chức năng định

danh, nói khác đi dùng để gọi tên sự vật, tính chất hành động” và “Tục ngữ đứng

về mặt ngôn ngữ học, có chức năng khác hẳn so với thành ngữ Tục ngữ cũng như các sáng tạo khác của dân gian như ca dao, truyện cổ tích đều là những thông báo… Nó thông báo một nhận định, một kết luận về một phương diện nào

đó của thế giới khách quan Do vậy, mỗi tục ngữ đọc lên là một câu hoàn chỉnh, diễn đạt trọn vẹn một ý tưởng” [27, tr.40-41]

Nguyễn Thiện Giáp đã khẳng định thành ngữ là “đơn vị trung gian giữa

một bên là các quán ngữ và một bên là tục ngữ Tính chất trung gian này thể hiện

ở chỗ thành ngữ cũng là đơn vị định danh, cũng là tên gọi của một sự vật, hiện tượng, là sự thể hiện một khái niệm (có tính chất thống nhất về nghĩa) Đồng thời, cái nghĩa cộng lại của các thành tố theo quy luật ngữ pháp cũng cần được hiểu (tính tách rời về nghĩa) Chính sự tồn tại của hai cách hiểu như vậy mà nghĩa chung của thành ngữ bao giờ cũng là nghĩa hình tượng Có thể nói, nghĩa đặc trưng hình tượng là đặc trưng cơ bản của thành ngữ” [8, tr.75]

Còn trong cuốn “Tục ngữ Việt Nam”, tác giả lại đưa ra tiêu chí phân biệt mới: “Sự khác nhau cơ bản giữa thành ngữ và tục ngữ sẽ được phát hiện như là

sự khác nhau giữa hai hình thức tư duy khác nhau, là khái niệm và phán đoán” [5, tr 27-28] và “sự giống nhau giữa thành ngữ và tục ngữ là ở chỗ cả hai đều là những sản phẩm của sự nhận thức của nhân dân về các sự vật hiện tượng của thế giới khách quan, đều có đựng và phản ánh tri thức của nhân dân Sự khác nhau là

ở chỗ những tri thức ấy, khi được rút lại thành những khái niệm thì ta có thành

ngữ, còn khi được trình bày, được diễn giải thành những phán đoán thì ta có tục ngữ” [5, tr.73]

Dương Quảng Hàm cho rằng : “Một câu tục ngữ tự nó phải có một ý nghóa đầy đủ, hoặc khuyên răn hoặc chỉ bảo điều gì; còn thành ngữ chỉ là những

Trang 31

lời nói có sẵn để ta tiện dùng mà diễn đạt một ý gì hoặc tả một trạng thái gì cho màu mè” [9, tr.75]

Trong cuốn “Giáo trình văn học dân gian Việt Nam”, Đinh Gia Khánh chủ biên lại phân biệt tục ngữ và thành ngữ về mặt chức năng: “Sự khác nhau

giữa tục ngữ và thành ngữ thường là sự khác nhau về chức năng Sự khác nhau

ấy thể hiện ra cả nội dung và cấu tạo ngữ pháp của hai loại hình đó Mỗi thành ngữ là một tổ hợp nằm trong một câu hoàn chỉnh, là một bộ phận cấu thành của câu Bản thân thành ngữ không đưa ra một kết luận gì, nó chỉ có nội dung trong khuôn khổ của câu mà nó là một bộ phận cấu thành, trong khi bản thân mỗi câu tục ngữ đã có một nội dung trọn vẹn được khuôn đúc lại trong một mệnh đề tuy rút ngắn nhưng hoàn chỉnh” [12, tr.246]

Theo Giáo sư Vũ Ngọc Phan: Tục ngữ là một câu tự nó diễn trọn vẹn một

ý, một nhận xét, một kinh nghiệm, một luân lý, có khi là một sự phê phán Thành ngữ là một phần câu sẵn có, nó là một bộ phận của câu, mà nhiều người

đã quen dùng, nhưng tự riêng nó không diễn được một ý trọn vẹn [19]

Tuy nhiên, sự phân biê ̣t thành ngữ và tu ̣c ngữ chỉ có tính chất tương đối Việc phân biệt ranh giới giữa thành ngữ và tục ngữ không phải lúc nào cũng dễ dàng, đặc biệt trong những trường hợp làn ranh giới giữa thành ngữ và tục ngữ khá mong manh Chu Xuân Diên đã từng nhận định: “Với tư cách là một hiện tượng ngôn ngữ, tục ngữ có nhiều đặc điểm rất gần gũi với thành ngữ Điều đó khiến cho tục ngữ và thành ngữ nhiều khi xảy ra hiện tượng không có sự phân biệt, không những về cách dùng mà cả về quan niệm nữa” [4, tr.74]

Qua các nhận định của các tác giả, có thể rút ra một số đặc điểm để phân biệt thành ngữ và tục ngữ như sau:

- Xét về mặt ngữ pháp: Tục ngữ là một câu, là một phán đoán, còn thành ngữ chỉ là một cụm từ, một thành phần câu Ví dụ:

Thành ngữ “Mẹ tròn con vuông”

Tục ngữ “Có công mài sắt, có ngày nên kim”

Trang 32

Vì vậy, tục ngữ thường dùng độc lập vì nó đã thành câu, đã diễn đạt một ý

trọn vẹn Ví dụ: “Lời nói chẳng mất tiền mua/ Lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau” Còn thành ngữ chưa thành câu chỉ là một cụm từ (cụm từ cố định) chỉ là

một thành phần của câu nên người ta thường dùng chêm xen trong câu nói Ví

dụ: Chúng ta không nên “đâm bị thóc, chọc bị gạo”

- Xét về mặt ý nghĩa: Tục ngữ diễn đạt một ý trọn vẹn, là một phán đoán, còn thành ngữ diễn đạt một khái niệm - ngang một từ, một cụm từ

Trong đó, nội dung của tục ngữ thuộc về đúc rút kinh nghiệm đời sống,

kinh nghiệm lịch sử - xã hội Ví dụ: “Gần mực thì đen, gần đèn thì sáng”;

“Chuồn chuồn bay thấp thì mưa/Bay cao thì nắng, bay vừa thì râm”…

Còn thành ngữ là một hình ảnh sinh động, biểu cảm, giàu tính hình tượng Thành ngữ thường dùng nghệ thuật tu từ ẩn dụ hay nghệ thuật tu từ hoán dụ Ví

dụ: “Chân cứng, đá mềm” (tu từ hoán dụ) Vì vậy, thành ngữ dễ gây được ấn

tượng mạnh mẽ với người nghe, người đọc, hiệu quả biểu đạt và biểu cảm rất cao nên nhân dân thường dùng xen vào lời ăn tiếng nói

Tóm lại tục ngữ là một câu nói, diễn đạt một ý trọn vẹn Tục ngữ thường

là những câu đúc rút kinh nghiệm về cuộc sống, về thiên nhiên - xã hội Tục ngữ thường được dùng độc lập, còn thành ngữ là một ngữ (cụm từ) cố định, là một thành phần câu, thường được dùng chêm xen trong câu nói Thành ngữ là một hình ảnh giàu tính hình tượng, giàu tính biểu cảm

1.2 NHÓM THÀNH TỐ CHỈ CON SỐ TRONG TIẾNG LÀO VÀ TIẾNG VIỆT

1.2.1 Khái niệm con số

Con số là một hiện tượng mang tính phổ quát của nhân loại; nó đã được bàn đến từ lâu dưới nhiều góc độ: triết học, văn hoá học, ngôn ngữ học và nhiều lĩnh vực khác của khoa học tự nhiên Trong mọi lĩnh vực, con số vừa là đối tượng vừa là phương tiện được xem xét, lý giải nhằm rút ra những kết luận phù hợp với mục đích nghiên cứu của từng chuyên ngành Chỉ riêng trong lĩnh vực

“con số” đã thấy nó hội tụ (và cũng là sự quy chiếu) nhiều vấn đề liên quan đến

tư duy, văn hoá tinh thần và tổ chức giao tiếp của xã hội

Trang 33

Trong chiều dài lịch sử của nhân loại, các phát minh khoa học vĩ đại lần lượt ra đời Trong đó có sự hình thành của những con số Theo các nhà nghiên cứu, từ năm nghìn năm về trước, con số đã ra đời Ban đầu nó đơn thuần chỉ là những khắc vạch, những nút thắt trên dây với mục đích ghi nhớ, định lượng các

đồ vật, các sản phẩm săn bắn, trồng trọt hoặc để trao đổi, phân chia sản phẩm.v.v Đến đời Ân Thương (Trung Quốc) thì con số đã hoàn chỉnh từ 0 đến

9 và dần dần tạo nên hình hài vóc dáng ổn định như ngày nay Mặc dù chúng ta vẫn quen gọi các con số 1, 2, 3, , 9 là chữ số Ả Rập nhưng kì thực là do người

Ấn Độ sáng tạo và sử dụng đầu tiên trên thế giới Vào thế kỉ thứ VII (TCN) những người Hồi giáo Ả Rập đã chinh phục Ấn Độ và đặt nền thống trị tại nước này Sau năm 750 (TCN) người Ả Rập đã tiếp thu và truyền bá rộng rãi cách viết các chữ số của người Ấn Độ sang các nước châu Âu Chính vì thế mà người ta gọi là chữ số Ả Rập

Bên cạnh đó, còn có hệ thống chữ số La Mã do người La Mã sáng tạo Nó gồm bảy chữ số: I = 1, V = 5, X = 10, L = 50, C = 100, D = 500, M = 1000 Từ bảy con số này, người ta tạo nên những con số khác nhau Chữ số La Mã không

có số 0 Đến thế kỉ thứ V (TCN) con số 0 mới từ phương Đông du nhập vào Dù

ra đời ở phương Đông hay phương Tây, các con số không chỉ độc lập thực hiện các chức năng đơn giản là cân, đo, đong, đếm sự vật, hiện tượng mà nó gắn liền với đời sống văn hoá của từng dân tộc Theo thời gian, bên cạnh việc sùng bái linh vật ở ngôn ngữ người ta cũng đã sùng bái những con số và gắn cho nó cách nhìn may rủi của cuộc sống Qua đó, nó biểu thị được chiều sâu văn hoá trong tâm thức nhân loại

Con số trở thành đối tượng được sự quan tâm của nhiều ngành khoa học khác nhau, trên nhiều lĩnh vực khác nhau như toán học, thiên văn học, công nghệ thông tin, văn hóa học, văn học dân gian, thi pháp học, ngôn ngữ học.v.v…

Về tên gọi, con số được xác định bằng những tên gọi khác nhau, và kèm theo đó là cách nhìn nhận xếp loại con số cũng không giống nhau Nguyễn Lân gọi con số là tính từ: “Những tính từ này dùng với danh từ để chỉ số lượng và thứ

tự những người hoặc sự vật mà danh từ biểu thị” [6]

Trang 34

Xu hướng thứ hai, gọi con số là lượng số: “Lượng số chỉ định tự gồm có: những số đếm, những tiếng chỉ lượng nhiều hay ít, những tiếng chỉ phân số hay bội số Lượng số chỉ định tự nói về các số đếm, có thứ là tiếng đơn, có thứ là tiếng ghép Lượng số chỉ định tự là tiếng người ta đặt ở trước tiếng danh - tự để chỉ số nhiều hay số đếm nhất định 1 Lượng số chỉ định tự nói về số đếm là những tiếng đếm từ số một trở lên 2 Lượng số chỉ định tự nói về số nhiều hay ít” [6]

Xu hướng thứ ba, coi con số là một tiểu loại của danh từ - gọi là danh từ

số lượng: “Danh từ chỉ số lượng sự vật (nói gọn là “danh từ số lượng”) Khái niệm sự vật thường đi với khái niệm số lượng, cho nên trong thực tiễn sử dụng ngôn ngữ, dùng danh từ đơn thể hay tổng thể là thường có bao hàm nghĩa số lượng Nghĩa là được biểu thị bằng những từ như: một, hai, ba, mười, một trăm những, các, vài, mấy, tất cả, v.v Những từ này cũng có thể coi là danh từ, đó là danh từ số lượng … Đáng chú ý là danh từ số lượng, trừ trường hợp đặc biệt, không dùng làm chính tố trong ngữ mà chỉ làm thành tố phụ” [6]

1.2.2 Đặc trưng của con số

Thứ nhất, đặc trưng về tính bản thể: Con số là những hình thức ký hiệu

hóa phản ánh tư duy, nhận thức về một thuộc tính quan trọng của các thực thể trong hiện thực (chủ quan hoặc khách quan) Thuộc tính định lượng này biểu hiện mối quan hệ giữa các thực thế có những đặc điểm đồng nhất nào đó có thể liên kết với nhau thành một tập hợp Con số là hình thức ký hiệu biểu thị số lượng của các phần tử, thực thể có các thuộc tính chung nào đó Vì vậy con số phản ánh mối liên hệ giữa các thực thể trong một phạm vi nhất định Từ những con số - ký hiệu trong toán học chuyển sang những ký hiệu bằng ngôn ngữ mà xét trên phương diện kết học nó được mã hóa bằng các từ, biểu tượng chỉ số lượng hoặc chỉ thứ tự, vị trí trong ngôn ngữ Khi nó là những ký hiệu toán học thì nó là định lượng chính xác, khi là ký hiệu trong ngôn ngữ văn học thì chức năng định lượng và thứ tự của nó chỉ mang tính tương đối

Thứ hai, đặc trưng về tính biểu tượng Con số được sử dụng như một biểu

Trang 35

trưng trong khoa học, ứng dụng trong hoạt động đời sống đến tôn giáo - tín ngưỡng rồi đi vào văn học, văn hóa Điều đó lý giải vì sao mỗi sự vật gắn với một con số như là đánh dấu sự tồn tại của nó, dấu hiệu của nó, ảnh hưởng của

nó Con số tồn tại xung quanh chúng ta như mật mã, mật khẩu mở cách cửa vào thế giới của những bí ẩn, bí mật Từ xa các số dùng để đếm, đã cung cấp một cơ

sở, để lựa chọn cho việc xây dựng các biểu tượng Chúng không chỉ biểu thị cho các đại lượng mà cả các ý tưởng, các lực lượng Bởi theo tâm tính truyền thống không có gì là ngẫu nhiên, nên số sự vật và sự kiện có một tầm quan trọng và đôi khi chỉ riêng nó đã cho phép đạt đến một sự hiểu biết đích thực về những con người và những biến cố Mỗi con số có bản sắc riêng Bản thân con số tự nhiên gắn liền với đời sống, với tư duy của con người Không chỉ đơn giản là đo đếm, chỉ lượng hay số thứ tự, các con số còn có khả năng gợi trong ta những hình ảnh, những quan niệm, những ý nghĩ khác nhau

Con số là những ký hiệu đầu tiên mang ý nghĩa biểu trưng cơ bản, đơn giản nhất Giải thích các số là một trong những khoa học lâu đời nhất trong các khoa học về biểu tượng Mỗi con số đều có đựng những ý nghĩa riêng Mọi sự vật đều được đánh dấu bằng những con số, ví dụ như số giày, số nhà, số điện thoại, số quẻ Xuất phát từ con số tự nhiên, các con số không chỉ có ý nghĩa chỉ

số thứ tự hay chỉ số lượng, mà nó còn định tính, định chất và dần dần nó gắn với

ý nghĩa biểu trưng, những quan niệm đặc biệt Với đặc trưng là tính biểu tượng với hệ thống ý nghĩa biểu trưng phong phú và nhất quán

Ngoài những đặc trưng chung, con số còn có những đặc trưng riêng như [6]:

- Xuất phát từ những con số tự nhiên, là những ký hiệu có tính chất siêu ngôn ngữ

- Xuất phát từ chức năng đùng dể đo đếm sự vật, tỉ lệ của các vật trở thành dấu hiệu biểu hiện tính chất và giá trị của sự vật đó

- Biểu tượng con số gắn với nhiều lĩnh vực khoa học, đời sống nên được nhiều quan tâm và nghiên cứu

- Các ý nghĩa của con số ngày càng được phân hóa và chuyển hóa mạnh

Trang 36

mẽ trở nên phổ biến rộng rãi, thành tính cộng đồng, tính phổ thông đối với cả người sử dụng và người tiếp nhận

- Hình thức biểu hiện của nó luôn cố định, ít biến thể linh hoạt như các biểu tượng khác

1.2.3 Ý nghĩa của con số trong vốn từ cơ bản

Theo các nhà nghiên cứu ngôn ngữ học, mọi ngôn ngữ tự nhiên đều tồn tại một lớp từ vựng cơ bản Lớp từ cơ bản này thường gồm các nhóm sau:

- Từ chỉ bộ phận cơ thể người: Tay, chân, đầu, mình, mắt, mũi, mồm, lòng, dạ

- Từ chỉ hoạt động: Đi, ăn, uống, mặc, chạy, khóc, đá, đứng lên, ngồi xuống, đánh, đấm, bò,

- Từ chỉ tính chất đặc điểm: Màu tím, xanh, đỏ, vàng, nhanh nhẹn, xinh đẹp, trắng trẻo, năng động

- Từ chỉ các hiện tượng tự nhiên: Nắng, mưa, gió, lốc, bão, sấm, chớp, giông

- Từ chỉ con vật: Chó, mèo, lợn, gà, voi, bò

- Từ chỉ sự vật: Cái quạt, đôi dép, quần áo, máy tính, điện thoại, cái giường, cái bát

- Từ chỉ người: Ông, bà, cha mẹ, anh, chị, thầy giáo, bác sĩ, giáo viên

- Từ chỉ sản phẩm do con người tạo ra: Cơm, canh, thóc, lúa, hoa quả

- Từ chỉ số đếm: một, hai, ba, năm, sáu

Con số là một hiện tượng mang tính phổ dụng trong mọi lĩnh vực của đời sống hàng ngày Trong thực tế, không một lĩnh vực giao tiếp nào, không một sản phẩm ngôn ngữ nào lại không có mặt của các từ ngữ chỉ lượng - các con số - và

sự có mặt ấy với một tần số không phải nhỏ Cuộc sống là phải tính đếm, đo lường, phân chia, xếp loại, các hành động này xuất phát từ con số, liên quan đến con số Điều đó đã nói lên vai trò của con số trong đời sống xã hội Chắc chắn những dấu tích trí tuệ, ý thức, tình cảm của cộng đồng dân tộc hiển nhiên là

in dấu trong hệ thống từ ngữ về con số cũng rất sâu sắc và đậm nét

Trang 37

Trong vốn từ cơ bản về con số, có thể thấy lối tư duy của nhân dân rất linh

hoạt, phong phú Con số trở thành những hình ảnh điển hình có sức khái quát

cao, tạo nên liên tưởng rộng rãi, được con người sử dụng trong các thành ngữ Cũng là một con số song đi vào đời sống, số không còn là số nữa mà trở thành những ý nghĩa biểu trưng, góp phần tạo nên những “giá trị truyền thống” của văn hoá dân tộc Như vậy lớp từ vựng chỉ số là một trong những lớp từ vựng cơ bản,

nó có từ xa xưa, gắn liền với cuộc sống của mỗi con người, cũng như trong ngôn ngữ của mỗi dân tộc

1.3 VẤN ĐỀ NGHĨA BIỂU TRƯNG

1.3.1 Khái niệm nghĩa biểu trưng

Biểu trưng (tiếng Pháp: symboyle, tiếng Anh: symbol) là một khái niệm rất quen thuộc và được dùng trong nhiều ngành khoa học Thuật ngữ này có nguồn gốc từ tiếng Latin (symbolus) có nghĩa là dấu hiệu Biểu trưng có hai mặt, gồm cái biểu trưng và cái được biểu trưng Trong đó, cái biểu trưng được biểu hiện ra bằng hình ảnh, âm thanh, hình khối, màu sắc, còn cái được biểu trưng gợi lên một cái

gì đó, nội dung ý nghĩa thông qua sự liên tưởng

F.de Saussure trong “Ngôn ngữ học đại cương” viết: “Người ta dùng từ

“biểu trưng” (symbole) để chỉ tín hiệu ngôn ngữ, hay nói đúng hơn, để chỉ cái

mà chúng ta gọi là cái biểu hiện Nếu chấp nhận danh từ này thì có những chỗ bất tiện, mà như vậy, chính là nguyên lý thứ nhất (tính võ đoán của tín hiệu) đã nói Biểu trưng có một đặc tính là không bao giờ hoàn toàn võ đoán, nó không phải là trống rỗng, ở đây có một thành tố tương quan thô sơ nào đấy giữa cái biểu hiện và cái được biểu hiện” [23]

Là một hệ thống ký hiệu nên ngôn ngữ cũng là những biểu trưng Có rất

nhiều quan niệm khác nhau về biểu trưng Wallace L Chafe trong “Ý nghĩa và cấu trúc ngôn ngữ” cho rằng: “Biểu trưng là khi một cái gì đó trong thế giới tư

tưởng và khái niệm biến thành một cái gì đó có khả năng trở thành cái cầu bắc qua cái vực ngăn cách vật phát và vật thu” [30]

Trang 38

Hà Công Tài trong “Từ kí hiệu học đến thi pháp học” quan niệm: “Biểu

trưng là một sự vật mang tính chất thông điệp được dùng để chỉ ra một cái ở bên ngoài, theo một quan hệ ước lệ, tức võ đoán (không tất yếu) giữa sự vật trong

thông điệp và bên ngoài” [26]

Nói đến khía cạnh sâu hơn về biểu trưng, ở bình diện biểu trưng nghệ thuật, Đỗ Hữu Châu cho rằng: “Nguồn gốc của ngôn ngữ không có gì khác chính

là sự sử dụng những thành tố, những chi tiết của đời sống hiện thực vào mục đích thẩm mỹ Khi đi vào tác phẩm (câu nói) dưới dạng ngôn từ những thành tố, những chi tiết ấy sẽ không còn là bản thân nó như trong thực tại, mà trở thành hình thức do một nội dung ý nghĩa mang tính khái quát, vượt ra ngoài phạm vi ngữ nghĩa thông dụng của những thành tố ngôn từ được sử dụng Ta gọi đó là ý nghĩa biểu trưng nghệ thuật” [1]

Bên trong thành ngữ bao gồm cả những “thành tố ngôn ngữ, những thánh

tố văn hóa, phong tục, tâm thức và hàng loạt những quan niệm nhân sinh của chủ nhân sáng tạo và sử dụng nó” [14] Nghĩa biểu trưng trong thành ngữ thường phản ánh quan niệm, tâm lý, cách tri nhận của mỗi dân tộc và liên quan đến các hiện tượng trong đời sống xã hội, lịch sử văn hóa, phong tục tập quan của nhân dân Vì vậy, nghĩa biểu trưng mang vai trò rất quan trọng trong sự phát triển của ngôn ngữ Nghĩa biểu trưng chính là nhân tố gợi mở cho chúng ta phát hiện và sáng tạo ra các giá trị văn hóa mới

1.3.2 Nghĩa biểu trưng trong thành ngữ

Các nhà ngôn ngữ học quan niệm rằng thành ngữ, là những ngữ cố định

và chúng là một loại đơn vị mà trong ngôn ngữ học thừa nhận là tương đương với từ trong chức năng biểu đạt và hoạt động ngôn từ Thành ngữ là một đơn vị định danh bậc hai, nghĩa là nội dung của thành ngữ không nhắc đến trong nghĩa

đen của từ ngữ, mà gợi ý điều gì đó suy ra từ chúng Các thành ngữ đều có nghĩa

hàm ẩn (nghĩa bóng) chứ không đơn thuần chỉ có nghĩa tường minh, nghĩa định danh Hay nói cách khác qua cách cấu tạo, cách dùng người ta đã thổi vào đó những giá trị biểu trưng, những ý nghĩa trừu tượng dưới hình thức những sự vật

Trang 39

cụ thể Giá trị biểu trưng trong thành ngữ chính là những giá trị ngữ nghĩa nhất định mà cộng đồng người bản ngữ gán cho một sự vật, một hiện tượng một thuộc

tính thế nào đó theo cách cảm nhận và suy nghẫm của họ Mỗi một thành ngữ

đều ẩn có trong đó một đánh giá, một nhận định của con người thể hiện nhân

sinh quan và văn hoá của dân tộc Vì thế khi xét đến nghĩa của thành ngữ, người

ta xét đến nghĩa biểu trưng của nó

Trong thành ngữ, giá trị biểu trưng chính là những giá trị ngữ nghĩa nhất định mà cộng đồng người bản ngữ gán cho một sự vật, một hiện tượng, một thuộc tính, mộ tình thế nào đó theo cách cảm nhận và suy ngẫm của họ [13] Nghĩa biểu trưng là phần nội dung có được do hình dung, tưởng tượng của con người Mà trí tưởng tượng thì vô cùng phong phú và kỳ lạ, không theo một quy tắc nào cả Do đó, nghĩa biểu trưng trong thành ngữ cũng rất đa dạng, tuỳ thuộc vào hoàn cảnh, cảm nhận hay hiểu biết của con người

Theo Trịnh Cẩm Lan, thành ngữ tiếng Việt có thể được xem là “một mảng hiện thực, là một sự thể hiện nào đó của tư duy, cảm nghĩ, cách đánh giá của người Việt đối với hiện thực khách quan Bên trong thành ngữ bao gồm cả những thành tố ngôn ngữ, những yếu tố văn hóa, phong tục, tâm thức và hàng loạt những quan niệm nhân sinh của chủ nhân sáng tạo và sử dụng nó” [13]

Bùi Khắc Việt (1978) quan niệm tính biểu trưng là kí hiệu mà quan hệ với quy chiếu là có nguyên do Cụ thể: hình ảnh hoặc sự vật, sự việc cụ thể miêu

tả trong thành ngữ là nhằm nói về những ý niệm khái quát hoá Nghĩa của thành ngữ được hình thành từ các phương thức tạo nghĩa như ẩn dụ, hoán dụ, so sánh Tính biểu trưng ngữ nghĩa của thành ngữ còn liên quan đến các hiện tượng trong đời sống xã hội, trong lịch sử, phong tục tập quán, tín ngưỡng của nhân dân [29]

Nghĩa biểu trưng trong thành ngữ được hình thành nhờ quá trình biểu trưng hóa Trong đó có hai loại biểu trưng hóa là:

- Biểu trưng hóa dựa vào quan hệ tương thích giữa âm và nghĩa, gọi là giá trị biểu trưng hóa ngữ âm

- Biểu trưng hóa dựa vào quan hệ tương đồng và tương cần trong quá trình

Trang 40

liên hội ngữ nghĩa, gọi là biểu trưng hóa ngữ nghĩa Hình thái liên hội ngữ nghĩa

theo quan hệ tương đồng là so sánh

TIỂU KẾT CHƯƠNG 1

Qua nghiên cứu tác giả rút ra một số kết luận sau:

- Thành ngữ là một bộ phận quan trọng trong hệ thống ngôn ngữ của dân tộc Lào cũng như Việt Nam Trong tiếng Lào, các nhà folklore Lào không phân chia thành ngữ, tục ngữ riêng biệt mà gọi chung là xú pha xít

- Xú pha xít của Lào và thành ngữ tiếng Việt có nhiều nét tương đồng về mặt cấu tạo và ngữ nghĩa Tuy nhiên so với thành ngữ Việt thì thành ngữ Lào có kết cấu đơn giản hơn Qua thành ngữ, người dân Lào cũng như người Việt đã khắc họa những nét đặc trưng trong đời sống lao động, sản xuất cũng như đời sống sinh hoạt, văn hóa tinh thần của người dân lao động, đồng thời qua đó để gửi gắm những bài học quý bàu, những giá trị nhân sinh sâu sắc trong cuộc sống

- Thành ngữ, tục ngữ, mặc dù có nhiều điểm khác nhau, song nhìn chung

cả hai đều là lời ăn tiếng nói của nhân dân, là di sản ngôn ngữ, tri thức, kinh nghiệm vô cùng quý báu của mỗi dân tộc Tuy nhiên, mỗi thể loại có những đặc điểm riêng,đặc trưng riêng của mình

- Nét nổi bật của thành ngữ là tính biểu trưng Khả năng biểu trưng của hình ảnh trong thành ngữ rất phong phú đa dạng Mặt khác, qua cách cách dùng hình ảnh biểu trưng, đặc điểm về tư duy, bản sắc văn hoá của mỗi dân tộc cũng

đã được phản ánh khá rõ

- Từ chỉ con số thuộc lớp từ cơ bản của ngôn ngữ Trong thành ngữ, các từ

chỉ con số có tính biểu trưng cao, thể hiện được sự linh hoạt và phong phú trong cách tư duy của chủ thể sáng tạo

Ngày đăng: 12/02/2019, 22:03

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w