1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Những điều cấm kỵ trong văn hóa Jeju (Hàn Quốc) thông qua tục ngữ địa phương

13 65 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 13
Dung lượng 0,92 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài viết này nghiên cứu về những điều cấm kỵ trong cuộc sống của người dân đảo Jeju dựa trên nguồn ngữ liệu là kho tàng tục ngữ địa phương được tổng hợp trong quyển Từ điển tục ngữ Jeju của Go Jae Hwan (2013) và một số nghiên cứu khác.

Trang 1

NHỮNG ĐIỀU CẤM KỲ TRONG VĂN HOÁ JEJU (HÀN QUỐC)

THÔNG QUA TỤC NGỮ ĐỊA PHƯƠNG

Lương Quốc An

Trường đại học Ngoại ngữ - Tin học TP.HCM

Tóm tắt

Phương ngữ Jeju (Hàn Quốc) đang đứng trước nguy cơ biến mất do số người sử dụng đang ngày một giảm đi Trong bối cảnh đó, việc nghiên cứu phương ngữ Jeju cũng như các loại hình văn học dân gian địa phương được viết bằng phương ngữ này là một việc làm cấp thiết Bài viết này nghiên cứu về những điều cấm kỵ trong cuộc sống của người dân đảo Jeju dựa trên nguồn ngữ liệu là kho tàng tục ngữ địa phương được tổng hợp trong quyển ―Từ điển tục ngữ Jeju‖ của Go Jae Hwan (2013) và một số nghiên cứu khác Bài viết áp dụng phương pháp phân loại và tổng hợp nhằm chọn lọc ra những câu tục ngữ liên quan đến những điều cấm kỵ trong đời sống Thông qua qua quá trình nghiên cứu sẽ giúp tìm ra được cấu trúc cú pháp cũng như độ hư thực của những điều cấm kỵ này trong bối cảnh hiện đại

Từ khóa

tục ngữ, văn hoá, cấm kỵ, đảo Jeju

1 Mở đầu

Ngôn ngữ là tấm gương phản chiếu mọi mặt của đời sống con người Bất kỳ ngôn ngữ nào cũng hàm chứa giá trị văn hóa của dân tộc sử dụng nó Văn học dân gian cũng là một bộ phận hình thành và phát triển trên cái nền của ngôn ngữ nên nó cũng có chức năng như thế Tục ngữ Jeju (Hàn Quốc) cũng tương tự vậy Tuy nhiên, cùng với sự phát triển của xã hội, phương ngữ Jeju đang đứng trước nguy cơ biến mất do số người sử dụng ngày một giảm đi và nó được UNESCO xếp vào vào loại ―ngôn ngữ bị đe dọa rất nghiêm trọng‖ (critically endangered language) Một khi tiếng Jeju biến mất sẽ kéo theo những giá trị truyền thống cũng sẽ bị mai một và biến mất đi Vì thế, việc nghiên cứu phương ngữ Jeju nói chung và tục ngữ Jeju nói riêng là một việc làm cấp thiết nhằm lưu giữ và bảo tồn không chỉ phương ngữ này mà còn văn hoá bản địa của cư dân trên hòn đảo

Cho đến nay, Việt Nam vẫn chưa có nhiều công trình nghiên cứu về đảo Jeju cũng như

tục ngữ Jeju Tiêu biểu nhất có thể kể đến luận văn thạc sỹ Những đặc trưng văn hoá của đảo

Jeju thông qua tục ngữ địa phương (2018) của tác giả Lương Quốc An Đây được xem là

công trình nghiên cứu về văn hoá Jeju dựa trên nguồn ngữ liệu là tục ngữ địa phương đầu tiên

ở Việt Nam Còn ở Hàn Quốc hiện nay, sự quan tâm của các nhà khoa học (kể cả người gốc Jeju lẫn người trong đất liền) đang ngày càng nhiều hơn Go Jae-hwan có lẽ là một trong

những học giả đầu tiên tiếp cận với chủ đề tục ngữ Jeju Trong công trình Tổng quan về tục

ngữ Jeju (1993) của ông cũng có một chương nhắc đến những điều cấm kỵ trên đảo được đúc

kết từ tục ngữ địa phương Bên cạnh đó, ông cũng xuất bản quyển Từ điển tục ngữ Jeju

(2013) với hơn 2000 câu tục ngữ Jeju được ông tổng hợp lại trong suốt quá trình nghiên cứu Đây cũng là nguồn ngữ liệu quan trọng giúp cho việc nghiên cứu văn hoá bản địa dựa trên tục

ngữ Tác giả Moon Soon-deok với công trình Nét đẹp trong tục ngữ về phụ nữ Jeju (2012)

cũng có chọn lọc ra những câu tục ngữ về các điều cấm kỵ dành cho phụ nữ trên đảo Ngoài

Trang 2

ra cũng còn nhiều tác giả Hàn Quốc như Go Jin-suk (2003), Kim Mi-jin (2008), Kim Ju-hyung (2009) … đã xuất bản nhiều công trình nghiên cứu về tục ngữ Jeju

Mục đích của bài viết này là nghiên cứu về những điều cấm kỵ của cư dân đảo Jeju dựa

trên những câu tục ngữ địa phương Bài viết sẽ đi sâu vào tìm hiểu ba nội dung chính: thứ

nhất là cấu trúc ngữ pháp của những câu tục ngữ cấm kỵ, thứ hai là những điều cấm kỵ trong

đời sống vật chất và tinh thần của cư dân trên đảo được thể hiện dưới dạng tục ngữ và thứ ba

là thảo luận về độ hư thực của những câu tục ngữ này dưới góc nhìn của xã hội hiện đại

2 Cơ sở lý luận và thực tiễn

2.1 Tục ngữ và tục ngữ Jeju

2.1.1 Khái niệm tục ngữ và mối quan hệ giữa tục ngữ và văn hoá

Các học giả Việt Nam và Hàn Quốc đều đưa ra nhiều quan điểm khác nhau khi tiếp cận

đơn vị được gọi là ―tục ngữ‖ Theo Từ điển tiếng Việt của Hoàng Phê, tục ngữ là ―câu nói

ngắn gọn, thường có vần điệu, đúc kết tri thức, kinh nghiệm sống và đạo đức thực tiễn của nhân dân‖ (Hoàng Phê, 1995) Ngoài ra, khi đề cập đến khái niệm tục ngữ dưới góc nhìn của ngôn ngữ học, Nguyễn Văn Mệnh cho rằng ―tục ngữ nói về những vấn đề triết học, tư tưởng, đạo đức, chân lý, kinh nghiệm sản xuất, đấu tranh xã hội và cách đối nhân xử thế… Những nội dung đó được biểu hiện bằng câu hoàn chỉnh‖ (dẫn theo Trần Văn Tiếng, 2006) Trong tiếng Hàn, tục ngữ gọi là sok-dam (속담, tục đàm).Nhà nghiên cứu về tục ngữ Jeju là Go

Jae-hwan đã đề cập đến khái niệm tục ngữ trong Tổng quan về tục ngữ Jeju, ông cho rằng tục ngữ

―là những lời giáo huấn trong đời sống mà những người đương thời thích nghi với môi trường

và rút ra được, có năm đặc tính chủ yếu, đó là tính súc tích về mặt hình thức và tính giáo huấn, tính dân gian, tính đồng cảm, tính ẩn dụ về mặt nội dung‖ (Go Jae-hwan, 1993) Còn trong

giáo trình Tiếng Hàn 4 của Trường đại học Yonsei cũng có một phần nói về tục ngữ như sau:

―Tục ngữ là một trong những câu nói được truyền lại từ thời xa xưa và trong những câu nói

đó hàm chứa những lời giáo huấn đúc kết kinh nghiệm sống Đặc biệt, ý nghĩa của nó vừa rõ ràng mà cũng vừa súc tích nên dễ học thuộc và cũng dễ sử dụng‖ (Trường đại học Yonsei, 1992) Như vậy, dù là dưới góc nhìn của người Việt Nam hay Hàn Quốc thì khái niệm tục

ngữ cũng bao hàm hai nội dung chính: một là hình thức ngắn gọn, súc tích; hai là nội dung

phản ánh nhiều mặt của đời sống con người, đúc kết được nhiều kinh nghiệm sống

Tục ngữ có quá trình hình thành và phát triển lâu dài cùng với dòng chảy lịch sử của dân tộc Tục ngữ nào cũng bao hàm yếu tố con người bên trong Con người là chủ thể sáng tạo ra tục ngữ, cũng là khách thể mà tục ngữ muốn hướng đến Mục đích mà con người tạo ra tục ngữ là muốn truyền tải lời khuyên để mọi người sống hướng thiện, phê phán những thói

hư tật xấu và hướng dẫn con người hành xử đúng đắn trong giao tiếp, ứng xử và trong lao động sản xuất Đặc biệt, có một số lượng không ít những câu tục ngữ nhắc đến những điều cấm kỵ trong sinh hoạt Tục ngữ phản ánh được trình độ, năng lực, phẩm chất của con người qua từng thời đại khác nhau Chính vì thế, tục ngữ cũng là một bộ phận của văn hoá Dấu ấn văn hoá của mỗi dân tộc được in đậm trong tục ngữ của dân tộc đó Chẳng hạn như ở Việt

Nam khi xây nhà, người ta có câu Lấy vợ kiêng tuổi đàn bà, làm nhà kiêng tuổi đàn ông Còn

Trang 3

ở đảo Jeju thì có câu 막은 방에 이 안 다 (Không dọn nhà đến hướng bị tắc nghẽn)21

Qua hai câu tục ngữ trên có thể thấy được rằng ở mỗi nơi người ta có quan điểm khác nhau trong chuyện xây nhà Trong khi người Việt thì xem trọng tuổi của chủ nhà thì người Jeju lại xem trọng phương hướng xây nhà Như vậy, tục ngữ được ví như là tấm gương phản ánh văn hoá của mỗi dân tộc Nghiên cứu tục ngữ cũng là một phương thức nhằm làm rõ giá trị văn hoá của dân tộc đó

2.1.2 Tục ngữ Jeju

Tục ngữ địa phương Jeju (gọi tắt là tục ngữ Jeju) là những câu tục ngữ được viết bằng phương ngữ Jeju, do người dân trên đảo sáng tạo ra thông qua những hoạt động vật chất và

tinh thần Bàn về tục ngữ Jeju, Go Jin-suk đã chỉ ra ba đặc trưng chính Thứ nhất, tục ngữ Jeju

vẫn còn bảo tồn nhiều hình thái của tiếng Hàn trung đại mà trong tiếng Hàn toàn dân ngày nay

đã biến mất Thứ hai, tục ngữ Jeju phản ánh rõ nét bản sắc của đảo Jeju thông qua những phong tục, tập quán chỉ có ở Jeju Thứ ba, tục ngữ Jeju thể hiện đặc sắc trong văn hoá sản

xuất, văn hoá ăn mặc ở dựa trên những hoàn cảnh địa lý đặc trưng của đảo (Go Jin-suk, 2003)

Về mặt cấu trúc cú pháp, tục ngữ Jeju cơ bản được chia làm hai dạng chính: cấu trúc

đơn và cấu trúc ghép Ở dạng cấu trúc đơn cũng được chia ra thành hai dạng nhỏ là: dạng câu đơn đầy đủ chủ - vị và dạng câu đơn khiếm khuyết Dạng câu đơn đầy đủ chủ - vị là những câu tục ngữ có đầy đủ hai thành phần chủ ngữ và vị ngữ Ví dụ như câu 쳇똘은 종 부릴

팔 저)에 난다 (Con gái đầu lòng vốn sinh ra đã có số đầy tớ) Dạng câu đơn khiếm khuyết là dạng câu đơn thiếu đi một thành phần chính, do đó nó có cấu tạo như một danh ngữ

hoặc một động ngữ Câu tục ngữ 영장밧듸 떡 (Bánh ttok nghĩa địa) là một ví dụ của dạng

này, nó chỉ mới là một cụm danh từ chứ chưa phải là câu văn hoàn chỉnh Cũng giống như dạng cấu trúc đơn thì dạng cấu trúc ghép cũng gồm hai dạng chính, đó là: dạng câu ghép chính phụ và dạng câu ghép đẳng lập Dạng câu ghép chính phụ có cấu tạo hai vế và có quan

hệ về mặt ngữ nghĩa, thường nối với nhau bằng đuôi từ liên kết–젠(젱) 민 (nếu muốn), –민 (nếu) Còn với dạng câu ghép đẳng lập thì hai vế có quan hệ đẳng lập (hoặc song song), được nối với nhau bằng đuôi từ liên kết –곡 (và/ còn) Tuy nhiên, cũng có những câu tục ngữ có hình thức bên ngoài như dạng câu ghép đẳng lập nhưng được tỉnh lược vĩ tố liên kết –곡 và một số yếu tố được lặp lại Chẳng hạn như câu 잘 여도 구숭, 못 여 구숭 (Làm

tốt cũng (là) sai phạm, (và) làm không tốt cũng (là) khuyết điểm) đã lược mất đuôi từ liên kết

–곡 (và), thay bằng dấu phẩy, cũng như động từ 이다 (là) ở hai vế

21 Hướng bị tắc nghẽn ở đây chỉ phương hướng không tốt lành, nếu xây nhà theo hướng đó sẽ mang lại tai ương cho cả gia đình

Trang 4

Bảng 1 Phân loại tục ngữ Jeju dựa theo cấu tạo câu

Cấu tạo câu

Cấu trúc đơn

Dạng câu đơn đầy đủ chủ - vị Dạng câu đơn khiếm khuyết thành phần chính

Cấu trúc ghép

Dạng câu ghép chính phụ

Dạng câu ghép đẳng lập

Dạng có vĩ tố liên kết Dạng lược bỏ vĩ tố liên kết (Lương Quốc An, 2018)

Về mặt cấu tạo ngữ nghĩa, tục ngữ Jeju cũng giống như tục ngữ của bất kì ngôn ngữ nào

khác, cũng có những câu chỉ mang nghĩa đen, cũng có những câu chỉ mang nghĩa bóng Những câu chỉ mang nghĩa đen thường đúc kết kinh nghiệm sống của tổ tiên trong lao động sản xuất hoặc đời sống thường nhật Ví dụ: 바당 속(소곱)이 으민 날 좋곡, 어둑으민 날

궂나 (Nước biển trong thì trời đẹp, nước biển đục thì trời xấu), 고사리 좋은 헤 메역 풍년

든뎅 다 (Năm nào dương xỉ mọc nhiều thì rong biển được mùa) Còn những câu chỉ mang

nghĩa bóng thì nói về những triết lý cuộc sống, những điều giáo huấn, răn dạy của ông cha để

chân chim để đãi tiệc trăm người ăn cũng còn chừa lại một chân) khuyên mọi người thực

hành tính tiết kiệm trong ăn uống Bên cạnh đó, cũng có những câu vừa mang nghĩa đen, vừa mang nghĩa bóng Ví dụ câu tục ngữ 신 사름도 엇을 때 싯곡, 엇은 사람도 실 때 싯나

(Người có tiền cũng có lúc hết tiền, người không có tiền cũng có lúc có tiền) Nghĩa đen của

câu tục ngữ này thể hiện rất rõ trong từng câu chữ Còn nghĩa bóng của câu này muốn nói

rằng đời người cũng có lúc này lúc kia không ai biết trước được, giống như câu Sông có khúc,

người có lúc của Việt Nam vậy

2.2 Điều cấm kỳ

―Cấm kỵ‖ là một từ Hán Việt, trong đó ―cấm‖ nghĩa là cấm đoán, không được vi phạm; còn ―kỵ‖ nghĩa là né tránh, dè chừng Như vậy, điều cấm kỵ được hiểu là những điều bị ngăn cấm, không được phép làm vì nó nguy hiểm, ghê sợ hoặc có tính chất linh thiêng nào đó nên người ta phải kiêng kỵ Cấm kỵ có thể phân ra thành hai loại: cấm kỵ trong ngôn ngữ và cấm

kỵ trong hành động Trong một xã hội nào đó, người ta cho rằng nếu nói ra một số lời được cho là ghê tởm, nguy hiểm hoặc bất cát thì tai hoạ sẽ ập đến nên họ phải né tránh Chẳng hạn như khi nhắc đến những bộ phận nhạy cảm trên cơ thể, người ta thường không dùng đúng tên của bộ phận đó mà phải nói tránh bằng ―cái ấy‖, ―chỗ đó‖ Hoặc là ở thời phong kiến Việt Nam có văn hoá ―huý kỵ‖ Khi đặt tên con cái hoặc địa danh nào đó, người ta phải tránh tên của vua hoặc cha mẹ của vua, nếu không sẽ bị gán tội Đó là cấm kỵ trong ngôn ngữ Còn cấm kỵ trong hành động là những điều mà người ta không được phép làm Ở đây có thể chia thành ba lý do chính:

Trang 5

 Thứ nhất, do ảnh hưởng đến tính mạng và sức khoẻ Chẳng hạn như ở Jeju có những câu tục ngữ dành cho thai phụ như: 애기벤 예펜은 울담을 넘지 아니 다 (Bà bầu

không được trèo qua hàng rào), 애기 밴 예펜 석(줄) 안 넘나 (Bà bầu không được bước qua dây ngựa) nhằm khuyên răn họ phải đi đứng cẩn thận để tránh bị sảy thai

 Thứ hai, do phạm phải tổ tiên, thần linh hoặc những điều mà xã hội đó cho là linh

thiêng, bất khả xâm phạm Phần nhiều những điều cấm kỵ này mang tính chất mê tín dị đoan Câu tục ngữ 새 집 짓으민 성주 내리와사 다(Nếu xây nhà mới thì phải rước thần Seongju về)

là một ví dụ Thần Seongju là vị thần đứng đầu trong số các vị gia thần được người Jeju rước

về nhà mới để cầu mong sự phồn vinh và bình an vô sự Nếu không làm thì nhà đó sẽ xảy ra tai ương

 Thứ ba, do những định kiến xã hội buộc mọi người trong xã hội đó phải tuân theo Đối

tượng mà những điều cấm kỵ này nhắm đến thường là phụ nữ và trẻ em Đặc biệt, trong xã hội phong kiến trọng nam khinh nữ thì người phụ nữ là đối tượng đặc biệt phải giữ ý tứ trong ngôn từ và hành động, nếu không sẽ bị buông lời dèm pha Chẳng hạn như những câu tục ngữ:

một tháng Giêng), 샛절 드는 날 여자가 놈의 집이 아가지 말라 (Đàn bà đừng tìm

đến nhà người ta vào ngày Lập xuân)

Những điều cấm kỵ thường chỉ có tính chất tương đối Nghĩa là nó có thể là điều cấm

kỵ ở trong một xã hội nào đó, nhưng lại là bình thường ở một xã hội khác Chẳng hạn như ở Trung Quốc, việc tặng đồng hồ cho người khác là điều cấm kỵ bởi vì trong tiếng Trung Quốc,

―tặng đồng hồ‖ đồng âm với từ ―tiễn đưa ai đó lần cuối trước khi qua đời‖ Tuy nhiên, chuyện này lại bình thường ở những nước khác như Việt Nam, Hàn Quốc

Những điều cấm kỵ đôi khi còn là những điều răn đe, giáo huấn nhằm hướng dẫn con người cách hành xử đúng đắn, phù hợp với chuẩn mực của xã hội đó Đặc biệt khi những điều cấm kỵ này được thể diện dưới dạng tục ngữ thì tính giáo huấn càng rõ nét hơn Chẳng hạn

như ở Hàn Quốc có câu 남에 침을 뱉으면 버짐난다 (Nhổ nước bọt lên người khác sẽ bị ghẻ)

để răn đe người ta không được xúc phạm, miệt thị người khác bằng việc nhổ nước bọt vào họ

Ngoài ra cũng có câu 아침에 여자와 말다툼을 하든지 욕을 먹으면 재수 없다 (Sáng sớm

cãi nhau hoặc chửi thề với phụ nữ thì xúi quẩy) nhằm khuyên người ta không nên cãi vã vào

sáng sớm, vì nếu làm như vậy sẽ xui xẻo suốt cả ngày

Tóm lại, cấm kỵ là những điều mà người ta e sợ nên không được phép làm, có thể do nhiều lí do như ảnh hưởng đến tính mạng, sợ phạm phải những điều linh thiêng hoặc không đúng với chuẩn mực xã hội Những điều cấm kỵ này chỉ mang tính tương đối và đôi khi nó còn là những lời răn dạy, giáo huấn cho mọi người làm theo

3 Phương pháp nghiên cứu và nguồn tài liệu

Để nghiên cứu về những điều cấm kỵ ở đảo Jeju thông qua tục ngữ địa phương, chúng tôi sử dụng chủ yếu phương pháp phân loại và tổng hợp nhằm tìm kiếm những câu tục ngữ Jeju có liên quan đến những điều cấm kỵ Sau đó sẽ phân loại những câu tục ngữ đó theo từng phương diện của văn hoá để phân tích chúng Nguồn ngữ liệu mà chúng tôi dùng để nghiên

Trang 6

cứu là hơn 2000 câu tục ngữ trong quyển Từ điển tục ngữ Jeju của tác giả Go Jae-hwan (2013)

cũng như những câu tục ngữ khác do tác giả sưu tầm được trên mạng và ở các công trình nghiên cứu khác

4 Kết quả nghiên cứu

4.1 Cấu trúc cú pháp của những câu tục ngữ Jeju liên quan đến điều cấm kỳ

Điều cấm kỵ là một trong những đề tài hay gặp trong kho tàng tục ngữ Jeju Vì cũng là tục ngữ Jeju nên chúng có những cấu trúc cú pháp tương tự như vậy (xem phần 2.1.2.) nhưng

có một số đặc trưng riêng biệt Xét về mặt cấu tạo câu thì những câu tục ngữ liên quan đến điều cấm kỵ được chia thành hai dạng chính

4.1.1 Dạng không có đuôi từ liên kết –(으)민

Đây là những câu tục ngữ thể hiện trực tiếp, rõ ràng điều muốn cấm kỵ mà không đi với

đuôi từ liên kết –(으)민 (nếu) mang nghĩa điều kiện – kết quả Chúng thường kết thúc bằng

hoặc dạng phủ định: 안 (không), 아니 (không) Với những câu tục ngữ kết thúc bằng đuôi câu – 다 (phải) là dạng hướng dẫn người ta phải thực hiện một điều gì đó để tránh mang lại tai ương cho bản thân Còn với những câu tục ngữ kết thúc bằng 지 말라 (đừng), (으)민 안

뒌다 (không được phép) hoặc 안 (không), 아니 (không) là dạng cấm đoán, không cho phép người ta làm việc đó Riêng những câu dùng đuôi –지 말라 (đừng) cho cảm giác cứng

rắn, mạnh mẽ hơn và có tần suất xuất hiện nhiều nhất

 Dạng – 다 (phải) có những câu tục ngữ như: 들에 강(간) 음식 먹을 때 코시헤 뒝(뒌) 먹어사 다 (Khi ăn ngoài đồng thì phải sẻ một miếng cho quỷ thần trước rồi mới

ăn), 사돈 땐 근본을 봐사 다 (Khi chọn thông gia phải xem xét nguồn gốc) Thông

thường những câu tục ngữ cấm kỵ ở dạng này không nhiều vì đã là điều cấm kỵ thì dùng dưới dạng cấm đoán, phủ định sẽ thể hiện rõ ý nghĩa hơn Ngoài ra, nếu dùng dưới dạng – 다 (phải) thì thường kèm thành phần chỉ thời gian –ㄹ땐 (khi) để làm rõ được tình huống cấm kỵ

 Dạng –지 말다 (đừng), –민 안 뒌다 hoặc 안 (không), 아니 (không) có những câu tiêu biểu như: 영등서지(Vào tháng Linh Đăng thì đừng nên phơi quần áo)22

, 노롬(름)쟁이

사위 말라 (Đừng tìm con rể là con nghiện cờ bạc), 여자는 날개 먹으민 안 뒌다

(Phụ nữ không được ăn cánh gà) 23

nhà bếp), 호상옷 씰(실) 작 안 지운다 (Không thắt dây chỉ của áo liệm) Những câu

22 Linh Đăng là một nữ thần được người Jeju tin rằng giáng trần vào ngày mùng 1 tháng Hai Âm lịch để xem xét tình hình nông nghiệp ở mỗi nhà trên đảo Vào tháng Linh Đăng tức là tháng Hai Âm lịch, người dân Jeju tin rằng phải cẩn thận trong mọi điều, kể cả phơi đồ cũng nên hạn chế Nếu phơi quần áo trong tháng này dễ bị sâu

bọ bám vào (Moon Soon-deok, 2012)

23 Người Jeju xưa tin rằng việc nếu phụ nữa mà ăn cánh gà sẽ bay nhảy lung tung nên nghiêm cấm việc làm này Đàn ông thì ăn được (Moon Soon-deok, 2012)

Trang 7

tục ngữ này thể hiện một cách trực tiếp những điều cấm kỵ Đôi khi xuất hiện chủ ngữ, là đối tượng mà câu tục ngữ đó muốn nhắm đến Chẳng hạn như những câu: 여자는 식전에 놈이

집에 가지 말라 (Phụ nữ đừng đến nhà người khác vào buổi sáng), 새각씨 밥 흘령 먹지

말라 (Cô dâu đừng quậy cơm khi ăn), 상젠 물색옷 입지 말라 (Tang chủ đừng mặc áo

sặc sỡ) Những câu này đều có chủ ngữ như phụ nữ, cô dâu, tang chủ là đối tượng mà câu tục

ngữ muốn hướng đến Còn nếu không có chủ ngữ thì có hai trường hợp Một là, đối tượng muốn nhắm đến là tất cả mọi người, không phân biệt đối tượng nào Hai là, người đọc phải đoán dựa trên tình huống Câu tục ngữ 쥥(쥉)이 리는 배랑 타지 말라 (Đừng lên chiếc

thuyền mà chuột bỏ chạy) 24 rõ ràng không có chủ ngữ, nhưng đối tượng mà nó muốn hướng đến là những người ngư dân đi biển dựa trên bối cảnh ―lên thuyền‖

4.1.2 Dạng có điều kiện –(으)민

Đây là dạng câu ghép chính-phụ với đuôi từ liên kết –(으)민 (điều kiện – kết quả) Những câu tục ngữ thuộc dạng này thường theo mô-tuýp ―nếu làm hành động nào đó sẽ dẫn đến một kết quả không hay ở phía sau‖ Dạng này có những câu như 것박접 민 줴짓나

(Bạc đãi thức ăn là gây tội), 먹는 물에 춤 바끄민 줴받나 (Nhổ nước bọt vào nước uống

là có tội), 소중이 일러불민 재수 다 봣저 (Làm mất bộ sojungi thì gặp xui), 할망 직

아이안티 눈꿀 민 줴짓나 (Liếc xéo đứa bé được bà Tam Thần phù hộ là có tội), 못

말 민 지 손에 앙얼 간다(Nói lời xấu thì con cái chịu tai ương) Nhìn những ví dụ trên,

có thể thấy những điều cấm kỵ luôn nằm ở vế trước của đuôi –(으)민 (vế điều kiện) Đó là những hành động mà con người không nên làm như là không được bạc đãi thức ăn, không được làm mất bộ sojungi, không được nói xấu người khác… Nếu làm những điều này sẽ dẫn đến một kết cục nào đó tuỳ vào mỗi câu tục ngữ Như vậy, thay vì cấm cản trực tiếp như dạng thứ nhất bằng những đuôi câu mệnh lệnh như ―đừng‖, ―không được‖ thì dạng này có kèm thêm một kết quả để thể hiện tính răn đe hơn

Bên cạnh đó, cũng có dạng –(으)민 나쁘다 (nếu làm… thì xui xẻo) xuất hiện như là tục ngữ cấm kỵ Đó là những câu tục ngữ như: 상제가 새각씨나 새시방 옷을 멩글민 나쁘다 (Người để tang làm đồ cưới cho cô dâu thì xui xẻo), 제 벌인 방이 여자가

들어가민 나쁘다 (Phụ nữ bước chân vào căn phòng chuẩn bị cúng kiếng là xui), 본향당에

갈 때 인사허민 나쁘다 (Chào nhau khi đi đến Miếu thờ là xui) Thay vì đưa ra một kết cục

cụ thể nào đó thì những câu tục ngữ này chỉ dùng mỗi tính từ 나쁘다 (xấu, xui) để diễn tả hậu quả khi thực hiện điều được cho là cấm kỵ

4.2 Những điều cấm kỳ trong đời sống vật chất thông qua tục ngữ địa phương

Jeju là một hòn đảo nằm giữa đại dương với bốn bề được bao phủ bởi biển cả mênh mông nên từ thuở sơ khai, người dân nơi đây đã biết dựa vào biển để sinh tồn và phát triển

24 Chuột là loài động vật nhạy cảm với thời tiết Nếu bão sắp đến thì những con chuột trên thuyền sẽ tháo chạy ra hết Khi nhìn cảnh tượng này, ngư dân sẽ biết được trời sắp có bão và không ra khơi nữa (Go Jae-hwan, 2013)

Trang 8

kinh tế Biển cả rộng lớn mang lại nhiều lợi ích kinh tế nhưng cũng đồng thời chứa đựng nhiều mối hiểm nguy tiềm tàng đe dọa đời sống của con người nên cư dân Jeju vừa sợ biển, vừa tôn sùng biển (Lương Quốc An, 2017) Chính vì điều kiện sống khó khăn và nguy hiểm như thế nên người dân ở đây càng đặt ra nhiều điều cấm kỵ hơn so với bất kỳ nơi nào ở Hàn Quốc

Ngày xưa, người dân đảo Jeju kiếm sống chủ yếu bằng nghề biển Đàn ông thì đánh bắt

cá ngoài khơi còn phụ nữ thì làm nghề hải nữ25

và trồng trọt trên những thửa ruộng nhỏ ven biển Trải qua nhiều đời gắn bó với biển nên họ đã đúc kết được nhiều tri thức dân gian và truyền lại cho các thế hệ sau thông qua những câu tục ngữ ngắn gọn, dễ nhớ Chẳng hạn như với nghề đi biển có những điều cấm kỵ liên quan đến tàu bè Chiếc thuyền đánh cá không chỉ

là kế sinh nhai của người đi biển mà nó còn liên quan đến tính mạng của người ra khơi nên có

lên chiếc thuyền mà chuột bỏ chạy), 웨 수(세)기 튀는 듼 가지 말라 (Đừng đi sau lưng

cá heo)26

em trai không đi cùng thuyền) cho thấy điều cấm kỵ lớn nhất của nghề biển là tất cả đàn ông

trong gia đình không được lên cùng một chiếc tàu để ra biển Nếu nhỡ gặp phải bất trắc thì gia đình đó sẽ không có con trai nối dõi

Bên cạnh đó, nhắc đến Jeju không thể không nhắc đến nghề hải nữ Môi trường làm việc của các hải nữ là dưới đáy biển với đất đá lởm chởm, địa hình gồ ghề, có nhiều mối hiểm nguy tiềm tàng Chính vì thế họ cũng đặt ra những điều cấm kỵ trong lúc hành nghề để bảo vệ tính mạng cũng như giúp cho chuyến ra biển được suôn sẻ, thuận lợi Những câu tục ngữ cấm

kỵ liên quan đến nghề hải nữ cũng khá nhiều, tiêu biểu có câu: 소중이 일러불민 재수 다

봣저 (Làm mất bộ sojungi thì gặp vận xui) Bộ sojungi là bộ đồ lặn của hải nữ, họ thường đem phơi trên bờ tường sau khi đi lặn trở về Vì là trang phục lao động nên là món đồ vô cùng quý báu, họ tin rằng nếu làm mất sẽ mang lại những điều xui xẻo cho bản thân nên tuyệt đối phải giữ kỹ Ngoài ra cũng có những điều cấm kỵ nói lên kinh nghiệm đi biển của những cô

hải nữ như là: 물 가볼 때 사흘은 물에 안 든다 (Khi thuỷ triều lên thì ba ngày không

xuống biển), 동짓 광 섣 전북 새끼 치중 땐 안 문다 (Tháng Đông Chí và tháng

Chạp không bắt bào ngư đang ấp trứng)

Hoạt động kinh tế truyền thống trên đảo Jeju là bán nông bán ngư Cùng với nghề khai thác hải sản thì trồng trọt và chăn nuôi cũng là những nghề nghiệp không kém phần quan trọng nhằm giải quyết nhu cầu ăn uống của cư dân trên đảo So với nghề đánh bắt hải sản thì nông nghiệp và chăn nuôi ít nguy hiểm hơn Dù vậy thì vẫn có những điều cấm kỵ buộc phải tuân theo Trong trồng trọt thì có những câu tục ngữ cấm kỵ như: 땅도 못 디게 둘민

25 Theo định nghĩa của Viện bảo tàng Hải nữ Jeju thì: ―Hải nữ là những người phụ nữ làm nghề lặn biển để thu lượm hải sản bằng cách tự điều tiết hô hấp của bản thân và không phụ thuộc vào bất kì thiết bị, máy móc nào‖ Đối tượng khai thác của họ chủ yếu là những loài hải sản và thực vật biển sống ở những vùng nước cạn dưới mực nước biển khoảng 20m như bào ngư, nghêu sò, hải sâm hoặc rong biển, tảo biển (Lương Quốc An, 2017)

26 Bởi vì theo sau cá heo thường là một đàn cá mập nguy hiểm

Trang 9

용시(농 ) 잘 안 뒌다 (Nếu cư xử với đất đai đến mức không chịu đựng được thì chuyện

làm nông sẽ không suôn sẻ) với ý nghĩa là không được canh tác quá mức mà phải cho đất đai

(Cô gái khó nhìn bước vào ruộng dưa đang ra quả thì dưa vỡ hết) là câu tục ngữ cấm người

ta đi vào ruộng dưa hấu khi đang ra quả, 콩밭에 똥사민 베락 맞나 (Đi ngoài trên cánh

đồng đậu sẽ bị sét đánh) là cấm việc đi ngoài bừa bãi trên thửa ruộng đang canh tác Ngoài ra

trong chăn nuôi cũng có những câu như: 종(소) 꽂인 밧딘 쉬 안 놓나 (Không thả ngựa

bò vào ruộng được cắm cọc) nghĩa là nơi cắm cọc là thửa ruộng nhà người khác nên không

được tuỳ ý thả ngựa bò vào, 밤질 걸을 때 밧갈쉐랑 앞셉곡, 랑 앞셉지 말라 (Đi

đường đêm thì để bò đi trước, đừng để ngựa đi trước) là vì loài bò điềm đạm hơn nên khi gặp

tiếng động lạ vào ban đêm cũng không giật mình, 석은 몸에 안 감나 (Không quấn dây

ngựa quanh mình), 도새기 새끼 날 때 다상 보민 숭 다 (Nhìn lợn đẻ con là bị quở

mắng) là những hành động cấm kỵ khi nuôi gia súc, nếu phạm phải sẽ làm kinh động những

loại vật này

Jeju là hòn đảo nằm giữa biển và luôn phải hứng chịu ảnh hưởng của bão Chính vì thế nên vào ngày xưa hoạt động sản xuất trên đảo không được ổn định Có năm được mùa, có năm mất mùa Thêm vào đó hòn đảo được hình thành bởi hoạt động phun trào núi lửa nên thổ nhưỡng ở đây chủ yếu là đất bazan, không thích hợp để trồng lúa nước Điều này dẫn đến việc người dân nơi đây rất quý trọng thức ăn Họ xem việc lãng phí là điều cấm kỵ lớn nhất Do đó xuất hiện những câu tục ngữ địa phương như: 것 박접 민 줴짓나 (Bạc đãi thức ăn là gây

tội), 먹는 물에 춤 바끄민 줴받나 (Nhổ nước bọt vào nước uống là có tội), 먹는 물에

Âm Phủ phải lấy lông mày vớt lên hết), 싯(씻)을 때 물 하영 쓰민 저승(싕)강 그 물 다 먹어사 다 (Dùng nhiều nước khi rửa mặt thì sau này chết phải uống hết nước đó) Hậu

quả xuất hiện trong những câu tục ngữ này như ―có tội‖, ―xuống Âm Phủ‖, ―chết đi‖ tuy nghe rất nặng nề, nhưng phần nào cho thấy được thái độ cứng rắn của người dân Jeju đối với những người sống lãng phí

Về văn hoá cư trú, trong tâm thức của người Jeju thì nhà cửa không quan trọng bằng ruộng đồng nên có những câu tục ngữ như: 집 물림 말앙 밧 물림 라 (Đừng thừa kế nhà,

hãy thừa kế ruộng), 큰 집 물리지 말앙 족은 밧 물리라 (Đừng thừa kế căn nhà to, hãy thừa kế thửa ruộng nhỏ) Bên cạnh đó khi xây nhà cũng có những điều cấm kỵ cần phải lưu ý,

cất dưới thấp), 막은 방에 이 안 다 (Không dọn đến hướng bị nghẽn), 정지 옆이

통시 안 다 (Không xây nhà vệ sinh kế nhà bếp) Những điều cấm kỵ trên cũng phần nào

cho thấy người Jeju rất tôn trọng tổ tiên, rất xem trọng phương hướng khi xây nhà để tránh gặp phải những điều bất tường Đặc biệt, lợn là loài gia súc được nuôi trong nhà, mà cụ thể ở Jeju chuồng lợn thường kết hợp với nhà vệ sinh nên người ta phải xây nhà bếp tránh xa nhà vệ sinh để đảm bảo vệ sinh

Trang 10

4.3 Những điều cấm kỳ trong đời sống tinh thần thông qua tục ngữ địa phương

Trong các nghi lễ liên quan đến vòng đời của con người thì sinh nở được xem là giai đoạn đầu tiên nhất Sinh con đẻ cái là việc hệ trọng trong cuộc đời mỗi người Dưới định kiến Nho giáo ngày xưa, nó còn là nghĩa vụ thiêng liêng không thể chối bỏ của người phụ nữ Vì thế, việc sinh nở lúc nào cũng phải nghiêm túc và cẩn trọng từ giây phút bắt đầu mang thai, cho đến khi đứa bé chào đời Vào thời điểm y học vẫn chưa phát triển như ngày nay thì xác xuất sảy thai hoặc em bé mới sinh bị chết yểu khá là cao Người Jeju ngày xưa chỉ biết dựa vào kinh nghiệm của những người đi trước để chăm sóc cho các bà bầu hoặc những bà mẹ đang ở cử Có những điều cấm kỵ buộc họ phải tuân theo nhằm bảo toàn tính mạng cho cả mẹ

và con Trong lúc mang thai thì thai phụ phải cẩn trọng lời nói vì sợ đứa con trong bụng sẽ

nghe được và bắt chước, thành thử có câu tục ngữ 애기벤 여자 놈 숭보지 말라 (Bà bầu

không được dèm pha người khác) Trong hành động, đi đứng cũng có những điều cấm kỵ như

예펜 석(줄) 안 넘나 (Bà bầu không được bước qua dây ngựa) Trong ăn uống phải cẩn trọng những món dễ bị ôi thiu do thời đó chưa có tủ lạnh, cũng như Jeju có nền nhiệt cao hơn

so với đất liền Điều này thể hiện qua những câu tục ngữ như 애기벤 여자 궤기 먹지

말라 (Bà bầu không được ăn thịt gà), 애기벤 여자 도새기궤기 먹지 말라 (Bà bầu

không được ăn thịt lợn) Có những điều cấm kỵ sau này được khoa học kiểm chứng, nhưng

보지 말라 (Bà bầu không được nhìn vào hài cốt) Đối với những bà mẹ mới sinh con cũng

có những phong tục khá thú vị như câu 쳇 애기 낭 분 젯 짱 건 사물 나는 듸 강 비와사 다 (Sinh con đầu lòng phải vắt sữa đổ xuống nơi suối chảy) Người Jeju xem sữa

mẹ là thiêng liêng nhất Nếu trẻ bú xong còn dư thì phải vắt ra hết đem đổ xuống suối chứ không được vứt bừa bãi Họ tin rằng nếu đổ sữa mẹ xuống suối thì sau này sữa của bà mẹ đó cũng nhiều như dòng nước suối, không lo bị thiếu sữa (Lương Quốc An, 2018) Trên đảo Jeju, người ta tin rằng đứa bé sinh ra sẽ được bà Tam Thần (삼승할망, samseung halmang) phù hộ vượt qua mọi bệnh tật, ốm đau Ở thời điểm đó, việc sinh được một đứa bé là một điều rất may mắn nên người Jeju rất mực yêu thương trẻ em Việc xem thường hay hành hạ một đứa trẻ là điều tối kỵ, được thể hiện ở câu tục ngữ 할망 직 아이안티 눈꿀 민 줴짓나

(Liếc xéo đứa bé được bà Tam Thần phù hộ là mang tội) Bên cạnh đó cũng có những câu như 애기날 때 여러 사름안티 알뤼지 말라 (Khi sinh con đừng kể cho nhiều người

mà sinh con trai thì đừng thông báo người khác biết) dùng để ngăn cấm việc loan tin khắp nơi

làm cho hàng xóm hiếu kì kéo đến xem, cũng như ma quỷ mang đến cho đứa bé vận vui Khi em bé đến tuổi trưởng thành sẽ phải dựng vợ gả chồng Ngay từ quá trình chuẩn bị hôn lễ cũng đã có nhiều điều kiêng cử Chẳng hạn như: 잔칫옷 홀어멍 안 다 (Bà mẹ góa

Ngày đăng: 28/06/2021, 10:03

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w