hệ thống -- các câu tục ngữ được ưa thích hay không đều được chọn.Các suy luận về nhân sinh quan, đặc trưng văn hoá của người Việt Nam hay người Anh, được căn cứ chủ yếu vào sự có mặt ha
Trang 1fi Jl
BO CIAO DUC VA DAO TAO DAI HOC QUÓ'C GIÀ KÀ NÓI TRirÒNG DAI HOC KHOA KCC XA HÒI VA NKÀW VÀÌ f
NGU;iH4 VM b/iZfCl
' [ ' IviGUIi:: r'ò-A^ Ò<.Ò VM:'T:I (-.••/•-.:
rh'j}'éà nnành : Lj^ li;:.n M^ÒU ngir
Mu so : >.u ^.OJ
Ngirói hj-ó::-: d^n khca hoc: C'Ò'^Z ^:GU^È^: LA'
Trang 2MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
Trang0.1 Mục đích và ý nshĩa của luận án 10.2 Đối tượng và phạm V I nshièn cứu 30.3 Phươnỉ pháp và tư liệu nghiên cứu 40.4 Tinh hình nghiên cúu va tính câp thiết của đề tài 70.4.1 Tình hình nghiên cưu tại Việt Nam 70.4.2 Tinh hình nshiên cứu trén thế siứi 90.4.3 Tình lYinh nghiên cứu đối chiếu tục Iisfr 14
Trang 3Chương 3 ĐỚI CHIÊU TỤC NGỬVỈỆT - ANH
QUA MỘT SỐ BlỂư HIỆN VỀ TỪVỤNG - NGÌÍNGHĨA
VÀ CẤU TRÚC CÚ PHÁP
3.1.1 Về danh từ chỉ các COI1 vật 1033.1.2 Về từ khái quát chỉ nguùi ỉ 07
Trang 43.1.3 Về tư ngữ sốc Hán - Việt 1083.1.4 Về các từ chỉ thị giác và khứu giác 110
VÀO GIẢNG DẠY
4.1 Xác đinh 3 loại đối tượng 130
4.2.1 Đui với đối tưọ'112 (ũ) 131
TÀI L]ỆƯ THAM KHẢO 151
Trang 5MỞ ĐẦU
Giáo sư Chu Xuân Diên, nhà nghiên cứu tục ngữ Việt Nam, đã khẳng định là việc nghiên cứu di sản tục ngữ dân tộc có liên quan mật thiết với những nhiệm vụ phát triển xã hội và văn hoá hiện nay [ 15; 18]
Tiến sĩ Denis Brutus, giáo sư văn học của Đại học tổng hợp Pittsburgh, Mỹ, đã cụ thể hoá và mở rọng tính thực tiễn của việc tìm hiểu tục ngữ: "Qua tục ngữ tôi biết được nhãn sinh quan của bạn, thái độ sống của tổ tiên bạn Mỗi lần tôi biết được một cau tục ngữ Việt Nam là tôi trở thành người Vỉệt Nam thêm một ít Tôi tin là một khi chúng ta biết được hết tục ngữ của nhau, chúng ta sẽ là anh em." [Trao đổi cá nhân trên Đại học Nổi của Mỹ, tháng 3/1995: "Through proverbs I know your points ofview, the attiitudes of you ancestors Each time I know a new Vietnamese
Trong tinh thần hội nhập, giao lưu văn hoá của nước ta ngày nay, chúng tôi tiếp cận một số vấn đề trong hệ ván đề nghiên cứu tục ngữ Việt Nam và Anh, với mong mỏi đóng góp một phần nhỏ vào việc nghiên cứu chuyên ngành tục ngữ — còn gọi là Paremeology
0.1 MỤC ĐÍCH VÀ Ý NGHĨA CỦA LUẬN ÁN
Trang 6Tuc ngữ mang lại rất nhiều lợi ích cho ccn người, từ cách thể hiện tư duy, lối sống, thái độ sõng, đến việc hỗ trợ làm đẹp lời nói con người Ngươi Sómali nói: "Tục ngữ thêm gia vị cho lời n ó i" (Put spice into seech) Người Yobura ở Nam Phi đánh giá: 'Tục ngữ là con ngựa của đối thoại Khi đối thoại b ế tắc, ngã quỵ thì con ngựa tục ngữ lại vực đối thoại dậy và tiếp tục hành trình " (The proverb is the horse of conversation, when the conversation drops, the proverb picks it up) Người Việt Nam thì coi quý tục ngữ như "hạt cưÒTĩĩ của tư duy bác họ c" là "giọt đọng trong văn chương"(Cao Huy Đỉnh).
Tại nhiều nước, tục ngữ được sử dụng trong nhiều lĩnh vực văn hoá, giáo dục, kinh tế, kv thuật, khoa học rất đa dạng và sinh động
Dân Maori ở Tân Tây Lan dùng tục ngữ để củng cố các hướng dãn kỹ thuật và kinh tế cho lớp trẻ Dân Chaga ở Nam Phi dùng tục ngữ để cử hành các buổi ]ễ khai tâm, v.v Tại Mỹ, từ năm 1900, tục n2ữ đã được dùng để trắc nghiệm, đo lường chỉ số thồng minh I.Q của con người
"Nhiều nhà tâm lý học trên thế giới đã quả quyết là mức độ hiểu được ý nghĩa biéu trưng của tục ngữ là tĩorớc đo trí thông minh Người đién khong hiểu và không dùng tục ngữ." [111; 111-116]
Bối cảnh lịch sử của xã hội Việt Nam đã tạo cho tục nsữ một địa vị đặc biệt trong đời sống của người Việt Dl ở mức hành văn nào, ngôn ngữ của neưỏd Việt luôn luôn được tồ điểm bằng tục ngữ Trong lời ăn tiếng nói hầng ngày của mình, người Việt Nam dùng tục ngữ để làm tãng hiệu quả của lời nói
Từ kinh nghiệm cá nhân của người dạy tiếng, chúng tối thấy khó khăn lớn nhất mà người học tiếng nước ngoài khi gặp phải tục ngữ ỉà việc nhận dạng cơ c h ế về m ối liên hệ giữa phạm trù tư vựng - ngữ nghĩa, cấu trúc cú
Trang 7pháp và các biện pháp tu từ — một cơ chế vốn đã tạo ra lóp nghĩa giao tiếp đích thực cuối cùng của ngôn ngữ tục ngữ.
Việc phát hiện ra cơ chế này đòi hói trước hết phải làm sáng tỏ những mạch ngầm rất kinh tế giữa ngôn ngữ và yếu tố ngoài ngôn ngữ vốn khống đồng nhất với nhau giữa các cộng đổng
Nói khác, bên cạnh các khác biệt về mặt từ vựng, cú pháp, còn một
số cái khó nữa là sự khác biệt về môi trường văn hoá
Chúng tôi tin rằng việc nghiên cứu, đối chiếu nội dung văn hoá, hình thức ngôn ngữ của tục ngữ Việt Nam và tục ngữ Anh sẽ mane iại cho đề tài này một ý nghĩa nghiên cứu và thực tiễn mới mẻ
Những kếl qua nghiên cừj sẽ làm sáng tỏ nội hàm văn hoá cùng hình thức của tục ngữ Việt Nam và tục ngừ Anh
A Johnson, tác giả cuốn Comon English Proverbs (Nxb Longman London, 1960) đã khăng định: "Kiến thức về tục nsữ Anh sẽ rất co lợi không những tăng kiến thức ngôn ngữ của neưưi học mà còn phản ánh được triết lý, ốc hài hước và nét đạc trưng của người Anh nữa"
0.2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN c ứ u
Tục ngữ là đối tương nghiên cứu của nhiều ngành: nhân chime học, tấm lý xã hội học, ngôn ngữ học, triết học, sử học, giáo dục học cũng nhu văn hoá dán gian, văn học, lịch sử tư tưởng, văn hoá vật chất
Bản thán tục ngữ ỉà đôì tượng của việc nghién cứu với các mặt : nội dung, hình thức, nguồn gốc, v.v
(1) Chúng tôi đi sáu phân tích, đối chiếu nội dung các chủ đề tục ngữ,
từ vựng - ngữ nghĩa và kết cấu câu của tục ngữ Việt và Anh
(2) Thông qua đó tìm hiểu các đặc trưng văn hoá cũng như những quan sát tinh tế về thiên nhiên và các loài vật, về con ngữời và xã hội - và nhân sinh quan của hai dân tộc
Trang 8(3) Từ những tiền đề trên, chúng tôi cố gắng phát hiện các quan niệm
về hệ thống giá trị trường cửu đã tác động đến xã hội và quyết định hành động của chúng ta trong thực tại cuộc sống Một quan niệm có tính chất phương châm của chúng tồi là:
Các đặc trưng văn hoá và nhân sinh quan nêu trong nghiên cứu này knống phải là của một cá nhân người Việt Nam hay người Anh nào, mà của một cộng đồng, của một dân tộc này so với dán tộc khác Điều này có nghĩa là các nhận xét, kết luận chung về các đặc trưng văn hoá và nhấn sinh quan của người Việt vã người Anh không nhất thiết phù hợp với mọi
cá nhân
Một điều nữa mà chúng tôi lưu ý là các đặc trưng vãn hoá và nhân sinh quan của mỗi dân tộc còn thể' hiện qua nhiều sản phẩm văn hoá khác như thành ngữ, ca dao, câu đố, dân ca, chuyện kể, tiểu thuyết, phim ảnh, v.v
Với các giới hạn vừa nêu ở trên, công trình nghiên cứu của chúng tồi
có đề tài: "Ngôn ngữ với việc phản ánh các yếu tố vãn hoả và nhân sinh quan (thông qua tục ngữ Việt - Anh)
0.3 PHƯƠNG PHÁP VÀ TƯ LIỆU NGHIÊN CỨU
Tại Việt Nam cũng như tại nhiều nước trên thế giới, đã có nhiều cô gắng trong việc khai thác nội dung tư tưởng của lực ngữ để tìm các đặc trưng văn hoá và thế giới quan, nhân sinh quan của một đất nước, một dãn tộc Tuy vậy, cấc cố gắng này thường chưa mang lại độ tin cậy cao Điểu này là do định kiến hoặc do khó khăn về tư liệu nên người nghiên cứu chỉ chọn các câu tục ngữ theo ý thích hoặc theo các tư liệu có các chủ đề đã sắp sẵn
Chúng tối sử dụng kỹ thuật chọn khách quan — chọn ngẫu nhiên Kỹ thuật này có tính khách quan vì các câu tục ngữ được chọn theo một cơ sở
Trang 9hệ thống các câu tục ngữ được ưa thích hay không đều được chọn.
Các suy luận về nhân sinh quan, đặc trưng văn hoá của người Việt Nam hay người Anh, được căn cứ chủ yếu vào sự có mặt hay vắng mặt cua một đặc trưng nào đó hơn là tần số xuất hiện cúa chung trong kho tục ngữ của mỗi nước
Kỹ thuật chọn ngẫu nhiên để phân tích nội dung sản phẩm văn hoá đã được sự ủng hộ của đa số các nhà nghiên cứu giao tiếp hiện đại Họ cho rằng "phương pháp này cũng mang lại kết quả có giá trị như các phương pháp phân tích nội dung khác nhưng tốn ít thời gian và sức lực hơn" [4; 182]
Với cứ liệu chọn ngẫu nhiên theo phương pháp định tính (qualitative approach) thì việc áp dụng phương pháp định lượng (quantitative approach) để phân tích các cứ liệu này ]à ' khó khăn, không khả thi, hoặc không cần thiết vì các chỉ số về tần số xuất hiện là không thích hợp và không có năng suất, hay không hữu ích bằng tần số không xuất hiện của các nội dung" [10; 14]
Tính phổ biến của một câu tục ngữ là yếu tố quan trọng trong phân tích nội dung Các câu tục ngữ không còn phổ biến chỉ có thể phản ánh thực tại tâm lý của dân tộc trong quá khứ và khống còn tác động trực tiếp đến thái độ sống, cách ứng xử của dân tộc đó hiện nay Tuy thế, một câu tục ngữ dù cổ đến mấy nhưng còn phổ biến thì còn phản ánh thực tại tâm lý của dân tộc đó
Chúng tôi cũng đã kiểm tra lại tính phổ biến của các câu tục ngữ trong tuyển tập Nguyễn Văn Ngọc bằng cách tham khảo các tuyển tập tục ngữ mới xuất han của các tác giả khác trong cả nước Chúng tôi cũng áp dụng biện pháp tươiig tự với cứ liệu tục ngữ Anh được sử dụng
Trang 10Tỷ lệ chúng tôi áp dụng là một trên ba, tức là một phần ba số câu tục ngữ trong tư liệu sử dụng được chọn cho việc phân tích, đối chiếu.
Chúng tôi sử dụng cuốn Tục ngữ phong dao Mệt Nam của Nguyễn Văn Ngọc (Nxb Tp Hồ Chí Minh, 1991) và cuốn The Prentice-Hall Encyclopedia o f World Proverbs của. Wolfgang Mieder (Nxb The Prentice- Hall, New York, 1986) để làm tư liệu chọn khảo sát Tuyển tập của Nguyễn Văn Ngọc gồm 6.625 đơn vị tục ngữ, ca dao, thành ngữ sắp theo thứ tự AB
c và theo so lượng từ trong mỗi đơii vị ĩừ ít (bon từ) đến nhiểu (hai mươi hai từ) Trong tuyển tập này có 4.638 câu tục ngữ Chọn ngẫu nhiên theo tỷ
lộ một trên ba, chúng tôi có đưực 1.546 câu tục ngữ Việt để khảo sát, phán tích, đối chiếu
Số lượng câu tục ngữ trong tuyển tập của Wolfgang Mieder !à 18.520 câu tục ngữ phổ biến của hầu hết các nước trên thế giới, sắp theo thứ tự ABC Trong tuyển tập này có 5.000 câu tục ngữ Anh (Và 101 câu tục ngữ Việt Nam.) Chọn ngẫu nhiên theo tỷ lệ một trên ba, chúng tôi có được1.666 câu tục ngữ Anh để phân tích, đối chiếu
Tuy vậy, bén cạnh phương pháp định tính trên đây, chúng tôi cũng vận đụng phương pháp định lượng trong phân tích hình thức, đối chiếu và
có các thông số để hỗ trợ cho các nhận xét chuns và kết luận
Ngoài hai tư liệu chính trên đây, chúng tôi còn tham khảo một số từđiển tục ngữ Việt, Anh, hoặc từ điển đối chiếu cùng một số sách lý luận bằng tiếng Việt và tiếng Anh mà chúng tôi đã cố gắng tìm được (Xin xem thư mục tham khầơ ở cuối luận án này.)
Các câu tục ngữ Việt Nam và Anh được sỏ dụng để minh họa trong đối chiếu sẽ có phần tương đương - (tđ.), hoặc dịch - ( d ) nếu khống có tương đương trong ngổn ngữ kia Trong các câu dịch chúng tôi cố gắng chuyển lai nghĩa biểu vật hoặc nghĩa ngữ dụng của câu tục ngữ gốc tùy
Trang 11theo yêu cầu nghiên cứu hơn là tạo ra những câu dịch hay, cỏ vần, nhịp như tính chất chủ yếu của mỗi câu tục ngữ.
0.4 TÌNH HÌNH NGHIÊN c ứ u VÀ TÍNH CẤP THIẾT CỦA LUẬN ÁNTục ngữ là một mảng đề tài rất phong phú và lý thú ở Việt Nam cũng như tại nhiều nước trên thế giới
0.4.1 Tình hình nghiên cứu tại Việt Nam
Nhiều công trình sưu tập tục ngữ, thành ngữ, ca dao và dán ca đã thấy xuất hiện từ thế kỹ XDC Một số được biên soạn bằng chữ Nôm như Nam phong ngạn ngữ thi của Ngô Đình Thái, Đại nam quốc túy của Ngô Giáp Đậu, v.v Một số được biên soạn bằng chữ quốc ngữ như Tục ngữ, cổ ngữ, gia ngôn của Huỳnh Tịnh của, Gương phong tục của Đoàn Duy Bình, v.v
Nửa đầu thế kỷ XX có Tục ngữ cách ngôn cua Vũ Như Lâm và Nguyễn Đa Gia, Ngạn ngữ phong dao của Nguyen Can Mộng, đặc biệt có
bộ sưu tập cồng phu là Tục ngữ phong dao của Nguyễn Văn Ngọc, v.v
Nửa sau thế kỷ XX có Tục ngữ và dân ca Việt Nam của Vũ Ngọc Phan,
Tục ngữ lược giải của. Lé Văn Hoè, v.v
Ngày nay, có một số nhà nghiên cứu tục ngữ được giới học thuật cũng như cống chúng biết đến như nhóm Chu Xuân Diên với Tục n sữ Việt Nam, Nguyễn Xuân Kính - Phan Hổng Sơn với Tục ngữ Việt Nam (Nxb Văn hoá, Ilà Nội, 1995), Nguyên Lân với Từ điển thành ngữ và [ục ngữ Vỉệt Nam
(Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1994), nhóm Vũ Dung vơ Từ điển thành ngữ và tục ngữ Việt Nam (Nxb Văn hoá, Hà Nội, ] 995), Vương Trung Hiếu với Tục ngữ Việt Nam chọn lọc (Nxb Văn nghệ, thành phố Hồ Chí Minh, 1996) Việt Chương với Từ điển thành ngữ, tục ngữ.; ca dao Việt Nam (Nxb Đổng Nai, 1995), Trần Mạnh Thường với Tục ngữ ca dao Việt Nam (Nxb Vãn hoá dân tộc, Hà Nội, 1996), v.v Và một số nhà nghiên cứu có đóng góp nhất định vào việc nghiên cứu tục ngữ như Bùi Văn Nguyên, Đinh Gia
Trang 12Khánh, Lê Chí Quế, Hoàng Trinh, Mã Giáng Lân, Phan Xuân Thành, Hoàng Tiến Tựu, Nguyễn Tấn Long và Phan Canh, v.v
Một số từ điển so sánh, đối chiếu tục ngữ đã được xuất bản như: Tục ngữ Anh - Việt (Nxb Đại học Cần Thơ, 1986) của Lê Đình Bích - Trầm Quỳnh Dân, Tục ngữ và thành ngữ Việt Nam (Nxb Thành phố Hồ C hLMinh, 1992) của Phan Văn Bình, Tục ngữ Anh - Việt tường giải (Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1995) của Bùi Phụng, Chẫm ngôn và tục ngữ thông dụng Việt - Anh (Nxb Sông Bé) của Hoàng Văn Cang, 100 Tục ngữ tiếng Anh thồng dụng (Nxb Thành phố Hồ Chí Minh) của Hoàng Đinh Tứ, Tục ngữ,; thành ngữ tiếng Anh (Nxb Hải Phòng, 1993) của Phạm Văn Bình,
Selected Vietnamese Proverbs - Tục ngữ Việt Nam chọn lọc íNxb Center for International Communication and Development, Oakland, New Zealand, 1990) của Huỳnh Đình Tế, và một số từ điển tục ngữ Việt Nam, Nga, Việt - Pháp, Pháp - Việt, v.v
Các nhà nghiên cứu Việt Nam đã nghiên cứu tục ngữ Việt Nam về các mặt xã hội học, ngữ văn, và đang khuyến khích một hướng mới là nhận thức luận [15; 40]
a Vê cấc yếu tố văn hoá trong tục ngữ
Một số tác giả có đề cập ngắn gọn trong phần mở đầu các từ điển đối chiếu tục ngữ của mình, như Lê Đình Bích : "Tục ngữ không chỉ là ngốn ngữ, tục ngữ còn là dấu tích của một nền văn hoá" Phạm Văn Bình :
"Nhiều câu tục ngữ giống nhau về tư duy, nhận thức cũng như phương pháp biểu hiện tuy rằng chúng mang đậm nét đặc thù dán tộc" Hoặc Lương Văn Hồng [27; 12]: "Kho tàng tục ngữ của một dân tộc là kho tàng trí tuệ và kinh nghiệm quý báu của dân tộc ấy"
b Về ngữ nghĩa tục ngữ
Trang 13Nhóm Chu Xuân Diên đã phân tích rộng về quy luật tạo nghĩa, còn một số tác giả khác chỉ đề cập sơ qua nghĩa đen, nghĩa bóng của tục ngữ Nguyễn Thái Hoà, Nguyễn Thế Lịch và Nguyễn Đức Dân [109; 12] đã đế cập đến sự hình thành nghĩa biểu trưng, các biến thể từ vựng và cú pháp của tục ngữ.
c Về cấu trúc cú pháo của tục ngữ
Một số nhà nghiên cứu Viêt Nam đã có nhận xét sơ bộ:"Những câu xuôi tai, vừa vần vè, vừa cân đối [57;50] "ngắn gọn, có âm điệu đặc sắc” [55; 27] hoặc tương đối chi tiết hơn như"thường là càu ở dạng rút gọn phần bị tỉnh lược thườns là thành phần làm chức năng hệ từ "[15;160; 165] Nguyễn Đức Dân có một vài bài phân tích khá chi tiết về đặc điểm cú pháp của tục ngữ [109; 27]
Một thời gian dài, các nhà nghiên cứu tục ngữ Việt Nam thièn về ý nghĩa xã hội, về đấu tranh giai cấp, hơn là vể ý nghĩa văn hoá va những vấn đề nằm trong chiều sâu liên quan đến lĩnh vực này của ngôn ngữ tục ngữ
0.4.2 Tình hình nghiên cưu trên thế giới
Trên thê giới, từ 2500 nãm trước Công nguyên đã có các tuyển tập tục ngữ viết bằng chữ Sumerian [5; 374] xuất hiện Người Hy Lạp và La Mã đã biên soan một số sưu tập tục ngữ quan trọng mà rất nhiều tục ngữ trong các sưu tập này nay còn phổ biến ở Anh Năm 1500, Eramus của thành phố Rotterdam, Ha Lan, đã sưu tập và bình chú hằng trăm tục ngữ cổ và xuất bản trong tuyển tập Adagia [19; VII], Hai trãm năm theo sau đó, tuyển tập này được xuất bản hơn mồt trăm năm mươi lần khắp thế giới
Theo Kỷ yếu quốc tế Sprichworter - Bibliography của Otto Moll (xuất bản tại Frankfurt và Main nàm 1958) thì đã có khoảng chín ngan tuyển tập quan trọng vể tục ngữ trên thế giới
Trang 14Hiện nay đã có Hội quốc tế nghiên cứu tục ngữ, đã có Niên san quốc
tế về tục npfĩ Proverbium : Yearbook o f International Proverb Scholarship,
đăng tải nhiều công trình nghiên cứu quan trọng trên thế giới về tục ngữ
Niên san này hiện nay do Đại học tổng hợp Vermont, Mỹ, xuất bản, giáơ
sư tiến sĩ Wolfgang Mieder chủ biên (Wolfgang Mieder được phương Táy
đánh giá là nhà nghiên cứu tục ngữ thế giới số một hiện nay.)
a Về yếu tố vãn hoấ trong tục ngữ
Về đặc trưng dân tộc trong tục ngữ, F.N Robinson [19; 284-297] đã
khẳng định rằng đặc trưng văn hoá dãn tộc được thể hiện trong tuc ngữ
thông qua màu sắc, sắc thái địa phương, phong tục tập quán, đức tính tốt,
xấu của địa phương đó Gyula Paczolay [110; 93; 205-275] so sánh tục nsữ
dựa trên truyền thống vãn hoá khác nhau
F.N Robinson đã khảo sát, nghién cứu đặc trưng dán tộc Ái Nhĩ Lan
thông qua tục ngữ của nước này và kết luận : ba vếu tố phản ánh nổi bật
các đặc trưng dân tộc trong tục ngữ là:
1 Màu sắc, sác thái địa phương
2 Các biện pháp tu từ
3 Phong tục, tập quán, các nết tốt xuấĩ mà tục ngữ phan ánh
b Về câu trúc cú pháp
Geogre B Milner và Alan Dundes có hai công trinh lớn được nhiều
nhà nghiên cứu cấu trúc cú pháp tục ngữ phương Tây trích dẫn, để vận
dụng một phần vào cống trình riêng của mình hoặc để phê phán Hai công
trình này đưa ra các cách tiếp cận mới về cấu trúc tục ngữ, rất gợi mở
nhưng đi đến kết luận thì thiếu tính thuyết phục
- Geogre B Milner đã đề nghị một cầu trúc tục ngữ gổm bốn thành ành phần chia thành hai bộ phận gắn bó và cân đối nhau Nội bộ mỗi thành
phần gồm một hay hơn một từ được đánh giá tích cực (+) hay tiêu cực (-)
Trang 15tùy theo nội dung ngữ nghĩa Tùy theo tổng hợp + - này mà tác giả đánh giá hai bộ phận trong mỗi câu tục ngữ là + hoặc - Nghĩa là,
+ với + hay - với - sẽ thành +
+ với - hay - với + sẽ thành -
(nhút nhát) (con tim) (không bao giờ) (chinh phục được)
Trang 16Xu thế nghiên cứu theo hướng cấu trúc hình thức với luận điểm của Milner gây ra nhiều tranh cãi Nhiều người cho là việc đánh giá + hay - cho mỗi từ là khiêng cưỡng Và ngay'trong tục ngữ Scotland, một nước có nhiều truyền thống văn hoá giống với Anh nhưng cũng không thể áp dụng công thức của Milner vì nội hàm văn hoá để quy định giá trị một từ đôi khi không giông nhau.
Ví dụ ở Anh, từ stone (hòn đá) dùng chỉ các hòn đá dưới suối, sông tượng trưng cho sự lười biếng; từ moss (rêu) là hình ảnh của sự giàu có, tài sản, v.v Nên công thức của Milner áp dụng vào câu tục ngữ sau đây sẽ có kết quả khác với két quả áp dụng vào cùng câu tục ngữ đó ở Scotland, nơi
mà hòn đá là hình ảnh của sự hoạt động, không tỉnh như ở Anh Hòn đá phải lăn nếu không thì rêu sẽ bám [19; 48-49]
ở Anh:
+Rolling stones(lăn) (hòn đá)
+
gather no moss (đóng) (không) (rêu)
Trang 17- Alan Dundes [20; 48-49] xem xét quan iìệ gần gũi giữa cấu trúc tục ục ngữ và câu đố — cả hai đều có cấu trúc đề - thuyết để phân nhóm các cấu
trúc tục ngữ Một số ít tục ngữ Anh có cấu trúc đẻ — thuyết m ột thành
phần, như M oney talks (Đồng tiền có quyền lực), Time flies (Thời gian trối
đi rất nhanh), v.v c ấ u trúc này mở rộng thành các câu tục ngữ đẳng lập,
như Từne is money (Thi giờ là tiền bạc), He who hesitates is lost (Do dư
hỏng việc) và cũng là các câu tục ngữ đối nghịch Các câu tục ngữ đối
nghịch có rhể xếp lại thành các công thức như :
X is not Y (All is not gold that glitters = Khống phải sự hào nhoáng
bên ngoài là sự biểu lộ của một bản chất tốt bên trong); Better X than Y
(Better buy than borrow = Cần tránh sự vay mượn để khỏi sa vào cảnh nợ
nần); I f you have X ỵ o u canot have Y (You canot have your cake and eat it
= Không thể vừa ãn bánh lại vừa còn bánh)
Điều không thuyết phục ở công thức của Dundes là trong thực tế
không phải tất cả các câu tục ngữ đều có cấu trúc đẽ - thuyết
c Về ngữ nghĩa tục ngữ
Neal R Norrick [20; 51-55] trong công trình ns;ữ nghĩa học tục ngữ
nổi tiếng của mình - How Proverbs Mean : Semantic Studies in English -
đã phân tích các định nghĩa truyền thống về tục ngừ và đưa ra định nghĩa
riêng của mình : "Tục ngữ chủ yếu là m ột dạng ngôn ngữ đ ể nói và dùng
trong thoại với chức năng giáo dục, và không liên hệ VỚI m ột đối tượng cụ
thể nào". (The proverb is a typically spoken, conversational form with
didactic function and not associated with any particular source), ô ng cũng
phân tích các biện pháp tu từ chi phối nghĩa của tục ngữ trong cuốn sách
này
Trang 18Hiên nay một số nhà tục ngữ học, xã hội học, tâm lý học hàng đáu thế giới như Grigorii L’ovich Permiakok (Nga), Matti Kuus: (Phần Lan), Garbriel Gheorghe (Rumani), Gyula Paczolay (Hungary), và William Abig, Read Bain, Aland Dundes, Stanley s Marzolf (Mỹ), đang nỗ lực nghiên cứu yếu tố văn hoá, cấu trúc, ngữ nghĩa của tục ngữ để có thể giảm thiểu hàng ngàn tục ngữ của mỗi nước xuống còn một số lượng có thể quốc tế hoá theo cấu trúc được [16; 41 - 57]
Bước đầu tiên trong nỗ lực này là xác định số lượng các câu tục ngữ phổ biến nhất ở mỗi nước, sau đó đi vào quốc tế hoá số cấu trúc cú pháp của lượng tục ngữ tối thiểu này
Về từ điển tục ngữ Anh, hiên nay cuốn từ điển đầy đủ nhất là The Oxford Dictionary o f English Proverbs (Nxb Oxford London, 1970) Số từ điển tục ngữ đối chiếu hiện có hầu hết là của Châu Âu, nhưng đổ sộ nhất là cuốn Bách khoa từ điển thế giới đầu tiên The Prentice - Hall Encyclopedia
o f World Proverbs, do Wolfgang Mieder chủ biên Cuốn từ điển này có 18.520 câu tục ngữ phổ biến của hầu hết cảc nước trên thế giới, trong đó có
101 câu tục ngữ tiêu biểu của Việt Nam
0.4.3 Tình hình nghiên cứu đối chiêu tục ngữ
Việc nghiên cứu đối chiếu tục ngữ giữa hai khu vực Cháu Âu và Viễn Đông nói chung, hay giữa hai nước Anh và Việt Nam nói riêng, là cần thiết
vì hai nước thuộc hai truyền thống văn hoá khác nhau
TruvỂn thống văn hoá Châu Âu dựa vào các nền vãn hoá Địa Trung Hải, Hy Lạp - La Mã cổ, Thánh Kinh và La Tinh Trung cổ Người phương Tây, nghĩa là bắt đầu từ Iran, Afganistan và Hổi trở đi, sống và trưởng thành trong một truyền thống tôn giáo "đơn cực"có trên một ngàn năm Họ chỉ tin có một Thượng đế Chúng ta có thể gọi là quan niệm đơn thuần
Trang 19nhấn mạnh vào lý tưong một. Họ nhìn thế giới như một tổng hợp do các sự vật gom lại mà thành.
Truyền thống tục ngữ Viễn Đông bao gồm Trung Hoa, Triều Tiên, Nhật Bản và Việt Nam, dựa chủ yếu vào các nguyên lý của tam giáo (Nho, Phật, Lão), trong đó nổi bật lên là những quan niệm nhân sinh Người Viễn Đông nói chung, người Viật Nam nói riêng, theo triết lý "đa cực" mà trong Phật giáo gọi là ữung dung. Quan niệm này không nhấn mạnh vào sự khác biệt giữa hai cực mà là nơi gặp gỡ giữa các cực đoan
Về bản thân, người Việt Nam quan niệm mình trung thành với truyền thống, mà truyền thống đó thì đa cực, trung dung, hướng về sự hoà hợp [50; 2 4 -3 1 ]
Giáo sư Cao Xuân Hạo [108; 7- 12] dùng thuật ngữ "chủ biệt"vì "chu toàn" để chỉ quan niệm "đơn cực" và "đa cực" này Chúng tôi đồng quan điểm vói giáo sư Cao Xuãn Hạo khi cho quan điểm chủ toàn đẻ ra phương pháp tư duy siêu hình và phân tích tính Luận điểm này sẽ được minh chứng bằng tục ngữ Việt - Anh trong chương đối chiếu
Từ tât cả những tiền đề trong phần mở đầu, chúng tôi xác định:
(1) Khi đi vào hướng nghiên cứu đối chiếu tục nơữ Việt - Anh, chúng
ta có điều kiện làm sáng tỏ thêm vân đề đạc trưng tâm lý cộng đồng tron2 chiều sáu văn hoá, thông qua nội dung và cấu trúc của một phương tiện ngôn ngữ đặc biệt giàu tính truyền thống nhất
(2) Điều này giúp ta hiểu sâu thêm bản chất xã hội của ngôn ngữ tục ngữ trong ý nghĩa phổ quát cũng như trong sắc thái riêng biệt của nó đối với cộng đổng người Viột và ngươi Anh
(3) Và vể một phương diộn nào đó, đấy cũng là cơ sở tốt giúp ta mở rộng sự hiểu biết, tạo tiền đề cho quá trình mở rộng giao lưu vãn hoá để hội
Trang 20nhập vào thế giới chung — một vấn để đang đặt ra giữa các cộng đồng
trong thời đại hiện nay
(4) Đồng thời khi nghiên cứu đối chiếu ngôn ngữ tục ngữ Việt - Anh, h,
dù muốn dù không, là chúng ta đã thiết thực góp phần vào quá trình trang
bị những tiền đề tâm lý - văn hoá - xã hội, làm cơ sở cho việc hiểu sâu
ngôn ngữ, trực tiép góp phần vào việc giảng dạy và học tập tiếng Việt cho
người Anh cũng như tiếng Anh cho người Việt ngày càng tốt hơn
Chương 1 NHŨNG NHẬN THỨC VỂ TỤC NGỮ TỪ BÌNH DIỆN
NGÔN NGỮ HỌC
1.1 THẾ NÀO LÀ TƯC NGỮ?
Cho đến nay trên thế giới cũng như tại Việt Nam đã cố rất nhiều định
nghĩa về tục ngữ, nhưng chưa có một định nghiã nào được xem là chuân,
có khả năng ứng dụng vào việc nghiên cứu mọi mặt của tục ngữ
Các nhà nghiên cứu tục ngữ phương Tây đã đề ra nãm mươi lăm định
nghĩa về tục ngữ Nếu chỉ dùng lại những từ phổ biến nhất trong năm mươi
lăm định nghĩa đó để ráp lại thành một định nghĩa đại diện thì sẽ có cáu:
"Tục ngữ lầ m ột câu nói ngắn hàm chứa sự khôn ngoan " (A proverb is a
short sentence of wisdom) [16; 25]
Mặc dầu vậy, họ vẫn không xem định nghĩa ngắn gọn này là chuẩn,
mà thường trích lại phát biểu nổi tiếng của nhà tục ngữ học tiên phong
người Mỹ Archer Taylor : "Có một tính chất không thể diễn giải được
nhưng nó lại giúp ta biết được một câu nào đó có phải là tục ngữ hay
không Nói cách khác, không một định nghĩa nào có thể giúp ta khảng định
được một câu nào đó ỉà tục ngữ." [17; 14]
Trang 21Chúng ta hãy xét một số định nghĩa về tục ngữ của các nhà nghiên cứu Việt Nam:
1 "Tục ngữ là một câu tự nó diễn ẩạĩ trọn vẹn một ý, mộĩ nhận xét, một kinh nghiệm, một lý luận, một công lý, có khi là một sự phê phán." (Vũ Ngọc Phan, Tục ngữ ca dao dân ca Việt Nam, trang 391
2 ''Tục ngữ là những câu nói ngắn, gọn, có ý nghĩa hàm xúc, do nhân dân ỉao động sáng tạo nên và lưu truyền qua nhiều thê kỷ." (Đinh Gia Khánh - Chu Xuân Diẻm, Văn học Dân Gian, ữang 11)
3 "Tục ngữ là cảu noi thườỉĩg ngắn gọn, có vần hoặc kỉ lông có van, có nhịp điệu hoặc không có nhịp điệu, đúc kết kinh nghiệm sấn xuất hay đấu tranh xã hội, rút ra mộỉ chán lý phổ biến, ghi lại một nhận xét vé luân /ý,
phong tục tập quán cún nhân dân'' (Bùi Vãn Nguyên và các tác giả khác
Lích sử văn học Việt Nam, tập 1, trang 191)
4 "Tục ngữ là thể loại văn hoc dân gian nhầm đúc kết kinh nghiệm,
tri thức, nêu lên những nhận xét phán đoán, lời khuyên rân của nhan dan dưới hình thức những cáu nói ngắn gọn, gian dị, súc tích, có nhịp điệu., dễ nhở, dễ truyền." (Hoàng Tiến Tựu, Văn học dán gian \ iệt Nam, tập 2, trang 109)
5 "Tục ngữ là nhữn° câu cực kỹ bình dị, chắc nịch răn dời bằng những điều Luân ỉý sâu xa hoặc tổng kết ngắn gọn ĩiỉiũn^ kinh nghiệm vẽ công việc làm ăn." (Hoàng Trinh, Đối thoại văn học, trang 13)
6 "Tục ngữ là một can khái ơuáí, nghĩa do tổng cộng các thành tố, rất hàm súc, nổi bật bởi ý nghĩa phán đoán và dược tái kiện trong quá trình nói năng như một phát ngôn bậc cao ở dạng làm sẵn.'' (Lê Đình Bích, Tục ngữ Nga - Việt, trang 40)
7 "Tục ngữ là những câu hoàn chỉnh, có ý nghĩa trọn vẹn, nói lên một
Trang 22nhủ, hoặc một kinh nghiệm về nhận thức tự nhiên hay xã hội." (Nguyễn Lân, Từ điển thành ngữ và tục ngữ, trang 5).
8 '"Tục ngữ là tiếng nói của nhân dân lao ấộnạ được đúc kết dưới những hình thức tinh đơn giàn nhất, nhiữĩg nôi dung lại súc ĩich nhat và đuợc chuyển tải bằng lối nói vần diệu." (Trần Mạnh Thường, Tục nm~( ca dao Việt Nam, trang 5)
9 "Tục ngữ là nhũng câu nói ngắn gọn thườn£ có vần có các vế cân dối dược đùng trong lời nói hàng ngày nhằm đúc kết kinh nghiệm sống mọt cách trực tiếp, nêu lẻn những nhận xét, nhưng phán dướn, những kết luận
về tự nhiên và xã hội'' (Nguyễn Quốc Tuy - Tran Gia Linh Tục ngữta dưo
- dủn ca chọn lọc, trang 7)
10 "Tực ngữ Là một câu nói ngđạ %ỌỈĨ, có câu trác tưcÊỆg đỏi ôn định,
có cách diễn dạt phúng dụ (nqu ý) đúc kết tri thức, kinh nghiệm son" và dạo đức của một dân tộc." (Lê Đức Trọng, 7 ừ điển qidi thích tục nqữ n»ón ngữ học, trang 2 7 1)
Phân tích 10 định nghĩa trên đây, chúng ta thẩy một sô tính chài được
ca (có vần, có nl'ip, vần điệu, phúng dụ): 5 lần; hỉnh thức cô dinh: 2 lần
Chúng ta hãy xét xem các tính chất trên đây có thể dùng làm tiêu chí
để đĨTih nghĩa tục ngữ hay không
Càu - phán đoán
Trang 23Tục ngữ dùng chủ yếu trong nói năng, mà các qui ước vể ngôn ngữ nói năng không giống với các qui ước về ngôn ngữ thông thường Trong
tục ngữ có nhiều câu thể hiện theo cấu trúc VỊ, không có chủ.
Ví dụ: Câ\ tau, rau cải, nhân ngãi vợ, đay tớ con,
"Câu tục ngữ này gồm bốn vế theo cấu trúc vị ngữ thuẩn tuý và nghía của nó là: Trong cuộc sống ta phải biết thiết thực: muòn trồng cây thì trồn2
cây cau ]à có lợi nhất, muốn trong rau thì phải trổns rau cải ]à có lợi nhất, chạy theo chuyện yêu đương là vô ích, yêu vợ là nhân ngãi chãc chàn nhất, còn đầy tớ thì con mình là kẻ trung thành nhất Đâv là chân lý chân quen thuộc nhất của ông cha ta" [108; 96; 39 ]
Cấu trúc vị ngữ - vị ngữ này là rất khó hiểu và không thể thấ} trong ngũ' pháp các ngôn ngữ bình thưòng
Trong tục ngữ Anh cũng có những cấu trúc không thê thá\ trong cãu trúc câu bình thường:
Aỉì that shakes falls not.
(Khỏns phải cái gì lung lay đều sẽ nsã - d.)
Theo quan niệm của một số tác giả thì trên cấp đo iưi nói khỏníi có su phù hợp giữa nội dung và hình thức" [14; 205],
Như vậy, chúng ta không ĩ hể lấy tính chất cáu - phản doán ỉàm tiêu chí định nshĩa cho tuc ngũ' được
Sức tích
Súc tích là một khái niệm tương đối Không có một đon vị 2Ìao tiếp nào Jà súc tích tuyệt đối mà chỉ súc tích tương đối so vơi mót đơn vị giao tiếp nào khác đó thôi
Néu đánh đồng tính súc tích với tầng nghĩa cao của mỗi từ trong cấu trúc của một câu tục ngữ thì chúng ta sẽ đoán nhận được ngay rằne các tục ngữ tỉnh lược đạt tính chất này và chúng đạt được tính súc tích nhờ vào sự
Trang 24vắng mặt của các từ chức năng Và nếu vậy thì tính tỉnh lược chứ không phải là tính súc tích có thể dùng làm tiêu chí định nghĩa cho tục ngữ.
Chúng ta có thể đặt thêm một câu hỏi: tính tỉnh lược của câu tục ngữ
có súc tích hơn một câu tỉnh lược thông thường không ?
Vi dụ: uống nước, nhớ nguồn và Thi đỗ, nhớ thầy.
Báv giờ chúng ta hãy xét một câu tục ngữ có cấu trúc ở dang câu đầy đủ:
* Cây ngay không sợ chếí âíùĩg.
Câu tục ngữ này được xem là súc tích vì gồm ít từ, không có từ nào thừa và tầng nghĩa cao vì có nghĩa biểu vật và nghĩa biểu hiện cũng như nghĩa ngữ ũung
Nghĩa biểu vật: cây mọc thẳng thì toàn thân được hấp thụ ánh sáng măt ười nén sống manh mẽ không bệnh tật Cây nghiêng tàn lá bị cây chung quanh che khuất, rễ lại khống bám sâu xuống lòng đất nên chậm lớn và chết dần mòn
Nghĩa biểu trưng: con người cũn£ vộỵ, nếu cứ sons nsa_\ thane không
hà hi ép ai và cũng khõng nịnh bợ ai, luôn luôn giúp đõ' người khác với tất
cả khả năng sẵn có của mình thì được khoẻ tấm thán, vì vô lo ăn nson naủ vén, không sợ kẻ thù nào hãm hại
Nghĩa ngữ dụng: Khóns nên sống tà tâm mà nén ăn o ngay thãns [ 12: 226]
Như vậy, câu tục nsữ này được xem là súc tích nhờ lớp nshũa biéu trưng và ngữ dụng cua nó Nói cách khác, tính có nshĩa biếu trưns chứ không phải súc tích có thể dùns làm tiêu chí định nahTa
Bây giờ, chúng ta hãy xét một câu tạc n2Ũ' không có cau true rút gọn
và không có nghĩa biểu trưng:
Làm ruộng ba năm không bằng chăn tám mộĩ lứa.
An thịt trau không tỏi như ăn gỏi không rau mơ.
Chắc chắn hai câu tục ngữ này có thể diễn đạt súc tích hơn như:
Trang 25Một lứa chăn tằm bằng ba năm làm ruộng.
Thịt trâu ĩhiếu tỏi như goi thiêu rau mơ.
Hoặc có thể ngắn gọn hơn, súc tích hơn nữa tuỳ cái tài của neười ứng tác tục ngữ trong nhân dân lao động
Chúng ta xét xem có phải một cáu tục ngữ ngắn ít từ là súc tích không.Hãy so sánh hai câu: "Dừng vội" va "Trâu chậm uống nước dục". Rõ ràng câu sau súc tích hơn câu trước, nếu kết hợp các tính chất tụa ngữ (nghĩa biểu trưng) và sự ngắn gọn của câu này Nhưng chúng ta phải cẩn thận vì các câu tục ngữ có cấu trúc tỉnh lược, hoặc có nghĩa biểu trưng, hoặc có cả hai tính chất này
Tất cả các tính chất về súc tích, ngắn gọn, có cấu trúc tinh lược, có nghĩa biểu trưng vừa đề cập trên đây trong tục ngữ Việt đều tươns tự với tục ngũ Anh
Cau trúc tỉnh lược của một càu tục ngũ' không súc tích gì hơn cấu trúc tỉnh lược của một câu noi bình thường
The more, the merrier - tục ngữ (Đôn° sao thì nắng, vắng sao thì mưa - íd.) The warmer, the cosier - câu nói thường
(Càng ấm, càng dễ chiu.)Một câu tục ngữ Anh có cấu trúc ỏ' dạng câu đầy đủ cũng được xem là súc tích vì gồm ít tư không có từ nào thừa cũng nhu có tầng nghĩa cao
Money answers all things.
(Có tiền mua tiên cũnẹ được - td.)
Một câu tục ngữ Anh có cấu trúc câu đầy đủ và chỉ có nshĩa biểu vật thì chưa hẳn là súc tích
Live and ỉ earn.
(Còn sống còn học - d.)
Trang 26Câu này súc tích, nhưng lại là câu mệnh lênh và cũng là dạng rút gọn của Live and ĩhen you will learn If you live, you must learn hoậc We live
Tính truyền thống cũng được hiểu là đa phổ biến qua một thời 2Ĩan dài có thể là "HẢng nqàn hàỉTỊỊ trăm và ít nhất cũnV là haníf chục môi."
[73; 46] hay "Nhiều thế kỷ" [31; 11] hay "Hơn một thế hè" (more than a generation) [20; 40J
Vậy tính truyền tbons co thể được đùn? làm tiêu chí định nghĩa cho tục nsữ
Tính giáo dục
Nội dung giáo dục trực tiếp hay gián tiếp của tục ngữ được các nhà tục ngữ học công nhận Thể hiện trực tiếp băng một nsuyên tie, hoặc một lời cảnh báo :
Thương người như thể thương thản.
Làm nqitời phải đắn phải đo.
Phải căn nặng nhe phải dò sônq sâu.
Trang 27Trong tục ngữ Anh cũng có nhiữig câu đưa ra nguyên tấc hoặc cunh báo như thế.
Live and let live.
(Thươỉĩg nẹuửi như the thương than - td.) Look before you leap.
(Cấn tắc vô ưii - ĩd.ì
Hoặc thể hiện gián tiếp như một tổng kết kinh nghiệm tron lĩ CLIOC sons
Cha cm mặn, con khát nước.
Trong tục ngữ Anh có những càu Ìihư:
Nothing, venture, nothing have.
(Không vào hcmg cọp làm sao bát được cọp con - tã.)
Một kinh nghiệm tích lũv hoặc một quan sát:
Tháng năm chưa nám đã sảng.
Hoặc ran bảo, khuyên ran bày vẽ, gido dục hiểu theo nnhĩa đao lý
Yêu nên tốt, íỉlỉéĩ nên xấu.
ớ đây khuyên dưới dạna đưa ra một nhận Két chư không phái là lòi trưc tiếp
Như thê tính giáo dục cũng có thể được dùng làm tiêu chí định nghĩa cho tục ngữ
Hình thức cô định
Tục naữ là một đon vị nsòn naữ ỏ' dạng có sẩn Tuy vậy, trong quá trình nội-naiig, một càu tục ngữ co tfiể không được nòi ra một cách trọn vẹn Việc phá vỡ kết câu này khong có nghĩa là tục ngữ khòng có cấu trúc
cố định, vì người nghe một phần câu tục ngữ cũng đã tiếp thu đáy đủ nọi hàm của tục ngữ đó
Ví dụ: Dạo này sức khuể thế nào?
Trang 28Cám ơn, ãndược, nsủ dươc, làm việc tốt [73; 15].
Trong giao tiếp tiếng Anh một ngưưi có thê nhắc nhở một người nào đừng đến trễ một nơi nào đó sẽ nói:
Remember the earỉV bird (catches the worm) [20; 46]
(Đimg quên trâu chàm (uống nước dục) nhé - kỉ.)
Vậy tính ổn dinh vê hỉnh thức có thê được dùng làm tièu chí định nghĩa cho tục ngữ
Tính tho ca và biểu trưng
Hầu hết tục ngữ Việt và một phần tục ngữ Anh có cuc nét đăc trưnơ của thơ ca nổi ra bên ngoài như vần, rihịp, lặp ảm, củng như chìm trong cấu trúc sons đôi, hay các phương tiện tu từ như ẩn dụ phung dụ nghịch
du,
Nhưng có một phần tục ngữ Việt cũng như Anh khònc có đăc trưng thơ ca hay biểu trung gì Chúng hoàn toàn giỏna như các càu bình thường
Cà cuông chết đến đít con cay.
Every man has his price.
Về tính chất câu của tục ngữ: V] có một số đơn vị tục ngữ co cau trúc
vị - vị như đã đề cập ỏ' trên và mot số cấu trúc lạ khác nên các định nghĩa truyền thống về câu không vận dụng được đê giải quyết dứt điểm, Ngay cả các đinh nghĩa tục ngữ dựa trên cơ sở cấu trúc sổm 4 thành phãru+) (-) của
Trang 29George B.Milner và cấu trúc đé - thuyết của Alan Dundes đã đề cập đến ơ phần trước cũng không giải quyết được tính chát câu này cua tục ngữ một cách triệt để.
Cũng như nhà ngữ nshĩa học tục ngữ nổi tiếng ở phương Tây là Neal R.Norrick [20; 21], chúng tối vận dụng các phân tích vẻ cấu triic đối thoai
và khá] niệm "Một lời thoại" (A conversational turn) [5; 3981 của Charles
c Fries [9: 9 - 26] vào việc xác định lính chất và kha năng của tuc ngũ' đê
có thể tìm thèm một tiêu chí định nghĩa cho tục ngữ
Theo Neal R.Norrick, một lời thoa] tự do (free conversational turn) là lời thoại có khá năng tham ơia vào giữa đối thoại một cách tư do — khỏns phụ thuộc vao nội dung lời thoại đi trước cua nsười khác, không bị gián đoạn khi trình bày, không cần một nghi thức giới thiệu nào trước khi đưa lời đối thoại này vào giữa đối thoai [21; 5]
Định nghĩa này không bao gổm các từ tán thán như ôi chà thế à ô váng! V V cũns khỏns bao 2om các từ đáp ngắn cho các câu hỏi hay lồi mời như vâng ạ, khoẻ ạ, xin cảm ơn, ồ không, xin cùm ơn; v.v vì các lời đáp này khòng tự do mà phụ thuộc vào nội dung câu hói hay lời mời đi trước chúng
Như vậv, tục ngũ' là một đơn vị thoai co đủ khu nans tham líia vào giữa đối thoại một cách tự do (free conversational turn) Điều này cũniỉ khẳng định thêm một sù đãc tính của tục ngữ; để hội thoai (convesational) chứ không phải để viết (w ritte n để nói (spoken) chứ khòna phải đế ngâm (cited), hát (sung), hô to (shouted), hay nhảy mua (danced) và khôna phu thuộc vão nội dung thoại đi trước nó — tức là mang nahĩa khái quát (general), chứ không phụ thuộc vào một đối tượng đặc biệt nào
Qua tính chất tự do này của tục ngữ, chúng ta có thể xác định them một số tiêu chí để định nahĩa cho tục ngữ: tự do tham gÚ 2 vào giữa đôi thoại, đ ể hội thoại, nói và có niịhĩa khái quát.
Trang 30Bây giờ, chúng tôi đưa tất cả các tiêu chí định nghĩa và một so thuộc tính của tụ* ngữ vừa nêu trên vào một ma trận theo thứ tụ' truớc sau Đuv theo tính chất bắt buộc có, hay có thể có của tục ngữ, chúng tôi sử dụng lại cách biểu biểu hiện các tính chất của Neal K.Norrick: (+): có; (-): khốPL có; (0): có thể có.
Tự do
\
tham
n»hĩư khái quát.
Chúng ta có thể đựa vào ma ưận nay đế định nghĩa, phân biệt các thể loại vãn học dân gian khác, cũng như các thể loại có nhiều tính chất giống
vói tục ngữ như: thành ngữ, ca dao, câu đố, truyện cười, dân ca, kháu hiệu, v.v
Trang 311.2 TÍNH PHỔ QUAT CỦA TỤC NGỮ
Dân tộc nào cũng có tục ngữ Ổ tục ngữ ta thấy rõ nhiều tính chát thật
và thẳng, nhưng mỗi dân tộc lại có lối diễn đạt của mình
Nhũng khung c;mh sống tương tự dẫn tới nhũng cách đánh giá và có kinh nghiệm tương tự Mặc dầu Việt Nam và Anh nám ở lục đia khác nhau
và chưa từng có những giao lưu vãn hóa ở những thế kỷ trước nhưns chúnr
ta vẫn thấy có nhữns câu tục ngữ rất giống nhau
Xa mặt, cách lòng.
Out o f sight, out o f mind.
Tai vách, mạch rừng Walls have ears.
(Tường vách có tai - d.)
Của rẻ là cua ôi.
Cheapest is the deast.
(Hám rẻ té ra mua đắt - d.)
Về sự giống nhau này, A.Shand [25; 6 8 - 8 1 ] liên hệ hệ thống quan điểm cơ bản dựa vào một trăm mười bốn quy luật được minh chứng băn2; tuc ngữ của Gordon Allport [1; 86 - 93] để cho rang các quan điểm chung phổ quát cổ thể tìm thấy ỏ' tất cả cá nhân ở mọi nơi - nhưng đươc điếu chỉnh đê phù hợp với hoàn cảnh địa lý của từng vùng
Một điểm khac nữa là trong lời nói của rmnh người Việt cũng như người Anh có thể phá vỡ kết cấu của tục ngữ có lẩn để tạo ra một tac dụng, một hiệu quả gì đó
Ví dụ: "Này chị Pha, tôi nói cho mà biết, co về bảo anh ấy đổi tên thằng bé, không có chẳng ra gì với tôi đau.”
"ừ đ ấy , cứ đật thế đấy, nghĩa là sinh sự thì sự sinh, chứ bụt trên íoà gà nào dám m ổ mắt." [24; 21]
Trang 32Hoặc trong câu: "I mean, bringing sinners to repentance is all right, but there are limits And does the leopard ever change his spots?" [76; 38].
(Ý tôi nói, cải hoá người tội lỗi là điều tốt, nhưng phải có giới hạn
Nẹựa qưm đường cũ mà thôi).
Trong hai ví dụ trên, ba câu tục ngữ dã bị phá vỡ kết cáu:
Sinh sự, sự sinh.
Bụt trên toà, gà nào mổ mất.
Leopard cannot change his spots.
1.3 MỘT SỐ ĐẶC THÙ CỦA TỤC NGỮ
1.3.1 Tính dân tộc
Điểu kiện tự nhiên xã hội khác nhau tạo ra dặc únh dân tộc và nền vãn hoá khác nhau nên tục ngữ của hai dán tộc Việt \ầ Anh có nhims điểm khác nhau rõ rệt Tuy nhiên, ngôn ngữ với chức năng cúa mình, tục ngũ một mặt vừa là sự kiện văn hoá, một mặt vừa là hẹ thống ký hiệu ghi nhận
và thể hiện các sự kiện ván hoá v ể đặc thù này, các nhà tàm lý học và nhân chúng học đều đổng tình ràng tục ngữ phản ảnh hiện rhưc ván hoa và
xã hội của một dân tộc
Edward A Westermarck khẳng định rằng tục ngữ của một dân tộc là kho tư liệu quý giá liên quan đến tính cách, tính tình, chính kiến, càm nshĩ thái độ và tập quán của dân tộc đó [27; 85]
Nhà ngôn ngữ học Mario Ped cũng tM rằng tục ngữ chứa đựng rất nhiều đầu mối về tâm tính, thói quen của ngưừi sử dụng Chuns Các mẫu thức về sự lịch thiệp hay sự sỉ nhục thường cung câp cho chúng ta mọt sự hiểu biết sâu xa hơn về tâm lý của một dân tộc hơn là một pho sách về lịch
sử [22; 194]
1.3.2 Nghĩa của tục ngữ
Trang 33Nghĩa của tục ngữ là toàn bộ nội dung thông báo mà mỗi tục ngữ mang lại cho người nói và người nghe Nội dang của mỗi câu thường bao gồm nội dung trực tiếp nghĩa biểu vật, và nội dung gián tiếp - ngbĩa biểu trưng.
Nghĩa biểu vật thường cũng là nghĩa ngữ dụng của loai tục ngữ chi có một nghĩa, nghĩa này được câu tục ngữ miêu tả một cách trực tiếp
Cha nào, con nấy.
Like father, like son.
Loại tục ngữ có nhiều nghĩa, thì nghĩa biểu trung thường đươc "ví von" thôna qua các phương tiện EU từ phơ biên sau đay:
a Phép cải dung (Synecdoche)
Trâu chậm uốnq nước đục.
The early bird catches the worm - td.
b Phép ẩn dụ (M etaphor)
Chơi chó, cho liếm mặt
Familiarity breeds contempt - tđ.
c Phép hoán dụ (M etonymy)
Kinh cung chi điểu.
Fear has a quick ear - id
Trang 34Người sống, đống vàng.
Đói cho sạch, rách cho thơm
Gió thổi là chổi trời
Thuận vợ thuận chồng, tát bể Đông cũng cạn
Tuy vậy, vần chi là yếu tố hỗ trợ, còn yếu tố quyết định sự bền chặt của tục ngữ là ý và nhip điệu
Tre già, man ọ, mọc.
Rau nào, sâu nấy.
Đó dầu đen, dây máu dó.
Gái chưa chổnq mong đi chơ, trai chưa vợ mơn? ra cỉưonq.
Ngát nhịp để lấy hơi và cũng để nhấn mạnh ý Ngắt ở từ nào là có ý nhấn mạnh ở từ ấy
Nước chảv, (ta mòn.
Đẹp như tiên, không tiền cũng ế.
Tính càn đối của càu tục ngữ còn được thiết lập nhờ việc xé lẻ những
từ ghép ra để đưa vào hai vế của câu tục ngữ Cách xé lẻ từ ghép này đã tạo
ra được thanh điệu cho câu tục ngữ
Người khôn, của khó.
Người là vàn", của la nsãi.
Dâu hiền hơn con gái, rể hiền hơn con trai.
Trong tục ngữ Anh, biện pháp lặp từ để tạo ra ván cũng được dùng phổ biến Lặp từ cuối mỗi vế, lặp từ đầu mỗi vế, hoặc lặp từ đầu và từ cuối của câu tục ngữ
Once a thief, always a thief.
(An cắp quen tay, ngủ ngày quen mắt.) Let bygones, be bygones.
(Con đã mọc răng, nói năng chi nữa.)
Trang 35Nothing venture, nothing have.
(Không vào hang cọp sao bắt dược cọp con.) Handsome is as handsome dose.
(Cái nết dánh chết cai dẹp.) Nothing for nothing.
(Có di có lại mới toại lòng nhau.) Business ừ business.
(Ăn chứ, buôn so.)
1.3.4 Tục ngửđối nghịch
Có một số phản ảnh về nhản sinh quan trong tục n^ỉữ bị nghi nsờ vì nhiều cáu tực naữ của một nước lại có nhũng câu phản ảnh đối nghịch lại
Ví dụ: Trâu chậm uống nước đục.
Cẩn tắc, vô áy náy.
Hoặc Look before you leap.
(Cẩn tắc, vô ưu - tă.)
He who hesitates is lost.
(Do dự là hỏng việc - d.)Điều đối nghịch nay trước hết chúng ta có thể nhận ra nguyên nhân là
vì câu tục ngữ thường quá ngắn gọn nên có mộ số càu dường như chỉ diễn đạt ý một chiều Tính một chiều nay được điều chỉnh bằng một câu tục ngữ đòi nghịch cho những tình huống đạc biệt như là một ngoại lệ cho một thông lệ
Chúng ta cũng có thể hiểu sự đối nghịch này là thể hiện của sự không nhất quán giữa lý tưởng của một cộng đồng và hành vi thực, chưa đạt mức
lý tưởng của cộng đồng đó
Trang 36Việc nghiên cứu các tục ngữ đối nghịch cũng sẽ giúp chúng ta hiểu sâu hơn về một dân tộc.
1.3.5 Tục ngữthứi tiết
Có quan điểm khác nhau về chủ đề tục ngữ thời tiết
Cho đến nay, tất cả các nhà nghiên cứu tục ngữ ở Việt Nam cũng như
ở các nước khác đều xếp tục ngữ thời tiết vào các tuyển tập của mình như bảt cứ câu tục ngữ nào khác
Trong các từ điển tục ngữ xuất bản ở Việt Narn ơ các nước đêu có các câu về thời tiết Tuy nhiên, trong các từ điển tục ngữ đối chiếu thì khôrm thấy loại tục ngữ thuộc chu đề này xuất hiện Chãc chắn là có một điều 2Ì
đó không ổn Chúng tôi, sau khi khảo sát và phân tích, thủy ráng các câu về chủ đê thời tiết có kết cấu giống kết câu tục nsữ nhưng đại đa số có nqhĩa biểu vật, trong khi đó đại đa số tục ngữ có nghĩa biểu ínũĩg.
Các câu thời tiết có thể được xem như những dư đoán có tính kinh nghiệm truyền thống, hay những điều mê tín giống như nhữns; điếu mè tín khác trong dân gian
Mây xanh thì nắng, mây trắng thì mưa.
Đây chỉ là một dự đoán theo kinh nghiệm Cũng có thể xem đây là một điều mê tín, giống như:
Mồng năm, mười bổn, hàm ba,
Đi chửi cũng thiệt nữa là ãi buôn.
Hãy xet một câu về thời tiết có cả nghĩa biểu trưng:
Góp gió thanh bão, mưa lâu thành lụt.
Bên canh nghĩa biểu vật, câu này còn có nghía biểu tnmg là nhiều đơn
vị nhỏ hợp lại sẽ thành một lực lượng lớn, va nghĩa ngữ dụng là nói đến sức manh của sự đoàn kết, một sức manh vô địch
Trang 37Khi câu này được noi trong tình huống một người ữú mưa một lúc lâu tại nơi nào đó thi đây là một sự dự đoán Khi nói được một người A nói với người B để động viên người B cố gắng tích luỹ thêm vật chất hay một sự nỗ lực để đạt được một mục đích gì đó thì nó là một câu tục ngữ.
Tuy vậy, cũng có một số ít cảu tục ngữ không có nghĩa biểu trưng:
Nước mắm xem m ans màn %, thần hoàn (Ị xem tan quạĩ.
Gà đen chân trấnẹ mẹ măìVị cũnẹ mua.
Gà trắng chân chì mua chi giống ấy.
Chúng tôi thấy rõ là hầu hết c-áq câu tuc ngữ về thời tiết có nghĩa biểu trưng Chung tòi củng nhận thấy đăc tính này ờ hầu hết các cáu về y học dân gian, kinh nghiệm sản xuất, chản nuôi Tuy nhiên, các câu về các chủ
đề này lại chứa nhiều đặc trưng vãn hoá
1.4 TIỂU KẾT
Cho đến nay, ở Việt Nam cũng như ở phương Tây có nhiều định nghĩa
về tục ngữ theo cơ sở truyền thống hoặc dựa trên cấu trúc, dựa trên cơ sở văn hoá hay dân tộc đã được đưa ra; nhưng chưa có một định nghĩa nào được công nhận rộng rãi Mỗi nhà nghiên cứu đưa ra một định nghĩa của riêng mình "dểlàm việc".
Trang 38Chúng tôi, dựa trên kinh nghiệm nghiên cứu tục ngữ theo tư liệu phương Tây, sử dụng ma trận, đã mạnh dạn đưa ra một định nghĩa tục ngữ cũng đ ể làm việc. Tức là để phân biệt được tục ngữ với các thể loại gần gũi như thành ngữ và ca dao, nhẳm phục vụ cho việc chọn các câu tục ngữ cho công trình phân tích, đối chiếu của mình.
Tục ngữ có tính phổ quát và đặc thù rất cao v ề tính phổ quát, khung cảnh sống tương tự thường dẫn tói những cách đánh giá và có kinh nghiệm tương tự Còn tính đặc thu chủ yếu là do sự chi phoi của hoàn eảnfc địa lý
Tục ngữ Vièt và Anh phản anh hai đất nước, dân tộc co vị trí hoàn cảnh, xả hội và đời sống khác nhau nẻn có nhièu điểm khác nhau về nội dung cũng như hình thóc Phản tích, đối chiếu mc ngữ Vièt vã Anh sẽ mang lại sự hiểu sâu hon về dân tộc và ngôn ngữ của hai nước Việt Nam va Anh Điều này cũng sẽ giúp ích cụ thể trong việc dạy học tiếng
Chương 2 ĐÔÌ CHIẾU TỤC N G Ữ V Ệ T - ANH
QUA MỘT SỐ CHỦ ĐỀ CHÍNH
Như đã biết, tục ngữ là một dạng ngôn ngữ súc tích, đúc kết sẩn thái
độ úng xử của cộng đổng trong những vấn đề mang tính xã hội khác nhau rất đa đạiig Trong mạch ngầm văn hoá chảy xiết từ quá khứ đến hiện tại của mỗi cộng đồng, tục ngữ có thể coi như là một tấm gưíttig phan chiếu nét truyền thống ván hoá - xã hội một cách đáng tin cậy nhất và có sức sống lâu bền nhất
Mỗi câu tục ngữ có thể được xem như là một tác phẩm hoàn chỉnh, tương đối độc lập, phản ánh một nếp nghĩ phổ quát vốn được chấp nhân cua cộng đồng trong quá tìn h lịch sử Chính vì vậy, trong kh) nshiên cứu tục ngữ, đặc biệt khi tập hợp để phân loại chúng, người ta có thể chia chúng ra thành một loạt hệ thống những chủ đề khác nhau
Trang 39Ví dụ, trong cuốn từ điển tục ngữ Đức Das kleine Sprich worterbuch
(Leipzig, 1970) gồm 2500 câu, 35 chủ đề nhỏ; từ điển tục ngữ Anh
Proverbs (London, 1983) gồm 6000 câu, 188 chủ đề; cuốn Tục Ngữ Việt Nam (Hà Nội, 1993) của nhóm Chu Xuân Diên gổm 4100 câu, 73 chủ đề
Khi so sánh hệ thống cấp chu đề các tục ngữ, người ta dễ tìm thấy sự trùng hợp chung trong sự phản ảnh yếu tố văn hoá - xã hội giữa các cộng đồng Và khi đi vào so sánh cấp cấu trúc câu, có người gọi là cấp vi mô, người ta dễ tìm thấy sự khác biệt về mặt chất liệu cấu tạo
Tuy nhiên, theo tổng kết chung thì sự trùng hợp và khác biệt ở cấp độ này hoặc cấp độ khác không phải là tuyệt đối Và chính ngay troní; sự khác biệt vừa tuyệt đối vừa không tuyệt đối kia, dù ở mặt nào, trong tính hiện thực của nó, cũng đều có liên quan đến yếu tố vãn hoá gắn với nhán sinh quan của cộng đồng Chỉ có điều cần quan niệm rõ để phán biệt là:
(1) Khi so sánh ở cấp độ hệ thống các chủ đề mạch khác nhau về van hoá thông qua nhân sinh quan được bộc lộ một cách trừu tượng hơn, không trực tiếp liên quan đến chất ỉiệu nghĩa đen - mà trực tiếp liên quan đến chất liệu nghĩa bóng - lớp nghĩa đích thực của tục ngữ
(2) Trong khi khai thác sự khác nhau ở lớp nghĩa đích thực của tục ngữ giữa hai cộng đồng (Việt Anh) ở cấp độ chủ đề này, cái gọi là sự trùrm hợp chúng ta thường gặp phải, như trên đã nêu, chỉ là tương đối; vì bên cạnh sự trùng họp ấy, còn có những chủ đề không có sự nhấn mạnh tương ứng; thậm chí có cả nhữne chủ đề chỉ có sự quan tám đơn phương (Ví dụ chủ đề Biển có ở cộng đổng người Anh nhưng không có ở cộng đồng người Việt; trái lại chủ đề Lảng-Nước có ở cộng đồng người Việt nhưng không có
ở cộng đồng người Anh)
(3) Mặt khác, trong khi miêu tả các câu tục ngữ làm cơ sở để so sánh,
Trang 40chúng tôi kiiông lấy số lượng nhiều ít để đánh giá sự minh xác, mà chúng tôi đi vào phẩm chất ý nghĩa vốn nằm đích thực trong tục ngữ của cộng đổng đang là đối tượng nghiên cứu.
(4) Trong khi phát hiện các sắc thái kín đáo thuộc về nhân sinh quan
có liên quan đến môi trường ván hoá theo hướng nói trên, có luc chúng tôi phải mở rộng sự miêu tả đủ đến mức cần thiết đ ể làm sáng tỏ tính xã hội - vẫn hoá - lịch sử vốn là những tiền đề luôn xen kẽ nhau tạo ra sự hình thành, thậm chí cả sự phát sinh của các đơn vị tục ngữ
(5) Hệ thống các chủ đề và các chủ đề nhỏ mà chúng tôi đề xuát chủ yếu được chọn ỉựa trong sự phối hợp so sánh trên nền chung giữa hai hệ thống chủ đề đã được khai triển vốn sẵn có trong nguồn tư liệu tham khảo gốc giữa tục ngữ Việt và tục ngữ Anh
Thực ra thì cho đến nay việc phân chia thành hệ thống chủ đề trong các sách và từ điển tục ngữ ở Việt Nam chưa thành thông lệ và chưa thành một hệ thống nguyên tắc rõ ràng như ở các sách tục ngữ Anh
2.1 VỂ BẢN THÂN
Xưa nay, nhiều nhả nghiên cứu dân tộc học đã xác nhận dù ở một nước nào, tính chất người bình dân vẫn cần cù, nhẫn nại, chất phác [45; 284] Còn các nhà xã hội học thì đã tìm thấy môi trường sống xã hội ảnh hưởng rất mạnh vào tính chất con người, khien cho tính chất của con người căn bản giống nfiau tiến dần đôn chỗ cá biệt dị đổng
Tư tưởng đạo học đã ảnh hưởng đến nhân sinh quan của người Việt Nam từ ngàn xưa Đạo làm người đối với họ là tự lực canh sinh, tức là phải
tự mình nuci lấy thân mình, không nhờ vả ai Đỏ là quan niệm nhân sinh của người bình dân, còn phương thức thực hiện ý thức này của hụ là cần cù
và nhãn nại