* Nguồn Gốc Lịch Sử : Các dân tộc nhóm ngôn ngữ Việt – Mường dk giới khoa học thống nhất thừanhận là các cộng đồng bản địa ở VN.. Với các kết quả nghiên cứu của Khỏa cổ học, Ngôn ngữ họ
Trang 1DÂN TÔC THIỂU SỐ Ở VIỆT NAM
ĐỀ 1
Câu 1 : Nêu phân tích , đặc điểm dân số và phân bố dân cư của các dân tộc thiểu số ở VN.
Đặc điểm dân số : đó là sự chênh lệch về dân số quá lớn
Chênh lệch dân số giữa ng Kinh/53 tộc ng thiểu số rất lớn : 73.594.427ng/12.252.570 ng ( 85,72% / 14,28% ) Số lượng dân cư của từng tộc ng khác nhau cũngđóng vai trò rất quan trọng cho sự khác nhau của thiết chế xã hội Phần lớn các tỉnh miềnnúi mật độ dân số bình quân trên dưới 100ng/Km2 ,thậm chí có những tỉnh chỉ vài chục ng(Lai Châu 34ng/Km2, Điện Biên 52,7ng/Km2, Kon Tum 38ng/Km2 ) Ngược lại, khuvực đồng bằng mật độ dân số lại rất cao ( Thái Bình 1158,2ng/Km2 , Hưng Yên1214ng/Km2, Thanh Hóa 306,5ng/Km2 , cao nhất là Bắc Ninh 1225ng/km2, Ở nam bộthấp nhất là Cà Mau 230,8ng/Km2, cao nhất là Cần Thơ 811ng/Km2 )
Các dân tộc thiểu số cư trú xen kẽ vs nhau từ hàng ngàn năm nay:
Ngoại trừ ng Kinh, xưa kia tập trung cư trú ở Trung du, châu thổ Bắc Bộ , BắcTrung Bộ, Trung bộ và Nam Trung Bộ , các dân tọc đều xen cư vs nhau trong các tỉnh,huyện, xã và thậm chí là ở các bản , làng , buôn , ấ , Ở VN , không có dân tộc thiểu sốnào cư trú riêng biệt ở 1 tỉnh hay 1 huyện Xen cư lâu đời , tạo đ.k cho các tộc ng xích lạigần nhau , đoàn kết giúp đỡ lẫn nhau, giao lưu và tiếp nhận văn hóa lẫn nhau Điều đó làmcho vhoa của các tộc ng thêm phong phú thêm, song cũng dẫn đến mai 1 ngôn ngữ và vănhóa truyền thống của 1 số tộc ng có dân số ít ng
Câu 2 : Nêu phân tích đặc điểm địa bàn cư trú, truyền thống đoàn kết bảo vệ đất nước của các dân tộc thiểu số ở VN?
Địa bàn cư trú của các dân tộc thiểu số có tầm quan trọng trong chiến lược của quốcgia:
Mặc dù chỉ chiếm 14,28% dân số toàn quốc , nhưng các tộc ng thiểu số lại cư trú trên
1 khu vực lãnh thổ chiếm tới hơn 70% diện tích của cả nước Đó đều là những vùng lãnhthổ có tầm quan trọng chiến lược về kinh tế, chính trị, an ninh, quốc phòng, và mt sinh tháicủa đất nước Khu vực này có hàng ngàn km đg biên giới đất liền , giáp vs các nước lánhgiềng (CHND Trung Hoa: 1406 km; Lào: 2067 km; Campuchia: 1137 km) và đg biên giới
Trang 2trên biển ( 3260 km ) Cũng tại khu vực các tộc ng thiểu số sinh sống , có hàng chục cửakhẩu quốc tế, vừa thông thương về ngoại giao vừa tạo thuận lợi phát triển kt thương mại,
Về mt ,tài nguyên , 100% rừng phòng hộ , nguồn tài nguyên quan trọng của 1 số quốc gia,đều nằm ở địa bàn cư trú của các tộc ng thiểu số
Các dân tộc thiểu số có truyền thống đoàn kết bảo vệ và xây dựng đất nước
Mặc dù có đặc điểm tụ cư # nhau , các dân tộc thiểu số có truyền thống đoàn kết , xâydựng và bảo vệ Tổ quốc VN
Thời Bắc thuộc, các cộng đồng thiểu số sát cánh cùng ng Kinh chống lại ách đô hộ và âmmưu đồng hóa của phong kiến phương Bắc
Thời Lý (1009 – 1225) ng Tày – Nufngdo Thân Cảnh Phúc, Vi Thủ An, Tông Đản, lãnhđạo đã nổi dậy chống lại quân Tống, Thời Trần ng Mường do Hà Đặc, Hà Chương lãnhđạo đã nổi dậy chống quân Nguyên Mông
Đầu thế kỷ XV, ng Mường , Thái , Nùng đã ủng hộ nghĩa quân Lam Sơn chống quân Minhxâm lược
Cuối thế kỷ XVIII, các tộc ng thiểu số ở Bình Định ,Quảng Ngãi đã ủng hộ và tham giakhởi nghĩa Tây Sơn
Cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, hay trong c/m Tháng Tasmng Tày, Nùng, Dao ở cáctỉnh Đông Bắc Bộ có nhiều đóng góp vào thắng lợi của Tổng khởi nghĩa, thành lập nướcVNDCCH
Chín năm kháng chiến chống Pháp (1946 – 1954),các dân tộc thiểu số Việt Bắc là chỗ dựavững chắc cho Chính phủ Kháng chiến
Trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 – 1975), các dân tộc thiểu số ở vùngTrường Sơn , Tây Nguyên là chỗ dựa cho quan và dân cả nước đánh tan giặc Mỹ - ngụy ,giải phóng miền nam, thống nhất đất nước
Câu 3 : Nêu phân tích xu hướng phát triển của văn hóa các dân tộc thiểu số ở VN.
a) Cố kết tộc ng và bảo lưu văn hóa truyền thống :
Đa số các tộc ng đều có ý thức cố kế cộng đồng và bảo tồn văn hóa truyền thống Trong đó, các tộc ng có dân số tương đối đông : Mường, Tày , Thái, Dao ,Ê đê, có sự cố kết vàbảo tồn văn hóa truyền thống mạnh mẽ hơn cả Chính có sự cố kết đó mà các dân tộcthiểu số k bị đồng hóa, mặc dù từ 1954 trở về họ luôn ở trong tình trạng bị đồng hóa cưỡngbức Từ sau 1954 đến nay vs chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước , ý thức tự giáccủa họ lại càng có đ.k phát triển mạnh mẽ hơn bh hết Điều đó đã dẫn đến những yếu tốvăn hóa mà các dân tộc tiếp thu được là k ít , nhưng vhoa của họ k bị mất đi mà còn phongphú hơn
b) Hòa hợp vào văn hóa VN thống nhất :
Trang 3Cùng với quá trình tộc ng diễn ra trong hơn nửa thế kỷ qua ở VN, quá trình hòa hợp vănhóa đang diễn ra mạnh mẽ giữa các dân tộc Quá trình này đặc biệt có cơ hội phát triểnmạnh mẽ , trong điều kiện thực hiện chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước ta hiện nay.Ngày nay các dân tộc thiểu số ns tiếng phổ thông đã phổ biến , các cuộc hôn nhân giữacác dân tộc diễn ra ngày càng nhiều Quan trọng hơn cả là quá trình các dân tộc thiểu sốvùng chung lưng đấu cật trong công cuộc xd và bảo vệ đất nước.
c) Mai một văn hóa ở các dân tộc có dân số ít :
Cùng tồn tại vs xu hướng cố kết tộc ng, hòa hợp vhoa, hiện nay các dân tộc thiểu số cũngđang trong quá trình đồng hóa tự nhiên.Ở 1 số dân tộc thiểu số hiện nay, do sự ảnh hưởng ,mai một vhoa và có khả năng sẽ mất hẳn ngôn ngữ Tình trạng song ngữ, ngoài tiếng mẹ
đẻ, họ có thể sd thành thạo 2-3 thứ tiếng khác Hiện tượng này đang gây sự bất ổn đối vs
sự sinh tồn ngôn ngữ mẹ đẻ của nhiều dân tộc thiểu số Tình trạng của các ngôn ngữ đang
có nguy cơ tiêu vong và nó được chia theo các cấp (1): Những ngôn ngữ hầu như đã
bị tiêu vong hẳn , hiện thời chúng chỉ dk vài 3 ng còn nhớ dk
(2): Các thứ tiếng có nguy cơ tiêu vong thực sự, hiện chỉ còn vài chục đến 100 ngtrở xuống còn nhớ và đôi khi còn sd
(3): Các ngôn ngữ hiện có khoảng 1000 ng sd trở xuống, hiện chỉ dk sd tronggia đình và xu thế k dk thế hệ trẻ sd nữa
(4): Các ngôn ngữ hiện đang dk vài ngàn đến chục ngàn ng sd trong giao tiếpgia đìnhvà có xu hướng dk thay thế bằng ngôn ngữ chung của vùng và Quốc ngữ
(5): Các ngôn ngữ có từ 1 chục đến vài chục ngàn ng đang sử dụng nhưngcũng đang trong xu thế bị hòa vào các ngôn ngữ có vị thế xã hội cao hơn
* Nguồn Gốc Lịch Sử :
Các dân tộc nhóm ngôn ngữ Việt – Mường dk giới khoa học thống nhất thừanhận là các cộng đồng bản địa ở VN Trong đó, Kinh và Mường tách thành 2 tộc ng vàokhoảng thế kỷ X
Trang 4Với các kết quả nghiên cứu của Khỏa cổ học, Ngôn ngữ học, Nhân chủng học,
Sử học, nguồn gốc VN của dân tộc ng nhóm Việt – Mường đã dần dần dk khẳng định.Theo Nguyễn Đình Khoa, ngay từ thời đá mới, đã có những cuộc hỗn chủng giữaMongoloid với Australoid phương Nam Các đặc điểm nhân chủng của nhóm loại hìnhNam Á hiện diện rất rõ rệt ở cã tộc ng nhóm ngôn ngữ Việt – Mường ở VN Các nhànghiên cứu còn khẳng định, vùng hình thành các tộc ng nhóm ngôn ngữ Việt – Mường làkhu vực lãnh thổ nằm gọn trong phạm vi Đông Dương, chủ yếu trên dải đất VN
Vài chục năm gần đây, tài liệu khảo cổ học , Ngôn ngữ học , Dân tộc học đã khẳng định:các nhóm Việt – Mường lúc đầu là hậu duệ của ng Môn – KhơMe cổ, trải dài khắp lục địaĐNA
Với các chứng cứ và kết quả nghiên cứu khoa học , có thể khẳng định : các tộc ng nhómngôn ngữ Việt – Mường hiện đang sinh sống ở VN, là di duệ của những cộng đồng bảnđịa, 1 trong những thành phần đầu tiên của cộng đồng dân tộc VN>
Câu 2 : Nêu đặc điểm tiêu biểu của bộ nữ phục Mường.
-So với các tộc ng # , y phục và trang sức của ng Mường có rất nhiều nét độc đáo.Nữ phụcthường bảo lưu được nhiều nét truyền thống của dân tộc hơn là y phục của nam giới Một
bộ y phục cổ truyền của phụ nữ Mường thường bao gồm: Khăn đội đầu (mu), áo cánh ( ạopắn), áo dài (ạo chụng), khăn thắt áo ( đẹt ạo), yếm (yệm/áo báng), váy (kloốc), thắt lưng(tênh)
- Đặc điểm của chiếc áo ngắn (ạo pắn) : Đây là chiếc áo cánh ngắn nhất trong số các loại
áo của phụ nữ các dân tộc ng ở VN Nó có chiều chỉ ngắn đến phía trên eo ng mắc Khimang y phục phía dưới áo ngắn là phần của cạp váy (20cm) , sau đó ms đến váy (từ eo trởxuống) Áo ngắn của phụ nữ Mường thường may bằng vải có màu trắng, xanh xí lâm, hoặcmàu hồng ; không chiết eo, có 4 thân, hai thân sau ghép liền nhau, giữa lưng có sống áo,hai thân trước có nẹp kéo liền từ cổ xuống mép dưới gấu áo Giống như áo ngắn của phụ
nữ Việt, áo ngắn phụ nữ Mường có cổ tròn có viền đứng cao chừng 2,5- 3cm, và cũngthuộc ;loại áo có tay dài Tuy mở chính giữa ngực , nhưng ao ngắn của phụ nữ Mường k cókhuy cài, khi mặc chỉ khoác bên ngoài yếm, chờm ra ngoài cặp váy 1 chút
-Khăn đội đầu của phụ nữ Mường : khăn ( mu) may bằng vải thô ,màu trắng, có kích thướckhoảng 35cm – 160cm Đồ đội đầu rất đơn giản, tóc dài túm lại 1 bó, cuộn thành búi tó ởphía sau gáy, gài bằng chiếc kim to Chiếc kim này là 1 trong số đồ trang sức quý giá của
Trang 5ng Mường, cũng có lúc họ búi tóc mà k cần đến cài kim Ở trên đầu là 1 chiếc khăn, dù làmàu trắng hay xanh lơ có hình vuông mỗi cạnh 80cm, ng Mường thắt nút ở phía sau đểche tóc, chỉ để hở chân búi tó chiếc kim gài.
- Đặc điểm của chiếc cạp váy của phụ nữ Mường : Cạp váy ( kloốc) , làm bằng vải mộchay lụa tơ tằm, là bộ phận đặc biệt và đáng lưu ý nhất trong bộ y phục của phụ nữ Mường
So với bộ nữ phục của các dân tộc #, cạp váy của phụ nữ Mường là yếu tố đặc trưng riêngbiệ về văn hóa mặc của dân tộc này Nó gồm 3 băng vải có tên gọi riêng, được may ghép
vs nhau: dang trên, dang cao, và dang dưới Dang dưới , là phần quan trọng nhất của cạpváy , được dệt các mô típ hoa văn hình động vật vs nhiều màu sắc : như rùa, rồng, phượng,chim lạc, cá , rắn, có nhiều nét tương tự như hoa văn trên mặt trống đồng Đông Sơn.Dang trên và dang cao là 2 băng vải được trang trí hoa văn hình học đơn giản Cạp váy củacác quý bà ng Mường làm bằng lụa tơ tằm, là loại cạp váy đẹp nhất (kloốc buôn)
Câu 3 : Khái quát một số loại đồ ăn tiêu biểu của dân tộc Mường.
Người Mường xưa, nay vẫn tự hào về ẩm thực của họ , điều đó được ghi nhận qua việctruyền tụng trong xã hội những câu thành ngữ khá nổi tiếng : Củ mài, rau sắng, măngđắng, mật ong
Đồ ăn tiêu biểu :
- Các loại đồ ăn truyền thống chế biến từ lương thực gồm : cơm nếp ( cơm đếp/ cơmrếp ) đồ chín bằng chõ; cơm tẻ (cơm tưởi) xưa kia cũng được đồ bằng chõ; nay họ dùngxoong để nấu; củ mài đồ Ngoài làm cơm, ng Mường còn dùng các loại lương thực chế biếncác loại bánh Dáng chú ý nhất là bánh chưng (pẻng chưng) , loại bánh to dùng để cúng tổtiên, các loại thần linh, vua mỡi, vua bếp vào dịp tết, loại nhỏ( bánh gòi, bánh trâu ) dùng đểcúng vía trâu, vía các loại nông cụ; bánh uôi dùng trong các tang lễ; bánh bắng dùng trongcưới xin; bánh chì; bánh chay dùng trong lễ cầu mát hàng năm trong các gđ, lễ cúng vía cho
ng ốm; bánh ống có hình dáng tương tự chiếc bánh tày, bánh tét dùng trong lễ ăn hỏi, hoặclàm quà khi đi thăm ng thân
- Các loại đồ ăn chế biến từ các loại thịt khá phong phú :
+ Chế biến từ thịt lợn có : giò lụa làm bằng thịt nạc ; giò đầu làm bằng thịt thủ;giò chân làm bằng thịt nạc ở chân lợn ; chả thịt nạc; chả lá bưởi; chả sườn; chả rang; mọcluộc; mọc đồ;
+ Chế biến từ thịt gà có : gà luộc; gà nấu gừng; gà nấu măng chua; gà gói láchuối nướng;
Trang 6+ Chế biến từ thịt trâu có : trâu xào tiêu rừng; thịt và da chân trâu hầm lá lồm( lá chua)/ món ăn nổi tiếng ở vùng Mường.
+ Chế biến từ các loại thủy sản có : cua xiên que nướng chấm vs muối xả, ớt;cua luộc ăn cùng khế chua rau thơm, vừng; cá rán; cá nướng, cá đồ ăn trong dịp tết, hoặcbiếu bố vợ; ruột cá nấu đắng; ếch rán nấu măng chua, băm viên gói lá lốt và rán, ướp gia vịgói lá nướng qua rồi mang đồ; nòng nọc đồ lẫn vs nõn khoai môn; ốc vặn chặt đuôi, để cả
vỏ nấu vs lá lốt; ốc nấu vs lá môn rừng măng chua
- Đồ ăn chế biến từ các loại rau , măng cũng k kém phần phong phú : Trước tiên làmón măng vầu hoặc măng bương luộc ; sau đó là các món măng đắng đồ, hỗn hợp các loạirau pheo, móng nai, tai rề, khìu, lá mít non, lá sung non, lá ắn, lá đu đủ non, lá sắn non,
đồ chín bằng chõ; rau éo luộc vs măng vầu, rau sắng nấu măng,
- Đồ ăn phơi khô như các loại thịt bò, thịt trâu, thịt lợn, thịt chuột, và các loại măng ,mộc nhĩ, nấm Phương pháp cất trữ khá nổi tiếng của họ là muối chua các loại thit, cá, tiếttrâu, tiết bò, măng, rau cải, làm mắm tôm tép
Đồ uống tiêu biểu :
- Đồ uống nổi tiếng của ng Mường có rượi trắng và rượi cần Theo tập quán ngMường thì họ uống nước nấu bằng lá hoặc rễ pạng Cổ truyền ng Mường đã có tập quán hútthuốc lào Không chỉ nam giới mầ cả phụ nữ cũng nghiện thuốc lào Họ hay hút thuốc làotheo kiểu chuyền tay nhau, dùng than hồng hoặc củi cháy dở để châm thuốc
ĐỀ 3
Câu 1 : Khái quát về nguồn gốc lịch sử của các dân tộc nhóm ngôn ngữ Môn – Khơme ở VN.
- Quan điểm các dân tộc nhóm Môn – Khơme có nguồn gốc ở Đông Dương :
Coedès cho rằng , ở Ấn Độ trước khi có ng Aryan tràn vào( TK I TCN), thì đã có lớp
cư dân Maxlai và Đông Dương tràn sang, nhất là vùng Đông – Đông Bắc Ấn Độ.Chính vì thế mà cư dân ở Đông Dương và cư dân Đông Bắc Ấn Độ có quan hệ mậtthiết về ngôn ngữ
Bogalevin – Deopic, khi nghiên cứu ng Mun Đa ở ÂĐộ cho rằng , thời kỳ đá mới làthời kỳ bành trướng của các cư dân ns ngôn ngữ Nam Á từ quê hương cổ ở Đ.Dương ,
di cư theo hướng Tây – Bắc vào ÂĐộ
Aruchiunov, S A và Bruck, S.I cho rằng: thời kì cổ đại các dân tộc ns ngôn ngữ Môn –Khome ở khắp Đông – Nam Á lục địa và k có căn cứ để có thể biết ở đó có thứ ngônngữ gì sớm hơn nữa
Trang 7 Tchebocxarov & Levin đã phủ nhận Hein Ghendec và đồng ý cho rằng ngư dân Môn –Khơ Me là dân có nguồn gốc Đông – Nam Á.
Vương Hoàng Tuyên(1963) đã hoàn toàn đồng ý vs quan điểm của các học giả Xô Viếttrên đây
Zeidenfaden E cho rằng : Quê hương cổ của ng Môn – Khơ Me là ở vùng Bắc và TâyBắc Đông Dương
Câu 2 : Nêu đặc điểm dân số và phân bố của các dân tộc nhóm ngôn ngữ Môn – Khơ Me.
- Lịch sử cư trú , trên lãnh thổ VN , cư dân Môn – Khơ Me cũng có nhiều biến động về dân
số thành phần ng và lãnh thổ tộc ng Hầu như các nhóm Môn – Khơ Me đã di chuyển địabàn cư trú nhiều lần do nhiều nguyên nhân khác nhau như chiến tranh, loạn lạc, bệnh tật,đời sống du canh du cư,
- Theo tổng điều tra dân số và nhà ở VN 1-4-2009 , ở VN có 1.260.640 ng Khơ Me Phân bốcủa nhóm cư dân Môn – Khơ Me rải rác dài trên toàn bộ lãnh thổ nước ta từ Tây Bắc đếnTrường Sơn – Tây Nguyên và đến tận bằng sông Cửu Long Ở Tây Bắc – Nghệ An VNhiện nay thuộc cư dân Khơ Me có 5 dân tộc sinh sống, thường dk gọi ng Xá, đó là : ngKháng, Mảng, Xinh Mun, Khơ Mú Trong đó ng Kháng, Xinh Mun và Mảng là những tộc
ng cư trú lâu đời ở Tây Bắc VN và 1 lãnh thổ Lào hiện nay
- Phân bố dân cư ở các tỉnh miền TNBộ : 1.183.476 ng; ĐNBộ : 72.796 ng; Tây Nguyên:2.436 ng; Trung Bộ và Duyên hải NTBộ: 1.278 ng; ĐBSH : 284 ng,
Câu 3 : Khái quát về văn hóa vật chất của các dân tộc nhóm ngôn ngữ Môn – Khơ Me.
Đặc điểm về nhà cửa :
Trang 8- Nhà cửa của ng Khơ Me : Nhà ở của ng Khơ Me gần tương đồng vs nhà ở của ngKinh lân cận Hầu như họ ở trong những ngôi nhà trệt, kiểu dáng kiến trúc đơngiản, được làm bằng tre , gỗ, thưng và lợp mái bằng lá dừa nước, lá thốt lốt Nhìnchung , nhà trệt của họ chỉ gồm 2 loại : Loại nhỏ chỉ gồm 2 mái , mái trước ngắn,mái sau dài ; Loại lớn chiếm đa số , có 4 mái , mái trước, mái sau và hai máiphụ Bố trí mặt bằng sinh hoạt, bài trí đơn giản : gian chính giữa để tiếp khác,phía trước của 2 gian canh gian giữa là nơi ngủ của nam giới, phía sau là buồngngủ của nữ giới Vùng giáp vs Campuchia, lác đác con 1 vài ngôi nhà sàn của ngKhơ Me trong các khuôn viên chùa Đó là những ngôi nhà kiểu xa la Đó chính
là những ngôi nhà công, dùng để hội họp, và là nơi ở của sư ,sãi, và những thanhthiếu niên đang ở tu
Đặc điểm về trang phục :
- Trang phục của Khơ Me, hầu như tương đồng với trang phục Kinh lân cận Điểnhình là bộ quần áo bà ba, khăn rằn của nữ giới Nam giới thường mặc quần áo
bà ba đen Ngày lễ tết, nữ giới Khơ Me mặc váy áo truyền thống , nam mặc quần
âu, áo sơ mi kiểu ng Việt
Đồ ăn tiêu biểu :
- Đồ ăn chính của ng Khơ Me là cơm tẻ , cháo Đôi khi họ cũng ăn xôi và các loạibánh Đồ uống chính trong tiệc tùng của họ là rượi trắng Cơ cấu đồ ăn trong bữa
ăn hàng ngày của họ : Cơm tẻ - canh rau , các món chế biến tuef tôm cá Gia vị ,nước cốt dừa được họ sd rất nhiều trong chế biến các đồ ăn Mắn bòhoc là món
ăn khoái khẩu của cộng đồng Khơ Me Nam Bộ Lễ tết họ làm bánh tét, bánhchuối, bánh in, bánh ú, bún nước lèo là đồ ăn đặc biệt ưu thích của ng Khơ MeNam Bộ
ĐỀ 4
Câu 1 : khái quát về nguồn gốc lịch sử của các dân tộc nhóm ngôn ngữ Tày – Thái ở VN.
Trang 9 Nguồn gốc lịch sử của dân tộc Tày – Nùng :
- Các nhà dân tộc học đã khẳng định rằng , ng Tày và Nùng là những cư dân cóchung nguồn gốc, cùng thuộc khối Bách Việt xưa kia Người Tày và Nùng hiệnnay vẫn gọi nhau 1 cách thân mật là Cần Slửa Khao và Cần Slửa Đăm Chắcchắn, các dân tộc Tày và Nùng thời cổ xưa, không có sự phân biệt thành 2 tộc ngriêng biệt Cho đến nay, khu vực Đông Bắc VN vẫn dk coi là vùng văn hóa Tày– Nùng với những truyền thuyết liên quan đến các hiện tượng tự nhiên, địa danh,các nhân vật thần thoại và nhân vật văn hóa
- Dân tộc Nùng ở nước ta chủ yếu sống ở các tỉnh thuộc vùng Đông Bắc như tháiNguyên, Cao Bằng, Lạng Sơn, Bắc Giang, Theo các kết quả nghiên cứu , nhiềunhóm Nùng đến sớm đã bị Tày Hóa Những nhóm Nùng hiện nay mà ta biết thìtới VN chỉ khoảng vài trăm năm nay
Nguồn gốc lịch sử của dân tộc Thái :
- Các kết quả nghiên cứu đều khẳng định định, ng Thái là cư dân cổ của vùng TâyNam Trung Hoa Từ đó họ thiên di xuống phía nam, tới Myanma, Thái Lan, Lào
và miền Tây Bắc VN Nhiều học giả thừa nhận, người Thái thuộc ngành phíađông trong khối di cư dân Bách Việt cổ đại
- Một số học giả VN cho rằng , nhóm Thái trắng có thể là 1 bộ phận trong số các
cư dân Việt cổ đã có mặt từ rất sớm ở cực Bắc vùng Tây Bắc VN
- Về các cuộc thiên di của ng Thái vào Tây Bắc VN, các nhà nghiên cứu VN chorằng sớm nhất là vào thế kỷ VII Khi đó 1 bộ phận Mường Luông Pha Băng, đóchính là cơ sở cho tù trưởng Pha Ngum thành lập vương quốc Lạng Xạng
- Một bộ phận Táy Đăm ở Tây Bắc đã di cư sang Lào Ngày nay họ thuộc nhómPhu Thay ở Lào Cũng có nhóm từ Lào lại di cư vào miền tây Nghệ An, nay tựnhận là Tày Mười
Nguồn gốc lịch sử của các dân tộc Giáy , Lào , Lự , Bố Y
*Cộng đồng Giáy thuộc nhóm các dân tộc mới di cư vào VN từ khoảng 300 năm lạiđây Từ nhiều đời nay, ng Giáy ở Bảo Thắng, Bắc Hà, Bát Xát, Yên Minh sống xen
kẽ vs ng Tày; ở Bảo Yên, Mường Khương họ cư trú cùng vs ng Nùng, chính vì thế
mà ng Giáy giao lưu ảnh hưởng văn hóa vs các dân tộc a e là k thể tránh khỏi Tuy
đã ảnh hưởng nhiều từ văn hóa các dân tộc khác, nhưng họ vẫn giữ dk tiếng mẹ đẻ,vẫn bảo lưu dk các bản sắc văn hóa riêng của dân tộc mình
*Tộc ng Lào hiện đang sinh sống ở tây bắc hầu hết có nguồn gốc từ Lào Thực tế vùngbiên giới Việt – Lào xưa kia k dk phân định rõ ràng, nên các nhóm Thái ở VN và cácnhóm Lào ở bên Lào đều có thể di cư trong khu vực biên giới hiện nay Hiện nay nhiều
Trang 10nhóm Phu Thay đang sinh sống ở Lào đều có nguồn gốc từ ng Thái ở VN và ngược lạitộc Lào ở VN cũng có ngồn gốc từ Lào.
*Về nguồn gốc của ng Lự, theo các nhà dân tộc học , sử học, họ đã cư trú ở ĐiệnBiên Phủ, từ trước thế kỷ X – VIII Có nghĩa là, họ là cư đân đã cư trú ở Điện BiênPhủ, trk khi nhóm Thái Đen xuất hiện ở đó Nhiều ng cho rằng, Sam Mứn chính là disản của ng Lự Một số ng còn cho rằng Sam Mứn chính là cổ cấm thành của ng Lự, tại
đó đã có thời có tới 3 vạn cối gãi gạo để nuôi quân, nên dk gọi là Sam Mứn Vinh
Trên TG, ng Lự đã dk các học giả thừa nhận rằng, họ là cư dân bản địa ở vùng XípSoong Pản Na Người Lự ở Lai Châu, VN có phải là di duệ của những ng Lự ở XípSoong Pản Na hay k , đều đó vẫn chưa thể khẳng định dk
*Vào khoảng những năm giữa thế kỷ XIX, nhiều bộ phận của các ngành Bố Y, xuấtphát từ những địa phương khác nhau ở Trung Hoa, đã lần lượt di cư vào nc ta bằngnhiều con đg khác nhau Nhóm Pầu Y cư trú ở Hà Giang Từ khi di cư vào VN, cáctộc ng lân cận gọi họ là Chủng Chá hay Trung Gia, gần đây họ tự gọi là Bố y
Nguyên xưa , Bố Y là tộc ng có nguồn gốc ở Quý Châu, TQ
*Thực tế cho thấy, khi đề cập tới ng Cao Lan, đa số các tài liệu đều nhắc tới ng SánChí, hoặc Sán Chấy Trong đại cương về các nhóm dân tộc thuộc ngôn ngữ Tày – Thái
ở VN trước c/m tháng Tám, cho rằng Cao Lan và Sán Chí là 1, chịu ảnh hưởng văn hóaHán và Mán, Các tác giả của Các dân tộc thiểu số ở Tuyên Quang cho rằng ng CaoLan tự gọi mình là Sán Chấy và từ Thái Nguyên di cư đến dk gần 100 năm nay Trongthực tế, Cao Lan và Sán Chí được phân biệt bằng tiếng ns Tiếng Cao Lan gần vs ngônngữ Tày, tiếng Sán Chí gần gũi vs tiếng Quảng Đông
Câu 2 : Nêu đặc điểm dân số và phân bố của các dân tộc nhóm ngôn ngữ Tày – Thái
Đặc điểm dân số :
- Dân tộc Tày : Tày là tộc ng thiểu số có dân số đông đảo nhất ở VN Dân số Tàynăm 1999 : 1.477.514 Họ cư trú tại Lạng Sơn, Cao Bằng, Tuyên Quang, HàGiang, Bắc Cạn, Sau 1975, một bộ phận đáng kể ng Tày di cư vào các tỉnh TâyNguyên và ĐNB
Năm 2009, VN có 1.626.392 ng Tày Phân bố cụ thể : Lạng Sơn, Cao Bằng,Tuyên Quang, Bắc Cạn, Yên Bái,
Trang 11- Dân tộc Nùng : Năm 2009, dân số Nùng 968.800 ng Phân bố cụ thể : Lạng Sơn,Cao Bằng Bắc Giang, Hà Giang, Thái Nguyên,Bắc Cạn, Lào Cai, Yên Bái, HòaBình, Lào Cai, Thái Nguyên, ĐB.sông Hồng, Hà Tĩnh, Tây Nguyên,
- Dân tộc Thái : năm 2009, dân số ng Thái là 1.550.423 ng Phân bố cụ thể : Sơn
La, Điện Biên, Lai Châu, Yên Bái, Hòa Bình, ĐB sông Hồng, Hà Tĩnh, TâyNguyên, ĐNB
- Dân tộc Sán Chay : năm 2009 toàn quốc có 169.410 ng Sán Chay Phân bố cụthể : Tuyên Quang, Thái Nguyên, Bắc Giang, Quảng Ninh, Phú Thọ, HN, LàoCai, Tây Nguyên, ĐNB,
- Dân tộc Giáy : Năm 2009, dân số Giáy là 49.098 ng Họ cư trú ở Bát Xát, BảoYên, Mường Khương, Sa Pa, Lâm Đồng, HN, Thái Nguyên,
- Dân tộc Lự : Lự là 1 trong những dân tộc có dân số ít Nếu năm 1959, chỉ có
Câu 3 : Khái quát về 1 số biểu tượng văn hóa điển hình của các dân tộc nhóm ngôn ngữ Tày – Thái.
*Đặc điểm ngôi nhà mái mai rùa của ng Thái Đen :
Nhà sàn của người Thái đen có mái hình mai rùa, lợp bằng cỏ tranh, đầu đốc có khaucút, xung quanh nhà che vách nứa Có hai cửa chính ở hai đầu hồi, mặt trước và saunhà có nhiều cửa sổ Có hai thang ở đầu hồi
Nhà sàn Thái đen: nhà mái vòm, mái hình mai rùa Nhà của người Thái có nét độc đáo
ở “khau cút” với ý nghĩa nhằm để phân biệt địa vị xã hội của chủ nhân ngôi nhà đótrong xã hội Nhà người Thái hầu như không có các ô phòng riêng cho từng thành viêntrong nhà, mà chỉ có sự quy định phần không gian dành cho mọi người
Về sinh hoạt, nhà của người Thái đen chia các gian nhà theo chiều dọc, thành các gianchính, gian chái, gian chái phụ Đường ranh giới qua bếp khách, có hai thang ở đầu hồi
Trang 12Thang chính lên gian quản, sát chái phụ Từ gian này qua cửa chính, phía tay phải làgian nhỏ dành cho người ở rể, nếu chưa có người ở rể thì để cho con trai Phía tay trái
là giường khách và bàn ghế tiếp khách Tiếp đến là gian có bàn thờ tổ tiên, bếp khách.Phần sau dành cho vợ chồng con gái Cuối nhà, phần dưới mái là nơi dành cho côngviệc của nữ giới (khâu, vá, thêu thùa, đan lát ), cũng là nơi để nước sinh hoạt Phần lộthiên để ngồi hóng mát và phơi quần áo Thang phụ đặt ở đây chủ yếu để cho nữ giớiqua lại
*Đặc điểm bộ nữ phục Thái Đen ở Tây Bắc :
Thái Đen : Thường nhật phụ nữ Thái Đen mặc áo ngắn (xửa cóm) màu tối (chàm hoặcđen), cổ áo khác Thái Trắng là loại cổ tròn, đứng Đầu đội khăn gọi là "piêu" thêu hoavăn nhiều mô-típ trang trí mang phong cách từng mường Váy là loại giống phụ nữThái Trắng , váy của họ có cạp nhỏ làm bằng vải khác màu thân váy, phía bên tronggấu váy bao giờ cung đk táp 1 băng vải đỏ rộng chừng 2 cm Lối để tóc khi có chồngbúi lên đỉnh đầu gọi là "Tằng cẩu";khi chồng chết có thể búi tóc thấp xuống sau gáy;chưa chồng không búi tóc Trong lễ, tết áo dài Thái Đen đa dạng với các loại xẻ nách,chui đầu, trang trí phong phú đa dạng về màu và màu mà mô-típ hơn Thái Trắng
*Đặc điểm bộ nữ phục Tày ở Đông Bắc :
Y phục truyền thống của ng Tày tương đối đơn giản, được cắt may bằng loại vải sợibông nhuộm chàm hoặc hầu như k có trang trí nhưng vẫn toát lên 1 vẻ đẹp tự nhiên, bình
dị trang nhã và hài hòa
Bộ y phục phụ nữ thì phức tạp hơn vs nhiều bộ phận, nhiều chi tiết khác nhau, bao gồm
áo cánh ngắn, áo dài, quần hoặc váy, khăn, thắt lưng, tạp dề, cạp xà và quần
- Áo cánh ngắn có 4 thân, xẻ ngực, cổ tròn; ở phần dưới 2 vạt áo trước có hai túinhỏ k nắp giống như túi áo nam giới
- Áo dài qua đầu gối, có 5 thân, xẻ nách, cài cúc bên phải
- Có nơi phụ nữ Tày mặc quần giống như loại quần nam giới nhưng rộng hơn ;cũng có nơi, chị e mặc váy ống tương tự như mặc váy của phụ nữ Kinh
- Thắt lưng dài khoảng 2 sải, hai đầu tết những tua vải màu
- Phụ nữ Tày vấn tóc quanh đầu, lệch về 1 phía và trùm khăn vuông bên ngoài
Trang 13- Tôn lên vẻ đẹp của váy, áo của phụ nữ Tày còn nhờ vào sự độc đáo của những bộtrang sức Trang sức phụ nữ Tày đơn giản song có đủ các chủng loại cơ bản nhưvòng cổ, vòng tay, vòng chân, xà tích Có nơi còn đeo túi vải, túi đựng trầu bênhông Quan trọng nhất là vòng cổ của người phụ nữ Đó là một chiếc vòng bạctrắng to được đeo ở cổ, vòng rộng xuống 1/4 ngực làm cho cơ thể cân đối và màutrắng của vòng bạc nổi bật trên nền chàm.
- Hài của phụ nữ Tày cổ thấp, k dùng dây buộc mà cài khuy cài, mu hài thêu hoavăn bằng chỉ mầu
ĐỀ 5
Câu 1 : Khái quát về nguồn gốc lịch sử của các dân tộc nhóm ngôn ngữ Hmông – Dao.
Nguồn gốc lịch sử của dân tộc Hmông :
- Các quan điểm của các nhà nghiên cứu về vđề nguồn gốc ng Hmông ,hiện naythuộc 3 trường phái chính : (1) ng Hmông có nguồn gốc Aryan, họ là con cháucủa lớp cư dân cổ ở vùng Trung Á, hay vùng Lưỡng Hà ; (2) ng Hmông cónguồn gốc ở khu vực phía Bắc sông Hoàng Hà ; (3) ng Hmông là cư dân cổ xưa
ở vùng động đình – Bành Hồ
Nguồn gốc của ng Hmông đến nay vẫn chưa có sự thống nhất trong giớinghiên cứu Nhưng hầu hết đều thừa nhận, cách đây hơn 3000 năm ngHmông đã từng sinh sống ở lưu vực sông Hoàng Hà và họ là cư dân cổ củaVương quốc Tam Miêu Sự bành trướng của ng Hán buộc họ phải di cư xuốngphía nam và mất tổ quốc
Theo điều tra, nghiên cứu của các nhà dân tộc học, ng Hmông đến VN vào thờiđiểm cách ngày nay khoảng 300 năm Họ di cư vào Vn làm nhiều đợt , bao gồm
3: cách ngày nay khoảng 150 năm ( 6 – 7 đời ng ) Từ Trung Hoa
họ vào Phong Thổ và Xi Ma Cai, Mường Khương Từ đây họ di cư sâu vào TâyBắc, đến Tủa Chùa, Tuần Giáo, Mộc Châu và cuối cùng đi vào miền núi Thanh
Trang 14Hóa.Cũng giai đoạn này ,1 bộ phận ng Hmông từ Xiêng Khoảng (CHDCNDLào) di cư vào Mường Xén, Tương Dương, Quế Phong, miền tây nghệ an.
- Nguồn gốc lịch sử của dân tộc Dao :
Việc nghiên cứu về nguồn gốc ng Dao, tại Trung Hoa hiện nay cũng có nhiềuquan điểm khác nhau Theo giáo sư Mạc Thời Giai, tổ tiên ng Dao xưa có nguồngốc từ vùng Trung Nguyên, sau đó họ di cư theo phía Đông – Nam, rồi xuốngphía Nam Các nhà dân tộc học VN đều khẳng định ng Dao có nguồn gốc từTrung Hoa, họ chỉ ms có mặt ở nước ta từ sau thế kỷ XIII
- Nguồn gốc lịch sử của dân tộc Pà Thẻn :
Khi di cư đến VN, đầu tiên ng Pà Thẻn tới Hải Ninh, từ đó di chuyển sang TháiNguyên , sau đó tới xã Linh Phú và Trung Sơn Một số ở tại đó đến nay Bộ phậncòn lại tiếp tục di cư tới xã Lăng Can, Hồng Quang, Hữu Sản Bộ phận đông đảonhất di tới Xuân Minh
Câu 2: Nêu đặc điểm chính về trang phục của các dân tộc nhóm ngôn ngữ Hmông – Dao.
Đặc điểm chính về trang phục của ng Hmông :
*Trang phục nam giới : bộ thường phục nam giới H mông gồm án ngắn, tứthân may bằng vải lanh hoặc láng màu đen có 2 túi phía dưới 2 thân trước, mở trướcbụng, nhưng k cài khuy, khi mặc dùng thắt lưng khép lại, quần may bằng vải lángđen, chân què, cạp lá tọa, khi mặc dùng thắt lưng xưa kia làm bằng vải lanh, lụamàu xanh, trắng, khăn đội đầu bằng vải lanh Họ k đeo trang sức, một số khá giảbịt răng vàng và đeo đồng hồ
* Trang phục nữ giới : Bộ thường phục của nữ giới Hmông gồm : khăn, áo, yếm,váy, dây lưng và xà cạp làm bằng vải lanh Áo của phụ nữ H mông Trắng, xẻ ngực,thuê hoa văn ở cánh tay và tạp dề Áo của phụ nữ H mông Hoa xẻ nách, trên vai vàngực có nẹp thuê hoa văn hình con ốc Áo của phụ nữ Hmông Đen giống áo của phụ
nữ Hmông Trắng thuê ở cánh tay và hò áo
Váy của phụ nữ H mông hầu hết làm bằng vải lanh, thuộc loại váy mở,xếp nếp, ngắn ở bắp chân Váy của phụ nữ H mông Trắng làm bằng vải lanh màutrắng k trang trí Váy của phụ nữ Hmông Hoa màu chàm , trang trí hoa văn ở gấu.Váy của ng H mông Đen giống váy của phụ nữ Hmông Hoa và Trắng nhưng ngắnhơn Váy của ng Hmông Xanh hình ống, màu chàm, sát gấu trang trí hoa văn chữthập ở trong các ô vuông,
Đặc điểm chính về trang phục của ng Dao :