Phương pháp dạy học môn Toán là một trong các nội dung quan trọng được trang bị cho giáo viên tiểu học và sinh viên ngành Sư phạm Giáo dục tiểu học ở các trường Đại học và Cao đẳng Sư ph
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC AN GIANG
KHOA SƯ PHẠM
PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC TOÁN TIỂU HỌC 1
PHẠM THÚC KIM
AN GIANG, THÁNG 06 / 2016
Trang 5LỜI NÓI ĐẦU
Để đáp ứng yêu cầu của việc đổi mới giáo dục hiện nay, đổi mới phương pháp giảng dạy nói chung và phương pháp dạy học Toán nói riêng Tôi nhận thấy cần có tài liệu phù hợp với quá trình đào tạo hiện nay Vì vậy tôi biên soạn tài liệu này góp phần đáp ứng các yêu cầu đổi mới dạy học hiện nay ở bậc Tiểu học
Phương pháp dạy học môn Toán là một trong các nội dung quan trọng được trang bị cho giáo viên tiểu học và sinh viên ngành Sư phạm Giáo dục tiểu học ở các trường Đại học và Cao đẳng Sư phạm
Tài liệu này nhằm cung cấp các kiến thức cơ bản về lý luận dạy học môn Toán, những cách thức chung về dạy học môn Toán và ứng dụng vào việc giảng dạy các nội dung cụ thể trong chương trình môn Toán ở bậc tiểu học
Tài liệu được biên soạn trên quan điểm cho sinh viên tự nghiên cứu, khi đến lớp sinh viên sẽ được giảng viên hệ thống lại các kiến thức cốt lõi, giải đáp các thắc mắc và khai thác thêm các bài tập mẫu, Ở cuối mỗi bài có các câu hỏi, bài tập để sinh viên tự nghiên cứu thêm
Tài liệu được biên soạn dựa trên 2 tài liệu chính là “Phương pháp dạy học môn Toán ở Tiểu học” của Nguyễn Thanh Hưng và “phương pháp dạy Toán ở Tiểu học – tập
1 và tập 2” của Phạm Đình Thực” và có số tài liệu có liên quan
Nội dung của tài liệu được giảng dạy cho sinh viên nghành sư phạm tiểu học Tác giả đã có nhiều cố gắng trong quá trình biên soạn sao cho nội dung kiến thức mang tính khoa học và thực tiễn, tuy nhiên cũng không sao tránh khỏi sự thiếu sót, rất mong sự đóng góp nhiều ý kiến của đọc giả để tài liệu được hoàn thiện hơn
Tác giả
Trang 61
CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ DẠY HỌC
MÔN TOÁN Ở TIỂU HỌC1.1 MỤC TIÊU VÀ NHỮNG NGUYÊN TẮC CƠ BẢN CỦA VIỆC GIẢNG DẠY MÔN TOÁN Ở TIỂU HỌC
1.1.2 Những nguyên tắc cơ bản
Căn cứ vào đặc điểm lứa tuổi của trẻ em và đặc điểm của Toán học, trong giảng dạy môn Toán tiểu học cần đảm bảo một số nguyên tắc sau:
1.1.2.1 Phải đảm bảo tính chất trực quan
Học sinh Tiểu học còn nhỏ, vốn hiểu biết thế giới xung quanh còn ít ỏi, tư duy trừu tượng còn hản chế; sức chú ý không chủ định chiếm ưu thế, dễ phân tán; thường bị hình thức lôi cuốn Cho nên khi dạy toán, phải chú trọng đến nguyên tắc trực quan, để giúp các em học sinh tiếp thu được các kiến thức toán trừu tượng thì cần dựa trên những sự vật, hình ảnh hay ví dụ cụ thể; và cũng chỉ có trên cơ sở đó ta mới phát triển được óc suy luận toán học cho học sinh Có thể ngay trong một bài cũng cần thay đổi hình thức trực quan để có sức hấp dẫn đối với học sinh
Tuy nhiên cũng không nên lạm dụng trực quan, bởi vì sức mạnh của toán học
là ở khả năng trừu tượng hóa, đó là đặc trưng của bộ môn Hơn nửa, cần thấy rằng các sự vật, hình ảnh, thí dụ, … cụ thể là cơ sở để hình thành các khái niệm toán học; song chúng cũng chưa phải là các khái niện toán học, nếu chỉ dừng lại ở chỗ giảng dạy bằng các dụng cụ trực quan thì không đảm bảo yêu cầu phát huy tính tư duy trừu tượng của học sinh, hay nói cách khác là kìm hãm sự phát triển tư duy của học sinh, đồng thời chưa đạt được mục đích yêu cầu của toán học
1.1.2.2 Phải đảm bảo phát huy tính tích cực, sáng tạo của học sinh
Trang 72
Để đảm bảo hoàn thành được các mục tiêu dạy học toàn diện ở tiểu học, người giáo viên phải dùng mọi biện pháp để phát huy tính tịch cực, sáng tạo của học sinh Có thế mới lôi kéo được sức chú ý của học sinh vào trong bài học, đồng thời hình thành được tốt các kiến thức và kỹ năng mới; trên cơ sở đó bồi dưỡng năng trí tuệ và nhân cách cho học sinh, và tạo cho học sinh hứng thú học toán
1.1.2.3 Phải đảm bảo tính hệ thống
Những kiến thức trong chương trình Toán Tiểu học đã được lựa chọn và sắp xếp theo một hệ thống phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý của học sinh, nên trong giảng dạy giáo viên cần tuân thủ theo thứ tự của các chương (phần), các mục (bài) từ
dễ đến khó, bước trước chuẩn bị cho bước sau, bước sau dựa vào các bước trước để hình thành kiến thức mới và củng cố, mở rộng kiến thức cũ
1.1.2.4 Phải coi trọng việc củng cố tri thức, rèn luyện kỹ năng và thói quen thành thạo
Nếu không chú trọng củng cố tri thức thì học sinh sẽ chóng quên
Nếu không chú trọng việc rèn luyện kỹ năng và thói quen thành thạo cho học sinh thì các em học sinh nắm kiến thức chỉ ở mức nông cạn, sơ sài, không có tác dụng thực tế và cũng sẽ rơi rụng đi nếu không được ôn tập, củng cố và vận dụng thường xuyên Do đó giáo viên phải luôn chú trọng cho học sinh ôn tập, vận dụng nhiều, tăng cường kiểm tra và luyện tập đều đặn
1.1.2.5 Phải liên hệ chặt chẽ thực tế đời sống, sinh hoạt và học tập ở xung quanh
Như chúng ta đã biết toán học bắt nguồn từ thực tế Chương trình toán tiểu học thể hiện lối giáo dục: “Học đi đôi với hành, lí luận gắn liền với thực tiễn”, nên trong dạy toán giáo viên phải hết sức chú ý gắn iền kiến thức với thực tế đời sống gần gũi ở xung quanh các em, tích hợp với nội dung các môn học khác trong chương trình Khi trình bày các “khái niệm” toán học cần làm cho học sinh thấy được khái niệm toán đều phản ánh một nội dung thực tế (nào đó), có thế học sinh mới dễ tiếp thu và biết cách áp dụng vào thực tiễn
Tùy theo đối tượng ở từng lớp, nên chọn một số đề toán có nội dung gần gũi các em từ gần đến xa, từ đơn giản đến phức tạp để dẫn dắt học sinh đến kiến thức mới, để củng cố và rèn luyện kỹ năng
1.2 CHƯƠNG TRÌNH VÀ SÁCH GIÁO KHOA MÔN TOÁN TIỂU HỌC 1.2.1 Vài nét khái quát về chương trình:
1.2.1.1 Số học là mạch kiến thức trọng tâm của chương trình, nó được đóng vai trò trục chuyển động chính, chi phối và hỗ trợ cho các mạch kiến thức còn lại
Chương trình môn toán gồm 4 mạch kiến thức sau
- Số học: Gồm số tự nhiên, số thập phân, phân số Trong mạch kiến thức này còn có tích hợp dạy học một số yếu tố đại số nữa
Trang 8Có thể coi toàn bộ chương trình gồm 7 vòng với trục chính là Số học
- Vòng 1: vòng các số trong phạm vi 10 (học kì I lớp 1)
- Vòng 2: vòng các số trong phạm vi 100 (học kì II lớp 1+ học kì I lớp 2 + nửa đầu học kì II lớp 2)
- Vòng 3: vòng các số trong phạm vi 1 000 (nửa đầu học kì II lớp 2 + học kì I lớp 3)
Trang 94
1.2.2 Nội dung cơ bản môn Toán ở Tiểu học
Tập trung vào 4 mạch kiến thức chính, tức là:
- Điểm; Đoạn thẳng; Tia;
- Đường thẳng: Vuông góc, song song
- Đường gấp khúc
- Góc
- Hình tam giác, hình tứ giác
- Hình vuông, hình chữ nhật, hình bình hành, hình thang, hình thoi
1.2.2.3 Đại lượng và đo đại lượng
* Giới thiệu 8 đại lượng thông dụng như sau: Độ dài;Diện tích; Thể tích; Dung tích; Thời gian; Khối lượng; Tiền Việt Nam; Vận tốc
* Thống kê mô tả
- Giới thiệu bảng số liệu
+ Sắp xếp bảng số liệu theo mục đích yêu cầu cho trước
+ Lập bảng số liệu và nhận xét bảng số liệu
- Giới thiệu ban đầu về số trung bình cộng
- Giới thiệu biểu đồ, tập nhận xét về biểu đồ (biểu đồ hình cột, hình quạt)
1.2.2.4 Giải toán có lời văn
Trang 105
Giới thiệu các dạng toán:
- Toán đơn; Toán hợp
- Toán điển hình: tìm số trung bình cộng; tìm hai số khi biết tổng và tỉ số của hai số đó; tìm hai số khi biết hiệu và tỉ số của hai số đó; tìm hai số khi biết tổng và hiệu của hai số đó
- Toán có nội dung hình học
- Toán chuyển động đều: Hai dộng tử chuyển động cùng chiều; Hai động tử chuyển động ngược chiều
1.2.3 Nội dung môn toán từng lớp ở tiều học
1.2.3.1 Lớp 1
* Các biểu tượng ban đầu:
- Nhiều hơn, ít hơn
- Hình vuông, hình tròn, hình tam giác
* Số học:
- Các số đến 10 Phép cộng và phép trừ trong phạm vi 10:
+ Đọc, đếm, viết, so sánh các số đến 10 Sử sụng các dấu = (bằng), < (bé hơn), > (lớn hơn)
+ Giới thiệu khái niệm ban đầu về phép cộng, trừ
+ Bảng cộng và bảng trừ trong phạm vi 10
+ Cộng với 0, trừ đi 0
+ Tính chất giao hoán của phép cộng
+ Mối quan hệ giữa phép cộng và phép trừ
+ Tính giá trị biểu thức số có đến hai dấu phép tính cộng, trừ
- Các số đến 100 Phép cộng và phép trừ trong phạm vi 100:
+ Đọc, đếm, viết, so sánh các số đến 100 Giới thiệu cấu tạo thập phân của
số Giới thiệu tia số
+ Phép cộng và phép trừ không nhớ trong phạm vi 100
+ Tính giá trị biểu thức số có đến hai dấu phép tính cộng, trừ
* Đại lượng và đo đại lượng:
- Giới thiệu đơn vị đo độ dài xăng-ti-mét Đọc, viết, thực hiện phép tính với các số đo theo đơn vị xăng-ti-mét Tập đo và ước lượng độ dài
Trang 11- Giới thiệu hình vuông, hình tam giác, hình tròn
- Thực hành vẽ trên giấy kẽ ô vuông: gấp, cắt, ghép, xếp, … hình
- Ghi hình bằng chữ (A, B, C, … , M, N, P, …)
* Giải bài toán:
- Giải các bài toán đơn về thêm, bớt
- Trình bày bài giải với đầy đủ: câu trả lời, phép tính và đáp số
Trang 127
+ Giới thiệu khái niệm ban đầu về phép chia: lập phép chia từ phép nhân hai số (Tìm một số khi biết tích và thừa số) Giới thiệu số bị chia, số chia, thương + Lập bảng nhân 2, 3, 4, 5 với tích không quá 50
+ Lập bảng chia 2, 3, 4, 5 với số bị chia không quá 50
+ Nhân với 1 và chia cho 1
+ Nhân với 0 Số bị chia là 0 Không thể chia cho 0
+ Tính chất giao hoán của phép nhân (ẩn tang)
+ Thực hành tính: Nhân, chia nhẩm trong phạm vi các bảng tính Nhân số tròn chục với số có một chữ số trong phạm vi 100 Chia số tròn chục trong phạm vi
* Đại lượng và đo đại lượng:
- Giới thiệu đơn vị đo dộ dài đê-xi-mét, mét, ki-lô-mét Đọc, viết các số đo độ dài theo các đơn vị mới học Quan hệ giữa các đơn vị đo độ dài: 1m = 10 dm, 1 dm =
100 cm, 1 km = 1000 m, 1 m = 1000 mm, … Tập chuyển đổi các đơn vị đo độ dài, thực hiện phép tính với số đo độ dài (các trường hợp đơn giản) Tập đo và ước lượng
độ dài
- Giới thiệu về lít; đọc, viết, làm tính với các số đo theo đơn vị lít Tập đong,
đo, ước lượng theo lít
- Giới thiệu đơn vị đo khối lượng ki-lô-gam
- Đọc, viết, làm tính với các số đo theo đơn vị thời gian: giờ, tháng Thực hành đọc lịch (loại lịch hằng ngày và lịch tờ), đọc giờ đúng trên đồng hồ và khi kim phút chỉ vào số 3 và số 6
- Giới thiệu các tờ giấy bạc 500 đồng, 1000 đồng, 2000 đồng của tiền Việt Nam Tập đổi tiền trong các trường hợp đơn giản Đọc, viết, làm tính với các số tiền theo đơn vị đồng
* Yếu tố hình học:
- Giới thiệu đường gấp khúc Tính độ dài đường gấp khúc
- Giới thiệu hình chữ nhật, hình tứ giác Vẽ hình trên giấy kẻ ô vuông
- Đường thẳng, 3 điểm thẳng hàng
Trang 138
- Giới thiệu khái niệm ban đầu về chu vi của hình Tính chu vi hình tam giác, hình tứ giác
* Giải bài toán:
Giải các bài toán đơn về phép cộng và phép trừ, phép nhân và phép chia; trong đó có các bài toán: nhiều hơn, ít hơn; tìm tích, chia thành phần bằng nhau và chia nhóm
+ Giải các phương trình dạng: a : x = b ( với a, b là các số đã cho)
- Các số trong phạm vi 10 000; 100 000 và các phép tính với các số trong phạm vi 10 000; 100 000:
+ Đọc, viết, so sánh các số trong phạm vi 10 000 và 100 000 Giới thiệu sơ
bộ về chữ số La Mã
+ Phép cộng và phép trừ có nhớ không liên tiếp và không quá 2 lần trong phạm vi 10 000 và 100 000 Phép nhân số có đến 4 chữ số với số có 1 chữ số có nhớ không quá 2 lần (không liên tiếp), tích không quá 10 000 và 100 000 Phép chia số có đến 4 chữ số với số có 1 chữ số (chia hết và chia có dư)
+ Tính giá trị các biểu thức có đến 2 dấu phép tính, có hoặc không có dấu ngoặc
* Đại lượng và đo đại lượng:
+ Bổ sung và lập bảng các đơn vị đo độ dài từ mi-li-mét đến ki- lô- mét Nêu mối quan hệ xuôi giữa hai đơn vị tiếp liền nhau; giữa mét và ki-lô-mét, giữa mét
và xăng-ti-mét, mi-li-mét Thực hành đo và ước lượng độ dài
+ Giới thiệu gam Đọc, viết, làm tính với các số đo theo đơn vị gam Giới thiệu 1 kg = 1000 g
+ Ngày, tháng, năm Thực hành xem lịch
Trang 149
+ Diện tích và đơn vị diện tích: cm2
+ Giới thiệu các tờ giấy bạc 1000 đồng, 2000 đống, 5000 đồng, 10 000 đồng,
50 ngàn đồng, 100 ngàn đồng Tập đổi tiền với các trường hợp đơn giản
* Yếu tố hình học:
+ Giới thiệu góc vuông, góc không vuông Giới thiệu ê ke Kiểm tra và vẽ góc bằng thước thẳng và ê ke
+ Tính chất, chu vi, diện tích hình chữ nhật và hình vuông
+ Giới thiệu com pa Giới thiệu tâm và bán kính, đường kính của hình tròn Thực hành vẽ hình tròn bằng com pa
+ Điểm ở giữa, trung điểm
* Yếu tố thống kê:
+ Giới thiệu dãy và bảng số liệu đơn giản
+ Tập sắp xếp số liệu của bảng theo mục đích cho trước
* Giải bài toán:
+ Giải các bài toán có đến 2 bước tính với các mối quan hệ trực tiếp và đơn giản
+ Giải các bài toán tam suất thuận (chưa nêu tên) và các bài toán có nội dung hình học
+ Phép nhân các số có nhiều chữ số với số có không quá 3 chữ số, tích có không quá 6 chữ số
+ Phép chia các số có nhiều chữ số với số có không quá 3 chữ số, thương có không quá 4 chữ số
+ Tính chất giao hoán, kết hợp của phép cộng, phép nhân Qui tắc “Một số nhân với một tổng (hiệu), một tổng chia một số, một số chia một tích, một tích chia một số
+ Dấu hiệu chia hết cho 2, 3, 5, 9
Trang 15+ Tính chất giao hoán và kết hợp của phép cộng các phân số
+ Giới thiệu qui tắc nhân phân số với phân số, nhân phân số với số tự nhiên (trường hợp đơn giản, mẫu số của tổng hoặc hiệu không quá 3 chữ số)
+ Tính chất giao hoán và kết hợp của phép nhân các phân số Giới thiệu qui tắc nhân một tổng hai phân số với một phân số
+ Giới thiệu qui tắc chia phân số cho phân số, chia phân số cho số tự nhiên khác 0
+ Thực hành tính: Tính nhẩm về cộng, trừ hai phân số có cùng mẫu số, tử số của tổng hoặc hiệu có không quá hai chữ số, phép tính không có nhớ Tính nhẩm về nhân phân số với phân số hoặc với số tự nhiên, tử số và mẫu số của tích có không quá 2 chữ số, phép tính không có nhớ
+ Tính giá trị của biểu thức có không quá 3 dấu phép tính với các phân số đơn giản (mẫu số chung của kết quả tính có không quá 2 chữ số)
- Tỉ số:
+ Giới thiệu khái niệm ban đầu về tỉ số và tỉ lệ bản đồ
+ Giới thiệu các bài toán: tìm hai số khi biết tổng (hoặc hiệu) và tỉ số của hai
số đó
* Đại lượng và đo đại lượng:
- Bổ sung và hệ thống hóa các đơn vị đo khối lượng Chủ yếu nêu mối quan
hệ giữa ki-lô-gam và yến, tạ, tấn; giữa ki-lô-gam và gam
- Bổ sung và hệ thống hóa các đơn vị đo thời gian Chủ yếu nêu mối quan hệ giữa ngày và giờ; giờ và phút, giây; thế kỉ và năm; năm và tháng, ngày
- Một số đơn vị đo diện tích (dm2, m2, km2) Chủ yếu nêu mối quan hệ giữa
m2 và dm2; dm2 và cm2; m2 vả km2
- Thực hành đổi đơn vị đo đại lượng (cùng loại), làm tính với các số đo Thực hành đo, tập làm tròn số đo và tập ước lượng các số đo
* Yếu tố hình học:
Trang 16- Giới thiệu biểu đồ Lập biểu đồ đơn giản Tập nhận xét trên biểu đồ
* Giải bài toán:
- Giải các bài toán có đến 2 hoặc 3 bước tính, có sử dụng phân số
- Giải các bài toán có liên quan đến: tìm hai số khi biết tổng (hoặc hiệu) và tỉ
số của hai số đó, tìm hai số khi biết tổng và hiệu của hai số đó; các nội dung hình học
+ Viết và chuyển đổi các số đo đại lượng dưới dạng số thập phân
+ Các phép tính cộng, trừ, nhân, chia các số thập phân:
Phép cộng, phép trừ các số thập phân có đến 3 chữ số ở phần thập phân Cộng, trừ không nhớ và có nhớ đến 3 lần
Phép nhân các số thập phân có tới 3 tích riêng và phần thập phân của tích
nó không quá 3 chữ số
Phép chia các số thập phân với số chia không quá 3 chữ số (cả phần nguyên và phần thập phân) và thương có không quá 4 chữ số, với phần thập phân có không quá 3 chữ số
Trang 17* Đại lượng và đo đại lượng:
- Đo thời gian Vận tốc, thời gian chuyển động và quãng đường đi được + Các phép tính cộng, trừ các số đo thời gian có đến hai tên đơn vị đo + Các phép tính nhân, chia số đo thời gian với một số
+ Giới thiệu khái niệm ban đầu về: vận tốc, thời gian chuyển động, quãng đường đi được và mối quan hệ giữa chúng
- Đo diện tích Đo thể tích
+ Giới thiệu các đơn vị đo diện tích (ruộng đất): mm2, dam2 và hm2 (ha); bảng đơn vị đo diện tích
+ Giới thiệu khái niệm ban đầu về thể tích và một số đơn vị đo thể tích: xăng-ti-mét khối (cm3), đề-xi-mét khối (dm3
), mét khối (m3)
+ Thực hành đo diện tích ruộng đất và đo thể tích
* Yếu tố hình học:
- Tính diện tích hình tam giác, hình thang Tính chu vi và diện tích hình tròn
- Giới thiệu hình hộp chữ nhật, hình lập phương, hình trụ, hình cầu
- Tính thể tích, diện tích xung quanh, diện tích toàn phần hình hộp chữ nhật, hình lập phương
* Yếu tố thống kê:
- Lập bảng thống kê số liệu Vẽ biểu đồ thống kê đơn giản
Trang 18- Các bài toán đơn giản về tỉ số phần trăm:
+ Tìm tỉ số phần trăm của hai số Tìm một số, biết một bộ phận và tỉ số phần trăm của số đó so với số đã biết
+ Tìm toàn thể, biết một bộ phận và tỉ số phần trăm của bộ phận so với toàn thể
- Các bài toán đơn giản về chuyển động đều, chuyể động cùng chiều và ngược chiều:
+ Tìm vận tốc biết thời gian chuyển động và độ dài quãng đường
+ Tìm thời gian chuyển động biết độ dài quãng đường và vận tốc chuyển động
+ Tìm độ dài quãng đường biết vận tốc và thời gian chuyển động
- Các bài toán có nội dung về tìm chu vi, diện tích, thể tích các hình đã học
- Các bài toán về qui tắc tam suất đơn (thuận, nghịch) và phần trăm
- Các bài toán ứng dụng các kiến thức đã học để giải quyết các vấn đề của đời sống
1.2.4 Một số đặc điểm của sách giáo khoa
1.2.4.1 Nội dung sách giáo khoa được xây dựng theo lớp và thiết kế chủ yếu theo
các chủ đề về Số học Các kiến thức Đại số, Hình học, Đo đại lượng, Thống kê và Giải toán có lời văn được sắp xếp xen kẽ với chủ đề Số học và xoay quanh “cái trục”
Số học đó
1.2.4.2 Càng ở lớp dưới sách càng có nhiều hình vẽ và tranh ảnh minh họa; càng lên
lớp trên, các hình ảnh càng ít đi và tăng dần các sơ đồ, bảng biểu,…
1.2.4.3 Sách giáo khoa được trình bày theo từng bài học với phần lý thuyết (in trên
nền xanh) và bài tập riêng rẽ Tuy nhiên để phù hợp với học sinh, các kiến thức lí thuyết thường được dẫn giải dưới hình thức bài tập hoặc qua các ví dụ kèm theo tranh ảnh minh họa
1.2.4.4 Mỗi bài học chỉ gồm một hoặc hai kiến thức cơ bản, sau đó là một hệ thống
bài tập luyện tập vận dụng Các bài tập được sắp xếp có hệ thống từ dễ đến khó, từ đơn giản đến phức tạp, bao gồm các loại:
Trang 1914
- Những bài trực tiếp vận dụng kiến thức vừa học (tất cả học sinh đều làm được)
- Các bài tập đòi hỏi vận dụng kết hợp giữa kiến thức vừa học với kiến thức
cũ (phải được hướng dẫn tất cả thì mới làm được)
- Các bài tập chuẩn bị cho việc học kiến thức mới
1.2.4.5 Sau từng bài (hoặc cụm bài) đều có những bài “Luyện tập”, “Luyện tập
chung”, “Ôn tập”,… nhằm củng cố, hệ thống hóa các kiến thức đã học
1.2.4.6 Trong SGK 4 mạch kiến thức không được trình bày thành từng chương mà
chúng luôn được sắp xếp xen kẽ với nhau, tạo ra một sự kết hợp hữu cơ và hỗ trợ đắc lực lẫn nhau trên nền tảng của các kiến thức số học
1.2.4.7 Bên cạnh việc giới thiệu các nội dung kiến thức toán học cho học sinh sách
giáo khoa còn cố gắng gợi ý cho giáo viên phương pháp truyền đạt các kiến thức ấy cho học sinh qua hình thức trình bày của sách
1.3 MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP SUY LUẬN THƯỜNG DÙNG TRONG MÔN TOÁN TIỂU HỌC
1.3.1 Phương pháp qui nạp
1.3.1.1 Định nghĩa: Phương pháp qui nạp là phép suy luận đi từ cái cụ thể để rút ra
kết luận tổng quát, đi từ cái riêng đến cái chung
Ví dụ 1: Nghiên cứu dãy số chẵn, ta có:
Có hai loại qui nạp:
Qui nạp hoàn toàn: Là phép suy luận trong đó kết luận tổng quát được rút ra trên cơ sở đã khảo sát tất cả các trường hợp riêng
Qui nạp không hoàn toàn: Là phép suy luận trong đó kết luận tổng quát được rút ra chỉ dựa trên một số trường hợp riêng
Trang 20Qua hai ví dụ trên ta có thể có nhận xét:
Qui nạp hoàn toàn luôn cho kết luận đúng Vì nó chỉ khẳng định các trường hợp đã được thử thấy đúng Nói cách khác kết luận của phép qui nạp hoàn toàn là đáng tin cậy
Qui nạp không hoàn toàn kết luận có thể đúng, có thể sai Vì nó kết luận cả những trường hợp chưa được xét Nói cách khác kết luận chỉ là một giả thiết, một dự đoán
Ví dụ 3: Ta có 63 chia hết cho 3
123 chia hết cho 3
273 chia hết cho 3 Kết luận: Mọi số có số tận cùng là 3 thì chia hết cho 3 (kết luận này sai Chẳng hạn 13 không chia hết cho 3)
1.3.1.2 Vai trò của phép qui nạp
Mặc dù kết luận của phép qui nạp không hoàn toàn không chắc chắn đúng, nhưng trong việc dạy Toán ở Tiểu học phép qui nạp không hoàn toàn đóng vai trò rất quan trọng Vì học sinh Tiểu học cỏn nhỏ, trình độ hiểu biết còn non nớt, các vấn đề giảng dạy đều phải qua thực nghiệm nên đây là phương pháp chủ yếu nhất, đơn giản nhất dễ hiểu nhất đối với học sinh Tiểu học
Hơn nửa đặc điểm tư duy của học sinh tiểu học mang tính cụ thể hình tượng, các em có tư duy trừu tượng được cũng phải dựa trên các ví dụ, những sự vật cụ thể,
rõ ràng, dựa trên những kiến thức sẵn có Vì vậy nhờ phép qui nạp không hoàn toàn
mà giáo viên có thể giúp các em học sinh tự tìm ra kiến thức một cách chủ động, tích cực và nắm kiến thức một cách rõ rang, có ý thức, chắc chắn Có thể nói rằng trong
đa số các tiết toán, chúng ta đều dùng phương pháp qui nạp không hoàn toàn để dạy bài mới
Ví dụ 4: Dựa vào một số trường hợp như: 3 : 0,5 = 6
7 : 0,5 = 14
9 : 0,5 = 18
Trang 2116
Giáo viên có thể hướng dẫn học sinh nhận xét: “muốn chia một số cho 0,5 ta chỉ cần gấp đôi số đó” Như thế là giáo viên đã dùng phép qui nạp không hoàn toàn
để dạy học sinh “Qui tắc chia nhẩm một số cho 0,5”
Ví dụ 5: Để dạy học sinh qui tắc tính diện tích hình chữ nhật, giáo viên có thể xét
một hình chữ nhật cụ thể: chiều dài 4 cm, chiều rộng 3 cm
Bước 1: Chia hình chữ đó thành các các ô vuông 1 cm2
Bước 2: Hướng dẫn học sinh nhận xét:
- Mỗi hàng có 4 ô vuông
- Có 3 hàng Vậy có tất cả 4 ´ 3 = 12 (ô vuông)
- Vậy diện tích hình chữ nhật là: 4 ´ 3 = 12 (cm2) Rút ra kết luận: “Muốn tính diện tích hình chữ nhật ta lấy số đo chiều dài với
số đo chiều rộng , cùng một đơn vị đo”
1.3.2 Phương pháp suy diễn
1.3.2.1 Định nghĩa: Phương pháp suy diễn là phép suy luận đi từ cái chung đến cái
riêng, từ qui tắc tổng quát áp dụng vào từng trường hợp cụ thể
Ví dụ 6: Muốn chứng tỏ 1995 chia hết cho 3 Ta có thể suy luận như sau:
Bước 1: Ta dựa vào qui tắc đã biết: “các số có tổng các chữ số chia hết cho
3 đều chia hết cho 3”
Bước 2: Áp dụng vào trường hợp cụ thể: số 1995 có tổng các chữ số của nó là: 1 + 9 + 9 + 5 = 24, mà 24 chia hết cho 3
Bước 3: Kết luận: Vậy số 1995 chia hết cho 3
Ví dụ 7: Từ cách tính diện tích S của hình chữ nhật có chiều dài, chiều rộng là a và b,
ta suy ra cách tính diện tích S của hình vuông có cạnh a như sau:
Bước 1: Ta dựa vào qui tắc đã biết: “Diện tích hình chữ nhật S = a ´ b ” Bước 2: Áp dụng vào trường hợp cụ thể: “Hình vuông có cạnh là a đó là hình chữ nhật đặc biệt có chiều dài và chiều rộng đều bằng a”
Bước 3: Kết luận: Vậy diện tích S hình vuông cạnh a là: S = a ´ a
1.3.2.2 Mối quan hệ giữa phép qui nạp và phép suy diễn
1cm2
Trang 2217
Trong toán học hai phương pháp suy diễn và qui nạp liên quan chặt chẽ với nhau Người ta thường dung phép qui nạp để dự đoán một qui luật toán học, để phát hiện các chân lý toán học mới, sau đó dung phép suy diễn để kiểm tra, chứng minh, trình bày các chân lý ấy
Ở Tiểu học người ta thường dùng phép qui nạp để dạy cho học sinh các kiến thức mới, các qui tắc mới sau đó dùng phương pháp suy diễn để hướng dẫn học sinh luyện tập, giải bài tập cụ thể
Ví dụ 8: Sau khi cho học sinh quan sát các trường hợp riêng:
2 + 1 = 3 3 + 2 = 5 4 + 3 = 7
1 + 2 = 3 2 + 3 = 5 3 + 4 = 7 Dựa theo 3 trường hợp riêng trên giáo viên hướng dẫn học sinh rút ra qui tắc:
“Khi ta đổi chỗ các số hạng thì tổng không thay đổi” ( Dùng phép qui nạp)
Sau đó giáo viên cho học sinh áp dụng qui tắc trên để giải các trường hợp riêng: ( Dùng phép suy diễn)
Khi gặp bài toán “Điền vào ô trống 5 + 3 = 3 + ” Học sinh có thể đổi chỗ hai số hạng để giải như sau: “Ta có 5 + 3 = 3 + 5 Vậy em điền số 5 vào ô trống”
Khi gặp dãy tính: “ 7 + 9 + 3 = ? ” Học sinh có thể đổi chỗ hai số hạng 9 và 3
để tính nhanh hơn: 7 + 9 + 3 = 7 + 3 + 9 = 10 + 9 = 19
1.3.3 Phương pháp tương tự
1.3.3.1 Định nghĩa: Phương pháp tương tự là phép suy luận đi từ sự giống nhau của
một thuộc tính nào đó của hai đối tượng để rút ra kết luận về sự giống nhau của các thuộc tính khác của hai đối tượng đó
Ví dụ 9: Ta biết: “ Mọi số tự nhiên có tận cùng bằng 2 thì chia hết cho 2”
Bằng phép tương tự ta có một số kết luận sau:
“Mọi số tự nhiên có tận cùng bằng 5 thì chia hết cho 5” (kết luận đúng) “Mọi số tự nhiên có tận cùng bằng 4 thì chia hết cho 4” (kết luận sai)
Ví dụ 10: Trong tam giác vuông ABC có hai cạnh góc vuông là AB = 4cm và AC =
3cm Tính chu vi tam giác đó
A 3cm C
B C
Trang 2318
Ta ghép 4 hình (1) thành 1 hình như trên Ta nhận thấy:
Diện tích hình vuông lớn bằng tổng diện tích của 4 hình (1) và diện tích của 1 hình vuông nhỏ ở giữa hình vuông lớn
Cạnh hình vuông nhỏ là:
4 – 3 = 1 (cm) Diện tích hình vuông nhỏ là:
1 ´ 1 = 1 (cm2) Diện tích hình vuông lớn là:
(4 ´ 3) : 2 + 1 = 25 (cm2) Cạnh hình vuông lớn là: 5 cm2, vì 25 = 5 ´ 5 Chu vi tam giác ABC là:
4 + 3 + 5 = 12 (cm)
Đáp số: 12cm Dựa theo bài toán trên, ta có bài toán tương tự: Cho tam giác vuông ABC có hai góc vuông AB = 5cm và AC = 12 cm Tính chiều cao AH bằng bao nhiêu cm?
tích bằng tổng 4 hình (1) và hình vuông nhỏ bên trong
Cạnh hình vuông lớn:
12 + 5 = 17 (cm) Diên tích hình vuông lớn:
17 ´ 17 = 289 (cm) Diện tích hình (1):
12 ´ 5 : 2 = 30 (cm2) Diện tích 4 hình (1):
30 ´ 4 = 120 (cm2) Diên tích hình vuông nhỏ:
Trang 2419
289 – 120 = 169 (cm2) Cạnh hình vuông nhỏ (cạnh BC) là 13 (vì 169 = 13 ´ 13) Chiều cao AH là:
1.3.3.2 So sánh giữa phép tương tự và phép qui nạp
Giống nhau: Kết luận của phép tương tự cũng chỉ là một ước đoán, không chắc chắn đúng, cần kiểm tra lại Chính vì vậy cần phải đề phòng học sinh lạm dụng phép tương tự dẫn đến sự sai lầm có tính máy móc, chẳng hạn:
- Khi dạy về phép cộng: học sinh nhận thấy 8 trăm cộng 3 trăm là 11 trăm và viết 800 + 300 = 11000
- Hoặc học sinh suy luận tương tự: 8 trăm chia cho 2 trăm được 4 trăm và viết
800 : 200 = 400
- Khi giải toán có lời văn “An có 5 cái kẹo Bình có nhiều hơn An 2 cái kẹo Hỏi bình có mấy cái kẹo?” Học sinh làm như sau: 5 + 2 = 7 (cái kẹo) và có cảm nhận về mối liên hệ giữa từ nhiều hơn trong đề toán và phép cộng trong bài giải Do
đó đến khi gặp bài toán “ Lan có 5 cái kẹo Lan có nhiều hơn Hoa 2 cái kẹo Hỏi Hoa
có mấy cái kẹo?” Học sinh thấy trong đề toán có từ nhiều hơn, liền giải bằng phép cộng: 5 + 2 = 7 (cái kẹo), thế là phạm sai lầm
Ví dụ 11: học sinh đã biết: “Khi nhân cả tử số và mẫu số của một phân số với cùng
một số (khác 0) thì phân số đó không thay đổi”
Tương tự ta có thể giúp học sinh rút ra kết luận: “Khi chia cả tử số và mẫu số của một phân số với cùng một số (khác 0) thì phân số đó không thay đổi”
1.4 SỬ DỤNG THIẾT BỊ TRONG DẠY HỌC TOÁN
1.4.1 Vai trò, tác dụng
Trang 2520
Trong dạy học ở tiểu học nói chung và dạy học Toán nói riêng, một yêu cầu đặt ra là tích cực hóa hoạt động của người học, tạo điều kiện để người học phát hiện
và lĩnh hội tri thức một cách triệt để
Các nội dung toán học thường mang tính trừu tượng và khái quát cao trong khi nhận thức của học sinh tiểu học lại mang tính cụ thể trực giác và cảm tính Để đạt được những yêu cầu đặt ra, các phương tiện và đồ dùng dạy học là một giài pháp sư phạm tạo những chỗ dựa ban đầu giúp học sinh nhân thức được những kiến thức trừu tượng, giải pháp này tác động vào các hoạt động nhận thức của học sinh theo đúng quy luật: “Từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng, từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn” Như vậy, phương tiện và đồ dùng dạy học có ý nghĩa to lớn trong việc nâng cao hiệu quả giờ học nói chung và đặc biệt à giờ học toán nói riêng
Phương tiện dạy học là những vật (từ đơn giản đến phức tạp) có khả năng chứa đựng hoặc truyền tải thông tin về nội dung dạy học, và về sự điều khiển quá trình học, làm cho việc truyền đạt kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo của giáo viên đến học sinh được dễ dàng hơn
1.4.2 Các nhóm phương tiện dạy học
Căn cứ vào tính chất của các phương tiện dạy học, người ta chia các phương tiện dạy học làm 3 nhóm:
Nhóm 1: Các đồ dùng, vật dụng trực quan cụ thể gồm: vật thật, mô hình, sơ
dồ, biểu đồ,…
Nhóm 2: Tài liệu, ấn phẩm, sách giáo khoa, vở bài tập,…
Nhóm 3: Các thiết bị hiện đại: máy vi tính, đĩa CD, đèn chiếu, băng hình,…
1.4.3 Các yêu cầu cơ bản khi sử dụng phương tiện dạy học ở tiểu học
Khi sử dụng phương tiện đồ dùng dạy học phải tuân thủ một số yêu cầu cơ bản sau:
- Quan niệm đúng đắn về sử dụng đồ dùng tức là tạo ra chỗ dựa trực quan để phát triển tư duy trừu tượng cho học sinh trong quá trình dạy học môn toán Vì thế phương tiện được sử dụng đúng lúc, đúng chỗ, đúng đối tượng Cần thiết thì dùng, tránh thủ tục, hình thức
- Sử dụng phải đúng cách và mang lại hiệu quả thực sự Muốn vậy các thao tác trên phương tiện phải biểu hiện tính sư phạm, gợi mở được kiến thức và thao tác phải dứt khoát
Trang 2621
CÂU HỎI VÀ BÀI TẬP
1 Phân tích các mục tiêu của việc dạy học toán ở Tiểu học
2 Phân tích các nguyên tắccơ bản của việc dạy học toán ở Tiểu học
3 Vì sao cần đặc biệt chú ý đến việc rèn kỹ năng toán học trên tinh thần : “Học ít, luyện nhiều” cho học sinh Tiểu học?
4 Nghiên cứu bài: “bài toán về ít hơn” (trang 30 – Toán 2)
a/ Ở bài này các phương tiện trực quan đã được thay đổi như thế nào? Vì sao? b/ Để giúp học sinh giải bài tập 3, giáo viên gắn lên bảng:
- Hàng trên: 15 em học sinh nữ (mẫu vật bằng bìa)
- Hàng dưới: 12 em học sinh nam (mẫu vật bằng bìa) Hỏi: Giáo viên làm đúng hay sai? Vì sao?
5 Nghiên cứu bài “Số 6” (trang 26 – Toán 1)
a/ Ở bài này các phương tiện trực quan đã giúp giáo viên hình thành khái niệm ban đầu về số 6 cho học sinh như thế nào?
b/ Nếu dạy học sinh viết số 6 trước rồi mới nêu các ví dụ minh họa (cho số 6) sau, như thế đúng hay sai?
6 Lập bảng thống kê nội dung môn Toán của từng lớp theo từng mạch kiến thức
(trên một tờ giấy khổ A3):
Trang 2722
b/ Nội dung của các mạch kiến thức đó hỗ trợ lẫn nhau thế nào trong tiết học đó?
9 Tính chất giao hoán của phép cộng đã được dạy ở các lớp 1, 2, 3, 4 như thế nào?
10 Khi dạy học sinh lớp 3 bài: “bảng đơn vị đo độ dài” (trang 45) Để rút ra kết luận:
“Mỗi đơn vị ở bảng đo độ dài gấp 10 lần đơn vị bé hơn iền nó” Hỏi ta đã dung phương pháp suy luận nào?
11 Khi dạy học sinh lớp 4 bài: “Tìm hai số khi biết tổng và tỉ số của hai số đó” (trang 147) ta đã dùng phép suy luận nào trong khi hướng dẫn học sinh luyện tập?
12 Trong lúc luyện tập:
a/ Khi nào thì giáo viên sử dụng phương pháp suy diễn?
b/ Khi nào thì giáo viên sử dụng phương pháp tương tự?
Trang 2823
PHẦN GỢI Ý TRẢ LỜI CÂU HỎI
1 Dựa theo các mục tiêu của việc dạy học toán ở Tiểu học, và phải:
- Nêu được từng ý chính
- Mỗi ý chính phải có ví dụ minh họa hoặc giải thích rõ
- Trình bảy thành 1 bài văn
2 Dựa theo các nguyên tắc cơ bản của việc dạy học toán ở Tiểu học và phải:
- Nêu được từng ý chính
- Mỗi ý chính phải có ví dụ minh họa hoặc giải thích thuyết rõ
- Trình bảy thành 1 bài luận văn
3 Cần hiểu nghĩa “Học ít, luyện nhiều” là như thế nào? (là không nên dành quá nhiều thời gian cho phần dạy lí thuyết một cách quá tỉ mỉ, mà cần dành phần lớn thời gian cho học sinh thực hành giải bài tập)
Qua luyện tập thực hành giúp học sinh nắm lí thuyết,…; đồng thời rèn kỹ năng, kỹ xảo làm tính và giải toán cho học sinh
4.a Lúc đầu giáo viên dùng mô hình các vật thật (quả cam) để minh họa cho bài toán, sau đó giáo viên dùng sơ đồ đoạn thẳng để tóm tắt đề toán: biểu thị số cam (số cây cam) ở bài mẫu (bài 1) bằng các đoạn thẳng
- Giải thích vì sao lúc đầu giáo viên phải dùng vật thật để minh họa cho bài dạy?
- Nếu cứ dùng vật thật để minh họa hoài thì có ảnh hưởng gì đến sự tiếp thu bài đối với học sinh không?
4.b Dựa vào nguyên tắc 1 để giải thích
5.a Sách giáo khoa ngầm dạy cho học sinh 2 đặc điểm sau:
- Số 6 là số liền sau của số 5 (5 thêm 1 là 6) Tức là được giới thiệu qua các phương tiện trực quan như: có 5 em bé, thêm 1 em bé thì được 6 em bé Tương tự đối với 5 con tính, 5 chấm tròn; thêm 1 con tính, 1 chấm tròn thì được 6 con tính, 6 chấm tròn
- Số 6 là bản số của tập hợp, ở đây dấu gạch chéo có thể là bất cứ cái gì? Tức
là giới thiệu qua thao tác: khoan tất cả các em bé (con tính, chấm tròn) và nói: “ Có 6
em bé (con tính, chấm tròn)” Ở đây giáo viên có thể nói thêm: “ có thể coi mỗi chấm tròn là bất cứ cái gì, chẳng hạn: là em bé, là con tính, là con kiến, là cái bút, là hình tròn,…”
5.b Nếu dạy học sinh viết số 6 trước rồi mới nêu các ví dụ minh họa (cho số 6) sau, như thế là sai Vì số 6 là một khái niệm toán học trừu tượng Nó là đặc tính chung của một lớp tương đương các tập hợp em bé, con tính, con kiến, cái bút,… nêu trên
Trang 29+ Xem giờ đúng trên đồng hồ
+ Giải các bài toán đơn về phép cộng, trừ (dạng thêm, bớt)
+ Trình bày bài giải có đầy đủ: câu lời giải, phép tính và đáp số
7 Nhờ có nắm vững chương trình và sách giáo khoa
- Giáo viên sẽ biết được kiến thức (kỹ năng) đang dạy cho học sinh là:
+ Hoàn toàn mới lạ thì khi đó phải dạy rất cẩn thận, kĩ lưỡng
+ Hay là kiến thức quen thuộc với học sinh thì lúc này chỉ cần dựa vào các kiến thức cũ (mà trẻ đã biết) để dẫn dắt học sinh tìm ra kiến thức mới
- Giáo viên dễ dàng phát hiện ra các “lỗ hổng” kiến thức của học sinh, từ đó có hướng giải quyết để lấp các lỗ hổng đó
- Giáo viên có thể kết hợp với các kiến thức và kỹ năng đã học với nhau thành một
hệ thống hữu cơ, qua đó giúp học sinh củng cố các kiến thức và kỹ năng ấy
- Giáo viên sẽ bình tĩnh và tự tin hơn trong quá trình giảng dạy,…
8.a Mạch kiến thức Số học (giữ vai trò chủ đạo): Cách nhân số thập phân với số tự nhiên Các mạch kiến thức khác (hỗ trợ cho mạch Số học và hỗ trợ lẫn nhau)
- Các yếu tố hình học: Tính chu vi của một hình
- Đại lượng và đo đại lượng: Đổi các số đo độ dài từ mét (m) ra đề-xi-mét (dm) và ngược lại
- Các yếu tố thống kê: Bảng thống kê các giá trị của thừa số và tích (ở bài tập 2)
Trang 3025
- Giải toán có lời văn (ở bài tập 3)
8.b.Cần nêu ra sự tương hỗ của các nội dung trên
9 Nêu rõ theo từng khối lớp từ lớp 1 đến lớp 4 và đầu lớp 5 Chẳng hạn:
- Lớp 1: có thể dạy như sau:
3 + 2 = 5 (học sinh giơ 3 que tính ở tay trái, 2 que tính ở tay phải, gộp hai tay lại để được 5 que tính)
2 + 3 = 5 (học sinh bắt chéo hai tay trước ngực, ngụ ý đổi chỗ hai số 3 và 2) Nhận xét: Hai phép cộng ở các số giống nhau, kết quả giống nhau, hai số 3 và
2 đổi chỗ cho nhau
Kết luận: Trong phép cộng khi ta đổi chỗ các số thì kết quả không thay đổi
- Lớp 2: Sau khi học sinh đã học các thuật ngữ “số hạng”, “tổng” thì nêu lại tính chất trên như sau: “Khi ta đổi chỗ các số hạng thì tổng không thay đổi”
- Lớp 3: Vẫn học như lớp 2
- Lớp 4: Sau khi được học về các biểu thức chứa chữ, học sinh sẽ so sánh giá trị của hai biểu thức a + b và b + a với một số cặp giá trị khác nhau của a, b để rút ra kết luận:
Khi ta đổi chỗ các số hạng thì tổng không thay đổi
- Cuối lớp 4 và đầu lớp 5: Cùng với việc dạy phân số (số thập phân) ta sẽ làm tương tự như trên, nhưng với các giá trị của a và b là phân số (số thập phân) để rút kết luận (mở rộng) về tính chất giao hoán của phép cộng các phân số (số thập phân) Ghi chú: Chương trình và sách giáo khoa rất coi trọng việc dạy tính chất của các phép tính cho học sinh Điều này giúp thể hiện được những tư tưởng về cấu trúc đại
số của toán học hiện đại trong môn toán tiểu học
10 Ta đã dùng phương pháp suy luận qui nạp hoàn toàn Ở đây kết luận chung được rút ra trên cơ sở khảo sát tất cả 6 trường hợp riêng:
1 km = 10 hm , 1 hm = 10 dam , 1 dam = 10 m
1 m = 10 dm , 1 dm = 10 cm , 1 cm = 10 mm
11 Ta đã dùng phương pháp suy luận tương tự Giáo viên đưa ra bài toán mẫu, giúp học sinh nhận dạng , rồi nêu ra cách giải Đến lúc luyện tập, học sinh dựa vào sự tương tự giữa đề toán nêu trong bài tập với đề toán mẫu để rút ra sự giống nhau giữa hai cách giải Từ đó học sinh giải được bài tập theo cách giống nhau như cách giải bài mẫu
12 Xem kỹ định nghĩa phương pháp suy diễn, phương pháp tương tự từ đó có câu trả lời đúng đắn
a + b = b + a
Trang 3126
CHƯƠNG 2 PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC MÔN TOÁN Ở TIỂU HỌC
2.1 PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC TOÁN Ở TIỂU HỌC
2.1.1 Phương pháp giảng giải
2.1.1.1 Định nghĩa
Phương pháp giảng giải (hay thuyết trình) là phương pháp giảng dạy trong đó giáo viên dùng lời nói sinh động và chính xác để vừa đưa ra vấn đề, vừa giải thích nội dung vấn đề cho học sinh hiểu và tiếp thu dễ dàng
Ví dụ 1: Dạy bài: “Thứ tự thực hiện các phép tính” trong một biểu thức.(Toán 3
trang 81)
Bước 1: Giáo viên viết ví dụ lên bảng
chẳng hạn: (30+5) : 5 = ? Bước 2: Giáo viên giảng cách làm (vừa nói, vừa viết):
(30+5) : 5 = 35 : 5 = 7 Bước 3: Giáo viên nêu hoặc cho HS nêu qui tắc trong SGK
Bước 4: Giáo viên hướng dẫn HS một số trường hợp nữa
Bước 5: Giáo viên cho vài HS nhắc lại qui tắc ở SGK
2.1.1.2 Phương pháp này được sử dụng
khi trình bày ý nghĩa, tác dụng của một vấn đề mới, giới thiệu lịch sử phát triển, tiểu sử các nhà toán học, trình bày cách chứng minh, các qui tắc khó, giải toán mẫu, tiến hành ôn tập,…
2.1.1.3 Ưu – nhược điểm khi sử dụng phương pháp giảng giải
Ưu điểm: Trong một thời gian ngắn, giáo viên có thể trình bày được nhiều tài liệu toán học cơ bản theo yêu cầu, chủ động được thời gian, kế hoạch Về phía học sinh, các em có thể học tập được cách lập luận logic, chặt chẽ, ngắn gọn nhưng đầy
đủ của giáo viên
Nhược điểm: học sinh tiếp nhận kiến thức một cách thụ động, lớp học đơn điệu, học sinh dễ mệt mỏi, giáo viên không có điều kiện kiểm tra việc tiếp nhận kiến thức của học sinh trong giờ học đó và ít có điều kiện phát triển trí tuệ của học sinh
Những điều cần lưu ý khi sử dụng phương pháp này:
Phương pháp này có ưu thế là tiết kiệm thời gian, giáo viên dễ tiến hành, song việc thuyết trình bằng lời quá lâu dễ làm cho học sinh thụ động, mệt mỏi và khó theo dõi, nhất là với các học sinh nhỏ
Trang 3227
Vì vậy ở tiểu học, ít khi sử dụng phương pháp này một cách đơn điệu mà thường kết hợp giảng giải với minh họa, với đàm thoại, vời việc sử dụng đồ dùng trực quan,…Giáo viên phải lưu ý kết hợp khéo léo lời giảng vời động tác chỉ vào bảng, chỉ vào sơ đồ, hình vẽ, biểu đồ,… để học sinh có thể hiểu được các khái niệm trừu tượng và các qui tắc mang tính phức tạp
Ngược lại khi sử dụng phương pháp dạy học khác, giáo viên cũng phải tiến
hành xen kẽ các giai đoạn giảng giải
2.1.2 Phương pháp đàm thoại
2.1.2.1 Định nghĩa
Phương pháp đàm thoại là phương pháp giảng dạy trong đó giáo viên nêu vấn
đề, đặt câu hỏi cho học sinh trả lời, trên cơ sở đó giáo viên giúp học sinh rút ra kết luận
Ví dụ 2: Dạy bài: “Trừ hai số thập phân”.(Toán 5 - trang 53)
Hoạt động 1: Hướng dẫn HS giải ví dụ 1, ta có thể thực hiện như sau:
Bước 1: Giáo viên đọc hoặc cho học sinh đọc ví dụ 1 trong SGK, GV ghi
đề lên bảng Sau đó giúp học sinh tóm tắt: Đường gấp khúc ABC dài: 4,29 m, trong
đó AB dài: 1,84 m Hỏi: BC dài ? m
Bước 2: Giáo viên hướng dẫn HS tính bằng hệ thống câu hỏi hợp lí:
- Muốn tính đoạn thẳng BC dài bao nhiêu mét em cần biết gì?
- Ta phải thực hiện phép tính gì?
Bước 3: Giáo viên khẳng định đây là phép trừ số thập phân
Bước 4: Giáo viên hướng dẫn HS thực hiện phép tính:
4,29 – 1,84 = ? (m) (theo SGK) Bước 5: Giáo viên cho vài HS nhắc lại qui tắc ở SGK
Hoạt động 2: Hướng dẫn HS giải ví dụ 2, tương tự như trên
2.1.2.2 Phương pháp này được sử dụng khi
Phương pháp này có thể dùng trong việc truyền thụ kiến thức toán học mới, vận dụng kiến thức toán học để bài tập, củng cố, ôn tập kiến thức, kiểm tra đánh giá,…
2.1.2.3 Ưu – nhược điểm
Ưu điểm: Ưu điểm nổi bật của phương pháp này là có thể sử dụng một cách phổ biến nhằm phát huy được tính chủ động, tích cực của học sinh, đo đó không khí lớp học sôi nổi, sinh động, nâng cao được hứng thú học tập, lòng tự tin của học sinh, rèn luyện và phát triển năng lực tư duy, năng lực diễn đạt của học sinh, từ đó học sinh sẽ tiếp thu kiến thức sâu hơn, có tổ chức hơn
Trang 3328
Nhược điểm: làm cho giáo viên khó chủ động về thời gian, nếu câu hỏi đặt ra không có hiệu quả sư phạm cao thì dễ rơi vào tình trạng “Hỏi cho có”
2.1.2.4 Một số điểm lưu ý về hệ thống câu hỏi
- Câu hỏi phải dành cho đủ các đối tượng học sinh trong lớp: Giỏi, khá, trung bình, yếu, kém
- Câu hỏi phải vừa sức, chứa đựng yếu tố gây hứng thú, khích lệ cho học sinh trả lời
- Câu hỏi phải có nội dung chính xác, thích hợp với mục đích, yêu cầu, nội dung bài học
- Câu hỏi phải làm cho học sinh suy nghĩ tích cực, không đưa dạng câu hỏi để học sinh trả lời: Có – không?; Đúng – sai?
- Câu hỏi phải ngắn gọn, không mập mờ, khó hiểu
- Cùng một nội dung có thể đặt nhiều câu hỏi dưới nhiều hình thức khác nhau
- Bên cạnh câu hỏi chính phải có câu hỏi phụ
- Câu hỏi phải đưa ra cho cả lớp suy nghĩ, sau đó mới gọi học sinh trả lời
- Có thể cho một số học sinh trả lời, sau đó gọi một số học sinh nhận xét, bổ sung, cuối cùng giáo viên nhận xét chung, nhấn mạnh ý chính
2.1.2.5 Mấy điều cần lưu ý về cách hỏi
- Tránh hòi riêng, “Tay đôi” với một học sinh mà phải lối cuốn toàn lớp tham gia suy nghĩ bằng cách: sau khi hỏi nên dành một ít thời gian cho cả lớp suy nghĩ rồi mới chỉ định một học sinh trả lời Không nên cho học sinh trả lời đồng thanh hoặc nói vuốt đuôi
- Khi học sinh trả lời, giáo viên cần lắng nghe, uốn nắn các sai lầm của học sinh Không mắng mỏ, mạt sát khi học sinh trả lời sai, mà phải thường xuyên dộng viên khuyến khích học sinh trong mọi trường hợp
- Câu trả lời của học sinh phải tròn câu Thí dụ: khi giáo viên hỏi: “Muốn tính diện tích hình chữ nhật em làm thế nào?” thì học sinh trả lời: “Muốn tính diện tích hình chữ nhật em lấy chiều dài nhân với chiều rộng” Chứ không được trả lời; “Lấy chiều dài nhân với chiều rộng”
2.1.3 Phương pháp trực quan
2.1.3.1 Định nghĩa
Phương pháp trực quan là phương pháp giảng dạy dựa trên cơ sở những hình ảnh cụ thể như: hình vẽ, đồ vật và thực tế xung quanh để hình thành kiến thức cho học sinh
Ví dụ 3: Khi dạy bài “Hình tam giác” cho học sinh lớp 1 Giáo viên cần chuẩn bị:
Trang 3429
- Các hình tam giác bằng bìa có màu sắc, kích thước, hình dạng khác nhau
- Các hình tam giác được đặt ở các vị trí khác nhau cho học sinh quan sát Qua các hình ảnh cụ thể đó, giáo viên hình thành cho học sinh:
- Biểu tượng về hình tam giác
- Sau đó cho học sinh tự nêu ví dụ về hình tam giác trong thực tế như: cái ê
ke, lá cờ đuôi nheo, biển báo có người qua đường,…
2.1.3.2 Các đồ dung trực quan trong dạy học toán ở tiểu học
- Những vật thực có trong tự nhiên xung quanh học sinh như: sách, vở, bút, thước kẻ, viên phấn, bông hoa, quả cam,… Những mẫu vật cắt bằng giấy bìa
- Các bộ que tính
- Các bảng tính, các bảng đơn vị đo lường, các sơ đồ và bảng mô tả
- Các bảng đồ dung để dạy học và học toán ở các lớp 1, 2, 3, 4, 5 (để sẵn trong hộp) do các công ty sách và thiết bị phát hành
2.1.3.3 Trường hợp sử dụng
- Phương tiện trực quan được sử dụng trong quá trình cho học sinh quan sát,
so sánh, nhận xét để từ đó khái quát hóa và đi đến một khái niệm mới, một kiến thức mới,…
- Trong quá trình giảng bài để giúp học sinh nhận biết một số tính chất toán học nào đó cũng cần sử dụng phương tiện trực quan
- Hay cho học sinh tự tìm để minh họa, nhận diện, hoặc thể hiện các kiến thức toán học vừa học cũng cần phương tiện trực quan
2.1.3.4 Những điều cần lưu ý khi sử dụng phương pháp trực quan
Phương pháp trực quan có tầm quan trọng đặc biệt trong việc dạy môn toán ở Tiểu học, song không nên lạm dụng
- Các tri thức toán học vốn có tính trừu tượng và khái quát cao, trong khi tư duy của học sinh còn mang tính cụ thể, hình tượng; vốn sống của học sinh còn nghèo nàn Trực quan sẽ bổ sung vốn hiểu biết cho học sinh, cung cấp chỗ dựa cho hoạt động tư duy; giúp học sinh dễ chú ý, từ đó có thể nắm các tri thức trừu tượng một cách vững chắc, tự giác và phát triển được năng lực tư duy trừu tượng, giúp phát triển trí tưởng tượng
- Như vậy trực quan không phải là mục đích, mà là phương pháp, phương tiện giúp đặt mục đích cuối cùng là nắm các tri thức toán học trừu tượng, phát triển năng lực tư duy Nếu bỏ qua “Trực quan sinh động”, hay tiến hành nó một cách đại khái,
sẽ không giúp nhận thức sâu sắc đối tượng Ngược lại nếu như lạm dụng trực quan trong quá trình giảng dạy sẽ ảnh hưởng đến việc phát triển tư duy cho học sinh, tốn
Trang 3530
thời gian trong quá trình giảng dạy, kìm khả năng hình thành các biểu tượng không gian, kìm hãm sự phát triển tư duy trừu tượng, hạn chế năng lực khái quát hóa,…
- Ở các lớp càng nhỏ, càng phải tổ chức giảng dạy trực quan sao cho học sinh
có thu nhận kiến thức dựa trên nhiều giác quan nhìn, nghe,… và đặc biệt là qua hành động (đếm, đong, đo; cắt, gấp, ghép, tô,…) của bản thân hoặc có thể theo dõi không chỉ lời giảng mà cả thao tác của giáo viên minh họa cụ thể các bước tính, các khái niệm, các tính chất
Ví dụ 4: Để học sinh nắm được cấu tạo số 6 ở lớp một, thường có hoạt động chia
một số que tính thành hai nhóm một cách tùy ý, mỗi em chủ động chia theo cách của mình.Tập hợp tất cả các cách chia, giáo viên sẽ có được tất cả các trường hợp cần nắm về cấu tạo số 6 là 5 và 1; là 4 và 2; là 3 và 3 Có phân tích bằng hành đồng như vậy, dần dần học sinh mới tự phân tích thầm trong tư duy của bản thân mình
- Cần phải chuyển dần, chuyển kịp thời và đúng lúc từ dạng trực quan này đến dạng trực quan khác với mức độ trừu tượng tăng dần Trật tự dùng có thể là từ vật thật sang tranh minh họa, rồi đến sơ đồ, biểu đồ,…
Ví dụ 5: Khi cho học sinh giải toán, chẳng hạn loại toán về “nhiều hơn” ở lớp 2, có
thể có những minh họa trực quan như sau:
là thể hiện nhiều hơn đoạn thẳng trên với số lượng là 2 Sơ đồ đoạn thẳng ở hình 3 là
sơ đồ chung cho bài toán “nhiều hơn” Nếu giáo viên bỏ qua các mức độ I, II và dạy ngay cho học sinh mức độ III, như thế làm cho học sinh nắm vấn đề một cách máy móc Chỉ đến khi học sinh đã thông thạo loại toán này, thì không nhất thiết phải vẽ sơ
đồ nửa
- Coi trọng việc chuẩn bị đồ dùng dạy học và tính toán kỹ về cách sử dụng trên lớp: khi giáo viên chuẩ bị bài lên lớp, phài đồng thời chuẩn bị đồ dùng dạy học Giáo viên cần tính toán trước, lúc nào đưa trang hay vẽ sơ đồ,… cho học sinh quan sát, lúc nào thì cất đi, khi cất thì cất ở đâu để không làm phân tán sự chú ý của học sinh trong quá trình theo dõi bài Một điều giáo viên cần lưu ý là phải luyện tập các thao tác sử dụng phương tiện trực quan trước khi lên lớp hướng dẫn học sinh, đồng
Trang 3631
thời các phương tiện trực quan tránh màu sắc quá rực rỡ, vì nó cũng làm phấn tán sự chú ý theo dõi bài của học sinh Đặc biệt phải tránh các trường hợp vì sơ suất khi dùng các phương pháp trực quan mà dẫn đến tình trạng phản lại mục đích bài giảng
Ví dụ 6: Để minh họa quan hệ “nhiều hơn”, cũng là các hình vẽ, có thể có hai cách
trình bày hình vẽ như sau:
Hình 1 Hình 2
Ta nhân thấy hình 1 không hay bằng hình 2 vì không nêu rõ được ánh xạ 1–1,
từ các phần tử của tập hợp thứ nhất đến tập hợp thứ hai Còn hình 2 nêu rõ được ánh
Ví dụ 7: khi sử dụng công nghệ thông tin trong quá trình giảng dạy, giáo viên làm
như sau, chiếu slide 1: đề toán; slide 2: tóm tắt; side 3: giải; slide 4: qui tắc giải;… Rốt cuộc học sinh chỉ ngồi xem trình chiếu các slide, chẳng tự giải được gì cả
2.1.4 Phương pháp thực hành – luyện tập
2.1.4.1 Định nghĩa
Phương pháp thực hành - luyện tập là phương pháp dạy học thông qua các hoạt động thực hành – luyện tập của học sinh để giúp các em nắm được kỹ năng và kiến thức mới
Ví dụ 8: Muốn dạy học sinh muốn đo đoạn thẳng Giáo viên làm mẫu để học sinh bắt
chước rồi tổ chức cho các em:
- Đo độ dài nhiều đoạn thẳng đã vẽ sẵn trên giấy, rồi ghi lại
- Đo một số độ dài xung quanh rồi ghi lại, chẳng hạn:
+ Đo độ dài gang tay
+ Đo dài mép bàn
+ Đo dài cạnh bảng
+ Độ cao của cái bàn,…
- Trong khi học sinh thực hành, giáo viên đi sát đôn đốc, uốn nắn, giúp đỡ các
em
Trang 3732
2.1.4.2 Các hoạt động thực hành – luyện tập bao gồm
- Giải quyết các bài tập do giáo viên nêu ra để tự học sinh có thể tự tìm kiếm hoặc chiếm lĩnh kiến thức mới
- Tập vận dụng kiến thức vào làm bài tập, giải toán để củng cố kiến thức, hình thành kỹ năng
- Thực hành đo lường (cân, đong, đo,…) Vẽ hình, cắt ghép, gấp, xếp hình
- Từ các vấn đề thực tiễn tự đặt bài toán để giải
- Làm đồ dùng học tập
- Tiến hành các trò chơi toán học
- Tiến hành điều tra số liệu., lập bảng thống kê đơn giản,…
Trong đó luyện tập giải các bài tập ở sách giáo khoa hoặc vở bài tập in sẵn,… đóng vai trò rất quan trọng
2.1.4.3 Ưu – nhược điểm
Ưu điểm: Ưu điểm cơ bản và nổi bật của phương pháp luyện tập là nâng cao tính độc lập, sáng tạo của học sinh, qua đó học sinh sẽ hiểu bài sâu hơn, chắc hơn và năng lực, phẩm chất, trí tuệ của học sinh được phát triển
Nhược điểm: Khó khan của phương pháp này là đối với bộ môn toán lượng bài tập đa dạng và phong phú, nên nếu giáo viên không có phương pháp chọn lọc thích hợp, sẽ gây cho các em tâm lý sợ toán và chán nản Còn nếu chỉ biết nhằm vào các thủ thuật giải, sẽ quên mất việc việc luyện tập phương thức tư duy cho học sinh
Vì thế giáo viên phải chuẩn bị kỹ các bài tập trong sách giáo khoa, kể cả sách bài tập để có sự phân loại theo tiêu chuẩn đã xác định: Theo phương pháp giải, theo mức độ phát triển năng lực tư duy, theo từng loại đối tượng học sinh Trên cơ sở đó
mà chủ động trong việc ra bài luyện tập cho học sinh làm một cách thích hợp
Luyện tập phải nhằm mục đích nhất định: Nắm lý thuyết rồi mới luyện tập, năng lực vận dụng tri thức vào nhiều trường hợp khác nhau, duy trì sự hứng thú học tập của học sinh Qua luyện tập mà rèn luyện cho học sinh tính kiên trì, nhẫn nại, tập trung chú ý, tự kiểm tra đánh giá,…Qua luyện tập giáo viên phải chỉ cho học sinh những chỗ khó, dễ quên hay nhầm lẫn trong quá trình vận dụng
2.1.4.4 Những điều cần chú ý khi tổ chức luyện tập – thực hành
- Giáo viên phải có sự chuẩn bị kĩ cho việc thực hành, luyện tập một cách chu đáo Ví dụ cho nhắc lại (qua thuyết trình hoặc hỏi đáp) các kiến thức lí thuyết cần thiết một cách ngắn gọn trước khi thực hành giải bài tập
- Cần động viên cả lớp hoạt động độc lập, mọi học sinh đều tự suy nghĩ, tự ìm biện pháp Trong khi cả lớp làm việc nếu cần nhắc nhở, giúp đỡ, nên nhắc cá nhân học sinh, giáo viên không nên nói to làm mất sự tập trung suy nghĩ của cả lớp
Trang 3833
- Nhất thiết phải tổng kết hoạt động độc lập của học sinh, điều chỉnh sai lầm,
có bổ sung kiến thức cần thiết
- Các bài tập cần đi từ đơn giản đến phức tạp, cuối cùng nên có những bài tập tổng hợp để mức độ luyện tập được nâng cao dần
- Giáo viên nên ra bài mẫu và giải bài mẫu một cách rõ ràng, cẩn thận, trình bày đẹp, mẫu mực để học sinh bắt chước
- Cần chú ý thay đổi hình thức luyện tập để gây hứng thú học tập cho các em học sinh
- Cần luyện tập nhiều., nhưng số lượng bài tập nên vừa phải, không bắt học sinh làm việc quá sức; luyện tập ở lớp là chính
2.2 ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC
Từ những năm gần đây vấn đề cải tiến đổi mới phương pháp dạy học được nhiều người quan tâm, qua nhiều ý kiến đánh giá tình hình, bày tỏ quan niệm và giải pháp đổi mới phương pháp dạy học trên báo chí, qua các công trình nghiên cứu và thực nghiệm,…
Đổi mới phương pháp dạy học ở trường Đại học là một yêu cầu khách quan,
có tính cấp thiết để phát triển; do yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, do yêu cầu của sự hội nhập giáo dục đại học trong khu vực và trên thế giới
Để hội nhập với thế giới và khu vực từng ngày, từng giờ trên khắp đất nước Đòi hỏi phải có những lớp người lao động mới, có bản lĩnh, có năng lực, chủ động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm thích ứng được với đời sống xã hội luôn luôn phát triển, nhu cầu này làm cho mục tiêu đào tạo của nhà trường phải điều chỉnh một cách thich hợp dẫn đến sự tất yếu phải điều chỉnh, thay đổi về nội dung và phương pháp dạy học
2.2.1 Thực trạng của lối dạy cũ (giáo viên là trung tâm)
Đặc điểm của lối dạy cũ là có mất sự cân đối rõ rệt giữa hoạt động dạy của giáo viên và hoạt động học của học sinh, trong đó:
- Giáo viên thường chỉ truyền đạt, giảng dạy theo các tài liệu đã có sẵn trong sách giáo khoa Vì vậy giáo viên thường làm việc một cách máy móc và ít quan tâm đến việc phát huy khả năng sáng tạo của học sinh
- Học sinh học tập một cách thụ động, chủ yếu chỉ nghe giảng, ghi nhớ rồi làm bài theo mẫu Do đó học sinh ít hứng thú học tập, nội dung các hoạt động học tập còn nghèo nàn, đơn điệu, các năng lực vốn có của cá nhân các em ít có cơ hội phát triển
- Giáo viên là người duy nhất có quyền đánh giá kết quả học tập của học sinh Học sinh ít khi được tự đánh giá mình và đánh giá lẫn nhau Tiểu chuẩn đánh giá học sinh học sinh là kết quả ghi nhớ, tái hiện lại những điều giáo viên đã giảng
Trang 3934
- Theo cách dạy cũ đang cản trở việc đào tạo những người lao động năng động, tự tin, linh hoạt sáng tạo, sẵn sàng thích ứng với những đổi mới đang diễn ra hằng ngày Do đó chúng ta phải cố gắng đổi mới phương pháp dạy học để nâng cao chất lượng giáo dục đáp ứng nhu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước trong thế kỷ XXI
2.2.2 Định hướng đổi mới phương pháp dạy học
- Đổi mới phương pháp dạy học được hiểu là đưa các phương pháp dạy học mới vào nhà trường trên cơ sở phát huy mặt tích cực của các phương pháp dạy học truyền thống để nâng cao chất lượng dạy học, nâng cao hiệu quả đào tạo của giáo dục
- Đổi mới phương pháp dạy học phải thiệt thực góp phần thực hiện mục tiêu giáo dục tiểu học, tạo điều kiện để cá thể hóa dạy học và khuyến khích dạy học phát hiện ra nội dung mới của bài học Làm được như vậy sẽ phát triển được các năng lực,
sở trường của từng học sinh; rèn luyện học sinh trở thành những người lao động chủ động, sáng tạo
- Đổi mới phương pháp dạy học ở tiểu học phải thực hiện đồng bộ với việc đổi mới mục tiêu và nội dung giáo dục; đổi mới đào tạo và bồi dưỡng giáo viên; đổi mới cơ sở vật chất và thiết bị; đổi mới chỉ đạo và đánh giá giáo dục tiểu học,…Mức
độ thực hiện đổi mới tùy thuộc vào điều kiện và hoàn cảnh cụ thể, cũng như sự cố gắng của từng địa phương, của giáo viên từng trường, từng lớp
- Để đảm bảo cho sự thành công đổi mới phương pháp dạy học ở tiểu học nên lựa chọn những giải pháp có tính khả thi cao Kinh nghiệm cho thấy các giải pháp sau rất phù hợp như:
+ Đổi mới nhận thức, trong đó cần trân trọng vai trò chủ đạo tính sáng tạo của giáo viên và phát huy tính tích cực của học sinh tiểu học
+ Đổi mới các hình thức tổ chức dạy học theo quan điểm lấy học sinh làm trung tâm, khuyến khích dạy học cá nhân, dạy học theo nhóm, theo lớp, dạy học ở ngoài trời, tăng cường trò chơi học tập
+ Đổi mới cách trang trí, sắp xếp phòng học để tạo ra môi trường học tập thích hợp
+ Đổi mới phương tiện dạy học, khuyến khích dùng các loại phiếu học tập,đồ dùng học tập, phương tiện kĩ thuật
+ Đổi mới cách đánh giá học sinh và kiểm tra
Ghi chú: Dạy học theo quan điểm “Lấy học sinh làm trung tâm” là quá trình giáo
viên tổ chức và hướng dẫn các hoạt động học tập nhằm:
- Huy động mọi khả năng của từng học sinh để tự học sinh tìm tòi, khám phá
ra những nội dung mới của bài học
Trang 402.2.3 Vai trò của người giáo viên trong đổi mới phương pháp dạy học
Để phát huy tính tích cực của học sinh thì:
- Từ nay giáo viên không còn đóng vai trò là người truyền thụ kiến thức cho học sinh chủ yếu bằng phương pháp thuyết trình, giảng giải để học sinh thụ động nghe và ghi nhớ như trước đây; mà phải trở thành người tổ chức, điều khiển quá trình dạy học để học sinh tích cực, chủ động, sáng tạo tự chiếm lĩnh kiến thức
- Từ nay giáo viên nên nói ít, giảng giải ít,, còn học sinh làm việc nhiều Xem
ra lao động của giáo viên dường như nhẹ nhàng, nhàn hạ hơn vì nhìn từ ngoài vào sẽ thấy học sinh tích cực, tự giác học; nhưng thực chất làm công việc hướng dẫn học sinh hoạt động để tự nắm lấy tri thức khó hơn nhiều so với việc thuyết trình, giảng giải, vì nó đòi hỏi giáo viên phải lao động công phu hơn Cụ thể là giáo viên phải chuẩn bị một kế hoạch dạy học sao cho tất cả học sinh đều làm việc Kế hoạch này chú ý đến sự phát triển của cá nhân, của nhóm học sinh trên cơ sở sự phát triển chung của cả tập thể lớp Khi điều khiển hoạt động của lớp học, giáo viên cũng phải xử lí hiều tình huống sư phạm phức tạp so với dạy học theo kiểu cũ
- Giáo viên được chủ động lựa chọn nội dung tri thức phù hợp với đối tượng học sinh và điều kiện cụ thể của lớp học để phát triển năng lực học sinh, không bị lệ thuộc hoàn toàn vào sách giáo khoa và tài liệu hướng dẫn như trước đây
- Trong việc đánh giá kêt quả học tập của học sinh, ý kiến của giáo viên là quan trọng; song giáo viên không phải là người duy nhất đánh giá kết quả học tập của học sinh mà còn tạo điều kiện để các em tự đánh giá mình, đánh giá lẫn nhau, Giáo viên tôn trọng năng lực, cá tính của học sinh, không áp đặt ý kiến của mình
2.2.4 Dạy toán bằng phiếu giao việc
Tất cả học sinh đều làm việc là một trong những định hướng quan trọng của việc đổi mới phương pháp dạy Toán ở tiểu học Đây là một cách dạy học tiên tiến, nó bám sát nguyên tắc: “Dạy học thông qua các hoạt động bằng tay của bản thân từng học sinh”
Ví dụ 9: Giáo viên muốn yêu cầu học sinh xác định câu hỏi trong một bài toán nào
đó Ta hãy so sánh hai cách dạy sau:
Cách 1: Dùng phương pháp đàm thoại