1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Phương pháp dạy học tiếng việt ở tiểu học

133 84 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Phương pháp dạy học tiếng Việt ở tiểu học
Tác giả Đinh Thị Kim Thành
Trường học Trường Đại Học An Giang
Chuyên ngành Ngữ Văn
Thể loại Tài liệu giảng dạy
Năm xuất bản 2009
Thành phố An Giang
Định dạng
Số trang 133
Dung lượng 0,96 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Xây dựng lí thuyết về phương pháp dạy học môn tiếng Việt nhằm nghiên cứu hành động của thầy và trò, trả lời câu hỏi “dạy học như thế nào?” Phương pháp theo nghĩa rộng bao gồm các công

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC AN GIANG

KHOA SƯ PHẠM

BỘ MÔN NGỮ VĂN

PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC

TIẾNG VIỆT Ở TIỂU HỌC

TÀI LIỆU GIẢNG DẠY DÙNG CHO

HỆ GIÁO DỤC TIỂU HỌC & CAO ĐẲNG TIỂU HỌC

Trang 2

LỜI NÓI ĐẦU

XαW

Phương pháp dạy học tiếng Việt ở tiểu học là môn học quan trọng giúp

sinh viên nắm được mục tiêu, nhiệm vụ, chương trình, sách giáo khoa, phương

pháp dạy học các phân môn tiếng Việt Giáo trình phương pháp dạy học tiếng

Việt đã được Bộ Giáo dục & đào tạo biên soạn và sử dụng từ năm học 1992 -

1993 chỉnh lí sách giáo khoa cải cách giáo dục cho các hệ CĐSP và SP 12+2 Từ

năm 2000 - 2006 hoàn thành thay sách lớp 1- lớp 5, tài liệu dùng để giảng dạy

theo chương trình thay sách không phù hợp, việc giảng dạy môn tiếng Việt chủ

yếu dựa vào tài liệu bồi dưỡng thay sách môn tiếng Việt được Bộ giáo dục &

Đào tạo biên soạn theo từng năm Cho đến nay, chưa có giáo trình phương pháp

dạy học tiếng Việt do Bộ giáo dục & Đào tạo biên soạn dùng cho các trường Sư

phạm Đến năm 2007, nhóm tác giả trường Đại học Sư phạm Hà Nội biên soạn

theo dự án phát triển giáo viên tiểu học Bộ giáo dục & Đào tạo Đây là tài liệu

viết tương đối phù hợp với việc thay sách tiếng Việt tiểu học Tài liệu này, chúng

tôi biên soạn lại cho đầy đủ các yêu cầu của các học phần cũng như cho phù hợp

với thực tế địa phương Chúng tôi căn cứ vào giáo trình cũ của Bộ giáo dục &

Đào tạo 1992 - 1993, và giáo trình phương pháp dạy học tiếng Việt của dự án

phát triển giáo viên tiểu học nhưng có sự bổ sung hoàn chỉnh sử dụng cho hệ đào

tạo Giáo dục tiểu học và Cao đẳng tiểu học

Tài liệu viết gồm 3 phần:

- Phần I : Những vấn đề chung về dạy học tiếng Việt

- Phần II: Phương pháp dạy học các phân môn

- Phần III: Kế hoạch bài học

Những điểm mới của tài liệu như sau:

1 Điều chỉnh, sắp xếp lại một số mục cho rõ ràng, hợp lí Trình bày ngắn gọn

phần cơ sở khoa học Bỏ qua những phần trùng lặp đã học ở môn Tiếng Việt thực

hành Phát hiện ra những lỗi thiếu sót để tránh

2 Bổ sung thêm những phần phương pháp đặc trưng của bộ môn mà tài liệu

phương pháp dạy học tiếng Việt của dự án phát triển giáo viên không trình bày

3 Có sử dụng lại những phần kiến thức cần thiết của các tài liệu tham khảo

Để nâng cao chất lượng của tài liệu, chúng tôi mong nhận được ý kiến

đóng góp của quý thầy cô và sự chỉ đạo của hội đồng nghiệm thu tài liệu để bổ

sung hoàn thiện đưa vào sử dụng cho sinh viên hệ Giáo dục tiểu học và Cao đẳng

tiểu học

Xin trân trọng cảm ơn

Giảng viên

Đinh Thị Kim Thành

Trang 3

MỤC LỤC

Trang Chương I : Những vấn đề chung về dạy học tiếng Việt Bài 1: Đối tượng, nhiệm vụ, đặc điểm môn phương pháp dạy học tiếng Việt 5

Bài 2: Các nguyên tắc dạy học tiếng Việt 11

Bài 3: Các phương pháp dạy học tiếng Việt 13

Bài 4: Môn tiếng Việt ở trường tiểu học 18

Chương II : Phương pháp dạy học các phân môn Bài 1: Phương pháp dạy môn học vần 27

Bài 2: Phương pháp dạy môn tập viết 41 Bài 3: Phương pháp dạy môn luyện từ và câu 47 Bài 4: Phương pháp dạy môn chính tả 54 Bài 5: Phương pháp dạy môn tập đọc - học thuộc lòng 61 Bài 6: Phương pháp dạy môn kể chuyện 72 Bài 7: Phương pháp dạy môn tập làm văn 79 Chương III : Kế hoạch bài học Phần I: Môn Học vần lớp 1 86

Phần II: Môn Tập viết 93

Phần III: Môn Luyện từ và câu 96

Phần IV: Môn chính tả 102

Phần V: Môn Tập đọc 105

Phần VI: Môn Kể chuyện 121

Phần VII: Tập làm văn 126

Trang 4

CÁC TỪ NGỮ VIẾT TẮT

BT: bài tập CĐTH: Cao đẳng tiểu học

GV: giáo viên HS: sinh viên NXBGD: nhà xuất bản giáo dục SGK: sách giáo khoa

PPDHTV: phương pháp dạy họctiếng Việt TLV: tập làm văn

VD: ví dụ VBT: vở bài tập

Trang 5

CHƯƠNG I NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ DẠY HỌC TIẾNG VIỆTỞ TRƯỜNG TIỂU HỌC

Bài 1

ĐỐI TƯỢNG, NHIỆM VỤ, ĐẶC ĐIỂM MÔN PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC

TIẾNG VIỆT

I PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC TIẾNG VIỆT LÀ GÌ?

Phương pháp dạy học tiếng Việt là một hệ thống lí thuyết đảm bảo cho việc dạy

và học tiếng Việt đạt kết quả tốt

Khi nói phương pháp dạy học tiếng Việt là một hệ thống, cần chú ý:

- PPDHTV là một thể thống nhất: hệ thống này có chứa nhiều bộ phận, từng bộ phận có đặc trưng riêng nhưng chúng đều thống nhất ở những quy luật chung nhất, như mục đích và các nguyên tắc dạy học, các quy luật lĩnh hội lời nói, hình thành kĩ năng ngôn ngữ

- Hệ thống có nhiều bộ phận, mỗi bộ phận có đặc trưng đặc thù của mình như PPDH tập đọc khác kể chuyện…

- Hệ thống này cần phải gắn chặt lí thuyết với thực tiễn, thực tiễn là cơ sở của lí thuyết, lí thuyết phải hướng tới phục vụ thực tiễn

Nói PPDHTV là một khoa học thực sự vì nó có:

- Đối tượng nghiên cứu riêng

- Có các tiền đề lí thuyết và thực tiễn

- Có các phương pháp nghiên cứu đặc thù

II ĐỐI TƯỢNG CỦA PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC TIẾNG VIỆT

Phương pháp dạy học tiếng Việt nghiên cứu quá trình dạy học tiếng Việt Đối tượng của phương pháp dạy học tiếng Việt là hoạt động dạy học Bao gồm:

1 Nội dung dạy học tiếng Việt

Nội dung của dạy học chỉ được đạt đến thông qua việc hoàn thành nội dung môn học Nội dung môn tiếng Việt chính là các tri thức về hệ thống tiếng Việt, kiến thức về

hệ thống và chuẩn tiếng Việt văn hoá và quá trình giao tiếp tiếng Việt

2 Hoạt động của thầy giáo

Trong nhà trường, người tổ chức, người sử dụng các phương tiện dạy học vẫn phải là người thầy, dạy là sự tổ chức, điều kiển hoạt động học, hoạt động nhận thức của

Trang 6

học sinh, bằng cách đó mà học sinh được phát triển và hình thành nhân cách Sự phát triển của khoa học kĩ thuật không hề giảm bớt vai trò của người thầy trong nhà trường

3 Hoạt động học tập của học sinh

Trong nhà trường, học sinh không chỉ là đối tượng được giáo dục mà chủ yếu là chủ thể của quá trình nhận thức, rèn luyện kĩ năng và thông qua đó hình thành nhân cách con người mới Học là quá trình học sinh tích cực, tự giác chiếm lĩnh nội dung dạy học để hình thành, phát triển nhân cách dưới sự điều khiển sư phạm của giáo viên

Hoạt động học của học sinh bao gồm những hoạt động cụ thể để chuẩn bị cho giờ học trên lớp, giờ tự học ở nhà, giờ hoạt động ngoại khoá Hoạt động của trò được tiến hành dưới sự điều khiển của thầy Hiệu quả hoạt động của trò là tri thức, kĩ năng, kĩ xảo, những phẩm chất đạo đức mà các em đạt được

Phương pháp dạy học tiếng Việt cần phải nghiên cứu quá trình học tập tiếng Việt của học sinh và những kết quả thu được của quá trình này cùng những quy luật chi phối quá trình đó

III NHIỆM VỤ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC TIẾNG VIỆT

Chúng ta cần phân biệt phương pháp dạy học tiếng Việt với tư cách là một khoa học và với tư cách là một môn học trong trường Sư phạm

1 Nhiệm vụ của phương pháp dạy học tiếng Việt với tư cách là một ngành khoa học

1.1 Xây dựng cơ sở phương pháp luận cho phương pháp dạy học tiếng Việt

Xác định đối tượng, vị trí của phương pháp, phát hiện ra bản chất, cấu trúc, chức năng, những quy luật chi phối quá trình dạy học Xây dựng hệ thống phương pháp nghiên cứu khoa học riêng cho phương pháp dạy học tiếng Việt Xác lập các đề tài nghiên cứu khoa học thuộc vấn đề cơ bản phương pháp dạy học tiếng Việt

1.2 Xây dựng lí thuyết về môn học tiếng Việt trong nhà trường

- Nghiên cứu việc xác định hệ thống những mục tiêu của môn tiếng Việt, trả lời cho câu hỏi “dạy để làm gì?”

- Nghiên cứu việc xây dựng nội dung môn học tiếng Việt, trả lời cho câu hỏi

“dạy học cái gì?” Nội dung môn học phải thoả mãn ba yêu cầu cơ bản:

Thoả mãn tối đa những đòi hỏi của đơn đặt hàng của xã hội

Phản ánh trung thành Việt ngữ học hiện đại

Phù hợp với đặc điểm tâm lí lĩnh hội của học sinh

- Nghiên cứu những quy luật về các mối liên hệ giữa kiến thức trong nội bộ môn tiếng Việt, về mối liên hệ liên môn

Trang 7

- Nghiên cứu những lĩnh vực cụ thể khác của nội dung dạy học tiếng Việt như vấn đề thực hành kĩ năng, vấn đề làm bài tập, vấn đề giáo dục tư tưởng trong giờ học tiếng Việt…

1.3 Xây dựng lí thuyết về phương pháp dạy học môn tiếng Việt

nhằm nghiên cứu hành động của thầy và trò, trả lời câu hỏi “dạy học như thế nào?”

Phương pháp theo nghĩa rộng bao gồm các công việc sau:

- Xác định cách thức hoạt động cụ thể trong quá trình dạy học của thầy và trò

- Xác định hình thức tổ chức dạy học như: giờ trên lớp, tham quan, thảo luận nhóm, trò chơi đóng vai…

- Chỉ dẫn về các phương tiện dạy học như: các phương tiện nghe, nhìn, băng tiếng, băng hình, phim đèn chiếu…

2 Nhiệm vụ của phương pháp dạy học tiếng Việt trong trường Sư phạm

2.1 Cung cấp những kiến thức cơ bản về dạy học môn tiếng Việt cho sinh viên

- Những kiến thức đại cương về phương pháp dạy học tiếng Việt với tư cách là một ngành khoa học và là một môn học trong trường sư phạm Đối tượng, nhiệm vụ, phương pháp nghiên cứu của phương pháp dạy học tiếng Việt và quan hệ của nó với các ngành khoa học khác

- Những kiến thức cụ thể về lập kế hoạch dạy học, chuẩn bị và tiến hành từng bài học, từng tiết học trên lớp

2.2 Rèn luyện những kĩ năng cơ bản về dạy học môn Tiếng Việt cho sinh viên

- Kĩ năng phân tích mục tiêu, tìm hiểu chương trình, SGK và các tài liệu dạy học tiếng Việt ở tiểu học

- Kĩ năng tìm hiểu trình độ và đặc điểm ngôn ngữ của học sinh tiểu học

- Kĩ năng lập kế họach dạy học, thiết kế bài dạy tiếng Việt

- Kĩ năng tổ chức các hoạt động dạy học tiếng Việt trong giờ dạy

- Kĩ năng kiểm tra, đánh giá học sinh

- Kĩ năng tiến hành các hoạt động ngoại khoá tiếng Việt, bồi dưỡng học sinh giỏi, giúp đỡ học sinh yếu kém

- Kĩ năng vận dụng công tác chủ nhiệm, công tác Đoàn, Đội, hỗ trợ cho việc dạy tiếng Việt cũng như kĩ năng kết hợp dạy tiếng Việt trong các giờ học khác

- Kĩ năng phân tích, đánh giá thực tế dạy học tiếng Việt ở tiểu học

Trang 8

3 Bồi dưỡng cho sinh viên tình cảm nghề nghiệp, phẩm chất đạo đức của người giáo viên dạy tiếng Việt

Bộ môn phương pháp dạy học tiếng Việt cần làm cho sinh viên thấy được vai trò, vị trí của môn Tiếng Việt, cái hay, cái khó và tính sáng tạo của việc dạy học tiếng Việt, từ đó nâng cao trách nhiệm và tình cảm nghề nghiệp Đồng thời, rèn luyện cho sinh viên những phẩm chất đạo đức và những thói quen cần thiết của người thầy giáo tiếng Việt như: biết yêu tiếng Việt, yêu đất nước, con người, có tính kiên trì, chính xác,

có khả năng đồng cảm, đặc biệt là đồng cảm với trẻ em, có thói quen tự phê bình,…

IV ĐẶC ĐIỂM CỦA PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC TIẾNG VIỆT

Đặc điểm của phương pháp dạy học tiếng Việt ở tiểu học bị quy định bởi những đặc thù của học sinh lứa tuổi này Đó là các đặc điểm sau:

1 Bảo đảm sự thành công của học sinh những ngày đầu đến trường

Học sinh bắt đầu chuyển từ hoạt động chủ đạo là vui chơi sang hoạt động học tập Đó là một khó khăn đối với các em đòi hỏi người giáo viên tiểu học phải có cách cư

xử đặc biệt đối với học sinh Đó là thái độ nâng đỡ, khích lệ, thông cảm, luôn nhấn mạnh vào những thành công của trẻ Đó là một cách làm việc kiên trì, tỉ mỉ, đó là khả năng biết tổ chức quá trình dạy học kết hợp với vui chơi Người giáo viên tiểu học phải nắm đặc điểm của học sinh, hình dung thấy hết những khó khăn của các em khi học chữ

Khi đến trường, học sinh lần đầu tiên biết đến "chuẩn ngôn ngữ" không phải ở dạng thuật ngữ mà các em cần ý thức được rằng mọi người trong xã hội đã thoả thuận, quy ước nói thế này thì được mà nói thế kia thì không được Đồng thời với ý thức về chuẩn mực ngôn ngữ, các em cần phải được giáo dục về "chuẩn văn hoá" của lời nói để các em nói viết đúng tiến tới nói viết hay

3 Chú ý để hình thành dạng ngôn ngữ độc thoại và phong cách ngôn ngữ viết cho học sinh

Lời nói của trẻ trước khi đến trường có tính chất tình huống, là dạng ngôn ngữ hội thoại được tạo ra trong hoạt động vui chơi và các hoạt động khác Khi có tình huống trong hội thoại, trẻ em cảm thấy dường như mọi chuyện nói năng diễn ra rất dễ dàng không chỉ vì phạm vi đề cập là quen thuộc mà còn bởi vì lúc này mô hình câu đã được định sẵn, các em chỉ cần thay một số từ Ở trường học, hoạt động chủ đạo sẽ là hoạt động học tập, một hoạt động mang tính trí tuệ Càng ngày lời nói của các em càng hướng tới dạng độc thoại tức là hướng tới những quy tắc liên kết thống nhất phụ thuộc lẫn nhau của lời nói Đây chính là một khó khăn đối với các em, người giáo viên cần phải quan tâm và chú trọng đúng mức

Trang 9

4 Hình thành ở học sinh thói quen và kĩ năng quan sát ngôn ngữ, tự điều chỉnh ngôn ngữ của mình

Trong trường học, lần đầu tiên ngôn ngữ trở thành đối tượng quan sát, phân tích, khái quát và là đối tượng tìm hiểu của các em Nhà trường phải dạy cho trẻ em có ý thức quan sát ngôn ngữ của người khác, quan sát ngôn ngữ của chính mình để phát triển cảm nghĩ và có ý thức điều chỉnh lời ăn tiếng nói của mình từ cách phát âm, cách dùng từ, đặt câu

V PHƯƠNG PHÁP DẠY TIẾNG CÓ CƠ SỞ LÍ THUYẾT VÀ THỰC TIỄN TIN CẬY

1 Triết học Mác - Lênin là cơ sở phương pháp luận của PPdạy tiếng

Những lí thuyết về nhận thức, quan điểm biện chứng về mối quan hệ giữa ngôn ngữ và tư duy, về bản chất xã hội của ngôn ngữ…có ảnh hưởng rất lớn đến những quan điểm chung trong phương pháp dạy học tiếng Việt Nó trang bị cho chúng ta phương pháp nghiên cứu đúng đắn: xem xét các quá trình dạy học tiếng Việt trong sự phát triển

và trong mối liên hệ phụ thuộc lẫn nhau, trong sự mâu thuẫn thống nhất, phát hiện những sự biến đổi số lượng dẫn tới những sự biến đổi chất lượng

2 Giáo dục học

PPdạy học tiếng Việt là một bộ phận của khoa học giáo dục nên nó phụ thuộc vào những quy luật chung của khoa học này Giáo dục học nói chung, Lí luận dạy học đại cương nói riêng cung cấp cho PP dạy học tiếng Việt những hiểu biết về các quy luật chung của việc dạy học môn học PP dạy học tiếng Việt cụ thể hoá mục tiêu, nguyên tắc dạy học chung vào bộ môn của mình.mục đích của phương pháp dạy học tiếng Việt cũng như các khoa học giáo dục nói chung là tổ chức sự phát triển tâm hồn và thể chất của học, chuẩn bị cho các em đi vào cuộc sống lao động trong xã hội mới Chẳng hạn,

PP dạy học tiếng Việt vận dụng nguyên tắc gắn liền lí thuyết và thực hành đòi hỏi một hoạt động lời nói thường xuyên, biểu hiện ý nghĩ bằng lời nói, viết, cùng với việc thường xuyên vận dụng những hiểu biết lí thuyết trong bài tập….PP dạy học tiếng Việt chọn ở Giáo dục học các hình thức tổ chức dạy học, các PP dạy học bằng lời, dạy bài tập, dạy học nêu vấn đề… đều có mặt trong giờ Tiếng Việt

3 Tâm lí học

Các quy luật tâm lí của quá trình lĩnh hội tri thức và hình thành kĩ năng, kĩ xảo nói chung, các đặc điểm tâm lí lứa tuổi do tâm lí học khám phá là cơ sở tâm lí cho PP xác định nội dung và cách thức dạy học PP cũng sử dụng cả những thuật ngữ và khái niệm tâm lí học.PP dạy học tiếng Việt vận dụng rất nhiều của kết quả Tâm lí học

4 Tâm lí - ngôn ngữ học

Tâm lí ngôn ngữ học nghiên cứu quá trình sản sinh và lĩnh hội lời nói Những hiểu biết đó rất bổ ích cho PP dạy tiếng Tâm lí - ngôn ngữ học đem lại cho phương pháp những số liệu về lời nói như một hoạt động Chẳng hạn như việc xác định tình huống nói năng, các giai đoạn sản sinh lời nói, tính hiệu quả của sự tác động của lời nói trong giao tiếp…

Trang 10

5 Ngôn ngữ học

Những tri thức về tiếng Việt quan hệ trực tiếp đến các nguyên tắc dạy học, nội dung chương trình, cách sắp xếp chương trình, hệ thống bài tập tiếng Việt Chẳng hạn, ngữ âm học trong quan hệ qua lại với chữ viết là cơ sở của việc soạn thảo phương pháp dạy đọc, viết, cơ sở của việc hình thành kĩ năng đọc sơ bộ Những hiểu biết về từ vựng học cần thiết đối với việc tổ chức dạy từ trong nhà trường là cơ sở để xây dựng những bài tập phong phú với từ đồng nghĩa, trái nghĩa, với các nhóm từ theo chủ điểm…

6 Cơ sở thực tiễn chính là tình hình dạy học tiếng ở nhà trường phổ thông

Đây chính là nơi đề xuất, nơi thực hiện, là tiêu chuẩn kiểm tra những lí thuyết được đề ra

V PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC TIẾNG VIỆT CÓ PP NGHIÊN CỨU RIÊNG

Đó là các phương pháp nghiên cứu khoa học giáo dục:

- Các phương pháp nội dung: quan sát, trao đổi, kinh nghiệm tiên tiến, thực nghiệm

- Các phương pháp hình thức: mô hình, thống kê xác suất

- Các phương pháp lí thuyết: nghiên cứu lí thuyết, rút ra cơ sở phương pháp luận, đề ra giả thuyết nghiên cứu

Trong các phương pháp trên, phương pháp thực nghiệm được áp dụng nhiều

nhất

Câu hỏi

1 Đối tượng của phương pháp dạy học tiếng Việt là gì?

2 Trình bày nhiệm vụ của môn phương pháp dạy học tiếng Việt trong trường sư phạm

3 Tại sao cần bồi dưỡng cho sinh viên tình cảm nghề nghịêp, phẩm chất đạo đức của

người giáo viên dạy tiếng Việt?

4 Trình bày các đặc điểm của phương pháp dạy học tiếng Việt ở trường tiểu học

5 Khi dạy học tiếng Việt cho học sinh, cần phân biệt như thế nào về tình huống - dạng ngôn ngữ hội thoại và tình huống được hình thành trong hoạt động học tập?

Trang 11

Bài 2

CÁC NGUYÊN TẮC DẠY HỌC TIẾNG VIỆT

I NGUYÊN TẮC DẠY HỌC TIẾNG VIỆT LÀ GÌ?

Nguyên tắc là những tiền đề cơ bản, xuất phát điểm của một lí thuyết, một học thuyết khoa học, một loại hoạt động nào đó của con người Các nguyên tắc được hình thành trên cơ sở các quy luật tự nhiên và xã hội được con người nhận thức, phản ánh những yêu cầu xã hội, nhằm hướng mọi hoạt động tới mục đích cuối cùng định ra

Vậy nguyên tắc dạy học tiếng Việt là những tiền đề lí thuyết cơ bản, làm cơ sở cho việc xác định nội dung, phương pháp và cách tổ chức hoạt động dạy và học tiếng Việt của thầy giáo và học sinh, nhằm đạt mục đích của việc dạy học tiếng Việt trong nhà trường

II CÁC NGUYÊN TẮC DẠY HỌC TIẾNG VIỆT

1 Nguyên tắc rèn luyện ngôn ngữ gắn liền với rèn luyện tư duy

Ngôn ngữ là công cụ để tư duy, tư duy là hiện thực trực tiếp của ngôn ngữ Hai lĩnh vực này không hề tách biệt, mâu thuẫn nhau, mà trái lại, là một khối thống nhất biện chứng, có quan hệ thúc đẩy nhau phát triển

Khi dạy tiếng Việt cho học sinh tiểu học giáo viên cần lưu ý:

- Phải chú ý rèn luyện các thao tác và phẩm chất tư duy trong giờ dạy tiếng

- Phải làm cho học sinh thông hiểu được ý nghĩa của các đơn vị ngôn ngữ Hiểu được tiếng, từ, câu tức là phải gắn chúng với nội dung hiện thực, phải thấy được vai trò, giá trị của nó trong hệ thống tiếng Việt

- Phải chuẩn bị đầy đủ, tạo mọi điều kiện cho các em nắm được nội dung các vấn đề cần viết hoặc nói Muốn vậy các đề tập làm văn phải gần gũi với cuộc sống thực

tế của các em Thầy giáo cần phải tổ chức cho các em tìm hiểu, quan sát, ghi chép đầy

đủ và phong phú các tư liệu cần thiết trước khi nói hoặc viết

2 Nguyên tắc hướng vào hoạt động giao tiếp

Ngôn ngữ là một hệ thống hoạt động chức năng phục vụ cho tư duy và giao tiếp

xã hội Tách khỏi hoạt động chức năng nó sẽ trở thành hoạt động khô cứng, một hệ thống chết Ngôn ngữ phải được vận dụng để tạo ra các dạng lời nói khác nhau Mặt khác muốn hình thành kĩ năng, kĩ xảo ngôn ngữ, học sinh phải được trực tiếp tham gia vào hoạt động giao tiếp hàng ngày

Nguyên tắc dạy tiếng Việt hướng vào hoạt động giao tiếp đòi hỏi cần phải lưu ý những điểm sau:

- Khi học bất cứ một đơn vị ngôn ngữ nào cũng cần đưa chúng vào hoạt động hành chức, tức là đưa nó vào đơn vị lớn hơn (học âm cần gắn liền với tiếng, học tiếng cần gắn liền với từ…)

Trang 12

- Phương hướng tốt nhất để dạy các đơn vị ngôn ngữ trong hệ thống hành chức

là phải tìm mọi cách hướng học sinh vào hoạt động nói năng Giáo viên cần phải tạo được các tình huống giao tiếp khác nhau để kích thích động cơ giao tiếp cho học sinh

- Nguyên tắc dạy tiếng hướng vào hoạt động giao tiếp sẽ chi phối trực tiếp việc chọn và sắp xếp nội dung kiến thức cần dạy để góp phần hình thành các kĩ năng giao tiếp (đọc, nghe, nói, viết)

3 Nguyên tắc chú ý đến trình độ tiếng Việt vốn có của các em học sinh

Chú ý đến trình độ tiếng Việt vốn có của học sinh cũng có nghĩa là phát huy tính chủ động của các em trong giờ học tiếng Việt Giáo viên cần chú ý:

- Điều tra nắm vững khả năng ngôn ngữ của học sinh từng lứa tuổi, từng vùng khác nhau để định nội dung, kế hoạch và phương pháp giảng dạy Hiện nay chính tả âm vần đã cho phép các vùng tự chọn cách viết chính tả phù hợp

- Giáo viên cần phải hệ thống hoá, phát huy những năng lực tích cực của học sinh, hạn chế và dần dần đi đến thủ tiêu những mặt tiêu cực về lời nói của học sinh trong quá trình học tập

4 Nguyên tắc kết hợp rèn luyện cả hai hình thức lời nói: dạng viết và dạng nói

Nói và viết là hai dạng lời nói mang những đặc điểm khác nhau nhưng cùng hỗ trợ và thúc đẩy lẫn nhau phát triển

- Nói tốt trước hết là ứng xử đúng đắn bằng lời với những điều đã nghe và đã đọc được

- Viết tốt trước hết là ứng xử bằng văn tự với những điều đã nhận được qua đọc

và nghe Nói tốt là cơ sở để viết tốt và ngược lại

Nhà trường cần phải lưu ý rèn luyện cho các em cả hai dạng lời nói này, tránh

"nói như viết" hoặc "viết như nói" một nhược điểm khá phổ biến của học sinh tiểu học

Câu hỏi

1 Hãy trình bày các nguyên tắc dạy tiếng Việt ở tiểu học

2 Phân tích việc thực hiện các nguyên tắc dạy học tiếng Việt qua một tiết dự giờ một phân môn tiếng Việt ở tiểu học

Trang 13

Bài 3

CÁC PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC TIẾNG VIỆT

I KHÁI NIỆM VỀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC TIẾNG VIỆT

- Phương pháp là đường hướng, cách thức nhận thức, là hệ thống những nguyên tắc và quan điểm đối với việc nghiên cứu các hiện tượng trong tự nhiên, xã hội và tư duy

- Phương pháp dạy học tiếng Việt là cách thức làm việc của thầy giáo và học sinh nhằm làm cho học sinh nắm vững kiến thức, kĩ năng và kĩ xảo tiếng Việt

II CÁC PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC TIẾNG VIỆT

1 Đổi mới phương pháp dạy học tiếng Việt

Để việc dạy học tiếng Việt có hiệu quả, cần phải sử dụng các phương pháp phát huy tính tích cực chủ động của học sinh, các phương pháp đặc trưng của môn học: Phương pháp phân tích ngôn ngữ, phương pháp rèn luyện theo mẫu, phương pháp thực hành giao tiếp (đọc, viết, nói, nghe trong các tình huống giao tiếp cụ thể), phương pháp đóng vai,…Đương nhiên những phương pháp khác như: diễn giảng, thảo luận, đặt và giải quyết vấn đề, sử dụng phương tiện trực quan… vẫn được phối hợp một cách hợp lí với các phương pháp đã nêu để dạy tiếng Việt

Giáo viên đưa ra hiện tượng ngôn ngữ (ví dụ)

Học sinh quan sát, phân tích, so sánh đối chiếu tìm ra các nét đặc trưng của khái niệm và quy tắc mới

- Phân tích - chứng minh: thường được dùng để củng cố và khắc sâu kiến thức

và hình thành các kĩ năng cụ thể Cách tiến hành:

Giáo viên đưa ra các tài liệu ngôn ngữ chứa hiện tượng ngôn ngữ học sinh vừa mới được học

Trang 14

Học sinh tìm các đặc điểm ngôn ngữ có trong bài tập, thao tác này được lặp lại nhiều lần cho đến khi học sinh nắm chắc các khái niệm và quy tắc mới

- Phân tích - phán đoán: nhìn vào tài liệu ngôn ngữ có thể phán đoán để phát hiện và khẳng định một cách chắc chắn các hiện tượng ngôn ngữ đã được học

- Phân tích - tổng hợp: là thao tác áp dụng những khái niệm và quy tắc ngôn ngữ vào hoạt động giao tiếp Bài tập thực hành giao tiếp có ý nghĩa rất lớn giúp giáo viên hướng dẫn học sinh thực hiện thao tác này (các bài tập điền từ, thay thế từ ngữ, đặt câu, sửa câu…)

2.2 Phương pháp rèn luyện theo mẫu

+ Phương pháp rèn luyện theo mẫu là gì?

Phương pháp rèn luyện theo mẫu là phương pháp hoạt động có ý thức, trong đó thầy

giáo chọn và giới thiệu các mẫu hoạt động lời nói sau đó làm cho học sinh hiểu và nắm được cơ chế của chúng, bắt chước mẫu đó để tạo ra lời nói của mình Chẳng hạn GV làm mẫu các thao tác viết chữ khi dạy học sinh tập viết, dạy chính tả GV phát âm mẫu, hướng dẫn viết từ ngữ khó Dạy câu, cho học sinh đặt câu theo mô hình

+ Những thao tác cơ bản:

- Cung cấp mẫu lời nói hoặc hành động lời nói

- Giáo viên hướng dẫn học sinh phân tích mẫu

- Học sinh mô phỏng mẫu để tạo ra lời nói của mình

- Kiểm tra, đánh giá rút kinh nghiệm

* Lưu ý khi áp dụng phương pháp rèn luyện theo mẫu: Để tránh mô phỏng một cách máy móc, học thuộc lòng, cần cho học sinh hoạt động mô phỏng với một số yêu cầu bổ sung đòi hỏi sự thay đổi, sáng tạo và khơi dậy óc tưởng tượng ở các em học sinh

2.3 Phương pháp thực hành giao tiếp

+ Phương pháp thực hành giao tiếp là gì?

Phương pháp giao tiếp là phương pháp hướng dẫn học sinh vận dụng lí thuyết được học vào thực hiện các nhiệm vụ giao tiếp cụ thể bằng tiếng Việt

+ Những thao tác cơ bản:

- Tạo các tình huống kích thích nhu cầu giao tiếp ở học sinh

- Học sinh phải định hướng giao tiếp: nói với ai, nói về cái gì, nói những cái gì, nói và viết trong hoàn cảnh nào?…

- Học sinh căn cứ vào nhiệm vụ giao tiếp, hoàn cảnh giao tiếp mà vận dụng các phương tiện ngôn ngữ để tạo ra lời nói cụ thể

Trang 15

- Đánh giá, nhận xét rút kinh nghiệm

+ Phương pháp giao tiếp được ứng dụng hiệu quả trong các môn học ở tiểu học, đặc biệt là môn tập làm văn Cụ thể như sau :

- Về thể loại văn bản : dạy các em nghi thức lời nói trong giao tiếp miệng : biết

tự giới thiệu mình giới thiệu người khác, chào hỏi, thăm hỏi, cảm ơn xin lỗi, gọi điện thoại…

- Việc ra đề tập làm văn:

Theo tinh thần thực hành giao tiếp, việc ra đề phải xác định đích nói hoặc viết, phải chú trọng đến nhân tố giao tiếp, hoàn cảnh giao tiếp

Đề tập làm văn phải hướng tới những đối tượng quen thuộc với HS Đề văn cần

rõ ràng về thể loại, đối tượng còn phải được diễn đạt chuẩn mực, rõ ràng, đảm bảo các yêu cầu giáo dục tư tưởng và thẩm mỹ

- Tạo nhu cầu giáo tiếp cho HS : phải tạo được những tình huống giao tiếp giả định Đó là những tình huống vừa chân thực, không gượng ép, khô cứng, có sức lôi cuốn hấp dẫn kích thích được nhu cầu nói, viết của các em

- Tạo hoàn cảnh giao tiếp : hoàn cảnh ở đây được hiểu là lớp học trong thời điểm luyện nói, đặc biệt là tình huống giao tiếp cụ thể để HS có động cơ, nhu cầu với việc xác định nội dung nói, phải tạo được những tình huống giao tiếp gần gũi, hợp với

sở thích của HS như chào hỏi, tự giới thiệu, cảm ơn, xin lỗi, gọi điện thoại

2.4 Phương pháp thảo luận nhóm

+ Phương pháp thảo luận nhóm là phương pháp học tập tạo điều kiện cho HS rèn luyện khả năng giao tiếp, khả năng hợp tác, thích ứng với hoàn cảnh xung quanh Qua thảo luận, năng lực ngôn ngữ, tư duy của HS phát triển

+ Điều kiện đảm bảo thành công cho việc thảo luận nhóm :

- Các chủ đề có tác dụng kích thích tính tò mò, chú ý của các em, phải sát với nội dung bài học và trình độ HS

- Không lạm dụng hình thức thảo luận nhóm, mỗi nhóm chỉ cần tóm tắt ý chính trên khổ giấy lớn và trình bày trước lớp Sau mỗi nhóm trình bày, cần có thời gian để lớp nhận xét, chất vấn nhóm vừa trình bày Kết thúc, GV tổng kết giảng giải thêm và nhận xét, động viên

+ Cách tiến hành:

- Phân nhóm : mỗi nhóm có thể 2, 3 em Có thể HS ở một bàn, một tổ là một nhóm Cách chia nhóm phải linh hoạt, luôn thay đổi để các em được giao lưu với các bạn trong lớp

Trang 16

- Nói rõ cho HS biết mục đích của việc thảo luận nhóm, nhóm trưởng luân phiên, trong nhóm mỗi người một việc Các thành viên giúp đỡ nhau tìm hiểu vấn đề, nhóm cử đại diện lên trình bày

- Mỗi tiết học chỉ nên có từ một đến ba hoạt động nhóm, thời gian để hoạt động nhóm tuỳ nội dung tiết học

2.5 Phương pháp trò chơi

+ Trò chơi là hoạt động của con người nhằm mục đích giải trí, thư giãn sau

những giờ làm việc căng thẳng, mệt mỏi Ngoài ra, qua trò chơi, con người còn được rèn luyện thể lực, các giác quan, có giao lưu với mọi người,… trong nhà trường tiểu học kết hợp sử dụng hình thức trò chơi trong học tập một cách phù hợp sẽ đạt được hiệu quả cao

+ Cách thức tiến hành:

- Nêu tên trò chơi, ý nghĩa tác dụng của trò chơi, mục đích chơi

- Phổ biến luật chơi

- Quán triệt tinh thần thái độ tình cảm khi chơi

- GV giúp đỡ các nhóm chơi Công bố kết quả

Các trò chơi tiếng Việt góp phần củng cố tri thức, kĩ năng sử dụng tiếng Việt cho học sinh

* Gợi ý các trò chơi :

- Thi tìm tiếng có vần ai giữa các nhóm

- Tô chữ trên tranh

- Đi tìm lời thơ…

- Đọc thơ truyền điện

- Đi tìm từ hoặc tiếng theo yêu cầu chính tả

- Trò chơi phân vai đóng kịch

VD: Ở lớp 1-2, có thể tổ chức cho học sinh đóng kịch theo vai ông già, chú thương binh, cô y tá, để HS luyện tập các nghi thức lời nói : chào hỏi khi gặp mặt, chia tay ; nói lời cảm ơn, xin lỗi; yêu cầu đề nghị,…

Từ các hình thức trò chơi này, ngôn ngữ nói của HS được phát triển và các thói quen ứng xử văn minh lịch sự được hình thành

Trang 17

2.6 Phương pháp đóng vai :

+ Đóng vai là phương pháp ở đó GV cho HS thực hành " làm thử " một số hoạt

động nào đó mô phỏng nội dung bài học Phương pháp này rất cần thiết cho việc dạy

học ở tiểu học

- Tác dụng: giúp HS hứng thú hoạt động học tập, tạo điều kiện làm nảy sinh óc sáng tạo của HS Các vai nói-nghe đều hào hứng, nắm chắc và lâu bài học

+ Cách tiến hành :

- Giới thiệu tình huống, nội dung bài

- Các nhóm thảo luận, xây dựng kịch bản và phân công sắm vai

- Các nhóm lên đóng vai

- Lớp nhận xét, đánh giá

- GV chốt lại

Câu hỏi

1 Trình bày tóm tắt các phương pháp dạy tiếng Việt

2 Phân tích việc thực hiện các phương pháp dạy học tiếng Việt qua một tiết dự giờ một

phân môn tiếng Việt ở tiểu học

Trang 18

Bài 4

MÔN TIẾNG VIỆT Ở TRƯỜNG TIỂU HỌC

I NHỮNG ĐỊNH HƯỚNG XÂY DỰNG CHƯƠNG TRÌNH

1 Các căn cứ xây dựng chương trình tiếng Việt

- Sự biến đổi của kinh tế và xã hội nước ta trong giai đoạn công nghiệp hóa, hiện

đại hóa đất nước theo đường lối Đại hội Đảng lần thứ VIII và IX

- Các thành tựu hiện đại nghiên cứu ngôn ngữ và tiếng Việt về mặt hệ thống và thực hiện chức năng giao tiếp

- Các kinh nghiệm và thành tựu của việc dạy tiếng trên thế giới và khu vực

- Các thành tựu và kinh nghiệm dạy tiếng Việt trong mấy chục năm qua, đặc biệt thành tựu và kinh nghiệm của các chương trình dạy tiếng Việt

2 Các định hướng lớn:

2.1 Dạy tiếng Việt thông qua hoạt động giao tiếp

2.2 Tận dụng những kinh nghiệm sử dụng tiếng Việt của học sinh

2.3 Vận dụng quan điểm tích hợp trong việc dạy tiếng Việt

- Tích hợp dạy tiếng Việt với dạy tri thức các môn học, dạy tiếng Việt

thông qua dạy các môn học

- Tích hợp dạy tiếng Việt với dạy văn hoá và dạy văn học

II.NHỮNG ĐIỂM MỚi TRONG CHƯƠNGTRÌNH TIẾNG VIỆT BẬCTIỂUHỌC

1 Khẳng định dạy tiếng Việt là dạy cho học sinh sử dụng tiếng Việt hiện đại

để học tập và giao tiếp trong các môi trường hoạt động phù hợp lứa tuổi

- Mấy chục năm qua, trường tiểu học đã dạy tiếng Việt, nhưng quan niệm dạy tiếng Việt có lúc, có nơi chưa đầy đủ, chưa khoa học Vì vậy, trong quan niệm dạy tiếng Việt vẫn còn hạn chế về nội dung và phương pháp dạy

- Tiếng Việt là công cụ tư duy và giao tiếp của cộng đồng dân cư sinh sống trên lãnh thổ Việt Nam Việc giao tiếp bằng tiếng Việt được thực hiện thông qua hai dạng ngôn ngữ: lời nói và chữ viết Dạy sử dụng tiếng Việt là dạy cách dùng tiếng Việt trong

cả hai dạng ngôn ngữ (nói, viết), là dạy cả bốn kĩ năng nghe, nói, đọc, viết, là dạy học sinh cả lĩnh hội và sản sinh các ngôn bản bằng tiếng Việt

- Chương trình sắp xếp việc học đọc, học viết song song với việc học nghe, học nói ở tất cả các lớp Dùng hình thức giao tiếp bằng lời (nghe, nói) làm cơ sở để dạy hình thức giao tiếp bằng chữ (đọc, viết) Sau đó dùng hình thức giao tiếp bằng chữ làm cơ sở

Trang 19

để hoàn thiện hình thức giao tiếp bằng lời và để chuẩn bị cho trẻ em tiếp tục lên bậc học cao hơn

- Dạy các em sử dụng tiếng Việt để giao tiếp và học tập cần chú trọng cả hai phương diện: Dạy học sinh lĩnh hội (hiểu) được lời nói, bài viết có sẵn và lời nói, bài viết trong hoàn cảnh giao tiếp tự nhiên, trong các cuộc hội thoại và độc thoại hàng ngày Mặt khác còn dạy học sinh diễn đạt rõ ràng, chính xác ý nghĩ, tình cảm, nhận thức… của các em bằng lời nói và chữ viết

2 Dạy kĩ năng sử dụng tiếng Việt trên cơ sở các tri thức sơ giản về cấu trúc

hệ thống và sử dụng tiếng Việt trong giao tiếp

2.1 Chương trình tiếng Việt yêu cầu dạy cả bốn kĩ năng nghe, nói, đọc, viết song song từ lớp 1 đến lớp 5

Chương trình mỗi lớp đều trình bày các yêu cầu dạy của bốn kĩ năng Mỗi kĩ năng đều sắp xếp để có sự phát triển dần từ lớp dưới lên lớp trên Các yêu cầu luyện tập

kĩ năng ở từng lớp sẽ được chi tiết hoá và lượng hoá trong văn bản Chuẩn kiến thức và

kĩ năng

2.2 Dạy kĩ năng nghe, nói trong độc thoại và hội thoại

- Dạy nghe các loại văn bản phù hợp với trình độ học sinh tiểu học, tập trung vào dạy nghe hiểu (nghe ghi nhớ và ghi chép được nội dung văn bản, nghe tóm tắt được văn bản, nghe hiểu được nội dung trình bày trong văn bản…)

Dạy nghe trong hội thoại gắn với sinh hoạt ở tiểu học (nghe nhớ được lời người nói, hiểu nội dung lời nói, bước đầu nhận biết thái độ tình cảm người nói qua nội dung, giọng điệu, điệu bộ…)

- Dạy nghe trong hội thoại: Dạy các nghi thức lời nói trong giao tiếp thông thường, giao tiếp nghi thức trang trọng, giao tiếp trong sinh hoạt ở trường tiểu học và dạy cách trao đổi, bàn bạc một vấn đề thông thường

Dạy nói thành bài để giới thiệu về bản thân, gia đình, bạn bè, lớp học, trường học, về

xã hội… với một người khác (bạn mới quen, khách đến thăm gia đình, trường học…)

2.3 Dạy kĩ năng đọc, kĩ năng viết tất cả các loại văn bản

- Dạy đọc: chú ý các phương diện sau:

Đọc thành tiếng: luyện đọc trơn đến đọc lưu loát thành thạo

Luyện đọc thầm

Luyện đọc diễn cảm

Luyện đọc hiểu các loại văn bản nghệ thuật, hành chính, báo chí, khoa học… phù hợp với trình độ học sinh tiểu học (tóm tắt được đoạn văn, tập tìm được ý chính, chia đoạn, tập nhận xét về một số chi tiết, hình ảnh, nhân vật, từ ngữ trong bài tập đọc, tập nhận biết các mối quan hệ giữa các thông tin trong bài đọc…)

Trang 20

Học thuộc lòng một số bài thơ hay

Học cách sử dụng từ điển, đọc các kí hiệu, các số liệu trên sơ đồ, biểu đồ bản hiệu… Tập ghi chép khi đọc

- Dạy viết

Dạy viết chữ rõ ràng, đúng mẫu đến viết nhanh và đẹp

Dạy viết đúng chính tả với các hình thức luyện tập phong phú (tập chép ,tập nghe viết, làm bài tập chính tả, học qui tắc chính tả, lập sổ tay chính tả…)

Yêu cầu viết đúng chính tả là một yêu cầu cần đạt khi kết thúc bậc tiểu học

Dạy viết bài văn (Gồm các loại văn bản thông thường: thư từ, đơn từ, điện báo, thông báo và các loại văn bản nghệ thuật : miêu tả, kể chuyện…)

2.4 Dạy kiến thức tiếng Việt

- Chương trình yêu cầu cung cấp các kiến thức sơ giản phù hợp với học sinh tiểu học về các lĩnh vực: ngữ âm và chữ viết, từ ngữ, ngữ pháp, văn bản; kiến thức sử dụng tiếng Việt trong giao tiếp; kiến thức về văn học (Một thể thơ thông dụng, nhân vật, đề tài ,lời

kể trong chuyện…)

- Ở các lớp 1,2,3 không có tiết riêng dạy kiến thức tiếng Việt cho học sinh Các kiến thức về tiếng Việt trình bày trong văn bản chương trình dùng làm cơ sở biên soạn sách giáo khoa, không đưa các kiến thức lí thuyết này dạy trực tiếp cho học sinh mà chủ yếu cho các em làm quen và nhận biết chúng thông qua các bài thực hành kĩ năng

Từ lớp 4 trở đi mới có tiết riêng dạy kiến thức tiếng Việt Kiến thức được dạy trong các tiết lí thuyết là kiến thức sơ giản về tiếng Việt và văn học Chúng được hình thành trên cơ sở các bài thực hành, luyện tập nhằm ý thức hoá những hiểu biết đã đạt được ở các lớp trước

3 Dạy tiếng Việt gắn với đời sống , với thực tiễn sử dụng tiếng Việt ở gia đình, nhà trường và xã hội

- Chương trình nhấn mạnh tinh thần thực hành giao tiếp, chú trọng dạy tiếng Việt qua các tình huống giao tiếp Học sinh được rèn luyện các kĩ năng tiếng Việt trong các hoàn cảnh giao tiếp chính thức và không chính thức ở gia đình, nhà trường, xã hội… có đề tài phù hợp sinh hoạt lứa tuổi

- Quan niệm về ngữ liệu sử dụng để học tiếng Việt có những thay đổi quan trọng Chương trình qui định ngữ liệu sử dụng dạy tiếng Việt cần được trích từ nhiều loại văn bản khác nhau (văn bản hành chính, báo chí, nghị luận, khoa học…), đồng thời cần dạy cách sử dụng tiếng Việt không chỉ để làm các bài văn mang tính nghệ thuật (miêu tả, kể chuyện…) mà còn để làm các loại văn bản khác trong đó có các loại văn bản thông thường, nhật dụng

Trang 21

4 Chú trọng yêu cầu tích hợp trong dạy tiếng Việt

Trước tiên là sự tích hợp trong việc rèn luyện các kĩ năng tiếng Việt Mỗi loại bài học có một kĩ năng trọng tâm cần rèn luyện (tập viết rèn kĩ năng viết chữ, tập đọc rèn kĩ năng đọc…) nhưng vẫn kết hợp rèn luyện các kĩ năng khác (dạy tập đọc cần kết hợp dạy cả kĩ năng nghe, nói, viết…) chương trình nhấn mạnh kết hợp dạy học tiếng Việt khi học các môn học khác, nhấn mạnh yêu cầu lồng ghép, kết hợp vào ngữ liệu học tiếng Việt về các nội dung tự nhiên và xã hội, văn hoá và khoa học, các vấn đề cộng đồng quốc tế đang quan tâm… phù hợp với nhận thức của học sinh tiểu học Chương trình đặc biệt chú trọng kết hợp dạy tiếng Việt với dạy văn hoá và dạy văn chương Chương trình đề ra yêu cầu giáo dục các em văn hoá giao tiếp bằng tiếng Việt (thông qua việc học các nghi thức lời nói, tình huống giao tiếp Thông qua trích đoạn các tác phẩm văn chương có giá trị nghệ thuật cao của văn học Việt Nam, học sinh vừa tiếp thu tinh hoa của tiếng Việt vừa đựơc tiếp nhận truyền thống của nhân văn, các giá trị cao đẹp của dân tộc kết tinh trong tác phẩm đó)

5 Chương trình cấu trúc theo giai đoạn

Nội dung chương trình được thiết kế theo hai giai đoạn nhằm phù hợp với đặc điểm nhận thức của học sinh Giai đoạn thứ nhất dành cho các lớp1,2,3

Giai đoạn này, tập trung học các kĩ năng đọc, viết và phát triển các kĩ năng nghe, nói nhằm đạt các yêu cầu cơ bản sau: Đọc thông thạo và hiểu đúng một văn bản ngắn, viết rõ ràng và đúng chính tả các chữ thông thường, thông qua thực hành biết được một số kiến thưc sơ giản về từ và câu

Giai đoạn thứ hai dành cho học sinh lớp 4 và 5 Nội dung ở giai đoạn này một mặt phát triển các kĩ năng nghe và đọc, viết, nói ở mức có ý thức cao hơn; mặt khác trang bị cho học sinh một số kiến thức sơ giản về tiếng Việt, trong đó chủ yếu là những kiến thức về từ và câu để đọc, viết, nghe, nói tốt hơn Yêu cầu cơ bản học sinh đạt được

trong giai đoạn này là: Hiểu nội dung và bước đầu biết đọc diễn cảm một văn bản ngắn, biết viết bài văn ngắn theo đúng qui định, biết nói ngắn về một đề tài quen thuộc, biết vận dụng một số kiến thức sơ giản về từ và câu để đọc, viết, nghe, nói hiệu quả

III Quan điểm biên soạn bộ sách:

1 Quan điểm dạy giao tiếp:

Để thực hiện mục tiêu "hình thành và phát triển ở học sinh kĩ năng sử dụng

tiếng Việt (nghe, nói, đọc,viết ) để học tập và giao tiếp trong môi trường hoạt động lứa tuổi ", môn Tiếng Việt bậc tiểu học lấy nguyên tắc dạy giao tiếp làm định hướng cơ

bản HS được đặt vào các tình huống giao tiếp để có dịp tự bộc lộ và tự điều chỉnh các hoạt động lời nói của mình Tiếng mẹ đẻ được hình thành tự nhiên qua giao tiếp Nhà trường tạo ra những tình huống giao tiếp chọn lọc để trẻ phát triển ngôn ngữ nhanh hơn Quan điểm dạy học giao tiếp được thể hiện cả trên hai phương diện nội dung và phương pháp dạy học

- Về nội dung, bộ sách tiếng Việt tiểu học dạy HS từ những nghi thức lời nói như chào hỏi, cảm ơn, xin lỗi, đồng ý, không đồng ý, từ chối…đến các kĩ năng làm việc và giao tiếp cộng đồng như lập danh sách lớp , tra mục lục sách, đọc thời khoá biểu, lập thời

Trang 22

gian biểu, viết thư, viết thiệp mời , gọi điện thoại, làm đơn khai lí lịch, điền vào những giấy tờ cần thiết, phát biểu và điều khiển cuộc họp làm báo cáo…

- Về phương pháp dạy học, các kĩ năng nói trên được thông qua nhiều bài tập mang tính tình huống, phù hợp với những tình huống giao tiếp tự nhiên

Cũng như bộ sách giáo khoa tiếng Việt cải cách giáo dục, bộ sách giáo khoa tiếng Việt tiểu học mới tổ chức rèn luyện kĩ năng sử dụng tiếng Việt cho học sinh thông qua

các phân môn Tập đọc, Luyện từ và câu, Tập viết, Chính tả, Kể chuyện và Tập làm

văn

Phân môn Tập đọc rèn cho học sinh các kĩ năng đọc (đọc thành tiếng, đọc thầm và đọc diễn cảm), nghe và nói Bên cạnh đó, thông qua hệ thống bài đọc theo chủ điểm và những câu hỏi, những bài tập khai thác nội dung bài đọc, phân môn Tập đọc cung cấp cho HS những hiểu biết về tự nhiên, xã hội và con người, cung cấp vốn từ, vốn diễn đạt, những hiểu biết về tác phẩm văn học (như đề tài, cốt truyện, nhân vật…) và góp phần rèn luyện nhân cách cho học sinh

Phân môn Luyện từ và câu (ở SGK Tiếng Việt tiểu học cải cách giáo dục là Từ ngữ - Ngữ pháp ) cung cấp kiến thức về tiếng Việt (sơ giản theo phương pháp qui nạp ) và rèn

luyện kĩ năng dùng từ, đặt câu (nói, viết), kĩ năng đọc cho học sinh

Phân môn Chính tả rèn các kĩ năng viết, nghe và đọc Trong giờ chính tả, nhiệm vụ của học sinh là viết một đoạn văn (nhìn - viết, nghe - viết, nhớ - viết) và làm bài tập chính tả, qua đó rèn luyện cho HS các kĩ năng sử dụng ngôn ngữ Ngoài ra các bài chính tả còn cung cấp cho HS vốn từ, vốn hiểu biết về các mảng khác nhau của đời sống

Phân môn Tập viết chủ yếu rèn kĩ năng viết chữ mà trọng tâm là rèn bộ chữ viết hoa Phân môn Kể chuyện rèn kĩ năng nghe nói và đọc Trong giờ kể chuyện, HS được tập

kể lại những câu chuyện phù hợp với chủ điểm mà các em đã đọc (trong các sách giáo khoa hoặc các sách khác ); nghe thầy cô hoặc bạn kể rồi kể lại bằng lời của mình, trả lời câu hỏi hoặc ghi lại những chi tiết chính của câu chuyện đó

Phân môn Tập làm văn rèn cả bốn kĩ năng nghe, nói, viết, và đọc Trong giờ tập làm văn HS được cung cấp các kiến thức về cách làm bài và làm các bài tập (nói, viết, xây dựng các loại hình văn bản và các bộ phận cấu thành của văn bản)

2 Quan điểm tích hợp

Tích hợp là tập trung nhiều mảng kiến thức, kĩ năng ở một đơn vị bài học nhằm tạo hiệu quả truyền đạt cao cho học sinh Quan điểm tích hợp giải quyết được vấn đề truyền thụ nhiều kiến thức trong quỹ thời gian có hạn

2.1 Tích hợp theo chiều ngang

Tích hợp theo chiều ngang là tích hợp kiến thức tiếng Việt với các mảng kiến

thức về văn học, thiên nhiên, xã hội và con người theo nguyên tắc đồng qui

Trang 23

Bộ sách tiếng Việt tiểu học thực hiện mục tiêu tích hợp nói trên thông qua hệ

thống các chủ điểm học tập Bằng việc tổ chức các hệ thống bài đọc, bài học theo chủ

điểm, SGK hướng dẫn HS đi dần vào các lĩnh vực của đời sống, qua đó tăng cường vốn

từ, vốn diễn đạt của các em về nhà trường, gia đình và xã hội, đồng thời cũng mở cánh cửa cho các em bước vào thế giới xung quanh và soi vào thế giới tâm hồn của chính mình

Theo quan điểm tích hợp, các phân môn (Tập đọc, Kể chuyện, Chính tả, Tập viết, Luyện từ và câu, Tập làm văn) trước đây ít gắn bó với nhau, nay được tập hợp xung quanh trục chủ điểm và các bài đọc, đồng thời các nhiệm vụ cung cấp kiến thức và rèn luyện kĩ năng cũng gắn bó chặt chẽ với nhau hơn trước

2.2 Tích hợp theo chiều dọc

Tích hợp theo chiều dọc nghĩa là tích hợp ở một đơn vị kiến thức và kĩ năng mới với những kiến thức kĩ năng đã học trước đó theo nguyên tắc đồng tâm (còn gọi là đồng trục hay vòng tròn xoáy trôn ốc) Cụ thể là: kiến thức và kĩ năng của lớp trên, bậc học trên bao hàm kiến thức và kĩ năng của lớp dưới, bậc học dưới nhưng cao hơn, sâu hơn kiến thức và kĩ năng của lớp dưới, bậc học dưới Có thể lấy một vài ví dụ sau:

- Trong bộ SGK tiểu học mới, chủ điểm được chọn làm khung cho cả cuốn sách Mỗi chủ điểm ứng với một đơn vị học Ở lớp 1 giai đoạn sau học chữ (luyện tập tổng hợp), thời gian dành cho mỗi đơn vị học là một tuần ; các chủ điểm lần lượt trở đi trở lại theo kiểu đồng tâm xoáy trôn ốc; mỗi lần trở lại là một lần được khai thác sâu hơn Từ lớp 2 đến lớp 3, mỗi chủ điểm được dạy trong hai tuần; vòng đồng tâm xoáy trôn ốc ở đây thưa hơn: phải sau một năm, HS mới trở lại với chủ điểm đã học Đến lớp 4 và lớp 5, mỗi chủ điểm được dạy trong 3 tuần và xuất hiện một lần

Về nội dung, ở cả 3 lớp đầu cấp, toàn bộ các bài học đều được xây dựng theo các chủ điểm Nhà trường, Gia đình, Xã hội và Thiên nhiên Các chủ điểm ở lớp 4 phản ánh những phương diện khác nhau của con người, như lòng nhân hậu, tính trung thực, đức kiên trì, tinh thần dũng cảm, óc thẩm mĩ, khiếu hài hước, những năng lực, ước mơ

và ham thích của con người (yêu cái đẹp, thích vui chơi, thám hiểm, du lịch…) Đến lớp

5 lớp học cuối cấp, các bài học có nội dung xoay quanh những vấn đề lớn đặt ra cho đất nước, dân tộc và toàn thể loài người như bảo vệ tổ quốc, bảo vệ hoà bình, vun đắp tình hữu nghị giữa các dân tộc, chinh phục thiên nhiên, bảo vệ môi trường, xây dựng xã hội văn minh, thực hiện bình đẳng nam nữ, thực hiện quyền trẻ em

Các kĩ năng giao tiếp cũng được đòi hỏi cao dần về mức độ, chẳng hạn: Từ yêu cầu đọc trơn nâng lên đọc thầm, rồi đọc lướt nắm ý, từ yêu cầu giao tiếp đơn giản nâng lên yêu cầu giao tiếp chính thức…

3 Quan điểm tích cực hoá hoạt động học tập của HS

Một trong những nhiệm vụ trọng tâm của đổi mới chương trình và SGK lần này

là đổi mới phương pháp dạy và học SGK có nhiệm vụ thể hiện và tạo điều kiện để thầy,

cô và HS thực hiện phương pháp tích cực hoá hoạt động của người học, trong đó thầy,

cô đóng vai trò người tổ chức các hoạt động của HS, mỗi học sinh đều được hoạt động, đều được bộc lộ mình và phát triển

Trang 24

’Hoạt động của HS trong giờ học môn tiếng Việt bao gồm:

Hoạt động giao tiếp (đặc thù của môn tiếng Việt )

Hoạt động phân tích, tổng hợp, thực hành lí thuyết

Cả hai hoạt động trên của HS có thể được tổ chức theo nhiều hình thức khác nhau :

+ Làm việc độc lập: Làm ở bảng con, giấy nháp theo yêu cầu cụ thể của bài

tập, không yêu cầu khái quát , tổng hợp

+ Làm việc theo nhóm: Khi câu hỏi, bài tập yêu cầu khái quát cao, làm cá nhân

không thể đầy đủ, nếu làm chung cả lớp, không đủ thời gian, ít học sinh được luyện tập

+ Làm việc theo lớp: Trình bày kết quả làm việc độc lập, làm việc theo nhóm ’Hoạt động của giáo viên trong giờ học theo phương pháp dạy học mới:

- Giao việc cho học sinh

ƒ Cho học sinh trình bày yêu cầu của câu hỏi

ƒ Cho học sinh làm mẫu một phần (hoặc giáo viên làm mẫu)

ƒ Tóm tắt nhiệm vụ, dặn dò HS

- Kiểm tra học sinh

ƒ Xem học sinh có làm việc không

ƒ Xem học sinh có hiểu việc phải làm không

ƒ Trả lời thắc mắc của học sinh (GV có thể tác động để HS làm tốt hơn)

- Tổ chức báo cáo kết quả làm việc

¾ Các hình thức báo cáo

ƒ Báo cáo trực tiếp với giáo viên

ƒ Báo cáo trong nhóm

ƒ Báo cáo trước lớp

¾ Các biện pháp báo cáo

ƒ Bằng miệng / bằng bảng con / bằng bảng lớp / bằng phiếu học tập / bằng giấy

ƒ Thi đua giữa các nhóm / trình bày cá nhân

- Tổ chức đánh giá

Trang 25

ƒ Cho điểm (định lượng)

C Sách giáo khoa tiếng Việt

Sách giáo khoa là tài liệu cụ thể hoá những đơn vị tri thức và kĩ năng của chương trình Nội dung và cấu tạo của SGK được xác định bởi nhiệm vụ dạy tiếng Việt

và đặc điểm lứa tuổi của HS Sách giáo khoa tiếng Việt được biên soạn theo hướng đổi mới nhằm tạo điều kiện để tổ chức các hoạt động học tập cho HS, nhất là các hoạt động thực hành, luyện tập SGK Tiếng Việt gồm:

- Sách Tiếng Việt : Mỗi lớp 2 tập, cấu trúc của SGK có thay đổi tuỳ theo khối lớp Ở lớp 1, tập I chủ yếu dạy học vần (âm, chữ cái, vần) Tập II là những bài học vần và phần luyện tập tổng hợp gồm các phân môn: Tập đọc, Chính tả, Kể chuyện, Tập viết Ở lớp 2,3,4,5 các bài học được sắp xếp theo từng tuần học Mỗi tuần gồm các phân môn: Tập đọc, Kể chuyện, Chính tả, Luyện từ và câu, Tập viết, Tập làm văn Từ lớp 4,5 không có tiết tập viết

- Vở tập viết gồm mỗi lớp 2 tập được dùng cho lớp 1,2,3

- Vở bài tập tiếng Việt mỗi lớp 2 tập

- Sách giáo viên mỗi lớp 2 tập, chủ yếu cung cấp cho GV tài liệu tham khảo

Trang 26

A Mục đích yêu cầu

1 Yêu cầu về kiến thức

2 Yêu cầu về kĩ năng

3 Yêu cầu về giáo dục

1.Kiểm tra bài cũ

2 Dạy - học bài mới

3 Củng cố, dặn dò

Câu hỏi

1 Tóm tắt những điểm mới trong chương trình tiểu học

2 Trình bày các quan điểm dạy học tiếng Việt

3 Hoạt động của thầy trò được thể hiện như thế nào khi dạy học tiếng Việt

Trang 27

CHƯƠNG II PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC CÁC PHÂN MÔN

- Những khác biệt thể hiện trên chữ viết đều được lấy làm căn cứ để xây dựng bài học

Ví dụ: Dạy vần ung và ưng trong cùng một bài

Tuy nhiên, việc dạy chữ lại không thể tách rời mặt âm thanh với một đơn vị chữ, sách đều giới thiệu kèm theo một tiếng thực làm tiếng khoá, học sinh hiểu được âm mà chữ thể hiện

2 Nhiệm vụ

2.1 Giúp cho các em nắm được một cách có hệ thống các âm vị trong tiếng

Việt (nguyên âm, phụ âm, thanh điệu), nắm được các dạng chữ ghi âm: a,b,c…các dấu ghi thanh một cách có hệ thống, thuộc bảng chữ cái tiếng Việt

2.2 Giúp các em biết ghép âm thành vần, nắm được vị trí các âm trong vần:

biếtghép các phụ âm đầu với vần tạo thành tiếng, đọc, viết được các tiếng đó

2.3 Biết đọc đúng chính âm, viết đúng chính tả các âm và vần, biết đọc các từ,

câu, đoạn văn, thơ trong bài học, được tập nói những câu đơn giản theo tranh có nội dung gần gũi với trẻ

2.4 Rèn cả 4 kĩ năng sử dụng tiếng Việt, nhưng vẫn nhấn mạnh cho việc dạy

kĩ năng đọc, viết

II CHƯƠNG TRÌNH VÀ SÁCH GIÁO KHOA

1 Chương trình: Cả năm học có 35 tuần

Trang 28

- Phần 2: Tập đọc (12 tuần) ,1 tuần ôn thi

2 Sách giáo khoa Tiếng Việt 1 (tập 1 và tập 2)

- SGK phần 1: 6 bài đầu dành cho việc làm quen với chữ cái e, b, các dấu thanh và cấu trúc tiếng dạng đơn giản nhất

- SGK phần 2 : 25 bài tiếp theo dành cho việc học các chữ cái, âm, cấu trúc tiếng có vần

2.1 Cấu trúc bài học vần

- Trang thứ nhất ( số chẵn)

+ Các đơn vị chữ của bài (âm học vần )

+Tiếng chứa các đơn vị chữ

+ Hình ảnh minh hoạ từ chứa tiếng, chứa đơn vị chữ

+ Từ chứa tiếng, chứa đơn vị chữ

+ Từ ứng dụng chứa đơn vị vừa học

+ Thể hiện chữ viết thường của đơn vị chữ vừa học

- Trang thứ hai(số lẻ)

- Tranh minh hoạ câu (đoạn) chứa đơn vị chữ vừa đọc

- Chủ đề luyện nói

Trang 29

- Tranh minh hoạ chủ đề luyện nói

2.2 Cấu trúc bài ôn tập :

- Trang thứ nhất

+ Tranh minh hoạ chứa tiếng, chứa đơn vị mẫu

+ Mô hình chứa đơn vị mẫu học trong tuần (âm, vần)

+ Bảng kết hợp ôn tập cùng loại

+ Thể hiện chữ viết thường của đơn vị cùng lọai

- Trang thứ hai

+ Tranh minh hoạ cho câu (đoạn) ứng dụng

+ Câu (đoạn) ứng dụng chứa các tiếng có âm - vần cùng loại vừa chọn

+ Truyện kể (GV kể cho học sinh nghe)

+ Tranh minh hoạ cho truyện kể

III CƠ SỞ KHOA HỌC

1 Cơ sở tâm lí học

1.1 Sự hình thành hoạt động học tập ở trẻ lớp 1

Bước vào lớp 1, trẻ phải thực hiện một loạt hoạt động có ý thức mới mẻ như đến lớp các em phải ngồi nghe bài, phải học bài, các em làm theo các yêu cầu của GV… Những thay đổi đó làm các em thường rụt rè, bỡ ngỡ GV cần phải chú ý tạo động cơ học tập một cách nhẹ nhàng, giúp các em hứng thú với việc học vần Mặt khác lại cần

có phương pháp giảng dạy thích hợp

1.2 Đặc điểm hoạt động nhận thức của trẻ lớp 1

Bước vào tuổi đi học, tri giác của HS lớp 1 đã khá phát triển so với tuổi mẫu giáo nhưng chủ yếu vẫn mang tính chất nhận biết tổng quát Vì vậy, GV cần coi trọng khâu hướng dẫn HS phân tích tiếng, vần, chữ…Sau khi cho các em tri giác toàn bộ các

từ, tiếng… Đây là cơ sở khoa học giải thích phương pháp tổng - phân - hợp trong dạy học vần

Ngoài ra, trẻ thích tìm hiểu cái mới, ưa họat động, khả năng tập trung chú ý còn yếu, GV cần tận dụng các phương pháp trực quan, đàm thoại, trò chơi học tập để thu hút

sự chú ý của HS

Trang 30

2 Cơ sở ngôn ngữ

- Tiếng Việt là ngôn ngữ đơn lập, là một tổ hợp âm thanh có tổ chức chặt chẽ, ranh giới các âm tiết được thể hiện rõ ràng Vì vậy dễ dàng nhận ra âm đầu, vần, thanh điệu của các âm tiết

- Chữ viết tiếng Việt là chữ ghi âm Do đó việc dạy chữ cho HS có nhiều thuận lợi.Tuy vậy, chữ viết tiếng Việt có khi một âm được ghi bằng nhiều con chữ, một tiếng có nhiều địa phương phát âm khác nhau Vì vậy đã gây ra sự lẫn lộn, nhầm lẫn khi học chữ

IV NGUYÊN TẮC DẠY HỌC VẦN

1 Nguyên tắc phát triển lời nói

- Phải xem xét các đơn vị ngôn ngữ trong hoạt động hành chức: âm/vần được thể hiện trong tiếng, tiếng trong từ, từ trong câu

- Việc lựa chọn và sắp xếp nội dung dạy học phải lấy giao tiếp làm đích Các bài được sắp xếp theo trật tự từ dễ đến khó: bắt đầu là làm quen với chữ cái, dấu thanh và bài dạy vần có 1 âm, tiến tới các bài vần có nhiều âm…

- Phải tổ chức tốt hoạt động nói năng cho học sinh để dạy tiếng Việt Trong chương trình Học vần, từ bài đầu tiên đến bài cuối cùng, các bài học đều được biên soạn theo hướng tích cực hoá, hoạt động của học sinh, rèn luyện cả 4 kĩ năng: nghe, nói, đọc, viết

2 Nguyên tắc phát triển tư duy

- Phải chú ý rèn luyện các thao tác tư duy và bồi dưỡng các năng lực, phẩm chất tư duy cho học sinh như so sánh, đối chiếu, phân tích, tổng hợp…Trong chương trình Học vần,

các bài dạy âm-vần mới có nội dung tổng hợp các âm thành vần, vần với âm đầu, thanh

điệu thành tiếng Nội dung phân tích tiếng thành âm, vần, thanh,…các thao tác so sánh điểm khác biệt giữa các âm, vần, tiếng, làm cho năng lực và phẩm chất tư duy của học sinh được phát triển

- Phải làm cho học sinh thông hiểu ý nghĩa của các đơn vị ngôn ngữ, nắm được nội dung cần nói viết và tạo điều kiện để các em thể hiện bằng phương tiện ngôn ngữ Trong các bài học có những từ ngữ giáo viên phải dùng biện pháp thích hợp để giúp học

sinh hiểu nghĩa từ Chẳng hạn, giải thích từ phá cỗ cho học sinh miền Nam, từ chim ngói, ruộng bậc thang cho học sinh thành phố…

3 Nguyên tắc tính đến đặc điểm của học sinh trong phân môn Học vần

- Cần nắm vững đặc điểm tâm lí lứa tuổi Học sinh lớp Một khả năng tập trung chú ý, khả năng tổng hợp khái quát chưa cao, tư duy cụ thể là chủ yếu Vì thế, cần thay đổi linh họat hình thức hoạt động trí tuệ, xen kẽ hoạt động trò chơi nhằm phát huy tính tích cực cho trẻ

- Cần chú ý tính vừa sức trong dạy Học vần, tìm hiểu trình độ tiếng Việt của học sinh để giao nhiệm vụ học tập phù hợp Cần tận dụng những kinh nghiệm lời nói của các em vào việc học đọc, học viết tiếng Việt

Trang 31

V PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC VẦN

Vận dụng linh hoạt nhiều phương pháp, nhiều hình thức dạy học nhằm phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh Phương pháp đặc biệt chú trọng là: miêu tả, giảng giải, hỏi đáp, quan sát, sử dụng đồ dùng trực quan, rèn luyện theo mẫu, thực hành giao tiếp, trò chơi học tập

1 Phương pháp trực quan

Phương pháp này đòi hỏi HS phải được quan sát vật thật, tranh ảnh… và cả việc làm mẫu của GV GV hướng dẫn HS quan sát để nhận ra nội dung kiến thức cần nhận biết

- Cách dạy :

Hướng dẫn học sinh xem tranh ảnh, vật thật hay mô hình gắn với nội dung từ khoá,

từ ngữ ứng dụng Cho các em nghe giọng đọc, nhìn khuôn miệng của giáo viên khi phát

âm, đánh vần mẫu

- Tác dụng :

Phương pháp này được sử dụng nhiều trong bước giới thiệu bài mới, bước luyện tập

Sử dụng PPDH này GV sẽ giúp các em tiếp thu kiến thức nhanh hơn, dễ dàng hơn, củng

cố âm vần mới sâu sắc hơn Giáo viên tiết kiệm được lời giảng mà giờ dạy vẫn sinh động, hứng thú hơn

2 Phương pháp phân tích ngôn ngữ

Phương pháp này được sử dụng trong dạy học vần thực chất là phương pháp tách các hiện tượng ngôn ngữ theo các cấp độ : từ - tiếng - vần Sau đó tổng hợp lại tức là ghép các yếu tố ngôn ngữ đã tách trở lại dạng ban đầu

Trang 32

- Tách tiếng rước Hỏi tiếng mới trong từ trên Sau khi học sinh phát hiện được, lấy bìa che tiếng đã biết ( đèn ) chỉ để lại tiếng mới

- Tách vần ươc : dùng bìa che tiếng đèn hỏi tiếng mới học Che phụ âm đầu r, tách vần ươc ( vần ươc do âm ươ ghép c, âm c đứng cuối vần )

- Sau đó đọc tổng hợp lại : âm đến vần - tiếng - từ ( ư - ơ - c Æ ươc,

rờ - ươc - rươc - sắc - rước Æ rước đèn Cuối cùng cho học sinh đọc trơn vần, tiếng

và từ

- Tác dụng :

Học sinh nắm chắc bài học, tiếp thu kiến thức có hệ thống một cách chủ động Tiết học sinh động

3 Phương pháp thực hành giao tiếp

Sử dụng phương pháp này trong dạy học vần đòi hỏi GV chú trọng dạy cả 4 kĩ năng nghe, nói, đọc, viết nhằm từng bước giúp HS nhận biết quy tắc sử dụng tiếng Việt trong thực tiễn giao tiếp và vận dụng ngay những điều được học vào thực tế sử dụng ngôn ngữ của bản thân

4 Phương pháp tổ chức trò chơi học tập

Đó là một dạng hoạt động học tập được tiến hành thông qua các trò chơi Thực chất trò chơi ở đây là trò chơi có mục đích.Thực hiện phương pháp này đòi hỏi GV tổ chức hoạt động học tập của HS thông qua các trò chơi

- Cách dạy :

-Trò chơi có thể tiến hành sau khi HS đã học bài mới, hoặc sau phần luyện tập Tuỳ theo bài dạy và mục đích “chơi” giáo viên sử dụng linh hoạt các trò chơi

Trang 33

- Trò chơi có thể bằng vật thật (trực quan), học sinh sử dụng thao tác tay chân, bằng biểu tượng, lời…

Chẳng hạn : chơi đố chữ, thi tìm âm - vần vừa học (chỉ đúng- nhanh), thi ghép vần, hái hoa dân chủ, bốc thăm, truyền điện …

Tiết 1

I - Kiểm tra bài cũ

II - Dạy - học bài mới

1 Giới thiệu bài

2 Dạy chữ ghi âm hoặc dấu ghi thanh mới (trọng tâm)

2.1 Cho học sinh nhận dạng chữ ghi âm, dấu ghi âm thanh mới

2.2 Cho học sinh phát âm và đánh vần tiếp

- GV phát âm mẫu HS chú ý cách phát âm của GV

- GV chỉ bảng cho từng học sinh tập phát âm nhiều lần và GV sửa lỗi cho những học sinh phát âm chưa đúng

2.3 Hướng dẫn viết chữ trên bảng con

- GV vừa viết mẫu trên bảng lớp, hướng dẫn quy trình viết

- HS viết vào bảng con

- GV nhận xét, sửa lỗi cho HS

Tiết 2

3 Luyện tập

3.1 Luyện tập âm mới: luyện đọc theo nhiều hình thức (cá nhân, nhóm, cả lớp)

3.2 Luyện viết chữ âm, dấu ghi thanh mới :Ở 6 bài đầu việc rèn kĩ năng viết, mới dừng ở yêu cầu tập tô theo nét chữ mới học trong vở Tập viết 1, Tập 1 và vở bài tập

Trang 34

tiếng Việt 1, tập 1 GV cần dành thời gian hướng dẫn HS tư thế ngồi, cách giữ vở, cầm bút đưa theo nét chữ in sẵn

3.3 Luyện nghe nói: GV hướng dẫn gợi ý theo định hướng bằng các câu hỏi hướng dẫn HS qua các câu trả lời đơn giản, nội dung gần gũi HS

III- Củng cố, dặn dò

Dạng bài thứ hai DẠY HỌC ÂM ,VẦN MỚi

Tiết 1

* DẠY ÂM MỚi

I - Kiểm tra bài cũ

II- Dạy bài mới

1 Giới thiệu bài:

2 Dạy chữ ghi âm:

2./ Cho HS nhận diện chữ

- HS nhận biết chữ ghi âm có mấy nét ? Đó là những nét nào ?

- HS so sánh chữ ghi âm với những đồ vật, sự vật trong thực tế

2.2 Cho Hs phát âm và đánh vần tiếng

+ HS trả lời vị trí của các chữ trong tiếng

+ GV hướng dẫn HS đánh vần tiếng mới

+ HS đánh vần (lớp, nhóm, cá nhân, bàn)

+ GV chỉnh sửa cách đánh vần cho HS

Trang 35

2.3.Hướng dẫn HS viết chữ

- Hướng dẫn viết chữ (chữ đứng riêng)

+ GV viết mẫu lên bảng lớp theo khung ô li phóng to: vừa viết GV vừa hướng dẫn qui trình

+ HS viết vào bảng con

+ GV vừa nhận xét vừa sửa lỗi cho HS

- Cho HS luyện đọc các âm ở tiết 1

+ HS lần lượt phát âm âm và tiếng

+ GV sửa phát âm cho học sinh

- GV hướng dẫn HS hình dáng , đường nét con chữ, quy trình viết

- HS tập viết chữ ghi âm, tiếng mới theo yêu cầu từ thấp đến cao : tập tô, tập viết vào bảng con, tập viết vào vở, nhìn mẫu - viết đúng, nghe đọc- viết đúng, viết đẹp, viết nhanh

3.3 Luyện nói

- HS đọc tên bài luyện nói

- GV có các câu hỏi gợi ý theo tranh HS trả lời các câu hỏi

Trang 36

- Tổ chức trò chơi

III - Củng cố, dặn dò

* DẠY VẦN MỚI

Tiết 1

I - Kiểm tra bài cũ

II - Dạy bài mới

1 Giới thiệu bài

2 Dạy vần mới

2.1 Cho HS nhận diện vần

- GV ghi bảng và hướng dẫn HS về cấu tạo của vần mới

- GV yêu cầu HS tìm vần mới trong bộ chữ cái

- HS tìm vần mới ghép lại và giơ lên cho GV kiểm tra

- GV gọi HS lên phân tích vần mới và so sánh vần mới với vần đã học

2.2 Hướng dẫn HS đánh vần

- GV chỉ bảng, HS nhìn bảng phát âm GV chỉnh sửa

- GV hướng dẫn cho HS đánh vần mới

- GV hướng dẫn cho HS đánh vần các tiếng và từ khoá

- GV ghi bảng từ khoá

2.3 Hướng dẫn HS viết

- Hướng dẫn HS viết vần đứng riêng

+ GV viết mẫu lên bảng

+ HS viết vào bảng con

Trang 37

- Luyện đọc lại vần vừa mới học ở tiết 1( vần mới, từ ngữ ứng dụng)

- Đọc câu ứng dụng trong SGK theo yêu cầu từ dễ đến khó Thực hành đọc bằng nhiều hình thức: cá nhân, nhóm, cả lớp, đọc tiếp nối đọc đồng thanh

3.2.Luyện viết : HS viết vào vở tập viết vần, tiếng, từ

3.3.Luyện nói (theo chủ đề)

- HS đọc tên bài luyện nói

- GV tuỳ trình độ HS có câu hỏi gợi ý theo tranh cho thích hợp

I Kiểm tra bài cũ

II Dạy bài mới

1 Giới thiệu bài

2 Ôn tập

2.1 Các chữ, âm vừa học : GV cho HS lên bảng chỉ các chữ vừa học trong

tuần ở bảng ôn (bảng 1)

- GV đọc âm, HS chỉ chữ

Trang 38

- HS chỉ chữ và đọc âm

2.2 Ghép chữ thành tiếng

- GV cho HS thực hành ghép tiếng có âm đầu đã học ghi ở cột dọc và vần chỉ có nguyên

âm đã học ghi ở dòng ngang

+ GV làm mẫu, sau đó chỉ vào các ô trống, yêu cầu HS đọc đúng các tiếng ghép được trong bảng 1

+ GV chỉnh sửa phát âm cho HS

- GV cho HS thực hành ghép tiếng có nguyên âm ghi ở cột dọc và dấu thanh ghi ở dòng ngang

+ GV chỉnh sửa phát âm cho HS

2.3 Đọc từ ngữ ứng dụng

- HS tự đọc các từ ngữ ứng dụng

- GV chỉnh sửa phát âm cho HS

2.4 GV viết từ ngữ ứng dụng

- HS viết vào bảng con từ ngữ ứng dụng

- GV chỉnh sửa chữ viết cho HS

- HS tập viết vào vở tập viết

Tiết 2

3 Luyện tập

3.1 Luyện đọc: Nhắc lại bài ôn ở tiết trước

+ GV hướng dẫn HS đọc từ dễ đến khó:

+ HS đọc các tiếng trong bảng ôn và từ ngữ ứng dụng theo nhóm, bàn, cá nhân

+ GV chỉnh sửa phát âm cho HS

3.2 Luyện viết

-HS quan sát mẫu chữ viết trong sách giáo khoa

- HS nghe GV đọc để viết vào bảng con và vở tập viết

3.3 Kể truyện gắn với những âm đã học

- Hình thức kể chuyện:

Trang 39

+ GV kể cho HS nghe là chủ yếu

+ HS nhìn tranh minh hoạ trong SGK và nghe GV kể

- GV có thể đặt câu hỏi :

+ Đặt câu hỏi đơn giản về ý nghĩa của chuyện cho HS trả lời

+ Cho HS kể lại từng đoạn theo tranh

III - Củng cố, dặn dò

* BÀI ÔN VẦN

Tiết 1

I- Kiểm tra bài cũ

II- Dạy bài mới

1 Giới thiệu bài

- HS viết vào bảng con

- GV chỉnh sửa chữ viết cho HS (lưu ý : vị trí dấu thanh và các chỗ nối giữa các chữ trong từ )

Tiết 2

3 Luyện tập

3.1 Luyện đọc

Trang 40

- Nhắc lại bài ôn ở tiết trước

- Đọc câu ứng dụng

3.2.Luyện viết và làm bài tập (nếu có)

HS tập viết nốt các từ còn lại vào vở tập viết

3.3 Kể chuyện

III - Củng cố, dặn dò

Câu hỏi

1 Nghiên cứu sách giáo khoa để nhận xét về cấu trúc từng loại bài

2 Trình bày nhiệm vụ, phương pháp dạy học vần

3 Nêu quy trình dạy các kiểu bài

4 Soạn và tập giảng bài dạy âm và bài dạy vần, bài ôn

5 Tập viết chữ in thường để trình bày bảng tiết học vần

Ngày đăng: 15/04/2021, 19:37

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w