1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Văn học việt nam giai đoạn 1930 1945

189 62 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 189
Dung lượng 1,86 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tài liệu Văn học Việt Nam giai đoạn 1930 -1945 được viết nhằm vào những mục đích sau đây: - Cung cấp cho sinh viên những kiến thức cơ bản về văn học giai đoạn này, giúp sinh viên bước đầ

Trang 1

MỤC LỤC

W X

Lời nói đầu 2

Phần 1: Giới thiệu chung về tài liệu giảng dạy 3

Phần 2: Nội dung 6

Chương I: Cơ sở lịch sử xã hội và những vấn đề khái quát

của Văn học Việt Nam giai đoạn 1930 -1945 6

Chương II: Bộ phận văn học hợp pháp 19

Khái quát xu hướng văn học lãng mạn 1930 -1945 Chương III: Phong trào Thơ mới 29

Chương IV: Xuân Diệu 42

Chương V: Tiểu thuyết Tự lực văn đoàn 56

Chương VI: Một vài hiện tượng đặc biệt của trào lưu văn học lãng mạn 1930 -1945 66

Chương VII:Bộ phận văn học hợp pháp 87

Khái quát văn học hiện thực phê phán 1930 -1945 Chương VIII: Nguyễn Công Hoan 96

Chương IX: Vũ Trọng Phụng 114

Chương X: Ngô Tất Tố 131

Chương XI: Nam Cao 142

Chương XII: Bộ phận văn học bất hợp pháp 160

Khái quát văn học cách mạng vô sản 1930 -1945 Chương XIII: Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh 172

Tài liệu tham khảo 188

Trang 2

LỜI NÓI ĐẦU

W X

Văn học Việt Nam giai đoạn 1930 – 1945 là một chặng đường hết sức quan trọng

trong tiến trình vận động, phát triển của lịch sử văn học Việt Nam Những thành tựu của

nó rất phong phú và có ý nghĩa sâu sắc đối với đời sống văn học hôm nay Hầu hết

những cây bút tiêu biểu của văn học giai đoạn này đã trở thành tên tuổi lớn của nền văn

học Việt Nam hiện đại như Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh, Tố Hữu, Xuân Diệu, Chế

Lan Viên, Nguyễn Tuân, Nguyên Hồng, Nam Cao, Tô Hoài…

Văn học Việt Nam giai đoạn 1930 – 1945 cũng là một học phần quan trọng trong

chương trình văn học chuyên ngành Ngữ văn Nó cung cấp cho sinh viên những kiến

thức cơ bản về một giai đoạn văn học của nền văn học Việt Nam hiện đại Nó cũng giúp

cho sinh viên hiểu được những sự kiện văn học nổi bật của giai đoạn này cũng như đặc

điểm của từng bộ phận và xu hướng văn học: văn học lãng mạn, văn học hiện thực, văn

học cách mạng

Tài liệu này được biên soạn nhằm phục vụ yêu cầu học tập của sinh viên Đại học

và Cao đẳng ngành Ngữ văn, khoa Sư phạm, trường Đại học An Giang Bạn đọc ngoài

chuyên ngành cũng có thể đọc để tìm hiểu một giai đoạn văn học quan trọng trong tiến

trình phát triển của văn học dân tộc

Tài liệu gồm hai phần với mười ba chương:

Phần thứ nhất: Giới thiệu chung về tài liệu giảng dạy

Phần thứ hai: Nội dung tài liệu giảng dạy với 13 chương gồm các phần:

- Giới thiệu những vấn đề khái quát của văn học Việt Nam giai đoạn 1930 – 1945

- Giới thiệu khái quát về những xu hướng, bộ phận văn học tiêu biểu: bộ phận văn

học công khai (xu hướng văn học lãng mạn và hiện thực) và bộ phận văn học không

công khai (văn học cách mạng)

- Những sự kiện văn học quan trọng và những tác giả, tác phẩm tiêu biểu

Tài liệu được biên soạn không tránh khỏi những hạn chế, sai sót Rất mong nhận

được những ý kiến đóng góp của quí đồng nghiệp và bạn đọc gần xa

Người biên soạn

Trang 3

PHẦN 1: GIỚI THIỆU CHUNG VỀ TÀI LIỆU GIẢNG DẠY

W X

A GIỚI THIỆU TÀI LIỆU

Lịch sử văn học Việt Nam trải qua nhiều thời kỳ, mỗi thời kỳ có một vị trí, một

vai trò quan trọng, góp phần vào sự phát triển và hoàn thiện nền văn học Văn học Việt

Nam giai đoạn 1930 -1945 là một chặng đường hết sức quan trọng trong tiến trình vận

động, phát triển của lịch sử văn học Việt Nam Những hiện tượng văn học giai đoạn này

có ý nghĩa rất quan trọng góp phần làm nên thành tựu nổi bật của văn học Việt Nam

hiện đại Do đó việc nắm vững kiến thức cơ bản của văn học giai đoạn này là điều hết

sức cần thiết đối với sinh viên chuyên ngành Ngữ văn

Tài liệu Văn học Việt Nam giai đoạn 1930 -1945 được viết nhằm vào những mục

đích sau đây:

- Cung cấp cho sinh viên những kiến thức cơ bản về văn học giai đoạn này, giúp

sinh viên bước đầu nắm được những đặc điểm chung về lịch sử, xã hội, văn hóa của giai

đoạn, những hiện tượng, sự kiện, tác giả tiêu biểu góp phần quan trọng cho tiến trình

phát triển nền văn học dân tộc theo hướng hiện đại Từ đó, sinh viên sẽ thấy được vị trí,

vai trò của văn học 1930 -1945 trong bức tranh chung của văn học Việt Nam hiện đại

- Tài liệu giảng dạy Văn học Việt Nam giai đoạn 1930 -1945 (so với tài liệu đã

biên soạn 2005) bên cạnh một số điểm không thay đổi (sự sắp xếp các chương mục,

chọn lựa các vấn đề trong phần trình bày về tác giả, tác phẩm, hiện tượng, sự kiện đặc

biệt…) đã được bổ sung ít nhiều điểm mới cần thiết Điều này xuất phát từ những lý do

sau:

+ Ở bậc giáo dục đại học hiện nay đang có xu thế chuyển đổi chương trình

đào tạo từ niên chế sang học chế tín chỉ Để góp phần tăng cường khả năng tự học

của sinh viên, nâng cao hiệu quả giờ lên lớp, đáp ứng yêu cầu đào tạo, tài liệu giảng

dạy cũng cần thay đổi cho phù hợp

+ Việc nghiên cứu văn học Việt Nam nói chung, văn học Việt Nam giai đoạn

1930 -1945 nói riêng hiện nay ngày càng có nhiều thành tựu, phát hiện và những

đánh giá mới làm sáng tỏ nhiều giá trị quan trọng có ý nghĩa của văn học Sau một

quá trình giảng dạy, người biên soạn thấy cần cập nhật, bổ sung một số vấn đề mới,

thể hiện cách nhìn nhận, đánh giá mới về một số vấn đề, một số hiện tượng, tác giả

cho phù hợp với khuynh hướng nghiên cứu hiện đại Điều này rất cần thiết để cung

cấp kiến thức hoặc đem đến cho bản thân người học những gợi ý cho việc nghiên

cứu trong quá trình học tập sau này

Những điểm được bổ sung cụ thể là:

- Do chủ yếu phục vụ chương trình đào tạo đại học theo tín chỉ, vốn là cách đào

tạo đòi hỏi sự tự học và thái độ tích cực trong học tập của sinh viên nên tài liệu có chú ý

bổ sung phần mục tiêu bài học và nhiệm vụ của sinh viên để sinh viên có sự chuẩn bị

kiến thức trước khi vào học Phần cuối tài liệu cũng bổ sung thêm những câu hỏi, bài

tập thảo luận thực hành để củng cố kiến thức đồng thời cung cấp những tài liệu tham

khảo thật cần thiết để sinh viên tìm đọc

- Bên cạnh những tác giả tiêu biểu, nổi bật đã được trình bày kỹ, bài giảng còn

giới thiệu bổ sung một số tác giả khác (Lan Khai, Lê Văn Trương, Tchya, Anh Thơ,

Đoàn văn Cừ…), đặc biệt là những tác giả được dạy ở chương trình PTTH (sách giáo

Trang 4

khoa mới) như Nguyễn Huy Tưởng, Nguyên Hồng Những phần này được giới thiệu

khái quát trong bài giảng như là những gợi ý để sinh viên dựa trên cơ sở đó sẽ có thể

tìm hiểu thêm trong quá trình tự học Có trường hợp (các nhà thơ mới Huy Cận, Thế

Lữ, Nguyễn Bính, Chế Lan Viên… hay trường hợp Hoài Thanh và Thi nhân Việt Nam)

được đặt ở phần bài tập nghiên cứu và thảo luận để giúp sinh viên tìm hiểu về các nhà

thơ mới và về cây bút phê bình Thơ mới độc đáo đầu thế kỷ XX Phần này sẽ được thực

hiện ở lớp với sự hướng dẫn thảo luận và đúc kết của giảng viên

- Khi đánh giá các hiện tượng văn học, tài liệu nêu lên những sự tác động, ảnh

hưởng đến các cây bút trong quá trình sáng tạo của họ Bên cạnh sự tác động của các

yếu tố khách quan như hoàn cảnh, môi trường xã hội, điều kiện sống…, tài liệu chú ý

nhiều hơn sự ảnh hưởng từ phía chủ quan của người nghệ sĩ, đặc biệt là quan điểm, lý

tưởng thẩm mỹ, quan niệm nghệ thuật của mỗi nhà văn, từ đó sẽ xác định giá trị tác

phẩm về các mặt tư tưởng, nhận thức và thẩm mỹ

- Việc vận dụng những hiểu biết về tác giả, giai đoạn, xu hướng văn học vào việc

tìm hiểu, khám phá tác phẩm cũng sẽ được giảng viên yêu cầu sinh viên thực hiện trong

giờ báo cáo, thảo luận, trình bày trên lớp, đặc biệt chú trọng vào những tác phẩm tiêu

biểu được giảng dạy ở bậc học phổ thông Điều này sẽ góp phần quan trọng để rèn

luyện khả năng cảm thụ, khám phá tác phẩm văn chương và khả năng giảng dạy của

sinh viên

- Văn học giai đoạn 1930 -1945 còn nhiều vấn đề phức tạp chưa có sự thống nhất

trong việc nhìn nhận đánh giá Đối với những vấn đề này, giảng viên sẽ nêu ra trong giờ

học với tính chất nêu vấn đề để sinh viên thảo luận từ đó gợi mở cho sinh viên khám

- Nắm chắc kiến thức văn học trung đại, nhất là những đặc điểm của văn học trung

đại thể hiện ở các giai đoạn để qua đó thấy được sự đổi mới về thi pháp sáng tác của văn

học Việt Nam hiện đại

- Nắm chắc kiến thức văn học giai đoạn 30 năm đầu thế kỷ XX, giai đoạn giao

thời chuyển tiếp từ văn học trung đại sang văn học hiện đại để thấy được sự nối tiếp và

phát triển của quá trình hiện đại hoá văn học VN ở giai đoạn 1930 -1945

Nắm được kiến thức vừa cơ bản vừa chuyên sâu của giai đoạn văn học 1930

-1945:

+ Vị trí quan trọng của văn học 1930 -1945 trong tiến trình văn học

+ Những đóng góp của giai đoạn văn học này trong tiến trình hiện đại hóa nền

văn học

Trang 5

+ Hiểu được một số hiện tượng văn học đặc biệt như Phong trào Thơ mới, tiểu

thuyết Tự lực văn đoàn và một số tác giả tiêu biểu cho từng khuynh hướng văn

học: văn học lãng mạn, văn học hiện thực, văn học cách mạng

- Nắm vững những kiến thức đã học của những học phần có liên quan như lý luận

văn học, thi pháp học, mỹ học, ngôn ngữ học, các phương pháp nghiên cứu văn học

khác để lý giải các hiện tượng văn học, tìm hiểu thế giới nghệ thuật của tác phẩm,

- Tự học là điều kiện tiên quyết để sinh viên đạt hiệu quả tốt trong học tập Bên

cạnh đó sinh viên cũng cần có mặt trên lớp đầy đủ để nghe hướng dẫn, gợi ý cần thiết

của giảng viên hoặc tham gia thảo luận để bàn bạc trao đổi những vấn đề có liên quan

đến bài học

- Sinh viên:

+ Cần trang bị tốt kiến thức về lý luận và văn học, các phương pháp nghiên

cứu văn học để làm cơ sở khám phá, thâm nhập tác phẩm hoặc lý giải những hiện

tượng văn học Cần phải đọc nhiều tác phẩm, nhiều sách tham khảo có liên quan đến

văn học giai đoạn này

+ Biết cách tự học, tự trang bị kiến thức để chủ động phát huy tư duy, sáng tạo

trong giờ thảo luận

+ Phải chuẩn bị tốt bài thuyết trình, báo cáo theo yêu cầu, tự nghiên cứu trước

kiến thức liên quan đến bài học để tham gia thảo luận

Tóm lại: Văn học Việt Nam giai đoạn 1930 -1945 có vị trí quan trọng trong nền

văn học dân tộc Nghiên cứu văn học 1930 -1945 có thể sẽ gặp nhiều khó khăn không

phải chỉ vì giai đoạn văn học này có nhiều hiện tượng, sự kiện phong phú đa dạng mà

còn là vì tính chất phức tạp trong cách tiếp nhận, đánh giá Vì thế nếu sinh viên nắm

vững được mục tiêu học phần, có ý thức học tập tốt, có phương pháp tự học, tự trang bị

những kiến thức về văn học và những kiến thức liên ngành thì sẽ đạt được kết quả tốt

trong quá trình học tập

Trang 6

PHẦN II: NỘI DUNG TÀI LIỆU GIẢNG DẠY

CHƯƠNG I: CƠ SỞ LỊCH SỬ - XÃ HỘI VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ KHÁI

QUÁT CỦA VĂN HỌC VIỆT NAM TỪ NĂM 1930 ĐẾN NĂM 1945

W X

A MỤC TIÊU CẦN ĐẠT VÀ NHIỆM VỤ CỦA SINH VIÊN

1 Mục tiêu cần đạt: Sinh viên cần nắm được:

- Tình hình xã hội, lịch sử, văn hóa, tư tưởng giai đoạn 1930 -1945 và những tác

động của tình hình ấy đến sự đổi mới của văn học Việt Nam giai đoạn này

- Những đặc điểm cơ bản của văn học giai đoạn 1930 -1945

- Những thành tựu của văn học giai đoạn 1930 -1945, chủ yếu trên các khía cạnh

nội dung tư tưởng, sự phát triển và đổi mới về thể loại, ngôn ngữ trên tiến trình hiện đại

hoá

- Vị trí của văn học giai đoạn 1930 -1945 trong lịch sử văn học Việt Nam

2 Nhiệm vụ của sinh viên:

Đọc kỹ giáo trình và các tài liệu tham khảo cần thiết (đã được giới thiệu) để tìm

hiểu các vấn đề cơ bản của bài học Cụ thể:

- Những yếu tố về lịch sử, xã hội, văn hóa, tư tưởng giai đoạn 1930 -1945 đã tác

động đến sự phát triển của văn học giai đoạn 1930 -1945

- Đặc điểm cơ bản của văn học giai đoạn 1930 -1845 Trả lời các câu hỏi:

+ Thế nào là nền văn học được hiện đại hóa? Những nhân tố nào đã thúc đẩy

quá trình hiện đại hóa văn học và quá trình ấy diễn ra như thế nào?

+ Nguyên nhân thúc đẩy văn học giai đoạn 1930 -1945 phát triển với tốc độ

mau lẹ?

+ Những tiêu chí để phân chia văn học giai đoạn 1930 -1945 thành các bộ

phận, các xu hướng?

- Những thành tựu về nội dung tư tưởng và sự đổi mới các thể loại, ngôn ngữ văn

học theo hướng hiện đại hóa

B NỘI DUNG BÀI HỌC

I Bối cảnh lịch sử - xã hội - văn hóa Việt Nam 1930-1945

1.Tình hình lịch sử - xã hội - văn hóa

Từ đầu thế kỷ XX, xã hội Việt Nam đã có sự thay đổi rất lớn lao trên tất cả các

lĩnh vực đời sống xã hội Sau hai cuộc khai thác thuộc địa lớn trước và sau đại chiến thế

giới lần nhất (1914-1918), đời sống nhân dân rất khó khăn do bị thực dân vơ vét bóc lột

với những chính sách tàn bạo để kềm hãm nhân dân ta trong vòng đói nghèo, lạc hậu

Nhân dân còn phải gánh chịu những hậu quả và ảnh hưởng nặng nề của cuộc khủng

hoảng kinh tế thế giới (1929 -1933) và đại chiến thế giới lần thứ hai (1939 -1945) Khi

Nhật nhảy vào Đông dương, thực dân Pháp và phát xít Nhật đã hùa nhau vơ vét đến tận

cùng tài nguyên của Việt Nam để phục vụ chiến tranh Nhân dân càng ngày càng rơi

vào cảnh khốn cùng Phong trào đấu tranh cách mạng dưới sự lãnh đạo của Đảng đã có

lúc bị dìm trong biển máu nhưng không bao lâu đã bùng lên mạnh mẽ và đã thắng lợi

Trang 7

vào mùa thu 1945

Sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam ảnh hưởng rất nhiều đến văn hóa dân tộc

thời kỳ này Đảng đã tranh thủ mọi khả năng hợp pháp để ra báo công khai khắp cả ba

miền nhằm tuyên truyền, tập họp, tổ chức quần chúng Đảng còn phổ biến những sách

báo tiến bộ bằng tiếng Việt và cả bằng tiếng Pháp đồng thời khuyến khích các xu hướng

văn hóa tích cực, giới thiệu một cách có hệ thống về văn hóa vô sản Sách báo Marxist

vào Việt Nam nhiều nhất vào thời kỳ Mặt trận dân chủ Giai đoạn này đã diễn ra cuộc

giao tranh công khai giữa hệ tư tưởng vô sản với hệ tư tưởng tư sản và phong kiến trên

mọi lĩnh vực của đời sống tinh thần Cuộc đấu tranh trên lĩnh vực ý thức hệ đã được

phản ánh trên diễn đàn báo chí xuất bản công khai qua các cuộc tranh luận nổi bật như

cuộc tranh luận duy tâm, duy vật (1933) giữa Hải Triều và Phan Khôi, cuộc tranh luận

“Nghệ thuật vị nghệ thuật” hay “Nghệ thuật vị nhân sinh”(1935 - 1939) giữa Hải Triều,

Hải Khách, Hải Thanh, Bùi Công Trừng với Thiếu Sơn, Hoài Thanh, Lưu Trọng Lư, Lê

Tràng Kiều Qua những cuộc tranh luận này, những tư tưởng duy vật biện chứng đã

bước đầu được giới thiệu ở Việt Nam Đảng cũng đã đưa ra bản Đề cương văn hóa Việt

Nam do đồng chí Trường Chinh, Tổng bí thư của Đảng khởi thảo Đây có thể nói là một

sự kiện quan trọng trong đời sống văn hóa dân tộc đánh dấu một bước tiến triển mới của

hoạt động văn hóa của Đảng, thời kỳ Đảng chính thức lãnh đạo mặt trận văn hóa tư

tưởng Đồng thời Đảng còn thành lập Hội Văn hóa cứu quốc để tập họp anh chị em văn

nghệ sĩ yêu nước sáng tác phục vụ cách mạng

Trong hoàn cảnh xã hội chung bị bóp nghẹt tự do dân chủ, đời sống văn hóa cũng

bị kềm hãm Chế độ kiểm duyệt gắt gao nhằm bóp nghẹt quyền tự do ngôn luận và tự do

xuất bản của bọn thực dân đã làm ảnh hưởng nhiều đến hoạt động văn học dẫn đến sự

phân hóa phức tạp của văn học Văn hóa phương tây thâm nhập vào nước ta ngày càng

nhiều qua sách báo, dịch thuật Báo chí nước ta lúc bấy giờ phát triển rất mạnh Có rất

nhiều tờ báo hoạt động từ Nam tới Bắc Phong trào dịch thuật cũng rất phát triển Chưa

bao giờ người đọc tiếp nhận được nhiều tác phẩm văn học phương tây qua những bản

dịch như thế Đặc biệt sự tiếp nhận văn hóa phương Tây thể hiện rõ rệt tới đối tượng là

lực lượng trí thức, đội ngũ chủ yếu làm nên văn học giai đoạn 1930 -1945 Tại các nhà

trường Pháp - Việt, các học sinh, sinh viên tiếp thu rõ rệt văn hóa của Pháp Khắp nơi

thực dân Pháp dấy lên những hoạt động như phong trào Âu hóa, “vui vẻ trẻ trung”,

phong trào phục cổ, phong trào thể dục thể thao, cổ vũ những hoạt động tôn giáo, mở

nhiều tiệm nhảy, nhà săm, tiệm hút Những hoạt động này không nằm ngoài mục đích

ru ngủ và đánh lạc hướng, làm trụy lạc hóa thanh niên Chính sách đàn áp về chính trị,

bóc lột về kinh tế và đầu độc về văn hóa của bọn thực dân đã làm hạn chế sự phát triển

của nền văn học công khai đẩy nó vào con đường bế tắc

2 Tình hình văn học

Trước thế kỷ XX, văn học Việt Nam chịu ảnh hưởng sâu sắc văn hóa Trung Quốc

do kết quả của hàng ngàn năm nước ta chịu cảnh nô lệ phương Bắc Có thể nói suốt một

thời gian rất dài trên dưới mười thế kỷ, văn hóa Việt Nam chỉ có một mối liên hệ duy

nhất với văn hóa Trung Hoa, nền văn hóa lấy Nho học làm nền tảng Khi thực dân Pháp

xâm lược nước ta, xã hội Việt Nam có nhiều biến đổi Đời sống văn học cũng có nhiều

đổi mới Việc sử dụng chữ Quốc ngữ như một thứ văn tự chính thức trong công việc

hành chính và trong sáng tác đã tác động rất lớn đến sự hình thành bộ phận văn học

mới Văn học viết bằng chữ Quốc ngữ ngày càng chiếm ưu thế và dần dần thay thế văn

học viết bằng chữ Hán và chữ Nôm Kỹ thuật in ấn, báo chí phát triển đã góp phần thúc

đẩy nền văn học nhanh chóng đi vào con đường hiện đại Bên cạnh đó trong hoàn cảnh

Trang 8

xã hội mới, cuộc sống, tâm trạng, quan niệm của con người cũng có nhiều đổi thay Từ

Nam chí Bắc, nhiều đô thị thị trấn mọc lên như những trung tâm kinh tế, văn hóa, hành

chính của xã hội thực dân Nhiều tầng lớp xã hội mới xuất hiện như tư sản, tiểu tư sản

(viên chức, học sinh, dân nghèo thành thị ), công nhân Họ có nhu cầu, văn hóa thẩm

mỹ mới Họ tạo thành một tầng lớp công chúng văn học mới, đòi hỏi một thứ văn

chương mới Đáp ứng thị hiếu đó, quan niệm văn học, tư tưởng thẩm mỹ của người

sáng tác cũng phải khác trước Một lực lượng sáng tác mới - tầng lớp trí thức Tây học

dần dần thay thế vai trò của các nhà nho Thông qua lực lượng sáng tác chủ yếu này, các

trào lưu, tư tưởng, văn hóa, văn học của thế giới phương Tây hiện đại (đặc biệt là của

Pháp) ngày càng ảnh hưởng sâu sắc vào ý thức của người sáng tác Nền văn học đã thực

sự được hiện đại hóa, thoát khỏi ảnh hưởng của khu vực và từng bước đi vào quĩ đạo

chung của văn học thế giới

Ảnh hưởng của văn học phương Tây thực ra đã có từ trước 1930, nhất là sau đại

chiến thế giới lần thứ nhất, nhưng phải đến khoảng những năm 30 trở đi, ảnh hưởng này

mới ngày càng thể hiện sâu sắc Văn học phương Tây, chủ yếu là văn học Pháp đã từng

bước thâm nhập vào đời sống văn học Việt Nam Sự thâm nhập đó được thực hiện nhờ

các thế hệ trí thức gồm những người vừa có vốn Hán học vừa có vốn Tây học (tính từ

Trương Vĩnh Ký đến Phạm Quỳnh) chuyển qua những người thuần Tây học, tính từ

Nguyễn Văn Vĩnh, Hoàng Tích Chu đến Tự lực văn đoàn, các nhà Thơ mới và các nhà

văn trong các xu hướng lãng mạn và hiện thực

Đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy quá trình hiện đại hóa nền văn học

phải kể đến hoạt động dịch thuật Ở Nam Bộ, phong trào dịch thuật diễn ra ngay từ

những năm đầu thế kỷ Lúc đầu người dịch tập trung vào các tiểu thuyết cổ điển Trung

Quốc nhưng sau đó một số tiểu thuyết phương Tây cũng được dịch sang tiếng Việt như

Bá tước Monte Cristo và Ba người lính ngự lâm pháo thủ của A Dumas, Những người

khốn khổ của V Hugo, Không gia đình của H Malo Ở miền Bắc, phong trào dịch

thuật có muộn hơn nhưng chất lượng bản dịch tốt hơn Các dịch giả nổi tiếng như Phan

Kế Bính, Nguyễn Văn Vĩnh, Nguyễn Trọng Thuật, Phạm Quỳnh Có thể nói chưa bao

giờ công chúng được đọc những tác phẩm nước ngoài bằng tiếng mẹ đẻ nhiều đến thế

Điều này đã làm cho người đọc ngày càng làm quen nhiều hơn với những tác phẩm

phương Tây hiện đại và dần dần hình thành nên những quan niệm, thị hiếu thẩm mỹ

mới Về phía người sáng tác, mà thành phần chủ yếu là lực lượng trí thức Tây học, việc

tiếp thu ảnh hưởng từ văn học phương Tây là tất yếu Họ không chỉ ảnh hưởng về vấn

đề phương pháp sáng tác mà còn chịu ảnh hưởng cả về vấn đề quan điểm, tư tưởng

Việc tiếp thu ảnh hưởng của văn học phương Tây là một yếu tố quan trọng đẩy

nhanh tiến trình hiện đại hóa nền văn học Tuy nhiên ảnh hưởng của văn hóa cổ Trung

Quốc không phải là không còn Chỉ có điều văn hóa Trung Quốc không còn giữ vai trò

độc tôn chi phối mọi mặt đời sống văn hóa dân tộc như giai đoạn trước Ảnh hưởng của

văn hóa phương Tây vẫn là chủ yếu Nhưng cần phải thấy rằng việc giao lưu trong giai

đoạn này cũng diễn ra trong một tình trạng không bình thường Sự chi phối của thực

dân Pháp là hết sức lớn, do vậy những gì tiếp thu được không phải là không có những

yếu tố tiêu cực

II Sơ lược về tiến trình phát triển của văn học Việt Nam giai đoạn 1930 -1945

Văn học Việt Nam 1930 - 1945 có thể chia làm ba thời kỳ: thời kỳ 1930 - 1935,

thời kỳ 1936 - 1939, 1940 - 1945 Mỗi thời kỳ có đặc điểm riêng thể hiện quá trình phát

triển của cả giai đoạn văn học

1 Thời kỳ 1930 - 1935

Trang 9

Năm 1930 đánh dấu một thời điểm quan trọng với sự ra đời của Đảng Cộng sản

Việt Nam Đây cũng là thời điểm ra đời phong trào thơ văn Xô Viết Nghệ Tĩnh, sự kiện

mở đầu dòng văn học cách mạng giai đoạn này Các xu hướng văn học khác đã được

manh nha từ trước 1930 thì đến giai đoạn này đã phát triển thành những trào lưu văn

học, nổi bật là trào lưu văn học lãng mạn và trào lưu văn học hiện thực

Nhằm mục đích phục vụ cách mạng, thơ văn Xô Viết Nghệ - Tĩnh hướng vào nội

dung tuyên truyền, vận động cách mạng, vạch trần tội ác của bọn đế quốc, phong kiến,

giới thiệu chủ nghĩa Marx-Lenin, kêu gọi quần chúng đứng lên chiến đấu Đó là tiếng

nói của các chiến sĩ trực tiếp chiến đấu nên nó cũng thể hiện một tinh thần căm thù giặc,

một ý chí quyết tâm chiến đấu, một tấm lòng yêu nước thiết tha, mãnh liệt Vì đây là

sáng tác của những chiến sĩ cách mạng chứ không phải là nhà văn chuyên nghiệp cho

nên vẫn còn thể hiện những chỗ non yếu về nghệ thuật Về mặt hình thức, những tác

phẩm này thường viết theo các thể loại dân gian như vè, ca dao dân ca, hát dặm

Thời kỳ này, văn học lãng mạn gần như chiếm địa vị độc tôn trên văn đàn văn học

công khai với hai sự kiện nổi bật ở hai lĩnh vực văn xuôi và thơ: hoạt động của nhóm

Tự lực văn đoàn và phong trào Thơ mới

Nhóm Tự lực văn đoàn do Nguyễn Tường Tam thành lập năm 1933 hoạt động

theo một tôn chỉ riêng và nổi bật ở lĩnh vực tiểu thuyết với đề tài về cuộc xung đột giữa

mới với cũ, lên án đại gia đình phong kiến, bênh vực và đấu tranh cho tình yêu tự

do Vì thế tiểu thuyết Tự lực văn đoàn thời kỳ này mang đậm tính nhân văn

Phong trào Thơ mới đã có những dấu hiệu từ trước 1930 nhưng từ khoảng 1932

mới nổi lên thành một phong trào có ý thức đấu tranh với thơ cũ và đã giành được chiến

thắng Thắng lợi đó chủ yếu không phải do những bài diễn thuyết hùng hồn của Lưu

Trọng Lư, Nguyễn Thị Kiêm, Vũ Đình Liên mà do những thành công thật sự trong

các sáng tác của các nhà Thơ Mới, nhất là Thế Lữ Cái “tôi” Thơ mới thời kỳ này do

mới được giải phóng khỏi cái “ta” cũ nên còn e dè, chưa đào sâu đến tận cùng cái “tôi”

cá nhân của mình như ở giai đoạn sau

Xu hướng văn học hiện thực phê phán cũng đã có cơ sở từ trước 1930 đến thời kỳ

này càng phát triển hơn với sự xác định rõ ràng hơn về phương pháp sáng tác Từ năm

1929 đến 1931, Nguyễn Công Hoan đã khẳng định phương pháp hiện thực phê phán

trong thể loại truyện ngắn và đã thành công với thể loại truyện ngắn trào phúng, tiêu

biểu là tập truyện “Kép Tư Bền" xuất bản năm 1935 Thời kỳ này, Ngô Tất Tố cũng viết

nhiều tiểu phẩm văn học nổi tiếng trên các báo Phổ thông, Đông phương với các biệt

hiệu: Thiết Khẩu Nhi, Thục Điểu Năm 1931 cũng là năm Vũ Trọng Phụng cho ra đời

tác phẩm đầu tay: vở kịch Không một tiếng vang Nhìn chung xu hướng văn học hiện

thực thời kỳ này chưa có nhiều thành tựu như văn học lãng mạn

2 Thời kỳ 1936 - 1939

Bước sang thời kỳ Mặt trận dân chủ, văn học cách mạng và văn học hiện thực phê

phán chiếm ưu thế trên văn đàn văn học công khai Văn học lãng mạn cũng chịu sự tác

động của hoàn cảnh xã hội nên cũng có sự phân hóa và cũng có những thành tựu nhất

định

Văn học cách mạng thời kỳ này trong điều kiện hoạt động công khai đã có khả

năng phát triển mạnh mẽ hơn và đã có những chuyển biến về chất Các tác giả tiêu biểu

thời kỳ này là Tố Hữu, Hải Triều, Đặng Thai Mai, Trần Huy Liệu (Hải Khách), Trần

Mai Ninh, Trần Đình Long Văn học cách mạng thời kỳ này không chỉ có thơ ca mà

còn có các thể loại khác như phóng sự, bút ký, truyện ngắn, tiểu thuyết Đã có những

Trang 10

bước phát triển về chất lượng nghệ thuật theo hướng hiện đại hóa trong những tác phẩm

văn học cách mạng, nhất là sự ra đời của thơ ca Tố Hữu đã đánh dấu bước tiến mới của

thơ ca cách mạng nói riêng, thơ ca dân tộc nói chung

Trong điều kiện được hoạt động khá thoải mái do ảnh hưởng thuận lợi của thời kỳ

Mặt trận dân chủ, xu hướng hiện thực phát triển mạnh mẽ và đã có nhiều thành tựu xuất

sắc Hàng loạt cuốn tiểu thuyết có giá trị ra đời như Tắt đèn của Ngô Tất Tố, Giông tố,

Số đỏ của Vũ Trọng Phụng, Bước đường cùng của Nguyễn Công Hoan, Bỉ vỏ của

Nguyên Hồng, Lầm than của Lan Khai Đặc biệt các nhà văn thời kỳ này đã xây dựng

được nhiều tính cách điển hình xuất sắc (Chị Dậu trong Tắt đèn, Nghị Hách trong Giông

tố, Xuân Tóc đỏ trong Số đỏ, Pha trong Bước đường cùng )

Văn học lãng mạn thời kỳ này không còn giữ vai trò ưu thế như giai đoạn trước

nhưng vẫn tiếp tục phát triển và có sự phân hóa theo những hướng khác nhau Tiểu

thuyết của Tự lực văn đoàn, đặc biệt là của Nhất Linh, Khái Hưng, Hoàng Đạo, bên

cạnh việc tiếp tục chủ đề chống lễ giáo phong kiến, đấu tranh cho tình yêu tự do, còn đề

cập đến chủ trương cải cách xã hội Một số cây bút lãng mạn lại có khuynh hướng

nghiêng về phản ánh hiện thực, hướng về cuộc sống của những tầng lớp dưới trong xã

hội bằng một giọng văn thấm đượm chất trữ tình và tấm lòng nhân hậu tạo nên một

phong cách riêng của những cây bút văn xuôi trữ tình Nổi bật ở khuynh hướng này có

các nhà văn Thạch Lam, Thanh Tịnh, Hồ Dzếnh, Xuân Diệu, Trần Tiêu, Lan Khai

Phong trào Thơ mới vẫn tiếp tục phát triển và đạt đến đỉnh cao của nó với những

đại biểu xuất sắc như Xuân Diệu, người được coi là “mới nhất trong các nhà thơ mới”

(Hoài Thanh), Hàn Mặc Tử, Huy Cận, Chế Lan Viên

3.Thời kỳ 1940 - 1945

Chiến tranh thế giới lần thứ hai nổ ra, thời kỳ Mặt trận dân chủ chấm dứt Chính

quyền thực dân lại tiếp tục thực hiện chế độ kiểm duyệt sách báo gắt gao hơn trước

Đảng phải rút vào hoạt động bí mật, văn học cách mạng cũng phải hoạt động bí mật

nhưng lại phát triển mạnh mẽ hơn bao giờ hết cùng với sự phát triển của cao trào cách

mạng Đặc biệt thơ ca trong tù được xem là bộ phận ưu tú nhất của văn học cách mạng

Thơ Tố Hữu trong nhà tù (Phần Xiềng xích trong tập thơ Từ ấy) là những bài thơ có giá

trị cả về nội dung và chất lượng nghệ thuật Tập Nhật ký trong tù của Hồ Chí Minh cũng

ra đời trong nhà tù của bọn Tưởng Giới Thạch đã góp vào kho tàng văn học dân tộc

những vần thơ hay xuất phát từ tấm lòng yêu nước nồng nàn, thiết tha và tâm hồn nghệ

sĩ của người chiến sĩ cách mạng vĩ đại

Ảnh hưởng sự phức tạp của tình hình xã hội, bộ phận văn học công khai cũng

chuyển biến phức tạp Trong những tác phẩm của Tự lực văn đoàn đã xuất hiện những

tư tưởng bi quan và lối sống trụy lạc (Bướm trắng của Nhất Linh, Thanh Đức của Khái

Hưng ) Phong trào Thơ mới đi vào khủng hoảng với những dòng thơ triền miên trong

nỗi buồn nhân gian muốn tìm một lối thoát vào cõi siêu hình, hay chìm đắm trong

những cơn say của rượu và nàng tiên nâu (Huy Cận, Vũ Hoàng Chương ) hoặc sáng

lập trường thơ điên, trường thơ loạn (Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên)

Các cây bút hiện thực tuy không thể phản ánh thoải mái những vấn đề xã hội

nhưng những tác phẩm của họ lại đạt đến chiều sâu mới về tư tưởng khi họ đặt ra được

những vấn đề về thân phận con người, về vấn đề cải tạo xã hội Thời kỳ này xuất hiện

một số cây bút trẻ, tài năng như Tô Hoài, Mạnh Phú Tư, Nguyễn Đình Lạp, Bùi Hiển

nhưng nổi bật và tiêu biểu nhất thời kỳ này là Nam Cao với những tác phẩm xứng đáng

được coi là kiệt tác (Chí Phèo (1941), Sống mòn (1944)

Trang 11

III Những đặc điểm cơ bản của Văn học Việt Nam giai đoạn 1930 - 1945

Văn học Việt Nam 1930 - 1945 nằm trong thời kỳ văn học 1900 -1945 Tuy văn

học thời kỳ này diễn ra trong thời gian ngắn ngủi chưa đầy nửa thế kỷ nhưng nó có một

vị trí hết sức quan trọng trong tiến trình phát triển của văn học hiện đại, nó được chia

làm các giai đoạn:

- Giai đoạn 20 năm đầu thế kỷ (Từ đầu thế kỷ XX đến năm 1920)

- Giai đoạn 10 năm từ khoảng 1920 đến những năm 30

- Giai đoạn 15 năm từ đầu những năm 30 đến năm 1945

Giai đoạn thứ ba đánh dấu bước phát triển hết sức quan trọng của văn học và nó

cũng có chung đặc điểm của văn học thời kỳ này Có thể thấy rằng những đặc điểm của

văn học thời kỳ từ đầu thế kỷ XX đến năm 1945 thể hiện rõ nhất, toàn diện nhất ở giai

đoạn 1930 -1945

Nhìn một cách tổng quát văn học Việt Nam giai đoạn 1930 -1945 có mấy đặc

điểm nổi bật sau đây:

1 Diện mạo nền văn học đổi mới theo hướng hiện đại hóa

Như ta đã biết, bước vào thế kỷ XX, lịch sử văn học Việt Nam đã chứng kiến một

bước ngoặt quan trọng, đó là sự chuyển biến từ văn học trung đại sang văn học hiện đại

Quá trình hiện đại hóa nền văn học diễn ra như một nhu cầu tất yếu nảy sinh từ những

tiền đề chính trị, xã hội, văn hóa, tư tưởng và môi trường văn học nhất định Đất nước

đang trong tình trạng của một xã hội thuộc địa và đi vào con đường tư sản hóa Lối sống

hiện đại đi dần vào lối sống của con người Việt Nam Con người quen dần với sinh hoạt

hiện đại, phương tiện và hàng hóa phương Tây Những thay đổi trong cuộc sống đời

thường dẫn đến thay đổi cả trong tư duy, tinh thần và tâm lý Xã hội xuất hiện các giai

cấp mới: tư sản, tiểu tư sản, tầng lớp trí thức mới từ đó hình thành nên tầng lớp công

chúng văn học mới, đòi hỏi một thứ văn chương mới Trong sáng tác văn học cũng hình

thành một đội ngũ văn học mới: lực lượng trí thức Tây học Lực lượng này ngày càng

đông có vai trò quan trọng trong việc đẩy mạnh công cuộc hiện đại hóa văn học Họ đã

trực tiếp tiếp cận nền văn hóa phương Tây để từ đó gieo hạt giống hiện đại vào trong

nền văn học nước nhà Nhờ tầng lớp này, văn học Việt Nam vốn chỉ quẩn quanh trong

vòng ảnh hưởng của khu vực văn hóa cổ Trung Hoa được tiếp xúc ngày càng rộng rãi

với tư tưởng văn hóa, văn học phương Tây hiện đại mà chủ yếu là Pháp

Những điều kiện trên chính là nền tảng quan trọng để nền văn học chuyển từ phạm

trù văn học trung đại sang văn học hiện đại Hiện đại hóa chính là yêu cầu tất yếu,

khách quan của lịch sử văn học Việt Nam khi bước vào thế kỷ XX

Muốn nắm rõ đặc điểm này, cần hiểu thế nào là khái niệm văn học hiện đại hóa

Xác định được điều này cần đối chiếu với một số đặc điểm thi pháp của văn học trung

đại để thấy rõ sự đổi mới của văn học Việt Nam giai đoạn 1930 - 1945

Văn học viết thời phong kiến (còn gọi là văn học trung đại) là văn học của giới trí

thức Hán học tài hoa, những người gọi là tao nhân mặc khách Sinh hoạt văn chương

thời ấy thu hẹp trong giới trí thức nho sĩ Đó là nền văn học Hán Nôm chịu ảnh hưởng

sâu sắc tư tưởng và nguyên tắc sáng tác của văn học Trung Hoa cổ Văn chữ Hán được

coi trọng hơn chữ Nôm, thơ được coi trọng hơn văn xuôi Văn học thời kỳ này thể hiện

một quan niệm thẩm mỹ riêng và tuân thủ theo một hệ thống thi pháp riêng Các nhà

văn lại rất coi trọng chức năng giáo huấn “văn dĩ tải đạo”, các hình thức thể loại chịu sự

Trang 12

ràng buộc bởi tính qui phạm rất chặt chẽ Về mặt bút pháp, văn học trung đại không coi

trọng bút pháp tả thực, nó phản ánh và sáng tạo thông qua một hệ thống ước lệ hết sức

dày đặc, phức tạp và nghiêm nhặt Hệ thống ước lệ ấy có ba tính chất: Tính uyên bác và

cách điệu hóa, tính sùng cổ và tính phi ngã

Văn chương thời ấy đầy thiên nhiên, con người thường gắn bó với thiên nhiên vũ

trụ, gửi gắm tâm tình của mình vào thiên nhiên vũ trụ Vì thế thơ thiên nhiên, thơ tức

cảnh hết sức phổ biến trong thơ cổ Người ta cũng mượn thiên nhiên để nói lên những

vấn đề đạo lý và họ quan niệm viết văn là để truyền bá đạo lý ấy Đấy cũng là thời kỳ

văn học chưa có sự phân hóa rõ ràng các thể loại văn học, các văn bản ngôn từ nên có

hiện tượng gọi là “văn sử bất phân”

Văn học hiện đại là nền văn học được xây dựng theo một hệ thống thi pháp riêng

có sự khác biệt rõ rệt về tính chất và hình thái với văn học thời phong kiến Nó thoát

khỏi ảnh hưởng của lối sáng tác trong văn chương cổ và chịu ảnh hưởng sâu sắc văn

học phương Tây hiện đại Văn học hiện đại không còn dựa vào hệ thống ước lệ mà coi

trọng ý thức sáng tạo của cá nhân Nhà văn có điều kiện phát huy mạnh mẽ cá tính,

phong cách độc đáo của mình trong sáng tạo nghệ thuật Các trào lưu và trường phái

văn học xuất hiện ngày càng phong phú và phức tạp hơn Văn học hiện đại cũng thể

hiện quan điểm, lý tưởng thẩm mỹ riêng qua cảm thụ và sáng tạo nghệ thuật của các nhà

văn Những thay đổi về quan điểm thẩm mỹ phù hợp với thời đại khi ảnh hưởng của

những quan niệm mới mẻ của phương Tây đã tác động đến tâm hồn và lối sống của

người Việt Nam

Công cuộc hiện đại hóa văn học này ít nhiều đã được đặt ra từ giữa thế kỷ XIX mà

trước tiên là ở Nam Bộ nhưng thực sự thể hiện rõ trong cả nước từ đầu thế kỷ XX và đó

là cả một quá trình phát triển theo từng chặng

Ở khoảng 20 năm đầu của thế kỷ (1900 -1920), quá trình hiện đại hóa nền văn học

bắt đầu bằng việc hình thành các thể văn xuôi quốc ngữ Mặc dù từ khoảng cuối thế kỷ

XIX, người ta đã thấy xuất hiện ở miền Nam một số sáng tác văn xuôi quốc ngữ của các

cây bút tiên phong như Trương Vĩnh Ký, Huỳnh Tịnh Của, Trần Chánh Chiếu đặc

biệt là truyện “Thầy Lazarô Phiền” của Nguyễn Trọng Quản xuất bản 1887 ở Sài Gòn

nhưng phải đến đầu thế kỷ XX mới phát triển mạnh mẽ phong trào viết văn xuôi quốc

ngữ, đặc biệt ở Nam Bộ với các cây bút như Trần Chánh Chiếu (Hoàng Tố Anh hàm

oan - 1910), Trương Duy Toản (Phan yên ngoại sử - 1910), Lê Hoằng Mưu (Oán hồng

quần - 1920) Tuy nhiên đây chỉ mới là những thử nghiệm bước đầu, chưa có sự cách

tân đáng kể, còn chịu ảnh hưởng quá rõ của truyện Tàu

Nhìn chung thì dòng chủ lưu của văn học dân tộc thời kỳ này do lớp trí thức Hán

học đảm nhiệm gắn liền với tên tuổi của các cây bút trong phong trào Duy tân, Đông du,

Đông kinh nghĩa thục Những tác phẩm của các nhà văn này chỉ mới đổi mới về quan

điểm chính trị xã hội, học thuật Về phương diện nghệ thuật, văn chương yêu nước còn

chịu ảnh hưởng của quan niệm nghệ thuật cổ, không có gì khác lắm với văn chương cổ

Giai đoạn từ 1920 đến khoảng 1930, văn học đã nghiêng về phạm trù văn học hiện

đại Thời kỳ này đóng vai trò chủ lực cho sự phát triển của văn học là lớp trí thức Tây

học đầu tiên Tính hiện đại đã chiếm ưu thế rõ rệt thể hiện ở tất cả các thể loại Các nhà

thơ đã bắt đầu đưa cái tôi phóng túng lãng mạn vào trong thơ đánh dấu bước đầu sự giải

phóng cái tôi cá nhân ra khỏi vòng kềm tỏa của cái Ta trong thơ cổ Đến Tản Đà, cái tôi

ấy càng được khẳng định mạnh mẽ hơn nhưng ông vẫn chưa đủ sức tạo nên một bước

đột phá hoàn toàn cho sự cách tân của thơ Vì vậy người ta gọi ông là “chiếc cầu nối

giữa thơ cũ và thơ mới"

Trang 13

Văn xuôi đã thể hiện một bước phát triển đáng kể theo hướng hiện đại Với các tác

phẩm của các cây bút ở Nam Bộ như Phú Đức (Châu về hiệp phố 1926, Lửa lòng

-1929), Bửu Đình (Nghĩa tình khẳng khái - 1923), đặc biệt là Hồ Biểu Chánh (Chúa tàu

Kim Qui - 1922, Cay đắng mùi đời - 1922, Cha con nghĩa nặng - 1929 ), tiểu thuyết

quốc ngữ đã có bước cách tân rõ rệt hơn, ảnh hưởng của tiếu thuyết phương Tây ngày

càng đậm

Ở miền Bắc cũng xuất hiện những cây bút tiểu thuyết như Đặng Trần Phất (Cành

lê điểm tuyết - 1921, Cuộc tang thương - 1923), Trọng Khiêm (Kim Anh lệ sử - 1925),

Nguyễn Trọng Thuật (Quả dưa đỏ - 1925) đặc biệt Hoàng Ngọc Phách với tiểu thuyết

Tố Tâm đã thực sự đóng góp rất nhiều vào sự đổi mới nghệ thuật tiểu thuyết

Truyện ngắn thời kỳ này cũng có những thành tựu với các cây bút tiên phong như

Nguyễn Bá Học, Phạm Duy Tốn

Một loại hình mới du nhập từ phương Tây cũng xuất hiện, đó là thể loại kịch nói

với các tác giả như Vũ Đình Long (Chén thuốc độc, Tòa án lương tâm), Nguyễn Hữu

Kim (Bạn và vợ), Nam Xương (Ông Tây an nam)

Nhìn chung, chặng đường mười năm này, nền văn học đã có những bước tiến đáng

kể trên con đường hiện đại hóa nhưng tính hiện đại vẫn chưa thể hiện một cách sâu sắc

và toàn diện Phải đến 15 năm cuối 1930 -1945, quá trình hiện đại hóa mới được đẩy

mạnh, toàn diện và sâu sắc từ nội dung đến hình thức trên tất cả các thể loại Có được

điều này là nhờ lớp trí thức Tây học còn rất trẻ, lực lượng chính đóng góp nhiều cho sự

phát triển của văn học Hàng loạt những tác phẩm của xu hướng văn học lãng mạn (như

các tác phẩm trong phong trào Thơ mới, của nhóm Tự lực văn đoàn ), của xu hướng

hiện thực (như tác phẩm của Nguyễn Công Hoan, Ngô Tất Tố, Vũ Trọng Phụng, Nam

Cao ) đã khẳng định thành tựu nổi bật của văn học thời kỳ này Giai đoạn 1930 -1945

của thời kỳ văn học trước Cách mạng tháng Tám chính là đỉnh cao của sự phát triển văn

học theo hướng hiện đại

2 Văn học phát triển với một tốc độ hết sức mau lẹ

Có thể nói khoảng thời gian ngắn ngủi từ đầu thế kỷ XX đến năm 1945 chưa đầy

nửa thế kỷ nhưng lịch sử văn học Việt Nam đã chứng kiến sự phát triển mạnh mẽ của

nền văn học nước nhà Trong đó giai đoạn mười lăm năm cuối 1930 -1945, văn học đã

phát triển với một tốc độ chưa từng thấy Nói đến tốc độ phát triển ở đây không phải là

chỉ nói về sự phát triển về số lượng mặc dù khối lượng sáng tác thời kỳ này quả thật hết

sức lớn Hàng nghìn tiểu thuyết, hàng vạn bài thơ đã khẳng định được điều này Ở đây

đề cập đến tốc độ phát triển của văn học còn nhằm nhấn mạnh đến sự phát triển về chất

lượng trong đó không thể không nói tới nhịp độ cách tân của nền văn học Văn xuôi

quốc ngữ từ khi xuất hiện đã ngày càng khẳng định vị thế của mình với những tác phẩm

đặc sắc ngày càng hiện đại dưới ảnh hưởng của tiểu thuyết phương Tây Những năm

20,30 của thế kỷ, với sự xuất hiện của những tiểu thuyết quốc ngữ, đặc biệt là Tố Tâm

của Hoàng Ngọc Phách và hàng loạt tiểu thuyết của Hồ Biểu Chánh đã đánh dấu bước

đầu sự đổi mới nghệ thuật tiểu thuyết đầu thế kỷ Từ dấu mốc này đã mở ra một giai

đoạn mới cho sự đổi mới của tiểu thuyết Việt Nam Tiểu thuyết quốc ngữ hiện đại Việt

Nam đã dần đi theo lối viết mới, ít ảnh hưởng những qui phạm của văn chương cổ, mở

ra một hướng mới tự do hơn Nhiều cây bút đã khẳng định được tài năng của mình với

những tác phẩm văn xuôi ngày càng đổi mới Điều này thể hiện rõ trong các tác phẩm

của từng tác giả Chẳng hạn Nhất Linh từ Nho phong (1925) đến Nắng thu (1934) và

Bướm trắng (1941) đã đánh dấu sự đổi mới từ nội dung tư tưởng đến quan niệm nghệ

thuật, lối kết cấu, hành văn Nho phong đã in đậm dấu ấn của văn chương truyền thống,

Trang 14

được kể theo trình tự thời gian, lối hành văn có nhiều đoạn thể hiện lối văn biền ngẫu Ở

Nắng thu, Bướm trắng, nhà văn đã thể hiện lối viết theo thi pháp tiểu thuyết hiện đại,

chú ý miêu tả những diễn biến tâm hồn nhân vật, không gian chuyển dịch, thời gian

ngược chiều khác với tiểu thuyết truyền thống Đến các nhà văn hiện thực thì tiểu thuyết

lại tiến thêm một bước mới với các tác phẩm của Vũ Trọng Phụng, Nam Cao Lối trần

thuật, ngôn ngữ, kết cấu đã ngày càng đổi mới đẩy nhanh quá trình hiện đại hóa văn

xuôi đến đỉnh cao

Tốc độ phát triển của văn xuôi quốc ngữ còn thể hiện ở thể loại phóng sự, một thể

loại mới gắn với nghề báo Từ những năm 30 trở đi, phóng sự ngày càng thể hiện chất

lượng cao khi tác giả là các nhà văn viết báo Các tập phóng sự đặc sắc của các nhà báo,

nhà văn tiêu biểu lần lượt xuất hiện đã khẳng định được sự thành công của thể loại này

(Tôi kéo xe - viết 1932 in 1935 của Tam Lang, Hà Nội lầm than - 1938 của Trọng Lang,

Kỹ nghệ lấy Tây 1936, Cơm thầy cơm cô 1937 của Vũ Trọng Phụng, Việc làng

-1940 của Ngô Tất Tố )

Thơ cũng có dấu hiệu đổi mới từ trước nhưng phải đến 1932 mới tạo thành một

phong trào rộng rãi Nhưng chưa đầy mười năm sau, Hoài Thanh đã có thể tổng kết

phong trào này trong quyển Thi nhân Việt Nam với hàng chục tác giả có tài năng và

hàng trăm bài thơ đạt phẩm chất nghệ thuật cao

Điểm qua một vài thể loại để thấy rằng văn học thời kỳ này đã phát triển với một

tốc độ hết sức mau lẹ Nhưng vì sao văn học thời kỳ này có sự phát triển mạnh mẽ như

thế?

Có thể thấy rằng vào đầu thế kỷ XX, trong điều kiện văn hóa, lịch sử mới, được

tiếp xúc với “mưa Âu gió Mỹ", văn học dân tộc có nhu cầu đổi mới cho phù hợp với

thời đại Mặt khác do bản thân tiềm lực dồi dào của nền văn học dân tộc, một dân tộc

vốn có một sức sống mãnh liệt, có lòng yêu nước, tinh thần dân tộc và sức sáng tạo tự

cường nên khi được đánh thức dậy, nó mới đủ sức đi gấp, tiến nhanh như thế Đánh giá

về điều này, Vũ Ngọc Phan, trong Nhà văn hiện đại, đã đánh giá rất xác đáng rằng sự

phát triển của văn học Việt Nam từ đầu thế kỷ XX trở đi đã đạt tới tốc độ “một năm có

thể kể bằng ba mươi năm của người" Sức phát triển mạnh mẽ của văn học giai đoạn

này càng thể hiện rõ ở thời kỳ 1930 -1945

Nhưng nguyên nhân trực tiếp của tốc độ ấy phải kể đến vai trò của tầng lớp trí

thức Tây học, những con người có tấm lòng yêu nước nhiệt thành, đầy tâm huyết với

tiếng mẹ đẻ, với văn chương và với yêu cầu xây dựng nền văn hóa, văn học hiện đại của

đất nước Điều quan trọng là thời đại mới với nhiều biến chuyển sâu sắc, phức tạp trong

đời sống xã hội, văn hóa đã góp phần hình thành ở họ những quan điểm thẩm mỹ, tư

duy nghệ thuật mới mẻ, ý thức cá nhân của họ càng được khơi dậy sâu sắc Họ muốn

xây dựng cho mình một sự nghiệp cá nhân có ý nghĩa đồng thời muốn góp phần xây

dựng một nền văn hóa dân tộc hiện đại để thúc đẩy nền văn học nước nhà phát triển

nhanh chóng hòa nhập với văn học thế giới

3 Nền văn học phân hóa phức tạp thành nhiều bộ phận, xu hướng trong quá

trình phát triển

Sự phân hóa văn học thành nhiều xu hướng thẩm mỹ, nhiều trường phái nghệ

thuật khác nhau là một trong những đặc trưng cơ bản của thời kỳ văn học hiện đại Vì

sao văn học thời kỳ này lại có sự phân hóa phức tạp như vậy?

Trước hết phải thấy rằng văn học thời kỳ này nảy sinh và phát triển trong một tình

hình xã hội phức tạp, xã hội thực dân nửa phong kiến Lúc này xã hội đã hình thành các

Trang 15

giai cấp, các tầng lớp khác nhau Các giai cấp, các tầng lớp này luôn bị phân hóa về

kinh tế, chính trị và tư tưởng Văn học thực chất là một hình thái tư tưởng nên nó đã

phản ánh sự phân hóa phức tạp về tư tưởng của các tầng lớp xã hội thời kỳ này

Đứng về phía chủ thể sáng tác thì đây là thời kỳ ý thức cá nhân của người cầm bút

đã được khơi dậy và khẳng định Các nhà văn có ý thức tìm tòi con đường đi riêng để tự

khẳng định mình, từ đó đã hình thành nên những phong cách độc đáo Những trường

phái văn học được hình thành trên cơ sở sự gần gũi nhau về tư tưởng và phong cách của

các nhà văn Trường phái nào có khả năng tập họp, lôi cuốn mạnh mẽ và rộng rãi thì tạo

thành trào lưu Họ thường quây quần chung quanh một tờ báo, một tạp chí Họ ra tuyên

ngôn riêng về nghệ thuật và đấu tranh cho khuynh hướng thẩm mỹ của mình Từ

khoảng đầu thế kỷ XX đến 1945, người ta thấy có những nhóm như Đông Dương tạp

chí, Nam Phong, nhóm Tự lực văn đoàn với tờ báo Phong hóa, Ngày nay, nhóm Tiểu

thuyết thứ bảy, nhóm Tương lai mới, nhóm Tri Tân, Thanh Nghị, nhóm Xuân Thu nhã

tập

Sự phân hóa của văn học còn phản ánh tình hình thị hiếu phức tạp của công chúng

văn học thời kỳ này Các khuynh hướng này, trào lưu nọ sở dĩ phát triển mạnh hay yếu

là do công chúng của nó có đông đảo hay không Thời kỳ 1930-1945 có những khuynh

hướng văn học với những cây bút có phong cách riêng độc đáo đã thu hút nhiều tầng

lớp công chúng văn học Lịch sử văn học đã từng ghi nhận những hiện tượng văn học

thành công được sự quan tâm, ủng hộ của công chúng như phong trào Thơ mới, Tự lực

văn đoàn, khuynh hướng văn học hiện thực

Sự phân hóa này còn là do các yếu tố của chủ thể sáng tạo như quan điểm, lý

tưởng thẩm mỹ, sở trường, cảm hứng, vốn sống, thái độ đối với xã hội, quan niệm về

mối quan hệ giữa văn học và chính trị của người cầm bút… Tuy nhiên cần lưu ý rằng sự

phân chia văn học thành các bộ phận, các xu hướng có thể theo những tiêu chuẩn khác

nhau nhưng nó cũng chỉ mang tính chất tương đối Có thể nhận thấy văn học thời kỳ

này đã chia thành hai bộ phận khác nhau: bộ phận phát triển công khai hợp pháp và bộ

phận không công khai, bất hợp pháp

3.1 Bộ phận văn học không công khai, bất hợp pháp

Bộ phận văn học này đã hoạt động từ đầu thế kỷ với những nhà văn cũng là những

nhà yêu nước lớn như Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh Nhưng từ năm 1930 - 1945, bộ

phận văn học này đã phát triển mạnh mẽ gắn liền với đường lối cách mạng vô sản và

các phong trào cách mạng các thời kỳ như thời kỳ Xô Viết Nghệ tĩnh (1930 - 1931),

thời kỳ Mặt trận dân chủ Đông dương (1936 - 1939), thời kỳ Mặt trận Việt Minh (1941

- 1945)

Dòng văn học này thể hiện rõ quan niệm xem văn chương là vũ khí đấu tranh cách

mạng, cổ vũ, tuyên truyền, vận động cách mạng, phục vụ cho mục đích đấu tranh giải

phóng dân tộc Cho nên nó thấm nhuần chủ nghĩa anh hùng cách mạng và bị bọn thực

dân đặt ra ngoài vòng pháp luật Tác giả của dòng văn học này là những người chiến sĩ

cách mạng, họ là những nhà văn chiến sĩ, họ sáng tác trước hết vì mục đích phục vụ

cách mạng Chủ yếu hoạt động trong vòng bí mật nên thành tựu chủ yếu của dòng văn

học này là thơ ca và hình thức phổ biến chủ yếu là truyền miệng Khi bị bắt vào tù,

những nhà văn chiến sĩ lại có điều kiện để sáng tác bày tỏ tấm lòng của mình và gọt

giũa văn chương nên bộ phận có giá trị nhất là bộ phận thơ ca trong tù như thơ tù của

Sóng Hồng, Lê Đức Thọ, Xuân Thủy, Trần Huy Liệu đặc biệt là phần Xiềng xích

trong tập thơ Từ ấy của Tố Hữu, Nhật ký trong tù của Hồ Chí MInh

Trang 16

3.2 Bộ phận văn học công khai, hợp pháp

Bộ phận công khai hợp pháp tuy đặt dưới sự kiểm duyệt gắt gao của chính quyền

thực dân nhưng cũng thể hiện tinh thần dân tộc và những đóng góp có ý nghĩa quyết

định đối với quá trình hiện đại hóa văn học thời kỳ này

Bộ phận văn học công khai, hợp pháp, xét về mặt khuynh hướng thẩm mỹ không

phải là thuần nhất mà nó phân hóa thành nhiều xu hướng khác nhau, trong đó nổi lên hai

xu hướng chính: xu hướng lãng mạn chủ nghĩa và hiện thực chủ nghĩa Hai xu hướng

này đã có từ trước nhưng đến giai đoạn 1930-1945 thì mới phát triển mạnh mẽ với

nhiều thành tựu nổi bật

Thuộc xu hướng lãng mạn, vào 30 năm đầu thế kỷ đã có các tác giả văn xuôi như

Hoàng Ngọc Phách, tác giả Tố Tâm, Tương Phố, tác giả tập văn trữ tình Giọt lệ thu,

Đông Hồ, tác giả tập văn trữ tình nhan đề Linh Phượng ký và các nhà thơ đóng vai trò

mở đầu cho thơ mới lãng mạn như Tản Đà, Trần Tuấn Khải Đến thời kỳ này văn học

sáng tác theo xu hướng lãng mạn đã phát triển mạnh mẽ với các cây bút văn xuôi trong

nhóm Tự lực văn đoàn như Nhất Linh, Khái Hưng, Hoàng Đạo, nhà văn Nguyễn Tuân,

tác giả tập truyện Vang bóng một thời, Thiếu quê hương và các nhà thơ trong phong

trào Thơ mới như Thế Lữ, Xuân Diệu, Huy Cận, Chế Lan Viên

Thuộc xu hướng hiện thực, vào đầu thế kỷ cũng có dấu hiệu mở đầu với những tác

phẩm của các nhà văn như Hồ Biểu Chánh, Pham Duy Tốn, Nguyễn Bá Học Đến giai

đoạn này, văn học hiện thực đã đánh dấu những thành tựu nổi bật với các cây bút như

Nguyễn Công Hoan, Ngô Tất Tố, Vũ Trọng Phụng, Nam Cao, Nguyên Hồng, Tô

Hoài

Cần thấy rằng dẫu có sự phân hóa thành các xu hướng văn học khác nhau nhưng

các xu hướng này không hề có sự biệt lập với nhau mà thường tác động qua lại, có khi

chuyển hóa lẫn nhau Có nhiều cây bút thuộc xu hướng lãng mạn nhưng lại có nhiều tác

phẩm mang đậm tính chất hiện thực (như Thạch Lam, Thanh Tịnh, Hồ Dzếnh ).Ngược

lại tác phẩm của một số nhà văn hiện thực (như Nguyễn Công Hoan, Vũ Trọng

Phụng ) lại mang đặc điểm của xu hướng lãng mạn

IV Thành tựu của văn học Việt Nam giai đoạn 1930 -1945

1 Về nội dung tư tưởng

Văn học giai đoạn 1930 -1945 kế thừa và phát huy những truyền thống tư tưởng

lớn của văn học dân tộc: chủ nghĩa yêu nước, chủ nghĩa nhân đạo, chủ nghĩa anh hùng

Nhìn chung những tư tưởng ấy trong văn học thời kỳ này đều được phát huy trên tinh

thần dân chủ sâu sắc và được mở rộng thêm nhiều khía cạnh mới mẻ và phong phú hơn

Thể hiện tư tưởng yêu nước, các nhà văn chú ý phát hiện, khám phá vẻ đẹp của

thiên nhiên đất nước, phong tục, xã hội Việt Nam, diện mạo, tâm hồn con người Việt

Nam Tình yêu tiếng Việt cũng là một biểu hiện của tấm lòng yêu nước của các cây bút

thuộc bộ phận văn học công khai Chưa bao giờ tiếng Việt lại được khai thác, mài giũa,

bồi đắp một cách có ý thức như thời kỳ này Ở bộ phận văn học bất hợp pháp, lòng yêu

nước được thể hiện sâu sắc bằng hành động cứu nước Điều đặc biệt là hành động cứu

nước giải phóng dân tộc gắn liền với lý tưởng xã hội chủ nghĩa, điều này đã làm nên

một nội dung mới mẻ của tư tưởng yêu nước trong văn học cách mạng giai đoạn 1930 -

1945

Chủ nghĩa nhân đạo thấm nhuần trong các xu hướng văn học ở cả bộ phận văn học

công khai và không công khai nhưng nó lại có những biểu hiện khác nhau Nhìn chung

Trang 17

các nhà văn đều hướng tới những con người bình thường, hướng tới những người lao

động, những số phận đau khổ trong xã hội bằng một tấm lòng cảm thông, một trái tim

nhân hậu Nhưng nếu các nhà văn lãng mạn, đặc biệt là các tác giả của nhóm Tự lực văn

đoàn quan tâm đến việc lên án lễ giáo phong kiến hủ bại, đấu tranh cho tình yêu tự do,

cho hạnh phúc cá nhân của con người thì các nhà văn hiện thực lại đi sâu vào nỗi khổ

cùng cực của con người, đặc biệt là người nông dân, dân nghèo thành thị, người trí thức

nghèo , phát hiện và tỏ ra yêu thương, quý trọng những phẩm chất tốt đẹp của họ, đồng

thời thể hiện nỗi xót xa, đau đớn trước tình trạng những kiếp người ấy phải sống mòn

mỏi, vô nghĩa, quẩn quanh, bế tắc trong một xã hội đói nghèo, tăm tối Trong khi đó

bằng nhãn quan cách mạng, các nhà văn thuộc bộ phận văn học bất hợp pháp thì lại

nhận thức sâu sắc khả năng tự giải phóng của con người để tự tìm lấy hạnh phúc tương

lai cho họ Điều này thể hiện rõ trong các sáng tác của Tố Hữu, Hồ Chí Minh

Trong văn học thời kỳ này, chủ nghĩa anh hùng cũng được phát huy trên tinh thần

dân chủ sâu sắc Tư tưởng này thể hiện rõ ở bộ phận văn học bất hợp pháp trong việc

xây dựng hình tượng người anh hùng Đó là những người chiến sĩ xuất thân từ giai cấp

cần lao đứng lên đấu tranh nhằm lật đổ chế độ thực dân phong kiến, giải phóng dân tộc

Họ có những phẩm chất của những người anh hùng xả thân vì nước với tấm lòng yêu

nước nồng nàn, một ý chí căm thù giặc, một tinh thần kiên cường bất khuất và một tư

thế ung dung tự chủ, một tinh thần lạc quan chiến thắng Ở bộ phận này, chủ nghĩa anh

hùng được phát hiện như là một phẩm chất phổ biến ở những người cách mạng

2 Về thành tựu nổi bật của công cuộc hiện đại hóa nền văn học dân tộc

Trong tiến trình hiện đại hóa văn học dân tộc tiến hành từ đầu thế kỷ thì có thể nói

giai đoạn 1930 -1945 là giai đoạn nền văn học đã thực sự hiện đại từ nội dung đến hình

thức Toàn bộ hệ thống các thể loại và ngôn ngữ văn học đều được đổi mới Những thể

loại được đổi mới sâu sắc nhất và đạt được nhiều thành tựu rực rỡ nhất là thơ, tiểu

thuyết, truyện ngắn Một số thể ký như phóng sự, tùy bút, bút ký tuy đã xuất hiện trước

đó nhưng đến giai đoạn 1930 -1945 mới phát triển mạnh mẽ và đã đạt nhiều thành tựu

với những cây bút nổi tiếng như Tam Lang, Trọng Lang, Ngô Tất Tố, Vũ Trọng Phụng

ở thể loại phóng sự, Nguyễn Tuân ở thể loại tùy bút Giai đoạn này cũng đánh dấu sự

hình thành và phát triển của một thể văn mới: phê bình văn học Hàng loạt những cây

bút phê bình văn học chuyên nghiệp đã khẳng định được mình qua những tác phẩm phê

bình có giá trị như Thiếu Sơn với Phê bình và Cảo luận (1933), Hoài Thanh với Thi

nhân Việt Nam (1941), Vũ Ngọc Phan với Nhà văn hiện đại (1942-1943)

Nghệ thuật sân khấu ngoài những loại hình truyền thống như tuồng, chèo còn hình

thành một loại hình sân khấu du nhập từ phương Tây, đó là kịch nói Sự ra đời của kịch

nói là một thành tựu đáng kể của văn học thời kỳ này tuy rằng số lượng tác phẩm chưa

nhiều và chất lượng chưa cao Nổi trội là các tác phẩm Kim tiền của Vi Huyền Đắc, Vũ

Như Tô của Nguyễn Huy Tưởng, Ngã ba của Đoàn Phú Tứ

Như vậy có thể thấy rằng chặng đường văn học thời kỳ từ đầu thế kỷ XX đến năm

1945 tuy chưa đầy nửa thế kỷ nhưng đã ghi nhận những chuyển biến mau lẹ về mọi mặt

của nền văn học trong đó phải kể đến sự phát triển và hoàn thiện hệ thống thể loại, đặc

biệt là ở giai đoạn 1930 - 1945 Các thể loại văn học cho đến 1945, thời điểm hoàn tất

giai đoạn đầu tiên của quá trình hiện đại hóa nền văn học, đã đạt đến chỗ phát triển hoàn

chỉnh, hệ thống theo hướng hiện đại Sự phát triển của hệ thống thể loại đã chứng tỏ sức

sống và sự phát triển mạnh mẽ của cả nền văn học, đặc biệt là nó cũng góp phần chuẩn

bị những điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của các thể loại văn học hiện đại thời kỳ

sau

Trang 18

Cùng với sự phát triển của hệ thống thể loại, ngôn ngữ văn học cũng phát triển

mạnh mẽ theo hướng hiện đại Lối văn biền ngẫu với nhiều điển cố, điển tích và chữ

Hán ngày càng tỏ ra lạc lõng Các nhà văn Tự lực văn đoàn đã mang đến cho văn xuôi

sự đổi mới rõ rệt về ngôn ngữ Ngôn ngữ văn xuôi trở nên sáng sủa, giản dị hơn Tuy

nhiên ngôn ngữ Tự lực văn đoàn vẫn còn nhiều hạn chế do sự trau chuốt, kiểu cách cho

nên còn xa lạ với đời sống Các nhà văn hiện thực đã có công lớn trong việc mang đến

cho ngôn ngữ văn học hơi thở của cuộc sống đời thường gần gũi với đời sống Ngôn

ngữ trong văn chương hiện đại đã có khả năng diễn tả mọi hiện tượng của đời sống, của

thiên nhiên và mọi diễn biến tinh vi của tâm hồn con người Nhiều cây bút tài năng đã

đóng góp rất nhiều trong việc đưa ngôn ngữ văn học phát triển đển đỉnh cao hiện đại

như Xuân Diệu, Nguyễn Tuân, Nam Cao

CÂU HỎI ÔN TẬP

1 Những đặc điểm cơ bản của văn học Việt Nam giai đoạn 1930 -1945 Phân tích

một đặc điểm mà anh, chị cho là quan trọng nhất

2 Những biểu hiện cụ thể của chủ nghĩa yêu nước, chủ nghĩa nhân đạo, chủ nghĩa

anh hùng thể hiện trong các xu hướng văn học (chủ nghĩa lãng mạn, chủ nghĩa hiện thực

phê phán, và văn học cách mạng)

3 Sự phát triển của thơ và tiểu thuyết, truyện ngắn trong tiến trình hiện đại hóa

văn học từ đầu thế kỷ XX đến 1945, từ đó khẳng định sự phát triển vượt bậc của các

thể loại này trong giai đoạn 1930-1945

TÀI LIỆU THAM KHẢO CHÍNH

1 Bộ Giáo dục đào tạo 2007 Sách giáo khoa lớp 11 Hà Nội: Nhà xuất bản Giáo

dục

Đọc bài khái quát Văn học Việt Nam từ đầu thế kỷ XX đến 1945

2 Mã Giang Lân 2000 Quá trình hiện đại hóa văn học Việt Nam 1900 – 1945

Hà Nội: Nhà xuất bản Văn hóa thông tin

Đọc chương 1, bài của Mã Giang Lân (từ trang 9 đến trang 64)

3 Nguyễn Đăng Mạnh 2000 Giáo trình lịch sử văn học Việt Nam 1930 -1945

Hà Nội: Nhà xuất bản ĐH Quốc gia

Đọc bài Khái quát về lịch sử Văn học Việt Nam giai đoạn 1930 -1945 (từ trang 10

đến trang 27), phần Phụ lục (từ trang 148 đến trang 167)

4 Phan Cự Đệ và nhiều tác giả 2000 Giáo trình Văn học Việt Nam (1900 -1945)

Hà Nội: Nhà xuất bản Giáo dục

Đọc chương X (từ trang 303 đến trang 342)

5 Trần Đăng Suyền, Nguyễn Văn Long (đồng chủ biên) 2007 Giáo trình Văn

học Việt Nam hiện đại tập 1 (từ đầu thế kỷ XX đến 1945) Hà Nội: Nhà xuất bản Đại học

sư phạm Đọc chương 1 (từ trang 9 đến trang 26)

Trang 19

CHƯƠNG II: BỘ PHẬN VĂN HỌC HỢP PHÁP

KHÁI QUÁT VỀ XU HƯỚNG VĂN HỌC LÃNG MẠN 1930 -1945

W X

A MỤC TIÊU CẦN ĐẠT VÀ NHIỆM VỤ CỦA SINH VIÊN

1 Mục tiêu cần đạt: Sinh viên cần nắm được:

- Tính tương đối trong việc phân chia các xu hướng văn học (đặc biệt là văn học

lãng mạn và văn học hiện thực) ở giai đoạn 1930 -1945, một giai đoạn lịch sử hết sức

phức tạp

- Khái niệm, đặc trưng chung của chủ nghĩa lãng mạn trong văn học (khuynh

hướng thẩm mỹ, đề tài ưa thích, thể loại, thủ pháp…)

- Diễn biến của xu hướng văn học lãng mạn Việt Nam 1930 -1945

2 Nhiệm vụ của sinh viên

Đọc kỹ giáo trình và các tài liệu tham khảo cần thiết (đã được giới thiệu) để tìm

hiểu các vấn đề cơ bản của bài học Cụ thể:

- Liên hệ sự xuất hiện của chủ nghĩa lãng mạn ở Châu Âu cuối thế kỷ XVIII, nửa

đầu thế kỷ XIX (Cơ sở xã hội, tiền đề văn học), tìm hiểu sự ra đời của chủ nghĩa lãng

mạn Việt Nam để thấy được điểm tương đồng và khác biệt làm nên đặc trưng của văn

học lãng mạn Việt Nam giai đoạn 1930 -1945

- Văn học lãng mạn lấy việc khẳng định cái tôi cá nhân làm cảm hứng sáng tạo

Tìm hiểu đặc điểm của cái tôi trong văn học lãng mạn Việt Nam 1930 – 1945

- Trên cơ sở đối chiếu với đặc trưng nghệ thuật của văn học trung đại, tìm hiểu đặc

trưng nghệ thuật của văn học lãng mạn Việt Nam giai đoạn 1930 -1945

Tìm hiểu những đóng góp và hạn chế của trào lưu văn học lãng mạn 1930

-1945

B NỘI DUNG BÀI HỌC

I Khái niệm về chủ nghĩa lãng mạn

1 Về sự phân chia chủ nghĩa lãng mạn và chủ nghĩa hiện thực trong văn học

Trong văn học, lãng mạn và hiện thực là hai khuynh hướng cảm hứng thẩm mỹ

khác nhau đáp ứng những nhu cầu khác nhau của tâm hồn con người Có khi trong một

nền văn học, các khuynh hướng cảm hứng này phát triển thành những trào lưu văn học

lớn với nhiều thành tựu nổi bật Thế kỷ XIX ở phương Tây, đặc biệt là ở Pháp đã chứng

kiến sự phát triển mạnh mẽ của trào lưu văn học lãng mạn với các tên tuổi như A.de

Musset, Victor Hugo và trào lưu văn học hiện thực với các cây bút nổi tiếng như

Stendhal, Gustave Flaubert, Honoré de Balzac Trong văn học Việt Nam thời kỳ 1930

-1945 cũng hình thành hai trào lưu văn học lãng mạn và văn học hiện thực

Chủ nghĩa lãng mạn và chủ nghĩa hiện thực là hai trào lưu văn học lớn có nhiều

đặc điểm khác biệt Nếu chủ nghĩa lãng mạn có hứng thú trong việc khẳng định cái tôi

cá nhân đầy tình cảm, cảm xúc hướng về những khát vọng, những ước mơ, một cái tôi

không chịu sự kềm chế của lý trí mà buông theo cảm xúc và trí tưởng tượng phóng túng

thì chủ nghĩa hiện thực lại khát khao phát hiện chân lý khách quan trong việc đi sâu vào

bản chất cuộc sống để tìm ra qui luật của nó Cho nên chủ nghĩa lãng mạn thì giàu chất

Trang 20

trữ tình và mang đậm màu sắc chủ quan còn chủ nghĩa hiện thực lại mang tính chất

khách quan trong sự phản ánh

Tuy có sự khác biệt như thế nhưng hai khuynh hướng này không đối lập tuyệt đối

mà luôn diễn ra quá trình chuyển hóa, ảnh hưởng lẫn nhau Bởi vì đó là những phương

diện khác nhau của cảm hứng và nó có thể xuất hiện trong cùng một tâm hồn nghệ sĩ

Ngay trong một nhà văn, có thể trong tình huống này, tâm trạng này thì viết theo cảm

hứng hiện thực, nhưng trong tình huống khác, tâm trạng khác lại viết theo cảm hứng

lãng mạn Nguyễn Công Hoan, Vũ Trọng Phụng được xem là những nhà văn hiện thực

xuất sắc nhưng cũng có những tác phẩm được viết theo cảm hứng lãng mạn (như Dứt

tình của Vũ Trọng Phụng, Tắt lửa lòng của Nguyễn Công Hoan) Các nhà văn Thạch

Lam, Thanh Tịnh, Hồ Dzếnh thì lại rất khó xác định dứt khoát là nhà văn hiện thực hay

lãng mạn vì những tác phẩm của họ chứa đựng yếu tố hiện thực nhưng lại mang đậm

màu sắc lãng mạn Ngay cả trong một tác phẩm có khi cũng chứa đựng cả hai khuynh

hướng đó Ở những tác phẩm lãng mạn của Khái Hưng, Nhất Linh (Đoạn tuyệt, Nửa

chừng xuân) đã có những chương và có nhân vật được thể hiện bằng bút pháp của chủ

nghĩa hiện thực Ở tiểu thuyết Giông tố của Vũ Trọng Phụng, nhân vật ông già Hải Vân

thì lại rõ ràng được sáng tác theo cảm hứng lãng mạn

Như vậy việc sắp xếp các nhà văn trong xu hướng văn học nào có thể là căn cứ

vào sở trường, khuynh hướng cảm hứng thẩm mỹ nổi trội ở nhà văn đó để tạo thành

những tác phẩm thành công Sở trường và quan điểm thẩm mỹ của Nguyễn Công Hoan,

Vũ Trọng Phụng, Nam Cao là quan sát, mổ xẻ hiện thực và phủ nhận, vạch trần cái

xấu, cái ác… Tác phẩm của Thạch Lam, Thanh Tịnh, Hồ Dzếnh, Xuân Diệu…thể hiện

cảm quan hiện thực nhưng khuynh hướng bộc lộ những rung cảm sâu sắc về vẻ đẹp thi

vị của cuộc sống, thiên nhiên và tâm hồn con người lại là phần đậm nét nên tác phẩm

của họ căn bản vẫn nghiêng về khuynh hướng lãng mạn

Cũng cần lưu ý rằng hai xu hướng văn học lãng mạn hay hiện thực không có sự

đối lập nhau về giá trị Ở xu hướng nào cũng đều có những cây bút tài năng và những

thành tựu nổi bật

2 Khái niệm chủ nghĩa lãng mạn

Chủ nghĩa lãng mạn là một trào lưu văn học lớn đã phát triển ở phương Tây vào

cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX ở nhiều nước

Chủ nghĩa lãng mạn là một khuynh hướng thẩm mỹ coi trọng cảm hứng chủ đạo

trong việc khẳng định cái tôi cá nhân cá thể được giải phóng về tình cảm, cảm xúc và trí

tưởng tượng ra khỏi sự trói buộc của lý trí Chủ nghĩa lãng mạn đề cao tính tích cực

sáng tạo của người nghệ sĩ nên nó phản ứng với tính duy lý và những qui phạm chặt chẽ

của chủ nghĩa cổ điển vì điều này ảnh hưởng đến cá tính sáng tạo của người nghệ sĩ

Hướng tới mục tiêu khẳng định cái tôi cá nhân nên văn học lãng mạn thường có vai trò

quan trọng, đi đầu trong công cuộc hiện đại hóa văn học các dân tộc

Đối lập với tính chất duy lý, phản ứng lại sự trói buộc của lý trí nên cái tôi trong

chủ nghĩa lãng mạn yêu thích tự do, có hứng thú muốn phơi bày cảm xúc mãnh liệt

trong đời sống nội tâm, muốn bộc lộ những tình cảm đắm say, sôi nổi, phóng túng đối

với cuộc đời Cho nên đi vào những tác phẩm của chủ nghĩa lãng mạn, người đọc sẽ

cảm nhận được những cảm xúc, những suy tư của cái tôi cá nhân được phơi trải đầy đủ,

thành thực Chủ nghĩa lãng mạn vì thế thường tìm đến những đề tài thích hợp như thiên

nhiên, tôn giáo, tình yêu Để thể hiện cái tôi cá nhân, các nhà văn xem thiên nhiên là

người bạn tâm tình đáng tin cậy Họ miêu tả thiên nhiên đồng thời qua đó để gửi gắm

Trang 21

tâm trạng nỗi niềm cho nên thiên nhiên được miêu tả thường là những cảnh vật mênh

mông vô tận, tuy đẹp, thơ mộng nhưng đượm buồn dễ gợi nỗi niềm cô đơn, âu sầu vì nó

phù hợp với tâm trạng Tôn giáo cũng là một mảnh đất lý tưởng để các tâm hồn lãng

mạn đắm chìm trong đó mà quên đi thực tại Đó cũng là nơi cái tôi cá nhân có thể giãi

bày tâm sự thầm kín nhất hay những ước vọng cao cả mơ hồ

Các nhà văn lãng mạn cũng thường tìm đến đề tài tình yêu để trốn tránh thực tế xã

hội Tình yêu là một tình cảm đặc biệt đắm say mãnh liệt và cũng có nhiều bí ẩn nên

hầu hết các nhà văn lãng mạn đều viết về tình yêu Nhưng tình yêu trong văn thơ lãng

mạn thường là tình yêu tan vỡ, tình yêu không thỏa kiểu như:

Anh đi đường anh, tôi đường tôi Tình nghĩa đôi ta có thế thôi

(Giây phút chạnh lòng - Thế Lữ) Hay: Tình mất vui lúc đã vẹn câu thề,

Đời chỉ đẹp những khi còn dang dở

(Ngập ngừng - Hồ Dzếnh) Cho nên tình yêu trong văn học lãng mạn thường là những cảnh “Nửa chừng

xuân", là “Lỡ bước sang ngang", là “Xa cách"

Khao khát khẳng định cái tôi chủ quan, đắm mình trong mộng tưởng, chủ nghĩa

lãng mạn cũng thích nói về những gì khác thường, có tính cá biệt, ngoại lệ, thích cảnh

xứ lạ phương xa, thích đi vào lịch sử xa xưa, thích truyện đường rừng, truyện ma quỷ

rùng rợn Đây cũng là những đề tài quen thuộc được các cây bút lãng mạn Việt Nam

giai đoạn này chú ý

Khác các nhà văn hiện thực, các nhà văn lãng mạn thể hiện quan điểm thẩm mỹ

riêng Tâm hồn các nhà văn dễ rung cảm với những vẻ đẹp thi vị của cuộc sống Họ có

khát vọng vượt khỏi giới hạn của cái hiện tồn để vươn tới cõi vô hạn có tính lý tưởng vì

thế họ thường xây dựng nhân vật theo khuynh hướng lý tưởng để thể hiện khát vọng của

mình Đặc biệt các nhà văn lãng mạn coi cái buồn, nỗi đau là một phạm trù thẩm mỹ

cho nên văn học lãng mạn nhiều nước thường thấm đượm nỗi buồn Điều này đã chi

phối quan niệm và việc sáng tạo của các nhà văn giúp ta hiểu vì sao trong văn học lãng

mạn thường có nỗi đau vì tình yêu tan vỡ, vì chuyện biệt ly, về cái chết…

Chủ nghĩa lãng mạn do những đặc điểm về nội dung, khuynh hướng thẩm mỹ trên

nên nó thường tìm đến những hình thức thể hiện phù hợp, đặc biệt là nó sử dụng rộng

rãi các thể loại trữ tình như thơ trữ tình, văn tâm tình, tiểu thuyết, tự truyện, tùy bút

Chủ nghĩa lãng mạn có hứng thú trong việc phát hiện những hình ảnh, những tính cách

khác thường, ngoại lệ được thể hiện bằng những ngôn từ giàu tính biểu cảm, kích thích

mạnh vào các giác quan Nó sử dụng rộng rãi thủ pháp đối lập để gây ấn tượng như đối

lập giữa ánh sáng và bóng tối, giữa cái đẹp và cái thô kệch, cái cao cả và cái thấp hèn

Văn học lãng mạn phản ứng với những qui phạm, mực thước của văn chương cổ điển

nên nó không hoàn toàn đi theo những luật lệ, những công thức cũ mà đã tìm cách thể

hiện mới trong khi phản ánh cuộc sống và đã đóng góp nhiều cho sự đổi mới rõ rệt của

văn học

II Chủ nghĩa lãng mạn trong văn học Việt Nam giai đọan 1930-1945

1 Những tiền đề lịch sử - xã hội - văn hóa dẫn đến sự xuất hiện của chủ

nghĩa lãng mạn trong văn học Việt Nam giai đoạn 1930 -1945

Trang 22

Trước 1930, trong văn học đã xuất hiện những mầm mống của chủ nghĩa lãng mạn

nhưng phải đến giai đoạn 1930 -1945, chủ nghĩa lãng mạn mới thực sự phát triển thành

một trào lưu do sự tác động của những yếu tố lịch sử, xã hội, văn hóa cụ thể

Trước hết phải kể đến ảnh hưởng của sự tiếp xúc với văn hóa phương Tây trong

xã hội lúc bấy giờ Có thể nói đây là một yếu tố quan trọng làm thay đổi thị hiếu thẩm

mỹ của lớp công chúng văn học mới và tác động đến những người trực tiếp cầm bút

Đây cũng là tiền đề quan trọng dẫn đến sự ra đời của văn học lãng mạn Lớp công

chúng văn học từ những tầng lớp mới xuất hiện trong xã hội, chủ yếu là lớp thanh niên

tiểu tư sản thành thị bắt đầu quen dần với lối sống, điều kiện vật chất và sinh hoạt của

xã hội hiện đại Khi tiếp xúc với văn học phương Tây, đặc biệt là văn học lãng mạn

phương Tây, cảm xúc, tư tưởng, thị hiếu thẩm mỹ của họ cũng thay đổi Họ đòi hỏi phải

có sự đáp ứng của nền văn học mới để phù hợp với nhu cầu tinh thần của họ Hoài

Thanh, trong quyển Thi nhân Việt Nam, đã có những nhận xét xác đáng:

“Chúng ta ở nhà Tây, đội mũ Tây, mặc áo Tây Chúng ta dùng đèn điện, đồng hồ,

ô tô, xe lửa, xe đạp Còn gì nữa! Nói làm sao cho xiết những điều thay đổi về vật

chất phương Tây đã đưa tới giữa chúng ta! Cho đến những nơi hang cùng ngõ

hẽm cuộc sống cũng không còn giữ nguyên hình ngày trước Một cây đinh cũng

mang theo nó một chút quan niệm của phương Tây về nhân sinh, vũ trụ và có

ngày ta sẽ thấy thay đổi cả quan niệm của phương Đông ” (Hoài Thanh – Hoài

Chân, 2006: trang 20)

và tác giả Thi nhân Việt Nam đã đi tới chỗ khẳng định:

“Phương Tây bây giờ đã đi tới chỗ sâu nhất trong hồn ta Ta không thể vui cái

vui ngày trước, buồn cái buồn ngày trước, yêu ghét, giận hờn, nhất nhất như ngày

trước” (Hoài Thanh – Hoài Chân, 2006: trang 21)

Văn học phương Tây đặc biệt ảnh hưởng sâu sắc tới người cầm bút Đó là lớp trí

thức Tây học trẻ tuổi, ít vương vấn tư tưởng mỹ học cổ điển và ít chịu ảnh hưởng thi

pháp trung đại, lớn lên trong môi trường sinh hoạt thành thị, thấm nhuần văn hóa, văn

học phương Tây hiện đại trong đó có văn học lãng mạn Chủ nghĩa lãng mạn phù hợp

để giới trí thức Tây học gửi gắm tâm trạng nỗi niềm cùng những mộng tưởng, khát khao

của cái tôi cá nhân trong hoàn cảnh xã hội đương thời Thêm nữa, những đòi hỏi của lớp

công chúng văn học trong đời sống văn học bấy giờ đã góp phần thúc đẩy cảm hứng

sáng tạo của người cầm bút

Tình hình xã hội Việt Nam lúc bấy giờ cũng là một yếu tố góp phần thúc đẩy sự ra

đời và phát triển của văn học lãng mạn Cuộc khủng bố có qui mô toàn quốc của thực

dân Pháp sau cao trào Xô Viết Nghệ đã tạo nên một không khí hoang mang lo sợ trong

tầng lớp thanh niên trí thức thành thị Đời sống nhân dân ngày càng khó khăn vì phải

gánh chịu những hậu quả và ảnh hưởng nặng nề của cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới

1929 -1933 Xã hội Việt Nam lúc bấy giờ bị phủ trùm bởi một bầu không khí căng

thẳng, u ám, nhiều thanh niên trí thức trở nên bi quan, bế tắc Để xoa dịu tình hình căng

thẳng đồng thời để ru ngủ và đánh lạc hướng thanh niên, bọn thực dân đã dấy lên nhiều

phong trào và hoạt động như phong trào Âu hóa, phong trào phục cổ, thể dục thể thao,

“vui vẻ trẻ trung”…Văn học lãng mạn cũng được chúng ủng hộ vì góp phần làm cho

thanh niên đắm chìm trong mơ mộng, thoát ly thực tế

Những yếu tố về mặt lịch sử, xã hội, văn hoá, sự thay đổi thị hiếu thẩm mỹ của

người đọc, khát khao muốn khẳng định ý thức cá nhân của người cầm bút và việc giao

lưu văn hóa với phương Tây là những tiền đề quan trọng dẫn đến sự ra đời của văn học

Trang 23

lãng mạn như một yêu cầu tất yếu trong lịch sử văn học

Mặt khác chủ nghĩa lãng mạn ra đời còn như là một sự phản ứng với những qui

phạm ước lệ quá chặt chẽ của văn học trung đại Người cầm bút cảm thấy cần phải giải

phóng cái tôi khỏi sự trói buộc của ý thức cộng đồng để tự do thể hiện bản ngã của

mình Họ cũng muốn thoát khỏi mọi ràng buộc của những qui tắc cứng nhắc vì nó kềm

hãm cá tính sáng tạo của người cầm bút Vì lẽ đó chúng ta hiểu vì sao văn học lãng mạn

1930 – 1945 đi đầu trong sự đổi mới nền văn học theo hướng hiện đại hóa

2 Vài nét về sự hình thành và phát triển của văn học lãng mạn Việt Nam

1930 -1945

Ở giai đoạn 1930 -1945 văn học lãng mạn Việt Nam đã xuất hiện và phát triển

mạnh mẽ thành một trào lưu với đầy đủ những đặc trưng của nó trên tất cả các thể loại

Sự phát triển của trào lưu văn học lãng mạn đã có sự chuẩn bị từ giai đoạn trước Từ

đầu thế kỷ XX, chủ nghĩa lãng mạn đã thể hiện khá đầy đủ những đặc trưng của nó

trong những tác phẩm thơ văn xuất hiện thời kỳ này Có thể kể đến thơ Đoàn Như

Khuê, Trần Tuấn Khải và tiêu biểu nhất là thơ Tản Đà Tản Đà đã thể hiện rõ rệt trong

thơ văn của mình cái tôi lãng mạn, một cái tôi tràn đầy cảm xúc và phóng túng, một cái

tôi đa tình, đa cảm với những nỗi buồn man mác, nỗi sầu chán, cái tôi đầy mộng và

ngông đã tạo nên những tác phẩm Khối tình con, Giấc mộng con, Giấc mộng lớn Tính

chất lãng mạn của thơ ca Tản Đà đã góp phần phá vỡ lề lối của thi ca xưa vì đã thể hiện

được cái tôi cá thể mà văn học trung đại đã không nói tới Nhưng cái tôi Tản Đà không

đủ sức vẫy vùng ra khỏi các luật lệ của thơ cũ để sáng tạo nên các thể thơ mới hiện đại

Nó phải tìm cách tự biểu hiện ở những thể thơ cổ nhưng thuộc loại tự do hơn như thể

hát nói, thể lục bát, lối từ khúc… Thề non nước, Nhớ cảnh cầu Hàm Rồng là những

bài thơ viết theo thể thơ lục bát, Hỏi gió theo thể hát nói, Tống biệt thì theo lối từ khúc

cổ Có thể nói Tản Đà là người mở đầu xu hướng lãng mạn trong thơ ca Việt Nam hiện

đại, là cái gạch nối của hai thế kỷ thơ ca cũ và mới, là trung gian giữa hai cao trào thơ

cổ và hiện đại Thực sự Tản Đà đã “dạo những bản đàn mở đầu cho một cuộc hòa nhạc

tân kỳ đương sắp sửa” (Hoài Thanh - Hoài Chân, 2006: trang 16) Ở văn xuôi có những

tác phẩm đã mang đặc điểm của văn học lãng mạn như Linh Phượng ký của Đông Hồ,

Giọt lệ thu của Tương Phố, đặc biệt là Tố Tâm của Hoàng Ngọc Phách Hoàng Ngọc

Phách có thể xem là người đầu tiên đã đưa vào văn học nước ta một mối tình mãnh liệt

đắm say của một đôi trai gái thời hiện đại với những trang phân tích tâm lý sắc sảo diễn

tả những qui luật phức tạp của tình yêu một cách mới mẻ và hấp dẫn Tuy nhiên ông

chưa đoạn tuyệt hẳn với những giáo điều của nho gia về trung hiếu tiết nghĩa, tứ đức

tam tòng Tác phẩm chịu ảnh hưởng văn chương hiện đại phương Tây nhưng đôi khi

vẫn còn sử dụng lối văn biền ngẫu với những hình ảnh của văn chương cổ, thỉnh thoảng

lại chen vào những câu văn lâm ly mùi mẫn Tố Tâm đã thể hiện nhiều điểm mới trong

nghệ thuật tiểu thuyết chuẩn bị cho sự ra đời và hình thành nền tiểu thuyết Việt Nam

hiện đại

Đến giai đoạn 1930 -1945 chủ nghĩa lãng mạn đã phát triển mạnh mẽ ở các thể

loại như thơ, tiểu thuyết, truyện ngắn, bút ký, tùy bút… với những sự kiện nổi bật như

phong trào Thơ mới, sự ra đời hàng loạt tiểu thuyết của nhóm Tự lực văn đoàn Các

tác giả là những cây bút Tây học trẻ tuổi chịu ảnh hưởng của văn học phương Tây đã

thể hiện rõ rệt và sâu sắc cái tôi cá nhân của người cầm bút Văn học lãng mạn lúc này

đã thực sự thể hiện rõ đặc trưng của nó và với những thành tựu nổi bật, xu hướng văn

học này đã góp phần đẩy nhanh tiến trình hiện đại hóa nền văn học lên một bước mới

3 Đặc điểm của văn học lãng mạn Việt Nam 1930 -1945

Trang 24

3.1 Cảm hứng sáng tạo của văn học lãng mạn Việt Nam 1930 -1945 gắn liền

với việc khẳng định cái tôi cá nhân của người cầm bút

Trước kia trong văn học hầu như chỉ có cái “ta” của cộng đồng, cái tôi cá nhân cá

thể đã bị chìm lấp giữa cái Ta chung ấy nên đã không có điều kiện tự ý thức Đến giai

đoạn này với chủ nghĩa lãng mạn, cái tôi cá nhân lần đầu tiên đã hiện diện với nhiều sắc

điệu phong phú và cũng lần đầu tiên trong văn học Việt Nam đã có cái tôi cá thể hóa

trong cách cảm thụ thế giới, thiên nhiên và trong sáng tạo nghệ thuật Văn học lãng mạn

đã khẳng định cái tôi như một bản lĩnh tích cực trong cuộc sống và một chủ thể sáng tạo

độc đáo trong nghệ thuật Đây chính là một đóng góp quan trọng của văn học lãng mạn

trong việc đổi mới nền văn học Được giải phóng khỏi cái Ta, cái tôi của chủ thể sáng

tạo đã có điều kiện để tự thể hiện mình trong cách nhìn nhận cuộc sống và biểu hiện

những cảm xúc, tâm trạng bằng những cách riêng không bị ràng buộc bởi những ước lệ,

công thức như văn chương cổ Vì vậy giai đoạn này đã hình thành và nở rộ những

phong cách nghệ thuật độc đáo cả trong thơ và văn xuôi Nhận xét về điều này trong

lĩnh vực thơ, Hoài Thanh đã nhận định:

“Tôi quyết rằng trong lịch sử thi ca Việt Nam chưa bao giờ có một thời đại phong

phú như thời đại này Chưa bao giờ người ta thấy xuất hiện cùng một lần một hồn

thơ rộng mở như Thế Lữ, mơ màng như Lưu Trọng Lư, hùng tráng như Huy

Thông, trong sáng như Nguyễn Nhược Pháp, ảo não như Huy Cận, quê mùa như

Nguyễn Bính, kỳ dị như Chế Lan Viên và thiết tha, rạo rực, băn khoăn như Xuân

Diệu” (Hoài Thanh – Hoài Chân, 2006: trang 38)

Trong văn xuôi, văn học lãng mạn Việt Nam cũng có nhiều phong cách độc đáo

như Nhất Linh, Khái Hưng, Thạch Lam, Nguyễn Tuân Mỗi nhà văn đã tìm cho mình

một lối đi riêng trong cách sáng tạo: Thạch Lam tinh tế với những trang văn đi sâu vào

thế giới nội tâm của nhân vật, Nguyễn Tuân với cái tôi tài hoa và khinh bạc, thích “xê

dịch" cứ mải miết đi tìm cái đẹp của cuộc đời, Hồ Dzếnh tìm về “Chân trời cũ” với nỗi

niềm riêng và sự trăn trở giữa đôi bờ xứ sở

Nhìn chung cái tôi lãng mạn đã thể hiện bản ngã của người nghệ sĩ thuộc tầng lớp

trí thức Họ có tấm lòng đối với quê hương đất nước nhưng bất lực trước thực tại xã hội

Họ chỉ biết tỏ thái độ bất mãn, bất hòa với chủ nghĩa thực dân tàn bạo, hống hách và

những tập tục phong kiến lạc hậu Họ gửi gắm tấm lòng của họ vào tình yêu tiếng Việt,

vào những vần thơ, câu văn ca ngợi thiên nhiên quê hương đất nước, con người Việt

Nam Bất lực và bế tắc trước cuộc sống, họ chỉ còn biết đào sâu vào cái tôi cá nhân và

đắm mình trong những lối thoát mà họ nghĩ có thể giúp họ trốn tránh thực tại Tìm cách

thoát khỏi thực tại nhưng họ không chối bỏ cuộc sống mà chỉ muốn trốn thoát điều kiện

xã hội ngột ngạt - xã hội thực dân nửa phong kiến - bằng cách đi vào mộng tưởng, đắm

mình vào thế giới nội tâm, tìm về quá khứ hay thoát lên tiên Thiên nhiên, tôn giáo,

tình yêu cũng là những mảnh đất lý tưởng mà họ đã tìm tới Thế Lữ thoát lên tiên, Xuân

Diệu, Huy Cận tìm đến tình yêu, Thâm Tâm với giấc mộng lên đường làm khách chinh

phu Các nhà tiểu thuyết Tự lực văn đoàn thì chống lại xã hội theo cách riêng của

mình Họ đắm mình vào thế giới tình yêu, đấu tranh chống lễ giáo phong kiến, đòi giải

phóng cá nhân, đề cao tình yêu và hôn nhân tự do

Tuy nhiên dù muốn trốn tránh nhưng không lối thoát nào có thể giúp người nghệ

sĩ quên đi thực tại Mang nhiều lý tưởng và ước mơ đẹp về cuộc đời nhưng khi bắt gặp

thực tại đen tối, cá nhân đã không có điều kiện để tự do phát triển nên cái tôi bỗng thấy

hụt hẫng và rơi vào nỗi buồn chán, cô đơn Có thể nói buồn và cảm giác cô đơn là một

đặc điểm của văn học lãng mạn Đây cũng là một đặc điểm thường thấy trong văn học

Trang 25

lãng mạn nhiều nước, là một căn bệnh phổ biến và được coi là một tình cảm đẹp Alfred

de Musset, một nhà thơ lãng mạn Pháp đã từng viết: “Tuyệt vọng nhất lại là những tiếng

hát đẹp nhất" Trong hoàn cảnh thuộc địa như ở Việt Nam trước cách mạng, cái buồn

càng đậm và nó đã trở thành lý tưởng thẩm mỹ của chủ nghĩa lãng mạn:

Thuyền yêu không ghé bến sầu Như đêm thiếu phụ bên lầu không trăng

(Một mùa đông – Lưu Trọng Lư)

Nỗi buồn ấy có nguyên nhân từ thân phận, nỗi đau của người dân mất nước Con

người mang nặng những lý tưởng, ước mơ cao đẹp về cuộc đời nhưng trong xã hội thực

dân tàn bạo, ước mơ vẫn chỉ là ước mơ còn thực tế lại đẩy con người vào một hoàn cảnh

bế tắc:

Tôi chỉ là người mơ ước thôi

Là người mơ ước hão, than ôi

(Bên sông đưa khách - Thế Lữ)

Càng buồn chán, con người càng đào sâu vào cái tôi cá nhân đắm mình trong sầu

mộng để rồi càng cảm nhận rõ hơn nỗi bơ vơ, cô đơn, lạnh lẽo, như Hoài Thanh đã nhận

xét:

“Đời chúng ta nằm trong vòng chữ tôi Mất bề rộng ta đi tìm bề sâu Nhưng càng

đi sâu càng lạnh "( Hoài Thanh – Hoài Chân, 2006: trang 62)

3.2 Nguyên tắc tiếp cận và khám phá cuộc sống của văn học lãng mạn 1930

-1945 mang đậm tính chủ quan

Việc phân chia văn học lãng mạn và văn học hiện thực chỉ có tính chất tương đối,

không có sự tách bạch tuyệt đối ở hai kiểu sáng tác này Tuy nhiên xét về đại thể văn

học lãng mạn và hiện thực có sự khác biệt khá rõ Nếu văn học hiện thực tái hiện đời

sống trong tính khách quan, không tô vẽ thì văn học lãng mạn lại thiên về việc tái tạo

đời sống bằng một cái nhìn chủ quan Cách khám phá cuộc sống trong tính chủ quan đã

ảnh hưởng, chi phối đến nhiều yếu tố như việc miêu tả, lý giải cuộc sống, xây dựng hình

tượng nhân vật…

Đối với các hiện tượng đời sống, các nhà văn lãng mạn thường có cái nhìn và cách

lý giải với thái độ chủ quan Có thể thấy rõ điều này trong các tác phẩm của nhiều nhà

văn Nhóm Tự lực văn đoàn khi đặt ra và giải quyết những vấn đề xã hội trong những

tiểu thuyết luận đề của mình, họ đã bộc lộ rõ thái độ chủ quan nên nhiều khi những giải

pháp mà họ đưa ra không phù hợp với thực tế, nhất là vấn đề cải cách xã hội

Quan điểm, lý tưởng thẩm mỹ - một phương diện chủ quan của mỗi cá nhân các

nhà văn lãng mạn – cũng được bộc lộ rõ trong sáng tác và chi phối việc xây dựng thế

giới nghệ thuật của họ

Khác với các nhà văn hiện thực (Nam Cao, Vũ Trọng Phụng, Nguyễn Công

Hoan…) khi xây dựng nhân vật thường chú ý đến mối quan hệ giữa tính cách và hoàn

cảnh, các nhà văn lãng mạn thường ít chú ý đến mối quan hệ này Nhân vật trong các

tác phẩm lãng mạn thường được xây dựng để thể hiện lý tưởng thẩm mỹ và quan niệm

chủ quan của nhà văn nên thường mang tính cá biệt nhiều khi trở nên phi thường, tuy

cũng có cá tính nhưng ít có ý nghĩa phổ biến Khát vọng muốn vượt thoát khỏi những

cái hiện tồn để vươn lên cõi vô hạn mang tính lý tưởng đã chi phối việc xây dựng nhân

Trang 26

vật của các nhà văn Nhân vật được xây dựng trong sự đối lập, xung đột với hoàn cảnh

Hoàn cảnh xã hội càng ngột ngạt, tăm tối, con người càng bộc lộ tâm hồn cao cả vượt

lên trên hoàn cảnh Tính cách của họ thấm đượm tính chất lý tưởng Đọc tập truyện

Vang bóng một thời của Nguyễn Tuân có thể thấy được hình ảnh của những bậc nho sĩ

tài hoa muốn đem lối sống thanh cao đối lập với xã hội thực dân đen tối, ngột ngạt Tâm

hồn cao đẹp của họ quả thật là những “thanh âm trong trẻo chen giữa một bản đàn mà

nhạc luật đã hỗn loạn xô bồ”(Chữ người tử tù) Đến với phong trào Thơ mới, người đọc

có thể cảm nhận được cái tôi cá nhân của các thi sĩ, cái tôi cô đơn, triền miên trong “nỗi

buồn thế hệ” luôn đối lập với thực tế khách quan của đời sống Thế giới nội tâm của họ

thường được phơi bày với những rung động thầm kín, những ước mơ bay bổng, những

nỗi niềm riêng u ẩn, nỗi buồn đau, cô đơn…

Thiên nhiên trong văn học lãng mạn cũng được các tác giả miêu tả với quan niệm

thẩm mỹ riêng theo cái nhìn chủ quan, một cách chủ quan hoá ngoại giới theo cách

riêng của họ Dễ rung cảm với cái đẹp, người nghệ sĩ thường đi tìm cái đẹp trong thiên

nhiên, phát hiện ra những vẻ đẹp của thiên nhiên, đất nước Những vẻ đẹp này thường

hiện ra trong cái nhìn thi vị hóa của nhà văn Đặc điểm này ít có trong văn học hiện

thực Thiên nhiên cũng là nơi nhà văn gửi gắm tâm trạng chủ quan của các tác giả Có

thể tìm thấy những bức tranh thiên nhiên thơ mộng, tuyệt mỹ trong các bài thơ mới,

trong những trang văn của các nhà văn Tự lực văn đoàn, của Nguyễn Tuân, Thạch Lam,

Thanh Tịnh, Hồ Dzếnh…

3.3 Văn học lãng mạn 1930 -1945 thể hiện rõ sự cách tân đáng kể về nghệ

thuật

Khi chủ nghĩa lãng mạn ra đời thì mọi ràng buộc có tính qui phạm đều bị phá vỡ ở

mọi thể loại, đặc biệt ở thể loại thơ và các thể loại văn xuôi Điều này thể hiện rõ sự

đóng góp của văn học lãng mạn đối với sự đổi mới văn học theo hướng hiện đại

Khi bài thơ Tình già của Phan Khôi được “trình làng” và sau đó là hàng loạt

những bài thơ mới khác của Thế Lữ, Lưu Trọng Lư, Xuân Diệu, Huy Cận, người ta đã

thấy dấu hiệu của sự đổi mới hình thức thơ Lúc đầu các nhà thơ đã đưa văn xuôi vào

thơ một cách ồ ạt để phá vỡ thế độc tôn của câu thơ thất ngôn, ngũ ngôn trong thơ cổ

Có những câu thơ dài đến 27 chữ như câu thơ của Nguyễn Thị Kiêm, nhiều câu thơ của

Thế Lữ giống như văn xuôi Câu thơ không hạn chế về số câu trong mỗi bài thơ, không

qui định số từ bắt buộc cho mỗi dòng thơ Cách gieo vần cũng hết sức phóng khoáng

theo lối thơ Pháp: vần gián cách, vần liên tiếp, vần hỗn hợp Nhưng về sau thơ mới

chín lại với những bài thơ 7 chữ, 8 chữ, thơ lục bát của truyền thống Rất nhiều bài thơ

mới đã thành công ở những thể thơ này Điều này cho thấy sự đổi mới của thơ không

chỉ thể hiện ở mặt hình thức mà quan trọng là mặt nội dung, mặt linh hồn, “tinh thần”

của thơ Thơ Mới đã thể hiện sâu sắc cái tôi cá nhân cá thể của người cầm bút, một cái

tôi đã có ý thức sâu sắc về sự tồn tại có ý nghĩa của chính nó Cái mới của Thơ Mới

chính là ở chỗ nó đã coi cái tôi cá nhân như một quan điểm, một tư cách để nhìn đời và

nói với mọi người Nó đã thể hiện chân thật và phóng khoáng đời sống nội tâm tràn đầy

cảm xúc Thế giới qua cái nhìn của cặp mắt “xanh non", “biếc rờn” của chính thi sĩ đã

hiện ra đầy thanh sắc, mới mẻ, tân kỳ chưa từng thấy trong thơ cổ Do vậy đọc những

câu thơ với hình thức của thể thơ truyền thống ấy, ta vẫn nhận ra sự mới mẻ ở cái dáng

điệu, ở tâm hồn trẻ trung, ở cách cảm nhận của mỗi cái tôi cá nhân cá thể về cuộc sống

- Trời cao xanh ngắt - Ô kìa Hai con hạc trắng bay về Bồng Lai

Trang 27

(Tiếng sáo thiên thai - Thế Lữ)

- Ô kìa bóng nguyệt trần truồng tắm

Lộ cái khuôn vàng dưới đáy khe

(Bẽn lẽn - Hàn Mặc Tử)

Cũng cần thấy rằng tuy vẫn sử dụng những thể thơ truyền thống nhưng thơ Mới

cũng có sự đổi mới ở các mặt như nhịp điệu thơ, giọng điệu thơ Điều này chung quy

cũng là để phục vụ cho việc thể hiện thế giới nội tâm đầy cảm xúc của thi nhân

Diễn tả sự vội vàng, hối hả tận hưởng cuộc sống, Xuân Diệu đã đưa vào trong thơ

một nhịp điệu hối hả gấp gáp:

Mau với chứ, vội vàng lên với chứ!

Em, em ơi! Tình non sắp già rồi

Gấp đi em! Anh rất sợ ngày mai

(Giục giã – Xuân Diệu )

Diễn tả một tâm trạng dịu êm, lắng đọng, các nhà thơ mới thể hiện bằng một âm

điệu du dương, lơ lửng, bay bổng với những thanh âm êm ái, nhẹ nhàng:

- Sương nương theo trăng ngừng lưng trời Tương tư nâng lòng lên chơi vơi

(Nhị hồ - Xuân Diệu)

- Tôi qua tim nàng vay du dương Tôi mang lên lầu lên cung thương

(Tỳ bà - Bích Khê)

Như vậy với Thơ mới, số câu, số từ, tiết tấu, nhịp điệu không thể cố định, cứng

nhắc như trong thơ cũ Bằng sự kết hợp giữa âm thanh, tiết tấu, ngữ điệu, câu thơ mới

biến hóa thoải mái để diễn tả được những rung động tinh tế trong tâm hồn con người,

điều này thi pháp thơ cũ đã tỏ ra quá chật hẹp không thể biểu hiện hết ra được

Ở lĩnh vực văn xuôi cũng có những đổi mới đáng kể Các nhà tiểu thuyết Tự lực

văn đoàn thì tự giải phóng khỏi lối tiểu thuyết chương hồi, kiểu bố cục theo công thức,

lối kết thúc có hậu của văn xuôi cổ Họ lấy tính cách, tâm hồn nhân vật làm trung tâm,

do đó có nhiều khám phá về đời sống nội tâm của con người đặc biệt là trong tình yêu,

tình bạn, tình quê hương Câu văn xuôi của các nhà văn lãng mạn thời kỳ này cũng

hiện đại, trong sáng, gần gũi với đời sống hơn lối văn biền ngẫu, lối sử dụng những câu

văn vần du dương của Hoàng Ngọc Phách, Phạm Duy Tốn giai đoạn trước

III KẾT LUẬN

Văn học lãng mạn Việt Nam giai đoạn 1930 -1945 đã đạt nhiều thành tựu đáng kể

(đặc biệt là ở thể loại thơ, truyện ngắn, tiểu thuyết) và đóng một vai trò quan trọng trong

việc thúc đẩy quá trình hiện đại hóa nền văn học lên một bước mới Văn học lãng mạn

giai đoạn này đã thể hiện sự đổi mới ở quan niệm nghệ thuật, quan điểm thẩm mỹ và có

nhiều cách tân đáng kể trong nghệ thuật Nhiều tác phẩm, cả thơ và văn đã thực sự có

thể được xem là những tuyệt tác văn chương được yêu thích và có sức sống lâu bền

Trang 28

trong lòng người đọc nhiều thế hệ

CÂU HỎI ÔN TẬP

1 Khái niệm chủ nghĩa lãng mạn trong văn học Văn học lãng mạn thường tìm

đến những thể loại nào? Tại sao?

2 Những đặc điểm cơ bản của văn học lãng mạn Việt Nam giai đoạn 1930 - 1945

Hãy phân tích một đặc điểm mà anh chị cho là quan trọng nhất

3 Những đóng góp và hạn chế của trào lưu văn học lãng mạn

TÀI LIỆU THAM KHẢO CHÍNH

1 Bộ GD &ĐT 2007 Tài liệu bồi dưỡng giáo viên thực hiện chương trình sách

giáo khoa Ngữ văn lớp 11 Hà Nội: Nhà xuất bản Giáo dục

Đọc từ trang 63 đến 69 và trang 177, 178

2 Hoài Thanh – Hoài Chân 2006 Thi nhân Việt Nam Hà Nội: NXB Văn học

3 Mã Giang Lân 2000 Quá trình hiện đại hóa văn học Việt Nam 1900 – 1945

Hà Nội: Nhà xuất bản Văn hóa thông tin

Đọc chương 1, bài của Mã Giang Lân (từ trang 9 đến trang 64)

3 Nguyễn Đăng Mạnh 2000 Giáo trình lịch sử văn học Việt Nam 1930 -1945

Hà Nội: Nhà xuất bản ĐH Quốc gia,

Đọc chương 2 (từ trang 32 đến 36)

4 Nguyễn Hoành Khung 1998 Văn xuôi lãng mạn Việt Nam (2 tập), TP Hồ Chí

Minh: Nhà xuất bản Khoa học xã hội

5 Phan Cự Đệ và nhiều tác giả 2000 Giáo trình Văn học Việt Nam (1900 -1945)

Hà Nội: Nhà xuất bản Giáo dục

Đọc chương XVIII (từ trang 523 đến 528)

6 Phan Cự Đệ 2002 Văn học lãng mạn Việt Nam 1930 -1945 Hà Nội: Nhà xuất

bản Văn học

7 Trần Đăng Suyền, Nguyễn Văn Long (đồng chủ biên) 2007 Giáo trình Văn

học Việt Nam hiện đại tập 1 (từ đầu thế kỷ XX đến 1945) Hà Nội: Nhà xuất bản Đại học

sư phạm

Đọc chương 5 (từ trang 93 đến 96)

8 Các tài liệu tham khảo có liên quan đến bài học mà cá nhân tìm được ở sách

báo, tạp chí chuyên ngành

Trang 29

CHƯƠNG III: PHONG TRÀO THƠ MỚI

W X

A MỤC TIÊU CẦN ĐẠT VÀ NHIỆM VỤ CỦA SINH VIÊN

1 Mục tiêu cần đạt: Kiến thức cần nắm:

- Khái niệm Thơ mới, tinh thần Thơ mới

- Sự hình thành và vận động của phong trào Thơ mới từ năm 1932 đến năm 1945

Nắm vững từng giai đoạn của Thơ mới với những tác giả tiêu biểu mỗi giai đoạn

- Giá trị tư tưởng nghệ thuật, quan điểm thẩm mỹ và vai trò của Thơ mới trong

tiến trình phát triển của văn học Việt Nam hiện đại

2 Nhiệm vụ của sinh viên:

Đọc kỹ giáo trình và các tài liệu tham khảo cần thiết (đã được giới thiệu) để tìm

hiểu các vấn đề cơ bản của bài học Cụ thể:

- Những kiến thức cơ bản về phong trào Thơ mới, một hiện tượng đặc biệt tạo nên

một bước ngoặt quan trọng trong sự phát triển của nền thi ca dân tộc theo hướng hiện

đại

- Nêu và phân tích những dẫn chứng cụ thể để làm sáng tỏ khái niệm Thơ mới, đặc

biệt là vấn đề “tinh thần Thơ mới”

- Tìm hiểu một số nhà thơ mới tiêu biểu nổi bật ở từng giai đoạn (Thế Lữ, Xuân

Diệu, Huy Cận, Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, Nguyễn Bính, …) để qua đó hiểu được sự

vận động và phát triển của thơ mới qua từng chặng đường phát triển

- Tìm hiểu Thi nhân Việt Nam của Hoài Thanh – Hoài Chân để hiểu thêm về một

công trình nghiên cứu nổi tiếng về Thơ mới và cây bút phê bình sắc sảo và tinh tế Hoài

Thanh

B NỘI DUNG KIẾN THỨC

I Khái niệm Thơ mới và đặc điểm phong trào Thơ mới 1930 -1945

Khi Thơ mới xuất hiện (1932), nhiều người hiểu thơ mới là thơ tự do, nghĩa là nó

không tuân thủ theo những niêm luật, phép tắc của thơ cổ như số chữ, số câu, thanh,

vần, đối Vì thế các nhà thơ mới ở giai đoạn đầu đã đưa văn xuôi vào thơ để phá vỡ

khuôn phép của lối thơ cổ Nhưng về sau các nhà thơ lại trở về với những thể thơ truyền

thống như thể thơ 7 chữ , 5 chữ, lục bát Định nghĩa Thơ mới là thơ tự do đã không

còn phù hợp nữa

Thực ra Thơ mới không chỉ đổi mới ở hình thức, ở thể cách mà cả ở cảm hứng, mà

đặc biệt là ở nội dung cảm xúc, ở phần hồn của nó mà Hoài Thanh gọi là “tinh thần của

thơ" Sự khác biệt giữa thơ cũ và thơ mới là ở chữ Ta (thể hiện ý thức cộng đồng) và

chữ Tôi (ý thức cá nhân) Thơ mới là tiếng nói của cái tôi lần đầu tiên được giải phóng

khỏi cái ta chung của cộng đồng Cái tôi ở đây được hiểu theo nghĩa cá nhân cá thể Thơ

mới diễn tả những cảm xúc, suy nghĩ, cảm nhận của chính cái tôi thi sĩ về thế giới, về

cuộc sống Cuộc sống được phát hiện trực tiếp bằng cái nhìn và sự cảm nhận mới mẻ

riêng của mỗi nhà thơ Cho nên có thể nói Thơ mới thực sự là thơ của cái tôi cá nhân cá

thể có thể phát biểu tiếng nói của chính mình, diễn tả cảm nghĩ của chính mình bằng

một hình thức mới mẻ thoát ra khỏi tính ước lệ phi ngã của thơ cũ Thơ Mới nhìn đời,

nhìn thế giới bằng chính cặp mắt của nó, cặp mắt tươi mới “xanh non”của cái tôi cá

Trang 30

nhân cá thể

Với Thơ Mới thì cái Tôi từ bao đời không được biết đến bây giờ đã đường hoàng

ra “trình làng":

“ Ngày thứ nhất - ai biết đích ngày nào - chữ tôi xuất hiện trên thi đàn Việt Nam,

nó thực bỡ ngỡ Nó như lạc loài nơi đất khách Bởi nó mang theo một quan niệm chưa

từng thấy ở xứ này: Quan niệm cá nhân” (Hoài Thanh – Hoài Chân, 2006: trang 60)

Sự chuyển biến từ chữ Ta sang chữ Tôi đã tạo nên cả “một cuộc cách mạng trong

thi ca” Cái tôi trước đây vốn bị gò bó trong cái Ta của cộng đồng nên nó khao khát tìm

đến sự giải thoát như một cánh chim tung bay giữa bầu trời cao rộng Nó muốn bộc lộ

hết mình trong yêu thương, cảm xúc, muốn mở hết giác quan để nhận biết thế giới xung

quanh, muốn thả sức hòa nhập vào vũ trụ bao la Mỗi nhà thơ đã thể hiện cái tôi riêng

của mình trong cách cảm thụ thế giới tạo nên nhiều phong cách nghệ thuật độc đáo

Đúng là:

"Chưa bao giờ người ta thấy xuất hiện cùng một lần một hồn thơ rộng mở như

Thế Lữ, mơ màng như Lưu Trọng Lư, hùng tráng như Huy Thông, trong sáng như

Nguyễn Nhược Pháp, ảo não như Huy Cận, quê mùa như Nguyễn Bính, kỳ dị như Chế

Lan Viên và thiết tha rạo rực băn khoăn như Xuân Diệu” (Hoài Thanh – Hoài Chân,

2006: trang 38)

Mang nhiều lý tưởng và ước mơ đẹp hướng về cuộc đời nhưng khi bắt gặp thực tế

đen tối với thân phận người dân mất nước, các nhà thơ đã không có điều kiện để cái tôi

phát triển tự do và cũng không có khả năng hòa nhập vào cuộc sống nên họ đã rơi vào

trạng thái hụt hẫng chơi vơi Họ đành trở về với cái tôi cá nhân, lấy cái tôi cá nhân làm

cứu cánh Nhưng đào sâu mãi vào cái tôi khép kín của mình, nó càng cảm thấy cô đơn

và nhỏ bé trước vũ trụ, càng cảm thấy bơ vơ Vì thế Thơ mới thường buồn và cô đơn

Có thể thấy buồn và cô đơn là nét chung của Thơ mới Điều này có thể xuất phát từ

nhiều nguyên nhân nhưng nguyên nhân Đó là sự bế tắc, không có lối thoát của tầng lớp

tiểu tư sản trí thức thành thị Mang nhiều lý tưởng ước mơ đẹp nhưng thực tế xã hội đã

không đáp ứng được những ước mơ mong mỏi của con người Các chiến sĩ cách mạng

thì dấn thân vào con đường đấu tranh để thay đổi xã hội nên họ đã có chỗ dựa vững

chắc ở chính nghĩa cách mạng và niềm tin ở thắng lợi Các nhà thơ mới thì không có

điểm tựa này Không chấp nhận cuộc sống tầm thường, buồn tẻ nhưng không tìm ra lối

thoát cho cuộc đời mình nên họ đã không khỏi cảm thấy lạc loài, bơ vơ Mỗi nhà thơ đã

tìm cho mình những miền đất riêng để quên đi thực tại Miền đất ấy không nằm ngoài

cuộc đời vì dù cho họ chán nản với cuộc đời hiện tại nhưng họ vẫn rất tha thiết yêu cuộc

sống Họ trốn vào nhiều nẻo: tình yêu, thiên nhiên, tôn giáo, quá khứ, cõi tiên nhưng ở

đâu cũng thấy buồn và cô đơn Không tìm thấy lối thoát, không có tương lai nên Thơ

mới vừa cất tiếng chào đời đã buồn ngay trong bản chất Ngay cả trong thời kỳ đầu, thơ

Thế Lữ cũng đã buồn, buồn ngay cả khi được thoát lên tiên:

Tiếng đưa hiu hắt bên lòng Buồn ơi xa vắng mênh mông là buồn

(Tiếng sáo thiên thai)

Trở về cõi trần Thế Lữ cũng buồn, nỗi buồn được hình tượng hóa qua hình ảnh

con hổ trong vườn bách thú than thở khi nhớ về một thời oanh liệt, tự do đã qua:

Than ôi! Thời oanh liệt nay còn đâu?

Trang 31

Đến Lưu Trọng Lư, Xuân Diệu, Huy Cận, Chế Lan Viên cái buồn và nỗi cô đơn

ấy càng thấm đậm trong thơ Xuân Diệu, con người tha thiết yêu cuộc sống, tha thiết

giao hòa với cuộc đời mà có lúc đã cảm thấy buồn và cô đơn thấm thía để rồi mượn lời

người kỹ nữ để nói lên cái chơi vơi, lạnh lẽo của tâm hồn:

Em sợ lắm, giá băng tràn mọi nẻo Trời đầy trăng lạnh lẽo suốt xương da

(Lời kỹ nữ)

Mặt khác điều quan trọng cần thấy rằng buồn đau nằm trong khuynh hướng chung

của văn học lãng mạn, được coi là tình cảm đẹp thể hiện quan điểm thẩm mỹ của các

nhà thơ mới và trở thành một đặc điểm nổi bật trong thơ Chính Huy Cận trong Kinh

cầu tự đã cho rằng: “ Cái đẹp bao giờ cũng buồn” Các thi sĩ thường rất dễ rung cảm

trước những hình ảnh, cảnh vật thiên nhiên đẹp đẽ gợi buồn Ta hiểu vì sao thiên nhiên

trong Thơ mới thường thấm đượm nỗi buồn nhưng đẹp và rất thi vị Trong sự tiếp xúc

với văn học phương Tây, các nhà thơ cũng đã ảnh hưởng cả quan điểm thẩm mỹ thể

hiện trong thơ ca các nước này

Thơ mới thể hiện cái mới trước hết ở nội dung cảm xúc nhưng cũng không thể phủ

nhận những sự đổi mới của Thơ mới về mặt hình thức Thơ mới đã phá vỡ những quy

phạm và hệ thống ước lệ của thơ cổ và nó chịu ảnh hưởng sâu sắc của thơ phương Tây,

đặc biệt là thơ Pháp Tuy nhiên Thơ mới không làm mất đi tính truyền thống của thơ ca

dân tộc vì dù tiếp thu ảnh hưởng của thơ Pháp nhưng Thơ mới vẫn kế thừa những yếu tố

của thơ truyền thống Nói như Hoài Thanh có lẽ xác đáng “Hồn thơ Pháp hễ chuyển vào

hồn thơ Việt là được Việt hóa hoàn toàn” và tuy rằng “mỗi nhà thơ Việt hình như mang

nặng trên đầu dăm bảy nhà thơ Pháp” nhưng “thi văn Pháp không làm mất đi bản sắc

Việt Nam” (Hoài Thanh – Hoài Chân, 2006: trang 43) Quả thực trong văn học những

cuộc đổi mới có giá trị không bao giờ đoạn tuyệt với truyền thống

Thơ mới cũng sáng tạo nên những thể thơ không có trong thơ xưa như thể thơ 8

chữ Người ta xem thể thơ này là tiêu biểu cho Thơ mới nhưng nó cũng bắt nguồn từ thể

hát nói phát triển mạnh từ thời Nguyễn Công Trứ Đây là lối thơ khá phổ biến của

phong trào Thơ mới Nó đã tạo nên hàng loạt thi phẩm xuất sắc của Thế Lữ, Xuân Diệu,

Huy Cận, Hàn Mặc Tử, Anh Thơ, Huy Thông

Thơ mới có thể sử dụng hình thức cũ (thơ lục bát, thất ngôn chẳng hạn) nhưng sự

cảm nhận cuộc sống của thi sĩ thực sự mới mẻ Bích Khê khi viết về mùa thu:

Ô hay buồn vương cây ngô đồng Vàng rơi, vàng rơi thu mênh mông

(Tỳ bà – Bích Khê)

thì tuy ông vẫn sử dụng câu thơ thất ngôn nhưng nó đã chứa đựng cái nhìn, sự cảm

nhận mới mẻ về thiên nhiên vạn vật và những cảm xúc riêng của chính tâm hồn thi sĩ

chứ hoàn toàn không mang tính ước lệ

Sự đổi mới của thơ hiện đại còn được thể hiện ở sự cách tân trong lời thơ Nếu thơ

cũ thường sử dụng lời thơ mang tính ước lệ, cách điệu thì ở thơ mới lời thơ thể hiện rõ

màu sắc cá thể của cái tôi thi sĩ Nó không còn bị gò vào những qui định chặt chẽ về số

câu, số chữ, về âm thanh, vần, luật, niêm… mà thường linh hoạt, uyển chuyển, thoải

mái gần với lời nói thường ngày

Phong trào Thơ mới phát sinh trong hoàn cảnh thơ Việt Nam bắt đầu chịu ảnh

Trang 32

hưởng và giao lưu với thơ Pháp nên nhiều nhà thơ Pháp đã ảnh hưởng sâu sắc đến các

nhà thơ Việt Nam Thế Lữ, Huy Thông phần nào học tập hơi thơ khoáng đạt, hào hùng

của Victor Hugo Xuân Diệu, Huy Cận, Chế Lan Viên chịu ảnh hưởng của Baudelaire

Nguyễn Xuân Sanh tìm đến Mallarmé, Valéry Các nhà thơ mới cũng chịu ảnh hưởng

của thơ Đường Một số nhà thơ lại có ý thức phát huy bản sắc dân tộc trong thơ của

mình như Nguyễn Bính, Anh Thơ, Huy Cận, Nguyễn Nhược Pháp

II Quá trình hình thành và vận động của phong trào Thơ mới:

Thơ mới từ lúc hình thành đã trải qua nhiều chặng đường phát triển Có thể nói

phong trào Thơ mới trải qua 3 chặng: hình thành, phát triển và đi vào khủng hoảng Tuy

nhiên cần thấy rằng ranh giới giữa các chặng đường không có sự rành mạch, tách bạch

tuyệt đối, mỗi nhà thơ có thể có sáng tác ở nhiều chặng Chúng ta nên lưu ý đến những

hiện tượng thật tiêu biểu và các thi phẩm tiêu biểu của các nhà thơ từng chặng

1 Chặng thứ nhất: Từ khoảng 1932 đến 1935

Ta biết rằng Thơ mới lãng mạn đã có dấu hiệu xuất hiện từ trước 1930 và thi sĩ

Tản Đà là người dạo bản nhạc đầu tiên mở đầu cho một cuộc hòa tấu của thơ ca lãng

mạn Thơ mới xuất hiện thành một phong trào từ một sự kiện gây tranh luận gay gắt, đó

là sự kiện Phan Khôi cho ra mắt bạn đọc bài thơ Tình già trên Phụ nữ tân văn số 122

ngày 10 - 3 - 1932 cùng với bài giới thiệu lấy tên “Một lối thơ mới trình chánh giữa

làng thơ" Bài thơ này thực ra không có gì nổi bật ở giá trị nội dung, nghệ thuật nhưng

nó đã phá bỏ những niêm luật bằng cách đưa vào cái hình thức táo bạo với những câu

thơ dài ngắn không đều làm cho câu thơ có vẻ phóng túng Tác giả bài thơ nói rằng ông

muốn đem “ý thật có trong tâm khảm mình tả ra bằng những câu có vần mà không bó

buộc bởi những niêm luật gì hết” và “chẳng phải là tôi hiếu sự nhưng vì tôi hết chỗ ở

trong vòng lãnh địa của thơ cũ, tôi phải đi tìm đất mới"

Bài Tình già vừa ra đời đã có tiếng vang mạnh mẽ và một cuộc tranh luận gay gắt

giữa hai phe thơ cũ và thơ mới đã nổ ra trên báo chí, trên diễn đàn Đứng về phía Thơ

mới có nữ sĩ Nguyễn Thị Kiêm (bút danh Nguyễn Thị Manh Manh), Lưu Trọng Lư,

Thế Lữ, Vũ Đình Liên, Lê Tràng Kiều Về phía thơ cũ có Nguyễn Văn Hanh, Huỳnh

Thúc Kháng, Hoàng Duy Từ

Những nhà lý luận của Thơ mới đã phê phán thơ cũ lỗi thời, sáo rỗng và khẳng

định rằng Thơ mới đã giải phóng sức sáng tạo của thi sĩ Cuộc tấn công của Thơ mới

vào thơ cũ ngày càng quyết liệt, nhất là khi hàng loạt những tác phẩm của Phạm Huy

Thông, Nguyễn Nhược Pháp, Lưu Trọng Lư, Thế Lữ ra đời Cuối cùng Thơ mới đã

chiến thắng không phải bởi lý luận suông mà bởi vì hàng loạt những bài thơ mới lần

lượt ra đời được đón nhận nồng nhiệt và đã khẳng định thế mạnh của thơ mới Vũ Đình

Liên khi đọc bài thơ Nhớ rừng của Thế Lữ đã nhận xét rằng “Chỉ hai câu:

Nào đâu những đêm vàng bên bờ suối

Ta say mồi đứng uống ánh trăng tan

cũng có sức mạnh của một tuyên ngôn để bênh vực cho thơ mới"

Thơ mới đã toàn thắng với nhiều thi phẩm của nhiều cây bút tài năng như Thế Lữ,

Lưu Trọng Lư, Nguyễn Nhược Pháp, Phạm Huy Thông… Và trong đó Thế Lữ là nhà

thơ tiêu biểu nhất

Thế Lữ (1907 - 1989), tên thật là Nguyễn Thứ Lễ, bút danh khác là Lê Ta, là một

trong những người đã đề xướng phong trào Thơ mới Những bài thơ Thế Lữ ra đời

Trang 33

trong giai đoạn này đã góp phần tạo nên sự chiến thắng của thơ mới Tác giả Thi nhân

Việt Nam đã đánh giá ông rất cao trong giai đoạn này: “Độ ấy thơ mới vừa ra đời, Thế

Lữ như vầng sao đột hiện ánh sáng chói khắp cả trời thơ Việt Nam” và “Thế Lữ không

bàn về thơ mới, không bênh vực thơ mới, không bút chiến, không diễn thuyết, Thế Lữ

chỉ lặng lẽ, chỉ điềm nhiên bước những bước vững vàng mà trong khoảnh khắc cả hàng

ngũ thơ xưa phải tan vỡ” (Hoài Thanh – Hoài Chân, 2006: trang 66) Có thể nói nếu

Phan Khôi là người nổ phát súng lệnh khai chiến với thơ cũ thì Thế Lữ là người đã cắm

ngọn cờ chiến thắng cho Thơ mới

Thơ Thế Lữ mang những đặc điểm của Thơ mới, ông cũng thể hiện những cảm

xúc của cái tôi cá nhân trước cuộc sống Thơ Thế Lữ cũng buồn nhưng chỉ là nỗi buồn

man mác chứ không đến nỗi bi thiết như giai đoạn sau Ông hay nói đến bình minh, mùa

xuân, đến niềm vui của cái tôi lần đầu tiên bước ra ánh sáng và được nhìn ngắm trời đất,

cỏ cây bằng chính cặp mắt của mình Màu sắc, cảnh vật trong thơ Thế Lữ thường tươi

sáng, rực rỡ:

Sáng hôm nay sương biếc tỏa mờ mờ Như sương khói đượm tàu cau, mái rạ Ánh hồng tía rắc ngọc châu trên lá Trời trong xanh, chân trời đỏ hây hây

(Lựa tiếng đàn)

Thế giới nghệ thuật trong thơ Thế Lữ đầy những hình ảnh của chốn bồng lai tiên

cảnh Nhà thơ như muốn dẫn dắt người đọc vào cảnh thần tiên với những tiên nga, mỹ

nữ, suối đào, hạc trắng

Trời cao xanh ngắt Ô kìa!

Hai con hạc trắng bay về Bồng lai Theo chim tiếng sáo lên khơi Lại theo dòng suối bên người tiên nga Khi cao vút tận mây mờ,

Khi gần vắt vẻo bên bờ cây xanh

Êm như lọt tiếng tơ tình Đẹp như Ngọc Nữ uốn mình trong không

(Tiếng sáo thiên thai)

Nhà thơ đã tạo cho mình một thế giới riêng tách biệt với xã hội phàm tục, đen tối

cho nên dù là những hình ảnh của cuộc sống đời thường, nhà thơ cũng muốn đặt nó

trong một không gian nơi tiên cảnh:

Tiếng hát trong như nước ngọc tuyền

Êm như hơi gió thoảng cung tiên Cao như thông vút, buồn như liễu Nước lặng mây ngừng, ta đứng yên

(Tiếng gọi bên sông)

Trang 34

Rõ ràng những đặc điểm về thế giới nghệ thuật thơ Thế Lữ cho thấy thơ ông có xu

hướng “thoát lên tiên” như là một cách đi tìm miền đất riêng để trú ngụ linh hồn trong

sự bế tắc

Vì ra đời trong buổi đầu của phong trào Thơ mới nên cái tôi Thế Lữ vẫn còn e dè,

chưa dám bộc lộ hết mình một cách thoải mái Thơ Thế Lữ còn có những hình ảnh quen

thuộc và có tính ước lệ của thơ cũ (bồng lai, tiên nga, suối đào, hạc trắng ) Nhưng thơ

ông cũng thể hiện sự đổi mới ở bước đầu qua hình thức mới mẻ, cách tân Câu thơ

không còn hàm súc như thơ cũ nhưng nó phù hợp để nhà thơ bày tỏ, mổ xẻ cái tôi dồi

dào cảm xúc trước cuộc sống Có thể nói thơ Thế Lữ là nơi gặp gỡ của hai nguồn thi

cảm cũ và mới Với những thi phẩm của ông, đặc biệt là tập Mấy vần thơ, Thế Lữ xứng

đáng được tôn là “Đương thời đệ nhất thi sĩ” (Hoài Thanh - Hoài Chân, 2006: trang 39)

2 Chặng thứ hai: từ khoảng 1936 đến 1939

Ở chặng này Thơ mới đã hoàn toàn chiến thắng Nó không đấu tranh chống thơ cũ

nữa mà ra sức trau dồi nghệ thuật Các nhà thơ học tập thơ Pháp và cả thơ cổ điển tạo

nên một sự gặp gỡ thú vị giữa Đông và Tây, kim và cổ Ở chặng này Thơ mới phát triển

rầm rộ với nhiều phong cách đa dạng Nhiều bài thơ và tập thơ hay của các nhà thơ mới

ra đời trong giai đoạn này

Ở giai đoạn này Thơ mới đã thực sự mới khi cái tôi cá nhân đã thể hiện hết mình

không còn dè dặt nữa Có thể kể đến nhiều cây bút tài năng trên thi đàn lúc ấy: Xuân

Diệu, Huy Cận, Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, Nguyễn Bính, Tế Hanh, Anh Thơ, Đoàn

Văn Cừ…

2.1.Xuân Diệu xuất hiện ở chặng đường này như một nhà thơ tiêu biểu

của phong trào Thơ mới So với thơ Xuân Diệu, thơ Thế Lữ trở thành cũ kỹ, như nhận

định của Hoài Thanh, “có thể đưa vào tập Văn đàn bảo giám” (tập thơ cổ) Xuân Diệu

được coi là nhà thơ mới nhất trong phong trào Thơ mới Với Xuân Diệu, cái tôi Thơ

mới đã tự bộc lộ đầy đủ niềm khát khao, say đắm của nó đối với cuộc sống và tình yêu

Thơ ông thực sự hiện đại khi đã phá bỏ mọi ước lệ của thơ cổ, bộc lộ không chút dè dặt

cái tôi đầy cảm xúc trước cuộc sống

2.2 Huy Cận cũng được coi là bộ mặt tiêu biểu của phong trào thơ mới

Qua thơ Huy Cận có thể thấy nhà thơ như đã dồn vào mình tất cả cái buồn của Thơ mới

Cái buồn trong thơ ông như tỏa ra khắp không gian, vạn vật, thấm vào từng câu, từng

Huy Cận thường diễn tả nỗi cô đơn của mình trước cảnh thiên nhiên vũ trụ bao la

Từ nỗi buồn nhân thế, Huy Cận đã tìm lối thoát cho hồn thơ của mình trong vũ trụ

Trước cách mạng tháng Tám, ông có tập thơ tiêu biểu: Lửa thiêng (1940) Tập thơ đã

thể hiện cái tôi với nỗi buồn mênh mông da diết trong cái quạnh quẽ, đìu hiu của thiên

Trang 35

nhiên Đó là nỗi buồn của một con người gắn bó với quê hương đất nước, cảm nhận

thấm thía không khí của thời đại nhưng cô đơn và bất lực, một “nỗi buồn thế hệ”, nỗi

buồn của những con người chưa tìm được lối ra Trong nỗi buồn Huy Cận có hàm chứa

nỗi đau đời và phần nào là nỗi đau của thân phận những con người mất nước Cảnh vật

trong thơ ông thường tĩnh lặng hoang vắng nhưng mang một vẻ đẹp riêng, gần gũi, quen

thuộc tuy thấm đượm nỗi buồn

Hồn thơ Huy Cận nhìn chung không “thiết tha, rạo rực băn khoăn” như Xuân Diệu

mà lặng lẽ thâm trầm và chất chứa đầy nỗi niềm dễ làm xao động lòng người Những

cảm xúc ấy được thể hiện trong những câu thơ vừa mới mẻ, hiện đại vừa hàm súc, cô

đọng với lối thơ 7 chữ, lục bát thâm trầm chịu ảnh hưởng thơ Đường Thơ ông là sự kết

hợp hài hòa giữa hiện đại với truyền thống

2.3 Hàn Mặc Tử là một nhà thơ tài hoa đa tài nhưng cuộc đời lại bất

hạnh mắc phải căn bệnh hiểm nghèo Nỗi đau về chứng bệnh ghê gớm đã in đậm dấu

vết ở một số bài thơ và đó cũng là những bài thơ hay, độc đáo và nhức nhối nhất của thơ

ca Việt Nam Làm thơ từ rất sớm, khoảng 15,16 tuổi, ban đầu ông làm thơ Đường luật

lấy bút danh là Minh Duệ Thị, Phong Trần Khi còn sống, ông mới chỉ xuất bản tập Gái

quê (1936) Ông còn là tác giả tập thơ Điên (Đau thương), Xuân như ý, Thượng thanh

khí, tập Cẩm châu duyên gồm một ít bài thơ lẻ, hai vở kịch thơ Duyên kỳ ngộ và Quần

tiên hội, tập thơ văn xuôi Chơi giữa mùa trăng Thơ ông chịu ảnh hưởng của các trào

lưu thơ phương Tây từ lãng mạn đến tượng trưng, siêu thực

Tập thơ Điên (Đau thương) gồm ba phần: Hương thơm, Mật đắng, Máu cuồng và

hồn điên, được viết sau khi ông mắc chứng bệnh hiểm nghèo Tập thơ đã thể hiện tâm

trạng đau đớn của con người tha thiết gắn bó với cuộc sống nhưng số phận thật quá bất

hạnh Thơ mới thường thấm đẫm nỗi buồn đau Với Hàn Mặc Tử thì nỗi đau ấy từ tâm

hồn đến cả thể xác, từ nỗi đau tạo thành những dòng thơ đầy máu và nước mắt:

- Thịt da tôi sượng sần và tê điếng Tôi đau vì rùng rợn đến vô biên

(Hồn là ai)

- Tôi vẫn còn đây hay ở đâu

Ai đem tôi bỏ dưới trời sâu

(Những giọt lệ)

vì thế thơ ông chứa đựng nỗi ám ảnh của bệnh tật, chết chóc:

Ta còn trìu mến biết bao người

Vẻ đẹp xa hoa của một thời Đầy lệ, đầy thương, đầy tuyệt vọng Ôi! giờ hấp hối sắp chia phôi

(Trút linh hồn)

Thế giới nghệ thuật trong thơ Hàn Mặc tử thường có sự xuất hiện đan xen những

hình ảnh đẹp đẽ, thanh khiết của trăng, hoa, hương sắc cuộc đời với những hình ảnh kỳ

dị của máu, hồn, yêu ma… Một hình ảnh xuất hiện trong thơ ông cũng không thuần

nhất có khi đó là những hình ảnh thi vị thơ mộng đến tột cùng, có lúc cũng tột cùng kỳ

Trang 36

dị Chẳng hạn, hình ảnh trăng xuất hiện nhiều trong thơ của ông Có những vần thơ của

Hàn Mặc Tử về trăng thật đẹp đẽ thơ mộng:

- Thuyền ai đậu bến sông trăng đó

Có chở trăng về kịp tối nay

(Đây thôn Vĩ Dạ)

- Đây phút thiêng liêng đã khởi đầu Trời mơ trong cảnh thực huyền mơ Trăng sao đắm đuối trong sương nhạt Như đón từ xa một ý thơ

(Đà lạt trăng mờ)

Nhưng có khi nó xuất hiện với những hình ảnh thật kỳ lạ:

Nước hóa thành trăng, trăng ra nước Lụa là ướt đẫm cả trăng thơm

Người trăng ăn vận toàn trăng cả

Gò má riêng thôi lại đỏ hườm…

…Gió rít tầng cao trăng ngã ngữa

Vỡ tan thành vũng đọng vàng khô

Ta nằm trong vũng trăng đêm ấy Sáng dậy điên cuồng mửa máu ra

(Say trăng)

Với những hình ảnh ấy, nhà thơ đã tạo ra trong thơ của mình một thế giới hình

tượng kỳ lạ, điên loạn, ma quái, xa lạ với cuộc đời Qua đó ông như muốn gửi gắm thế

giới tâm trạng phức tạp có khi đau đớn đến điên dại tuyệt vọng, có lúc lại tha thiết một

tình yêu cuộc sống với khát khao gắn bó với cuộc đời Những kênh hình ảnh kỳ dị này

một mặt thể hiện quan niệm thẩm mỹ riêng của Hàn Mặc Tử, của trường thơ Loạn, mặt

khác còn là do ảnh hưởng từ thơ ca phương Tây

Trong tập thơ Điên, có những bài thơ hết sức trong sáng Đây thôn Vĩ Dạ, Mùa

xuân chín được xem thuộc loại hay và trong sáng nhất của tập thơ Điên và của cả phong

trào Thơ mới Tuy nhiên nó cũng chứa đựng trong đó nỗi niềm tâm sự kín đáo của con

người tha thiết yêu cuộc sống nhưng hiện tại lại quá ngắn ngủi Hàn Mặc Tử mất sớm vì

bệnh phong nhưng những vần thơ ông để lại là một đóng góp quan trọng cho thành tựu

của phong trào Thơ mới

2.4 Chế Lan Viên làm thơ khá sớm và được chú ý với tập thơ tiêu biểu :

Điêu tàn (1937) Ông đã cùng với Hàn Mặc Tử thành lập Trường thơ loạn (tức Thơ

điên) mà tuyên ngôn chính là lời tựa tập Điêu tàn Tập thơ được ông viết lúc ông còn rất

trẻ, lúc đang là học sinh trung học ở Qui Nhơn Hoài Thanh đã nhận xét rằng Điêu tàn

đã xuất hiện giữa làng thơ như “một niềm kinh dị” (Hoài Thanh – Hoài Chân, 2006:

trang 243) Có thể nói Điêu tàn không có lấy một bài thơ nào gắn với đời thường Ông

đã tạo nên một thế giới riêng ma quái với đầy “sọ người, xương máu cùng yêu ma" Tác

phẩm viết về sự tàn vong của vương quốc Chiêm Thành xưa với không gian của những

Trang 37

bãi tha ma, những ngọn tháp Chàm hoang tàn và bí mật, những nấm mồ hiện ra trong

bóng đêm dày đặc trong đó xuất hiện những hình ảnh vật vờ của những bóng ma, những

nhánh xương khô và thấp thoáng những bóng dáng hư ảo của các Chiêm nữ

Và xương khô và sọ người thịt nát

Và hơi âm rờn rợn của yêu tinh Loài người đã mang đi qua mộ khác

Để lòng ta trống trải khí linh thiêng

Hồn ma ơi! trong những đêm u tối

Mi tung mây về chân trời vòi vọi Hãy mau nghiêng cánh lại ở bên mồ Phủ lòng ta say đắm chút hương mơ!

(Mồ không) Với Điêu tàn, Chế Lan Viên đã lạc xa vào thế giới hư ảo, quái dị Nếu Hàn Mặc Tử

quan niệm: “Làm thơ tức là điên” thì Chế Lan Viên lại thêm vào một quan niệm thật lạ:

“Làm thơ là làm sự phi thường Thi sĩ không phải là Người Nó là Người mơ, Người

say, Người điên” (Tựa Điêu tàn)

Đi vào thế giới hư ảo, nhà thơ đã muốn phủ định thực tại xã hội đương thời với

Đi xa hơn nữa nhà thơ còn đắm mình vào những băn khoăn suy tư siêu

hình về cái tôi đến mức hoài nghi về sự tồn tại của chính mình:

Hồn của ai trú ẩn ở đâu ta

Ý của ai trào lên trong đáy óc

Để bay đi theo tiếng cười điệu khóc

Ai bảo giùm: Ta có có Ta không?

(Ta) 2.5 Nguyễn Bính là nhà thơ đã mang đến cho phong trào Thơ mới

những thi phẩm mang sắc thái riêng độc đáo Đó là những bài thơ thấm đượm hồn quê,

tình quê sâu đậm Nếu Xuân Diệu đến với người đọc với một bộ “y phục tối tân” mang

hình thức phương xa khó gần gũi thì Nguyễn Bính đến với phong trào Thơ mới với một

sắc áo cổ xưa và một phong cách dân dã mà vẫn rất lãng mạn Trong phong trào Thơ

mới Nguyễn Bính là một trong những nhà thơ góp phần phát triển mạch thơ dân tộc

Giữa những nhà thơ ảnh hưởng thơ Pháp, thơ Đường thì Nguyễn Bính lại là một hồn

thơ đậm đà màu sắc dân tộc Ông sáng tác nhiều bài thơ tập họp thành những tập thơ,

Trang 38

chủ yếu được in ở những năm 40 như Lỡ bước sang ngang (1940), Tâm hồn tôi (1940),

Hương cố nhân (1941), Một nghìn cửa sổ (1941)… Cùng quan điểm thẩm mỹ với các

nhà thơ mới, thơ Nguyễn Bính cũng thấm đượm nỗi buồn, cũng nhạy cảm và rung động

trước những hình ảnh thi vị của cuộc sống nhưng ông lại tìm kiếm những vẻ đẹp ấy ở

thiên nhiên và con người trong không gian làng quê bình dị và thể hiện trong hình thức

thể hiện mộc mạc, gần gũi Cảm hứng thi ca của ông được khơi nguồn từ đời sống của

quê hương với những tình cảm bình dị, thuần phác và những hình ảnh gần gũi thân

quen: giậu mồng tơi, vườn chè, hoa xoan, hoa bưởi, vườn dâu, thôn Đoài, thôn Đông

Quả thật “Nguyễn Bính đã đánh thức người nhà quê vẫn ẩn náu trong lòng ta” (Hoài

Thanh – Hoài Chân, 2006: trang 372, 373) Hồn quê trong thơ Nguyễn Bính là một thứ

hồn quê đậm đà gắn liền với một cảm xúc chân thật của chính cái tôi trữ tình của nhà

thơ Cũng viết về tình yêu nhưng khác các nhà thơ khác, Nguyễn Bính đã đem lại cái thi

vị của một tình yêu chân chất, rụt rè, e ấp nhưng không kém mạnh mẽ, sâu đậm của

những mối tình quê Tình yêu trong thơ ông mang cái hương vị của hương đồng cỏ nội:

- Lòng thấy giăng tơ một mối tình

Em ngừng thoi lại giữa tay xinh Hình như hai má em bừng đỏ

Có lẽ là em nghĩ đến anh

(Mưa xuân)

Thơ Nguyễn Bính thể hiện một giọng thơ riêng khó trộn lẫn với bất cứ nhà thơ

nào khác Ở ông cái hồn quê Việt Nam đã được ông thể hiện trong các bài ca dân gian

với thể thơ lục bát gần gũi quen thuộc Thơ ông không chỉ giống ca dao ở cái vỏ bên

ngoài mà nó còn mang cái hồn của ca dao :

- Nhà em cách bốn quả đồi Cách ba ngọn suối, cách đôi cánh rừng Nhà em xa cách quá chừng

Em van anh đấy, anh đừng yêu em

Thơ Nguyễn Bính tuy mang đặc điểm của ca dao truyền thống nhưng vẫn là thơ

của một nhà thơ lãng mạn, được viết ra trong một thời đại mới nên có một phong cách

riêng biệt độc đáo vừa truyền thống vừa hiện đại Nguyễn Bính khi thể hiện đời sống

“chân quê” trong thơ thì ông vẫn là một con người của thời hiện đại cho nên thơ ông

xen lẫn cảm hứng của mạch thơ dân gian với thơ ca hiện đại Đọc thơ của Nguyễn Bính,

ta dễ nhận ra cái chất hiện đại chứa đựng trong câu thơ lục bát truyền thống, ví như câu

Trong sự phát triển mạnh mẽ của các dòng thơ ảnh hưởng phương Tây hay thơ

Đường, anh chàng thi sĩ “nhà quê” Nguyễn Bính (chữ dùng của Hoài Thanh) đã tự tạo

cho mình một phong cách riêng, độc đáo và đã tìm được một chỗ đứng lâu bền trong

Trang 39

lòng người đọc Nguyễn Bính là một trong những nhà thơ góp phần phát triển mạch thơ

dân tộc

2.6 Anh Thơ, Đoàn Văn Cừ, Bàng Bá Lân cũng là những cây

bút tìm cảm hứng ở cuộc sống làng quê Họ đã tạo nên những thi phẩm in dấu ấn khá

đậm trong lòng người đọc Bức tranh quê là tập thơ đầu của Anh Thơ, sáng tác 1937,

đạt được giải thưởng Tự lực văn đoàn, Nhà xuất bản Đời nay in 1941 Tập thơ là bức

tranh phong cảnh thôn quê bốn mùa sống động của vùng đồng bằng Bắc bộ Thiên

nhiên ở những thời khắc và những mùa khác nhau đều mang những nét riêng sống động

được vẽ nên bằng ngòi bút linh hoạt, sự quan sát sắc sảo và cảm xúc rung động tinh tế

của tâm hồn thiếu nữ Bên cạnh đó tập thơ cũng tái hiện chân thật bức tranh sinh hoạt,

hội hè chốn làng quê

Đoàn Văn Cừ được người đọc bấy giờ chú ý với những bài thơ

miêu tả sinh động khung cảnh và sinh hoạt của người dân quê sau lũy tre làng (Chợ Tết,

Đám cưới mùa xuân, Đám hội, Đường về quê mẹ…) sau này được tập họp trong tập

Thôn ca

Bàng Bá Lân cũng thường miêu tả cảnh vật, con người xứ quê

với những hình ảnh quen thuộc: bờ tre, cổng làng, đêm trăng tát nước, đàn cò trắng, cây

đa, mái đình, tiếng sáo diều… Tập thơ Tiếng thông reo, tập thơ đầu tay xuất bản trước

cách mạng tháng tám của ông là tập thơ khá thành công được nhiều người biết đến

3 Chặng thứ ba: có thể tính từ những năm cuối cùng của thập kỷ thứ ba đến

năm 1945

Đó là chặng đường thể hiện sự khủng hoảng theo những dạng khác nhau của cái

tôi Thơ mới Huy Cận đi tìm lốt thoát, niềm vui vào tạo vật, vũ trụ và tập thơ Vũ trụ ca

đã ra đời trong hoàn cảnh này Chế Lan Viên cho ra đời tập văn xuôi triết lý Vàng sao

thể hiện thái độ phủ định trần thế, tìm con đường siêu thoát vào cõi hư vô Vũ Hoàng

Chương tìm quên với rượu, nàng tiên nâu (thuốc phiện) và những thú vui trụy lạc:

Say đi em! Say đi em!

Say cho lơi lả ánh đèn Cho cung bực ngả nghiêng điên rồ xác thịt Rượu, rượu nữa và quên, quên hết

(Mời say)

Hoạt động của nhóm Xuân thu nhã tập cũng là một hiện tượng đáng chú ý

trong chặng thứ ba Các đại biểu của nhóm này là Phạm Văn Hạnh, Nguyễn Xuân Sanh,

Đoàn Phú Tứ Họ thể hiện những quan niệm riêng về thơ và đã cố gắng tìm tòi để đổi

mới thơ ca

Có những nhà thơ đã tự tìm hướng đi riêng của mình để thoát khỏi sự bế tắc tạo

nên những hiện tượng văn học đáng chú ý Thâm Tâm, Trần Huyền Trân đã đi tìm cảm

hứng từ hình ảnh những khách chinh phu lên đường với một tư thế hiên ngang, khẳng

khái (Tráng sĩ ca, Tống biệt hành ) Với những bài thơ này, họ đã góp thêm cho phong

trào Thơ mới một giọng thơ riêng, vừa hào hùng tráng lệ vừa thấm đượm nỗi buồn Anh

Thơ, Đoàn Văn Cừ vẫn tiếp tục tìm cảm hứng ở cuộc sống làng quê Họ đã cùng với

Nguyễn Bính tạo nên những thi phẩm độc đáo với những bức tranh sống động, chân

thực về làng quê

II KẾT LUẬN

Trang 40

Thơ mới là một sự kiện lớn nhất đầu thế kỷ XX, một sự kiện quan trọng trong tiến

trình phát triển của thơ ca Việt Nam hiện đại Nó đã góp phần rất lớn trong việc cách

tân hiện đại hóa thơ ca dân tộc Nó chứa đựng những nội dung mang tính dân tộc với

lòng yêu nước thầm kín, thức dậy tinh thần dân tộc và những tình cảm đẹp đối với quê

hương, đất nước, làng quê trong mỗi con người chúng ta Ra đời trong một hoàn cảnh

xã hội phức tạp đầy biến động với sự tác động của văn học Đông Tây nên nhìn chung

Thơ mới là một hiện tượng phức tạp, không hoàn toàn thuần nhất mà rất phong phú về

quan điểm thẩm mỹ, khuynh hướng tư tưởng tình cảm Vì thế không thể nhìn nhận hiện

tượng Thơ mới một cách đơn giản Cần phải có cái nhìn thật khách quan để đánh giá

đúng đắn hiện tượng văn học này

CÂU HỎI ÔN TẬP

1 Căn cứ vào đâu để nhận biết Thơ mới (khác với thơ cũ)? Cho dẫn chứng minh

họa

2 Phong trào Thơ mới hình thành và phát triển như thế nào? Điểm qua một số nhà

thơ tiêu biểu cho mỗi chặng đường phát triển của Thơ mới

3 Hãy thử đánh giá những đóng góp và hạn chế của phong trào Thơ mới

4 Giới thiệu về tác giả và sự nghiệp sáng tác của các nhà thơ tiêu biểu trong

phong trào Thơ mới: Huy Cận, Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, Nguyễn Bính Phân tích

đặc điểm của các tập thơ tiêu biểu trước Cách mạng tháng Tám của mỗi tác giả trên

5 Vận dụng những kiến thức có được về phong trào Thơ Mới, tìm hiểu quan điểm

thẩm mỹ, cảm xúc của cái tôi thi sĩ và những cách tân về nghệ thuật của các nhà thơ

trong các thi phẩm: Tràng giang (Huy Cận), Đây thôn Vĩ Giạ (Hàn Mặc Tử), Tương tư

(Nguyễn Bính), Chiều xuân (Anh Thơ)…

6 Tìm hiểu tác phẩm phê bình của Hoài Thanh về phong trào thơ mới: Thi nhân

Việt Nam:

- Giới thiệu Hoài Thanh và Thi nhân Việt Nam

- Tìm hiểu bài tiểu luận “Một thời đại trong thi ca”: Nội dung và phong cách phê

bình của Hoài Thanh

- Giảng đoạn trích trong sách giáo khoa Ngữ văn lớp 11, tập 1

TÀI LIỆU THAM KHẢO CHÍNH

1 Chu Văn Sơn 2003 Ba đỉnh cao thơ mới Hà Nội: Nhà xuất bản Giáo dục

2 Huy Cận, Hà Minh Đức 1993 Nhìn lại một cuộc cách mạng trong thi ca Hà

Nội: Nhà xuất bản giáo dục

3 Hoài Thanh – Hoài Chân 2006 Thi nhân Việt Nam Hà Nội: Nhà xuất bản Văn

học

4 Lê Đình Kỵ 1993 Thơ Mới những bước thăng trầm Nhà xuất bản TP Hồ Chí

Minh

5 Mã Giang Lân 2000 Quá trình hiện đại hóa văn học Việt Nam 1900 – 1945

Hà Nội: Nhà xuất bản Văn hóa thông tin

6 Nguyễn Đăng Mạnh 2000 Giáo trình lịch sử văn học Việt Nam 1930 -1945

Hà Nội: Nhà xuất bản ĐH Quốc gia

Ngày đăng: 15/04/2021, 19:32

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w