1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

SKKN sử dụng thao tác lập luận so sánh trong giờ đọc hiểu văn bản văn học việt nam giai đoạn từ 1945 đến hết thế kỉ XX

42 210 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 42
Dung lượng 1,64 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Một trong những việc cần làm là người giáo viên phải có ý thức sử dụng thao tác lập luận so sánh trong các giờ đọc- hiểu văn bản văn học,góp phần tạo ra sự hứng thú cho học sinh.. một bộ

Trang 1

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO VĨNH PHÚC

1 Tác giả sáng kiến:TRỊNH THỊ HỒNG THẮM

2 Mã sáng kiến: 18.51.01

Vĩnh Phúc, Tháng 2/2019

MỤC LỤC

Trang 2

1.Lời giới thiêu……….1

2.Tên sáng kiến: Sử dụng thao tác lập luận so sánh trong giờ đọc hiểu văn bản văn học Việt Nam giai đoạn từ 1945 đến hết thế kỉ XX……….1

3.Tác giả sáng kiến: Trịnh Thị Hồng Thắm……….1

4.Chủ đầu tư sáng tạo ra sáng kiến: Trịnh Thị Hồng Thắm……….1

5.Lĩnh vực áp dụng sáng kiến………

6.Ngày sáng kiến được áp dụng lần đầu………

7.Mô tả bản chất của sáng kiến:………

Phần I:Đặt vấn đề……… 1

1.Lí do chọn đề tài………1

2.Mục đích nghiên cứu……….3

3.Đối tượng nghiên cứu……… 4

4.Phạm vi nghiên cứu………4

5.Nhiệm vụ nghiên cứu……….4

6.Phương pháp nghiên cứu………4

7.Mô tả bản chất của sáng kiến……….5

7.1.Về nội dung sáng kiến PHẦN II :NỘI DUNG SÁNG KIẾN……… 5

CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÍ LUẬN………5

1.1.Thao tác lập luận……… 5

1.2.Thao tác lập luận so sánh………5

1.3.Đọc hiểu văn bản văn học……… 5

CHƯƠNG II :CƠ SỞ THỰC TIỄN 2.1.Thực trạng của việc sử dụng TTLLSS trong giờ đọc hiểu VBVH của GV hiện nay……….7

2.2 Thực trạng của việc sử dụng TTLLSS trong quá trình tạo lập văn bản NL hiện nay……… 11

CHƯƠNG III: ĐỀ XUẤT MỘT SỐ PHƯƠNG DIỆN SO SÁNH………12

3.1.Mục tiêu và nguyên tắc……….12

3.2.Một số phương diện so sánh……….13

3.3.Thiết kế giáo án thực nghiệm………28

CHƯƠNG 4: HIỆU QUẢ CỦA VẤN ĐỀ……… 34

7.2.Về khả năng áp dụng của sáng kiến……… 35

8.Những thông tin cần được bảo mật……… 36

9.Các điều kienj cần thiết để áp dụng sáng kiến……… 36

10.Đánh giá lợi ích thu được……… 37

11.Danh sách những tổ chức ,cá nhân đã tham gia áp dụng thử……… 39

PHẦN III: KẾT LUẬN CHUNG………39

Tài liệu tham khảo……… 40

Trang 4

BÁO CÁO KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU, ỨNG DỤNG SÁNG KIẾN

1 Lời giới thiệu

Để đổi mới phương pháp dạy học có hiệu quả ở tất cả các môn học nóichung và môn Ngữ văn nói riêng, học sinh và giáo viên không thể chỉ bằnglòng với những gì có sẵn trong sách giáo khoa hoặc tài liệu hướng dẫngiảng dạy Một trong những việc cần làm là người giáo viên phải có ý thức

sử dụng thao tác lập luận so sánh trong các giờ đọc- hiểu văn bản văn học,góp phần tạo ra sự hứng thú cho học sinh Từ đó, giáo viên hình thành chohọc sinh kĩ năng sử dụng thao tác lập luận so sánh trong quá trình tạo lậpvăn bản nghị luận, tăng thêm tính thuyết phục cho bài viết; có đủ kiếnthức và kĩ năng cần thiết để giải quyết dạng bài nghị luận so sánh văn học(xã hội) mà Bộ yêu cầu

2 Tên sáng kiến: Sử dụng thao tác lập luận so sánh trong giờ đọc hiểu văn bản

văn học Việt Nam giai đoạn từ 1945 đến hết thế kỉ XX

4 Chủ đầu tư tạo ra sáng kiến:

Cá nhân GV Trịnh Thị Hồng Thắm – Trường: THPT Sáng Sơn

5 Lĩnh vực áp dụng sáng kiến:

Áp dụng trong giảng dạy và học tập môn Ngữ văn lớp 12

6 Ngày sáng kiến được áp dụng lần đầu: Tháng 10/2018

Trang 5

7 Mô tả bản chất của sáng kiến:

7.1/ Về nội dung sáng kiến:

PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ

1 Lý do chọn đề tài:

Luật Giáo dục 2005, điều 5 quy định: “Phương pháp giáo dục phải phát

huy tính tích cực, tự giác, chủ động, tư duy sáng tạo của người học; bồi dưỡng cho người học năng lực tự học, khả năng thực hành, lòng say mê học tập và ý chí vươn lên” Nghị quyết số 29 - Ban chấp hành TW Đảng khóa XI cũng đã

đặt ra nhiệm vụ: “Đổi mới căn bản toàn diện giáo dục” Nghị quyết chỉ đạo:

“Chuyển mạnh quá trình giáo dục từ chủ yếu trang bị kiến thức sang phát triển

toàn diện năng lực và phẩm chất người học” Mục tiêu cụ thể của giáo dục phổ

thông là: “ tập trung phát triển trí tuệ, thể chất, hình thành phẩm chất, năng lực

công dân, phát hiện và bồi dưỡng năng khiếu, định hướng nghề nghiệp cho học sinh Nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, chú trọng giáo dục lý tưởng, truyền thống, đạo đức, lối sống, ngoại ngữ, tin học, năng lực và kỹ năng thực hành, vận dụng kiến thức vào thực tiễn Phát triển khả năng sáng tạo, tự học, khuyến khích học tập suốt đời” Để đạt được mục tiêu trên, Nghị quyết đưa ra

nhiệm vụ, giải pháp: “ Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy và học theo

hướng hiện đại; phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và vận dụng kiến thức, kỹ năng của người học; khắc phục lối truyền thụ áp đặt một chiều, ghi nhớ máy móc Tập trung dạy cách học, cách nghĩ, khuyến khích tự học, tạo cơ

sở để người học tự cập nhật và đổi mới tri thức, kỹ năng, phát triển năng lực”

Mặt khác, từ năm 2009 đến nay, trong công tác ra đề thi Tốt nghiệpTHPT và THPT Quốc gia môn Ngữ văn, Bộ GD&ĐT rất chú trọng đến dạng đề

mở, đặc biệt là dạng bài nghị luận so sánh văn học Trong khi đó, chương trình

và sách giáo khoa Ngữ văn lại chưa đưa dạng bài này vào giảng dạy cho họcsinh Bời vậy, học sinh rất lúng túng khi gặp dạng đề này Đa số, các em đều chorằng khó và quá sức đối với các em Các em chưa biết cách xác định luận điểm,

Trang 6

một bộ phận giáo viên không (hoặc chưa thường xuyên) sử dụng thao tác lậpluận so sánh trong các giờ đọc- hiểu, chưa khai thác văn bản một cách thấu đáo,chưa tạo được hứng thú cho học sinh trong giờ học Áp lực về thời gian, dunglượng kiến thức khiến cho giáo viên chủ yếu cung cấp kiến thức cơ bản của vănbản cho học sinh Bời vậy, vô hình trung, học sinh lại càng cảm thấy “xa lạ” vớidạng bài nghị luận so sánh (trong đó có cả dạng nghị luận so sánh các vấn đề xãhội- thường ra đối với đề thi chọn học sinh giỏi).

Xuất phát từ những yêu cầu và thực trạng trên, những năm gần đây, việc đổimới phương pháp dạy học là yêu cầu quan trọng đã và đang được thực hiện mộtcách đồng bộ ở các cấp học, các môn học Nằm trong hệ thống các môn văn hoá

cơ bản của cấp học THPT, bộ môn Ngữ văn cũng đã đặt ra những yêu cầu cấpthiết về việc đổi mới phương pháp giảng dạy, lấy học sinh làm trung tâm nhằmtừng bước nâng cao chất lượng giáo dục, phát huy tính chủ động sáng tạo củahọc sinh

2 Mục đích nghiên cứu.

2.1 Đối với giáo viên.

Đề tài sẽ giúp thầy, cô giáo phát huy được vai trò của thao tác lập luận sosánh trong giờ đọc- hiểu văn bản văn học Qua giờ dạy, hình thành kỹ năng

và các năng lực đọc hiểu cho học sinh : năng lực tư duy, năng lực so sánh, nănglực trình bày vấn đề, năng lực trao đổi thảo luận

Thầy cô giáo có cơ hội đổi mới về phương pháp dạy học và nội dung dạyhọc

Từ đó, nâng cao trình độ chuyên môn, khả năng nghiên cứu khoa họccủa bản thân

Cuối cùng, đề tài sẽ cung cấp cho các thầy cô giáo nguồn tư liệu cụ thể,chi tiết và bổ ích về các phương diện so sánh trong giờ đọc- hiểu văn bản vănhọc Việt Nam giai đoạn từ 1945- hết thế kỉ XX

2.2 Đối với học sinh

Đề tài sẽ đem đến cho các em những giờ học bổ ích, sẽ giúp các em tăngthêm sự hứng thú đối với bài học Các em có thêm kiến thức về kỹ nãng lập luận

Trang 7

so sánh trong quá trình đọc - hiểu văn bản văn học Biết sử dụng thao tác nàykhi tạo lập các văn bản nghị luận Các em sẽ không lúng túng( hoặc có tâm lý engại) với dạng đề bài so sánh Ngoài ra, đề tài cũng cung cấp cho các em họcsinh nguồn tư liệu quý, thiết thực, cụ thể về các phương diện so sánh trong mỗivăn bản văn học.

3 Đối tượng nghiên cứu:

Ðối tượng nghiên cứu chính của đề tài là vận dụng thao tác lập luận sosánh trong giờ đọc - hiểu văn bản văn học Việt Nam

Phạm vi: những văn bản văn học Việt Nam giai đoạn 1945- hết thế kỉ

XX 4 Giới hạn phạm vi nội dung nghiên cứu:

Chương trình ngữ văn (những văn bản văn học Việt Nam giai đoạn

1945-hết thế kỉ XX) ở nhà trường THPT

5 Nhiệm vụ nghiên cứu.

Đề tài có nhiệm vụ giới thiệu phương pháp và giúp cho học sinh có kỹnăng sử dụng thao tác lập luận so sánh trong qua trình đọc- hiểu văn bản văn học

và tạo lập các văn bản nghị luận

Ngoài ra, đề tài cũng chính là nguồn tài liệu để các thầy cô giáo thamkhảo khi giảng dạy và trao đổi với các đồng nghiệp nhằm nâng cao chất lượngdạy và học

6 Phương pháp nghiên cứu.

Trong quá trình nghiên cứu đề tài này, tôi đã sử dụng những phương phápsau:

Phương pháp nghiên cứu lí luận: được sử dụng trong việc nghiên cứu líluận về “Thao tác lập luận”, “Thao tác lập luận so sánh”, “Giờ đọc- hiểu vănbản”

Phương pháp khảo sát thực tiễn: được sử dụng trong việc thu thập nhữngthông tin về thực trạng giờ đọc- hiểu, năng lực sử dụng thao tác so sánh của họcsinh

Phương pháp hồi cứu tư liệu: Thu được sử dụng trong việc tìm hiểu tất cảnhững tài liệu liên quan đến vấn đề nghiên cứu

Trang 8

Phương pháp thực nghiệm: dạy thực nghiệm trên lớp với đối tương họcsinh lớp 12.

Phương pháp chuyên gia: Tôi rất quan tâm trao đổi với các chuyên gia cókinh nghiệm, hiểu biết về kỹ nãng đọc- hiểu vãn bản và kỹ năng làm văn.Phương pháp còn được dùng để đánh giá hiệu quả của các nội dung đã đề xuấtsau khi tổ chức thực nghiệm, từ đó để điều chỉnh, bổ sung cho hoàn thiện

Phương pháp phân tích, so sánh và tổng hợp : Dựa trên cơ sở thu thậpnhững số liệu qua dự các giờ đọc- hiểu vãn bản trên lớp, chúng tôi đi sâu phântích để làm cơ sở nghiên cứu và tổ chức dạy đọc- hiểu vãn bản với việc sửdụng thao tác lập luận so sánh Ðồng thời, tiến hành so sánh các tài liệu, các kếtquả nghiên cứu để thấy được độ tin cậy, sự biến đổi Sau đó, áp dụng phươngpháp tổng hợp để có những nhận định, đánh giá và luận điểm phù hợp với nhữngkết quả nghiên cứu đã đạt được

PHẦN II: NỘI DUNG SÁNG KIẾN

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI.

1.1.Thao tác lập luận.

1.1.1 Khái niệm.

Thao tác được dùng để chỉ việc thực hiện những động tác theo trình tự vàyêu cầu kỹ thuật nhất định Thao tác lập luận là quá trình triển khai lí lẽ mộtcách lô gic nhằm phát hiện thêm một chân lí mới từ chân lí đã có

1.3 Đọc- hiểu văn bản văn học.

1.3.1 Đọc- hiểu văn bản là gì?

Trang 9

Theo Giáo sư - Tiến sĩ Nguyễn Thanh Hùng: “Đọc- hiểu là một khái

niệm khoa học chỉ mức độ cao nhất của hoạt động đọc; đọc hiểu đồng thời cũng chỉ năng lực văn của người đọc” “Đọc- hiểu là hoạt động truy tìm và giải mã ý nghĩa văn bản” Còn với Giáo sư Trần Đình Sử: “Đọc- hiểu văn bản như một khâu đột phá trong việc đổi mới dạy học và thi môn Ngữ văn, là yêu cầu bức thiết đối với việc đào tạo nguồn nhân lực mới cho đất nước tiến theo các nước tiên tiến”

Như vậy, đọc- hiểu là hoạt động đọc và giải mã các tầng ý nghĩa của vănbản thông qua khả năng tiếp nhận của học sinh Đọc- hiểu là tiếp xúc với vănbản, hiểu được nghĩa hiển ngôn, nghĩa hàm ẩn, các biện pháp nghệ thuật, thônghiểu các thông điệp tư tưởng, tình cảm của người viết và giá trị tự thân của hìnhtượng nghệ thuật Với quan điểm phát huy vai trò chủ thể của học sinh, xuấtphát từ đặc thù của văn chương (nghệ thuật ngôn từ), phương pháp dạy học Vănthay bằng khái niệm “Đọc- hiểu văn bản”

Đọc- hiểu có ba khâu: một là đọc- hiểu ngôn từ (chữ, từ, câu, đoạn, vănbản); hai là đọc- hiểu hình tượng như là cái biểu đạt và ba là hiểu ý nghĩa như làcái được biểu đạt Dạy khâu một có những phương pháp khác với dạy khâu hai

và trọng tâm dạy đọc văn là ở khâu ba Nhiều trường hợp đọc hiểu cả mà vẫnkhông hiểu được ý nghĩa biểu đạt của văn bản Ba khâu này không tách rờinhau, không hiểu khâu một thì không có khâu hai, không có khâu hai thì không

có khâu ba Đọc- hiểu khâu ba phải vận dụng nhiều phương pháp đặc thù

1.3.2.Vai trò của thao tác lập luận so sánh trong giờ đọc- hiểu văn bản văn học.

Nội dung tư tưởng, tình cảm của tác phẩm văn học được thể hiện bằngmột hình thức nghệ thuật nhất định, bằng một ngôn ngữ văn chương nhất định.Cho nên, phải bám sát văn bản ngôn từ, kết hợp một cách nhuần nhuyễn việcphân tích nội dung tư tưởng với phân tích nghệ thuật, để chỉ ra cái hay cái đẹp

mà đánh giá tác phẩm

Muốn chỉ ra cái hay cái đẹp để đánh giá tác phẩm cả về mặt nội dungcũng như hình thức, để người nghe có được cái nhìn nhiều chiều, sâu sắc hơn về

Trang 10

một tác phẩm văn học, rất cần sử dụng thao tác so sánh, đối chiếu trong quátrình phân tích Trong một giờ đọc- hiểu văn bản trên lớp, ngoài các kỹ năng nhưđọc diễn cảm, đọc để lấy không khí, khơi gợi hứng thú của người học kết hợp

sử dụng các thao tác lập luận: giải thích, phân tích, bình luận thì một trongnhững thao tác đưa lại một hiệu quả nhất định trong quá trình giảng dạy, phântích một tác phẩm văn học chính là thao tác so sánh đối chiếu

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ THỰC TIỄN

2.1 Thực trạng việc sử dụng thao tác lập luận so sánh trong giờ đọc- hiểu văn bản văn học của giáo viên hiện nay.

Vận dụng thao tác lập luận so sánh khi đọc- hiểu một tác phẩm văn học

không phải là một vấn đề mới mẻ Trong cuốn “Làm văn 10” (sách giáo khoa chưa phân ban), phần “Cách làm một bài văn phân tích một đoạn thơ, đoạn văn”

cũng nói đến việc phối hợp các thao tác lập luận trong một bài văn phân tích.Trong các cuốn bình giảng và phân tích tác phẩm văn học của các nhà nghiêncứu, phê bình văn học, chúng ta cũng thấy, các tác giả sử dụng rất thành công

thao tác lập luận so sánh “Hãy để ý đến thời gian sáng tác Đất nước:

1948-1955 Đây là một dấu hiệu đặc biệt chứng tỏ cái “lạ”, điểm độc đáo của bài thơ Thông thường, một bài thơ trữ tình dung lượng ấy được sáng tác chỉ trong một ngày , một buổi, thậm chí chỉ trong dăm ba tiếng đồng hồ (Bên kia sông Đuống của Hoàng Cầm, Tây Tiến của Quang Dũng rõ ràng là thế) – tr164, “Đến với tác phẩm văn chương”- PGS.TS Lê Quang Hưng- NXB Đại học Quốc gia

chí, bút kí “Ai đã đặt tên cho dòng sông?” tuyệt vời như vậy nhưng vẫn có

những em học sinh (thậm chí học sinh khối D) không thích nên không đọc lần

Trang 11

nào Trong chương trình Ngữ văn 12 (chương trình cơ bản), “Đàn ghi ta của

Lorca” (Thanh Thảo) là một bài thơ hay và khó Cái khó này có lẽ bắt nguồn từ

nhiều lí do: chính tác giả Thanh Thảo cũng là một cái tên khá “lạ” đối với họcsinh; Phê đê ri cô Garxia Lorca – nghệ sĩ, chiến sĩ ưu tú của đất nước Tây BanNha xa xôi cũng khiến các em khó đồng cảm; cuối cùng, thể thơ tự do, mang xuhướng tượng trưng, siêu thực với rất nhiều hình ảnh mang tính biểu tượng, ẩn

dụ khiến các em càng khó tiếp cận hơn Với những sáng tác như vậy, nếu ngườidạy không cung cấp cho học sinh những thông tin cần thiết về con người, sựnghiệp sáng tác, phong cách nghệ thuật của Thanh Thảo cũng như Lorca; không

so sánh với nghệ thuật miêu tả tiếng đàn Thúy Kiều trong “Truyện Kiều” của Nguyễn Du, nghệ thuật miêu tả tiếng đàn người kĩ nữ của Bạch Cư Dị trong “Tì

bà hành” thì không thể nhận thấy sự độc đáo, khác biệt Trong sự liên tưởng

của Nguyễn Du, Bạch Cư Dị, tiếng đàn là phương tiện biểu hiện nỗi lòng, còntrong liên tưởng của Thanh Thảo, bản thân tiếng đàn là một sự sống , một sinh

thể cũng bị tổn thương và “chảy máu” như chính con người) Đây cũng là một

cách liên tưởng rất tự nhiên và tất yếu từ thực tế cuộc đời LORCA (bị bắn chếttàn bạo rồi ném xác xuống giếng) Song quan trọng hơn, cách liên tưởng ấy củaThanh Thảo cho thấy một quan niệm của nhà thơ về nghệ thuật: nghệ thuật(tiếng đàn của Lorca) phản ánh cuộc sống và khi hấp thụ vào mình cái phongphú của cuộc sống thì bản thân nó cũng trở thành một sinh thể có sự sống, cólinh hồn…

Đã nhiều thập kỷ nay, có rất nhiều diễn đàn trao đổi về vấn đề này.Chính vì vậy, những giáo viên dạy Văn chúng tôi rất trăn trở, luôn mong muốntìm ra một phương cách nào đó để thu hút các em, mong các em tự nguyện đồngcảm với nhà văn, với thầy cô trong mỗi giờ đọc- hiểu

Để tạo hứng thú cho học sinh khi học văn, giúp các em có cái nhìn đachiều, sâu sắc hơn về một tác phẩm văn học, người dạy rất cần sử dụng thao táclập luận so sánh trong giờ đọc- hiểu văn bản văn học Với sự kết hợp thao táclập luận này với các thao tác còn lại, học sinh không chỉ thấy được nội dung vàhình thức nghệ thuật của tác phẩm, mà quan trọng hơn, học sinh còn thấy được

Trang 12

nét riêng biệt, sự độc đáo của nhà văn trong việc nhận thức và phản ánh cuộcsống Trên cơ sở đó, học sinh sẽ biết sử dụng hợp lí và thành thạo thao tác lậpluận so sánh trong quá trình tạo lập văn bản nghị luận

Để có thêm cơ sở nghiên cứu đề tài, tôi tiến hành điều tra khảo sát bằngphiếu hỏi đối với giáo viên giảng dạy môn Ngữ văn của trường THPT Sáng Sơnhuyện Sông Lô,tỈNH Vĩnh Phúc.Kết quả thu được như sau:

Tổng số giáo viên được lấy ý kiến: 10 người

Bảng 1: Thực trạng việc sử dụng thao tác lập luận so sánh trong giờ hiểu văn bản văn hoc của giáo viên

đọc-Số

TT Nội dung câu hỏi

Phương án lựa chọn

Số lượng

Tỉ lệ (%) Ghi chú

1

Theo thầy (cô), có cần

thiết phải sử dụng thao

4 Theo thầy (cô), nguyên

nhân khiến cho nhiều

thầy (cô) chưa (chưa

A phải đầu tư nhiều trí lực, thời gian

Trang 13

Thầy (cô) có thường

xuyên kiểm tra việc sử

để nắm bắt kịp thời những yêu cầu đổi mới của Bộ giáo dục về phương phápgiảng dạy, ra đề, kiểm tra đánh giá Vì vậy, họ vẫn chưa thấy được sự cần thiếtphải thay đổi phương pháp giảng dạy trong các giờ đọc- hiểu văn bản văn học(cung cấp kiến thức và kĩ năng)

2.2 Thực trạng vệc sử dụng thao tác lập luận so sánh của học sinh trong quá trình tạo lâp văn bản nghị luận.

Trang 14

Về phía học sinh, chúng tôi tổ chức cho các em làm một bài test trongkhoảng 15 phút yêu cầu: Viết một đoạn văn (khoảng 120 từ, vận dụng kết hợpthao tác lập luận phân tích, bình luận và so sánh) nói lên cảm nhận của em vềkhổ thơ sau:

“Dữ dội và dịu êm

Ồn ào và lặng lẽ Sông không hiểu nổi mình Sóng tìm ra tận bể”

(Sóng- Xuân Quỳnh)

Kết quả thu được như sau:

Số lượng học sinh làm bài test 2: 137 (khối 12)

Bảng 2: Thực trạng việc sử dụng thao tác lập luận so sánh của học sinhtrong quá trình tạo lập văn bản nghị luận

Trang 15

người con gái trong xã hội phong kiến Tuy nhiên, các em chưa nhấn mạnh được

điều mới mẻ trong ý thơ của Xuân Quỳnh: khi “Sông không hiểu” thì sóng dứt khoát “tìm ra tận bể” Đặt ý thơ vào bối cảnh văn hóa xã hội Việt Nam những

năm 60 của thế kỉ trước, rõ ràng, Xuân Quỳnh là người có tư tưởng tiến bộ vượtthời đại Bà đưa đến một tư tưởng mang giá trị nhân văn: trong tình yêu, ngườicon gái có quyền và sẵn sàng vượt qua mọi giới hạn để đi tìm cho mình mộttình yêu đích thực Không một thế lực nào, tôn giáo, lễ giáo nào có thể cản đượcbước chân của người con gái dám sống hết mình cho tình yêu

Như vậy, rất nhiều em chưa nhận thức được một cách nghiêm túc vấn đềcần phải sử dụng thao tác lập luận so sánh khi viết dạng bài nghị luận về mộtđoạn thơ, bài thơ

Xuất phát từ thực trạng trên, chúng tôi mạnh dạn đề xuất một số phươngdiện so sánh trong giờ đọc- hiểu văn bản nhằm nâng cao chất lượng giờ dạy, tạohứng thú cho học sinh, đặc biệt, tạo cho các em thói quen và sử dụng thành thạothao tác lập luận so sánh trong bài văn nghị luận

CHƯƠNG 3: ĐỀ XUẤT MỘT SỐ PHƯƠNG DIỆN SO SÁNH

TRONG GIỜ ĐỌC- HIỂU VĂN BẢN VĂN HỌC 3.1 Mục tiêu và nguyên tắc khi sử dụng thao tác lập luận so sánh trong giờ đọc- hiểu văn bản.

3.1.1 Mục tiêu.

Trong giờ đọc- hiểu, tùy từng văn bản mà giáo viên nên sử dụng một cáchlinh hoạt thao tác lập luận so sánh để đưa đến những hiệu quả nhất định Sosánh để hiểu hơn về đối tượng đang nghiên cứu So sánh để thấy được điểmgiống và khác nhau, qua đó, học sinh nhận ra nét đặc sắc của mỗi tác giả trongviệc cảm nhận và phản ánh cuộc sống So sánh để hình thành cho học sinh thóiquen và kĩ năng trong đọc- hiểu và giải quyết các dạng bài nghị luận so sánhvăn học (hoặc xã hội)

Trang 16

3.1.2 Yêu cầu.

Để đạt được những mục tiêu đã đặt ra, giáo viên và học sinh cần lưu ýmột số vấn đề trong quá trình so sánh: nhất định phải tìm ra được điểm giống,khác nhau, nguyên nhân dẫn đến sự giống và khác nhau đó; thấy được sự kếthừa, đổi mới của mỗi giai đoạn văn học; nét riêng, sự độc đáo của mỗi tác giảtrong cùng một đề tài, một giai đoạn văn học; sự chuyển biến về tư tưởng vàquan niệm nghệ thuật của một tác giả qua các giai đoạn sáng tác; nét riêng, sựmới mẻ của mỗi tác giả trong cách cảm nhận và phản ánh hiện thực cuộc sống;

so sánh các chi tiết nghệ thuật, các câu thơ (đoạn thơ), các câu văn (đoạn văn),các nhân vật trong các tác phẩm khác nhau của một tác giả hoặc nhiều tác giả đểhiểu được giá trị tư tưởng của tác phẩm, thái độ của tác giả đối với cuộc sống vànghệ thuật…

3.2 Một số phương diện so sánh trong giờ đọc- hiểu văn bản văn học 3.2.1 So sánh đối chiếu hai nền văn học, hai thời kỳ văn học để thấy được sự giống nhau, kế thừa và phát triển, đổi mới của mỗi giai đoạn văn học.

Trang 17

- Bình Ngô

đại

cáo-NguyễnTrãi

- Tuyên bốđộc lập

- Khẳng địnhchủ quyền dântộc

- Căn cứ pháplí

- Cuộc tranh luận ngầmvới thực dân Pháp và đặcbiệt là các nước đangchuẩn bị xâm lược nướcta: Anh, Mĩ

- Căn cứ pháp lí: dựa vàotuyên ngôn của Pháp, Mĩ

- Bác suy rộng ra thànhquyền dân tộc

- Chinh

phụ ngâm khúc-

Đoàn ThịĐiểm

- Yêu nước

- Hình ảnh đẹp

và trang trọng

Người lính ra đi từ thủ đô

Hà Nội: hào hùng, hàohoa, lãng mạn (vẻ đẹp bitráng)

ThườngKiệt

- Thuật

hoài-Phạm NgũLão

Lòng yêunước, ý chíquyết tâmđánh giặc đểbảo vệ Tổquốc

- Đất Nước của NhânDân, Đất Nước “nhuốmmàu” văn hóa dân gian

- Đất Nước là “máuxương” của mỗi ngườinên “anh và em” phải cótrách nhiệm dựng, sẵnsàng hi sinh bảo vệ Tổquốc

Tiếng hát

- Thuật

hoài-Phạm NgũLão

Trách nhiệmcủa nam tử đốivới đất nước

Trách nhiệm của mọingười dân Việt Nam đốivới ĐN: anh, em, ngườicon gái, người con trai có

Trang 18

3.2.2 So sánh đối chiếu hai khuynh hướng văn học.

STT

Tên tác phẩm so sánh

Tên tác phẩm được so sánh

Điểm giống và khác nhau

1

Đàn ghi ta

của

Lorca-ThanhThảo

- Đọc Tiểu

Thanh

kí-NguyễnDu

- Kính gửi

cụ Nguyễn Du- Tố

Hữu

- Giống nhau: tiếng nói tri âm

- Khác nhau:

+ Đọc Tiểu Thanh kí: sự đống cảm của

những người “phong vận kì oan” trong xãhội phong kiến (tài tử đa cùng, hồng nhan

đa truân)

+ Kính gửi cụ Nguyễn Du: cảm quan của

hậu thế: đồng cảm với cuộc đời của ThúyKiều; biết ơn, trân trọng tấm lòng và tàinăng của Nguyễn Du

+ Đàn ghi ta của Lorca: ảnh hưởng từ

thơ siêu thực, tượng trưng, thơ tựdo Nỗi niềm tâm sự được bộc lộ kínđáo, có phần độc đáo, lạ lùng đối vớingười tiếp cận

Nam Cao

- Tắt

đèn-Ngô TấtTố

- Kép Tư

Bền-Nguyễn

- Những tác phẩm viết trước Cách mạngtháng Tám/1945: nhà văn có cái nhìn bếtắc về cuộc sống

- Vợ chồng A Phủ: thuộc khuynh hướng

HTXHCN: nhà văn tin tưởng vào sự lãnhđạo của Đảng nên có cái nhìn tích cực,lạc quan về cuộc sống và tương lai

Trang 19

nhặt-Kim Lân

- Chí Phèo,

Lão Hạc, Đời thừa-

Nam Cao

- Tắt

đèn-Ngô TấtTố

- Kép Tư

Bền-NguyễnCôngHoan

- Những tác phẩm viết trước Cách mạngtháng Tám/1945: nhà văn có cái nhìn bếtắc về cuộc sống

- Vợ nhặt: thuộc khuynh hướng

HTXHCN: nhà văn tin tưởng vào sự lãnhđạo của Đảng nên có cái nhìn tích cực,lạc quan về cuộc sống và tương lai

3.2.3 So sánh đối chiếu để thấy sự giống và khác nhau trong sự sáng tạo của mỗi nhà văn ở cùng một đề tài, trong một giai đoạn văn học.

STT

Tên tác phẩm so sánh

Tên tác phẩm được so sánh

Điểm giống và khác nhau

chí-ChínhHữu

-

Nhớ-HồngNguyên

* Giống nhau: người lính chống Pháp qua

sự kết hợp bút pháp hiện thực và lãngmạn

* Khác nhau:

+ Đồng chí, Nhớ: người lính ra đi từ nông

thông, vốn là người nông dân chân chất,mộc mạc; quê hương nghèo đói

+ Tây Tiến: Người lính vốn là học sinh,

Trang 20

sinh viên ra đi từ thủ đô Hà Nội, mang vẻđẹp hào hùng, hào hoa, đậm chất bi tráng,mang dáng dấp của tráng sĩ thuở trước

NguyễnĐình Thi

- Tổ quốc

bao giờ đẹp thế này

chăng?-Chế LanViên

- Ta đi tới

– Tố Hữu

* Giống nhau: Đề tài đất nước

* Khác nhau:

+ Đất nước của NĐT: viết về ĐN trong

thời gian, không gian cụ thể (mùa thu ởViệt Bắc, trong kháng chiến chống Pháp),

bút pháp tráng ca Việt Nam quê hương ta:

cảm nhận về đất nước qua chiều rộng củakhông gian, độ cao của ngọn núi

+ Đất Nước của NKĐ: viết về ĐN (viếthoa) trong suốt chiều dài lịch sử 4 nghìnnăm dựng và giữ nước; trong bề rộngkhông gian (Bắc, Trung, Nam), trong chiềusâu văn hóa dân tộc (văn hcọ dân gian,phong tục tập quán, truyền thống yêunước, đạo lí ); chất trữ tình- chính luận + Chế Lan Viên viết về lịch sử đất nướcvới tên tuổi của các triều đại, danh nhânvăn hóa; Nguyễn Khoa Điềm lại nhắc đếncông lao của những con người vô danh,bình dị; Nguyễn Khoa Điềm nhìn nhận vềcông lao của Nhân Dân (viết hoa): đánhgiặc, dẹp nội thù, truyền lại cho thế hệ saumọi giá trị vật chất và tinh thần

Trang 21

+ Nhân vật người vợ nhặt: không có tên,

bị cái đói hành hạ: xấu xí từ ngoại hìnhđến lời nói, hành động; không nhà khôngcửa, không người thân thích, lang thang,phiêu dạt khắp nơi

+ Mị: bị biến thành con dâu gạt nợ, bị vắtkiệt sức lao động, bị tiêu diệt tinh thầnphản kháng, khát vọng sống

Bắc-Tố Hữu

- Bên kia

sông Đuống-

HoàngCầm

nước-NguyễnĐình Thi

* Giống nhau: tình yêu quê hương đấtnước

* Khác nhau:

Việt Bắc mang âm hưởng của những khúc

hát giao duyên Giọng điệu ngọt ngào,thương mến Kết hợp giữa khuynh hướng

sử thi và cảm hứng lãng mạn Tính dân tộcđậm đà: thể thơ lục bát; đạo lí uống nướcnhớ nguồn; ân nghĩa, thủy chung

3.3.4 So sánh đối chiếu để thấy những chuyển biến của một cây bút trong một đề tài nhưng viết ở nhiều thời điểm khác nhau.

ST

T

Tên tác phẩm so sánh

Tên tác phẩm được so sánh

Sự chuyển biến

đò sông Đà-

NguyễnTuân

Một sốtruyện ngắntrong tập

“Vang

bóng một

Nguyễn Tuân vẫn là nhà văn của chủnghĩa duy mĩ Tuy nhiên, trước Cáchmạng, ông say sưa ca ngợi cái đẹp trongquá khứ, cái đẹp ở những con người phithường, những nhân vật lí tưởng Sau

Ngày đăng: 31/05/2020, 07:22

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w