Vốn sống của tầng lớp nho sĩ bình dân phong phú đã đành, ngay cả những nhà văn thuộc tầng lớp trên, khi đứng trước những biến động lớn lao của lịch sử giai đoạn này, họ cũng khơng thể ở
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC AN GIANG
KHOA SƯ PHẠM
BỘ MƠN NGỮ VĂN
TS Phạm Thanh Hùng
VĂN HỌC VIỆT NAM
GIAI ĐOẠN NỬA CUỐI THẾ KỈ XVIII -
NỬA ĐẦU THẾ KỈ XIX
Trang 2TS.Phạm Thanh Hùng
VĂN HỌC VIỆT NAM
GIAI ĐOẠN NỬA CUỐI THẾ KỈ XVIII -
NỬA ĐẦU THẾ KỈ XIX (DÙNG CHO SINH VIÊN NGỮ VĂN ĐẠI HỌC VÀ CAO ĐẲNG SƯ PHẠM)
Trang 3Lời nói đầu
V ăn học Việt Nam nửa cuối thế kỉ XVIII - nửa đầu thế kỉ XIX là một trong
hai giai đoạn phát triển rực rỡ nhất của lịch sử văn học dân tộc tính đến trước Cách mạng tháng Tám 1945
Tài liệu này được biên soạn nhằm phục vụ cho việc học tập của sinh viên Đại
học và Cao đẳng bộ mơn Ngữ văn, khoa Sư phạm, trường Đại học An Giang
Bạn đọc ngồi chuyên ngành cũng cĩ thể đọc để tìm hiểu thêm về một giai đoạn văn học Việt Nam thời kì trung đại
Nội dung gồm hai phần và mười chương:
Chương VI: Nguyễn Du và Truyện Kiều Chương VII: Truyện Nơm
Chương VIII: Nguyễn Cơng Trứ Chương IX: Cao Bá Quát
Chương X: Tuồng
Sau cùng là Thư mục tham khảo và Mục lục
Từ lâu, văn học giai đoạn này đã cĩ giáo trình của một số trường đại học Trong quá trình biên soạn, chúng tơi đã cố gắng cập nhật những kiến thức mới từ những cơng trình nghiên cứu gần đây và nhìn nhận những vấn đề văn học trên quan điểm cởi mở hơn, phù hợp với xu hướng nghiên cứu hiện nay đối với di sản văn học của tiền nhân
Rất mong nhận được những ý kiến đĩng gĩp của quí đồng nghiệp, sinh viên
và bạn đọc gần xa
TÁC GIẢ
Trang 4MUÏC LUÏC
PHẦN THỨ NHẤT
Chương I: KHÁI QUÁT VĂN HỌC VIỆT NAM GIAI ĐOẠN NỬA CUỐI THẾ
KỈ XVIII - NỬA ĐẦU THẾ KỈ XIX
1.Diện mạo Văn học Việt Nam giai đoạn nửa cuối thế kỉ XVIII -
nửa đầu thế kỉ XIX
1.1 Lực lượng sáng tác, công chúng văn học,
2 Đặc trưng cơ bản có tính lịch sử chi phối sự phát triển của
Văn học Việt Nam giai đoạn nửa cuối thế kỉ XVIII - nửa đầu thế kỉ XIX
3 Văn học Việt Nam giai đoạn nửa cuối thế kỉ XVIII - nửa đầu thế
kỉ XIX và sự ra đời của trào lưu nhân đạo chủ nghĩa
3.1 Phê phán những thế lực phong kiến
3.2 Giải phóng tình cảm con người, vấn đề trung tâm
4 Vấn đề khái quát hoá nghệ thuật trong Văn học Việt Nam giai
đoạn nửa cuối thế kỉ XVIII - nửa đầu thế kỉ XIX
4.1 Đề cao nhận thức cuộc sống và phản ánh
4.2 Tính chất cao quí; tính chất qui phạm, công thức;
PHẦN THỨ HAI NHỮNG TÁC GIẢ VÀ TÁC PHẨM TIÊU BIỂU
Chương II: CHINH PHỤ NGÂM
1 Đề tài, hoàn cảnh sáng tác, tác giả, dịch giả
2 Chinh phụ ngâm: vấn đề chiến tranh và hạnh phúc
2.1 Chiến tranh và hình ảnh người chinh phu
2.2 Chiến tranh và tâm sự của người chinh phụ
2.3 Thực chất cuộc chiến tranh trong Chinh phụ ngâm
3 Nghệ thuật của Chinh phụ ngâm
3.1 Dịch phẩm Chinh phụ ngâm - sự kết tinh
3.2 Tính chất ước lệ, tượng trưng
3.3 Nghệ thuật biểu hiện tâm trạng
Trang 5Chương III: CUNG OÁN NGÂM KHÚC
2 Nội dung Cung oán ngâm khúc
2.1 Quan niệm nhân sinh của Nguyễn Gia Thiều
2.2 Cuộc sống khổ đau của người cung nữ
3 Nghệ thuật Cung oán ngâm khúc: sự kết tinh nghệ thuật
Chương IV: HOÀNG LÊ NHẤT THỐNG CHÍ
1 Đề tài, hoàn cảnh sáng tác, tác phẩm, tác giả
2 Hoàng Lê nhất thống chí với qui luật suy vong và
3 Nghệ thuật của Hoàng Lê nhất thống chí: thành tựu nghệ thuật
3.1 Thể loại
3.2 Bút pháp
3.3 Hình tượng nhân vật
Chương V: HỒ XUÂN HƯƠNG
1 Vài nét về thân thế và sự nghiệp thi ca
2 Nội dung thơ ca
2.1 Lưu hương kí
2.2 Xuân Hương thi tập
3 Phong cách thơ Nôm Hồ Xuân Hương
Chương VI: NGUYỄN DU VÀ TRUYỆN KIỀU
1 Gia thế, cuộc đời, sự nghiệp thơ văn của Nguyễn Du
2 Thơ chữ Hán Nguyễn Du
3 Truyện Kiều, tập đại thành của văn học Việt Nam trung đại
3.1 Lai lịch Truyện Kiều
3.2 Cảm hứng chủ đạo của Nguyễn Du trong Truyện Kiều
3.3 Điển hình hoá trong Truyện Kiều
3.4 Ngôn ngữ trong Truyện Kiều
Chương VII: TRUYỆN NÔM
1 Truyện Nôm: một thể loại nghệ thuật đặc biệt
1.1 Vấn đề nguồn gốc truyện Nôm
1.2 Truyện Nôm bình dân và truyện Nôm bác học
Trang 62 Nội dung xã hội của truyện Nôm bình dân
3 Đặc trưng thi pháp của truyện Nôm bình dân
Chương VIII: NGUYỄN CÔNG TRỨ
1 Cuộc đời, sự nghiệp, thơ văn
2 Những điểm chính trong nội dung thơ văn
2.1 Chí nam nhi
2.2 Tính chất hiện thực
2.3 Tư tưởng vui nhàn, thưởng lạc
3 Nghệ thuật thơ Nguyễn Công Trứ
Chương IX: CAO BÁ QUÁT
1 Cuộc đời, sự nghiệp thơ văn
2 Nội dung thơ văn Cao Bá Quát
2.1 Cao Bá Quát, một nhà thơ có bản lĩnh
2.2 Cao Bá Quát và chế độ phong kiến triều Nguyễn
2.3 Cao Bá Quát, một tâm hồn nhiều cảm thông
3 Nghệ thuật thơ Cao Bá Quát
Chương X: TUỒNG
1 Mấy vấn đề khái quát
1.1 Tuồng, chèo đều có nguồn gốc ở nước ta
1.2 Điểm qua vài nét về lịch sử phát triển
2 Vấn đề trung tâm của tuồng: những truyền thống
2.1 Thế giới tuồng phức tạp
2.2 Những truyền thống xung quanh vấn đề
3 Vài nét về nghệ thuật
3.1 Tuồng có hình thức nghệ thuật biểu hiện
3.2 Tuồng là loại kịch hát thơ
3.3 Tuồng có tuồng hài, tuồng bi
3.4 Tuồng sử dụng rộng rãi biện pháp tượng trưng
á
Trang 7PHẦN THỨ NHẤT
Chương một: KHÁI QUÁT VĂN HỌC VIỆT NAM
GIAI ĐOẠN NỬA CUỐI THẾ KỈ XVIII – NỬA ĐẦU THẾ KỈ XIX
những tác phẩm như Truyện Kiều, Chinh phụ ngâm, Cung ốn ngâm khúc, Hồng
Lê nhất thống chí, Sơ kính tân trang, Hoa tiên
V
Văn học Việt Nam nửa cuối thế kỉ XVIII - nửa đầu thế kỉ XIX ra đời trong hồn cảnh chế độ phong kiến đi vào con đường khủng hoảng, bế tắc Sự khơng tương ứng giữa văn học và xã hội thoạt nhìn cĩ vẻ mâu thuẫn, nhưng kì thực khơng cĩ gì mâu thuẫn Đi sâu vào cơ cấu xã hội để nghiên cứu, nếu một mặt người ta thấy sự phát triển khơng tương ứng giữa văn học với cơ sở kinh tế xã hội, thì mặt khác, văn học lại phát triển rất tương ứng với tình hình cuộc đấu tranh giai cấp quyết liệt, mà ưu thế nổi bật thuộc về lực lượng tiến bộ, lực lượng của quần chúng nơng dân
1 DIỆN MẠO VĂN HỌC VIỆT NAM GIAI ĐOẠN NỬA CUỐI THẾ KỈ XVIII - NỬA ĐẦU THẾ KỈ XIX:
1.1 Lực lượng sáng tác, cơng chúng văn học, điều kiện in ấn:
Trước kia, lịch sử văn học nước ta chưa từng chứng kiến một giai đoạn văn học nào lại phát triển phong phú về số lượng và chất lượng như giai đoạn văn học này Điều này cĩ nguyên nhân từ lực lượng sáng tác, cơng chúng văn học, điều kiện in ấn lúc bấy giờ
Về lực lượng sáng tác, khơng như từ thế kỉ X đến thế kỉ XIII, Phật giáo đang thịnh, lực lượng sáng tác chủ yếu là các nhà sư cĩ quan hệ mật thiết với triều đình Hoặc từ cuối đời Trần đến đời Lê, Nho giáo phát triển, việc học việc thi nĩi chung cĩ qui củ, nghiêm ngặt, sáng tác văn học hầu hết là của lực lượng nho
sĩ ở triều đình, nho sĩ quan liêu Bước sang nửa cuối thế kỉ XVIII, chế độ phong kiến suy tàn, việc học việc thi khơng được chú trọng Thậm chí, bọn thống trị lúc cần tiền, chúng sẵn sàng biến thi cử thành chuyện mua bán Mặc dù vậy, cũng phải thấy rằng, do buơng lỏng việc học việc thi mà nhiều người cĩ điều kiện đi học
đi thi Chính điều này đã hình thành nên một tầng lớp nho sĩ bình dân, tăng cường cho đội ngũ sáng tác Vốn sống của tầng lớp nho sĩ bình dân phong phú đã đành, ngay cả những nhà văn thuộc tầng lớp trên, khi đứng trước những biến động lớn lao của lịch sử giai đoạn này, họ cũng khơng thể ở yên nơi lầu son gác tía, mà phải lăn lộn giữa cuộc sống, nếm trải những cảnh đời nghèo khổ, long đong của quần chúng, nên vốn sống của họ cũng rất phong phú Nguyễn Du là một trong nhiều trường hợp như thế
Việc học việc thi mở rộng cũng làm cho cơng chúng văn học thay đổi Ở giai đoạn này, cơng chúng văn học được mở rộng Họ gồm nhiều người cĩ học, khơng những thuộc tầng lớp trên, mà cả tầng lớp trung và dưới Thơng qua tầng
Trang 8lớp trung và dưới này, công chúng văn học - chủ yếu là công chúng của bộ phận
văn học chữ Nôm - mở rộng đến đông đảo quần chúng Nhiều tác phẩm văn học
nổi tiếng đương thời như Truyện Kiều, Chinh phụ ngâm, Cung oán ngâm khúc và
nhiều truyện Nôm bình dân khác, không phải chỉ nho sĩ mới thưởng thức mà quần
chúng đông đảo cũng thưởng thức được Có nhiều người không biết chữ Nôm,
nhưng nhờ thuộc Truyện Kiều, Chinh phụ ngâm mà về sau học chữ được dễ
dàng
Ngoài hai mặt nêu trên, sự tiến bộ chút ít của nghệ thuật in sách và bán
sách, trong chừng mực có tác dụng kích thích đối với sáng tác văn học Nghề in ở
giai đoạn nửa cuối thế kỉ XVIII - nửa đầu thế kỉ XIX vẫn là in khắc gỗ Nghệ thuật
in công phu, tốn kém và mất rất nhiều thời gian Nhiều tác phẩm lưu hành trong
thời gian này vẫn bằng cách chép tay Dù vậy, so với giai đoạn trước phải nhận là
có tiến bộ Ở kinh đô, một số cơ sở kinh doanh bằng nghề in sách và bán sách ra
đời
Tất cả những tiền đề trên đây tác động trực tiếp đến sự phát triển của văn
học giai đoạn này
1.2 Hai bộ phận văn học:
đều phát triển hơn trước rất nhiều, đặc biệt là văn học chữ Nôm
1.2.1 Văn học chữ Nôm: Sáng tác văn học bằng chữ Nôm ít ra đã
có từ thời Hàn Thuyên, đời Trần Đến giữa thế kỉ XVIII, bộ phận văn học chữ Nôm
đã phát triển rực rỡ
Lí giải tình hình này không thể không kể đến những phẩm chất mới của
lực lượng sáng tác, trong đó có sự tăng cường những tác giả thuộc tầng lớp dưới,
đồng thời, còn là sự tăng cường ảnh hưởng của văn học dân gian đối với văn học
thành văn
Về phương diện thể loại, đến giai đoạn này, những thể loại của văn học
chữ Nôm mới thật phát triển hoàn chỉnh Văn học chữ Nôm nửa cuối thế kỉ XVIII -
nửa đầu thế kỉ XIX chưa có văn xuôi nghệ thuật, thơ vẫn là chủ yếu Thơ trữ tình
chủ yếu được viết bằng thể Đường luật, song thất lục bát và hát nói, còn thơ tự sự
được viết bằng thể lục bát
Thơ Nôm Đường luật có những thành tựu đáng kể như thơ Hồ Xuân
Hương, thơ Bà Huyện Thanh Quan Dưới ngòi bút Xuân Hương, thơ Đường luật
đã được vận dụng theo hướng dân tộc hoá triệt để trong khuôn khổ thể tài cho
phép Bà đã đưa được vào một thể thơ vốn đài các, trang trọng, một nội dung
thông tục, hằng ngày và diễn đạt nội dung ấy bằng thứ ngôn ngữ thông tục, hằng
ngày Thơ Đường luật của Bà Huyện Thanh Quan có khác hơn Nó xuất hiện dưới
dạng cổ điển với niêm luật chặt chẽ, nội dung trang nhã, âm hưởng dồi dào, hấp
dẫn
Thể hát nói cũng là một thể thơ trữ tình ngắn, nhưng có dung lượng lớn
hơn và cách luật cũng thoải mái hơn Nó xuất hiện từ thế kỉ XVI với Lê Đức Mao,
sau đó không thấy dùng Đầu thế kỉ XIX, hát nói được dùng lại với các nhà thơ
Nguyễn Công Trứ, Cao Bá Quát, Nguyễn Hàm Ninh Trong nửa đầu thế kỉ XIX,
hát nói phát triển theo hai hướng, một mặt là những bài hát nói đề cập đến cuộc
sống hưởng lạc, ăn chơi, mặt khác, đó là những bài nói về chí nam nhi, về lí
tưởng hành động của con người, của kẻ sĩ Hát nói của Nguyễn Công Trứ, Cao
Bá Quát đã đạt đến trình độ mẫu mực Những nhà thơ sau này như Dương Lâm,
Dương Khuê hay Tản Đà cũng chỉ là tiếp tục chứ không phải phát triển Ở Cao
Bá Quát, bên cạnh những bài hát nói bằng chữ Nôm, ông còn có rất nhiều bài thơ
Trang 9viết bằng chữ Hán Với Nguyễn Công Trứ thì hát nói không chỉ là chất lượng nghệ thuật mà còn ở số lượng bài Nguyễn Công Trứ xứng đáng là nhà thơ đạt đến đỉnh cao nhất về thành tựu ở thể tài này
Thế nhưng, thơ trữ tình trong giai đoạn văn học nửa cuối thế kỉ XVIII - nửa đầu thế kỉ XIX chủ yếu được viết bằng thể song thất lục bát với nhiều thành
tựu, bắt đầu với bản dịch Chinh phụ ngâm của Đoàn Thị Điểm, rồi Cung oán ngâm khúc của Nguyễn Gia Thiều, Ai tư vãn của Lê Ngọc Hân, Văn triệu linh của Phạm Thái, Văn chiêu hồn của Nguyễn Du, bản dịch Chinh phụ ngâm của Phan Huy Ích,
Tự tình khúc của Cao Bá Nhạ, bản dịch Tì bà hành của Phan Huy Thực, bản dịch Chức cẩm hồi văn của Hoàng Quang đều được nâng lên thành thể trường ca trữ tình, thường gọi là thể ngâm hay ngâm khúc, phát huy truyền thống của Chinh phụ ngâm và Cung oán ngâm khúc
Ngâm khúc là một trong những thể loại tiêu biểu của văn học giai đoạn
này và đã đạt được nhiều thành tựu rực rỡ Việc ra đời thể ngâm khúc đánh dấu một bước phát triển của thể loại trữ tình trong văn học Việt Nam Ảnh hưởng của
nó rất lớn, không chỉ đương thời mà cả tương lai Thường gặp ngâm khúc dùng
để diễn tả tâm trạng, đặc biệt là tâm trạng buồn Chẳng hạn, Đinh Nhật Thận viết
Thu dạ lữ hoài ngâm bằng chữ Hán diễn tả tâm trạng buồn của một người lữ thứ,
đã tìm đến thể thơ song thất lục bát; hoặc Phạm Thái khi viết truyện thơ Sơ kính tân trang, ở những đoạn diễn tả tâm trạng buồn, ông cũng thường chuyển sang
song thất lục bát
Cuộc sống đầy biến động, con người ngày càng phải đối mặt trước những vấn đề lớn lao liên quan đến vận mệnh của xã hội và bản thân mình đòi hỏi phải lí giải, phải miêu tả Những thể loại văn học cũ, nhỏ bé tỏ ra không đáp ứng nổi yêu cầu phản ánh một cách đa dạng và bao quát hiện thực xã hội và thời đại
Văn xuôi chữ Nôm chưa ra đời, truyện thơ đã đảm nhận công việc ấy Giai đoạn văn học này chủ yếu là truyện thơ lục bát Truyện thơ lục bát thực sự là đỉnh cao
của bộ phận văn học chữ Nôm và là thành tựu xuất sắc nhất của văn học nước ta giai đoạn nửa cuối thế kỉ XVIII - nửa đầu thế kỉ XIX
trữ tình kết hợp được nhiều mặt, nhiều chức năng, có thể diễn tả nhiều sắc thái thẩm mĩ khác nhau, đủ sức phản ánh cuộc sống có tính chất sử thi Sự ra đời của hàng chục truyện thơ, có hữu danh và khuyết danh, có bình dân và bác học trong giai đoạn này đã cho thấy khả năng bao quát sâu rộng hiện thực cuộc sống và thành tựu to lớn của thể thơ này
Văn học giai đoạn nửa cuối thế kỉ XVIII - nửa đầu thế kỉ XIX cũng xuất
hiện loại kí sự lục bát Không như truyện thơ thường viết dựa theo câu chuyện từ
trong các tác phẩm văn học nước ngoài, hoặc diễn ca truyện cổ tích, kí sự ghi chép những sự việc tác giả đã trải qua Có kí sự đầy tính chất hư cấu thơ mộng,
không khác gì một truyện thơ như Mai đình mộng kí của Nguyễn Huy Hổ Có kí sự
mà một nửa là tự truyện như Bất phong lưu truyện của Lí Văn Phức Ngoài ra, thể lục bát còn dùng để diễn ca lịch sử như ở Đại Nam quốc sử diễn ca của Lê Ngô
Các và Phạm Đình Toái
1.2.2 Văn học chữ Hán: Dù không phát triển rực rỡ bằng văn học chữ
Nôm, nhưng khối lượng văn học chữ Hán lại rất nhiều và có được những thành tựu đáng kể So với văn học chữ Hán ở các giai đoạn trước, văn học chữ Hán giai đoạn này vẫn là một bước tiến cao hơn Khác với văn học chữ Nôm, ngay từ đầu văn học chữ Hán đã bao gồm cả văn xuôi và thơ Thơ, kể cả phú, gắn liền với thể loại trữ tình, trong khi văn xuôi gắn với thể loại tự sự, chính luận
Trang 10Khối lượng thơ chữ Hán giai đoạn này rất phong phú, không thể kể hết
các thi tập Có thi tập chứa đựng hàng trăm bài, cũng có thi tập đến hàng nghìn
bài
Về thể loại, phổ biến vẫn là thơ Đường luật, ngoài ra còn có các thể
khác như cổ phong, trường thiên… Nhu cầu cải tiến về phương diện hình thức
chưa có Về nội dung, có thể thấy được tác động của đời sống vào trong tác
phẩm Ở những nhà thơ lớn, việc vay mượn thể loại và cả ngôn ngữ nước ngoài
này đã không ngăn cản họ sáng tạo nên những tác phẩm xuất sắc có nội dung
phong phú và có giá trị nghệ thuật cao như Chinh phụ ngâm của Đặng Trần Côn,
thơ chữ Hán của Nguyễn Du, Cao Bá Quát, Nguyễn Văn Siêu…
Phú, một thể loại gần với thơ, nhưng so với sự phát triển của thơ thì phú
có vẻ thụt lùi, mặc dù số lượng các bài phú chữ Hán không đến nỗi quá ít Nội
dung của phú thường thiên về miêu tả thiên nhiên, không mấy bài có nội dung xã
hội sâu sắc Ở các giai đoạn trước, thiên nhiên làm đề tài cho phú thường là
những di tích lịch sử, những chiến công hiển hách của dân tộc được phản ánh với
một cảm hứng đầy tự hào, thì giai đoạn này thiên nhiên trong các bài phú là
những cảnh đẹp, có non có nước, có gió mát trăng thanh, được nhà thơ diễn tả
với một cảm giác thường là thỏa mãn Không có mấy bài được như Đăng Ải Vân
phú của Ngô Thì Chí, ít nhiều gắn với việc ca ngợi nhà Tây Sơn
Thật ra, những bài phú có giá trị nhất của giai đoạn văn học này lại viết
bằng chữ Nôm chứ không phải bằng chữ Hán như Tụng Tây Hồ phú của Nguyễn
Huy Lượng, Hàn nho phong vị phú của Nguyễn Công Trứ, Tài tử đa cùng phú của
Cao Bá Quát, nhưng cũng không nhiều bài được như vậy
So với thơ, văn xuôi chữ Hán giai đoạn này có ý nghĩa hơn và có một
bước phát triển khá rõ Văn xuôi chữ Hán gồm văn xuôi chính luận và văn xuôi tự
sự Văn xuôi chính luận gồm văn biện luận triết học, tiêu biểu là những tác phẩm
triết học của Lê Quý Đôn và văn chính luận có tính chất ngoại giao như những thư
từ giao dịch với nhà Thanh dưới triều đại Tây Sơn
Nói đến văn xuôi chữ Hán thì tiêu biểu hơn cả là loại văn xuôi tự sự, chủ
yếu là văn kí sự Ở các giai đoạn trước, kí sự chữ Hán chưa phát triển và thành
tựu nổi bật về văn xuôi tự sự chữ Hán là loại truyện chí quái, truyền kì có nhiều
yếu tố hoang đường, quái đản của truyện dân gian Từ Việt điện u linh, Lĩnh Nam
chích quái, Thánh Tông di thảo…đến đỉnh cao là Truyền kì mạn lục của Nguyễn
Dữ (Dư (?)), loại truyện này đã đi dần đến chỗ ngày càng ít tính chất hoang
đường hơn, từ chỗ ghi chép nhằm mục đích cúng tế, có tính chất phi văn học, về
sau truyện đi đến hướng sáng tác trên cơ sở hư cấu nghệ thuật của nhà văn
nhằm mục đích văn học Loại truyện truyền kì sang giai đoạn văn học nửa cuối thế
kỉ XVIII - nửa đầu thế kỉ XIX còn được tiếp tục với Truyền kì tân phả của Đoàn Thị
Điểm (còn có tên là Tục truyền kì) Tuy không đuổi kịp Truyền kì mạn lục của
Nguyễn Dữ về phương diện nghệ thuật, nhưng về phương diện nội dung, Truyền
kì tân phả có phần gắn với cuộc sống, với con người hơn Truyền kì mạn lục
Văn kí sự ghi nhận những thành tựu rực rỡ như Vũ trung tùy bút của
Phạm Đình Hổ, Tang thương ngẫu lục của Phạm Đình Hổ và Nguyễn Án, Công dư
tiệp kí của Vũ Phương Đề, Thoái thực kí văn của Trương Quốc Dụng với nhiều bài
kí về sinh hoạt và phong tục Nhà y học nổi tiếng Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu
Trác trong chuyến ra Kinh chữa bệnh cho thế tử Trịnh Cán đã ghi lại những điều
mắt thấy tai nghe cùng tâm trạng của mình trong tập bút kí đặc sắc Thượng kinh kí
sự Ngoài ra, trong giai đoạn này còn có Thượng kinh phong vật chí tương truyền
của Lê Qúi Đôn (?), nhiều bài du kí ngắn, những bài kí viết cho các đền, chùa xuất
hiện rải rác trong nhiều văn tập… Đỉnh cao của văn kí sự là loại kí sự về lịch sử
mà tiêu biểu là tác phẩm Hoàng Lê nhất thống chí (còn có tên là An Nam nhất
thống chí) của Ngô gia văn phái Tác phẩm đã tiếp thu truyền thống biên niên sử
Trang 11với lối viết tiểu thuyết chương hồi của Trung Quốc như kiểu Tam quốc diễn nghĩa,
đã kết hợp được chân lí lịch sử với chân lí nghệ thuật, nên dù có nhiều yếu tố tiểu thuyết, nó vẫn chưa phải là một tiểu thuyết lịch sử
Nhìn tổng quát, văn học chữ Hán giai đoạn nửa cuối thế kỉ XVIII - nửa đầu thế kỉ XIX phát triển mạnh về văn xuôi hơn là thơ Trong văn xuôi chữ Hán,
thể loại có qui mô lớn và thành công nhất là kí sự về lịch sử Cả thơ và văn xuôi
chữ Hán đều tăng cường nội dung hiện thực cuộc sống, đồng thời cố gắng vươn lên mức độ hoàn thiện về phương diện nghệ thuật
1.3 Văn học sân khấu:
Ở hai bộ phận văn học chữ Hán và chữ Nôm của giai đoạn này, cả hai
loại hình cơ bản là tự sự và trữ tình đều có những bước phát triển lớn, đều có những thành tựu hết sức đáng kể Loại hình kịch, đúng hơn là văn học sân khấu gồm tuồng (hát bội, hát bộ) và chèo, cũng có những thành tựu nhất định, dù không
bằng hai loại hình trên Chèo thuộc phạm vi nghệ thuật sân khấu và văn học dân gian Tuồng chủ yếu thuộc phạm vi nghệ thuật và văn học bác học Tuồng ra đời khi nào còn là vấn đề, nhưng chắc chắn đến thế kỉ XVIII nó đã khá hoàn chỉnh và
có ảnh hưởng đối với xã hội và văn học Truyện Lục súc tranh công chẳng hạn,
được viết bằng thể văn của tuồng Từ đầu thế kỉ XIX trở đi, dưới sự bảo trợ của triều đình nhà Nguyễn, tuồng phát triển mạnh ở trong Nam Nhiều vở tuồng lớn
còn đến ngày nay đã được sáng tác trong thời kì này như Sơn Hậu, Tam nữ đồ vương Sự phát triển của tuồng có những hoàn cảnh đặc biệt hơn thơ và truyện
Trong xã hội phong kiến, thơ được đề cao Truyện không có được địa vị như thế Truyền thống đề cao thơ có từ thời Khổng Tử Kế thừa khổng Tử, những người theo học thuyết Nho giáo ở Trung Quốc cũng như ở Việt Nam đều đề cao thơ Thơ đã từng là môn thi trong các kì thi hương, thi hội của nhà nước phong kiến Ngược lại, quan niệm phong kiến chính thống nói chung xem thường truyện, xem truyện là “ngoại thư”, thậm chí có truyện còn liệt vào loại “dâm thư” Dù vậy, trên thực tế, truyện lại gắn liền với tên tuổi của nhiều tác giả mà về thành phần xuất thân và cương vị xã hội, theo quan điểm phong kiến, đều không thể coi thường Vì thế, nó vẫn có một chỗ đứng hợp pháp nhất định Tuồng thì số phận bi đát hơn nhiều “Xướng ca vô loài” là cái nhìn của xã hội phong kiến với tất cả những con người hoạt động sân khấu nói chung, trong đó có tuồng, chèo Đó là lí
do chủ yếu làm cho nghệ thuật tuồng và chèo mặc dù xuất hiện sớm vẫn không thể phát triển Cho đến trước khi có chèo cải cách ra đời sau những năm Chiến tranh thế giới lần thứ nhất, chèo vẫn tồn tại dưới hình thức chèo sân đình, kịch bản chủ yếu tồn tại dưới hình thức những “miếng trò” được truyền miệng trong dân gian, chưa có kịch bản thành văn Sự phát triển của tuồng có những mặt giống chèo và khác chèo Tuồng gắn liền với văn học bác học hơn văn học dân gian Tác giả của kịch bản tuồng là những nhà nho yêu nghệ thuật Tuồng cũng
sử dụng những “miếng trò” như chèo, nhưng nhìn chung, kịch bản tuồng định hình khá sớm Cũng như chèo, tuồng cũng bị xã hội phong kiến coi thường, nên kịch bản trong giai đoạn này chưa được chú trọng đúng mức Văn tuồng pha trộn cả Nôm lẫn Hán với một tỉ lệ hơn kém không nhiều Trước thời nhà Nguyễn, yếu tố Nôm trong những vở sáng tác có phần nhiều hơn Đến thời nhà Nguyễn, tuồng bị
phân hóa Bộ phận chính thống gọi là tuồng thầy, tuồng pho được đưa vào cung
đình thành một thứ nghệ thuật cung đình, ngôn ngữ chịu ảnh hưởng quan niệm đề cao chữ Hán của nhà nước Bộ phận không chính thống tồn tại trong dân gian,
chủ yếu ở trong Nam, gọi là tuồng đồ, nhiệm vụ của nó cũng giống như chèo ở
ngoài Bắc, thiên về châm biếm, đả kích Ngôn ngữ của tuồng đồ chịu ảnh hưởng lời ăn tiếng nói hằng ngày của nhân dân Có thể xem tuồng đồ là một thứ hài kịch dân gian
Trang 12Nhìn chung, nghệ thuật tuồng dưới triều đại nhà Nguyễn có được coi
trọng hơn trước, nhưng bản chất cung đình lại chính là trở ngại làm hạn chế sự
phát triển của nó
1.4 Tình hình sáng tác và cơ cấu các thành phần của nền văn học:
Sáng tác văn học trong giai đoạn nửa cuối thế kỉ XVIII - nửa đầu thế kỉ
XIX, như đã trình bày, đã hình thành nên ba loại hình cơ bản là tự sự, trữ tình và
kịch Trữ tình và tự sự đã đạt được những thành tựu hết sức có ý nghĩa Trong khi
kịch chưa có được thành tựu lớn như hai loại hình này
Về cơ cấu của nền văn học, ngoài bộ phận chính là sáng tác, công việc
sưu tầm, nghiên cứu, lí luận và phê bình văn học đều có những bước tiến nhất
định, dù thành tựu của nó còn hạn chế hơn nhiều so với sáng tác Sự chênh lệch
giữa sáng tác với nghiên cứu, lí luận, phê bình văn học cũng là một thực trạng của
nhiều giai đoạn văn học xưa nay, đặc biệt là trong xã hội phong kiến
Về thành tựu sưu tầm và nghiên cứu văn học, đáng kể hơn cả là các bộ
hợp tuyển văn học, các công trình về thư mục học, trong đó chủ yếu là thư mục về
sáng tác văn học Những bộ hợp tuyển văn học của giai đoạn này đáng chú ý có
Toàn Việt thi lục của Lê Qúi Đôn, Hoàng Việt thi tuyển của Bùi Huy Bích Hoàn
thành năm 1788, Hoàng Việt thi tuyển được xây dựng trên cơ sở tuyển chọn
những tác phẩm của các tác giả từ thời Lí, Trần đến cuối thời Lê lấy trong Toàn
Việt thi lục ra đời trước đó, đồng thời bổ sung những tác phẩm từ đời Cảnh Thống
trở đi Còn Toàn Việt thi lục của Lê Qúi Đôn thì đã từng được Phan Huy Chú nhận
xét là “thu nhặt rất đầy đủ”, không phân biệt thành phần xã hội Rất tiếc là ông chỉ
chọn thơ chữ Hán mà không chú ý đến thơ chữ Nôm Bùi Huy Bích là học trò của
Lê Qúi Đôn nên cũng chịu ảnh hưởng sâu sắc cách tuyển chọn tác phẩm của
thầy Đây cũng là thiếu sót chung của các bộ hợp tuyển văn học trong thời kì
phong kiến
Ngoài ra, giai đoạn này cũng còn một số hợp tuyển khác như Đại Nam
lịch khoa hội phú tuyển của Lí Trần Quán, Hoàng Việt văn tuyển của Bùi Huy Bích,
Minh đô thi của Bùi Nhữ Tín, Việt thi tục biên của Nguyễn Thu…
Về thư tịch cổ, có thể nói hầu hết sách vở của nước ta ở đủ các phương
diện từ cổ đến lúc bấy giờ đều được giới thiệu trong các thư tịch của Lê Qúi Đôn
và Phan Huy Chú
So với thành tựu về nghiên cứu, sưu tầm thì thành tựu về lí luận, phê
bình văn học còn hạn chế Chưa có một tác phẩm lí luận văn học nào ra đời Đây
đó cũng chỉ dừng lại ở việc sưu tầm ý kiến của những nhà triết học, nhà văn, nhà
thơ, nhà phê bình văn học Trung Quốc, rồi bàn thêm, tán thành, phản đối hay bổ
sung (mục Văn nghệ trong Vân đài loại ngữ, mục Thiên chương trong Kiến văn
tiểu lục đều của Lê Qúi Đôn), hoặc nói lên sự thưởng thức văn học của mình dưới
dạng một bài tùy bút (tập Thương Sơn thi thoại của Miên Thẩm) Tuy nhiên, trong
một số bài Tựa, bài Bạt, bài Bình hay trong một số thư từ trao đổi, các nhà văn
trong giai đoạn này ít nhiều cũng thể hiện quan điểm văn học và cách phê bình
của mình (như các bài Tựa của Ngô Thì Nhậm, Nguyễn Án, Mộng Liên Đường
chủ nhân, Phong Tuyết chủ nhân, Cao Bá Quát…, nhiều bài Tựa, bài Bạt khác
của Ngô Thì Sĩ, Ngô Thì Chí, Nguyễn Hành, Lê Hữu Kiều, Phạm Qúi Thích…,
những bức thư của Nguyễn Văn Siêu…) Nói chung, lí luận, phê bình văn học
trong chừng mực còn có tính chất rập khuôn và thoát li thực tiễn sáng tác của văn
học dân tộc
2 ĐẶC TRƯNG CƠ BẢN CÓ TÍNH LỊCH SỬ CHI PHỐI SỰ PHÁT
TRIỂN CỦA VĂN HỌC VIỆT NAM GIAI ĐOẠN NỬA CUỐI THẾ KỈ XVIII - NỬA
ĐẦU THẾ XIX:
Trang 13Trong việc nghiên cứu lịch sử phát triển của văn học, vấn đề phát hiện một cách đúng đắn những đặc trưng cơ bản có tính lịch sử trong từng giai đoạn là biểu hiện của sự nhận thức có tính chất biện chứng và duy vật về lịch sử văn học, giúp chúng ta có được phương hướng đúng đắn trong việc cắt nghĩa và đánh giá những hiện tượng phức tạp, nhiều khi mâu thuẫn của đời sống văn học
Đặc điểm nổi bật của tình hình xã hội nước ta giai đoạn nửa cuối thế kỉ
XVIII - nửa đầu thế kỉ XIX là sự khủng hoảng trầm trọng và không lối thoát của nhà nước phong kiến Những mâu thuẫn chất chứa trong lòng xã hội phong kiến đến giai đoạn này bộc lộ gay gắt và bùng nổ thành những cuộc đấu tranh xã hội quyết liệt
Nền kinh tế của xã hội đến giai đoạn nửa cuối thể kỉ XVIII - nửa đầu thế
kỉ XIX suy sụp một cách toàn diện Nông nghiệp đình đốn Ruộng đất phần lớn tập trung vào tay bọn địa chủ Tô thuế nặng nề, mất mùa, đói kém liên tiếp xảy ra Công thương nghiệp cũng không phát triển Chính quyền phong kiến hướng công thương nghiệp vào mục đích phục vụ nhu cầu của giai cấp thống trị Nghề khai thác mỏ được chú trọng ít nhiều là do nhu cầu lấy đồng để đúc tiền, đúc súng, đóng tàu hay đổi với lái buôn phương Tây lấy vũ khí Phần lớn các mỏ thuộc quyền quản lí của nhà nước, số rất ít còn lại do thương nhân Hoa kiều và người Việt khai thác Đời sống của người làm công hết sức cực khổ Thương nghiệp đến giai đoạn này cũng bị đình trệ Chúa Trịnh ra sức bóp nghẹt ngoại thương và ngăn cản việc buôn bán của thương nhân
Thời Quang Trung, tình hình có thay đổi ít nhiều Vua Quang Trung ban
Chiếu khuyến nông, ra lệnh lấy ruộng của bọn phản động và ruộng quá điền giao
cho làng xã quản lí, sửa đổi chính sách quân điền, đảm bảo cho nông dân có ruộng cày, dân lưu tán được trở về quê cũ làm ăn, bãi bỏ chính sách thuế khóa nặng nề đánh vào công thương nghiệp, tìm biện pháp làm cho hàng hóa thông thương…
Nhưng triều đại Tây Sơn không tồn tại được lâu, Gia Long lên ngôi tình hình trở lại như cũ Dưới ách thống trị của triều Nguyễn, đời sống nhân dân vô cùng cực khổ Nhà nước bất lực trong việc bảo vệ đê điều và làm các công trình thủy lợi nên đê điều bị vỡ luôn Công cuộc khai hoang chẳng đem lại bao nhiêu kết quả vì chính sách bóc lột khiến người nông dân không sống nổi phải bỏ đi nơi khác Việc buôn bán bị hạn chế Triều đình khước từ mọi quan hệ ngoại thương…
Về chính trị, bộ máy chính quyền phong kiến giai đoạn này vừa chuyên chế, vừa sâu mọt thối nát Thời Lê mạt, ở trung ương, vua Lê chỉ ngồi làm vì, mọi quyền hành tập trung vào phủ chúa chuyên quyền và độc đoán Các chúa Trịnh thường lo nghĩ ra việc ăn chơi và xây dựng chùa chiền hơn là lo trị nước Trong
Vũ trung tùy bút và Tang thương ngẫu lục có ghi lại một vài cảnh chơi bời của
Trịnh Sâm như ngự chơi cung Thụy Liên trên bờ hồ Tây có binh lính dàn hầu vòng quanh; phát gấm trong cung để làm ra trăm, nghìn cái đèn lồng treo quanh bờ hồ
vào dịp Tết Trung thu…Hoàng Lê nhất thống chí mở đầu bằng cảnh Trịnh Sâm mê Đặng Thị Huệ, bỏ con trưởng lập con thứ, gây ra bè đảng tranh giành nhau trong
phủ chúa… Đến chế độ chuyên chế nhà Nguyễn thì mọi thiết chế xã hộI đều rập khuôn triều đại nhà Thanh, Trung Quốc Nhà nước có hẳn một đội quân thường trực rất lớn để đàn áp mọi phong trào chống đối Các ông vua triều Nguyễn không xây chùa nhưng lại xây nhiều lăng tẩm Đặc biệt, thói ăn chơi xa hoa không kém gì các vua chúa các triều đại trước
Tình hình kinh tế và chính trị như thế đã dẫn đến kết quả tất yếu là sự
phẫn nộ của quần chúng và sự bùng nổ của phong trào nông dân khởi nghĩa Việt
sử thông giám cương mục của Quốc sử quán triều Nguyễn có viết : “chính sự trái ngược, thuế khóa nặng nề, lòng ngườI mong mỏI cho chóng loạn lạc” Năm 1737,
Trang 14Nguyễn Dương Hưng khởi nghĩa ở Sơn Tây mở màn cho phong trào nông dân
khởi nghĩa giai đoạn này Tiếp theo là những cuộc khởi nghĩa của Nguyễn Tuyển,
Nguyễn Cừ, Vũ Trác Oánh ở Hải Dương; Hoàng Công Chất, Vũ Đình Dung, Đoàn
Danh Chấn ở Sơn Nam; Lê Duy Mật ở Thanh Hóa, Nghệ An Nhiều cuộc khởi
nghĩa của đồng bào dân tộc thiểu số ở miền núi… Có những cuộc khởi nghĩa lớn
như khởi nghĩa của Nguyễn Hữu Cầu kéo dài trong mười năm (1741 - 1751), hoạt
động trên một địa bàn rộng lớn của đồng bằng Bắc Bộ, uy hiếp cả kinh thành
Thăng Long; cuộc khởi nghĩa của Nguyễn Danh Phương hơn mườI năm (1740
-1751) hoạt động ở Sơn Tây, Thái Nguyên, Tuyên Quang; cuộc khởi nghĩa của
Hoàng Công Chất (1736 - 1769) ….Tất cả khí thế, sức mạnh của cao trào nông
dân khởi nghĩa ấy kết tinh vào cuộc khởi nghĩa vĩ đại của anh em Tây Sơn bùng
nổ năm 1771, đánh dấu vẻ vang bằng những chiến thắng của lãnh tụ áo vải
Nguyễn Huệ, mở đầu cho triều đại Tây Sơn
Thời gian thống trị của triều đại nhà Nguyễn, các phong trào nông dân
khởi nghĩa cũng xảy ra liên tục, mặc dù không có qui mô lớn như thời Lê mạt
Triều đình nhà Nguyễn đã dùng mọi biện pháp để đàn áp, nhưng không vì thế mà
phong trào giảm sút Kể từ khi Gia Long lên ngôi cho đến lúc thực dân Pháp xâm
lược, xã hội chẳng mấy khi yên ổn Phong trào không bó hẹp ở một vài địa
phương mà lan ra toàn quốc Đặc biệt cuộc khởi nghĩa Tây Sơn không những tiêu
diệt tập đoàn phong kiến chúa Nguyễn trong Nam, lật nhào triều đình Lê - Trịnh
ngoài Bắc, mà còn đánh tan tác năm vạn quân xâm lược Xiêm và hai mươi vạn
quân xâm lược Mãn Thanh, bảo vệ độc lập cho dân tộc, đồng thời thực hiện được
sự thống nhất đất nước
Các phong trào nông dân khởi nghĩa nửa cuối thế kỉ XVIII - nửa đầu thế
kỉ XIX không những làm cho giai cấp phong kiến thống trị kinh hồn khiếp vía, mà
còn làm khủng hoảng và sụp đổ ý thức hệ cùng với nền văn hóa phục vụ cho giai
cấp phong kiến thống trị Những cuộc đấu tranh giai cấp gay gắt, quyết liệt đã làm
cho nhà nước phong kiến không còn khả năng tạo ra sự thống nhất trong nội bộ
của nó và giữa nó với quần chúng bị áp bức, mà trái lại quần chúng bị áp bức
ngày càng đối lập sâu sắc với nhà nước phong kiến Văn học phát triển trong điều
kiện như thế, đặc trưng cơ bản có tính lịch sử của nó là sự khám phá ra con người
và khẳng định những giá trị chân chính của con người
Cần hiểu rằng sự phát triển của văn học là một quá trình liên tục, có
trước có sau, có nguyên nhân và kết quả, có kế thừa và phát huy, không tự nhiên
mất đi, mà cũng không tự nhiên chuyển hóa thành… Đối với văn học giai đoạn
nửa cuối thế kỉ XVIII - nửa đầu thế kỉ XIV, khi đề cập đến đặc trưng cơ bản nêu
trên, điều đó không có nghĩa là văn học giai đoạn trước chưa đặt ra vấn đề con
người Vấn đề ở đây là khi nói đến văn học giai đoạn này, thì con người với tất cả
sự phong phú của nó mới trở thành đối tượng chủ yếu, hàng đầu trong sự nhận
thức của văn học Chính điều này đã làm nên sự đổi mới về nhiều mặt, tạo ra một
bước ngoặt lớn cho văn học dân tộc, đó là sự ra đời của một trào lưu nhân đạo
chủ nghĩa, sẽ được đề cập riêng trong phần sau Ở đây, chúng tôi muốn điểm qua
những chuyển biến mới của văn học so với trước, khi có sự tác động của tinh thần
khẳng định con người
Trong văn học giai đoạn này, chúng ta có thể gặp lại những đề tài phổ
biến của văn học giai đoạn trước như đề tài vịnh sử và vịnh thiên nhiên Nhưng
vịnh sử và vịnh thiên nhiên trong giai đoạn văn học này đã khác về nguyên tắc
Lịch sử và thiên nhiên không còn là hình thức ngụ ý của những bài học về đạo
đức Nhà thơ đề cập đến những đề tài ấy thường là để nói lên xúc cảm, đồng thời
qua đó bộc lộ nhận thức của mình về những vấn đề đặt ra trong cuộc sống trước
mắt Nhân vật lịch sử, không chỉ như ở giai đoạn trước thường là những nhân vật
cổ xưa của Trung Quốc, chỉ một ít là của Việt Nam, ở giai đoạn này, bên cạnh
Trang 15những bài thơ cũng viết về những nhân vật như thế, nhà thơ còn có nhiều bài viết
về những nhân vật lịch sử ngay thời vua Lê, chúa Trịnh, nghĩa là thời nhà thơ đang sống Thiên nhiên trong văn học giai đoạn này cũng không có tính chất rập khuôn, công thức như đoạn trước Mỗi nhà thơ đều có một cách khai thác khác nhau Dù chưa có tính cụ thể - lịch sử đậm nét, nhưng mỗi người đều đem đến cho thơ viết về thiên nhiên một cách nhìn, một cách cảm Thiên nhiên còn được nhận thức như là môi trường sống, là người bạn của con người, đem đến cho con người niềm vui và mĩ cảm
XVIII - nửa đầu thế kỉ XIX không phải là lịch sử và thiên nhiên mà là những vấn đề thiết yếu trong cuộc sống trước mắt của con người Đó là chiến tranh phong kiến
cùng những tai họa của nó, sự thối nát của giai cấp phong kiến thống trị, cuộc sống vô cùng khổ cực của nhân dân, thân phận chìm nổi của người phụ nữ, tình
yêu cùng những ràng buộc khắc nghiệt của lễ giáo phong kiến, Có thể thấy lí tưởng thẩm mĩ của văn học giai đoạn này, về cơ bản, có khác trước Nó không
đồng nhất với lí tưởng đạo đức, mà tách ra khỏi lí tưởng đạo đức Quan niệm về
cái đẹp không phải ở cái đạo đức được gọi tên theo một cách khác, mà chính là cuộc sống
Cùng với sự xuất hiện những đề tài mới, lí tưởng thẩm mĩ mới, văn học giai đoạn này còn gắn liền với sự ra đời của những nhân vật với tư cách là những
cá thể xã hội Trong các giai đoạn trước, văn học nhìn chung, chưa có nhận vật
Các nhà thơ trong giai đoạn từ thế kỉ thứ X đến đầu thế kỉ XV trong khi khẳng định dân tộc, đồng thời cũng khẳng định vai trò của con người:
Hoành sóc giang san cáp kỉ thu, Tam quân tì hổ khí thôn ngưu
(Thuật hoài - Phạm Ngũ Lão)
(Múa giáo non sông trảI mấy thâu,
Ba quân khí mạnh nuốt trôi trâu)
“Yết can vi kỳ, manh lệ chi đồ tứ tập; đầu giao hưởng sĩ, phụ tử chi binh nhất tâm”…
(Bình Ngô đại cáo - Nguyễn Trãi)
(Nhân dân bốn cõi một nhà, dựng cần trúc ngọn cờ phấp phới; Tướng sĩ một lòng phụ tử, hòa nước sông chén rượu ngọt ngào) Sức mạnh của con người ở đây được nhận thức như là sức mạnh của tập thể dân tộc, chứ chưa phải là sức mạnh của cá nhân Văn học giai đoạn nửa cuối thế kỉ XV - nửa đầu thế kỉ XVIII khẳng định nhà nước phong kiến, đạo đức phong kiến, cũng không xây dựng được nhân vật, bởi Nho giáo thừa nhận cái chung mà không thừa nhận cái riêng, đề cao nghĩa vụ, bổn phận mà chưa quan tâm đến tình cảm, tâm hồn của con người, thấy đạo đức mà không thấy cuộc sống…Trái lại, văn học giai đoạn nửa cuối thế kỉ XVIII - nửa đầu thế kỉ XIX đã xây dựng được rất nhiều nhân vật Người ta không chỉ biết đến tài năng nghệ thuật của những tác giả như Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương, Đặng Trần Côn, Đoàn Thị Điểm, Nguyễn Gia Thiều, Phạm Thái, Nguyễn Công Trứ, Cao Bá Quát,…mà còn không thể quên
được những nhân vật chính diện cũng như phản diện được xây dựng như Thúy Kiều, Kim Trọng, Phạm Kim, Trương Quỳnh Thư, Lương Sinh, Dao Tiên, những
Tú Bà, Mã Giám Sinh, Sở Khanh, Hoạn Thư, Thúc Sinh, viên Đô đốc… cùng rất
nhiều nhân vật xuất hiện dưới hình thức cái tôi trữ tình của tác giả Đó cũng chính
là chỗ khác với tiếng nói tâm sự của các nhà thơ ở giai đoạn trước trong những bài tự thuật, cảm hoài, tức sự, ngôn hoài, ngôn chí, mạn thành, ngẫu hứng Ở
Trang 16đây, nhà thơ nói lên tâm sự theo một cái nhìn chung, cho nên có tâm sự mà
không có tâm trạng, không có cái tôi như một nhân vật trữ tình Trong văn học giai
đoạn này, ở một số tác giả tiêu biểu, cái tôi trữ tình đã xuất hiện Không ai có thể
quên được cái tôi tràn đầy sức sống, lạc quan, tinh nghịch, nhưng cũng thật thổn
thức của Hồ Xuân Hương; cái tôi ngông nghênh, kiêu bạc, có tính chất hư vô chủ
nghĩa của Phạm Thái; cái tôi trầm ngâm, sâu lắng, đầy tâm trạng của Nguyễn Du;
cái tôi bay bổng, ngang tàng, bất đắc chí của Cao Bá Quát…
Tất cả những nội dung trên đây thực chất cũng là những biểu hiện của một
trào lưu nhân đạo chủ nghĩa và là đặc điểm cơ bản của văn học giai đoạn này
được trình bày qua sự so sánh với các giai đoạn văn học trước đó Dưới đây là
phần trình bày trực tiếp về trào lưu nhân đạo chủ nghĩa đó
3 VĂN HỌC VIỆT NAM GIAI ĐOẠN NỬA CUỐI THẾ KỈ XVIII - NỬA ĐẦU
THẾ KỈ XIX VÀ SỰ RA ĐỜI CỦA TRÀO LƯU NHÂN ĐẠO CHỦ NGHĨA:
Trong lịch sử phát triển của văn học, việc phát hiện ra con người, đưa con
người lên hàng đầu trong nhận thức của nhà văn là một bước ngoặc lớn lao, đem
đến sự ra đời của trào lưu nhân đạo chủ nghĩa
Ở phương Tây, trào lưu có tính chất nhân đạo chủ nghĩa (còn gọi là nhân
văn chủ nghĩa) trong văn học, nghệ thuật và nhiều ngành văn hóa, khoa học khác
ra đời cùng với sự trưởng thành của giai cấp tư sản và ý thức hệ tư sản trong
cuộc đấu tranh chống lại ý thức hệ phong kiến đang thống trị
Dù vậy, chúng ta không thể đem “công thức phương Tây” để nhìn nhận
thực tiễn văn học Việt Nam Ra đời trong hoàn cảnh xã hội phong kiến khủng
hoảng trầm trọng, ý thức hệ phong kiến suy tàn, nhưng ý thức hệ tư sản chưa nẩy
nở, trong khi đó tư tưởng thị dân yếu ớt, còn nông dân lại không có được một ý
thức hệ độc lập, thực tiễn phát triển của văn học Việt Nam với sự ra đời một trào
lưu nhân đạo chủ nghĩa phải được nhìn nhận trên một quan điểm khác Không
phải xem trong xã hội đã xuất hiện ý thức hệ tư sản chưa rồi mới đề cập đến trào
lưu nhân đạo chủ nghĩa trong văn học Ngược lại, phải xuất phát từ thực tiễn văn
học trước, từ sự ra đời của một trào lưu nhân đạo chủ nghĩa trong văn học, rồi
mới tìm hiểu, nghiên cứu xem cơ sở ý thức hệ của nó là gì Thực tiễn văn học
phương Tây đã cho thấy sự ra đời của ý thức hệ tư sản trong giai đoạn đấu tranh
chống phong kiến đã kéo theo nó một trào lưu nhân đạo chủ nghĩa trong nhiều
lĩnh vực khác nhau Nhưng từ thực tiễn đó mà khái quát lên thành một cái gì như
nguyên lí là chủ nghĩa nhân đạo luôn gắn liền với ý thức hệ tư sản, thì sự khái
quát ấy sẽ phiến diện, không chính xác, vì lẽ đã xem ý thức hệ tư sản gắn liền với
sự độc quyền về chủ nghĩa nhân đạo
V.I.Lénine trong bài Những nhận xét phê phán về dân tộc, đã viết: ”Trong
mỗi nền văn hóa dân tộc đều có những yếu tố văn hóa dân chủ và xã hội chủ
nghĩa – dù rằng những yếu tố ấy ít phát triển đến đâu đi chăng nữa, - bởi vì trong
mỗi dân tộc đều có quần chúng lao động và bị bóc lột mà những điều kiện sinh
hoạt tất nhiên phải làm phát sinh ra một hệ tư tưởng dân chủ và xã hội chủ
thực chất chính là nội dung cơ bản của chủ nghĩa nhân đạo Và như vậy, chủ
nghĩa nhân đạo ra đời không phải gắn liền với ý thức hệ tư sản, mà là với “quần
chúng lao động và bị bóc lột mà những điều kiện sinh hoạt tất nhiên phải làm phát
sinh ra một hệ tư tưởng dân chủ và xã hội chủ nghĩa” Ở đây, Lénine chỉ mới nói
đến “yếu tố” chứ chưa phải trào lưu, từ yếu tố đến trào lưu là một quá trình thay
đổi về chất lượng, chứ không phải là số lượng Từ ý kiến của Lénine chúng ta có
thể suy rộng ra, sự phát sinh của trào lưu nhân đạo chủ nghĩa trước hết gắn liền
với cuộc đấu tranh của quần chúng lao động bị áp bức, chứ không phải với ý thức
hệ tư sản
Trang 17Khẳng định chủ nghĩa nhân đạo trong văn học Việt Nam giai đoạn nửa cuối thế kỉ XVIII - nửa đầu thế kỉ XIX xuất hiện không phải như một yếu tố hay tính
chất mà như một trào lưu là căn cứ vào thành tựu sáng tác, chủ yếu là những sáng tác của bộ phận văn học chữ Nôm Có thể nói hầu như tất cả những tác
phẩm tiêu biểu của văn học chữ Nôm giai đoạn này đều tập trung vào vấn đề con người, nhận thức con người, đề cao con người, đồng thời đấu tranh chống lại những thế lực đen tối và phản động của xã hội phong kiến để khẳng định những giá trị chân chính của con người
3.1 Phê phán những thế lực phong kiến chà đạp con người:
Xét về một phương diện, có thể nói văn học Việt Nam giai đoạn nửa cuối thế kỉ XVIII - nửa đầu thế kỉ XIX là văn học phê phán, tố cáo xã hội
Trước hết, trong những tác phẩm viết bằng chữ Hán theo thể kí, bộ mặt của xã hội phong kiến, của giai cấp thống trị được dựng lên khá đậm nét Hơn bất
kì tác phẩm nào khác, Hoàng Lê nhất thống chí là bức tranh sinh động về sự thối
nát của triều đình phong kiến lúc bấy giờ Dưới ngòi bút phê phán hiện thực sắc bén, của tác giả Ngô gia văn phái đã vẽ nên thật sinh động hình ảnh vua Lê chỉ ngồi làm vì; quyền hành thâu tóm vào tay chúa Trịnh hôn mê, mù quáng, gây ra cảnh bè đảng trong phủ chúa; quan lại thì rặt một phường dung tục, bất tài, bất lương, chỉ luôn rình rập cơ hội để tranh giành quyền lực, danh lợi, không chút nhân phẩm, đạo nghĩa Cuối cùng, cái triều đình mục nát ấy đã bị quân đội Tây Sơn tiêu diệt cùng với hai mươi vạn quân xâm lược Mãn Thanh
Không có cái quy mô rộng lớn như Hoàng Lê nhất thống chí, nhưng Thượng kinh kí sự của Lê Hữu Trác (1724 – 1791) cũng đã góp phần tố cáo gay
gắt những điều xấu xa của cái xã hội ấy Trong tác phẩm, tác giả đã ghi lại tâm trạng cực kì bất mãn của mình đối với xã hội đương thời, cảm thấy mình “chẳng khác gì một người tù’’ Người đọc như được chứng kiến tận mắt hình ảnh phủ chúa Trịnh hiện lên kín đáo mà rõ nét với những cung điện kiêu sa, cầu kì, với
những con người từ chúa Trịnh Sâm (1767 – 1782), ông quan đầu triều Hoàng Đình Bảo, đến đám quan lại dưới trướng, tất cả đều có cái gì như vô nghĩa, tật
bệnh Chẳng thấy một người nào làm việc, chỉ thấy họ đi lại, nói năng kiểu cách, biết qua loa chút ít về thuốc không đủ để chữa bệnh, nhưng không tin người chữa bệnh giỏi, thích xướng họa thơ văn nhưng chẳng có bài thơ bài văn nào viết cho
ra hồn Phủ chúa bao trùm một không khí ảm đạm, buồn tẻ Cuối tác phẩm, chúa
cha chết vì ăn chơi trác táng đến nỗi “tinh huyết hao kiệt, khô khan, mặt không nhuận sắc, bụng lớn gân xanh, tay chân khẳng khiu’’ ; chúa con cũng chết vì mắc
phải một trong tứ chứng nan y Không khí phủ chúa vẫn cứ âm u, bằng lặng Người đọc có cảm giác nặng nề, khó chịu, đến nỗi muốn thét lên cho nó vỡ tan đi
Tác phẩm kết thúc sau khi báo tin “quan Chính đường ( tức quận Huy - người viết)
bị hại, toàn gia bị giết ’’ cùng với kết luận của tác giả như muốn đi đến tổng kết lịch sử: “Giàu sang khác chi mây nổi, ca nhạc lâu đài một sớm thành hoang phế vậy”,
và mừng thầm: “ Tuy ở chốn danh lợi mà chẳng để danh lợi mê hoặc, bẽ bàng mà đến, nghêng ngang mà đi, lại gặp non xưa, tựa vào đá, ngủ trước hoa, mơ màng trong mộng, nghe có lời văng vẳng bỗng sực tỉnh, thầm nghĩ: “ Ta chẳng bị người chê cười, chẳng qua lòng không tham mà thôi ’’
Trong Vũ trung tuỳ bút, Tang thương ngẫu lục, Phạm Đình Hổ và Nguyễn
Án (1770 – 1815 ) cũng đã ghi lại một số mẫu chuyện về cảnh sinh hoạt ăn chơi trong phủ chúa Phạm Đình Hổ ( 1768 – 1840 ) kể lại việc mỗi tháng ba bốn lần
Trịnh Sâm ngự chơi cực kì xa hoa ở cung Thụy Liên trên bờ Hồ Tây Những lần chúa ngự chơi như thế, “ bao nhiêu những loài trân cầm, dị thú, cổ mộc, quái thạch và chậu hoa cây cảnh ở chốn dân gian, chúa đều hết sức thu lấy, không thiếu một thứ gì Có khi lấy cả cây đa to, cành lá rườm rà, từ bên bắc chở qua
Trang 18sông đem về” Nguyễn Án thì kể những khoản xa xỉ của Trịnh Sâm vào các dịp tết
Trung Thu hằng năm, “từ trước mấy tháng, chúa phát gấm trong cung ra để làm
hàng trăm, hàng nghìn cái đèn lồng, cái nào cũng tinh xảo tuyệt vời, mỗi cái giá
mấy chục lạng vàng.’’ Hoàng Lê nhất thống chí còn ghi lại hành động vua Lê cam
tâm rước quân xâm lược nhà Thanh về giày xéo đất nước Chúa Trịnh dung túng
cho những tên lưu manh như Đặng Mậu Lân, em Đặng Thị Huệ, một con quái vật
hiện hình người tha hồ tác yêu tác quái Những “ưu binh’’ được kén chọn từ đất
”thang mộc’’, những quân lính “nanh vuốt’’ của triều đình cũng đã biến thành một
lũ “kiêu binh” ngang ngược, quay lại uy hiếp triều đình, quấy nhiễu dân chúng, tuỳ
ý phá nhà giết người, thả sức hoành hành, là hậu quả của chính sách phân biệt
đối xử của chúa Trịnh …Xã hội nơi nào cũng nghe những chuyện cướp bóc, lừa
đảo, hãm hiếp, thác oan
Trong những tác phẩm nêu trên, tuy nhà văn chưa miêu tả nhiều về đời
sống quần chúng, nhưng qua các chi tiết điểm xuyết cho các sự kiện lịch sử,
người đọc ít nhiều cũng thấy được tình hình đời sống của nhân dân lúc bấy giờ
Trong Hoàng Lê nhất thống chí, cuộc sống của quần chúng ở kinh thành cũng
như ở các địa phương thường xuyên bị náo động vì những cảnh bắt bớ, chém
giết của những thế lực phong kiến và của đội quân xâm lược nước ngoài Tang
thương ngẫu lục ghi lại hình ảnh những năm giữa thế kỉ XVIII, chiến tranh xảy ra
liên miên, nhân dân không cày cấy được, ruộng đất thành rừng rậm, những người
dân sống sót ở đây phải bóc vỏ cây, bắt chuột ngoài đồng mà ăn, có hàng cơm
nấu canh thịt người để bán…
Ở thơ chữ Hán, việc miêu tả đời sống nhân dân có phần đậm nét hơn Các
tác giả như Phạm Nguyễn Du, Ngô Thế Lân, Bùi Huy Bích, Nguyễn Thiếp, Nguyễn
Du, Lý Văn Phức, Doãn Uẩn, Nguyễn Văn Siêu…đã có nhiều bài thơ ghi lại sinh
động cuộc sống đói khổ của quần chúng Trong Nam hành kí đắc tập, viết khi làm
quan ở Thuận Hóa, Phạm Nguyễn Du (1740 – 1786) đã có nhiều bài thơ ghi lại
cuộc sống đói khổ, loạn lạc của nhân dân Đàng Trong mang giá trị tố cáo hiện
thực sâu sắc như Điếu ngã tử (điếu những người chết đói), Cảm dân cư tán lạc
(Cảm xúc thấy dân cư bị tán lạc), Điếu hành khất (Điếu những người đi ăn xin),
Văn cùng dân mẫu tử tương thực hữu cảm (Cảm xúc khi nghe nói dân đói mẹ con
ăn thịt lẫn nhau), Mẫn học giả lưu tán (Thương những học giả lưu tán), Kiến bị
hình (Thấy người bị hình phạt) …Bên cạnh đó, cảnh ăn chơi của các chúa Nguyễn
cũng được khắc hoạ khá rõ nét và được xem là nguyên nhân của những nỗi thống
khổ ấy Trong bài Nguyễn thị di cung phú, có đoạn ông viết :
Kim bích huỳnh hoàng hề, nhĩ dân tắc không
Ngân thù xán lạn hề, nhĩ dân tắc cùng
Dân không dân cùng hề, nhĩ gia nhĩ ốc,
Dĩ vi sướng nhĩ tâm hề, khoái nhĩ mục…
(Vách vàng huy hoàng chừ, dân mày tay không
Bạc nén rực rỡ chừ, dân mày khốn cùng
Dân không dân cùng chừ, mày yên trong phủ, Vừa lòng mày chừ, khoái con mắt mày…) Bùi Huy Bích (1744 – 1818) cũng có nhiều bài thơ phản ánh nỗi khổ của
nhân dân vùng Nghệ Tĩnh, Thừa Thiên và Quảng Bình khá hiện thực Thơ ông có
cảm xúc hơn thơ Phạm Nguyễn Du Tuy nhiên, nhà thơ cắt nghĩa nỗi khổ ấy bằng
thiên tai, đại hạn, mất mùa mà chưa thấy được nguyên nhân xã hội của những
Trang 19hiện tượng ấy Trong Nghệ An thi tập, sự quan tâm của ông đến đời sống nhân
dân nhiều lúc xuất phát từ trách nhiệm của ông quan đối với dân, cũng có nhiều lúc xuất phát từ sự thông cảm, từ tình thương vượt ra ngoài ý thức trách nhiệm
Những bài thơ như Viễn phương nhất chuyết hoạn (Một ông quan vụng về ở phương xa), Hỷ vũ (Mừng có mưa), Phụng mệnh chẩn cấp cơ dân (Vâng mệnh đi
phát chần cho dân đói)… người đọc cảm thấy tấm lòng của nhà thơ đối với những người lao khổ
Bỉ thương hà nhẫn giáng cơ hoang (Phụng mệnh chẩn cấp cho dân)
(Trời xanh kia nỡ lòng nào sinh ra nạn đói) Các nhà thơ khác như Nguyễn Thiếp, Phạm Quý Thích, Lí Văn Phức, Doãn Uẩn, Nguyễn Văn Siêu , Cao Bá Quát…đều có những tác phẩm nói về cuộc sống của quần chúng, xuất phát từ sự quan tâm sâu sắc đối với con người Nguyễn Thiếp (1723 – 1804) viết nhiều về cuộc sống của nhân dân Hoan Châu (Nghệ Tĩnh) Phạm Quí Thích, Doãn Uẩn, Nguyễn Văn Siêu, Lí Văn Phức, lại viết nhiều về cuộc sống của nhân dân miền Bắc Ở đâu cũng gặp cảnh đói khổ do chiến tranh tàn phá, do hạn hán mất mùa, do bọn cường hào áp bức, đè nén, sống trên mồ hôi nước mắt của nông dân…
Ngoài ra, vai trò của đồng tiền trong xã hội cũng được đề cập đến với một
thái độ tố cáo sâu sắc Lí Văn Phức trong bài Tiền đã có viết:
Thân tài tất cánh nhất thù khinh,
Vô hĩnh năng chu vạn lý hành
Hà oán hà cừu thường tỵ ngã, Phi thân phi cố cộng xưng huynh
Dương Châu tiên cảnh năng di bộ,
Sứ tướng nhân gian vị giác vinh, Khước tiếu văn chương đồ lão đại,
(Thân hình chẳng qua chỉ nhẹ bằng một ly, Không có chân mà có thể đi khắp muôn dặm
Oán gì ta, thù gì ta mà cứ tránh ta?
Không phải thân thuộc, không phải cố cựu mà cũng gọi bằng anh, Dương Châu là cõi tiên cũng có thể bước đến được,
Chức sứ tướng trên đời cũng chẳng thấy vinh bằng
Đáng cười thay văn chương chỉ già cỗi suông, Suy đi tính lại giá trị đều thua ngươi cả.) Trong văn học chữ Nôm, thơ Nguyễn Du, Nguyễn Công Trứ từng phê phán gay gắt đồng tiền Nhưng trong thơ chữ Hán có thể nói không có bài thơ nào phê phán đồng tiền một cách sâu sắc, có giá trị khái quát cao như bài thơ trên của
Lí Văn Phức
Trang 20Tiếp tục đứng trên lập trường nhân sinh, chứ không phải trên lập trường
đạo đức, để tố cáo tất cả những gì là phản nhân sinh, phản tiến hóa, đề tài văn
học được mở rộng và nội dung tố cáo cũng sâu sắc hơn Nhiều sáng tác của các
tác giả như Ngô Thế Lân, Nguyễn Du, Cao Bá Quát đã cho chúng ta thấy rõ điều
đó
Ngô Thế Lân là một nhà thơ có hoài bão lớn, ý chí lớn Ông ý thức rất rõ
về giá trị của mình, nhưng cuối cùng đành bất lực, không làm được việc gì cho xã
hội Qua Phong trúc tập của ông, người đọc không chỉ thấy những hiện tượng xấu
xa, mà còn thấy được bản chất xấu xa của xã hội phong kiến trong giai đoạn suy
tàn Nhà thơ thường hay nói đến ruồi, muỗi, hổ lang, kình ngạc… chung qui cũng
là nói đến giống “thích ăn thịt người” Có lẽ do nhu cầu khái quát cao nên thơ Ngô
Thế Lân có nhiều bài viết dưới hình thức ngụ ngôn, ám dụ Trong bài Trư điểu đề
(Tiếng chim lợn kêu), mượn tiếng kêu hãi hùng của con chim lợn, mà người ta
thường cho là báo điềm xấu, nhà thơ đã dựng lên cái không khí ngột ngạt của một
xã hội tàn bạo:
Ô hô, kỳ tai, trư điểu đề!
Ngũ canh minh phệ phong thê thê
Thái Sơn khuynh đồi bạch nhật ám, Bình địa ba khởi hắc văn mê
Hồng nhạn bi minh tán lâm tẩu, Sài lang hoành hành đương lộ khê
Triều dã thốn thanh bất cảm thuyết
Ô hô, kỳ tai, trư điểu đề!…
(Than ôi, kỳ thay tiếng chim lợn kêu!
Năm canh kêu sủa, gió vu vu buồn
Thái Sơn xiêu đổ, ban ngày tối mò, Đất bằng sóng cuộn, mây đen tờ mờ
Đàn hồng nhạn kêu thương bay tản trong bụi rừng,
Lũ sài lang nghênh ngang trên các nẻo đường lối hẻm, Trong triều ngoài nội không ai dám nói,
Than ôi, kỳ thay tiếng chim lợn kêu!) Nhận thức về xã hội và con người trong thơ Nguyễn Du, Cao Bá Quát
cũng nằm trong chiều hướng chung với thơ của Ngô Thế Lân Các nhà thơ đã
thấy được nhiều vấn đề cơ bản của xã hội và không có những ảo tưởng đối với
giai cấp thống trị đương thời Bài Phản chiêu hồn của Nguyễn Du cũng có cảm
xúc về thời đại như bài Trư điểu đề vừa dẫn của Ngô Thế Lân Trong những sáng
tác bằng chữ Hán của Nguyễn Du, người ta thường thấy những bức tranh đối lập
giữa một bên là cảnh sống đói khổ của nhân dân, với một bên là cuộc sống xa
hoa của giai cấp thống trị phong kiến Ở Cao Bá Quát, khi viết về đời sống của
những con người cùng khổ trong xã hội, thơ ông không chỉ phơi bày những chi tiết
sinh động của hiện thực, mà còn nói lên được bản chất của đời sống Bằng cách
này hay cách khác, nhà thơ luôn bày tỏ sự căm ghét đối với giai cấp thống trị, kẻ
đã gây ra bao thảm cảnh, ngược lại, ông công khai nói lên lòng thương xót, mến
thương đặc biệt của mình trước tình cảnh khổ đau của người dân, trước những
Trang 21điều bất công, ngang trái trong xã hội, và ông muốn hành động để thay đổi nó Bài
Vấn hà mô (Hỏi ễnh ương), có cái gì đó như là lời tự nói với mình về một cuộc
khởi nghĩa đã được chờ đợi từ lâu:
Hà mô vi dân hồ?
Nhất thanh khởi thâm mãng, Nhĩ minh hà trì trì;
Tạc dạ vọng kỳ vũ
(Ễnh ương có biết vì dân không?
Kêu vang nơi bụi rậm Ễnh ương, sao mi kêu quá chậm, Trông mưa, đêm qua bao nhiêu người hồi hộp chờ mong.) Trong bộ phận văn học chữ Nôm, những bài thơ tố cáo hiện thực xã hội không nhiều và cũng không cụ thể bằng bộ phận văn học chữ Hán, nhưng lại có
bài rất có giá trị về phương diện này như Văn chiêu hồn (còn gọi là Văn tế thập loại chúng sinh) của Nguyễn Du Trước cái chết, nhà thơ thấy tất cả mọi người
đều đáng thương như nhau, không cần phân biệt, khác với lúc sống ông thấy rất
rõ những kẻ thống trị và tầng lớp nhân dân lao động bị thống trị Rất nhiều cái chết được miêu tả rất thảm thương:
Kìa những kẻ chìm sông lạc suối, Cũng có người sẩy cối sa cây,
Có người leo giếng đứt dây, Người trôi nước lũ, kẻ lây lửa thành, Người thì mắc sơn tinh thủy quái, Người thì sa nanh khái, ngà voi…
Ngoài ra, cũng còn có một số bài văn có tính chất kêu gọi, hiệu triệu các phong trào nông dân khởi nghĩa, và qua đó chúng ta có thể gặp được ít nhiều hình ảnh
chân thực của đời sống quần chúng như Hịch Tây Sơn, Hịch Lê Duy Mật, Tố uất khúc (khuyết danh), Phản thúc ước (Nguyễn Hàm Ninh)…
3.2 Giải phóng tình cảm con người, vấn đề trung tâm của trào lưu nhân đạo chủ nghĩa trong văn học giai đoạn này và là nội dung chủ yếu của văn học chữ Nôm:
Trong xã hội phong kiến ở những giai đoạn trước, khi nhà nước phong kiến đang lên, chừng mực nào đó giai cấp thống trị còn quan tâm đến quyền lợi
của quần chúng Nhưng khi nhà nước phong kiến suy tàn, khi “đời suy thói tệ”,
“thế đạo ngày một sút kém”, “danh phận lung tung”, “không ai còn biết đâu mà
một chế độ chuyên chế rất tàn bạo để thống trị nhân dân không chỉ về phương diện vật chất, mà cả phương diện tư tưởng, tình cảm, nhằm đi đến thủ tiêu những
gì là hồn nhiên, tốt đẹp nhất của con người Chúa Trịnh từng nhiều lần ra lệnh đốt sách và cấm in sách chữ Nôm
Kỳ như Thích, Đạo phi kinh, Lời tà mối lạ, tập tành chuyện ngoa
Cùng là truyện cũ nôm na,
Trang 22Hết thi tập ấy lại ca khúc này, Tiếng dâm dễ khiến người say, Chớ cho in bán hại thay thói thuần…
Sống trong lòng một xã hội như thế, bên cạnh sự vùng dậy đấu tranh để
giành cơm áo, quần chúng luôn có nhu cầu giải phóng về mặt tinh thần, tình cảm
Đó không chỉ là nhu cầu của quần chúng bị áp bức, mà còn là nhu cầu chung có
tính chất toàn xã hội, trong đó bao gồm cả nhu cầu của một bộ phận đáng kể tầng
lớp trí thức trong hàng ngũ giai cấp thống trị Ở những con người này, sự suy tàn
của chế độ phong kiến chưa phải ảnh hưởng lớn đến đời sống kinh tế của họ, mà
bức xúc hơn, là ảnh hưởng đến đời sống tinh thần, tình cảm, nhất là khi hàng
ngày tiếp xúc với đời sống thị dân, với nền kinh tế hàng hóa, thì nhu cầu giải
phóng tình cảm ở họ càng trở nên bức thiết, một khi luân lí lễ giáo phong kiến trở
thành sự trói buộc
Ở xã hội phong kiến, đối với quan hệ nam nữ, pháp luật và lễ giáo hoàn
toàn không thừa nhận quyền tự do yêu đương, quyền tự do kết hôn Hôn nhân
con cái thuộc quyền cha mẹ Vì thế, trong đấu tranh giải phóng tình cảm của con
người, vấn đề hàng đầu là đấu tranh cho quyền tự do yêu đương Tình yêu trở
thành một đề tài hấp dẫn của văn học giai đoạn nửa cuối thế kỉ XVIII - nửa đầu thế
kỉ XIX và là đề tài nhiều tác phẩm truyện Nôm nổi tiếng Nhiều khúc ngâm cũng
qua nội dung tình yêu mà tố cáo xã hội Có tác giả như Phạm Thái, sự nghiệp
sáng tác hầu như xoay quanh chủ đề tình yêu, gằn chặt với cuộc sống tình cảm
của bản thân nhà thơ Ở Hồ Xuân Hương, phần quan trọng trong những sáng tác
của bà là viết về tình yêu không toại nguyện Phạm Nguyễn Du viết Đoạn trường
lục, Ngô thì Sĩ viết Khuê ai lục đều là những tập thơ khóc vợ, đề cập đến tình cảm
riêng tư vợ chồng một cách tỉ mỉ Nhìn chung, thơ viết về đề tài tình yêu trong giai
đoạn này thường thể hiện ước mơ của con người về một tình yêu tự do, muốn
thoát khỏi ràng buộc của luân lý, lễ giáo phong kiến Tất nhiên, chưa thể đòi hỏi
như trào lưu văn học lãng mạn 1932 – 1945 sau này khi các nhà văn Tự lực văn
đoàn đặt vấn đề đấu tranh trực diện với lễ giáo phong kiến để xây dựng tình yêu
tự do, nhiều tác giả văn học giai đoạn này chỉ muốn bằng con đường khẳng định
tình yêu tự do để phủ nhận lễ giáo phong kiến Trong các truyện Nôm bác học, đó
là tình yêu của Thúy Kiều và Kim Trọng, của Phạm Kim và Trương Quỳnh Thư,
của Lương Phương Châu và Dương Dao Tiên, của Phan Tất Chánh và Trần Kiều
Liên…Ở những nam nữ yêu nhau này, tình yêu của họ thật hồn nhiên, trong sáng,
thật đẹp đẽ biết bao!
Phản ánh nhu cầu giải phóng đời sống tình cảm của quần chúng bị áp bức,
chủ đề tình yêu tự do trong những truyện Nôm bình dân được đặt ra thật táo bạo
Nếu trong thực tế xã hội phong kiến người phụ nữ thường là nạn nhân của chế độ
hôn nhân mua bán, thì ở đây họ lại là những người chủ động quyết định tình yêu,
mà những thế lực đại diện cho lễ giáo phong kiến phải chấp nhận Và trong
trường hợp những thế lực phong kiến ra sức ngăn cản, họ quyết tâm đấu tranh
đến cùng để bảo vệ tình yêu và thực hiện cho kì được nguyện vọng của họ
Thái độ của tác giả đối với tình yêu tự do là khẳng định Họ say sưa theo
dõi và dành những trang viết vào loại hay nhất, đẹp nhất của văn chương để miêu
tả một cách đầy hứng thú quá trình đi đến tình yêu ở các nhân vật mình xây dựng
Nguyễn Du đã dành một phần tám Truyện Kiều để viết về mối tình tuyệt đẹp Kim
Trọng – Thúy Kiều nảy nở trong hai tháng Phạm Thái và Trương Quỳnh Như đã
làm mười hai bài thơ tình để diễn tả nỗi nhớ người yêu trong mười hai giờ của
một ngày Trong Hoa tiên, Nguyễn Huy Tự đã diễn tả một mối tình thi vị trong
khung cảnh thiên nhiên đầy ánh trăng mơ mộng và huyền ảo Mối tình của Phan
Trang 23Sinh và Trần Kiều Liên trong truyện Phan Trần hết sức lãng mạn, được nhà thơ
thể hiện trên tinh thần dân chủ có tính chất chống phong kiến về thực chất
Chế độ hôn nhân trong xã hội phong kiến không lấy tình yêu làm cơ sở,
mà xây dựng trên tiền tài và địa vị xã hội, biểu hiện bằng quan niệm “môn đăng
hộ đối” Một người bình dân không thể lấy một người thuộc tầng lớp qúi tộc, cũng như một người không có vai vế trong xã hội không thể lấy con gái một ông quan
Trường hợp Thúc Sinh lấy con gái quan Thượng thư bộ Lại trong Truyện Kiều
không phải là một hiện tượng phổ biến và Nguyễn Du cũng đã cho thấy được cái thế chênh lệch của quan hệ hôn nhân ấy Thế nhưng, trong rất nhiều truyện Nôm bình dân, các nhà thơ đã phủ nhận quan điểm hôn nhân môn đăng hộ đối phong kiến ấy và xây dựng nên những mối tình rất đẹp của những người có địa vị giai cấp hết sức chênh lệch nhau Hầu hết các cô gái trong truyện Nôm bình dân thường là những người thuộc giai cấp qúi tộc Họ được giới thiệu là con vua, con quan tướng quốc, nhưng họ đã yêu và lấy những anh hàn sĩ lỡ thời, thậm chí đi
ăn xin để có tiền đi học Và để tránh một sự đối lập quá đáng mà xã hội không thể chấp nhận được, hoặc do quan điểm hạn chế của tác giả, những anh hàn sĩ cũng được khoát cho một nguồn gốc xuất thân “cao qúi” hay tương lai rồi sẽ đỗ đạt, làm quan to…Nhưng quan trọng hơn cả là tình yêu của họ bền chặt qua thử thách và
họ có một cuộc sống rất hạnh phúc
Trong các truyện Nôm bác học, các tác giả không xây dựng kiểu tình yêu như vậy Nhìn chung, các nhân vật trong những truyện Nôm bác học đều thuộc tầng lớp phong kiến và có thể đều “môn đăng hộ đối” Nhưng đó không phải là điều các nhà thơ muốn nhấn mạnh Mối quan tâm của các tác giả truyện Nôm bác học chính là cơ sở tình cảm trong quan hệ yêu đương của các nhân vật Nhiều truyện đề cao tình yêu của những cô gái đẹp với những chàng trai có tài, nghe qua thì đó là các chuyện yêu đương của “tài tử - giai nhân” theo quan niệm phong kiến, nhưng kì thực đó là những mối tình được xây dựng trên cơ sở tình cảm, về thực chất nó đối lập với chế độ hôn nhân phong kiến
Tinh thần dân chủ trong quan hệ tình yêu và hôn nhân còn thể hiện ở việc
đề cao vai trò của người bình dân Trong Hoa tiên, tình yêu của Lương Sinh với Dao Tiên như một chất men thấm dần vào da thịt, để cô gái quí tộc này chiến
thắng những thành kiến qúi tộc mà nói lên tiếng nói chân thật của lòng mình Quá
trình đó không thể thiếu vai trò của hai nhân vật nữ tì là Vân Hương và Bích Nguyệt Họ là những mối lái, những “ông tơ bà nguyệt” dẫn dắt cho cặp tình nhân đến với nhau Hình ảnh đêm thề nguyền của Lương Sinh và Dao Tiên có Vân Hương và Bích Nguyệt chứng giám đã nói lên đầy đủ vai trò của họ trong câu chuyện tình nầy Ở Sơ kính tân trang, vai trò của Hồng Nương và Yến Đồng cũng
giống như vậy Việc đề cao vai trò của người bình dân không phải chỉ có ở những truyện Nôm viết đề tài tình yêu, mà còn ở một số tác phẩm truyện Nôm khác như
câu chuyện về trung hiếu tiết nghĩa Nhị độ mai chẳng hạn Điều muốn nói ở đây
chính là vai trò của con người bình dân trong việc thúc đẩy cho chủ đề tình yêu tự
về thiên nhiên Với Truyện Kiều, tình yêu không phải chỉ đem lại cho con ngườI vẻ đẹp của cuộc sống mà còn đặt vấn đề chống định mệnh Nguyễn Du qua Truyện Kiều đã đạt đến đỉnh cao trong vấn đề tình yêu làm nhân đạo hóa con người
Trang 24Đề tài tình yêu trong văn học giai đoạn này còn cho chúng ta thấy con
người cá thể bắt đầu được khẳng định Nói cách khác, cái rung động của con
người trước tình yêu đã được các nhà thơ thể hiện có tính chất cá thể hóa rõ nét
Trong Sơ kính tân trang, đó là cái xao xuyến, choán ngợp của con người trước
mối tình đầu; trong Truyện Kiều là nỗi nhớ thương, ngậm ngùi da diết về một tình
yêu tan vỡ; trong Hoa tiên là sự trách móc về một tình yêu lỗi hẹn; trong thơ Hồ
Xuân Hương là sự chua chát phẫn nộ về một tình yêu dang dở…Nhưng có lẽ
không tác phẩm nào nói đến một tình yêu xót xa, đau đớn hơn tình yêu của Phạm
Thái trước cái chết của Trương Quỳnh Như (Văn tế Trương Quỳnh Như); không
lời đằm thắm nào mà mỉa mai và lời mỉa mai nào mà đằm thắm hơn lời MờI trầu
của Hồ Xuân Hương Ở các sáng tác chữ Hán của Phạm Nguyễn Du và Ngô Thì
Sĩ, nhìn chung, cá tính chưa được thể hiện rõ nét, nhưng trong hai tập thơ khóc
vợ là Đoạn trường lục (Phạm Nguyễn Du) và Khuê ai lục (Ngô Thì Sĩ), người đọc
đã cảm nhận được thế nào là nỗi lòng thương tiếc, xót xa vô hạn của hai nhà thơ
trước cái chết của vợ mình Tình cảm của hai ông thật xúc động làm sao!
Con người cá thể trong văn học giai đoạn này chủ yếu gắn với đề tài tình
yêu, nhưng ở một số tác giả, con người cá thể còn được thể hiện qua tâm sự,
hoài bão của họ Đó có thể là con người chán chường đến khinh bạc của Phạm
Thái trong một loạt bài thơ tự thuật; con người dằn dỗi, bực dọc của Nguyễn Gia
Thiều trong bài Miếng tình; con người sôi nổi của Nguyễn Công Trứ trong nhiều
bài viết về chí nam nhi, vừa thể hiện ý thức về nghĩa vụ làm trai, vừa mang màu
sắc cá nhân ở mức độ nhất định
Nhu cầu giải phóng tình cảm của con người còn gắn liền với sự xuất hiện
của hình ảnh người phụ nữ trong văn học Chưa bao giờ văn học xây dựng nhiều
hình ảnh người phụ nữ đến như vậy Dường như tác giả nào cũng có viết về
người phụ nữ Không những Nguyễn Du, Phạm Thái, Hồ Xuân Hương, ĐặngTrần
Côn, Đoàn Thị Điểm, Nguyễn Gia Thiều, Nguyễn Huy Tự viết về người phụ nữ,
mà Phạm Đình Hổ, Ninh Tốn, Lí Văn Phức cũng viết về người phụ nữ Phạm Đình
Hổ trong bài Hữu sở cảm đã khắc họa thật hay hình ảnh cô gái Trường An với vẻ
đẹp ngây thơ trong sáng đứng tựa bao lơn trước vườn hoa, e người yêu nghe đàn
hiểu rõ tâm sự của mình, nên cô đặt ngang đàn cầm, cười mà không gãy Một bài
thơ khác đã vẽ nên hình ảnh cô gái đẹp ngồi trên mình ngựa với ánh mắt đưa
duyên thật tình tứ trong bài Mã thượng mĩ nhân của Ninh Tốn Hay như Cao Bá
Quát trên hải trình theo phái đoàn đi sứ sang Indonésia đã thẫn thờ trước hình
ảnh một người đàn bà châu Âu áo trắng như tuyết, tay cầm chén sữa một cách uể
oải, nũng nịu đòi chồng nâng dậy trong khung cảnh đêm lạnh, gió bể thổi mịt mù
và tâm trạng nhà thơ đang trong cảnh biệt li (Dương phụ hành)…
Phụ nữ trong văn học giai đoạn này có người là phụ nữ quí tộc, có người
là phụ nữ bình dân, thậm chí ca nhi, kĩ nữ…, nhưng họ hoàn toàn không phải là
mẫu người phụ nữ của lễ giáo phong kiến Như một qui luật phổ biến, bất kì một
trào lưu nhân đạo chủ nghĩa nào ra đời trong văn học thì vấn đề phụ nữ lại được
đặt lên hàng đầu, được quan tâm sâu sắc Vì sao? Bởi vì họ là người bị áp bức
nặng nề nhất, không chỉ về phương diện giai cấp mà cả về phương diện giới tính
nữa Nỗi khổ nhục của họ không loại trừ thành phần xuất thân Phụ nữ giàu hay
nghèo đều có những nỗi khổ nhục riêng Nguyễn Du đã hai lần khái quát nổi khổ
nhục của họ trong xã hội phong kiến như một định mệnh không thể thay đổi được
Đau đớn thay phận đàn bà ! Lời rằng bạc mệnh cũng là lời chung…
(Truyện Kiều)
Đau đớn thay phận đàn bà !
Trang 25Kiếp sinh ra thế biết là tại đâu ? (Văn chiêu hồn)
Rất nhiều sáng tác văn học trong giai đoạn này đã thể hiện phong phú nỗi
khổ của người phụ nữ Trong Chinh phụ ngâm là hình ảnh người chinh phụ mòn
mỏi, khổ đau vì chồng tham gia vào những cuộc chiến tranh phong kiến Trong
Cung oán ngâm khúc là hình ảnh người cung nữ cô đơn, lạnh lẽo vì bị vua ruồng
bỏ Trong thơ Phạm Đình Hổ là hình ảnh những cô gái hát triều Lê đánh liều với
cuộc sống buông trôi năm này sang năm khác (Cựu cơ ca) Trong thơ Hồ Xuân
Hương là những người phụ nữ làm lẽ, chửa hoang, muộn chồng và chồng chết
Trong thơ Nguyễn Du là bốn mẹ con một người ăn xin sắp chết đói (Sở kiến hành); là nàng Tiểu Thanh bên Trung Hoa mới mười tám tuổi đầu, lấy lẽ bị vợ cả ghen bắt ở trên núi, buồn rồi chết, có để lại tập thơ (Độc Tiểu Thanh kí); là cô Cầm
ở Long Thành nổi tiếng tài hoa mà nay tóc đã hoa râm, nét mặt võ vàng (Long Thành cầm giả ca); là người ca nữ ở La Thành (thành Nghệ An) sống không biết cậy vào ai nên phải xuống tuyền đài tìm người tri kỉ (Điếu La Thành ca giả); là cô hầu gái của em đã ba con mà vẫn mặc chiếc áo cũ trước khi lấy chồng (Ngộ gia
đệ cựu ca cơ); là ba người phụ nữ kiên quyết chống lại bọn hung bạo và hy sinh
để giữ mình được trong sạch (Tam liệt miếu) Và đau khổ hơn cả chính là tấn bi kịch về cuộc đời của cô gái họ Vương mà bao thế kỉ qua đi vẫn tiếp tục gieo vào lòng người niềm cảm thương vô hạn (Truyện Kiều)…Mỗi người một nỗi khổ;
chẳng cái khổ nào giống cái khổ nào Nhưng bị khinh bỉ và đau khổ hơn cả trong
xã hội phong kiến chính là những ca nữ, kĩ nữ Kể cũng phải Ở cái xã hội ấy, phụ
nữ nói chung đều bị coi thường, đều đau khổ Nhưng nếm trải tận cùng nỗi khổ nhục, không ai hơn những người phụ nữ làm nghề “xướng ca vô loài” và mại dâm
Ngay như Thúy Kiều, nhân vật mà nhà thơ yêu mến nhất, cũng “Thanh lâu hai lượt, thanh y hai lần”…
Bằng tất cả sự xúc động, thông cảm, xót thương và trân trọng của nhà thơ, nhiều hình tượng người phụ nữ chịu khổ đau trong văn học giai đoạn này đã được xây dựng thật sinh động, tạo nên được những ấn tượng sâu đậm trong tình cảm, tâm hồn người đọc nhiều thế hệ Dù vậy, hình ảnh người phụ nữ không chỉ hiện lên ở phương diện khổ đau, ở họ còn là những con người có tài, có tình, có ý chí
và có nghị lực Trong Truyền kì tân phả (còn có tên là Tục truyền kì), một tác
phẩm ghi chép những truyện hoang đường của Đoàn Thị Điểm ra đời quãng đầu giai đoạn, có nhiều truyện ghi nhận những nét tính cách tiêu biểu của người phụ
nữ giai đoạn này Hải khẩu linh từ lục (Truyện đền thiêng ở cửa bể) kể chuyện nàng Bích Châu xinh đẹp, cung phi của vua Trần Duệ Tông, giỏi thơ văn, cảm
thấy chính sự trong nước ngày càng suy kém nàng đã dâng lên vua bản điều trần
mười điều gọi là “Kê minh thập sách” giúp vào việc trị nước, yên dân Đinh phu nhân trong An Ấp liệt nữ lục (Truyện người liệt nữ ở An Ấp) là người dung nhan
thanh nhã, cử chỉ đoan trang, khéo thêu thùa và giỏi văn thơ, từng làm thơ khuyên
chồng là Đinh Hoàn không được lơ là việc nước Công chúa Liễu Hạnh, vốn là Tiên chúa giáng trần, trong Vân Cát thần nữ lục (Truyện nữ thần ở Vân Cát) đã hai lần xướng họa thơ văn với Phùng Khắc Khoan, thường hiển linh giúp người
lành, trị kẻ ác Trong các truyện Nôm bình dân, các cô gái đều là những người có
ý chí, có nghị lực lớn Nàng Ngọc Hoa trong truyện Phạm Tải Ngọc Hoa hay nàng công chúa trong truyện Lý Công đều là những người phụ nữ đã dũng cảm đương đầu với những thế lực đen tối phá hoại tình yêu của họ Điều gì đã khiến cho Cúc Hoa, con gái nhà trưởng giả, can đảm trao duyên cho anh chàng ăn xin nhưng hiếu thảo và tuấn tú - Tống Trân, trong truyện Tống Trân Cúc Hoa ? Không thể lí
giải điều ấy ngoài lòng thương người, tình cảm đậm đà với người con trai hoạn nạn và một nghị lực phi thường khi can đảm nhận lấy trách nhiệm nuôi mẹ và giúp
chồng học hành Với Phương Hoa trong truyện Phương Hoa thì đó là cô gái giả
Trang 26trai đi thi đậu trạng nguyên, gặp vua để tố cáo tội ác của tên Tào Trung úy và minh
oan cho người chồng chưa cưới của mình…
Riêng Thúy Kiều của Nguyễn Du, con ngườI tài sắc vẹn toàn ấy, không
phải chỉ có hoạn nạn mà còn biết điều khiển cả một phiên tòa để trừng trị thích
đáng những kẻ gây ra tội ác Thúy Kiều là một con người luôn ý thức về mình và
về xung quanh Trong Truyện Kiều, Thúy Kiều không bao giờ là con rối trong bàn
tay định mệnh, cũng không bao giờ nàng buông xuôi mặc cho cuộc sống cuốn đến
đâu hay đến đó, mà Thúy Kiều luôn luôn chống lại, luôn luôn đứng lên Cũng như
thế, người phụ nữ trong thơ Hồ Xuân Hương lúc nào cũng như thách thức với xã
hội, có bản lĩnh, giỏi thơ văn, nhận thức về mình có khả năng không kém gì đàn
ông, nhưng vì xã hội trói buộc nên không thi thố được
Không chỉ ở những nhân vật chính diện, ngay cả ở những nhân vật phản
diện, cũng có nhân vật được xây dựng như là con người có bản lĩnh, có cá tính
Hoạn Thư trong Truyện Kiều là một con người:
Ở ăn thì nết cũng hay, Nói điều ràng buộc thì tay cũng già
Với các nhân vật phụ nữ trong văn học giai đoạn này, thái độ của các nhà
thơ nói chung là thông cảm, bênh vực, ca ngợi Họ không phải chỉ ca ngợi người
phụ nữ ở mặt đảm đang chịu khó, chung thủy với tình yêu, có hiếu với cha mẹ,
nghĩa là ca ngợi những đức tính, phẩm chất mà đạo đức phong kiến ở một xuất
phát điểm khác cũng có thể chấp nhận và ca ngợi được, mà còn thông cảm và ca
ngợi những đức tính, phẩm chất nhiều khi đối lập gay gắt với quan niệm đạo đức
phong kiến
Trong trào lưu đấu tranh đòi giải phóng tình cảm con người, các nhà thơ
dù nhận thấy cuộc sống có trăm nghìn cái xấu xa dơ bẩn cần tố cáo, lên án, tiêu
diệt, nhưng cuối cùng đối với họ, đáng sống nhất vẫn là cuộc sống ở cõi đời này,
chứ không phải ở một thiên đường hay thế giới nào khác Họ có nói đến Nho giáo,
Phật giáo, Đạo giáo…nhưng cuộc sống được khẳng định trong tác phẩm văn học
không phải là chủ nghĩa khổ hạnh của Phật giáo, cũng không phải là thái độ siêu
thoát, an nhiên tự tại, tiêu cực của Đạo giáo…mà là một cuộc sống trần tục với tất
cả những niềm vui và nỗi buồn trần tục (thơ Hồ Xuân Hương, các truyện Phan
Trần, Phạm Tải Ngọc Hoa, Sơ kính tân trang, Vân Cát thần nữ lục ) Ở một số
truyện Nôm bác học, nhà thơ có đi đến triết lí tiêu cực nhuốm màu sắc tôn giáo,
kêu gọi con ngườI thoát li cuộc đời Nhưng xét kĩ, những trường hợp như thế
không phải vì họ thấm nhuần tôn giáo, mà chính là biểu hiện sự bế tắc của nhà
thơ trong việc lí giải những vấn đề của cuộc sống, ở một chừng mực nào đó có
thể xem là thái độ phủ nhận thực tại xấu xa mà họ cảm thấy bất lực trên con
đường đi tìm giải pháp cho sự thay đổi, cải thiện
Trên đây là những nội dung cơ bản của trào lưu nhân đạo chủ nghĩa trong
văn học Việt Nam giai đoạn nửa cuối thế kỉ XVIII - nửa đầu thế kỉ XIX Về thực
chất, có thể nói trào lưu nhân đạo chủ nghĩa này có tính chất chống phong kiến
Tuy nhiên, do xã hội chưa có một giai cấp tiên tiến với một ý thức hệ tiên tiến làm
nền tảng cho cuộc đấu tranh nên tính chất chống phong kiến trong văn học giai
đoạn này không triệt để mà có tính chất nửa vời
4 VẤN ĐỀ KHÁI QUÁT HOÁ NGHỆ THUẬT TRONG VĂN HỌC VIỆT
NAM GIAI ĐOẠN NỬA CUỐI THẾ KỈ XVIII - NỬA ĐẦU THẾ KỈ XIX:
4.1 Đề cao nhận thức cuộc sống và phản ánh cuộc sống trong văn
học:
Từ lâu, xã hội phong kiến Việt Nam đã lấy Nho giáo làm ý thức hệ chính
thống Quan điểm văn học của Nho giáo vì thế cũng có một ảnh hưởng quan trọng
Trang 27đối với sự phát triển của văn học dân tộc Quan điểm đó biểu hiện một cách tập trung trong hai mệnh đề cơ bản là “văn dĩ tải đạo” (văn để chở đạo đức) và “thi ngôn chí” (thơ để nói chí hướng) Thật ra, hai mệnh đề trên chỉ là một, vì một thời gian khá dài trong lịch sử văn học người ta chưa phân biệt giữa văn và thơ, cũng như giữa văn và một số hoạt động văn hóa khác Với quan niệm “tải đạo” (hay
“quán đạo”) như thế, Nho giáo chỉ đề cao chức năng giáo huấn, đề cao tính chất minh họa đạo đức, thậm chí biến văn học thành cái loa phát ngôn cho đạo đức,
mà xem thường chức năng nhận thức của văn học
Xã hội phong kiến nước ta trước thế kỉ XVIII, Nho giáo đang còn thịnh hành, nhất là dưới thời Lê Thánh Tông, Nho giáo được tôn làm quốc giáo Nhưng sang thế kỉ XVIII, bên cạnh Nho giáo, thì Đạo giáo và một chừng mực nào đó Thiên Chúa giáo đều có phát triển Từ nửa cuối thế kỉ XVIII, vai trò và vị trí của Nho giáo không còn như trước Nhà nước phong kiến suy tàn thì Nho giáo cũng suy tàn Đến nửa đầu thế kỉ XIX, Nho giáo được đề cao trở lại với triều đình phong kiến chuyên chế nhà Nguyễn; còn với xã hội, Nho giáo vẫn không thể có vai trò như trước Tuy nhiên, dù Nho giáo có được đề cao trở lại hay mất vai trò do sự phát triển của Đạo giáo, Phật giáo hay Thiên Chúa giáo như ở thế kỉ XVIII, thì chung qui nó cũng như các tôn giáo khác đều không phải là thành phần chủ đạo trong tư tưởng thời đại Sống ở một thời đại khủng hoảng và đầy những biến động lịch sử lớn lao như giai đoạn nửa cuối thế kỉ XVIII - nửa đầu thế kỉ XIX, thì đáng tin hơn cả không phải là tôn giáo, mà chính là kinh nghiệm tích lũy được trong cuộc sống, trong cuộc đấu tranh thực tiễn của con người Đó cũng là cơ sở để xã hội manh nha và phát triển một thứ tư tưởng duy vật thô sơ, hoặc để người ta có thể tiếp thu một vài lí thuyết có tính chất duy vật chủ nghĩa của phương Tây Những
tác phẩm của nhà bác học đầu tiên của Việt Nam Lê Qúi Đôn như Vân đài loại ngữ, Phủ biên tạp lục, Kiến văn tiểu lục đã cho thấy con người của thời đại này đã
biết chú trọng đến tri thức thực tiễn, đến môi trường tự nhiên và xã hội trên đất nước mình Phan Huy Chú, với kiến thức uyên bác về lịch sử và đời sống không
kém gì Lê Qúi Đôn, đã soạn Lịch triều hiến chương loại chí, so với Vân đài loại ngữ hơn hẳn về mặt phân loại và hệ thống hóa Ở lĩnh vực khoa học có tính chất
thực hành, danh y Lê Hữu Trác đã đúc kết lí thuyết và kinh nghiệm chữa bệnh của Trung Quốc, kết hợp với phương pháp chữa bệnh “gia truyền” của nhân dân ta,
trong bộ sách Hải Thượng y tông tâm lĩnh đồ sộ gồm tất cả 66 quyển…
Nói chung, sáng tác văn học ra đời trong một bối cảnh tôn giáo không còn vai trò độc tôn, tinh thần duy vật khoa học chừng mực có phát triển, thì không thể tiếp tục giáo huấn suông được, mà phải tăng cường chức năng nhận thức của văn
học Văn học phải nhận thức cuộc sống và phản ánh cuộc sống Đó là sự chuyển
biến cơ bản về phương diện khái quát hóa nghệ thuật trong văn học giai đoạn
này Sự chuyển biến đó bắt đầu với sự ra đời của Chinh phụ ngâm rồi sau đó với Cung oán ngâm khúc, Hoàng Lê nhất thống chí, Sơ kính tân trang của Phạm Thái, Truyện Kiều của Nguyễn Du, thơ Hồ Xuân Hương, thơ Cao Bá Quát…thì sự
chuyển biến ấy ngày càng được biểu hiện cụ thể Tuy nhiên, do thế giới quan của các nhà văn, nhà thơ giai đoạn này còn có những mặt duy tâm thần bí, do chịu ảnh hưởng bởi tư tưởng chính thống và sự tác động của quan niệm thẩm mĩ phong kiến, nên khả năng nhận thức trong văn học giai đoạn này còn bị hạn chế, hình thức phản ánh chưa phải đã phong phú, đa dạng Nói cách khác, trong việc nhận thức và phản ánh đời sống, các nhà thơ, nhà văn mới nêu lên được cái cốt lõi chứ chưa nêu được cái đa dạng, phong phú của vấn đề Vì thế, qua văn học giai đoạn này, thật khó mà hình dung cuộc sống xã hội Việt Nam với những chi tiết phong phú, sinh động
Ngoài sự chuyển biến trên, các nhà thơ giai đoạn này quan niệm thơ phải biểu hiện tình cảm, phải có cảm xúc Thật ra, quan niệm thơ biểu hiện tình cảm,
Trang 28cảm xúc chưa thể hiện việc đề cao chức năng nhận thức trong sáng tác văn học
Tuy vậy, so với quan niệm “thi ngôn chí” hay “văn dĩ tải đạo” thì nó vẫn gần gũi với
chức năng nhận thức của văn học hơn Bởi lẽ, tình cảm hay cảm xúc của con
người, suy cho cùng, chỉ có thể nảy sinh trên cơ sở tiếp xúc với cuộc sống
4.2 Tính chất cao qúi; tính chất qui phạm, công thức; tính chất ước
lệ, tượng trưng của văn học:
Cũng như ở các giai đoạn văn học trước, giai đoạn văn học này người ta
đề cao thơ hơn văn xuôi và thơ phát triển hơn văn xuôi Điều này cũng không
ngoài quan niệm thẩm mĩ phong kiến Đi liền với quan niệm ấy là tính chất cao qúi
trong văn học Người xưa cho rằng: “Con người là tinh hoa của ngũ hành, là trung
tâm của vũ trụ Con người có hoạt động của tinh thần thì lời nói xuất hiện, lời nói
của bầu trời, mặt đất có văn chương của mặt đất Đến cây cỏ, chim muông cũng
có văn của nó “Con rồng, con phượng lấy vảy, lấy lông như vẽ thêm mình nó để
báo trước điều lành Con hổ con báo nhờ bộ da vằn vèo mà có vẻ uy nghi Màu
sắc tươi đẹp của mòng, của gián còn vượt qua cái tài khéo của người họa sĩ Hoa
là của cỏ cây, không chờ đến cái tài của người dệt gấm mớI đẹp… Ôi, những vật
vô tri vô giác kia mà còn đẹp rực rỡ đến thế, huống chi con người là cái vật có tâm,
xưa được xem là vẻ đẹp, vật quí, cái đạo của cả trời đất, chứ không chỉ của riêng
con người Sáng tác văn chương cũng có lúc để tiêu khiển, thù tạc, nhưng mục
đích trọng đại là để giáo hóa người đời Phan Kế Bính trong Việt Hán văn khảo có
viết : “Văn chương chẳng những là một nghề chơi thanh nhã để di dưỡng tính tình
mà thôi, mà có thể cảm động được lòng người, di dịch được phong tục, chuyển
đích của văn học cao quí như vậy, nên cách nhận thức và phản ánh cuộc sống
trong văn học giai đoạn này cũng có những nét khác, nó chưa thể thoát khỏi tính
chất qui phạm, công thức, tính chất ước lệ, tượng trưng
Viết về cuộc chiến tranh phong kiến chẳng hạn, có hàng trăm cách miêu
tả, nhưng các tác giả của văn học giai đoạn này chỉ chọn cách miêu tả nỗi lòng
của người chinh phụ, rồi đến tâm sự của người chinh phu Đề tài về nỗi khổ của
người cung nữ cũng qui tụ nhiều tác giả với nhiều tác phẩm ra đời có cái tên na
ná giống nhau như Cung oán ngâm, Cung oán thi, Cung oán thi tập…Tính cách
của những nhân vật cùng tầng lớp, giai cấp có được nhà thơ, nhà văn chú ý khắc
họa nhưng chưa rõ nét sự khác nhau giữa người này người khác Kim Trọng và
Thúc Sinh không xuất thân cùng một môi trường xã hội, nhưng vì Thúc Sinh có đi
học, nên Nguyễn Du cũng xếp vào loại “thư sinh”, cũng mặc chiếc áo xanh “văn
nhân”, cũng biết làm thơ ! Văn nhân là vậy, còn anh hùng thì thế nào cũng phải có
thanh gươm hay ngọn giáo Người chinh phu trong Chinh phụ ngâm : “Chỉ ngang
ngọn giáo vào ngàn hang beo” Từ Hải trong Truyện Kiều thì:”Gươm đàn nửa
gánh non sông một chèo”…
Tính chất ước lệ trong phản ánh hiện thực của văn học giai đoan này
không loại trừ việc nhà văn dùng chữ Hán để sáng tác Bên cạnh tiếng mẹ đẻ
được dùng để sáng tác một cách phổ biến, quan niệm cho chữ Hán mới là cao
quí, còn chữ Nôm dù sao vẫn là “nôm na mách qué” không phải không còn Thậm
chí, khá nhiều trường hợp chữ Nôm được dùng trong tác phẩm chưa phải là thứ
ngôn ngữ hằng ngày, chưa phải là lời ăn tiếng nói của quần chúng, mà là thứ
ngôn ngữ “cao quí”, thứ ngôn ngữ pha trộn nhiều từ Hán Việt, nhiều điển cố, điển
tích, nhiều cách nói cầu kì, kiểu cách…
Tóm lại, văn học nửa cuối thế kỉ XVIII - nửa đầu thế kỉ XIX tuy đề cao nhận
thức, nhưng do những đặc điểm nêu trên, giá trị nhận thức, phản ánh trong văn
Trang 29học còn bị hạn chế Văn học chưa phải đã nhận thức cuộc sống bằng chính hình thức của bản thân đời sống Đó là kết luận chung về đặc điểm của vấn đề khái quát hóa nghệ thuật trong văn học Việt Nam giai đoạn này
4 “Nhu cầu giải phóng tình cảm không những gắn liền với đề tài tình yêu,
mà còn gắn liền với sự xuất hiện của hình ảnh người phụ nữ trong văn học Chưa bao giờ văn học lại nói nhiều về phụ nữ như giai đoạn này Hình ảnh người phụ nữ
là hình ảnh thành công nhất trong văn học nửa cuối thế kỉ XVIII - nửa đầu thế kỉ XIX.” (Nguyễn Lộc - Văn học Việt Nam (nửa cuối thế kỉ XVIII - hết thế kỉ XIX), NXB Giáo dục, 1999, trang 70)
Hãy phân tích và chứng minh nhận định trên
Chú thích:
đầu thế kỉ XIX), NXB Giáo dục, 1999, trang 51 - 52
(4), (5) Lưu Hiệp, Văn tâm điêu long Dẫn theo Lê Trí Viễn, Văn học trung đại Việt Nam, giáo trình lưu hành nội bộ, ĐHQGTPHCM, ĐHSP, 1997, trang 24 - 25
XW
Trang 30PHẦN THỨ HAI NHỮNG TÁC GIẢ VÀ TÁC PHẨM TIÊU BIỂU
Chương hai: CHINH PHUÏ NGAÂM
ED
1 ĐỀ TÀI, HOÀN CẢNH SÁNG TÁC, TÁC GIẢ, DỊCH GIẢ :
1.1 Đề tài :
Hiện thực chiến tranh từ lâu đã là đề tài của nhiều nền văn học trên thế
giới Văn học Trung Quốc đời Hán, đời Đường đều có viết (“Thập ngũ tòng quân
chinh”, “Chiến thành Nam” – dân ca Nhạc phủ đời Hán; thơ biên tái của Sầm
Than, Vương Xương Linh, Lí Bạch, Đỗ Phủ, Bạch Cư Dị, Trần Đào, Vương
Hàn ) Đề tài chiến tranh bao giờ cũng gắn liền với những vấn đề khác như: tình
yêu, lòng chung thủy, sự mong mỏi đợi chờ, niềm hạnh phúc, hi sinh Trong văn
học quá khứ của Việt Nam, những tác phẩm viết về chiến tranh chính nghĩa, như
chiến tranh chống ngoại xâm bảo vệ dân tộc hay chiến tranh của nông dân chống
ách bạo tàn của nhà nước phong kiến, thường rất hào hùng, hừng hực một khí
thế chiến đấu Còn nói chung, những tác phẩm viết về những cuộc chiến tranh phi
nghĩa, về những sự xâu xé tranh giành quyền lực giữa các tập đoàn phong kiến,
hay chiến tranh phong kiến đàn áp các phong trào nông dân khởi nghĩa, thì trong
văn học dân gian cũng như trong văn học bác học thường cất lên tiếng nói oán
trách, than thở Trong đó, không ít những lời than thở của người chinh phụ Thời
Lê Thánh Tông có bài Chinh phụ ngâm của Thái Thuận, một trong nhị thập bát tú
của Hội Tao Đàn, là một thí dụ Như vậy, đề tài về người chinh phụ không mới,
nhiều người đã viết và viết thật hay Đặng Trần Côn khi đi vào đề tài này để viết
Chinh phụ ngâm, ông đã viết trên cái nền hiện thực cuộc sống đương thời trước
mắt, để không lặp lại những gì người khác đã viết, và ông đã có được cống hiến
xuất sắc
1.2 Hoàn cảnh sáng tác :
Đặng Trần Côn sáng tác Chinh phụ ngâm vào thời gian nào ? Trong Lịch
triều hiến chương loại chí, Phan Huy Chú có viết : “Chinh phụ ngâm, 1 quyển,
Hương cống Đặng Trần Côn soạn Vì đầu đời Cảnh Hưng có việc binh đao, cảnh
là năm 1740 “Việc binh đao” ở đây chỉ phong trào khởi nghĩa nông dân nổi lên
rầm rộ khắp nơi lúc bấy giờ Việt sử thông giám cương mục đã có ghi chép về tình
hình rối loạn của xã hội phong kiến lúc đó như sau : “Đời vua Lê Ý Tôn (1735 –
1740) trong lúc Trịnh Giang cầm quyền, chính sự hư hỏng, thuế khoá nặng nề,
lòng người ước ao sự loạn lạc”; “ở Ninh xá là Nguyễn Tuyển, Nguyễn Cừ, ở Mộ
Trạch là Ngô Trác Oánh, ở Sơn Nam là Hoàng Công Chất, tốp to tốp nhỏ nổi lên
khắp nơi, khởi binh xưng vị hiệu ”; sách cũng chép việc giai cấp phong kiến phải
đối phó với tình hình nghiêm trọng bằng những biện pháp khẩn trương như “hạ
lệnh cho các lộ như Sơn Tây, Thanh Hoá đều phải đặt những đồn hoả hiệu trên
các đỉnh núi, cùng dân sở tại ngày đêm canh giữ, hễ có biến động là đốt lửa báo
từ năm 1742 – 1744 là những năm chồng bà đi sứ Trung Quốc Ông Hoàng Xuân
(sinh năm 1715) mời Đặng Trần Côn tới thưởng xuân, và căn cứ vào việc sách
Tang thương ngẫu lục có chép Đặng Trần Côn bị Đoàn Thị Điểm chê là trẻ con
(Đoàn thị Điểm sinh năm 1705), mà ước đoán ông “sinh vào khoảng 1710 – 1720”
Trang 31và mất vào khoảng năm 1745, “thọ chưa đến 40 tuổi”, đồng thời ông còn tính Đặng Trần Côn viết Chinh phụ ngâm vào khoảng những năm 1741 – 1742 Kết hợp với ý kiến của các nhà nghiên cứu khác, có thể đoán Chinh phụ ngâm được
sáng tác trong khoảng thời gian 1740 – 1742
Như vậy, tác phẩm đã in dấu ấn của thời đại nông dân khởi nghĩa và chiến tranh phi nghĩa của chính quyền Lê - Trịnh đàn áp những cuộc nổi dậy của quần chúng nông dân lúc bấy giờ
1.3 Tác giả và dịch giả :
1.3.1 Tác giả :
Người viết Chinh phụ ngâm bằng Hán văn là Đặng Trần Côn (không có nghi vấn gì) Cho đến nay, những hiểu biết của chúng ta về Đặng Trần Côn còn rất sơ sài Phạm Đình Hổ, người giới thiệu tương đối nhiều hơn cả về Đặng Trần
Côn so với các tác giả quá khứ khác, trong Tang thương ngẫu lục có ghi : “ Ông người làng Nhân Mục, huyện Thanh Trì, bạn của đấng Tiên quan tôi xưa Tính thích rượu, đềnh đoàng phóng túng Trong khoảng trường ốc, văn chương ông tiếng lừng thiên hạ Bấy giờ, chúa Uy Vương bị bệnh, phải dời đến ở cung Thưởng Liên Kinh thành tối đến cấm lửa rất ngặt Ông đào hầm ở dưới đất đọc sách,
chức Huấn đạo ở một trường phủ, sau đổi sang chính thức làm Tri huyện Thanh Oai, nay thuộc Hà Tây Sau cùng, ông cũng chỉ làm đến chức Ngự sử đài chiếu khán rồi mất
Về sáng tác, ngoài Chinh phụ ngâm mà theo Phạm Đình Hổ “khúc ngâm
ấy người ta sao chép, truyền sang đến hai tỉnh Quảng Đông, Quảng Tây của
Tiêu Tương (Tiêu Tương bát cảnh), một số bài phú không có nội dung thiết thực Cũng theo tác giả Vũ trung tuỳ bút, Đặng Trần Côn còn “có cuốn tiểu thuyết Bích
nói ông có thể là tác giả của những truyện Tùng bách thuyết thoại (Kể chuyện tùng bách), Long hổ đấu kì (Rồng hổ đấu phép lạ) và Khuyển miêu đối thoại (Chó
mèo nói chuyện), tất cả đều viết bằng chữ Hán
Thị Điểm được khẳng định là người đầu tiên dịch Chinh phụ ngâm ra chữ Nôm và
bản dịch của bà có một ảnh hưởng thật sự trong sự phát triển của văn học chữ Nôm lúc bấy giờ
2 CHINH PHỤ NGÂM - VẤN ĐỀ CHIẾN TRANH VÀ HẠNH PHÚC CỦA TUỔI TRẺ, CỦA LỨA ĐÔI :
Chinh phụ ngâm là khúc ngâm của người chinh phụ, là lời than thở của
một người phụ nữ có chồng ra chiến trường Vấn đề trung tâm đặt ra trong toàn
bộ khúc ngâm là mâu thuẫn giữa chiến tranh với cuộc sống con người, với hạnh phúc của lứa đôi, của tuổi trẻ Những tình tiết cấu tạo nên toàn bộ khúc ngâm là nỗi niềm lo âu, sầu muộn, thở than, oán trách, sợ hãi, trông đợi của một người
Trang 32vợ trẻ đầm đìa nước mắt, hằng ngày “thiếp trong cánh cửa chàng ngoài chân
mây”, luôn phóng tầm mắt đến một phương trời xa thẳm trông ngóng tin chồng
Mâu thuẫn ấy tác giả đặt ra ngay từ những dòng đầu và kéo dài trong suốt
tác phẩm, nhưng lại kết thúc bằng một ước mơ hoàn toàn chủ quan Nỗi truân
chuyên của người chinh phụ chỉ chồng chất thêm, chứ không thay đổi Câu hỏi da
diết đặt ra trong phần mở đầu tác phẩm: “Vì ai gây dựng cho nên nỗi này” vẫn cứ
lơ lửng, ám ảnh người đọc như một nỗi niềm đau xót chưa được giải quyết
Khúc ngâm đã thực sự gieo vào lòng người đọc nỗi chán ghét, oán giận
những cuộc chiến tranh phi nghĩa nhằm bảo vệ quyền lợi ích kỉ của giai cấp thống
trị Qua tâm trạng của nhân vật trữ tình - người chinh phụ - chúng ta sẽ thấy được
cách nhìn nhận của nàng đối với chiến tranh phong kiến Đó cũng là cách nhìn
nhận của nhà thơ trước thực tại
2.1 Chiến tranh và hình ảnh người chinh phu :
Chinh phụ ngâm mở ra bằng khung cảnh náo động của những ngày đầu
chiến tranh, khói lửa mịt mù, tiếng trống Tràng Thành giục giã, tiếng hịch truyền
nửa đêm định ngày xuất chinh “Nước thanh bình ba trăm năm cũ không còn nữa”
Người chinh phu xuất hiện như một chàng dũng sĩ có đủ sức mạnh để xoay
chuyển thời thế Đó là một “Chàng tuổi trẻ vốn dòng hào kiệt”, nghĩa là thuộc tầng
lớp quí tộc Đất nước có chiến tranh, theo tiếng giục của “sứ trời”, chàng xếp bút
nghiên, từ giã vợ con, lên đường chiến đấu, xem “Phép công là trọng niềm tây sá
gì”
Hình ảnh người chinh phu đẹp đẽ, uy nghi tựa như một trang dũng tướng,
nổi bật giữa đoàn quân:
Áo chàng đỏ tựa ráng pha, Ngựa chàng sắc trắng như là tuyết in
với quyết tâm ra đi, với khí thế hùng dũng, sẵn sàng chết nơi chiến địa :
Chí làm trai dặm nghìn da ngựa, Gieo Thái Sơn nhẹ tựa hồng mao
Múa gươm rượu tiễn chưa tàn, Chỉ ngang ngọn giáo vào ngàn hang beo
Mặc dù sợ cảnh chia li, nhưng khi tiễn đưa chồng, người vợ trẻ vẫn rất hãnh diện
với mọi người về hành động “Xếp bút nghiên theo việc đao cung” của chàng
Thậm chí, cho đến cuối khúc ngâm, trong tâm trí của nàng còn hiện lên hình ảnh
người chồng chói lọi quân công trong ngày về chiến thắng:
Bóng cờ xí giã ngoài quan ải, Tiếng khải ca trở lại thần kinh
Non Yên tạc đá đề danh, Triều thiên vào trước cung đình dâng công
Cảnh tượng huy hoàng ấy gắn liền với “nền huân tướng”, “chữ đồng hưu” nhà vua
ban cho chinh phu, và vợ con chàng cũng sẽ được “tử ấm”, “thê phong” Trong
Trang 33niềm tin tưởng, lạc quan, chinh phụ thấy chiến tranh phong kiến sẽ đem lại cho gia đình nàng công danh, phú quí, hạnh phúc cá nhân
phu, nhà thơ muốn dựng lên ở đây không phải hình ảnh một người lính bình thường, mà là hình ảnh một người anh hùng lí tưởng của giai cấp thống trị phong kiến So với những con người thực lúc bấy giờ, hình ảnh này thật xa lạ Ở vào cái giai đoạn mà giai cấp phong kiến thống trị đang suy tàn, làm sao chúng có thể sản sinh ra được những con người anh hùng lí tưởng như thế? Không được xây dựng trên nền tảng thực tế, người anh hùng lí tưởng ở đây chẳng qua chỉ là ảo tưởng của nhà thơ về người anh hùng của giai cấp mình, mà thời kì vinh quang đã lùi sâu vào dĩ vãng, không còn tồn tại nữa
Vấn đề còn lại là, trong khi nhà thơ càng tô điểm cho hình tượng ấy bao nhiêu, thì trước thực tế nó càng bộc lộ rõ sự thất bại thê thảm bấy nhiêu Hình ảnh người chinh phu hiện lên giữa cảnh thê lương, cô quạnh, ảo não của chiến trường như một bóng ma không hồn, như một kẻ chiến bại, thật khác xa với lúc ban đầu:
Hơi gió lạnh người rầu mặt dạn, Dòng nước sâu ngựa nản chân bon
Ôm yên gối trống đã chồn, Nằm vùng cát trắng ngủ cồn rêu xanh
Rõ ràng, chiến tranh không có chỗ nào dung hợp với con người Chiến tranh đối lập với toàn bộ cuộc sống con người Trong quan niệm của nhà thơ, người tham gia vào chiến tranh là người đi vào cõi chết Cảnh chiến trường chẳng
hề vang lên tiếng ngựa hí, quân reo, mà chỉ có:
Hồn tử sĩ gió ù ù thổi, Mặt chinh phu trăng dõi dõi soi
Chinh phu tử sĩ mấy người, Nào ai mạc mặt nào ai gọi hồn?
Dấu binh lửa nước non như cũ,
Kẻ hành nhân qua đó chạnh thương
Nếu có người may mắn sống sót trở về thì họ cũng không còn trai trẻ nữa, giống
như chàng Ban Siêu đời Hán ngày trước:
Phận trai già ruổi chiến trường, Chàng Siêu tóc đã điểm sương mới về
phải huỷ diệt của những con người tham gia vào những cuộc chiến tranh phi nghĩa Quan niệm bi đát đó của nhà thơ về chiến tranh thực chất là một cách phản
kháng chiến tranh
2.2 Chiến tranh và tâm sự của người chinh phụ :
Ngay từ lúc mở đầu khúc ngâm, tâm trạng của người chinh phụ đã vang lên não nuột:
Thuở trời đất nổi cơn gió bụi, Khách má hồng nhiều nỗi truân chuyên
Xanh kia thăm thẳm từng trên,
Trang 34Vì ai gây dựng cho nên nỗi này?
Giây phút nàng chia tay với chồng thật bịn rịn, lưu luyến:
Nhủ rồi tay lại trao liền, Bước đi một bước lại vin áo chàng
Lòng thiếp tựa bóng trăng theo dõi,
Dạ chàng xa ngoài cõi Thiên San
Không chỉ có thế, nỗi niềm ấy còn kéo dài đến Tiêu Tương trong tình cảnh:
Khói Tiêu Tương cách Hàm Dương, Cây Hàm Dương cách Tiêu Tương mấy trùng
Cùng trông lại mà cùng chẳng thấy, Thấy xanh xanh những mấy ngàn dâu
Ngàn dâu xanh ngắt một màu, Lòng chàng ý thiếp ai sầu hơn ai?
Rồi nàng lại trở về trong cảnh đơn chiếc, lẻ loi, một mình một bóng ở chốn cô
phòng Càng về cuối khúc ngâm, nỗi đau buồn của nàng càng chồng chất, thiết
tha
Chinh phụ ngâm trước hết là lời than thở về cuộc sống lẻ loi của người
phụ nữ Tác phẩm tập trung đề cập nhiều nhất đến tình cảnh, tâm trạng đau khổ
của người chinh phụ trong thời gian chia cách não nùng
mà nàng phải một mình cáng đáng công việc gia đình với “mẹ già phơ phất mái
sương” và “con thơ măng sữa vả đương bù trì” Nhưng điều đau khổ nhất đối với
nàng là nỗi nhớ nhung, sầu muộn vì chờ đợi người chồng nơi trận mạc Năm
tháng cứ trôi qua không trở lại, nỗi nhớ thương ngày một chất chồng Người chinh
phụ đã từng trải qua bao tháng ngày mỏi mòn không hi vọng:
Thư thường lại người chưa thấy lại, Bức rèm thưa lần dãi bóng dương
Bóng dương mấy buổi xuyên ngang, Lời sao mười hẹn chín thường đơn sai?
Nàng giở những kỉ vật ra để nhìn ngắm Nhưng vật còn mà người chẳng thấy
Những kỉ niệm cũ càng làm thắm thía thêm nỗi lòng mong đợi không gì khuây
khoả nổi của nàng:
Thoa cung Hán thuở ngày xuất giá, Gương lầu Tần dấu cũ soi chung
Nàng ao ước được gửi đến cho chàng:
Cậy ai mà gửi tới cùng,
Để chàng thấu hết tấm lòng tương tư?
Nhưng biết cậy ai mà gửi? Cảnh gió mưa lạnh lẽo nơi chiến địa vẫn nhỏ giọt lạnh
lẽo trong tấm lòng cô đơn của người vợ trẻ:
Gió tây nổi khôn đường hồng tiện,
Trang 35Xót cõi ngoài tuyết quyến mưa sa
Màn mưa trướng tuyết xông pha, Nghĩ thêm lạnh lẽo kẻ ra cõi ngoài
Có lúc người chinh phụ tự vẽ ra hạnh phúc bằng ảo giác để rồi cũng chính nàng đón nhận đau đớn bằng thực tế phũ phàng:
Hoa giãi nguyệt nguyệt in một tấm, Nguyệt lồng hoa hoa thắm từng bông
Nguyệt hoa hoa nguyệt trùng trùng, Trước hoa dưới nguyệt trong lòng xiết đau!
Trong cảm giác khắc khoải, sầu muộn vì trông đợi, người chinh phụ không thiết làm việc, thờ ơ với công việc thêu thùa, thờ ơ cả việc điểm trang, lúc nào cũng thẫn thờ:
Trâm cài xiêm thắt thẹn thùng, Lệch làn tóc rối lỏng vòng lưng eo
Có khi quá đau khổ, nàng bật thành tiếng khóc nức nở:
Vì chàng lệ thiếp nhỏ đôi,
Vì chàng thân thiếp lẻ loi mọi bề
Tiếng khóc cũng không làm vơi bớt nỗi sầu muộn , nàng “mượn hoa mượn rượu giải buồn”, nhưng hoa rượu vẫn không giải được nỗi buồn Cõi thực không làm
nàng nguôi quên, nàng tìm đến cõi mộng Trong mộng, nàng gặp được chồng Nhưng sự sum vầy ngắn ngủi quá:
Sum vầy mấy lúc tình cờ, Chẳng qua trên gối một giờ mộng xuân
Tiếc mộng, nhưng đấy cũng chỉ là mộng, không phải là thực:
Khi mơ những tiếc khi tàn, Tình trong giấc mộng muôn vàn cũng không
Mọi khả năng được nàng khai thác để mong làm giảm nhẹ cơn sầu khổ, nhưng ở đâu nàng cũng thấy dựng lên những bức tường cao ngất:
Lòng này hoá đá cũng nên,
E không lệ ngọc mà lên trông lầu
Từ nơi sâu thẳm của cõi lòng nếm trải nhiều nỗi khổ đau, người chinh phụ đã thốt lên:
Lúc ngảnh lại ngắm màu dương liễu, Thà khuyên chàng đừng chịu tước phong
Chẳng hay muôn dặm ruổi rong, Lòng chàng có cũng như lòng thiếp chăng?
Chiến tranh không chỉ là tai hoạ của kẻ ra đi mà còn là tai họa đối với người ở lại, tai họa chung cho tất cả mọi người Ý nghĩa tố cáo chiến tranh phong kiến chủ yếu toát lên từ khuynh hướng khách quan của hình tượng, từ những cảnh ngộ và tình huống éo le mà người phụ nữ phải chịu đựng Tác giả đã thông
Trang 36qua hàng loạt những mâu thuẫn gay gắt: chiến tranh với người ra đi; chiến tranh
với người ở lại; có chồng và vắng chồng; chờ đợi và thất vọng; người và cảnh;
thực và mộng; để phát triển sâu sắc chủ đề tác phẩm Trong Chinh phụ ngâm,
vấn đề được Đặng Trần Côn đặc biệt nhấn mạnh khi nói về chiến tranh phi nghĩa
không phải là tính chất hủy diệt như nhiều tác phẩm trước và sau nó đề cập, mà là
sự tan vỡ của hạnh phúc lứa đôi, của tuổi trẻ Đấy chính là dấu ấn của thời đại tác
phẩm ra đời, thời đại mà vấn đề đấu tranh đòi giải phóng tình cảm con người, đề
cao những giá trị chân chính của con người đã trở thành nội dung chủ yếu của
trào lưu nhân đạo chủ nghĩa trong văn học
Điều người chinh phụ trong Chinh phụ ngâm lo sợ nhất là chiến tranh đe
dọa, tàn phá tuổi trẻ của vợ chồng nàng Nàng hiểu rằng tuổi trẻ trôi qua cũng sẽ
kéo theo sự nhạt phai của nhan sắc, của hạnh phúc ái ân và tình yêu đôi lứa
Nhưng chiến tranh phong kiến có bao giờ biết đến niên hoa của nàng:
Một năm một nhạt mùi son phấn, Trượng phu còn thơ thẩn miền khơi
Xưa sao hình ảnh chẳng rời, Bây giờ nỡ để cách vời Sâm Thương?
Nhiều lần nàng lo cho tuổi già của chồng và của mình:
Kìa Văn Quân mĩ miều thuở trước,
E đến khi đầu bạc mà thương
Mặt hoa nọ gã Phan lang
Sợ khi mái tóc điểm sương cũng ngừng
Nghĩ nhan sắc đương chừng hoa nở, Tiếc quang âm lần lữa gieo qua
Nghĩ mệnh bạc tiếc niên hoa, Gái tơ mấy chốc sẩy ra nạ dòng
Nàng liên hệ đến thế giới tạo vật: chim yến trên rường bạc đầu không nỡ đôi
đường rẽ nhau; loài sâu cũng đôi đầu cùng sánh; loài chim còn chắp cánh cùng
bay; đến cỏ cây như liễu, sen cũng sánh đôi hoa, cũng liền đôi cây Không nơi nào
không có đôi lứa, không có tình yêu Vậy mà, vì chiến tranh, tình yêu của con
người đã phải tan vỡ:
Ấy loài vật tình duyên còn thế, Sao kiếp người nỡ để đấy đây?
Với tâm trạng như thế, tưởng chừng người chinh phụ sẽ gay gắt phê phán cuộc
chiến tranh Thế nhưng, do hạn chế trong nhận thức, nàng chỉ nói lên cái mong
ước thiết tha không kém phần vô lí:
Đành muôn kiếp chữ tình đã vậy, Theo kiếp này hơn thấy kiếp sau
Thiếp xin chàng chớ bạc đầu, Thiếp thì giữ mãi lấy màu trẻ trung
Dù vậy, hạnh phúc mà nàng nói đến là hạnh phúc đoàn tụ đôi lứa, chứ không phải
là hạnh phúc vinh hiển
Trang 37Tóm lại, tâm trạng chủ yếu của người chinh phụ trong những ngày cách biệt là một nỗi nhớ nhung, sầu muộn vô hạn mà căn nguyên sâu xa nhất là tình cảnh chăn đơn gối chiếc, là niềm khát khao tình yêu và hạnh phúc lứa đôi Những lời thở than của người chinh phụ về cuộc sống của người chinh phu nơi chiến địa,
về tình cảnh, tâm trạng của nàng khi ở nhà đã cho chúng ta thấy rõ chiến tranh phong kiến hoàn toàn mâu thuẫn với hạnh phúc của con người, với tình yêu đôi lứa Điều đó một lần nữa toát lên ý nghĩa tiến bộ chống chiến tranh phong kiến của khúc ngâm
2.3 Thực chất cuộc chiến tranh trong Chinh phụ ngâm:
Âm điệu toát lên từ toàn bộ khúc ngâm là âm điệu tố cáo chiến tranh phi nghĩa đã làm tan vỡ hạnh phúc lứa đôi của tuổi trẻ Tiếng nói tố cáo chiến tranh
của Chinh phụ ngâm thật thống thiết, chân thành, nên rung cảm sâu sắc lòng người Nói như thế không có nghĩa là Chinh phụ ngâm không có hạn chế Lời than
thở, ai oán của người chinh phụ ở đây chưa phải là tiếng nói chung của quảng đại quần chúng nhân dân, mà chỉ là tiếng nói của những người quí tộc bị mất mát trong chiến tranh Nhà thơ chưa phải đã nhận thức đầy đủ tính chất phi nghĩa của
nó, nhất là trong phần đầu và phần cuối tác phẩm, khi tác giả đã lí tưởng hóa cuộc chiến tranh, ước mơ ngày thắng lợi người chinh phu trở về trong “tiếng khải ca”,
“cung đình dâng công”,”tạc đá đề danh”, “đai cân rạng vẻ”, “bia để nghìn đông”,
“tử ấm thê phong”, vinh hiển mọi bề Mặc dù nói nhiều về những mất mát của con người do chiến tranh gây ra, kết thúc tác phẩm nhà thơ vẫn không tìm ra được thủ phạm giải đáp cho câu hỏi lớn treo lửng lơ giữa không gian xanh thẳm:
Xanh kia thăm thẳm từng trên,
Vì ai gây dựng cho nên nỗi này?
Mặc dù vậy, Chinh phụ ngâm vẫn là tác phẩm viết hay nhất về đề tài chiến tranh
phong kiến trong văn học Việt Nam thời kì trung đại
Vấn đề còn lại cần giải đáp rạch ròi là: vậy thực chất cuộc chiến tranh
trong Chinh phụ ngâm là cuộc chiến tranh nào trong lịch sử xã hội phong kiến
nước ta? Chiến tranh chống ngoại xâm để bảo vệ Tổ quốc? Chiến tranh giữa các tập đoàn phong kiến để tranh giành quyền lợi? Chiến tranh của chính quyền phong kiến chống lại các phong trào nông dân khởi nghĩa?
Đối chiếu thời điểm sáng tác và thực tế lịch sử cho ta thấy đây là cuộc chiến tranh phi nghĩa của giai cấp thống trị phong kiến phản động chống lại quần chúng nông dân bị áp bức lúc bấy giờ Bởi không thể có cuộc chiến tranh chống
xâm lược nào vào thời điểm này; cũng không phải cuộc chiến tranh giữa các tập đoàn phong kiến, vì cuộc nội chiến Trịnh - Nguyễn cũng đã chấm dứt từ lâu
3 NGHỆ THUẬT CỦA CHINH PHỤ NGÂM:
3.1 Dịch phẩm Chinh phụ ngâm - sự kết tinh của ngôn ngữ nghệ thuật ở trình độ kiệt tác:
đạt đến trình độ nghệ thuật điêu luyện lại được viết bằng chữ Hán trong một thời đại mà chữ Nôm đang phát triển đã khiến cho nhiều người tìm cách dịch nó ra tiếng nói dân tộc để có thể thưởng thức được dễ dàng Tất nhiên, không ai lại diễn
ra bằng văn xuôi một tâm tư dằn vặt triền miên như thế, vì sẽ rất nhạt nhẽo Thể thơ song thất lục bát có ưu thế và phù hợp nhất
Những câu thơ trong nguyên tác bằng chữ Hán không phải hoàn toàn
do nhà thơ sáng tác, mà một phần khá lớn là góp nhặt, lấy ý hoặc phỏng theo các
câu thơ cổ của Trung Quốc Vì vậy, về căn bản Chinh phụ ngâm là một tác phẩm
Trang 38được sáng tác theo lối “tập cổ”, một việc thường làm của các nhà thơ xưa theo thi
pháp trung đại Có điều “tập cổ” ngày xưa là một trò chơi để giải trí, ngâm ngợi
trong lúc trà dư tửu hậu của những tao nhân mặc khách khoe chữ khoe nghĩa,
xong rồi quên ngay Chinh phụ ngâm có lẽ là trường hợp ngoại lệ duy nhất trong
lịch sử văn học, chẳng những không chịu số phận bị quên lãng, mà ngược lại
được truyền tụng rộng rãi trong đông đảo quần chúng độc giả Thành công này
ngoài cái hay của nguyên tác còn có phần đóng góp rất lớn của bản dịch hiện
hành Bản dịch Chinh phụ ngâm thực sự là một công trình đầy tính chất sáng tạo,
là sự kết tinh của ngôn ngữ nghệ thuật ở trình độ kiệt tác Từ bao đời nay, mọi
người đã quen coi bản dịch ấy là tác phẩm chứ không phải như một dịch phẩm
Vinh dự này đến cả bản dịch Tì bà hành của Phan Huy Thực ở đầu thế kỉ XIX
cũng không có được
đoản cú, một thể thơ xen kẽ câu dài ngắn, cốt sao cho hài hoà, ngoài ra không có
một qui định nào khác Câu ngắn có khi ba, bốn chữ, câu dài có khi mười, mười
một chữ Nhà thơ có thể linh hoạt trong diễn đạt để tạo nên những âm hưởng,
nhịp điệu phong phú, sinh động Bản dịch không dùng thể trường đoản cú, cũng
không dùng thể lục bát như một số bản dịch khác, mà dùng thể song thất lục bát
vừa quen thuộc với mọi người, vừa thích hợp để diễn tả tâm trạng buồn, đứng
yên, ít biến động, của người chinh phụ Đó là thành công trước tiên của bản dịch
hiện hành
Thành công khác là người dịch đã không câu nệ vào số câu, số chữ, mà
cốt làm sao rung động và diễn đạt được tinh thần của nguyên tác Bản dịch đã cho
người đọc thấy được sự am hiểu đặc trưng của văn học và sự rung cảm sâu sắc
của người dịch trước đối tượng sáng tạo Nguyên tác chữ Hán có tất cả 476 câu
thơ Bản dịch hiện hành có 412 câu Quá trình dịch, có khi người dịch gộp hai, ba
câu trong nguyên tác để dịch thành một câu Cũng có khi dịch một câu trong
nguyên tác ra thành hai câu Cũng có khi bỏ qua không dịch một vài câu, một vài
chi tiết, điển cố :
Quân biên vân ủng Thanh phiêu kỵ Thiếp xứ đài sinh Hưởng điệp lang
Câu thơ dịch đã khéo léo bỏ đi những điển tích:
Chàng ruổi ngựa dặm trường mây phủ,
Nhìn nhận một cách khách quan, cũng có một vài chỗ bản dịch chưa hay như
nguyên tác Nhưng nhìn chung, bản dịch xúc cảm hơn, giàu hình ảnh, nhạc điệu
hơn, nghĩa là những đặc trưng của văn học trong bản dịch có trội hơn trong
nguyên tác Chẳng hạn câu thơ Đặng Trần Côn viết:
Cổ bề thanh động Trường thành nguyệt Phong hỏa ảnh chiếu Cam Tuyền vân
Trang 39dịch là:
Khắc giờ đằng đẵng như niên, Mối sầu dằng dặc tựa miền bể xa
thì ý thơ vẫn được giữ, nhưng câu thơ lung linh hơn, máu thịt hơn, hình ảnh hơn,
lay động lòng người hơn bởi những từ láy được đưa thêm vào như: lung lay, mờ mịt, đằng đẵng, dằng dặc
Người dịch tỏ ra rất am hiểu ngôn ngữ dân tộc Ngôn ngữ trong bản dịch nhìn chung trong sáng, dễ hiểu, ít từ Hán Việt, ít điển cố Vốn từ của người dịch tương đối phong phú, từ ngữ Việt Nam lại có tính chất đa nghĩa, vì thế một
chữ Hán có thể được dịch thành nhiều từ tiếng Việt Thí dụ: từ “du du” khi thì dịch
là “thăm thẳm”, lúc lại dịch thành “dặc dặc”, hay “đau đáu” thật tài tình Người dịch cũng hiểu rất rõ khả năng tu từ phong phú của loại từ láy là loại từ thể hiện sắc
thái dân tộc đậm nét và sử dụng khá nhiều trong bản dịch với nhiều kiểu kết hợp:
láy hoàn toàn (ù ù, ào ào, dõi dõi, dần dần ); láy phụ âm đầu (ngập ngừng, quạnh quẽ, thoi thóp, chông chênh ); láy vần (Hương gượng đốt hồn đà mê mải, Gương gượng soi lệ lại chứa chan) Ngoài ra, bản dịch Chinh phụ ngâm ra đời trong thời
đại lí luận về tu từ học chưa có, nhưng người dịch tỏ ra rất có kinh nghiệm trong việc sử dụng những đặc trưng của tu từ học ngữ âm như việc dùng phụ âm đầu
“đ” kết hợp với âm cuối “-ng” trong những trường hợp cần gây ấn tượng nặng nề, kéo dài (Khắc giờ đằng đẵng như niên; Nhớ chàng đằng đẵng đường lên bằng trời); dùng nhiều từ thanh trắc đi liền nhau để gây ấn tượng khúc mắc, trái ngang (Thiếp chẳng tưởng ra người chinh phụ; Sầu lên ngọn ải oán ra cửa phòng)
Thành công của bản dịch về phương diện ngôn ngữ đã có tác dụng lớn kích thích việc dùng chữ Nôm để sáng tác văn học lúc bấy giờ
3.2 Tính chất ước lệ, tượng trưng:
tác phẩm “tập cổ” Sự truyền tụng rộng rãi của tác phẩm đã cho thấy nhà thơ “tập cổ” không phải vì mục đích tiêu khiển, mà vì yêu cầu của cuộc sống, đáp ứng những vấn đề bức thiết của cuộc sống Mặc dù vậy, việc sử dụng phương pháp
“tập cổ” cũng nói lên đặc trưng của nghệ thuật phong kiến là một nền nghệ thuật
có tính chất ước lệ, tượng trưng
cũng là một nền văn học qui phạm Không phải cuộc sống nào văn học cũng phản ánh, không phải con người nào văn học cũng miêu tả Cuộc sống và con người
mà văn học phong kiến đề cập thường chỉ là cuộc sống, con người thuộc tầng lớp trên của xã hội Cuộc sống của nhân dân lao động, của các tầng lớp “thấp cổ bé miệng” không được đếm xỉa đến Miêu tả, phản ánh hiện thực cuộc sống mang tính qui phạm như thế, văn học phong kiến không thích lối phô diễn có góc cạnh, chân chất, sù sì Nó gạt đi tất cả những gì là cụ thể, sinh động, chỉ giữ lại những gì
là chung nhất, phổ biến nhất, tiêu biểu nhất Và để diễn đạt những gì được giữ lại
ấy, văn học phong kiến tìm đến những công thức có sẵn, những điển cố, điển tích, những từ ngữ, những ẩn dụ, hoán dụ hoa mĩ, quen thuộc Chẳng hạn để miêu tả
vẻ đẹp rực rỡ của người tráng sĩ phong kiến lúc xông pha trận mạc, nhà thơ đã dùng màu đỏ để điểm tô cho chiếc áo trong mối tương quan nổi bật với màu trắng của con ngựa, sắc xanh của cỏ non thơm bên đường, của dòng nước trong như lọc mà thực tế nhiều khi không phải như vậy Ngoại hình đã đẹp thì hành động cũng phải thể hiện sự hiên ngang, dũng cảm, tương ứng với vẻ đẹp bên ngoài:
Giã nhà đeo bức chiến bào, Thét roi cầu Vị ào ào gió thu
Trang 40hay:
Múa gươm rượu tiễn chưa tàn, Chỉ ngang ngọn giáo vào ngàn hang beo
những đặc điểm của nghệ thuật ấy là tính ước lệ, tượng trưng Trong Chinh phụ
ngâm, nghệ thuật ước lệ tượng trưng được sử dụng một cách phổ biến Những
chi tiết ở đây không thể hiểu theo nghĩa xác thực của nó mà phải hiểu theo nghĩa
ước lệ, tượng trưng Chẳng hạn cảnh tiễn đưa của đôi vợ chồng chỉ còn lại một
cử chỉ:
Nhủ rồi tay lại cầm tay, Bước đi một bước giây giây lại dừng
hay kỉ vật được nói đến thường là chiếc thoa, cái gương:
Thoa cung Hán thuở ngày xuất giá, Gương lầu Tần dấu cũ soi chung
Miêu tả cảnh chiến trường đầy chết chóc chỉ bằng một chi tiết:
Hồn tử sĩ gió ào ào thổi, Mặt chinh phu trăng dõi dõi soi
thế cả Thiên nhiên cũng được thể hiện bằng những nét chấm phá thường là hình
thức ẩn dụ của tâm trạng, không cần đến những chi tiết cụ thể, xác thực Thí dụ
nỗi sầu nhớ thiết tha, đau đáu, quặn thắt của người chinh phụ đối với chồng đã
được thể hiện qua cảnh thiên nhiên sau:
Sương như búa bổ mòn gốc liễu, Tuyết dường cưa xẻ héo cành ngô
Giọt sương phủ bụi chim gù, Sâu tường kêu vẳng chuông chùa nện khơi
Nhiều chi tiết về địa điểm, thời gian không thống nhất, thậm chí mâu
thuẫn với nhau nếu xét theo nghĩa xác thực Do đó, cần phải hiểu theo nghĩa
tượng trưng, ước lệ Chẳng hạn, đoạn người chinh phu tiễn chồng, tác giả có nói
đến quê chàng như là ở Hàm Dương (Thiểm Tây) và đi đánh giặc ở Tiêu Tương
(Hồ Nam):
Chốn Hàm Dương chàng còn ngoảnh lại, Khói Tiêu Tương thiếp hãy trông sang
nghĩa là đi từ Bắc xuống Nam Nhưng tiếng trống báo tin giặc lại ở Tràng Thành,
nghĩa là ở phương Bắc Nhớ chồng, người chinh phụ có lần cũng hướng về
phương Bắc:
Non Yên dù chẳng tới miền, Nhớ chàng thăm thẳm đường lên bằng trời
Như vậy, vấn đề tác giả Chinh phụ ngâm quan tâm không phải là người chinh phu
đi đánh giặc ở phương Nam hay ở phương Bắc, mà chính là nỗi nhớ thương của
đôi vợ chồng trẻ khi hạnh phúc lứa đôi bị chia cách Tương tự, những lần ước hẹn
của họ với thời gian và địa điểm cũng không nhất quán nhau Người chinh phụ khi
thì nói: