1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Lịch sử tư tưởng việt nam

272 6 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Lịch Sử Tư Tưởng Việt Nam
Người hướng dẫn Ths. Nguyễn Bảo Kim
Trường học Trường Đại Học An Giang
Chuyên ngành Lịch Sử
Thể loại Luận Văn
Năm xuất bản 2016
Thành phố An Giang
Định dạng
Số trang 272
Dung lượng 3,06 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bên cạnh đó là một hoàn cảnh lịch sử thường xuyên bị sự xâm lược của nước ngoài, thời gian chống ngoại xâm lên đến hơn một nửa thời gian lịch sử, đã tôi luyện sự rắn rõi của con người Vi

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC AN GIANG

Trang 2

PHẦN THỨ NHẤT

CƠ SỞ HÌNH THÀNH, ĐẶC ĐIỂM, KHỞI NGUỒN VÀ CỐT LÕI TƯ TƯỞNG

VIỆT NAM 1.1 CƠ SỞ HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG VIỆT NAM

Thứ nhất, xã hội Việt Nam truyền thống là xã hội nông nghiệp trồng lúa nước

Do nông nghiệp trồng lúa nước phụ thuộc khá nhiều vào thiên nhiên Cho nên đã hình thành

ở người Việt Nam ý thức tôn trọng, sống hài hòa với thiên nhiên Nghề nông nghiệp lúa nước cũng phụ thuộc không ít vào những yếu tố liên hệ mật thiết với nhau như đất, nước, mưa, nắng, hạn hán, lũ lụt, gió, mây, nóng, lạnh… Do vậy đã hình thành ở họ cách tư duy tổng hợp mang tính biện chứng tự phát

Thứ hai, lịch sử dân tộc việt Nam luôn phải chống giặc ngoại xâm

Theo nhà sử học Phan Huy Lê, tính từ cuộc kháng chiến chống quân Tần vào cuối thế kỷ III TCN đến năm 1975, dân tộc Việt Nam đã phải tiến hành 15 cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ Quốc Trong

15 cuộc chiến tranh đó, có 12 cuộc chiến tranh thắng lợi hiển hách, chỉ có 3 cuộc kháng chiến bị thất bại tạm thời dẫn đến ba lần mất nước đau thương đó là: cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Triệu Đà thất bạo vào năm 179 TCN đưa đến thảm họa Bắc thuộc kéo dài hơn 1.000 năm Cuộc kháng chiến chống Minh năm 1406 – 1407 thất bại đưa đến 20 năm đô hộ của nhà Minh (1407 – 1427) Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược vào nửa sau thế kỷ XIX thất bại, dân tộc ta

đã chịu ách đô hộ hơn 80 năm (1858 – 1945) Trong những năm tháng bị kẻ thù đô hộ, dân tộc Việt Nam không chịu khuất phục, đã vùng lên đấu tranh kiên cường, bền bỉ và đã chiến thắng kẻ thù, giành lại độc lập tự do

Theo nhà sử học Phan Huy Lê, dân tộc Việt Nam đã tiến hành 15 cuộc chiến tranh bảo vệ tổ quốc, hơn 100 cuộc khởi nghĩa và chiến tranh giải phóng dân tộc, thời gian chống ngoại xâm cộng lại chiếm đến 12 thế kỷ, chiếm hơn nửa thời gian lịch sử (tính từ thế kỷ III TCN đến nay) Chỉ những số liệu sơ bộ trên, đã cho thấy trên con đường sinh tồn và phát triển, dân tộc Việt Nam phải chống ngoại xâm liên tiếp

Phan Huy Lê còn cho rằng, trong hầu hết trường hợp, nước đi xâm lược lại ớn hơn nước ta nhiều lần, do đó, cuộc chiến đấu vì độc lập tư do của dân tộc ta thường diễn ra tỏng so sánh lực lượng rất chênh lệch, trong điều kiện chiến tranh gian khổ, ác liệt Điều này được chứng minh bởi cuộc kháng chiến chống quân Tần, Hán, Đường, Tống, Nguyên, Minh, Thanh, Pháp, Nhật, Mỹ, Trung Quốc

Vậy, nguyên nhân nào khiến cho các nước lớn muốn xâm lược nước ta? Có thể có nhiều nguyên nhân, nhưng nguyên nhân cơ bản nhất đó là Việt Nam nằm trên một vị thế địa - chính trị quan trọng Việt Nam là nơi nối liền đại lục với hải đảo, đại dương, là đầu mối giao thông giữa Bắc

và Nam, Đông và Tây Từ thời rất xa xưa, dải đất hình chữ S đã là cầu nối, điểm trung chuyển, giao lưu giữa các luồng văn minh, văn hóa Dưới con mắt của người phương Tây, bán đảo Đông Dương là bán đảo Indochine (bán đảo Ấn – Trung), cái gạch nối giưa Ấn Độ và Trung Quốc Việt Nam là nơi đầu sóng ngọn gió, là tiền đồn của vùng Đông Nam Á Xưa nay, từ cổ chí kim, bất kỳ nước nào có tham vọng chinh phục, bành trướng ra vùng Đông Nam Á, đều coi Việt Nam là địa bàn chiến lược

Trang 3

cần phải chiếm lấy Trong ý đồ của bọn xâm lược, chiếm Việt Nam không chỉ để cướp đoạt tài nguyên, mà còn biến xứ này thành bàn đạp để lan tỏa ra các nước Đông Nam Á, tiến vào đại lục và tràn ra đại dương, hải đảo Như vậy, chiếm được Việt Nam sẽ khỗng chế được toàn bộ vùng Đông Nam Á, án ngữ được ba hướng: Nam, Đông và Đông Nam của châu Á

Do vị trí chiến lược quan trọng như vậy, nên dân tộc Việt Nam luôn phải thường trực chống giặc ngoại xâm và kết quả là thời gian tiến hành chiến tranh tốn hết 12 thế kỷ đã chiến tranh thì không thể phát triển bình thường được Sức sản xuất, khoa học kỹ thuật chậm phát triển

Xét về địa thế, Việt Nam nằm trải dài thành hình chữ S, phía Bắc luôn có sự nhòm ngó, thôn tính của Trung Quốc, phía Đông và Nam là biển cả, phía Tây án ngữ bởi dãy Trường sơn Như vậy, xét về binh pháp thì Việt Nam ở vào thế sơn cùng, thủy tận, không có đường rút lui Với địa thế đó, dân tộc Việt Nam muốn tồn tại chỉ có một con đường là liều chết đánh đuổi quân xâm lược điều này quy định một chân lý: để tồn tại, dân tộc Việt Nam phải đánh đến cùng, phải quét sạch quân xâm lược ra khỏi đất nước, quy định bản chất anh hùng, bất khuất của con người Việt Nam Điều này quy định về mặt tư tưởng, chủ nghĩa yêu nước là sợi chỉ đỏ xuyên suốt toàn bộ lich sử tư tưởng Việt Nam Bởi thế, trong tất cả các tư tưởng, tư tưởng đánh giặc, tư tưởng yêu nước, tư tưởng quân sự, ngoại giao của Việt Nam có phần nổi trội hơn

Thứ ba, xã hội Việt Nam nằm trong khung cảnh chung của phương thức sản xuất châu Á

Về kinh tế, ruộng đất thuộc sở hữu công xã và sở hữu nhà nước, nên người sở hữu thực tế, chân chính là công xã và nhà nước Như vậy, trong xã hội Việt Nam thời cổ - trung đại chỉ tồn tại sở hữu tập thể về ruộng đất, không có sở hữu ruộng đất tư nhân Người dân chỉ có quyền sử dụng chứ không có quyền sở hữu tư nhân về ruộng đất Do đó dẫn đến tư tưởng ở đời muôn sự của chung

Về xã hội, công xã nông thôn có tính chất biệt lập, nó giống như những ốc đảo độc lập mỗi làng xã ở Việt Nam không cần liên hệ với bên ngoài nó vẫn tiếp tục tồn tại Xã hội phân chia thành những nguyên tử - làng đồng nhất (cùng sản xuất ra những thứ giống nhau) dựa trên kinh tế gia đình

tự cấp tự túc mang tính cha truyền con nối, nên ít có quan hệ với bên ngoài

Thứ tư, đặc điểm của văn hóa Việt Nam là sự thống nhất trong đa dạng

Dân tộc Việt Nam có nền văn hóa lâu đời, mang bản sắc riêng, đầy sức sống và đã từng có những mặt phát triển cao Ví dụ; nghệ thuật đúc đồng, các tri thức về nông nghiệp, y học, kỹ thuật quân sự… Trong phong tục tập quán, có những phong tục tập quán mang bản sắc dân tộc, duy trì tinh thần cộng đồng Việt Nam là quốc gia đa dân tộc Mỗi dân tộc có vốn văn hóa riêng, tạo nên những vùng địa – tộc người rất phong phú, đa dạng Do yêu cầu chống thiên tai và ngoại xâm, do sự giao lưu, hội nhập văn hóa, các cộng đồng dân tộc Việt Nam đã hình thành một ý thức chung về vận mệnh của cộng đồng, đã chung tay góp sức, đoàn kết một lòng hình thành nên một dân tộc thống nhất với nền văn hóa thống nhất trong đa dạng

Nhìn một cách tổng thể, cấu trúc tư duy truyền thống của người Việt Nam bao gồm bốn yếu

tố cơ bản, đó là yếu tố bản địa, Nho, Phật, Lão Bốn yếu tố này liên hệ mật thiết với nhau Ba yếu tố sau lấy yếu tố thứ nhất làm cơ sở

Bốn yếu tố trên diễn ra sự đan xen bổ sung, thống nhất với nhau:

Trong học thuyết nhân quả, luân hồi của nhà Phật có nhiều điểm tương đồng với quan niệm linh hồn của người Việt cổ Trong các bản luận, kinh, luật của Phật giáo Việt Nam cũng có khái niệm

Trang 4

quan niệm tam phủ trong tín ngưỡng bản địa, quan niệm tam tài của Nho giáo Trên bàn thờ của người Việt có thờ cả Phật, Tiên, Thánh, Tổ tiên… Trong một số chùa cũng thờ cả thần mây, thần mưa, thần sấm, thần chớp, thần đá, thần hổ, thờ các đức ông, các mẫu

Sự hòa quyện giữa bốn yếu tố trên đã hình thành trong con người Việt Nam một quan niệm sống, một lối suy nghĩ tương đối hoàn chỉnh trong đối nhân xử thế

Khác với Nho giáo, Đạo giáo và Phật giáo đều đặt cơ sở trên cá nhân và có chiều hướng bác

bỏ những gì bị áp đặt bởi trật tự kỷ cương cố định của xã hội Nói chung ở Việt Nam, cả ba yếu tố ấy cùng nhập thể khái quát vào ý thức của người dân, được họ điều hòa bằng cách tùy nghi áp dụng vào từng tình huống đặc thù trong cuộc sống

Để có sự quân bình và thanh thoát trong cuộc đời, mỗi người có thể sống theo một số lời giảng của Đạo giáo Nhưng để tổ chức cộng đồng, thiết lập và duy trì phong tục tập quán, nghi thức giao tế xã hội, mỗi người trở thành người Nho giáo Khi đối mặt với khổ não của bản thân và tha nhân, để khuây khỏa, tìm cách vượt qua nó và sống với lòng từ bi cho tới chết, mỗi người có thể là người Phật giáo

Người Á Đông nói chung và Việt Nam nói riêng, hầu như không cảm thấy có nhu cầu phải phân ranh rạch ròi hoặc hòa giải những dị biệt của Nho, Phật, Đạo Về phương diện minh triết tổng thể, mỗi học thuyết đều có những đóng góp cụ thể, thích đáng và thiết yếu để giáo hóa con người, làm nơi nương tựa và cung cấp cho nó cách thông giải khá an tâm khi giáp mặt cuộc đời Thêm nữa, đối với họ, về phương diện thực dụng, mỗi học thuyết đều có khả năng đáp ứng một số khía cạnh nhất định của mỗi tình huống đặc thù

Một cách tổng quát, ta có thể phát biểu rằng, cả ba yếu tố ấy đều không độc quyền đòi hỏi lòng trung thành theo kiểu các tôn giáo độc thần như Do Thái – Ki-tô giáo hoặc đạo Hồi Người phương Đông chấp nhận một cách vô thức hoặc có ý thức sự hòa đồng của tam giáo Theo từng giai đoạn trong cuộc đời, họ rút ra từ mỗi yếu tố những gì được họ cảm thấy thích đáng nhất cho mỗi tình huống cá nhân và từng hoàn cảnh xã hội cá biệt của mình

1.2 ĐẶC ĐIỂM TƯ TƯỞNG VIỆT NAM

Các nhà sử học đã tổng kết, từ thế kỷ III TCN cho đến nay, dân tộc Việt Nam đã tiến hành 15 cuộc chiến tranh giữ nước lớn và khoảng 100 cuộc khởi nghĩa giành độc lập dân tộc Như vậy, tính

từ thế kỷ II TCN cho đến nay, thời giam chống xâm lược của dân tộc Việt Nam lên đến 12 thế kỷ, nghĩa là dân tộc Việt Nam phải dành hơn nửa thời gian cho việc chống ngoại xâm Như vậy, việc chống ngoại xâm là công việc thường trực, cấp bách đối với dân tộc Việt Nam Do hoàn cảnh trên chi phối, nên tư tưởng của dân tộc Việt Nam nói chung gắn liền với những vấn đề thiết thực sát với thực tiễn đó là công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước, cứu lấy con người, giống nòi Điều này quy định tư tưởng chủ yếu của dân tộc Việt Nam là hướng đến vấn đề nhân sinh, con người mà tư tưởng trung tâm là yêu nước

Tư tưởng triết học Hy Lạp – La Mã thường đi từ thế giới quan đến nhân sinh quan, thì tư tưởng Việt Nam thiên về hướng đi từ nhân sinh quan đến thế giới quan Đi từ thế giwois quan đến nhân sinh quan là đi từ rộng đến hẹp, vì con người là một bộ phận của thế giới tự nhiên, nên tư tưởng triết học phương Tây có cơ sở lý luận vững chắc, chặt chẽ Ngược lại, đi từ nhân sinh quan đến thế giới quan, là đi từ hẹp tới rộng (như nhận thức trong Nho giáo: thành ý, chính tâm, tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ), nên có phần thiếu tính hệ thống, thiếu chặt chẽ Nhiều khái niệm trong các học

Trang 5

thuyết du nhập từ bên ngoài thường được cải biến nội dung, gọi là tái cấu trúc (chẳng hạn Nhân, Nghĩa của Nguyễn Trãi) nhằm mục đích xây dựng và bảo vệ đất nước

Do vấn đề cơ bản của triết học Việt Nam khá mờ nhạt, nên cuộc đấu tranh giữ duy vật và duy tâm không trải rộng trên mọi vấn đề Nếu triết học phương Tây thiên về duy vật hướng ngoại (nghiêng về lấy bên ngoài giải thích bên trong) thì tư tưởng Việt Nam lại nghiêng về duy tâm, hướng nội (lấy bên trong để giải thích bên ngoài, theo kiểu Nguyễn Du “Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ”) Sự khác biệt này có cơ sở ở chỗ: ở phương Tây, nhu cầu chinh phục tự nhiên là nhu cầu hàng đầu, cấp bách, nên việc đầu tiên là họ phải tìm hiểu thế giới xung quanh, nghiên cứu giới tự nhiên ở phương Đông và Việt Nam, do quan niệm bản thể vũ trụ có trong mỗi con người, nên vấn đề đầu tiên

là phải hiểu con người, vì hiểu con người là hiểu rõ tất cả

Tư tưởng phương Tây phát triển theo kiểu phân đôi (chủ nô – nô lệ, tư sản – công nhân), nên trong tư tưởng cũng có sự phân đôi thành duy tâm và duy vật khá rõ rệt Ở phương Đông và Việt Nam tư tưởng không phát triển theo hướng phân đôi mà phát triển hướng lưỡng phân, chủ yếu theo quan điểm vạn vật đồng nhất, kgoong có sự vật hiện tượng nào thuần âm hoặc thuần dương, mà luôn

ở trong trạng thái trong âm có dương, trong dương có âm

Mâu thuẫn là đấu tranh và thống nhất của các mặt đối lập, thì phương Tây thiên về đấu tranh, phương Đông lại nghiêng về thống nhất, bình quân, cân bằng trong văn hóa ẩm thực, phương Tây dùng dao, nĩa tượng trưng cho phân tích, mổ xẻ, thì Việt Nam – phương Đông lai dùng đôi đũa tượng trưng cho âm dương và phải cân bằng mới ăn được

Xã hội phương Tây phát triển, vận động theo hướng đi lên, tuần tự, có nhảy vọt, cái sau phủ định cái trước theo hình xoáy trôn ốc Xã hội Việt Nam lấy làng xã làm cơ sở nên mang tính biệt lập, khép kín, bởi vậy, tư tưởng của xã hội Việt Nam phát triển theo kiểu vòng tròn, tuần hoàn Tư tưởng phương Tây có những bước nhảy vọt về chất, phản ánh những cuộc cách mạng trong xã hội Tư tưởng phương Đông – Việt Nam chỉ có sự tuần tự thay đổi về lượng Tư tưởng phương Đông – Việt Nam phản ánh xã hội có thêm có bớt trên bề mặt, còn trong chiều sâu, nền tảng xã hội hầu như vẫn không hề thay đổi, hoặc nếu có thay đổi thì không đáng kể không phải ngẫu nhiên ở Trung Quốc,

Ấn Độ, chế độ phong kiến tồn tài đến hàng ngàn năm

Xã hội phương Tây phát triển mạch lạc rõ ràng thể hiện rõ qua các hình thái kinh tế xã hội, do

đó tư tưởng triết học của chặt chẽ, rõ ràng Xã hội Việt Nam và phương Đông nói chung, các hình thái kinh tế xã hội phát triển không rõ nét, đan xen lẫn nhau nên tư tưởng của phương Đông nói chung, Việt Nam nói riêng mang tính tổng hợp không rõ nét Điều này thể hiện ở chỗ tư tưởng Việt Nam không có một hệ thống khái niệm được định nghĩa rõ ràng, gắn bó chặt chẽ với nhau Ở Việt Nam và phương Đông không có truyền thống định nghĩa, tùy thời điểm, tùy hoàn cảnh mà ý này hay

ý kia được nói ra Hơn nữa, nhiều khi tư tưởng chỉ được bóc tách qua các ngụ ngôn, ẩn dụ Với cách thể hiện này, là cho tư tưởng, triết học bớt khô khan, nhưng lại khiến mỗi người hiểu theo mỗi cách khác nhau

Tư tưởng Việt Nam không chỉ thể hiện qua ngôn ngữ, mà còn qua những hành động, hành vi đối nhân xử thế trong cuộc đời hoạt động của mỗi người Do đó, nghiên cứu tư tưởng Việt Nam, cần phải nghiên cứu triết lý trong hành động, trong võ thuật, lễ hội, phong tục, tập quan, âm nhạc, hội họa, cổ tích, thần thoại Bởi vì đằng sau những hành vi, hành động, những di sản văn hóa vật chất, tinh thần, người xưa muốn gởi gắm lại cho thế hệ sau những triết lý sâu xa Đây là điều cần thiết để nghiên cứu triết lý vô ngôn đã có ở Việt Nam từ lâu

Trang 6

1.1 CƠ SỞ HÌNH THÀNH VÀ ĐẶC ĐIỂM TƯ TƯỞNG VIỆT NAM

1 Tư tưởng Việt Nam là của con người Việt Nam, nhưng con người tạo ra tư tưởng chính là

để nhận thức về thế giới (thế giới tự nhiên, thế giới xã hội và thế giới bản thân) và để ứng xử với thế giới nhằm giải quyết những nhu cầu về sự sinh tồn của con người Như vậy, tư tưởng ra đời là do con người, nhưng trong mối quan hệ trực tiếp với môi trường tự nhiên và môi trường xã hội nhất định, trong một không gian văn hóa và một hoàn cảnh lịch sử cụ thể Tư tưởng Việt Nam được hình thành trong quá trình sống của con người Việt Nam trước một thiên nhiên vừa ưu đãi, vừa khắc nghiệt và trong một hoàn cảnh đất nước thường xuyên bị nạn ngoại xâm đe dọa

Thiên nhiên Việt Nam là một xứ sở nhiệt đới thuộc vành đai châu Á giáo mùa, khí hậu nóng

ẩm và mưa nhiều, thực vật phát triển hơn động vật, nông nghiệp là ngành kinh tế chủ đạo của con người Việt Nam trong trường kỳ lịch sử Nghề nông trồng lúa nước là cơ tầng của văn hóa, văn minh Việt Nam Tuy nhiên, hằng năm Việt Nam đã phải đối mặt với mọi laotj thiên tai như bão lũ và hạn hán Hoàn cảnh tự nhiên đó ngay từ đầu đã tôi luyện con người Việt Nam và hình thành nên những nếp sống, nếp nghĩ, cách thức hành động, ứng xử hài hòa, hiếu sinh, tư duy tổng hợp, biện chứng, khát vọng phồn thực và mơ ước trị thủy, thủy lợi của con người Việt nam Bên cạnh đó là một hoàn cảnh lịch sử thường xuyên bị sự xâm lược của nước ngoài, thời gian chống ngoại xâm lên đến hơn một nửa thời gian lịch sử, đã tôi luyện sự rắn rõi của con người Việt nam, đồng thời hình thành ngay

từ sớm tinh thần cộng đồng, đoàn kết dân tộc, đùm bọc lẫn nhau trong tình “đồng bào”, cũng từ đó

mà ý thức dân tộc ở con người Việt Nam được hình thành sớm Không ở đâu trên thế giới đã ra đời loại hình tín ngưỡng Quốc tổ, Quốc mẫu như ở Việt Nam, cùng những khát vọng Phù Đổng, hoàn kiếm, hiếu sinh, hiếu hòa, khoan dung đến mức “đồng nguyên” như ở Việt Nam Những đặc điểm về hoàn cảnh tự nhiên và lịch sử nói trên là cơ sở bên trong của sự hình thành tư tưởng Việt Nam

2 Mặt khác, Việt Nam lại nằm ở “ngã tư đường của các nền văn minh” (O.Jans’), nơi gặp gỡ tiếp xúc giữa các nền văn hóa Bắc – Nam, Đông – Tây Ngay từ đầu, Việt Nam đã quan hệ với thế giới Đông Nam Á, rồi sau đó là thế giới Tây Nam Á, Đông Bắc Á và thế giới phương Tây, nên bên cạnh các điều kiện bên trong, tư tưởng Việt Nam còn được hình thành trên cơ sở điều kiện giao lưu tiếp xuacs văn hóa với thế giới bên ngoai Lịch sử tư tưởng Việt Nam là lịch sử của quá trình đấu tranh cam go để bảo vệ và phát triển bản sác dân tộc của văn hóa tư tưởng Việt Nam, đồng thời còn phải tiếp thu các học thuyết tư tưởng của nước ngoài để làm phong phú thêm cho nền văn hóa tư tưởng vốn có của dân tộc; là quá trình đấu tranh để thoát lý sự đồng hóa của các thế lực ngoại bang xâm lược và đô hộ nước ta, đồng thời đã “đồng hóa theo chiều ngược lại” những nhân tố tư tưởng đáp ứng được các nhu cầu, nhiệm vụ của lịch sử dân tộc; là quá trình nhào nặn, dung hòa những yếu

tố tư tưởng vốn xa lạ với nhau trên những hoàn cảnh thực tế của đất nước; là quá trình chọn lọc, sắp xếp, cấu trúc lại những yếu tố đã tiếp thu được từ bên ngoài Ngoài ra, trong hành trình tư tưởng ở Việt Nam còn có những nội dung phổ quát của nhân loại được người Việt Nam tiếp thu và sử dụng, tuy không có sự thay đổi hoặc cấu trúc lại, nhưng nó vốn đã và đang chi phối đời sống tinh thần của con người Việt Nam, chỉ đạo hành động của một bộ phận con người Việt Nam, chúng cũng cần phải được xem xét trong quá trình nghiên cứu và học tập về tư tưởng Việt Nam, dù rằng chúng không phải do con người Việt Nam sáng tạo ra hoặc được con người Việt Nam nhào nặn lại Ở đây việc tìm hiểu chúng không phải với tư cách là một bộ phận của tư tưởng Việt Nam mà với tư cách là một cội nguồn của tư tưởng Việt Nam

3 Về đại thể, hệ tư tưởng Việt Nam mang đậm bản sắc dân tộc Việt Nam, không thể lẫn lộn với bất cứ hệ tư tưởng của dân tộc nào khác, nó thấm nhuần những giá trị nhân bản cao cả, chủ nghĩa yêu nước chân chính của con người Việt Nam, nhưng đồng thời cũng có những nhân tố tư tưởng mang ý nghĩa giá trị phổ biến của nhân loại, vì đã biết chắt lọc, tiếp thu những tinh hoa văn hóa tư

Trang 7

tưởng của phương Đông, phương Tây, những hệ tư tưởng hoàn chỉnh và tiên tiến của thời đại Cũng

do đó, hệ tư tưởng Việt Nam có nội dung tương đối phong phú, trong đó có những tư tưởng đã mất đi trong các thời kỳ lịch sử, nhưng cũng có nhiều giá trị tư tưởng lớn được truyền thừa, phát triển trong suốt chiều dài lịch sử của dân tộc, tạo nên những truyền thống văn hóa tư tưởng ổn định của người Việt Nam Chẳng hạn tư tưởng nhân ái, đoàn kết, tư tưởng yêu nước, ý thức cộng đồng, ý thức về bổn phận, nghĩa vụ, tinh thần trọng đạo lý, đạo đức, “trọng nghĩa khinh tài”, yêu quê hương, trọng truyền thống, lòng biết ơn đối với những người có công, thích sống cuộc sống quân bình, hài hòa, yêu thiên nhiên… Tất nhiên, trong hệ tư tưởng Việt Nam cũng tồn tại không ít những tư tưởng lạc hậu do ảnh hưởng bởi những tàn dư cảu xã hội cũ Và dĩ nhiên, trong hệ tư tưởng Việt Nam cũng không thể tránh khỏi sự tồn tại những quan điểm, tư tưởng đối lập nhau, đại diện cho quyền lợi, địa

vị xã hội của các giai cấp, tầng lớp xã hội khác nhau và cũng đã từng tồn tại những tư tưởng khác biệt nhau giữa các vùng miền đất nước Nhưng, nhìn chung, sự đấu tranh giữa các khuynh hướng tư tưởng để phủ định nhau thì không thường xuyên, không có quy mô lớn và nhiều lúc không triệt để, không hình thành các trào lưu tư tưởng rõ rệt Thực tế đó đã làm cho tư tưởng Việt Nam trong thời gian dài phát triển chậm, ít có những biến động lớn Những cuộc đấu tranh của các giai cấp, các giáo phái, các tầng lớp nhân dân trong cộng đồng dân tộc Việt Nam luôn biết dừng lại trước giới hạn còn

có khả năng duy trì khối thống nhất dân tộc, nhất là những lúc có nạn ngoại xâm Ở Việt Nam, các cuộc đấu tranh tư tưởng giữa các giai cấp, các giáo phái thường kết hợp với cuộc đấu tranh dân tộc, cuộc đấu tranh để bỏa vệ văn hóa dân tộc Xu hướng dung hòa cảu các loại tư tưởng là thường xuyên hơn xu hướng bài trừ lẫn nhau Ở Việt nam, đấu tranh giai cấp về mặt tư tưởng cũng vẫn là một động lực thúc đẩy sự tiến bộ tư tưởng xã hội, nhưng bên cạnh đó, cuộc đấu tranh tư tưởng chống ách nô dịch, đồng hóa của các thế lực ngoại bang xâm lược hầu như luôn ở vị trí hàng đầu Bởi vì cuộc đấu tranh ấy có quan hệ đến sự tồn vong của nền văn hóa dân tộc, cho nên nó là một động lực mạnh mẽ, thường xuyên nhất, thúc đẩy sự hình thành và phát triển của lịch sử tư tưởng Việt Nam Qua cuộc đấu tranh đó, bản sắc dân tộc của hệ tư tưởng Việt Nam được xác lập và phong phú dần

Tóm lại, dân tộc Việt Nam có hệ tư tưởng của mình, trong đó có nhiều giá trị quý báu được

kế thừa và phát huy, đó là sản phẩm tinh thần cảu đất nước và con người Việt Nam trong lịch sử Hệ

tư tưởng đó có những đặc điểm riêng về nội dung và phương thức biểu hiện, có sở trường và sở đoản nhất định riêng của mình Đó là hệ tư tưởng Việt Nam

1.2 KHỞI NGUỒN TƯ TƯỞNG VIỆT NAM

1 Con người Việt Nam có mặt trên mảnh đất này cách ngày nay khoảng 50 vạn năm và đã trải qua các giai đoạn văn hóa từ núi Đọ, Thần Sa, Sơn Vi cho đến Hòa Bình, Bắc Sơn, Đa Bút, Quỳnh Văn, Thạch Lạc, Hạ Long, Bàu Tró… thuộc thời đại đồ đá, từ sơ kỳ đá cũ cho đến hậu kỳ đá mới Trong thời kỳ tiền sử, thông qua các loại hình công cụ tìm được của người nguyên thủy, cho thấy tổ tiên người Việt Nam lúc bấy giờ đã có lối tư duy phân loại Sự đa dạng các loại hình công cụ

do người xưa chế tác (mảnh tước, công cụ chặt thô, công cụ hình rìu, rìu đá; công cụ lưỡi ngang, công cụ rìa lưỡi dọc, công cụ rìa lưỡi xung quanh…) cho thấy chúng không chỉ nhằm phù hợp với chức năng sử dụng, không chỉ là chỉ tiêu phát triển về kỹ thuật, mà còn nói lên trình độ tư duy của con người Việt Nam, lối tư duy phân loại Trong nền văn hóa Hòa Bình cách ngày nay trên 1 vạn năm, người Việt cổ đã phát minh ra nông nghiệp (bao gồm các hoạt động trồng rau, đậu, bí, khoai, củ

từ, lúa nước…), điều đó chứng tỏ họ đã có được những nhận thức khá sâu sắc về thế giới tự nhiên, về quy luật sinh trưởng của thực vật Chính trong thời kỳ đá mới này, tư duy và quan niệm của người Việt cổ phát triển khá cao Các hình thái ý thức này đã nảy sinh như quan niệm về sự tồn tại của linh

Trang 8

hồn, tư duy về tín ngưỡng vật tổ, tín ngưỡng nông nghiệp, tư duy về mỹ cảm, về hình học, về chữ viết, về số đếm, về thiên văn, về lịch pháp…

Các loại hình nghệ thuật về hội họa và điêu khắc cũng đã ra đời Người ta biết vẽ khắc trên đá

và trên đất sét, đã biết tô màu và vẽ màu trên đồ gốm Qua các hoa văn hình chữ S được vẽ lặp đi lặp lại xung quanh đồ đựng biểu thị sự tuần hoàn, sự chuyển động của thời gian, sự đắp đổi của mùa màng, thể hiện tư duy về thời gian, về vũ trụ Qua các hình khắc trang trí trên đồ gốm cho thấy ở họ

đã nảy sinh ý thức về nhịp điệu và tính chất cân xứng Với sự xuất hiện các công cụ đá có chuôi tra cán hoặc có nấc để buộc cán cho thấy tư duy về lô gics đã nảy sinh Với những vòng trang sức bằng

đá được khoan theo lối tách lõi, những chuỗi hạt đá được khoan từ hai đầu cho thấy con người lúc bấy giờ đã có ý niệm chính xác về đường tròn, về chuyển động quay…

2 Sang thời kỳ sơ sử, với các văn hóa Tiền Đông Sơn (Phùng Nguyên, Đồng Đậu, Gò Mun)

và Đông Sơn, thuộc thời đại kim khí, cho thấy tư duy nhận thức ở người Việt cổ đã phát triển khá cao Qua các tượng bò và tượng gà tìm được cho thấy người ta đã quan sát thế giới bên ngoài một cách tinh tế và đã tái hiện chúng bằng bàn tay hết sức khoeix léo, vững vàng Ccamr xúc về cái đẹp của họ đã thể hiện trên đồ trang sức, đồ gốm và cả trên những công cụ đá Nhiều công cụ của họ được mài nhẵn bóng, cân xứng và rất tinh xảo Phần lớn những vòng trang sức, những hạt chuỗi của

họ đều làm bằng ngọc néphỉite, có mày xanh biếc hay trắng muốt, được khoan tiện tinh vi, với nhiều kiểu dáng khác nhau rất phong phú Phải nói rằng, cảm xúc về cái đẹp và tài năng nghệ thuật của cư dân Tiền Đông Sơn thể hiện rõ ràng nhất trên đồ gốm Đồ án trang trí trên gốm giai đoạn này vô cùng phong phú Người ta ưa thích các họa tiết trang trí được tạo nên bằng đường cong và tất cả chúng đều thể hiện một vẻ đẹp uyển chuyển, thanh thoát, dứt khoát mà vẫn mềm mại, nhịp nhàng, không đơn điệu Có thể nói rằng cư dân Tiền Đông Sơn đã làm chủ được nghệ thuật nhịp điệu, thể hiện ở tính đối xứng chặt chẽ của các loại hoa văn Cư dân Đông Sơn đã biết đến nhiều dạng đối xứng khác nhau, mà theo cách phân loại hình học ngày nay người ta gọi là đối xứng gương, đối xứng trục (hay đối xứng quay) và đối xứng tịnh tiến Trong các dạng đối xứng đó, đáng chú ý là họ đã nắm được nguyên lý đối xứng trục và thể hiện chúng một cách vững vàng, chính xác Dạng đối xứng này

ít có hình mẫu trong tự nhiên (khác với đối xứng gương thì có nhiều hơn) Có thể chuyển động quay tròn, do sự phát triển của bàn xoay đồ góm, các kiểu khoan tiện hay của việc xe sợi là những gợi ý đầu tiên cho việc sáng tạo ra các đồ án hoa văn có dạng đối xứng trên Nhưng từ đó cho đến sự xuất hiện của ý niệm đối xứng quay và đến việc tạo nên những đồ án phức tạp như đồ gốm Tiền Đông Sơn là cả một quãng đường khá xa Trong một chừng mực nhất định, có thể gọi đó là tư duy khoa học, mà họ đã có những suy nghĩ, nhận xét, tính toán về các hình đó Trên đồ gốm của họ, các họa tiết hoa văn được lặp lại 6 lần, chạy kín khắp một vòng quanh thân, chiếm 6 khoảng bằng nhau Có khả năng họ đã phát hiện ra sự liên quan giữa bán kính và đường tròn trong việc chia đường tròn làm

6 phần đều nhau (vì bán kính hình tròn bằng dây cung của 1/6 đường tròn) Sau này trên một số trống đồng Đông Sơn cũng thấy có 6 chiếc thuyền bao quanh tang trống, phải chăng chúng được bắt nguồn

từ truyền thống nhận thức khoa học nói trên Như vậy, cư dân Tiền Đông Sơn không chỉ phát triển nhận thức về hình học mà cả những tư duy mang tính chính xác Tất nhiên, chúng được phát triển từ kinh nghiệm, nhưng cũng có thể đã đạt đến một trình độ tổng kết nào đó Cư dân Tiền Đông Sơn đã dần nắm vững kỹ thuật luyện kim và chế tác đồ đồng thau Họ đã biết phối hợp giữa đồng và thiếc để tạo ra những công cụ và vũ khí thích hợp như chiếc rìu, con dao có yêu cầu sử dụng khác nhau Trong đời sống tinh thần, quan niệm về thế giới bên kia của cư dân Tiền Đông Sơn đã trở nên phức tạp, thể hiện ở cách thức chôn cất người chết và đồ tùy táng chôn theo người chết Dáng chú ý là ở di

Trang 9

chỉ Lũng Hòa (Vĩnh Phú) thuộc giai đoạn cuối Phùng Nguyên, đầu Đồng Đậu, cac mộ táng được chôn quay đầu về hướng Đông (hơi chếch Nam) thể hiện một nhận thức rõ ràng về phương hướng,

về không gian Qua đồ án trang trí trên gốm của cư dân Tiền Đông Sơn, nhiều nhà nghiên cứu cho đó

là những bức tranh trừu tượng thể hiện nhận thức của con người về thế giới tự nhiên, về chu trình biến chuyển của thời gian Qua các đồ án hoa văn hình chữ S hay đường xoắn nối liền nhau, được lặp

đi lặp lại và chạy quanh thân đồ gốm có thể đó là biểu hiện về nhận thức của con người đối với chu

kỳ mùa màng, về sự biến đổi tuần hoàn của đời sống thực vật liên tục và không cùng Một nhà nghiên cứu của Liên Xô là B.A.Rybakov đã nhận ra trong hoa văn đồ gốm của các cư dân nông nghiệp tại nhiều nơi trên thế giới biểu hiện một mô hình vũ trụ gồm 3 thế giới: thế giới trên trời, thế giới con người và thế giới dưới đất Khi nghiên cứu đồ gồm Phùng Nguyên ở Việt Nam, chúng ta cũng bắt gặp những cách trang trí thể hiện “mô hình 3 thế giới” đó như sau: ở miệng đồ đựng Phùng Nguyên là những hoa văn đường chéo (biểu hiện của mưa), hay hình tròn (biểu hiện mặt trời) hoặc hình bán nguyệt (mặt trăng); còn phần giữa là những hoa văn hình chữ S rời hoặc nối đuôi nhau (biểu hiện không gian của con người, có sự biến chuyển của mùa màng, thực vật); phần dưới (cho đến đáy) là loại văn thừng hay văn chải, phân biệt với phần trên bằn một đường vạch (có thể đây là biểu hiện của thế giới dưới đất) Đồng thời qua các truyền thuyết, huyền thoại của người Việt về Lạc Long Quân, Long Vương hay Thủy Tinh, của người Mường về vua sấu (bua khú) cho thấy có thể ở

họ đã nảy sinh một thế giới thứ 4 là thế giới dưới nước Tín ngưỡng phồn thực ở cư dân Phùng Nguyên cũng đã xuất hiện với việc thờ sinh thực khí qua bức tượng đá về một người đàn ông có giới tính phóng đại được tìm thấy ở di chỉ Văn Điển Ngoài ra, ở các di chỉ thuộc văn hóa Đồng Đậu, người ta còn tìm thấy một số di vật bằng xương mà các nhà nghiên cứu cho là biểu hiện cua hình tượng dương vật

3 Đến giai đoạn văn hóa Đông Sơn, cùng với sự ra đời của nhà nước Văn Lang, trình độ tư duy của con người thời này rất phát triển Cư dân Đông Sơn có những phát triển lớn trong kỹ thuật sản xuất Họ là những người đúc đồng thành thạo, không những đã tạo ra được những công cụ, vũ khí nhỏ, mà còn đúc được cả những thạp đồng và trống đồng với kích thước lớn, hoa văn trang trí tinh xảo Cư dân Đông Sơn còn là những người trồng lúa nước với chiếc cày có lưỡi bằng đồng thau

do trâu bò kéo, đã biết đến các hoạt động thủy lợi, đắp đê, khai mương dẫn nước vào ruộng

Qua các hình hoa văn trên trống đồng cho thấy khi tái hiện thế giới hiện thực, người Đông Sơn đã không chú ý đến chi tiết của đối tượng được miêu tả, mà chỉ chú ý đến những đặc điểm cơ bản và thể hiện chúng bằng những đường nét ước lệ, cách điệu nhưng sinh động, mà người ta gọi là

“thần thái Đông Sơn” Họ thường diễn tả người và động vật trong tư thế mặt bên Cũng có khi họ kết hợp giữa mặt bên với mặt trước Như chim bay ngang nhưng cánh lại xòe rộng giống như nhìn từ trên cao xuống, hoặc người múa có đầu quay ngang nhưng tay lại giang thẳng ra hai bên Cách diến

tả đó gợi nhớ đến những hình người trong hội họa cổ Ai Cập tất nhiên, đó không phải là sự học tập,

mà là bước đi chung trong buổi đầu của lịch sử nhân loại Người Đông Sơn còn dùng một thủ pháp biểu hiện khác nữa mà có nhà nghiên cứu gọi là thủ pháp ‘X quang” để miêu tả hiện thực Chẳng hạn như ngôi nhà sàn mái cong có mái rủ xuống gần sát mặt đất, nhưng những người ngồi bên tỏng đều được thấy rõ giống như là nhà không có mái

Không dừng lại ở sự sao chép hiện thực, các hình trên trống đồng Đông SƠn còn mang ý nghĩa biểu trưng nào đó Theo nhà khảo cổ học người Pháp M.Colani thì ngôi sao nhiều cánh ở giữa mặt trống Đồng Đông Sơn chính là hình tượng của mặt trời và các vành người, chim, hươu trên mặt

Trang 10

trống đồng đều xoay quanh ngôi sao đó theo chiều ngược kim đồng hồ, tức là trùng hợp với chiều quay của quả đất quanh mặt trời

Theo nhà nghiên cứu Bùi Huy Hồng, bề mặt các trống đồng Ngọc Lũ và Hoàng Hạ còn có những thiên đồ (tức là đồ hình về vũ trụ), cũng có thể dùng làm nhật quỹ để đo bóng mặt trời, lại còn

có thể dùng làm tấm lịch theo hệ thống dương lịch nếu tính theo năm tiết khí, và có tính chất âm lịch nếu theo tháng và ngày CŨng theo Bùi Huy Hồng, nếu làm thực nghiệm đo bóng mặt trời trên mặt trống đồng người ta có thể xác định rõ được các điểm Đông chí, Hạ chí, Xuân phân và Thu phân Cũng theo ông, người thời Hùng Vương đã chia đêm và ngày thành 10 giờ, mối giờ lại được chi nhỏ

ra thành 10 khắc

Theo V.Goloubev, hình những chiếc thuyền được khắc trên tang trống đồng Đông Sơn có liên quan đến nghi lễ tiễn hồn người chết về với thế giới bên kia CŨng có nhà nghiên cứu đã liên hệ hình những chiếc thuyền trên trống Đồng Đông Sơn với tục đua thuyền phổ biến ở vùng Đông Nam

Á Có nhà nghiên cứu đã liên hệ những hình trên mặt trống Đồng Đông Sơn với một số nghi lễ nông nghiệp và hội cầu mùa

Một biểu hiện rõ nét của tín ngưỡng phồn thực trên đồ đồng Đông Sơn là hình ảnh những cặp nam nữ giao hoan trên nắp thạp đồng Đào Thịnh, những hình dương vật và âm vật nằm giữa mặt trống đồng được cách điệu hóa bằng các tia dáng mặt trời và các hoa văn “lông công” xen giữa các tia sáng Tục thờ âm vật và dương vật trong các nghi lễ cầu mùa của cư dân Đông Sơn vẫn còn được bảo lưu trong tục rước nõ nường ở một số làng Bắc Bộ về sau

Ngoài ra, còn có nhiều nghi lễ nông nghiệp khác ở vùng Đông Nam Á có thể được tìm thấy hình ảnh trên trống đồng Đông Sơn như tục hát đối đáp nam nữ, tục đua thuyền, tục thả diều… Trống đồng Đông Sơn còn có chức năng là trống cầu mưa, trống cầu được nước mùa của cư dân nông nghiệp trồng lúa nước trong một số trống đồng Đông Sơn có tạc hình 4 con cóc Cho đến nay, trong quan niệm của người Việt Nam vẫn còn ghi nhận hiện tượng “cóc kêu trời mưa” và có truyền thuyết cho rằng “con cóc là cậu ông trời”, “cóc nghiến lợi thì trời đổ mưa”

Thời Đông Sơn cũng là giai đoạn hình thành nhiều truyền thuyết, huyền thoại về khai thiên lập địa, về thần thoại suy nguyên, về các anh hùng trận mạc và anh hùng văn hóa Những nhận thức nói trên dựa vào nguồn tư liệu các tộc người ở Việt Nam Đặc biệt là của người Việt và người Mường Mặc dù chúng đã bị vỡ vụn dưới thời Bắc thuộc, nhưng qua các “mảnh vụn” còn lại cho thấy tính chất đa thần giáo thể hiện rõ nét trong các thần thoại thời dựng nước Đây cũng là một điều hoàn toàn hợp quy luật trong lịch sử nhân loại, đó là các hệ thống thần thoại thường xuất hiện khi xã hội bước vào thời kỳ hình thành giai cấp và nhà nước

Từ vũ trụ luận, tín ngưỡng cũng như nghệ thuật của cư dân Đông Sơn, có thể nhận ra một đặc điểm của tư duy thời này là tính lưỡng phân – lưỡng hợp Tư duy lưỡng phân – lưỡng hợp là một loại

tư duy phân loại chia hai – hợp một đã xuất hiện khá lâu (từ thời đại đồ đá) và có thể nhận ra ở nhiều vùng khác nhau trên thế giới Nhưng ở Đông Nam Á, tư duy lưỡng phân – lưỡng hợp đã tồn tại lâu dài, tạo thành một đặc điểm khá nổi bật Tư duy lưỡng phân – lưỡng hợp của người Đông Sơn biểu hiện ở nhiều cặp biểu tượng đối lập như trời – đất, đực – cái, cha – mẹ, trên – dưới, cao – thấp, nóng – lạnh, sáng – tối, núi – biển, Long Quân – Âu Cơ (rồng – chim)… Tư duy lưỡng phân – lưỡng hợp vốn là một kiểu phân loại nguyên thủy (có người cho rằng chúng bắt nguồn từ việc phân hóa chức năng của hai bán cầu đại não dẫn đến việc đối lập trái – phải) dần dần đã chi phối tư tưởng của cư dân Đông Sơn về nhiều mặt

Trang 11

Thời Đông Sơn cũng là giai đoạn tập hợp các bộ lạc để hình thành nhà nước, nên về tư tưởng

xã hội không thể không có sự đối lập giữa một bên là ý thức phân tán bộ lạc và một bên là ý thức thức thống nhất quốc gia và chúng không thể không biểu hiện thành những tư tưởng Nhưng ý thức thống nhất đã thắng thế để hình thành nên quốc gia – nhà nước và đó là ý thức “liên làng” để hình thành nên tổ chức “siêu làng”, chúng là cội nguồn của tư tưởng cộng đồng và tinh thần Tổ quốc luận của con người Việt Nam về sau

Dựa vào nguồn tư liệu thần thoại, còn có thể nhậ ra những quan niệm về nhân sinh quan của con người Việt cổ tỏng thời sơ sử trên các phương diện cá nhân, gia đình và xã hội Chẳng hạn, trong truyền thuyết về Lạc Long Quân – Âu Cơ đã nói lên quan niệm về cội nguồn chung của cộng đồng dân tộc ở Việt Nam và tinh thần bình đẳng giữa các dân tộc trên đất nước Việt Nam, ở đây không có

sự phân biệt về trước – sau, hơn – kém, văn minh – lạc hậu Đó là tư tưởng rất tiến bộ và quan niệm

về sự bình đẳng dân tộc đó sẽ trở thành cốt lõi chi phối mọi hành động trong cuộc sống con người Việt Nam ngay trong thời kỳ tiến lên để sống thành gia tộc, làng xã, nhà nước Cũng qua nguồn tư liệu truyền thuyết đó cho thấy tổ tiên của người Việt Nam lúc bấy giờ đã vượt khỏi đời sống mông muội dã man từ rất sớm, bằng cách kết hợp lại với nhau thành các gia đình là những tế bào căn bản cho đời sống xã hội văn minh Tiếp đến, truyền Trầu Cau cũng là một bằng chứng cho thấy quan niệm về tình và nghĩa ở đây đã có sự phức tạp, không còn đơn sơ như thời mông muội Người em đã buộc phải bỏ nhà ra đi vì sợ ở lại có thể sẽ dẫn tới sự loạn luân, bởi xã hôi Việt Nam vòa thời đó đã vượt qua giai đoạn bầy đàn Truyện Trầu Cau còn là biểu trưng hàm ngụ về sự siêu hóa của một cổ tục hôn thú đang còn tiềm ẩn trong tiềm thức của dân tộc, một tâm thức xã hội đang trên đường tiến hóa Cũng về vấn đề gia đình, ta còn thấy phản ánh qua hai truyện khác là truyện Chử Đồng Tử - Tiên Dung và truyện Sơn Tinh – Thủy Tinh Ở đó đã biểu lộ về sự bình đẳng tuyệt đối của con người trước vấn đề hôn nhân, không phân biệt sang hèn và sự tôn trọng đối với những tình cảm chân thực,

nó nói lên tinh thần bình đẳng đang thống trị và chi phối các quyết định về hôn nhân và cuộc sống gia đình của người dân Việt cổ xưa Bởi vì gia đình là một bộ phận quan tọng trong việc cấu trúc nên

xã hội Vì vậy, nó đã được tổ tiên ta xây dựng, bồi đắp và đặt ra những tư tưởng nhằm hướng dẫn cho việc thành lập và tổ chức cho cuộc sống gia đình một cách chặt chẽ Qua đó cho thấy về bước tiến bộ của tổ chức gia đình phụ hệ Việt Nam thể hiện ở việc tổ chức ngày hội đưa cô dâu Mỵ Nương

đi về nhà chồng và sau khi việc cưới hỏi đã xong các nghi lễ thì gái phải theo chồng Đồng thời qua câu chuyện Mỵ Châu – Trọng Thủy lại cho biết về những tàn dư của chế độ mẫu hệ trong đời sống gia đình qua tục gửi rể sau cưới hỏi

Cùng với việc tổ chức gia đình một cách vững vàng, người Việt thời cổ xưa đã ra sức chăm lo đến việc dựng làng, dựng nước Làng dựng trước, nước dựng sau Trong việc dựng nước, tổ tiên ta

đã vượt thắng thiên nhiên, trừ bỏ những dị tộc gây trở ngại trong cuộc sống Trong việc dựng nước, huyền thoại đã đưa ra ba truyện là diệt Ngư Tinh, Hồ Tinh và Mộc Tinh Qua đó cho thấy ý nghĩa của việc dựng nước buổi ban đầu rất cam go Khi dựng được nước rồi thì vấn đề phải làm sao giữu cho được nước Trong hệ thống thần thoại thời huyền sử đã để lại một câu chuyện vô cùng đặc sắc là truyện Phù Đổng Thiên Vương Hình tượng về người anh hùng giữ nước ở đây đã được tượng trưng bằng cậu bé làng Dóng, một đứa trẻ mới lên ba, không biết nói biết cười, nhưng trước sự kêu gọi của nhà vua, trước nhu cầu chống ngoại xâm và để đáp ứng lại lòng mong mỏi của toàn dân, thì người anh hùng ba tuổi này đã lập tức vươn vai lớn lên để trở thành một bậc thiên tướng mạnh mẽ, đứng ra dẹp giặc giữ nước, đánh bại giặc Ân, tức nhà Ân Thương phương Bắc Khi bổn phận đã hoàn thành

và giặc dữ đã bị đánh tan tành, thì Ngài liền cưỡi ngựa bay lên trời, không cần phải được trả công

Trang 12

bằng danh lợi cho cá nhân Câu chuyện có rất nhiều ý nghĩa, đã nói lên một tinh thần giữ nước chí công vô tư và công thành thân thoái, một hành động vô cầu tuyệt đẹp có thể làm gương sáng cho hậu thế

Giữ nước là bổn phận trong thời chiến, còn việc quản trị đất nước luôn là bổn phận của người lãnh đạo quốc gia trong bất cứ thời đại nào Vậy, người lãnh đạo đất nước phải có những đức tính gì, việc tuyển chọn người lãnh đạo phải theo những phương thức như thế nào? Đó là điều mà cổ nhân đã gửi gắm trong câu truyện Bánh Chưng Bánh Dầy Tất nhiên, đức tính của người lãnh đạo trong truyện này chỉ là đức tính của người lãnh đạo trong xã hội nông nghiệp mà bổn phận chính là phải làm sao phân chia đất đai một cách vuông vắn cho người dân để ai nấy đều có đất để cày cấy, sản xuất, rồi lại phải điển chế hóa pháp luật thế nào cho tròn trịa để người dân có thể an cư lạc nghiệp

Để tuyển chọn một người lãnh tụ như thế, vua đã phải áp dụng một thể thức hết sức bình đẳng và dân chủ Truyện kể rằng nhà vua cho triệu tập các hoàng tử, avf không phân lớn nhỏ, đích trưởng, nói rằng, hễ ai làm những món ăn ngon để dâng cúng tổ tiên một cách đắc ý nhất thì sẽ được chọn làm người kế vị trong khi những người anh đi tìm các loại sơn hào hải vị thì người em mang tên Lang Liêu (đứng hàng thứ chín), vì nghèo nhất nên không có tiền mua cao lương mỹ vị, nhưng đã được thần nhân báo mộng cho biết nên lấy gạo nếp là những thứ nguyên liệu sẵn có trong dân gian để làm

ra bánh chưng hình vuoog và bánh dầy hình tròn đem dâng cho vua cha Khi món ăn dâng lên thì bánh chưng bánh dầy của Lang Liêu lại được chọn là hạng nhất và vị hoàng tử thứ chín này đã được vua cha truyền ngôi Sở dĩ Lang Liêu được chọn làm hạng nhất bởi vì bánh chưng bánh dầy là tượng trưng cho tài quản trị trong việc chăm lo đời sống cho dân (vuông tròn là qui và củ, những dụng cụ giúp đo đạc chính xác, biểu trưng của một xã hội đã được tổ chức và cai trị hợp lý); đồng thời cũng đáp ứng được lòng hiếu thảo mà tổ tiên đòi hỏi Đó là hai đức tính cần phải có của một người quản trị đất nước Thể thức chọn lựa người trị quốc như vậy là hết sức bình đẳng Về mặt biểu tượng, Bánh Chưng hình vuông tượng trưng cho Đất là không gian gián cách, Bánh Dầy hình tròn tượng trưng cho thời gian miên trường Người được chọn để điều khiển quốc gia ngày xưa không những cần biết phải làm sao quản trị đất nước để cho người dân được ăn no và sống trong an bình, mà còn phải quán triệt cả chuyện không gian với thời gian Phải biết rằng, không gian và thời gian không hề phân cách Không gian và thời gian cũng chỉ là một Đó là cái căn nguyên của thuyết lý “Vũ Trụ - Vạn vật đồng nhất thể”

Nói đến việc giữ nước không thể không kể đến truyện Mỵ Châu – Trọng Thủy Đây là câu truyện nhắc nhở cho muôn đời về bài học phải hết sức cảnh giác trong hoạt động bảo vệ Tổ quốc và phải chăm lo vun trồng nhân tố quyết định trong sự nghiệp giữ nước Đồng thời, trong truyện này còn đặt ra vấn đề là phải xử sự một cách đúng đắn các bổn phận chằng chéo về tình nghĩa đối với cha con, chồng vợ và với nghĩa vụ đối với nước non Bở do không biết sử sự đúng đắn các mối quan hệ trên đây cho nên đã dẫn tới kết cụ hết sức thê thảm là nhà vua mất nước, công chúa bị vua cha chém đầu và ngay cả kẻ thù lợi dụng tình nghĩa vợ chồng của công chúa để lấp đầy tham vọng ngông cuồng thì cuối cùng cũng phải đâm đầu xuống giếng mà chết ý nghĩa chính của câu chuyện là khi người ta không suy nghĩ đắn đo thì kết quả sẽ rất nguy hại: ông vua vì đã không suy nghĩ đúng về việc trị nước nên để mất nước; nhười vợ chỉ biết chung thủy một cách mù quáng với chồng mà không nghĩ đến nghĩa vụ đối với đất nước nên cuối cùng phải đền tội phản quốc; còn kẻ lạm dụng tình cảm vợ chồng mà phản bội tình nghĩa phu thê, phụ tử thì rồi cuối cùng cũng phải chết một cách

bi thảm

1.3 CỐT LÕI TƯ TƯỞNG VIỆT NAM

Trang 13

Trong Báo cáo chính trị tại Đại hội Đai biểu toàn quốc lần thứ V (1982) của Đảng Cọng sản Việt Nam đã khẳng định: “Người Việt Nam vốn có lòng yêu nước thiết tha, có tinh thần dân chủ, bình đẳng trong quan hệ giữa người với người: thương nước, thương nhà, thương người, thương mình là truyền thống đậm đà của nhân dân ta Nhờ có tinh thần yêu nước và dân chủ ấy mà trong suốt quá trình lịch sử bốn ngàn năm, dân tộc ta đã làm nên những chiến công oanh liệt”

Yêu nước – dân chủ - nhân ái chính là cốt lõi tư tưởng Việt Nam

1.3.1 Tư tưởng yêu nước

Tinh thần yêu nước của người Việt Nam – niềm tự hào to lớn và chính đáng của dân tộc ta, xưa nay đã được mọi người trong nước cũng như ngoài nước suy ngẫm, bình luận, khẳng định và biểu dương

Từ rất lâu rồi, chúng ta nghiệm thấy lòng yêu nước của nhân dân Việt Nam đã trải dài suốt cả tiến trình lịch sử dân tộc và hết sức mãnh liệt, đến mức khiến cho nhiều người hiểu đó như là một đức tính bẩm sinh của cộng đồng các dân tộc Việt Nam

Nhưng do đâu mà các thế hệ người Việt Nam đã nối tiếp nhau trong lịch sử ra sức nồng nàn yêu nước và sẵn sàng chịu đựng muôn nghìn hy sinh gian khổ để xây dựng và giữ gìn đất nước? Do đâu mà tư tưởng yêu nước đã trở thành sợi chỉ đỏ xuyên suốt trong toàn bộ lịch sử tư tưởng Việt Nam?

Có thể nhận ra hai nguồn gốc lịch sử chính của chủ nghĩa yêu nước Việt Nam

Thứ nhất, đất nước ta đã xuất hiện từ rất sớm Nhà nước Văn Lang, nhà nước đầu tiên trong lịch sử Việt Nam ra đời cách đây gần 3.000 năm Tiền của công cuộc dựng nước đầu tiên đó là cả một quá trình lâu dài phát triển lực lượng sản xuất, tổ chức xã hội, phát triển văn hóa mà mốc mở đầu sớm nhất hiện được biết ít ra là 50 vạn năm cách ngày nay, thuộc thời đại đồ đá và tiếp tục kéo dài mãi về sau sang thời đại kim khí (đồ đồng thau, rồi sau đồ sắt) với nền văn hóa Phùng Nguyên cách ngày nay khoảng 4.000 năm và Đông Sơn cách ngày nay khoảng 2.700 năm

Chính trong quá trình tạo tác văn hóa tiến đến dựng nước dài lâu, bền bĩ và công phu đó mà cộng đồng người việt Nam thời cổ xưa đã có được cuộc sống ngày một sung túc, tươi đẹp và cũng đồng thời họ gắn bó chặt chẽ với nhau hơn Tinh thần cộng đồng thương yêu “bầu ơi thương lấy bí cùng, tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn” đã nảy nở trên cơ sở của sự nghiệp phát triển kinh

tế và văn hóa chung, đã dần cắm rễ sâu vào đời sống xã hội và thâm nhập vào tận ngóc ngách tâm hồn của từng thành viên cộng đồng Đồng thời tinh thần yêu nước của con người Việt Nam, của tổ tiên chúng ta cũng đã xuất phát từ những nỗ lực lao động cần cù sáng tạo để vun đắp nên nền văn minh sông Hồng và nhà nước Văn Lang thời các vua Hùng CÔng cuộc xây dựng đó càng thành công tốt đẹp bao nhiêu thì niềm tự hào về giống nòi, về bản thân lại càng cao và càng mạnh mẽ bấy nhiêu Cũng từ đó, chủ nghĩa yêu nước Việt Nam càng có điều kiện để hình thành sớm

Càng yêu mến đất nước của mình, vốn là thành quả do sự dày công xây dựng mới có được, người Việt Nam càng thấm thía với tình yêu quê hương, nghĩa đồng bào và càng thương yêu nhau trước những tai biến do các thế lực ngoại tộc gây ra cho dân tộc ta Sách Lĩnh Nam chích quái đã phản ánh vế những nỗi uất ức và căm hờn của nhân dân ta “không được yên sống như xưa” mỗi khi các “đế” phương Bắc ‘tuần thú” xuống phương Nam Dân gian không chỉ vùng Phù Đổng hay núi Sóc, mà cả nước xưa nay vẫn còn truyền tụng công đức của Thánh Gióng cưỡi ngựa sắt, bứt tre ngà đánh đuổi giặc Ân tàn ác Tổ tiên ta đã thắm thiết yêu nước, một đât nước do chính tự bàn tay khối

óc của mình xây dựng nên, từ đó họ càng yêu nước một cách mãnh liệt và mỗi khi đất nước bị xâm lăng thì họ sẵn sàng chịu đựng mọi hy sinh gian khổ để đấu tranh giữ nước

Trang 14

Thứ hai, nhìn đại thể, lịch sử nước ta là cả một chuỗi dài đấu tranh chống ngoại xâm, bởi đất nước ta nằm ở vị trí ngã ba đường, nên đã phải luôn đối đầu với mọi tai ương thử thách Tính toán sơ

bộ, từ cuộc Kháng chiến chống Tần ở thế kỷ III TCN cho đến cuộc Kháng chiến chống bành trướng Trung Quốc vừa qua, dân tộc ta đã phải tiến hành 15 cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc mang quy mô

cả nước, đã tiến hành hàng trăm cuộc khởi nghĩa, trong đó có hơn 10 cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc mang quy mô lớn thời gian chống ngoại xâm trong lịch sử Việt Nam cộng lại lên đến 12 thế kỷ, chiếm hơn một nửa thời gian lịch sử Chỉ với những số liệu tổng hợp đó cho thấy nạn ngoại xâm là một nguy cơ gần như thường trực đối với đất nước ta

Hơn nữa trong hầu hết trường hợp, nước đến xâm lược ta đều là những nước lớn hơn ta gấp nhiều lần Đó là những đế chế lớn mạnh thời cổ trung đại, những cường quốc đế quốc chủ nghĩa khét tiếng thời cận hiện đại

Trong lịch sử thế giới, có nhiều nước, kể cả những nước lớn, dân tộc đông, cũng có lúc bị giặc ngoài chiếm đóng như dân tộc Hán đã từng bị quân Mông Cổ, quân Mãn Thanh thống trị mỗi lần kéo dài mấy trăm năm Nhưng có lẽ khó có những nước nào giống như nước ta, những dân tộc nào giống như dân tộc ta là đã làm bấy nhiêu cuộc khởi nghĩa chống lại ách đô hộ, đã làm bấy nhiêu cuộc chiến tranh để giải phóng dân tộc, để chống xâm lược Đặc biệt, đó lại là những cuộc khởi nghĩa và chiến tranh trực diện đương đầu với những cường quốc to lớn hơn mình gấp mấy chục lần! Cái chuỗi dài khởi nghĩa và chiến tranh ấy tất nhiên đã góp phần nhào nặn nên tâm hồn Việt Nam,

mà trước hết là xây dựng nên một tâm lý, một tư tưởng, một chủ nghĩa yêu nước hết sức rắn rõi, kiên trì và nếu thiếu ffi điều đó thì từ lâu đất nước ta đã bị xóa hẳn khỏi bản đồ thế giới, dân tộc ta đã bị biến thành dân tộc khác

Chính sự nghiệp dựng nước và sự nghiệp giữ nước, mặt nào cũng đẹp đẽ ấy, đã phối hợp với nhau tạo thành động lực làm nên truyền thống yêu nước, tư tưởng yêu nước của dân tộc ta Chúng đã tạo nên một tinh thần vô cùng cao quý, làn nền cho lịch sử dân tộc, hơn thế nữa còn tạo tác ra chính lịch sử, chính dân tộc, chứ không phải chỉ để giải thích lịch sử dân tộc

Nội dung của tư tưởng yếu nước Việt nam rất phong phú: đó là ý thức cộng đồng về một tổ tiên, là ý thức về một cộng đồng dân tộc, ý thức về một Tổ quốc, quê hương, làng xóm, là ý thức về khí thiêng, sông núi; là khát vọng về một cuộc sống hòa bình, hạnh phúc, bình đẳng giữa các dân tộc’

là ý chí quyết tâm chiến đấu đến cùng để bảo vệ nền độc lập của dân tộc mình, bảo vệ cương giới, lãnh thổ của Tổ quốc, của quê hương, xóm làng, bảo vệ cuộc sống yên bình, tự do cho nhân dân mình Tư tưởng yêu nước Việt Nam vì thế mang tính chất chính nghĩa và nhân dân sâu sắc, là khát vọng “không có gì quý hơn độc lập tự do” Tư tưởng yêu nước Việt Nam, đồng thời cũng mang tính chất tập thể, tính chất dân chủ và nhân dân sâu sắc, đó là “giặc đến nhà đàn bà cũng đánh”m là :Thiên vương ba tuổi đã anh hùng”, là tinh thần quyết chiến của “Hội nghị Diên Hồng”, là “chúng chí thành thành”

Chính tư tưởng yêu nước đó là một nguồn động lực kỳ diệu, đã giúp nhân dân ta, dân tộc ta vượt qua những thác ghềnh nguy hiểm, đồng thời nó cũng đã hạn chế bớt những tác dụng tiêu cực của các hệ ý thức ngoại nhập DO đó, trong thời điểm cực thịnh ở Việt Nam, Nhân nghĩa của Nho giáo biến thành “Yên dân” Phật giáo đi vào Việt Nam đã mất dần tính chất “xuất thế” để biến thành

“nhập thế” Đạo giáo đi vào giới trí thức Việt Nam đã biến thành cách ứng xử khôn ngoan trước thời thế nhiễu nhương, đó là một cách “tị thế” mang tính tích cực

1.3.2 Tư tưởng dân chủ

Trang 15

Tư tưởng dân chủ cũng là một di sản tinh thần và nét tính cáh có nguồn gốc sâu xa từ trong điều kiện hình thành và phát triển của đất nước Việt Nam Một đất nước không rộng, người không đông, lại nằm sát cạnh một đế quốc đất rộng, người đông, lại có khả năng đồng hóa rất ghê gớm, là

mố đe dọa thường xuyên với Việt Nam trong suốt lịch sử tồn tại của mình Trong hoàn cảnh như vậy, con người càng phải quý trọng nhau và đoàn kết với nhau, gắn bó với tập thể và có ý thức cộng đồng sâu sắc và không thể không có ý thức dân chủ, bình đẳng với nhau Mặt khác, đặc điểm của lịch sử nước ta là không trải qua sự phát triển của chế độ chiếm hữu nô lệ, tỏng khi đó những tàn dư của chế

độ công xã nông thôn được bảo lưu một cách lâu dài Mặt tích cực của kết cấu kinh tế - xã hội đó là

nó đã góp phần tạo nên và gìn giữ được nhiều quan hệ cộng đồng dân chủ, truyền thống đoàn kết, thương yêu, đùm bọc trong tình nghĩa bà con, xóm làng Hơn nữa, nhân dân ta cũng đã có một quá trình đấu tranh giai cấp lâu dài nên họ rất quý tọng những giá trị dân chủ

Trong khi Nho giáo chia con người ra thành thứ bậc, kẻ trọng người khinh, chia ra quân tử, tiểu nhân, thì từ lâu nhân dân ta đã khẳng định: “Hơn nhau tấm áo manh quần, cởi ra ai cũng trần truồng như ai” Đạo lý cơ bản của nhân dân ta là: “Trọng người người lại trọng thân; khinh đi khinh lại như lần trôn quang” Trong khi Nho giáo đề cao vương quyền thì nhân dân ta chỉ xem đó là chuyện được thua, chẳng có mệnh Trời nào hết: “Được thì thì làm vua, thua thì làm giặc” Trong khi Nho giáo cho “đàn bà là thứ khó dạy, gần họ thì họ nhờn, xa họ thì họ oán”, thì nhân dân ta cho rằng:

“Lệnh ông không bằng cồng bà”, “Cha sinh không bằng mẹ dưỡng”, “Thuận vợ thuận chồng tát biển Đông cũng cạn” Trong khi Nho giáo chủ trương con phải noi theo chí cha thì nhân dân ta bảo: ‘Con hơn cha là nhà có phúc” Trong khi Nho giáo cho rằng dân chúng là hạng “tiểu nhân” phải lao động

để nuôi hạng người “quân tử” (quý tộc) và phải chịu sự cai trị của “quân tử”, thì nhân dân ta lại bảo:

“Đẩy thuyền và lật thuyền cũng là dân”, ‘Bao giờ dân nổi can qua, con vua thất thế lại ra quét chùa”…

Có thể nói, nội dung tư tưởng dân chủ của nhân dân ta rất phong phú Nó là nguồn động lục mạnh mẽ thúc đẩy họ tỏng cuộc đấu tranh lâu dài chống phong kiến Tư tưởng dân chủ đó góp phần ngăn chặn sự thâm nhập cso tính chiều sâu của những mặt tiêu cực từ hệ ý thức Nho giáo vào trong đời sống xã hội và phong tục nếp sống của nhân dân ta Thậm chí ngay cả sự tác động của chính quyền trung ương đối với làng xã cũng không phải dễ dàng: “Phép vua thua lệ làng”

1.3.3 Tư tưởng nhân ái

Tư tưởng nhân ái cũng là một giá trị tinh thần đẹp đẽ của dân tộc ta Tư xa xưa, ở người Việt Nam “thương người như thể thương thân” đã trở thành câu nói cửa miệng và thấm sâu vào tiềm thức của nhân dân lao động nước ta, rồi được cố định hóa thành một thứ tâm lý của quần chúng

Tình thương người như thương mình đáng tự hào đó của nhân dân lao động nước ta đương nhiên không phải do bẩm sinh, mà nó có cơ sở về lịch sử, xã hội nhất định: đó là từ những công xã nông thôn, trong chế độ ruộng đất công, trong những làng cùng họ, trong tình lân lý thắm thiết – dấu vết cảu thời cồng đồng nguyên thủy xa xưa; đó là từ hàng chục thế kỷ chung lưng đấu cật, gian khổ

và anh dũng khai phá giang sơn, chinh phục thiên nhiên vừa ưu đãi cũng vừa khắc nghiệt, bền bĩ và anh dũng đấu tranh chống những thế lực ngoại xâm tàn bạo dai dẳng Từ vị trí của mình, từ kinh nghiệm của bản thân mà nhân dân lao động nước ta đã nói lên châm ngôn đơn giản nhưng thiết thực,

cụ thể và sâu sắc, đó là: thương người ngư thể thương thân Nếu không thương yêu nhau, giuos đỡ, cưu mang nhau, đùm bọc lẫn nhau thì họ không thể nào sống nổi trước thiên tai địch họa triền miên được

Trước cảnh đời bất công tàn ác, họ cám cảnh cho thân phận con người của họ Bị tước mất quyền sống, bị chà đạp về thể xác, bị vùi dập về tinh thần, họ thấy thương mình và thương những

Trang 16

người cùng cảnh ngộ như mình, thương người như thương mình, thông cảm với nhau đến mức ‘một con ngựa đau cả tàu không ăn cỏ” và sẵn sàng “nhường cơm sẻ áo” cho nhau, “lá lành đùm lá rách”,

“chị ngã em nâng” Tư tưởng thương người như thương mình được nhân dân lao động nước ta gìn giữ và chuyển tiếp qua các thời đại trở thành một truyền thống tố đẹp của dân tộc Việt Nam

Nguyên Tổng Bí thư Lê Duẩn đã từng nói: Không có lòng nhân ái thì không thể có lòng yêu nước, thương dân được” Hơn nữa, lòng nhân ái không chỉ là cơ sở của lòng yêu nước của nhân dân

ta, mà nó còn là cơ sở của lòng thiết tha yêu chuộng hòa bình và tình hữu nghị với các dân tộc trên thế giới của nhân dân ta

Trong khi Nho giáo đời sau lấy lễ nghĩa thay cho tình nghĩa, khiến cho quan hệ giữa người với người, thậm chí giữa những người ruột thịt với nhau bị ràng buộc một cách khô cứng, “bất cận nhân tình”, chỉ cần lễ hậu, thì đối với người Việt Nam lại lấy tình thương yêu làm cơ sở cho cách thức xử thế Nhân dân ta bảo nhau: “Vị tình vị nghĩa, không ai vị đĩa xôi đầy” Ở Việt Nam, người ta thường nhắc đến nhiều thứ tình: tình cha con, mẹc con, tình chồng vợ, tình anh em, tình bà con thân thuộc, tình hàng xóm láng giềng, tình thầy trò, tình bạn bè, tình đồng hương, tình đồng châu , đồng bào, đồng chí, tình người… tất cả đều bắt đầu bằng chữ tình, mặc dù thân sơ có khác nhau Tình sẽ đưa đến nghĩa “Tình trước thì nghĩa sau”, “tình sâu thì nghĩa nặng” tình luôn gắn với nghĩa cho nên gộp lại mà gọi chung là tình nghĩa Bình thường thì quý trọng nhau, lễ độ với nhau; “Lời nói chẳng mất tiền mua, lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau” Trong trường hợp xích mích với nhau, buộc phải dùng đến lý lẽ phải trái thì người Việt nam bao giờ cũng đặt ‘tình trước lý sau”, làm sao cho ‘hợp tình, hợp lý”, không để mang tiến là “bất cận nhân tình”, “cạn tàu ráo máng” Trong cuộc sống, người ta không tha thứ những chuyện ‘phụ tình bạc nghĩa”, ‘đổi trắng thay đen”, ‘lá mặt lastrais”, mà rất trọng những người “thủy chung như nhất”, “trọn vẹn nghĩa tình” Đó là đạo đức của người Việt Nam trong việc xử thế, nó xuất phát từ tư tưởng nhân ái vốn có của dân tộc ta

Tóm lại, yêu nước – dân chủ- nhân ái, đó là những nội dung cơ bản của tư tưởng Việt Nam,

là những giá trị tinh thần truyền thống của dân tộc ta Nó đã đóng góp một vai trò hết sức tích cực cho sự trường tồn của dân tộc Việt Nam, hình thành nên những nét tính cách của con người Việt Nam Chính trên cơ sở những tư tưởng côt sloix này của dân tộc mà ông cha ta đã tiếp thu, thâu hóa, nhào nặn những cái hay cái đẹp của văn hóa khu vực và nhân loại, hạ chế những mặt tiêu cực của hệ

tư tưởng thống trị ngoại lai Tất nhiên, trong suốt một thời gian dài tiếp xúc với hệ tư tưởng phong kiến phương Bắc, tì không thể tránh khỏi có những lúc do sự hạn chế về ý thức dân tộc, giai cấp thống trị nước ta đã rập khuôn hệ tư tưởng phong kiến nước ngoài mà thiếu đi sự phê phán nó, nên

đã dẫn đến những hạn chế trong tư tưởng dân tộc

1.1.1 Cội nguồn tư tưởng chính trị Việt Nam thời phong kiến

1.1.1.1 Khái quát Nho giáo Trung Quốc thời cổ đại

Trang 17

Nho gia, Nho giáo là những thuật ngữ bắt nguồn từ chữ “Nho” Theo Hán tự, “Nho” là chữ

“nhân” (người) đứng cạnh chữ “nhu” (cần, chờ đợi) Nho gia còn gọi là nhà Nho, người đã đọc thấu sách thánh hiền, được thiên hạ trọng dụng để dạy bảo người đời để ăn ở cho hợp với luân thường đạo

lý Trước thời Xuân Thu, nhà Nho được gọi là “Sĩ’, chuyên học văn chương và lục nghệ để góp phần trị vì đất nước Đến đời mình, Khổng Tử đã hệ thống hóa những tư tưởng và tri thức trước đây thành học thuyết, gọi là Nho học hay Nho giáo

Cơ sở của Nho giáo được hình thành thời Tây Chu Từ đầu thời Tây Chu, nhà Chu đã chủ trương dùng “đức” để trị nước Chu Công Đán còn đặt ra lễ, nhạc, luật, lệnh, chủ trương phải “làm sáng cái đức và cẩn thận về hình phạt” Do đó, Chu Công Đán được coi là người đặt cơ sở đầu tiên cho tư tưởng Nho gia Đến thời Xuân Thu, xã hội loạn lạc, Khổng Tử phát triển tư tưởng của Chu Công, hệ thống hóa và tích cực truyền bá các tư tưởng đó Chính vì thế, người đời sau coi ngài là người sáng lập ra Nho giáo

Thời Xuân Thu, Đức Khổng Tử đã san định, hiệu đính và giải thích bộ Lục Kinh gồm

có Kinh Thi, Kinh Thư, Kinh Lễ, Kinh Dịch, Kinh Xuân Thu và Kinh Nhạc Về sau Kinh Nhạc bị thất lạc nên chỉ còn năm bộ Kinh, thường được gọi là Ngũ Kinh Sau khi Đức Khổng Tử mất, học trò của ngài tập hợp các lời dạy để soạn ra cuốn Luận Ngữ Học trò xuất sắc nhất của Khổng Tử là Tăng Sâm, còn gọi là Tăng Tử, dựa vào lời thầy mà soạn ra Đại Học Sau đó, cháu nội của Khổng Tử là Khổng Cấp, còn gọi là Tử Tư viết ra cuốn Trung Dung Đến thời Chiến Quốc, Mạnh Tử đưa ra các

tư tưởng mà sau này học trò của ông chép thành sách Mạnh Tử Bốn sách sau được gọi là Tứ Thư và cùng Ngũ Kinh hợp lại làm 9 bộ sách chủ yếu của Nho giáo – bộ kinh điển của Nho giáo mà nho gia gối đầu và sĩ tử phải học tập để chuẩn bị khoa cử Từ năm 221 TCN trở về trước thường gọi là Nho giáo tiên Tần (trước đời Tần), Khổng giáo hay tư tưởng Khổng-Mạnh

Ngũ Kinh

Kinh Thi, gồm 300 bài thơ sưu tập từ thế kỷ XI tới thế kỷ VI TCN do sử quan các nước chư hầu, các nhạc sư vương triều Chu biên tập lại Nội dung chia làm:

Phong: chỉ phong tục, phần lớn là thơ dân dã

Nhã: các bài ca trong cung đình

Tụng: thơ về sinh hoạt xã hội và nhạc ca tông miếu

Kinh Thi rất có giá trị về nghệ thuật và sử liệu Ban đầu chỉ được gọi là Thi, sau vì Nho gia tôn lên hàng kinh điển nên gọi là Kinh Thi

Kinh Thư, còn gọi là Thượng Thư Sách ghi chép các lời bảo ban và khuyên răn của nhà vua thuộc ba triều đại Hạ, Thương, Chu Tương truyền, Khổng Tử duyệt và xếp thành 100 thiên nhưng

về sau nguyên bản bị cháy trong lửa đốt của nhà Tần, Tới thời Hán Võ đế, phát hiện một bản Thượng Thư viết bằng chữ khoa đẩu trong vách nhà cũ của Khổng Tử Ban đầu chỉ gọi là Thư, từ đầu thời Chiến Quốc tới nay, Nho gia tôn là Kinh Thư

Kinh Lễ và Kinh Nhạc, gồm những lời bàn luận đối đáp của các nho gia thời Chiến Quốc về nghi lễ và phong tục, tôn giáo, tế tự, hiếu hỉ Quan điểm chủ yếu cốt ở lòng thành kính Còn Nhạc là

để giúp cho Lễ được long trọng Kinh Nhạc bị cháy gần như toàn bộ trong lửa của Tần Thủy Hoàng, chỉ còn một thiên “Nhạc ký” chép trong Kinh Lễ

Trang 18

Kinh Dịch, cuốn sách không bị Tần Thủy Hoàng đốt Truyền thuyết vua Phục Hy (4477 –

4363 TCN) xét lẽ Âm Dương biến hóa mà đặt ra quy luật biến dịch của nhân sinh vũ trụ, gồm bát quái chồng lên nhau thành 64 quẻ và 384 hào Đây là tác phẩm triết học sâu xa và quan trọng của Nho giáo, cùng thường được dùng làm sách bói Khổng Tử đọc nhiều lần tới nỗi sách đứt lề ba lần

mà còn thở than rằng: “Giá trời cho ta thêm vài năm nữa để học Chu Dịch đến nơi đến chốn, mới khỏi mắc lỗi lớn vậy” Theo truyền thuyết, Khổng Tử nương theo những lời giảng của người xưa mà viết thêm lời Truyện cho mỗi quẻ

Kinh Xuân Thu, đây mới đích thực là tác phẩm do chính Khổng Tử viết về Sử theo lối biên niên với ý nghĩa hai mùa Xuân Thu chỉ cho một năm Dựa vào sử liệu cũ về các biến cố xảy ra giữa thiên tử và các chư hầu từ năm 722 đến năm 481 TCN, Khổng Tử chép vắn tắt, cân nhắc từng câu chữ với quan điểm chính trị “Chính Danh, định phận”, chủ yếu tôn vua nhà Chu và xác định giá trị chính tà trong mỗi hành động của từng nhân vật liên quan Người đời sau cho rằng, “Người nào được ngài khen một câu thì vinh như mặc áo cổn (áo lễ của vua), kẻ nào bị chê một câu thì nhục như chịu tội búa rìu” Chính Khổng Tử cũng nói, “Hiểu ta là tại kinh Xuân Thu chăng, kết tội ta cũng tại kinh Xuân Thu chăng?”

Tóm lại, trong những lời dạy của Khổng Tử, Ngũ Kinh có vai trò rất lớn

Tứ Thư

Đại Học, sách dạy về luân lý, dành cho nho sinh trên 15 tuổi đã vào bậc cao đẳng Sách do Tăng Sâm, học trò của Khổng Tử ghi theo lời của thầy và chia thành 10 chương Sách triển khai ba điều cốt yếu là minh đức, thân dân, chí ư chí thiện, và tám điều chuyên chú là cách vật, trí tri, thành

ý, chính tâm, tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ

Trung Dung, sách gồm những lời của Khổng Tử dạy cho học trò rồi được cháu nội là Khổng Cấp, hiệu là Tử Tư, học trò của Tăng Sâm chép lại và hệ thống hóa tư tưởng Trung Dung của Khổng

Tử Tử Tư dẫn lời giảng của Khổng Tử rằng: “Trung hòa là tính tự nhiên của trời đất, Trung Dung là đức hạnh của con người” Trung là chính giữa, không lệch về bên nào, Dung là bình thường, không thái quá, không bất cập Cao thấp, dễ khó, cảnh ngộ nào cũng có thể lấy thái độ Trung Dung mà cảm thụ và ứng xử Trung là chính đạo của thiên hạ: Dung là định luật của thiên hạ Người theo đạo Trung Dung cần Trí để hiểu rõ sự lý, Nhân để biết điều lành mà làm, Dũng để có khí cường kiện mà tiến hành tới cùng

Luận Ngữ, sách ghi lại dung mạo, phong thái và lời bàn luận của Khổng Tử khi dạy học trò hoặc nói với người đương thời Nội dung đề cập tới đủ loại vấn đề như triết học, chính trị, tôn giáo, cách tiếp nhân xử thế và tâm lý người đời Sau khi Khổng Tử qua đời, các đệ tử nhớ lại những lời ngài đã dạy bảo và cùng nhau ghi chép, trong đó còn có những câu do đệ tử của ngài nói ra Đây là cuốn kinh điển chủ yếu của học thuyết Khổng Tử

Mạnh Tử, sách do môn đệ của Mạnh Tử ghi chép tư tưởng của thầy và được ông đích thân duyệt lại Sách luận đàm về những đề tài nổi bật trong học thuyết của Mạnh Tử, gồm: con người tính bổn thiện; tồn tâm, dưỡng khí, trì chí; quan điểm dân vi quý; trị quốc bằng thuyết Nhân chính

Nho giáo đã phát triển qua nhiều thời đại khác nhau, mỗi giai đoạn đều có những người đại diện cho nó mà Khổng Tử, Mạnh Tử, Tuân Tử được coi là những Đại Nho ở thời Trung Quốc cổ đại

1.1.1.2 Tư tưởng Khổng Tử

Khái quát thân thế, sự nghiệp Khổng Tử

Trang 19

Khổng Tử (551 – 479 TCN) tên là Khâu, tự là Trọng Ni, người nước Lỗ (tỉnh Sơn Đông ngày nay) Khổng Tử sinh ra trong một gia đình quan võ của triều đình nước Lỗ, có học vấn uyên bác Ông sống trong cảnh xã hội loạn lạc triền miên, vua chúa chém giết nhau để xưng hùng, xưng bá, chuyên lo hưởng thụ, luân thường, đạo lý xã hội bị xáo trộn, ác thiện khó phân biệt Khổng Tử muốn đem tài sức của mình để giúp các thế lực cầm quyền bình thiên hạ

Thời trẻ, Khổng Tử đã từng làm Ủy lại (kế toán), Thừa điền (quản lý chăn nuôi gia súc) cho

họ Quý Tôn ở nước Lỗ, nhưng phần lớn thời gian ông mở trường dạy học Năm 50 tuổi, Khổng Tử được vua Lỗ cử làm Trung đô tể, chức quan đứng đầu kinh thành, năm sau giữ chức Tư khấu (tương

tự như Thượng thư bộ Hình, nay tương đương với Bộ trưởng bộ Tư pháp) Sau 3 năm hoặc 4 năm ông được thăng lên quyền thủ tướng (theo cách gọi ngày nay) Vì không hài lòng với cách trị nước

và thái độ đối xử của vua Lỗ, Khổng Tử rời khỏi đất nước mình, đi đến các nước Vệ, Tống, Trần, Thái, Tề, Sở… mong được tiến thân nhưng không được toại nguyện Sau 13 năm chu du các nước, đến năm 68 tuổi (năm 484 TCN), Khổng Tử lại về nước Lỗ dạy học Tương truyền, trước sau số học trò của Khổng Tử có đến 3.000 người, trong đó có 72 người thành đạt, sử sách thường gọi là “thất thập nhị hiền” Đồng thời với việc dạy học, Khổng Tử còn chỉnh lí, biên soạn các sách Thi, Thư, Lễ, Nhạc, Dịch, Xuân Thu Thời Tần Thủy Hoàng với chính sách “đốt sách, chôn nho”, sách của Khổng

Tử không còn được là bao Trong đó số sách Nhạc bị thất truyền, 5 loại sách còn lại người đời sau sưu tầm, bổ sung trở thành 5 tác phẩm kinh điển của nhà Nho, được gọi chung là Ngũ Kinh

Khổng Tử từ trần, thọ 73 tuổi Mộ của ông nay ở Khổng Lâm, cách huyện Khúc Phụ 3 cây

số, thuộc tỉnh Sơn Đông Trước đó, Khổng Tử đã tổng kết cuộc đời của mình: “Ta mười lăm tuổi để chí vào việc học, ba mươi tuổi đã vững chí; bốn mươi tuổi tâm trí sáng suốt, không còn nghi hoặc về đạo lý nữa, năm mươi tuổi biết được mệnh trời; sáu mươi tuổi nghe điều gì là hiểu ngay; bảy mươi tuổi lòng ta muốn gì cũng không hề sái phép” Bảy ngày trước khi giã từ cuộc thế, ngài nói với Tử Cống, môn đệ duy nhất còn ở bên cạnh rằng: ‘Thiên hạ loạn từ lâu mà không thấy có ông vua nào chịu theo lời khuyên của thầy Thầy sắp đi đây” (Nguyễn Ước 2009 Tr 288)

Những lời nói của Khổng Tử và những câu hỏi của học trò của Khổng Tử được chép lại thành sách Luận Ngữ Đến đời Tống sau này, Luận Ngữ trở thành một tác phẩm trong Tứ Thư

Nội dung tư tưởng của Khổng Tử

Về mặt triết học

Do ít quan tâm đến vấn đề nguồn gốc của vũ trụ nên Khổng Tử đã thể hiện một thái độ không

rõ rệt về trời đất, quỷ thần Một mặt ông cho rằng trời chỉ là giới tự nhiên, trong đó bốn mùa thay đổi, trăm vật sinh trưởng; nhưng mặt khác, ông lại cho rằng trời là một lực lượng có thể chi phối số phận và hoạt động của con người, do đó con người phải sợ mệnh trời

Đối với quỷ thần, một mặt Khổng Tử tỏ thái độ hoài nghi khi nói rằng: Chưa biết được việc thờ người, làm sao biết được việc thờ quỷ thần, chưa biết được việc sống, làm sao biết được việc chết, nhưng mặt khác, ông lại coi trọng việc cúng tế, tang ma và cho rằng tế thần xem như có thần

Trang 20

“Nhân” một mặt là lòng thương người, điều mà mình không muốn thì đừng làm cho người khác, trái lại, mình muốn lập thân thì giúp người khác lập thân, mình muốn thành đạt thì cũng giúp người khác thành đạt Đối với bản thân, muốn thực hiện được điều Nhân thì phải biết kiềm chế mình làm theo đúng Lễ, nếu không hợp với Lễ thì không nhìn, không hợp với Lễ thì không nghe, không hợp với Lễ thì không nói, không hợp với Lễ thì không làm Ngoài ra, Nhân còn bao gồm các nội dung khác như cung kính, nghiêm túc, thành thật, dũng cảm, rộng lượng… Như vậy, Nhân là một phạm trù rất rộng, hầu như đồng nghĩa với đạo đức Đánh giá vai trò của đức Nhân, Khổng Tử cho rằng nếu tâm của con người luôn hướng về “Nhân” thì không bao giờ con người nghĩ đến chuyện phiến loạn, do đó miệng không nói bậy mà thân không dấn vào việc ác Đối với người cầm quyền, đức Nhân như một thành trì vững chắc để giữ gìn và bảo vệ những gì họ đã đạt được

Bên cạnh Nhân, Khổng Tử còn rất chú trọng đến Lễ, nhưng Lễ theo Khổng Tử không phải là một tiêu chuẩn đạo đức hoàn toàn độc lập, mà là một vấn đề luôn luôn gắn liền với Nhân Trong mối quan hệ giữa Nhân và Lễ, Nhân là gốc, là nội dung, còn Lễ là biểu hiện của Nhân: trong các lễ xa xỉ chẳng bằng tiết kiệm, trong lễ tang, đầy đủ mọi nghi thức chẳng bằng thương xót Người không có lòng Nhân thì thực hành Lễ sao được? Nói về Lễ thì không phải chỉ có lụa ngọc mà thôi

Lễ không chỉ là biểu hiện của Nhân mà Lễ còn có thể điều chỉnh đức Nhân cho đúng mực: cung kính mà không biết Lễ thì mệt nhọc, cẩn thận mà không biết Lễ thì nhút nhát, dũng cảm mà không biết Lễ thì làm loạn, thẳng thắn mà không biết Lễ thì làm phật ý người khác Lễ ở Khổng Tử

là những phong tục, tập quán, những quy tắc quy định trật tự xã hội và cả thể chế pháp luật nhà nước như: sinh, tử, tang, hôn, tế lễ, triều sính, luật lệ, hình pháp…

“Nghĩa”, theo nghĩa đen là thích hợp, hành động thích hợp với Nhân, hợp với đạo lý của Nho giáo, đối lập với lợi Nghĩa tức là thể hiện Nhân bằng hành động Khổng Tử xem Nghĩa là tiêu chuẩn của mọi hành động Người quân tử chuyên chú theo điều Nghĩa, không mưu lợi lộc, chỉ vì làm sáng đạo mà không tiếc công sức Khổng Tử nói: Người quân tử rành về điều Nghĩa, kẻ tiểu nhân rành về điều lợi

“Trí” được hiểu là sự minh mẫn nói chung để phân biệt, đánh giá con người và tình huống, qua đó xác định cho mình cách ứng xử cho phải đạo Theo Khổng Tử, phải có Trí, con người mới đạt được đức Nhân, nên không thể là người có Nhân lại thiếu Trí Khổng Tử cho rằng tri thức là tối thượng và Trí không phải ngẫu nhiên mà có, mà đó là kết quả của quá trình học hỏi

“Dũng”, với Khổng Tử, người muốn đạt Nhân chỉ có Trí thôi chưa đủ, mà cần phải có dũng khí nữa Ông khẳng định: kẻ Nhân tất có Dũng, nhưng người Dũng chưa chắc có Nhân Người có Dũng không phải là kẻ ỷ vào sức mạnh, vì lợi ích mà suy nghĩ và hành động bất chấp đạo lý Người Nhân có Dũng phải là người có thể tỏ rõ ý kiến của mình một cách cao minh, có thể hành động một cách thanh cao khi vận nước loạn lạc, khi người đời gặp phải hoạn nạn Người Nhân có Dũng mới tự chủ được mình, mới quả cảm xả thân vì Nghĩa, lập Nhân và đạt Nhân Khi cơn thiếu thốn cực khó không nao núng làm mất nhân cách của mình, khi đầy đủ sung túc không ngả nghiêng xa rời đạo lý Hơn thế, người Nhân có Dũng sẽ sẳn sàng vì Nhân mà sát thân, chứ không phải giữ mạng sống của mình mà hại người

Về chính trị - xã hội

Nếu thịnh đức của trời đất là sinh thành, là chí thiện, thì cái gốc của con người là Nhân, nhờ

đó mà dân tốt, nước yên, thiên hạ bình trị Nhưng xã hội thời Khổng Tử, người ta sống không theo đạo lý của con người nữa: trật tự lễ nghĩa xã hội xáo trộn, đạo đức suy vi, vua không ra vua tôi không

Trang 21

ra tôi, cha không xứng danh cha, con không sống đúng đạo làm con, nhân nghĩa, trung, tín, hiếu, thành kính… lu mờ, đảo lộn Để cải biến xã hội đó, Khổng Tử đưa ra học thuyết “Nhân trị” và

“Chính danh định phận”, đó là hoài bão, ý nguyện kinh bang tế thế, gần như suốt đời của ông Dẫu cho người đời cười chê là người “biết việc chẳng làm được mà vẫn làm”, cho đến cuối đời, khi đã gắng hết sức mà không thành công, ông phải ngửa mặt lên trời cao mà an ủi mình “đó là mệnh trời”

Trung thành với nguyên lý đạo đức cơ bản trong triết học của mình, Khổng Tử phản đối việc nhà cầm quyền dùng pháp chế, hình phạt trị dân mà chủ trương “Nhân trị” Nguyên nhân khiến cho

xã hội loạn lạc là do “Danh, Thực” rối loạn, xã hội đã xa rời đạo lý nhân nghĩa Muốn ổn định trật tự

xã hội, ông chủ trương phải giáo dục đạo đức và thực hiện chủ nghĩa “Chính Danh định phận”

Khổng Tử cho rằng sự thay đổi của xã hội, làm thiên hạ rối ren không phải là nguyên nhân một sớm một chiều mà là một quá trình bắt nguồn từ một mối, đó là sự sa đọa của chính quyền Vì vậy, để khôi phục trật tự xã hội, Khổng Tử chủ trương thực hiện thuyết “Chính Danh” Ông cho rằng: trong xã hội, mỗi vật mỗi người đều có một công dụng nhất định, nằm trong một mối quan hệ nhất định, Mỗi vật, mỗi người đều có một địa vị nhất định tương ứng với nó là một danh nhất định Mỗi danh đều có một tiêu chuẩn riêng Vật nào, người nào mang danh nào phải thực hiện cho bằng được những tiêu chuẩn của danh đó, nếu không phải gọi bằng danh khác

Khổng Tử đã giải thích “Chính Danh” là làm mọi việc cho ngay thẳng “Chính Danh” thì người nào có địa vị, bổn phận chính đáng của người ấy, trên dưới, vua tôi, cha con trật tự phân minh Vua lấy Lễ mà khiến tôi, tôi lấy Trung mà thờ vua Vua cho ra vua, tôi cho ra tôi, cha cho ra cha, con cho ra con Đó là một nước thịnh trị, Lễ, Nghĩa, Nhân, Đức, Danh phận vẹn toàn Muốn trị nước, trước tiên phải sửa cho chính danh, nếu không chính danh thì lời nói sẽ không đúng đắn, lời nói không đúng đắn sẽ dẫn tới việc thi hành sai Cho nên nhà cầm quyền xưng danh thì phải đúng với phận với nghĩa, đã xưng đúng với danh phận thì phải tùy theo đó mà làm

Khổng Tử chủ trương chia xã hội thành những quan hệ Mối quan hệ gọi là “Luân” Có 5 quan hệ chính (ngũ luân) là vua tôi, cha con, chồng vợ, anh em, bạn bè (quân thần, phụ tử, phu phụ, huynh đệ, bằng hữu) Mỗi quan hệ lại có những tiêu chuẩn riêng cho từng đối tượng: cha hiền con thảo, anh tốt em ngoan, chồng biết điều vợ nghe lẽ phải, bề trên rộng rãi bề dưới kính trọng (thuận), vua nhân tôi trung Trong các quan hệ trên, Khổng Tử nhấn mạnh nhiều hơn đến quan hệ vua tôi và quan hệ cha con

Đối với quan hệ vua tôi, Khổng Tử chống việc ngôi vua duy trì theo huyết thống, tông tộc Ông cho rằng người cầm quyền phải có đức, tài mà không cần tính đến đẳng cấp xuất thân của người

ấy Trong việc chính trị, vua phải biết trọng dụng người hiền đức, tài cán và rộng lượng với những kẻ cộng sự, vua phải tự mình làm thiện, làm phải trước thiên hạ để nêu gương và phải chịu khó lo liệu giúp đỡ dân Nhà cầm quyền phải thực hiện ba điều: bảo đảm đủ lương thực cho dân được no ấm, phải xây dựng được lực lượng binh lực mạnh đủ để bảo vệ dân, phải tạo lòng tin cậy của dân đối với mình Nếu bất đắc dĩ phải bỏ bớt những điều kiện trên thì trước hết hãy bỏ binh lực, sau đó đến bỏ lương thực, nhưng không thể bỏ lòng tin của dân đối với vua, nếu không, chính quyền xã tắc sẽ sụp

đổ Ông cũng cho rằng dân đối với vua phải như đối với cha mẹ mình, phải tỏ lòng trung của mình đối với vua

Về đạo cha con, Khổng Tử cho rằng con đối với cha phải lấy chữ hiếu làm đầu và cha đối với con phải lấy lòng từ ái làm trọng Trong đạo hiếu của con đối với cha mẹ, dù rất nhiều mặt, nhưng cốt lõi phải ở tâm thành kính Đời nay hễ thấy ai nuôi được cha mẹ thì người ta khen là có hiếu,

Trang 22

nhưng loài thú vật như chó ngựa người ta cũng nuôi được vậy Cho nên, nuôi cha mẹ mà chẳng kính trọng thì khác gì nuôi thú vật đâu

Như vậy, Khổng Tử không chủ trương ngu trung, ngu hiếu, không bắt buộc con người phải phục tùng bề trên vô điều kiện như nội dung trung, hiếu của Nho giáo sau này Đối với Khổng Tử, trong xã hội, Chính Danh là quan hệ hai chiều: quân có nhân thì thần mới trung, phụ có từ thì tử mới hiếu… mà công cụ để thực hiện mối quan hệ hai chiều này là đạo đức của xã hội

Trong việc trị nước cũng như tu thân, học đạo sửa mình để đạt được đức Nhân, Lễ được Khổng Tử rất chú trọng Lễ ở đây là những quy phạm, nguyên tắc đạo đức của nhà Chu Ông cho rằng, do vua không giữ đúng đạo vua, cha không giữ đúng đạo cha, con không giữ đúng đạo con… nên thiên hạ “vô đạo” Phải dùng Lễ để khôi phục lại trật tự, phép tắt, luân lý xã hội, khiến cho mọi người trở về với Đạo, với Nhân và trở thành Chính Danh

Cùng với Lễ, Nhạc, Thi, Thư cũng là phương tiện để giáo hóa con người góp phần ổn định và phát triển xã hội Nhạc chính trực, trang nghiêm, hòa nhã có tác dụng dung dưỡng tính tình, cảm hóa lòng người, hướng tâm người ta tới chân, thiện, mỹ do sự ứng cảm trong tâm ta với sự hài hòa của

âm nhạc Khổng Tử nói: “hưng khởi nhờ Thi, tạo lập là nhờ Lễ, thành đạt nhờ Nhạc” Tuy nhiên, nếu không có Nhân mà dùng Lễ, Nhạc thì chỉ là một cái hư văn, hình thức, sáo rỗng mà thôi

độ, hành động ứng xử và địa vị xã hội Ông khẳng định rằng, có thể có người quân tử bất nhân, nhưng chưa hề có người tiểu nhân có nhân

Mục đích cao nhất của học, theo Khổng Tử không chỉ để biết đạo mà để ra làm quan, tham gia việc chính trị quốc gia Trong lúc xã hội rối ren không ra làm quan không phải là kẻ trí, không ra giúp đời không phải là người nhân

Đối với Khổng Tử, việc dạy học chủ yếu là dạy kẻ cầm quyền trị dân “tu lễ nghĩa tín… khiến dân từ bốn phương sẽ đưa con đến phục dịch mình… chứ không phải học nghề cày cấy” Ông cho lao động chân tay là nghề tầm thường

Theo Khổng Tử, học phải cố gắng nỗ lực không mệt mỏi “Kẻ nào không cố công tìm hiểu ta chẳng dạy cho, kẻ nào không bộc lộ được tư tưởng của mình, ta chẳng khai sáng cho, kẻ nào ta bày một mà không biết hai ta chẳng dạy nữa” (Bộ Giáo Dục và Đào Tạo 1999 Tr 90) Ông luôn khuyên mọi người học phải nghe nhiều rồi chọn điều hay mà theo, thấy nhiều để xét cho rõ cái hay, cái dở

mà nhớ lấy, đó là điều quan trọng để trở thành trí giả

Là một nhà giáo dục lớn, người đầu tiên mở trường dạy học trong lịch sử Trung Hoa, chủ trương “hữu giáo vô loại”, nhưng ông lại quan niệm đối với dân, việc gì cần làm thì cứ sai khiến người ta làm, không nên giảng giải vì dân không có khả năng hiểu được ý nghĩa sâu xa

Trang 23

Ông cũng muốn xóa bỏ sự thụ động của người tiếp thu tri thức và rất đề cao việc ứng dụng vào cuộc sống những điều đã học được Ông cho rằng, học thuộc 300 thiên sách Thi mà không biết

ăn, không biết nói trong khi đi Sứ thì công học 300 thiên đó cũng trở nên vô bổ

Tư tưởng về mẫu người quân tử

Là người sáng lập ra thuyết “Chính Danh” nên mẫu người lý tưởng của Khổng Tử chịu sự chi phối của “Chính Danh” nói chung và đức “Nhân” nói riêng Theo ông, tiêu chuẩn của người quân tử phải đạt được 9 điều:

Khi nhìn phải nhìn cho minh bạch

Khi nghe phải nghe cho rõ ràng

Sắc mặt phải ôn hòa

Tướng mạo phải nghiêm trang

Nói năng phải trung thực

Làm việc phải trọng sự kính nể

Điều gì còn nghi hoặc phải hỏi han

Khi tức giận phải nghĩ đến hậu quả

Khi thắng lợi phải nhớ đến điều nghĩa

Những yêu cầu này, theo Khổng Tử phải có sự trung hòa mà ông gọi đó là đạo Trung Dung

“Trung Dung” là cái tính tự nhiên của trời đất, là cái đức hạnh của con người Trung là giữa, là không lệch về bên nào Dung là thường Trung Dung nghĩa là dùng đạo Trung làm lẽ sống thường ngày

Theo Khổng Tử, người quân tử trước hết phải biết tu thân Không tự tu được thân thì không thể giúp được đời, không thể làm trọn được phận của mình với thiên hạ Học để tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ là đường đi của người quân tử Tiểu nhân cũng phải học xong cái học của tiểu nhân để họ phục dịch và tuân lệnh kẻ cầm quyền

Xét một người nào đó thuộc loại quân tử hay tiểu nhân, Khổng Tử đòi hỏi phải quan sát xem hành động của họ có phù hợp với lời họ nói hay không Để đánh giá con người, ông khuyên phải nhìn vào công việc của họ, phải xét lý do làm việc của họ và xem thái độ của họ

Tóm lại, là một trong những triết gia duy tâm đại diện cho tầng lớp chủ nô quý tộc ở giai đoạn chiếm hữu nô lệ kiểu phương Đông đang chuyển sang chế độ phong kiến trung ương tập quyền, lúc làm quan, lúc làm thầy, lúc truyền đạo, lúc san định kinh sách, Khổng Tử đã cống hiến trọn đời mình cho giai cấp của mình nhằm duy trì sự tồn tại của nó Triết lý của Khổng Tử là triết lý hành động với đường lối chính trị đẳng cấp theo thuyết Chính Danh, nặng đức, nhẹ hình, khuyến khích người đời tu thân theo mẫu người quân tử

Học thuyết của Khổng Tử chứa đựng đầy mâu thuẫn phản ánh tâm tư bị giằng xé trước những biến chuyển của xã hội Lợi ích giai cấp và tính chất không nhất quán này đã là cơ sở để các thế hệ sau ông khai thác, xuyên tạc và phủ cho nó tấm áo choàng tôn giáo đầy bí ẩn Tư tưởng của Khổng

Tử không phải lúc nào cũng được trọng dụng mặc dù nó có những nét tiến bộ nhất định Nhìn chung

tư tưởng của Khổng Tử có mặt trong tất cả các triều đại Trung Hoa, nó để lại dấu ấn của mình không

Trang 24

chỉ trong sách vở mà trong cuộc sống thực của nhiều thế hệ và nó đã vượt biên giới nước mình cắm

rễ vào phong tục, tập quán của nhiều nước láng giềng

1.1.1.3 Tư tưởng của Mạnh Tử

Sau khi Khổng Tử mất, Nho gia chia thành nhiều phái Đến thời Chiến Quốc, đại biểu xuất sắc của phái Nho học chính thống là Mạnh Tử

Mạnh Tử (371 – 289 TCN) tên gọi là Mạnh Kha, tự là Tử Dư, người nước Trâu (tỉnh Sơn Đông ngày nay), là học trò của môn phái Tử Tư (tức Khổng Cấp, cháu đích tôn của Khổng Tử) Là người có học thức uyên bác, ông rất muốn làm quan, đã từng đến các nước Tề, Tống, Đằng, Ngụy… nhưng không được dùng vì lúc bấy giờ thiên hạ chỉ chú trọng việc thôn tính lẫn nhau, còn Mạnh Tử lại nói về đạo đức nên bị cho là viễn vông Cuối đời, ông cùng học trò là Vạn Chương soạn thành sách Mạnh Tử Đến đời Tống sau này, sách Mạnh Tử trở thành một tác phẩm trong Tứ Thư

Về mặt triết học

Mạnh Tử đã phát triển tư tưởng “Thiên mệnh” của Khổng Tử và đưa thế giới quan ấy tới đỉnh điểm của chủ nghĩa duy tâm Mạnh Tử hoàn toàn tin vào mệnh trời, cho rằng trời là lực lượng quyết định mọi việc ở đời “Chẳng có việc gì xảy ra mà không do mệnh trời Mình nên tùy thuận mà nhận lấy cái mệnh chính đáng ấy” Do vậy, những bậc quân tử nhờ hết sức tu dưỡng đã đạt đến mức cực thiện, cực mỹ thì cũng có thể cảm hóa được ngoại giới như thánh thần Ông nói: “Trong lòng đầy đủ (sự chân thành) gọi là mỹ, đầy đủ mà còn rực rỡ ra ngoài là vĩ đại, vĩ đại rồi lại cảm hóa được ngoại giới là thánh, thánh mà không biết là thánh nữa là thần” Ông còn nói: “Hễ mình hết lòng hết dạ thì mình biết được cái bản tính của mình, thì biết được trời rồi đó” Từ đó, ông cho rằng, vũ trụ, vạn vật cũng đều tồn tại trong ý thức chủ quan và trong quan niệm đạo đức trời phú cho con người Ông đưa

ra quan điểm “vạn vật đều có đủ trong ta Ta tự xét mình mà thành thực, thì có cái thú vui nào lớn hơn nữa” Ông dạy mọi người không phải đi tìm chân lý ở ngoài thế giới khách quan mà chỉ cần suy xét ở trong tâm, tận tâm của mình mà thôi (Bộ Giáo Dục và Đào Tạo 1999 Tr 96)

Về đạo đức

Tư tưởng của Mạnh Tử tập trung vào những vấn đề triết lý nhân sinh mà trọng tâm là học thuyết về “tính thiện” của con người Thời Mạnh Tử, khi bàn về bản tính con người có 3 quan điểm chính:

Tính tự nhiên của con người không thiện cũng không ác

Tính tự nhiên của con người có thể thiện và cũng có thể ác tùy theo từng hoàn cảnh

Tính tự nhiên của con người khác nhau tùy theo người, có người bản tính thiện, có người bản tính ác

Bác bỏ tất cả những thuyết trên, Mạnh Tử cho rằng bản tính con người ta là thiện Còn như

có người làm những điều bất thiện, chẳng qua họ theo tự dục của mình, chứ không phải bản tính của

họ như vậy Nhưng tại sao bản tính con người là thiện và tính thiện của con người do đâu mà có? Mạnh Tử đã đưa ra ba căn cứ để lý giải tính thiện của con người được thể hiện qua bốn đức lớn là: Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí Bốn đức lớn đó bắt nguồn từ Tứ Đoan, bốn đầu mối của thiện: người ta ai cũng

có lòng trắc ẩn (biết thương xót), lòng u ố (biết thẹn, ghét), lòng từ nhượng (biết cung kính) và lòng thị phi (biết phân biệt phải trái) Lòng thương xót là đầu mối của Nhân, lòng thẹn, ghét là đầu mối của Nghĩa, lòng cung kính là đầu mối của Lễ, lòng thị phi là đầu mối của Trí Thiện Đoan ấy là cái

Trang 25

chất (tài chất) vốn có của con người như cái mầm cây vốn có trong hạt, như thân thể vốn có tứ chi Nếu con người biết nuôi dưỡng, phát huy Thiện Đoan thì như lửa bắt đầu cháy, suối bắt đầu chảy, mỗi ngày một lớn ra, mạnh thêm Nếu con người không biết giữ gìn và khuếch sung Thiện Đoan ấy,

để nó mai một đi, sẽ trở nên nhỏ nhen, ti tiện, không khác gì cầm thú, dẫu việc thường như thờ cha

mẹ cũng không làm được Con người chỉ khác với cầm thú có mảy may đó thôi, mà chỗ giống nhau thì nhiều Người có tính thiện là biết giữ phần quý, bỏ phần hèn, giữ gìn cái cao đạo, bỏ phần ti tiện,

có thể trở thành thánh nhân

Bản tính của con người là thiện vì “tính là cái chung là cái bản chất của một loài” Đã là loài người thì ai cũng đều có chung cái mầm thiện vốn có và ai cũng đều có các quan năng do trời phú cho mỗi người để nhận biết, phân biệt phải trái, tốt xấu như nhau Với tài chất và quan năng thiên phú giống nhau đó, người ta ai ai cũng có thể trở thành thánh nhân

Hơn nữa, tính thiện của con người đều bắt nguồn từ tâm của mỗi con người Tâm là cái chủ thể trong tinh thần, là cái thần minh trời phú cho ta, là cơ quan để suy nghĩ, nhờ tâm mà ta phân biệt mọi điều phải trái, thiện ác… đủ để ứng đối với vạn vật, vạn sự, cho nên còn gọi là lương tâm Đó là cái tự ta biết, trời sinh ra đã có Tâm ta sở dĩ tự biết được Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí là vì nhờ có lương năng (cái người ta sinh ra không cần học mà hay) và lương tri (cái người ta sinh ra không cần suy nghĩ mà biết) Mạnh Tử nói: Thiện Đoan là cái trong ta vốn có, không phải do bên ngoài nung đúc cho ta Chỉ vì ta đắm đuối vào vật dục nên cái tâm của ta nó mờ đi, không còn giữ được cái bản nhiên sáng suốt, bỏ mất mầm thiện trong tâm mình, nên tính mới trở thành bất thiện

Tính thiện của con người không phải nhất thành bất biến Người ta có thể đánh mất cái cố hữu của mình mà sa vào đường bất thiện Ấy là khi ngoại cảnh tác động vào Tuy vậy, tác dụng của ngoại cảnh cũng có giới hạn của nó Khi tâm của con người thật vững vàng thì ngoại cảnh có tác dụng cũng vô hiệu Vì vậy, Mạnh Tử rất chú trọng đến giáo hóa, để con người không mai một lương tâm Ông cho rằng con đường chủ yếu là “tồn tâm dưỡng tính” Đó là sự giữ gìn, bồi dưỡng, đừng làm tổn hại hay mất thiên tâm, thiên tính của mình

Ngoài ra, Mạnh Tử cho rằng cùng với cái tâm, cái tính trời phú cho còn có phàn khí Phàn khí lưu hành khắp vũ trụ, ngưng tụ lại thành hình nên có vạn vật cùng con người Nhờ có khí lưu hành trong cơ thể mà vạn vật và con người mới có sự sinh trưởng Khí tồn tại không tách khỏi tâm, khỏi tính Tâm, tính là phần tinh thần, là phần điều khiển cái khí, còn khí là phần nhục thể, phần vật của con người Phần tinh thần và phần nhục thể phải điều hòa con người mới tồn tại Do vậy, cùng với việc tồn tâm dưỡng tính, con người phải dưỡng khí

Để dưỡng khí, Mạnh Tử cho rằng phải luôn nhớ đến bản thể tự nhiên của khí mà ông gọi là

“Hạo nhiên khí” Phương pháp dưỡng Hạo nhiên khí là phải phối hợp với việc nghĩa với việc đạo Muốn vậy phải hiểu đạo lý, theo đạo và tập nghĩa Hiểu đạo, theo đạo là hiểu và theo lối sống của đạo và phải tuân theo lẽ tự nhiên thì Hạo nhiên khí sẽ mạnh lên, có thể hòa với trời đất

Như vậy, Mạnh Tử rất coi trọng vai trò của chủ thể trong việc tu dưỡng đạo lý để cái tâm sâu rộng, cái trí sáng suốt, cái khí điều hòa, tạo điều kiện cho bản tính thiện của mình tồn tại và phát huy

Để bảo tồn và phát triển tâm tính của con người, Mạnh Tử chủ trương cần phải có sự rèn luyện, giáo dục đạo lý cho con người Trong giáo dục đạo lý, nhân nghĩa cần phải có chuẩn mực Chuẩn mực ấy là đức độ, đạo lý của thánh hiền Theo chuẩn mực đó, Mạnh Tử đòi hỏi người học phải chuyên tâm, trì chí, khiêm nhường, cầu tiến, không khi nào tự cho mình đã là người hoàn thiện

Trang 26

Mặt khác ông cũng đòi hỏi người dạy phải luôn tự sửa lấy mình, giữ tâm mình cho chính, vì nếu

“mình cong queo không thể nào sửa cho người khác ngay thẳng được”

Như vậy, trong học thuyết về luân lý, đạo đức, Mạnh Tử đã khẳng định bản tính của con người là thiện, nó bắt nguồn từ tâm do trời phú cho con người Và ý chí của con người chi phối khí Qua đó cho thấy, Mạnh Tử đã bộc lộ khá rõ tư tưởng thần bí về con người Tuy nhiên, cũng phải ghi nhận rất nhiều tư tưởng tiến bộ của ông về vai trò của môi trường, vai trò của giáo dục và sự tự giáo dục đối với việc hình thành nhân cách

Về những vấn đề chính trị - xã hội

Mạnh Tử tuyên truyền lý luận thần quyền Ông cho rằng, chính quyền là do trời ban cho và thông qua vua chúa hiền minh để thực hiện ý chí của trời, con người phải thuận theo ý chí của trời Ông còn đưa ra quan điểm rằng, nhân vật vĩ đại – thánh nhân là động lực thúc đẩy lịch sử phát triển,

mà nhân vật vĩ đại lại thể theo ý chí của trời để sáng tạo ra lịch sử Ông còn đưa ra thuyết “Nhất loạn, Nhất trị” cho rằng cứ một thời loạn lại một thời bình và cứ 500 năm với kết quả vận chuyển theo chu

kỳ của Ngũ Hành, nhất định sẽ xuất hiện một đấng vương gia hiền đức trị vì thiên hạ

Mạnh Tử còn cho rằng, theo bản chất, con người phân chia ra làm hai hạng người: những người lao tâm và những người lao lực Hạng người thứ nhất là quý tộc, vua chúa, tức hạng người được coi là có tài đức, lo việc trị dân và sống dựa vào sức lao động của nhân dân Hạng người thứ hai

là nhân dân lao động thì phải phục tùng và làm việc, nuôi sống hạng người thứ nhất Đó là lẽ thông thường trong thiên hạ Mỗi hạng người trong xã hội có nhiệm vụ riêng, nhưng cũng giúp đỡ nhau để cùng đạt một mục đích là làm cho xã hội yên bình, thịnh trị Đó là nguyên tắc phân công lao động tự nhiên và là quy luật chung của sự phát triển xã hội

Trên cơ sở học thuyết về Tính Thiện và tiếp tục tư tưởng “Nhân trị” của Khổng Tử, Mạnh Tử

đề ra tư tưởng “Nhân chính” trong phương pháp trị nước và luôn khuyên các vua chư hầu phải tuân theo để trở nên các bậc quân vương Ông chống các chư hầu dùng vũ lực gây chiến tranh thôn tính nhau, đòi bọn quý tộc bớt những hình phạt tàn khốc đối với dân, cho dân có sản nghiệp riêng và nhà nước phải lo cải thiện đời sống kinh tế của dân Theo ông, việc chăn dân, trị nước là vì nhân nghĩa, chứ không phải vì lợi

Mạnh Tử có quan điểm mới mẻ và sâu sắc về dân quyền Ông nói: “Dân vi quý, xã tắc thứ chi, quân vi khinh” (Dân quý nhất, đất nước thứ hai, vua thì coi nhẹ) Vì theo ông, có dân mới có nước, có nước mới có vua Kẻ thống trị nếu không được dân ủng hộ thì chính quyền sớm muộn phải sụp đổ Nếu vua tàn ác không hợp lòng dân và ý trời thì có thể bị truất phế

Mạnh Tử còn chủ trương chế độ “Bảo dân”, trong đó yêu cầu người trị vì phải lo cái lo của dân, vui cái vui của dân, tạo cho dân có sản nghiệp riêng và cuộc sống bình yên, no đủ Như thế, dân không bao giờ bỏ vua Đồng thời ông cũng khuyên các bậc vua chúa phải giữ mình khiêm cung, tiết kiệm, gia huệ cho dân, thu thuế của dân có chừng mực Nếu được như vậy thì đó là bậc hiền minh

Trong chế độ “Bảo dân”, Mạnh Tử còn đề xuất chế độ điền địa và giáo hóa dân Về điền địa, Mạnh Tử cho rằng, muốn dân sung túc và quốc gia có nền kinh tế lành mạnh, phải thực hiện việc phân chia ruộng đất công minh và thi hành chế độ “tỉnh điền” Về giáo hóa dân, Mạnh Tử chủ trương phải lập trường để dạy dân biết nhân, nghĩa, luân lý và võ nghệ

Trang 27

Ông cực lực lên án những ông vua không lấy điều nhân nghĩa làm gốc, chỉ vui chơi, lợi lộc riêng, tà dâm, bạo ngược, dùng sức mạnh để đàn áp dân, ông cho đó là “bá đạo” và thường tỏ thái độ khinh miệt

Tư tưởng về chính trị - xã hội của Mạnh Tử vẫn khoác áo duy tâm, truyền biện pháp đường lối chính trị đẳng cấp, thần quyền phục vụ cho giới quý tộc, song có lẽ chưa có một triết gia Trung Quốc cổ đại nào lại đề cập sâu sắc đến vai trò của đời sống kinh tế và các biện pháp cải cách như Mạnh Tử Và chưa có một triết gia nào của thời đại này lại phát triển tư tưởng đức trị thành công như ông

Không phải là người đầu tiên đến với Nho giáo thời cổ đại, nhưng công lao của Mạnh Tử đối với hệ thống triết học này thật xứng đáng để hậu thế phong ông là Á Thánh

1.1.1.4 Tư tưởng Tuân Tử

Tuân Tử (289 – 238 TCN) tên là Tuân Huống, tự Tuân Khanh, người nước Triệu, đã từng làm Huyện lệnh Lan Lăng thuộc nước Sở Tuân Tử là người theo học thuyết của Khổng Tử, nhưng quan điểm của ông so với tông chỉ của Khổng Tử có nhiều điểm tương phản cả về thế giới quan cũng như triết lý chính trị Tác phẩm của ông cũng gọi là Tuân Tử

Về thế giới quan

Trái với quan điểm về thiên mệnh, thiên chí, coi trời là một lực lượng thần linh tối cao chi phối vạn vật trong thế giới, chi phối xã hội loài người, Tuân Tử cho rằng vũ trụ gồm ba bộ phận là: trời, đất và người Trời chỉ là một bộ phận của vũ trụ, trời không có linh hồn, không có ý thức, song trời có đạo của nó Cái đạo thâm viễn, công hiệu và vô hình này làm cho vạn vật sinh ra lớn lên và chuyển hóa Đạo trời diễn ra theo những lẽ tự nhiên nhất định, không liên quan đến đạo người Đạo trời chi phối sự biến hóa của vạn vật, thay đổi của vũ trụ, không phụ thuộc vào sự sáng suốt hay ngu muội của con người Con người không thể quyết định sự vận hành của đạo mà chính đạo quyết định

sự vận hành của con người

Như vậy, với cách hiểu về trời và đạo Tuân Tử đã phủ nhận vai trò quyết định của trời đối với vận mệnh xã hội Theo ông, mọi biến động của lịch sử đều do chính con người tạo ra, không có

sự can thiệp của trời đất Ông từng tự hỏi: trị, loạn có phải tại trời không? Trị, loạn có phải tại thời không? Trị, loạn có phải tại đất không? Và tự trả lời: “mặt trời, mặt trăng, các tinh tú cũng làm nên lịch Trời của vua Vũ và trời của vua Kiệt giống nhau Thế mà đời vua Vũ thì trị, đời vua Kiệt thì loạn Trị, loạn đâu phải tại trời”

“Sự sinh sôi nảy nở của mùa Xuân, mùa Hạ, sự tích tụ, tiềm tàng ở mùa Thu, mùa Đông Thời của vua Vũ và thời của vua Kiệt giống nhau Thế mà đời vua Vũ thì trị, đời vua Kiệt thì loạn Trị, loạn đâu phải tại thời”

“Được đất thì sống, mất đất thì chết, đất của vua Vũ và đất của vua Kiệt giống nhau Thế mà vua Vũ thì trị, đời của vua Kiệt thì loạn Trị loạn đâu phải tại đất” (Lê Văn Anh, Phạm Hồng Việt

2001 Tr 50)

Tuân Tử cũng phủ nhận vai trò quyết định của trời đối với vận mệnh của con người Trời không thể làm hại cũng không thể cứu giúp con người Trong cuộc sống của mình, sự thành công hay thất bại của con người phụ thuộc vào việc con người hành động thuận hay trái với lẽ tự nhiên Tuân

Tử khuyên con người hãy tự tin ở mình, hãy hành động theo tự nhiên để tự quyết định cuộc sống của

Trang 28

Từ cách nhìn nhận về mối quan hệ giữa trời, đất, người như vậy, Tuân Tử đã kịch liệt lên án

dị đoan, bói toán và những tư tưởng duy tâm, thần bí về vũ trụ Ông chỉ ra rằng: “các hiện tượng bất thường trong tự nhiên chỉ là sự biến đổi của bản thân tự nhiên, chúng không hề chứa đựng một điềm lành hay dữ đối với cuộc sống”

Ông phân biệt những thiên chức khác nhau của trời, đất và người Với Tuân Tử, thiên chức của trời, đất là toàn bộ sự nảy nở sinh thành, biến hóa cuộc sống của vạn vật trong tự nhiên Thiên chức của con người là luôn nghĩ về đạo của mình, làm tròn đạo của mình, đừng tranh thiên chức với trời, biết phục tùng đạo trời, biết dùng những cái trời đất tạo ra phục vụ cho cuộc sống của mình

Đặc biệt khi giải thích về tự nhiên, Tuân Tử đã phát triển học thuyết “Khí” của các bậc tiền bối để phân biệt sự khác nhau giữa các loài vật Ông nhận thấy nước lửa có khí nhưng không có sinh mệnh, cây cỏ có sinh mệnh nhưng không có tri giác, cầm thú có tri giác nhưng không có luân thường đạo lý và tổ chức xã hội, còn loài người có tất cả: có khí, có sinh mệnh, có tri giác, có khuôn phép và

có cả kỷ cương nề nếp

Có thể nói, thế giới quan của Tuân Tử là bước tiến bộ rõ rệt trong triết học Nho gia Vẫn nói đến trời, đất, song ông thể hiện rõ nét tư tưởng duy vật và Đạo trời của Tuân Tử rất gần gũi với các quy luật tự nhiên

Tư tưởng về nhận thức của Tuân Tử còn thể hiện trong khi ông luận về thuyết “Chính Danh” Theo ông, tiếp cận với Chính Danh trước hết phải làm sáng tỏ ba điều chính: Vì sao có danh, vì sao

có đồng danh, dị danh, cái chủ yếu nhất của chế danh

Theo Tuân Tử: Các sự vật, hiện tượng gọi là Thực Danh hay lời do người chế ra để chỉ cái Thực

Đồng Danh hay dị Danh do chính bản thân sự vật quy định “Vật giống nhau thì có tên giống nhau, vật khác nhau thì có tên khác nhau… Biết Thực khác thì có Danh khác, cho nên nói Thực khác nhau bằng Danh khác nhau, cũng như nói Thực giống nhau thì chẳng bao giờ không đúng Danh giống nhau

Cái chủ yếu để chế Danh, theo Tuân Tử là tính chất của sự vật Dựa trên tính chất của sự vật, con người có thể phân loại các loại Danh khác nhau

Về đường lối trị nước

Điểm nổi bật trong tư tưởng của Tuân Tử là ông đã nhận thức được con người là quý nhất, sức mạnh của quần chúng là rất to lớn Ông nói:

Trang 29

“Nước, lửa là vật chất mà không có sự sống, cây cối có sự sống mà không có tri giác, chim muông có tri giác mà không biết nghĩa, con người là vật chất có sự sống, có tri giác lại có nghĩa, do

đó loài người là quý nhất trong trời đất”

Về sức mạnh của quần chúng, ông nói một câu bất hủ mà đời sau nhiều người đã nhắc lại, đó là: “Vua là thuyền, dân là nước, nước có thể chở thuyền, nước cũng có thể lật đổ thuyền”

Vì vậy, ông chủ trương tốt nhất là phải thi hành vương đạo, tức là nhà vua dùng nhân nghĩa

để cai trị thiên hạ, cụ thể là phải tạo điều kiện cho dân tăng gia sản xuất để có đủ của cải sinh sống và làm giàu cho đất nước, đồng thời phải giảm bớt thuế khóa, đối với ruộng đất chỉ đánh thuế 1/10, còn cửa ải, chợ búa thì chỉ giám sát chứ không đánh thuế

Tuy chủ trương dùng nhân nghĩa để trị nước, nhưng Tuân Tử cho rằng, đối với quần chúng nhân dân cũng cần phải dùng hình pháp để kiềm chế Ông chỉ phản đối những hình phạt quá tàn khốc như tội tru di tam tộc

Về mặt xã hội

Tuân Tử cho rằng con người khác với động vật ở chỗ con người có tổ chức xã hội, có sinh hoạt xã hội theo lễ nghi và nghĩa Không có tổ chức xã hội, con người không thể tồn tại Tổ chức xã hội tạo ra cuộc sống hợp quần, song cũng chính cuộc sống hợp quần mà phải định ra và duy trì bổn phận, trách nhiệm của mỗi người làm cho sinh hoạt xã hội có kỷ cương, nề nếp Thực hiện việc này, cũng như Khổng Tử, Tuân Tử chủ trương thực hiện “Chính Danh”, “Danh có định thì thực, giả mới được phân biệt…, lời nói dễ hiểu để từng bước khiến dân học theo”

Tuân Tử còn cho rằng thực hiện Chính Danh không thể thuần túy dựa vào đức hạnh Vì bản tính con người là ác và cái ác có thể thay đổi được nên ông chủ trương dùng hình pháp để trị nước Thực hiện quyền lực, ông đòi hỏi các thế lực cầm quyền phải thưởng phạt công minh, phải là tấm gương sáng để dân lấy đó làm mực thước mà noi theo, phải chăm lo dân

Như vậy, đối với xã hội, một mặt ông nhấn mạnh đến yếu tố luân lý chính trị, một mặt ông đề cập rất đậm nét đến pháp luật trong cuộc sống cộng đồng Đây chính là tư tưởng nền tảng mà sau này Hàn Phi Tử và nhiều triết gia khác đã kế thừa, phát triển để hình thành học thuyết Pháp gia

Về Giáo dục

Ông cũng cho rằng, con người có thể tạo ra tính thiện Theo Tuân Tử, ai cũng có thể tạo ra tính thiện để đức như Nghiêu, Thuấn, Vũ Cách tạo nên, theo ông như “cây cong được kéo thẳng ra”, song, cây cong muốn được kéo thẳng ra thì trước hết phải được hơ nóng, phải có khuôn uốn Tính của con người cũng vậy, muốn có điều thiện, con người phải có thầy, có phép dạy bảo thì mới có lễ, nghĩa, thiên hạ mới trị Với quan niệm như vậy, Tuân Tử rất chú ý đến vấn đề giáo dục Trước hết, phải có thầy, có pháp Ông nhấn mạnh: không có thầy, không có pháp là cái họa lớn nhất của người đời, có thầy, có pháp là cái tôn quý của người đời

Trang 30

Nhấn mạnh vai trò của người thầy, ông không hề xem nhẹ vai trò của người học Học, truớc hết phải theo khuôn phép để rèn giũa, sửa đổi lấy mình

Cùng với Giáo dục, theo Tuân Tử, xã hội còn phải dùng Lễ, Nhạc để cải hóa con người Với ông, Lễ có nghĩa rất rộng Nó là cái giúp con người biết kính, biết hiếu thảo, biết thuận, biết thiện, biết thi ân, bố đức… nghĩa là tất cả các phép tắc, những quy định trong cuộc sống mỗi con người, mỗi gia đình và toàn xã hội Nhạc đối với Tuân Tử là công cụ để điều hòa tính khí

Với kiến thức uyên bác, Tuân Tử đã tổng kết được những nét chính của các nhà tư tưởng đương thời để tạo nên hệ thống triết học của mình Đúng như các nhà nghiên cứu đã khẳng định: Hấp thụ triết lý tự nhiên của Lão-Trang, lấy tư tưởng chính trị nhân bản của Mạnh Tử, xuyên suốt học thuyết của mình, có duy vật, có duy tâm, song Tuân Tử đã thể hiện lòng trung thành với luân lý chính trị của người đã sáng lập ra Nho gia Tuân Tử xứng đáng là một đại Nho của Trung Quốc cổ đại

1.1.1.5 Tư tưởng Đổng Trọng Thư – Nho giáo độc tôn

Học thuyết của Khổng Tử không được các vua chúa Trung Quốc thời cổ đại tán thưởng Đến thời Hán trở đi, các triều đại phong kiến đều đề cao học thuyết của Khổng Tử và thờ ông như một vị thánh Lưu Bang, người sáng lập ra nhà Hán là vị hoàng đế đầu tiên thân hành đến nước Lỗ (cũ) để tế Khổng Tử Từ Hán Vũ Đế trở đi, Nho giáo trở thành quốc giáo

Đại biểu của phái Hán Nho là Đổng Trọng Thư (174 – 104 TCN) Đổng Trọng Thư không phải là nhà tư tưởng xuất sắc, nhưng được giai cấp phong kiến Trung Quốc tôn sùng, vì ông có công

“chính thống hóa Nho giáo”, biến nó thành công cụ sắc bén của giai cấp thống trị phong kiến

Đến thời phong kiến, đứng trước nhu cầu củng cố quyền lực của nhà Hán, Đổng Trọng Thư

ra sức thần bí hóa nguồn gốc của vương triều Ông đề cao thuyết “Thiên Nhân tương cảm”, vận dụng thuyết “Âm Dương ngũ hành” để “thần hóa Tam cương Ngũ thường”, cho đó là biểu hiện ý chí của trời

Tư tưởng Nho giáo của Đổng Trọng Thư mang tính thần bí hóa rất nặng nề Điều mới của Đổng Trọng Thư đưa vào Nho giáo là sáp nhập thuyết Âm Dương và thuyết Ngũ Hành với đạo Khổng, Mạnh Trước kia Khổng, Mạnh ít nói đến trời mà nói nhiều về người Khổng, Mạnh tránh đi sâu vào các vấn đề bản thể của vũ trụ, mà chuyên chú vào các vấn đề đạo đức, chính trị, xã hội

Về thế giới quan

Đổng Trọng Thư cho rằng “ông Trời” là một vị thần có nhân cách, đứng trên cả vũ trụ, có ý thức và có đạo đức, “Trời có nhân”, “Trời – vua của trăm thần” Nhân nghĩa đều lấy ở Trời Trời vận hành Âm Dương, sản sinh ra các hiện tượng tự nhiên

Ông cho rằng, vũ trụ được cấu thành bởi “Thập đoan” (mười đầu mối) Thập đoan gồm: Trời, Đất, Người, Âm, Dương, Ngũ Hành mà biến thành vũ trụ hoàn chuyển, hài hòa, nhân sự Trong sơ

đồ vũ trụ này, Con Người là sự sáng tạo đặc biệt của Trời, vượt lên trên vạn vật, tương hợp với Trời (Thiên Nhân hợp nhất) Nếu Trời có 4 mùa thì Người có tứ chi, nếu Trời tròn thì đầu Người cũng tròn, nếu Đất vuông thì chân Người cũng vuông, Trời có tinh tú thì Người có tóc, Trời có nhật nguyệt thì Người có tai mắt, Trời có nóng, lạnh, ấm, ráo thì Người có lành, dữ, giận, ghét, nếu Trời

có âm dương thì Người có thiện ác Theo thuyết “Thiên Nhân tương cảm” thì thiên tai là do Trời cảnh cáo loài người Và khi Trời giáng điều lành thì đó là lúc xã hội thái bình

Trang 31

Về chính trị - xã hội

Đổng Trọng Thư đã sáp nhập thuyết Âm Dương vào đạo Khổng, Mạnh bằng cách:

Chọn trong Ngũ Luân lấy ra ba giềng mối quân thần, phu phụ, phụ tử và đặt tên là Tam Cương Cương nghĩa đen là dây chính của chiếc lưới từ đó mọi sự dính vào Ông còn thêm tín vào Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí để thành Ngũ Thường, năm phẩm tính chuẩn mực và thường trực của Nho gia Như thế, có sự phân định rành mạch: Ngũ Thường là năm đức của cá nhân, Tam Cương là luân lý của xã hội

Đổng Trọng Thư gắn Tam Cương với đạo Âm Dương, cho rằng cái nghĩa vua tôi, cha con, chồng vợ đều lấy ở đạo Âm Dương và quy định:

Vua là Dương, tôi là Âm

Cha là Dương, con là Âm

Chồng là Dương, vợ là Âm

Dương thì quý, Âm thì thấp hèn Điều này theo Đổng Trọng Thư đều do Trời chế định cả Như thế, Đổng Trọng Thư đã hợp nhất phụ quyền, vương quyền với thần quyền, biến nhà vua thành vừa là một gia trưởng, một đế vương và một giáo chủ

Trước kia Khổng Tử tin có Trời nhưng không nhắm mắt tin vào “Thiên mệnh” và yêu cầu con người phải nỗ lực cá nhân và tu dưỡng đạo đức Khổng Tử nói đến Trời là nói đến bốn mùa luân chuyển, vạn vật nảy sinh Với Đổng Trọng Thư thì Trời đã có ý chí, điều khiển con người Lập luận

đó đưa đến “quyền thế hóa”, thần thành hóa” tư tưởng đạo đức của Khổng Mạnh

Tư tưởng Nho gia của Đổng Trọng Thư được trình bày trong sách “Xuân Thu phồn lộ” và

“Thiên Nhân tam sách” Đổng Trọng Thư chủ trương “Bãi truất Bách gia, độc tôn Nho thuật” (bỏ trăm nhà, chỉ dùng Nho học)

Các nhà Nho trứ danh đầu thời Tống hầu hết là những người từng trải qua nghiên cứu Đạo, Phật và làm giàu cho Nho giáo bằng sự vay mượn có nghiền ngẫm So với Nho giáo trước đó, Tống Nho có điểm rất khác biệt là:

Đi sâu vào lĩnh vực siêu hình học

Chú trọng tới phép tu dưỡng, quán tưởng

Tu tâm dưỡng tính để thành thánh nhân

Có một vũ trụ luận rành rọt

Trương Tái (1020 – 1077)

Trang 32

Khí là nguồn gốc của vũ trụ vạn vật, chỉ tụ hay tán chứ không sinh diệt Nho gia đưa ra quan điểm ấy là Trương Tái (1020 – 1077), triết gia thời Bắc Tống, người Mi huyện, nay thuộc tỉnh Thiểm Tây Ông thi đỗ Tiến sĩ, làm quan cao và từng giảng học ở Quan Trung nên học phái của ông được gọi là Quan học Tác phẩm chủ yếu của ông là “Chính mông, Dịch thuyết, Trương tử ngữ lục” Từ khái niệm về Khí, ông đưa ra học thuyết “Thái hư tức là Khí” Thái hư không phải là khoảng chân không mà là Khí vô hình tan ra Nó vẫn là thực tại khách quan, có tính vật chất

Chu Đôn Di (1017 – 1073)

Chu Đôn Di người Hồ Nam, cuối đời ẩn cư ở Liêm Khê, dưới chân núi Lô Sơn, Giang Tây nên được gọi là Liêm Khê tiên sinh Tác phẩm chủ yếu của ông có Thái cực đồ thuyết và Thông thư Khác với Trương Tái, Chu Đôn Di chú trọng Lý hơn Khí Ông cho rằng vạn vật bẩm thụ cái Lý của Thái cực và cái tính của Ngũ Hành

Dùng Thái cực đồ của Đạo gia để giảng về vũ trụ, Chu Đôn Di cho rằng vũ trụ phát triển tuần

tự theo quy luật Vô cực sinh Thái cực, Thái cực sinh Âm Dương, Âm Dương sinh Ngũ Hành, Ngũ Hành sinh vạn vật, vạn vật sinh sôi nảy nở không ngừng nghỉ Lý toàn thiện nên tính người cũng vốn thiện Con người phải tu dưỡng bằng tĩnh tâm, vô dục để cho tâm sáng và thấy được bản tính và cái

Lý, thuận với Lý thì tốt đẹp, trái với Lý thì tai họa Xưa nay phong khí khác nhau nên khí dụng cũng khác nhau Xã hội biến đổi là chuyện tất nhiên Vì thánh nhân thông suốt lẽ biến thiên của mọi sự nên tùy thời mà hành động khiến người dân không bị gượng ép, phiền nhiễu

Trình Hạo quả quyết rằng tri phải ngang với hành Ông đúng là mẫu người hòa nhi bất đồng Khi làm Giám sát ngự sử, ông thẳng thắn chống Tân pháp của Vương An Thạch, kẻ từng biếm Tô Đông Pha ra Hàng Châu Ông thường ung dung ngồi đối luận về các biện pháp tiện hay bất tiện của Vương An Thạch Khi bị họ Vương nghiêm sắc mặt tỏ vẻ không bằng lòng, Trình Hạo điểm tĩnh nói chậm rãi: việc thiên hạ không phải là việc bàn riêng của một nhà, xin bình khí mà nghe thì mới phải

Trình Di (1033 – 1107)

Trình Di, tính nghiêm nghị cương quyết và là người hiếu cổ Ông theo đúng từng chữ trong lời Khổng Tử nói và tự xem mình có nghĩa vụ kế thừa Nho giáo cổ truyền Ông làm quan thường gặp hoạn nạn, thậm chí dạy học cũng bị nịnh thần quy tội phe đảng, bắt giam và bắt giải tán học trò Đối với Trình Di, trong thiên hạ chỉ có một Lý Nó vĩnh cửu, ta không thể thêm không thể bớt Mọi vật trong thế gian nếu phát sinh đúng quy cách thì phải là sự nhập thể của một nguyên tắc nào đó Vật nào sinh ra cũng có nguyên tắc nhất định riêng cho vật ấy Theo Trình Di, Nguyên tắc ấy là Lý

Về đạo đức xã hội, Trình Di chủ trương trai gái có thứ tự cao thấp, vợ chồng có lễ tắc xướng tùy, và đó là thường lý Con người phải tồn dưỡng thiên lý, tiêu trừ dục vọng Có người hỏi ông,

“Gái góa nghèo bơ vơ, có thể tái giá không?” Ông nghiêm chỉnh trả lời rằng, “Chết là việc nhỏ, thất tiết là việc lớn” Ông phát biểu về tu tâm dưỡng tính trong câu “Hàm dưỡng thì nên dùng lòng kính

Trang 33

(nghiêm trang đạo mạo), muốn học thì trước hết phải trí tri (hiểu thấu vạn vật) Ông để lại rất nhiều sách, trong đó có Y Xuyên văn tập, Y Xuyên dịch truyện, Trình thị kinh thuyết…

Lý học của các nhà tư tưởng vừa kể được Chu Hy hệ thống hóa

Tập đại thành Chu Hy (1130 – 1200)

Sơ lược tiểu sử

Chu Hy tên tự là Nguyên Hối, hiệu là Hối Am, người ở Vụ Nguyên, nay thuộc tỉnh Giang Tây Ông là học trò bốn đời của Trình Di, nhà giáo theo đúng từng chữ của Khổng Tử và học trò của Chu Đôn Di, người tin vào Lý hơn Khí

Ban đầu, Chu Hy theo học Phật giáo, nhưng vì không chấp nhận ý tưởng về vô ngã – không

có bản ngã cố định – nên ông hướng tới Nho giáo rồi trở thành người trình giải chính của Tống Nho Ông đậu Tiến sĩ niên hiệu Thiệu Hưng, làm quan tới chức Bảo Văn Các đãi chế kiêm Thị giảng cho vua Minh Tông

Theo Nguyễn Hiến Lê trong Sử Trung Quốc, tập 2, tr 63 thì: “Tính tình (Chu Hy) cũng nghiêm cẩn như Trình Di Ông dậy từ mờ mờ đất, ăn mặc chỉnh tề, lại vái ở bàn thờ tổ tiên và bàn thờ Khổng Tử, rồi mới vô phòng viết Lúc nào cũng ngay ngắn, y như lời Khổng Tử dạy Rất có thứ

tự, rất siêng năng Môn sinh rất trọng, gọi là Chu phu tử Học rất rộng, trước tác rất nhiều: chú thích Kinh Thi, Kinh Dịch và bộ Tứ Thư”

Các lời giảng của Chu Hy được chấp nhận là chính thống trong một thời kỳ dài suốt hơn 800 năm, kể cả ba triều đại Nguyên, Minh và Thanh, cho tới thế kỷ XX, khiến hình thức Tống Nho này thật sự ảnh hưởng sâu sắc trong quá trình kết cấu xã hội Trung Quốc, và có lẽ chỉ bớt đi từ lúc bỏ khoa cử năm 1905 và bị tạm gián đoạn kể từ khi Đảng Cộng sản Trung Quốc lên nắm quyền năm

1949

Về thế giới quan

Nho giáo của Chu Hy có tính siêu hình hơn truyền thống trước đó Dù chủ yếu vẫn là Nho gia, ông tiếp thu lý luận duy tâm của Phật giáo và Đạo học, lập thành một hệ thống Lý học rộng lớn Đối với Chu Hy, Lý là phạm trù triết học tối thượng, là điểm xuất phát và cũng là điểm chung quyết trong tư tưởng triết học của mình Ông nhận định: “Trong khoảng trời đất, có Lý có Khí Lý là hình nhi thượng của Đạo, là gốc của sinh vật Khí là hình nhi hạ của Đạo, là công cụ của sinh vật” Tuy

Lý là gốc, Khí là ngọn, Lý trước, Khí sau, Lý là chủ của Khí, nhưng cả hai nương dựa vào nhau và không bao giờ rời nhau

Lý là nguyên lý tối hậu nằm đằng sau moi sự: hằng cửu, bất biến và thiện Lý của mọi sự là bản tính chân chính của chúng Nó là lý do khiến mọi sự hiện hữu như chúng là chúng Do đó, tuy

Lý có ý nghĩa tương tự Lễ, hiểu như “trật tự hoặc tác phong chân chính”, nó lại liên quan toàn diện tới con người và vũ trụ Nhưng không thể có sự vật nào chỉ là Lý, nó cần một cơ sở vật lý, một chất liệu thật sự để làm thành sự vật Chu Hy gọi thành tố vật lý ấy là Khí Nguyên lý tối hậu – Lý – được phô diễn trong mọi sự vật bằng một sức mạnh vật chất không bao giờ biến đổi – Khí – cái năng lượng và vật chất của vũ trụ

Như thế, Khí là sức mạnh vật chất của mọi vật, tụ thì sinh sự sống, tán thì sinh sự chết Khí sản sinh tâm trí và ý thức cùng thân xác, những cái cũng phát sinh như là kết quả sự hợp thành của sức mạnh ấy và chấm dứt một khi diễn ra phân tán của nó Do đó, toàn bộ sinh tử là sự phô diễn trực

Trang 34

tiếp của Khí Khí của Chu Hy cũng có tính năng lượng như Khí của Mạnh Tử Chu Hy đã chú giải về khí Hạo nhiên rằng: “Hạo nhiên là chỉ tình trạng to lớn, đầy khắp Khí là chỉ cái thể sung mãn tràn đầy Một khi đắc được khí Hạo nhiên, con người làm điều nghĩa một cách dũng cảm, không chút sợ sệt”

Chu Hy đem Lý liên hệ với Tam Cương: Quân-Thần, Phu-Phụ, Phụ-Tử và Ngũ Thường: Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín bằng cách tuyên dương rằng trong Lý có đầy đủ thuộc tính luân lý đạo đức Như thế về tổng quát, Lý của Chu Hy bao gồm cả Lễ của tiên Nho và được ông gọi là “Cái tối hậu vĩ đại”

Có một câu hỏi đặt ra rằng: “Nếu mọi sự do Lý chi phối và nếu Lý là cái vốn thiện, thế thì cái

ác từ đâu đến?”

Chu Hy trả lời bằng cách cho rằng, dù bản tính con người, đúng như Mạnh Tử nói vốn thiện,

nó có thể bị tác dụng trì độn của các sức mạnh vật chất Cái ác không có sức mạnh tích cực, nó chỉ là một tập hợp những cái ô trọc trong dạng thức vật chất Người và vật bẩm thụ Lý rồi mới có tính, bẩm thụ Khí rồi mới có hình Như thế bản tính của con người là sự phô diễn của Lý bên trong con người

Có thể trình bày sự việc ấy rõ ràng hơn bằng cách nói “quân bình hoặc mất quân bình” Trong trạng thái quân bình và hòa hợp tự nhiên, Lý của vũ trụ được phản ánh trung thực và mọi sự đều tốt lành Trong trạng thái mất quân bình do bởi sức mạnh vật chất quá dày đặc, Lý bị méo mó mù mịt và kết quả là cái ác Thao tác thông suốt của Lý trong một cá nhân được biểu lộ bằng Nhân, cái hạnh kiểm chân chính và cao quý Cá nhân có khả năng am hiểu Lý của mình, song vì tâm trí mờ mịt bởi hiệu quả trì độn của loại khí ô trọc khiến cho méo mó cái “tính vốn thiện” của mình

Đối với Chu Hy, Lý thể hiện trong nhân tính là “thiên mệnh chi tính”, là chí thiện Cùng với nhân tính chí thiện ấy, con người còn có “tính khí chất” Để không bị “tính khí chất” phát sinh ra lòng tham muốn che mờ “tính chí thiện”, ông khuyên ta “làm sáng lẽ trời, tiêu diệt tham muốn của con người” Điều quan trọng nhất của tự tu dưỡng là chính tâm Muốn chính tâm thì phải tĩnh, phải kính, phải chuyên chú Đó là một quá trình tước bỏ, xua tan các hiệu quả mờ mịt méo mó của khí ô trọc để vén lộ cái Lý “chí thiện” đang nằm sẳn bên dưới

Tuy nhận thức luận của Chu Hy mang tính duy tâm, nhưng nó bao hàm quan điểm biện chứng biến hóa bất tận khi ông phát biểu rằng “vạn vật trong trời đất, chưa hề không có gì không đối kháng lẫn nhau” Hai cái đối kháng ấy cùng tồn tại, quan hệ, nương dựa và chuyển hóa lẫn nhau, như

Âm với Dương, trong cái này có cái kia, sinh sinh hóa hóa Vấn đề này được giải quyết trong thế giới quan của Chu Hy

Theo Chu Hy, điểm khởi đầu của vũ trụ là Thái cực, đó là cái Lý của trời và đất, từ đó phát sinh Khí, đó là cái cơ sở vật chất của vạn vật Khí phát sinh Dương (động) và Âm (tĩnh) Đối với

Trang 35

Chu Hy, “trong Âm có Dương, trong Dương có Âm, Âm tới cực điểm thì sinh Dương, Dương tới cực điểm thì sinh Âm, do vậy thần hóa vô cùng”, và “một chia thành hai, đoạn nào cũng thế, cho đến vô cùng”

Cứ thế, Âm và Dương biểu hiện quá trình biến đổi và quân bình đang diễn ra, rồi tới lượt chúng phát sinh Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ Năm hành chất ấy hợp thành mọi sự: Thái cực sinh Âm Dương, Âm Dương sinh Ngũ Hành, Ngũ Hành sinh Vạn vật, Vạn vật sinh sôi nảy nở không ngừng nghỉ Ở điểm này, ta thấy bóng dáng của Chu Đôn Di

Tuy thế, theo ý nghĩa nhất định, Ngũ Hành không hoàn toàn có tính vật lý, chúng chỉ có ý nói tới các đặc tính và thiên hướng bên trong mọi sự vật Do đó, lý thuyết về Ngũ Hành trình bày cụ thể trong năm quá trình tự nhiên trong vạn vật theo cách làm cho chúng có khả năng liên quan tới cơ quan và tính khí của con người

Kim - Phế: tính như sắt có thể thay đổi (tùy thợ rèn)

Mộc – Gan: tính như gỗ, khi cong khi thẳng

Thủy - Thận: tính như nước, thấm xuống dưới

Hỏa – Tim: tính như lửa nóng bốc lên

Thổ - Tì: tính như đất, cày xới tu dưỡng

Như thế, Ngũ Hành là những biểu tượng của các quá trình ràng buộc loài người với phần còn lại của tự nhiên, trong đó, từng cặp Ngũ Hành tương khắc tương sinh theo với toàn bộ quá trình sinh hóa và hòa nhập của vạn vật, làm thành quan niệm về nhân sinh và vũ trụ thời Tống Nho của người Trung Quốc

1.1.1.7 Nguyên Nho

Vó ngựa Mông Cổ đạp đổ thành trì của Trung Quốc Lần đầu tiên trong lịch sử, người Hán mất trọn vẹn chủ quyền Suốt 90 năm, toàn đất nước Trung Quốc chịu sự thống trị của nhà Nguyên (1277 – 1367)

Người Mông Cổ cai trị Trung Quốc với một chính sách khắc nghiệt, vừa chia để trị vừa tiến hành những biện pháp cực kỳ tàn bạo Thế rồi vua quan nhà Nguyên càng ngày càng bị Hán hóa Năm 1313, vua Thần Tông hạ chiếu quy định Ngũ Kinh, Tứ Thư là sách chính dùng cho khoa cử và

sĩ tử phải theo đúng những chú giải của Chu Hy Sự kiện ấy góp phần củng cố ảnh hưởng của Tống Nho, khiến cho Tống Nho được xem là đại biểu độc nhất của Nho giáo, một vai trò chưa hẳn đã nằm trong ý nguyện của những người khai sáng và tập đại thành nó

Trần Trọng Kim trong tác phẩm Nho giáo, Trung tâm học liệu, Bộ Giáo Dục, Sài Gòn, 1971,

tr 194 – 195, tổng luận về Nguyên Nho như sau:

“Nho giáo trong đời nhà Nguyên tuy so với các đời trước thì không bằng, nhưng cũng có cái

vẻ thịnh đạt Những học giả như Triệu Phục, Hứa Hành và Hứa Khiêm đều là người có đức hạnh rất xứng đáng, đủ làm tiêu biểu cho nhân vật trong một thời Song cái học của Nguyên Nho chỉ bó buộc trong phạm vi Trình, Chu mà thôi, vì rằng ai cũng cho Nho học đến đó là cùng cực rồi Kết quả thành

ra là ngoài sự học để giữ lấy cái danh tiết cho trong sạch, thì không ai phát triển ra được điều gì cao minh hơn nữa”

1.1.1.8 Minh Nho

Trang 36

Tống Nho về sau triển khai thành nhiều học phái khác nhau, mỗi nhà nhấn mạnh một điểm riêng nhưng rồi tất cả vẫn gặp gỡ nhau ở một điểm chung là bó buộc trong phạm vi Trình, Chu Nguyên nhân do bởi quá thịnh vượng trong khoa cử nên bị xem là đại diện độc quyền, khiến tư tưởng bị khai thác một cách từ chương tới khô kiệt Vì thế, nói như Huỳnh Thúc Kháng trong bài

“Lối học khoa cử và lối học Tống Nho có phải là học đạo Khổng Mạnh không?” in trên báo Tiếng Dân: nó đưa tới học phong hủ bại

Sang thời nhà Minh (1368 – 1644), Nho giáo lại sinh động bằng một chuyển biến tư tưởng mới, với việc xuất hiện nhà tư tưởng Vương Thủ Nhân (1472 – 1528)

Trong Khổng học đăng, quyển hai, trang 727, Phan Bội Châu viết về bối cảnh, con người và thành tựu của họ Vương như sau:

“Khổng học phái đời Minh, từ lúc có pho ‘Ngũ Kinh Tứ Thư đại tuyền’ ra đời, dùng bản sách này thi tấn sĩ Học giả trong thiên hạ chuyên đem ‘Trình, Chu tập chú’ làm mồi cân đai Ngoài

‘Trình, Chu tập chú’ họ chẳng biết một tý gì Nhưng mà họ há phải say ở Trình, Chu đâu! Chỉ bốn chữ ‘thăng quan phát tài’ là mục đích của họ Khổng học thời bây giờ thành ra một đám đồng cỏ rậm

Ở trong đám đồng hoang cỏ rậm ấy mà mở ra một đường lối quang minh, gieo vào một hạt mộng tân tiến tốt đẹp, khiến cho Khổng học lại rực rỡ tinh thần, thiệt phải quy công cho người khẩn hoang và gieo mộng”

“Người ấy là ai?”

“Tức là thầy Vương Dương Minh Thầy chẳng những học lý đã tinh mà võ công cũng trội Kể học thuyết thời tri hành nhất trí Kể sự nghiệp thời văn võ song tuyền Thiệt là một con người đích phái thừa tự ở trong Khổng học”

Vương Thủ Nhân tự là Bá An, người Dư Diêu (nay thuộc tỉnh Triết Giang), vì làm nhà ở Dương Minh động, cách Hàng Châu 20 dặm nên các học giả thời đó gọi ông là Dương Minh tiên sinh Thuở nhỏ, ông say mê tập võ và lập chí học văn để làm thánh hiền Trước hôm sắp cưới vợ, mãi nghe đạo sĩ nói về thuyết trường sinh, ông quên lễ cưới Vương Dương Minh thi đỗ Tiến sĩ năm

27 tuổi Sau đó khi làm đại tướng dẹp loạn, khi làm thượng thư bộ Binh, trong vai trò nào ông cũng biểu lộ đủ tài đức

Lúc còn trẻ, Vương Dương Minh nhiệt thành theo học phái Trình Chu Ông từng đem lời dạy của Chu Hy ra ứng dụng, ngồi quan sát cái Lý của cây tre suốt bảy ngày bảy đêm mà chẳng chứng nghiệm được gì Vì dâng sớ xin tha cho gián quan, ông bị đày cho chết bằng cách bắt ra coi trạm Long Trường (Quý Châu), nơi sơn lam chướng khí rất độc, dân toàn Mường mán không biết tiếng Hoa Nhờ tâm chí quyết sống bên bờ sinh tử mà ông đại ngộ, rồi được tái trọng dụng để dẹp loạn

Gần 60 năm sau khi họ Vương mất, học thuyết của ông mới được công nhận là chính thống Năm 1584, vua Minh Thần Tông đem ông vào trong tự miếu thờ Khổng Tử, tôn là Tiên nho Vương

tử Các đệ tử của ông ghi chép lại tư tưởng của thầy thành Vương Văn Thành Công toàn thư, trong

đó tác phẩm quan trọng nhất về triết học là Truyền tập lục, Đại học vấn

Điểm xuất phát của học thuyết Vương Dương Minh là hình nhi thượng của Nho giáo, nơi cái đạo của Khổng Tử và Mạnh Tử cùng là một với cái đạo của Lão Tử, đều lấy lý Thái cực làm gốc của

vũ trụ nhưng vì thực hành khác nhau nên có điều giống và khác

Ông quan niệm rằng, vũ trụ vận hành không ngừng nghỉ nhưng trong đó, vì có cái làm chủ tể nên nó mới ung dung tự tại và có trật tự Lý là chủ tể ấy và Khí là sinh hóa Vũ trụ là một tổng thể

Trang 37

tâm linh, trong đó chỉ có một thế giới thực tại hữu hình mà chúng ta có thể chứng nghiệm Bởi vậy,

nó không có chỗ cho cái “Lý” trừu tượng mà Chu Hy thường nhấn mạnh Do đó, Đạo là cái cao siêu, không thể thấy bằng mắt, nghe bằng tai mà chỉ có thể nhận thức thấu đáo bằng linh giác, phải lý hội bằng cảm quan rồi để tâm bỏ sức mà suy ngẫm mới có thể sở đắc nó

Vương Dương Minh khẳng định rằng ngoài tâm không có Lý nào khác, ngoài Tâm không có vật nào khác, Tâm với Tính là một Tâm sáng tỏ tức là Lý của ta, muốn biết rõ Tâm thì phải bỏ nhiều công sức để hiểu rõ cái Tính Dựa trên cơ sở “Trí tri” (hiểu cho thấu đáo) của Khổng Tử và “Lương tri, Lương năng” (khả năng bẩm sinh biết đúng và làm đúng) của Mạnh Tử, Vương Dương Minh dùng thuyết Trí Lương tri làm phương cách hiểu rõ Tính, cái ông cho là bản tính tự nhiên và đồng nghĩa với Thiên mệnh

Trí là minh giác của Tâm, Lương tri, Lương năng là bản thể của Tri hành Ông cho rằng tâm của con người và của thánh nhân chẳng khác gì nhau, và học là chỉ để cầu cho được cái Tâm, “cũng như trồng cây vậy, Tâm là rễ, học là vun đắp tưới bón, tỉa cành cắt lá, không gì là không vì cái rễ”

Tự tu dưỡng là tâm điểm của Nho giáo để làm người quân tử, nhưng riêng với Vương Dương Minh, tu dưỡng là nhằm tìm lại cái Tâm, để đạt cảnh giới “vạn vật nhất thể” do đó, chữ Lương tri của ông bao hàm ý nghĩa Tri Hành hợp nhất

Bản thể tự nhiên của Tâm thì không thiện không ác, căn nguyên của thiện và ác chính là cái động của ý thức Vì thế, muốn khôi phục bản thể của Tâm, phải Cách vật Trí tri Tri Hành phải hợp nhất vì nếu quá thiên về công phu thực dụng thì bỏ mất bản thể của Lương tri, còn nếu quá thiên về bản thể của Lương tri thì bỏ mất công phu thực dụng

Tác phong tra vấn tới cùng, quan điểm tâm là mọi sự và tri hành hợp nhất của Vương Dương Minh khiến ông có một vị trí tách biệt với các Nho gia cùng thời Vì kể từ Chu Hy, người ta xem việc sở đắc tri thức trong kinh điển như một chuẩn mực cho người thi đỗ ra làm quan Sau một khoảng thời gian chói lọi, học thuyết tuy cao vời mà thực tế của Vương Dương Minh lại bị cái học của Trình Chu lấp áp Mãi tới cuối thời Minh, nó mới có ảnh hưởng sâu rộng trở lại, lan xa đến Nhật Bản

1.1.1.9 Nho giáo thời Cộng hòa Trung Hoa dân quốc (1911 – 1949) và Cộng hòa nhân dân Trung Hoa

Nho giáo là hệ tư tưởng liên quan tới một truyền thống triết học phát triển suốt 2.500 năm, góp phần xây dựng nên và tiềm tàng trong đức hạnh của con người Do đó, nó kết hợp mật thiết với bối cảnh văn hóa và được tăng thêm sức mạnh nhờ thực tế Ngũ Kinh, Tứ Thư, đặc biệt qua chú giải của Tống Nho Nho giáo được chính thức chấp nhận là sách giáo khoa cho thanh thiếu niên và tài liệu cơ bản chuẩn bị thi cử cho các sĩ tử muốn tham chính

Năm 1905, Trung Quốc bỏ khoa cử Cuộc cách mạng Tân Hợi năm 1911 chấm dứt triều đại Thanh, thành lập chế độ Cộng hòa Trung Hoa dân quốc, Nho giáo bị mất cơ sở chính trị và xã hội từng hỗ trợ nó và ảnh hưởng trước mắt của nó bị biến mất nhanh chóng Lúc đó người ta lẹ làng đồng nhất nó với chế độ phong kiến Các khái niệm hiếu thảo và trung thành của nó đã củng cố các chế độ quân chủ cùng toàn bộ cung cách sống đã bị đánh giá là áp bức Tuy thế, nhiều đặc tính đạo đức thấm nhuần qua hàng thế kỷ của Nho giáo vẫn được cá nhân theo đuổi

Mặt khác, Mạnh Tử từng quả quyết rằng phải đặt phúc lợi của người dân ở trước và cao hơn phúc lợi của kẻ cai trị, đồng thời dân chúng có quyền thay đổi kẻ cai trị nếu y tỏ ra là người không

Trang 38

công chính Đặc điểm ấy trong các lời thánh hiền của Nho giáo được dùng để biện minh cho những thay đổi xã hội đầu thế kỷ XX

Năm 1949, cách mạng Trung Quốc thành công, Đảng Cộng sản Trung Quốc đã xóa bỏ toàn

bộ trật tự xã hội cũ, triệt để thay thế hệ tư tưởng Nho giáo bằng hệ tư tưởng chủ nghĩa Mác – Lê-nin,

đã đặt dấu chấm hết cho Nho giáo như một căn bản thao tác xã hội

Đạo đức học Nho giáo liên quan tới tính chuyên cần và lòng trung thành với gia đình thân tộc

có thể hỗ trợ cho các nền kinh tế thương mại và kỹ nghệ đang nổi ở Đông Á Nhưng trong thời hiện đại đối với nhiều người, tiềm năng Nho giáo chủ yếu liên quan tới phúc lợi của cá nhân trong một nền triết học khích lệ con người phải có thời gian tĩnh lặng, suy ngẫm đạo đức, và lấy sự tu dưỡng bản thân làm điểm xuất phát cho mọi hành động của mình

Ngày nay, nhiều nước, đặc biệt là Trung Quốc đang có mối quan tâm mới mẻ tới Nho giáo, nhưng chủ yếu về phương diện bảo tồn văn hóa Trung Hoa và đang chống lại những tác động tiêu cực trong quá trình toàn cầu hóa Mặc dù ngày nay, người ta đang nhấn mạnh Nho giáo là một triết học về cuộc đời hàm chứa các quan điểm chính trị, nhưng những người đang theo nó không muốn quay trở lại trật tự xã hội xưa cũ

1.1.2 Quá trình du nhập và phát triển Nho giáo ở Việt Nam

1.1.2.1 Sự du nhập Nho giáo vào Việt Nam (thời Bắc thuộc)

Sau mấy lần vũ trang xâm lược bị thất bại, Triệu Đà thực hiện mưu kế điều tra, do thám tình hình, chia rẽ, ly tán nội bộ chính quyền Âu Lạc, rồi năm 179 TCN bất ngờ đem quân đánh chiếm Âu Lạc Từ đây cho đến khi nổ ra cuộc khởi nghĩa của Khúc Thừa Dụ (905) và chiến thắng Bạch Đằng của Ngô Quyền (938), nhân dân ta rơi vào ách thống trị của các triều đại phong kiến phương Bắc hơn

10 thế kỷ

Với mục đích đánh chiếm lâu dài nước ta, các triều đại phong kiến phương Bắc đã tích cực thực hiện mọi thủ đoạn, biện pháp cai trị để đàn áp về quân sự, đồng hóa về văn hóa, biến nước ta thành quận, huyện của Trung Quốc

Về mặt tư tưởng, tinh thần, ngay ở thời Tây Hán, trong một chừng mực nhất định, chính quyền đô hộ đã đưa Nho giáo vào nước ta làm công cụ thống trị Tuy nhiên sức sống của nền văn hóa dân gian của nước ta lúc bấy giờ đã có sức đề kháng mạnh: một số nguyên lý của Nho giáo không thể đứng vững ở đất Giao Chỉ, Cửu Chân, nhiều quy tắc Nho giáo đã bị Việt hóa

Đến đầu thế kỷ I, các vua nhà Hán đưa người Trung Quốc sang ở lẫn với nhân dân ta, dạy cho người bản xứ biết nói tiếng Trung Quốc, học đôi chữ Hán để làm mất đi nền văn hóa cổ truyền

và làm cơ sở cho việc tiếp thu văn hóa Hán Tiến thêm một bước, các quan Thái thú Giao Chỉ, Cửu Chân được lệnh triều đình đưa chữ Hán vào Giao Châu, mở trường dạy để dân ta theo “lễ nghĩa Trung Hoa” từ cách ăn mặc, lấy vợ, lấy chồng, làm mũ, giày… Trong bài sớ của Thái thú Hợp Phố là Tiết Tổng dâng lên vua Ngô là Tôn Quyền năm 231 có nói: “Triệu Đà nổi dậy ở Phiên ngung, vỗ về thần phục được vua Bách Việt, đó là miền đất về phía Nam quận Châu Nhai Hiếu Vũ (nhà Hán) giết

Lữ Gia, mở 9 quận đặt chức Thứ sử ở Giao Chỉ, dời những người phạm tội ở Trung Quốc sang ở lẫn vào các nơi ấy, cho học sách ít nhiều, hơi thông hiểu lễ hóa Đến khi Tích Quang làm Thái thú Giao Chỉ, Nhâm Diên làm Thái thú Cửu Chân, dựng nhà học, dẫn dắt bằng lễ nghĩa Từ đấy trở đi (tức từ thời Triệu Đà về sau), hơn 400 năm, dân tựa hồ đã có quy cũ”

Trang 39

Biện pháp di dân kết hợp “giáo hóa” tại chỗ là biện pháp vô cùng thâm hiểm, khá nhất quán của chính quyền phong kiến phương Bắc để đồng hóa nhân dân ta

Như vậy, giáo dục nhà trường mà Nho giáo là nội dung chủ yếu đã xuất hiện ở nước ta từ buổi đầu công nguyên Chính sách “dựng học hiệu để dạy lễ nghĩa” cho dân Giao Chỉ, Cửu Chân được chú trọng và ngày càng đẩy mạnh Nhiều nho sĩ người Trung Quốc được cử sang Giao Chỉ để

“dạy chữ Thánh hiền”, “khai hóa” cho người bản xứ Trong số đó, Sĩ Nhiếp được xem như người có công mở mang giáo dục ở đất Giao Châu, được tôn làm “Nam giao học tổ” (ông tổ của việc học ở đất phương Nam), được gọi là Sĩ Vương (tuy không làm vua)

Tuy nhiên, việc đánh giá Sĩ Nhiếp ngay ở thời phong kiến dân tộc sau này cũng có những ý kiến trái ngược nhau Lê Văn Hưu cho rằng: “Sĩ Vương biết lấy khoan hậu, khiêm tốn để kính trọng

kẻ sĩ, được người thân yêu mà đạt tới quý, thịnh một thời Lại hiếu nghĩa thức thời, tuy tài và dũng không bằng Triệu Vũ Đế, nhưng chịu nhún mình thờ nước lớn để giữ vững bờ cõi có thể gọi là người trí Tiếc rằng con nối không gánh vác nổi cơ nghiệp của cha, để cho bờ cõi nước Việt đã toàn thịnh

mà lại bị chia cắt, đáng buồn thay”

Ngô Sĩ Liên và các tác giả khác của Đại Việt sử ký toàn thư cũng đánh giá cao Sĩ Nhiếp:

“Nước ta thông thi thư, học lễ nhạc, làm một nước văn hiến, là bắt đầu từ Sĩ Vương, công đức ấy không chỉ ở đương thời mà còn truyền mãi đời sau, há chẳng lớn sao?”

Vua Tự Đức và các sử thần nhà Nguyễn trong Quốc sử quán lại đánh giá khác về Sĩ Nhiếp Vua Tự Đức cho rằng: “Sĩ Nhiếp chẳng qua là một thái thú nhà Hán, tùy thời nịnh hót, cầu sao cho mình được an toàn, chứ không có mưu lược tài cán gì giỏi cả, đến nỗi truyền được hai đời đã mất, có

gì đáng khen! Thế mà sử cũ cho rằng Ủy Đà cũng không hơn được, chẳng cũng là lời khen quá đáng ư!” Các tác giả “Khâm định Việt sử thông giám cương mục” cũng khẳng định rằng: “Xét ra, Sĩ Nhiếp chỉ là một thái thú nhà Hán, chưa hề xưng vương, sử cũ (tức Đại Việt sử ký toàn thư) chép riêng một kỷ, đem so với nghĩa lễ chép Cương mục của Chu Tử thì không hợp, nay tước bỏ đi”

Sự thực thì Sĩ Nhiếp mở trường học, đưa hàng trăm sĩ phu Trung Quốc sang Giao Châu để cùng ông đẩy mạnh việc truyền bá Nho giáo và Hán học nhằm thực hiện chính sách đồng hóa nhân dân ta Việc mở trường cũng chỉ ở Luy Lâu, Long Biên và một số vùng trung tâm ở châu trị, quận trị; ảnh hưởng việc giáo dục của Sĩ Nhiếp cũng không lớn lắm trong cả nước Dù vậy, một cách khách quan, cũng thừa nhận rằng, Sĩ Nhiếp là một người mở trường học đầu tiên ở Việt Nam, phổ biến tư tưởng và văn học Trung Quốc vào Việt Nam

Với sức sống của mình, nhân dân Việt Nam thời Bắc thuộc cũng có những phản ứng đối với việc du nhập và phát triển giáo dục của phong kiến Trung Quốc ở Giao Châu Trước hết, ngay từ đầu thế kỷ III TCN đã có người nước ta sang du học ở kinh đô Trung Quốc thời Tần (Lạc Dương) Đó là

Lý Ông Trọng đã thi đỗ và làm quan ở “thiên triều” vào thời Sĩ Nhiếp, một số nho sĩ Giao Châu cũng

đã đỗ đạt và làm quan với nhà Hán Lý Tiến là Thứ sử Giao Châu Lý Cầm là Tư lệ hiệu úy Trương Trọng làm Thái thú Kim Thành, Khương Công Phụ làm Gián nghị đại phu, Khương Công Phục (em của Khương Công Phụ, đỗ tiến sĩ như anh ở thời nhà Đường) làm Bắc Bộ Thị lang…

Thời Tam Quốc (220 – 280) và thời Tấn (265 – 420), nhiều người Trung Quốc tiếp tục sang

ta mở trường học Thời Tôn Quyền (222 – 252), Ngu Phiên bị đày sang Giao Châu, “tuy là thân tù tội nhưng giảng học không biết mỏi” Đỗ Tuệ thời Tấn, Tống (420 – 479) cũng chăm mở mang trường học để truyền bá Nho giáo Tình hình đó đến đời Đường lại càng phát triển Ngoài việc học tập ở nước ta, một số người còn được sang học ở kinh đô Trường An của Nhà Đường

Trang 40

Dù có trường học, có người đỗ đạt, song không thể xem giáo dục của các triều đại phong kiến Trung Quốc mở ở Giao Châu là nền giáo dục dân tộc của Việt Nam mà là giáo dục nô lệ của chế độ

đô hộ phương Bắc Tuy vậy, trong một chừng mực nhất định, Nho giáo và Hán học ít nhiều cũng thâm nhập vào xã hội Việt Nam từ đầu thời Bắc thuộc Nhưng đại bộ phận nhân dân Giao Châu vẫn sống trong các làng xã cổ truyền, giữ được giáo dục dân gian từ bao đời lưu lại và phát triển Nền văn hóa, giáo dục truyền thống này vẫn có vai trò lớn trong việc đào tạo những con người Việt Nam, không bị đồng hóa mà còn “Việt hóa” một số yếu tố văn hóa Trung Quốc xâm nhập vào nước ta lúc bấy giờ Điều này tạo nên một sức mạnh để liên tiếp nổi dậy chống chính quyền đô hộ, để cuối cùng

đã thoát khỏi ách thống trị của phong kiến phương Bắc, xây dựng nền độc lập tư chủ Ngay một số nho sĩ Giao Châu tuy đỗ đạt, làm quan song không phải chỉ lo phục vụ triều đình phong kiến phương Bắc mà quên nhiệm vụ đấu tranh giải phóng dân tộc Ví như, Tinh Thiều học giỏi, đỗ cao, chỉ được

bổ dụng làm chức Quảng Dương môn lang (chức gác cổng thành) Ông tức giận vì bị khinh bạc nên

bỏ về theo Lý Bôn khởi nghĩa và giữ chức quan văn của nhà nước Vạn Xuân độc lập

1.1.2.2 Sự phát triển bước đầu của Nho giáo Việt Nam thời Lý – Trần (1009 – 1400)

Năm 905, với việc Khúc Thừa Dụ giành được chức Tiết độ sứ từ tay chính quyền đô hộ nhà Đường, đất nước được độc lập, nhưng ở thế kỷ X, dưới chính quyền của Khúc, Dương, Ngô, Đinh, Tiền Lê, Nho giáo chưa phát triển đáng kể Lúc ấy chưa xuất hiện những bài chính luận dựa trên cơ

sở Nho học và cúng chưa ra đời nền giáo dục khoa cử Nho học ở nước ta

Bước sang thời Lý, nhất là sau khi nhà nước cho lập Văn Miếu (1070), tổ chức thi Minh kinh bác học và Nho học tam trường (1075), đồng thời mở trường Quốc tử giám (1076) để đào tạo Nho sĩ thì giới nghiên cứu Nho học ở nước ta ngày một ra đời và lớn mạnh DO yêu cầu củng cố nhà nước tập quyền và trật tự xã hội phong kiến, tư tưởng Nho học sớm được các nhà chính trị của nước ta vận dụng, mà biểu hiện đầu tiên là Chiếu dời đô (1010) của Lý Công Uẩn và bài thơ Nam quốc sơn hà của Lý Thường Kiệt Ở đây tư tưởng Thiên mệnh của Nho giáo đã được sử dụng Ngoài ra, các khái niệm trung hiếu, nhân nghĩa của Nho gia cũng được vận dụng trong ứng xử mà tiêu biểu là những hành động của Lê Phụng Hiểu, Tô Hiến Thành SỞ dĩ Nho giáo đã giành được một chỗ đứng nhất định trong tư tưởng chính trị - xã hội lúc bấy giờ là vì nó cung cấp được cho nhà cầm quyền một hệ thống lý luận và cả những bài học kinh nghiệm trị nước

Sang thời Trần, ảnh hưởng của Nho giáo càng mạnh mẽ và sâu sắc Chính vua Trần, cũng đồng thời là một nhà Thiền học nổi tiếng đã phải thừa nhận: “Cái phương tiện để mở lòng mê muội, cái đường lối soi rõ sống chết chính là đại fiaos của đức Phật CÒn việc giữ cán cân để làm mức cho hậu thế, nêu khuôn phép cho tương lai lại là trách nhiệm nặng nề của Tiên thánh (tức Tiên Nho)” (Tựa Thiền tông chỉ nam)

Do sự mở rộng của giáo dục và khoa cử Nho học ở thời Trần, một tầng lớp Nho sĩ dần dần lớn mạnh và họ tham gia tích cực vào các hoạt động chính trị, phấn đấu cho lý tưởng tu, tê, trị, bình, hướng nhà vua theo con đường nhân chính và đức trị Họ đem lại cho sinh hoạt tư tưởng và văn hóa của nước nhà một không khí học thuật sôi động Tiêu biểu là các nhà nho Chu Văn An, Lê Văn Hưu, Trương Hán Siêu… Đồng thời, để giành thắng lợi cho hệ tư tưởng của mình, các nhà nho thời Trần

đã công kích Phật giáo, phê phán các biểu hiện thoái hóa trong đạo đức của một số sư tăng, phê phán việc lạm dụng công quỹ trong xây dựng chùa chiền… Nhưng một khi chiếm được ưu thế tuyệt đối tỏng kiến trúc thượng tầng của xã hội Đại Việt thì Nho giáo lại mang theo những tư tưởng giáo điều

Ngày đăng: 15/04/2021, 19:31

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w