TRƯỜNG ĐẠI HỌC AN GIANG KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC CỦA ÂM DƯƠNG GIA VÀ SỰ ẢNH HƯỞNG CỦA NÓ ĐỐI VỚI VẤN ĐỀ PHONG THỦY TRONG HÔN NHÂN Ở VIỆT NAM HIỆN NAY NGUYỄN THỊ THÙY DƯ
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC AN GIANG KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC CỦA ÂM DƯƠNG GIA VÀ SỰ ẢNH HƯỞNG CỦA NÓ ĐỐI VỚI VẤN ĐỀ PHONG THỦY TRONG HÔN NHÂN Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
NGUYỄN THỊ THÙY DƯƠNG
HỒ NGỌC TRÂM
AN GIANG, THÁNG 8-2016
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC AN GIANG KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC CỦA ÂM DƯƠNG GIA VÀ SỰ ẢNH HƯỞNG CỦA NÓ ĐỐI VỚI VẤN ĐỀ PHONG THỦY TRONG HÔN NHÂN Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
NGUYỄN THỊ THÙY DƯƠNG, MSSV: DCT125044
HỒ NGỌC TRÂM, MSSV: DCT125049
CÁN BỘ HƯỚNG DẪN:
ĐỖ CÔNG HỒNG ÂN
AN GIANG, THÁNG 8-2016
Trang 3i
Đề tài nghiên cứu khoa học “Tư tưởng triết học của Âm dương gia và sự ảnh hưởng của nó đối với vấn đề phong thủy trong hôn nhân ở Việt Nam hiện nay”, do nhóm sinh viên Nguyễn Thị Thuỳ Dương và Hồ Ngọc Trâm thực hiện dưới sự hướng dẫn của Thạc sĩ Đỗ Công Hồng Ân Đại diện nhóm tác giả đã báo cáo kết quả nghiên cứu và được Hội đồng Khoa học và Đào tạo khoa Lý luận chính trị thông qua ngày
Trang 4ii
LỜI CẢM TẠ
Để hoàn thành đề tài nghiên cứu khoa học này, nhóm tác giả xin chân thành cảm ơn sâu sắc đến Ban chủ nhiệm khoa Lý luận chính trị đã quan tâm và tạo mọi điều kiện để nhóm tác giả hoàn thành đề tài Đồng thời cũng bày tỏ lòng cảm ơn chân thành đến giảng viên hướng dẫn Đỗ Công Hồng Ân đã tận tình giúp đỡ, cố vấn và hướng dẫn khoa học trong suốt quá trình thực hiện đề tài
An Giang, ngày tháng năm 2016
TM Nhóm thực hiện
Nguyễn Thị Thuỳ Dương
Trang 5iii
TÓM TẮT ĐỀ TÀI
Đề tài làm rõ một số vấn đề cơ bản của học thuyết Âm dương, học thuyết Ngũ hành, phong thủy như: nguồn gốc học thuyết Âm dương, ý nghĩa của cặp từ Âm dương, phong thủy… Ảnh hưởng của tư tưởng triết học Âm dương đến vấn đề phong
thủy trong hôn nhân ở Việt Nam hiện nay, đề tài làm rõ ảnh hưởng của tư tưởng triết
học Âm dương gia đến vấn đề phong thủy trong hôn nhân ở Việt Nam từ giai đoạn kết đến giai đoạn hôn nhân
Thông qua nghiên cứu tư tưởng triết học Âm dương và việc ứng dụng phong thủy trong cuộc sống, tác giả mong rằng với vấn đề “Tư tưởng triết học Âm - Dương
và sự ảnh hưởng của nó đối với vấn đề phong thủy trong hôn nhân ở Việt Nam hiện nay”, sẽ được nhìn nhận một cách hệ thống đồng thời tạo cơ sở để cá nhân nghiên cứu vấn đề ở mức độ cao hơn
Từ khóa: học thuyết Âm dương, phong thủy, hôn nhân
Trang 6By studying of philosophic thought of Ying and Yang theory and applying geomancy in the life, the author hope that “Philosophic thought of Ying and Yang theory and its influence to the problem of geomancy in marriage in Vietnam nowadays.”, will be recognized in system as well as create foundation for the individual to study the problem at higher level
Keywords: Ying and Yang theory, geomancy, marriage
Trang 7v
LỜI CAM KẾT
Nhóm tác giả xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng nhóm chúng tôi Các số liệu trong công trình nghiên cứu này có xuất xứ rõ ràng Những kết luận mới về khoa học của công trình nghiên cứu này chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác
An Giang, ngày tháng năm 2016
TM Nhóm thực hiện
Nguyễn Thị Thuỳ Dương
Trang 843
Trang 98 Hình 3: Biểu tượng Thái cực
14 Hình 4: Cối Kh’mer, Hình tròn – vuông trên mặt trống Thôn Mống và
Hình 5: Hà đồ cửu cung
21 Hình 6: Ngũ hành tương sinh – tương khắc và quan hệ chế hóa
24 Hình 7: Tam hợp, tứ hành xung
35 Hình 8: Hình cặp voi
38 Hình 9: Hình ảnh quả cầu thạch anh
38 Hình 10: Hình ảnh chuông gió phong thủy
40 Hình 11: hình ảnh tranh quả lựu, hình ảnh con rồng nhỏ
41
Trang 10viii
MỤC LỤC
Trang
Chương 1: GIỚI THIỆU 1
1.1.Tính cần thiết của đề tài 1
1.2.Mục tiêu nghiên cứu 1
1.3.Đối tượng nghiên cứu 2
1.4.Phạm vi nghiên cứu 2
1.5.Nội dung nghiên cứu 2
1.6.Những đóng góp của đề tài 2
Chương 2: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 3
Chương 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 5
3.1.Cơ sở phương pháp luận 5
3.2.Phương pháp nghiên cứu 5
Chương 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 6
4.1.Khái luận chung về trường phái Âm – Dương, Ngũ hành và phong thủy 6
4.1.1.Học thuyết Âm dương 6
4.1.2.Học thuyết Ngũ hành 19
4.1.3.Phong thủy 26
4.2.Ảnh hưởng của tư tưởng triết học của Âm - dương gia đến vấn đề phong thủy trong hôn nhân ở Việt Nam hiện nay 30
4.2.1.Tuổi kết hôn 30
4.2.2.Tháng cưới hỏi theo phong thủy 35
4.2.3.Quan hệ vợ chồng 36
4.2.4.Quan hệ giữa các thành viên trong gia đình 42
Chương 5: KẾT LUẬN 45
TÀI LIỆU THAM KHẢO 47
Trang 11CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU1.1 TÍNH CẦN THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Con người từ cổ xưa đã nhận thức được thế giới và bắt đầu đi tìm hiểu để giải thích thế giới Lịch sử phát triển của triết học là lịch sử đấu tranh giữa thế giới quan duy vật và thế giới quan duy tâm, giữa phương pháp biện chứng và phương pháp siêu hình Hình thức đầu tiên của chủ nghĩa duy vật là chủ nghĩa duy vật cổ đại, điển hình
là trường phái Âm dương - Ngũ hành ở Trung Hoa Thuyết Âm dương - Ngũ hành
ra đời đánh dấu bước tiến bộ tư duy khoa học đầu tiên nhằm thoát khỏi sự khống chế
về tư tưởng do các khái niệm Thượng đế, Quỷ thần truyền thống mang lại Học thuyết này đã có ảnh hưởng đến thế giới quan của triết học sau này không những của
người Trung Hoa mà cả người Việt Nam
Học thuyết Âm dương - Ngũ hành được nhiều ngành khoa học khác quan tâm vận dụng Có thể nói, ít có học thuyết triết học nào lại thâm nhập vào nhiều lĩnh vực của tri thức và được vận dụng để lý giải nhiều vấn đề của tự nhiên, xã hội như học thuyết này Từ khi hình thành và phát triển đến nay tư tưởng triết học của Âm dương gia đã ăn sâu vào đời sống văn hóa người Việt Việc sử dụng phạm trù Âm dương - Ngũ hành đánh dấu bước phát triển đầu tiên của tư duy khoa học phương Đông Chính vì thế, sự tìm hiểu học thuyết Âm dương - Ngũ hành là một việc cần thiết để
lý giải những đặc trưng của triết học phương Đông
Trong cuộc sống hàng ngày ta dễ dàng bắt gặp tư tưởng này, và người ta vẫn tìm hiểu và nghiên cứu nó Việt Nam - nền văn hóa được kết tinh với bao thăng trầm của lịch sử, một nền văn hóa có nguồn gốc cổ xưa và chịu nhiều ảnh hưởng của các nền văn hóa khác, như nền văn hóa phương Đông, phương Tây Trong đó, bị ảnh hưởng sâu đậm nhất là văn hóa nền văn hóa của các nước Ấn
Độ, Trung Quốc,… đó là lối tư duy tổng hợp và biện chứng, mà cụ thể đã để lại dấu ấn sâu đậm về những tri thức vũ trụ quan và nhân sinh quan
Hiện nay, vấn đề hôn nhân trong mỗi gia đình luôn là đề tài nhận được hiện rất nhiều sự quan tâm Bởi vì, hôn nhân không chỉ chịu ảnh hưởng của các điều kiện, các yếu tố tâm lý, vật lý mà còn chịu ảnh hưởng của các yếu tố phong thủy
Đó là lý do vì sao những cặp tình nhân, những cặp vợ chồng để nhằm khắc phục những đổ vỡ và có một cuộc hôn nhân bền vững luôn tìm đến phong thủy
Chính vì thế, sự tìm hiểu nguồn gốc, học thuyết Âm dương - Ngũ hành là một việc cần thiết để lý giải những đặc trưng của triết học phương Đông và văn hóa Việt Nam Đặc biệt là vấn đề phong thủy trong hôn nhân của người Việt Do đó tôi chọn
đề tài “Tư tưởng triết học của Âm dương gia và sự ảnh hưởng của nó đối với vấn đề
phong thủy trong hôn nhân ở Việt Nam hiện nay”
1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
Tìm hiểu tư tưởng triết học của trường phái Âm dương gia và ý nghĩa của nó
đối với vấn đề phong thủy trong hôn nhân hiện nay ở Việt Nam
Trang 12Trên cơ sở tìm hiểu tư tưởng triết học của trường phái Âm dương gia đối với vấn đề phong thủy trong hôn nhân hiện nay ở Việt Nam, từ đó vạch ra một số cách nhằm phát huy giá trị tích cực của nó đối với vấn đề phong thủy trong hôn nhân hiện nay ở Việt Nam
1.3 ĐỐI TƢỢNG NGHIÊN CỨU
Tư tưởng triết học của trường phái Âm dương và ý nghĩa của nó đối với vấn
đề phong thủy trong hôn nhân hiện nay ở Việt Nam
Đề tài tập trung nghiên cứu vấn đề phong thủy trong hôn nhân hiện nay ở Việt Nam
1.4 PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Từ đối tượng nghiên cứu đã được xác định, đề tài đi sâu nghiên cứu những ảnh hưởng của tư tưởng triết học của Âm dương gia đối với vấn đề phong thủy trong hôn
nhân ở Việt Nam hiện nay
1.5 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
- Khái luận chung về trường phái Âm dương
- Những ảnh hưởng của tư tưởng triết học của âm - dương gia đến vấn đề phong thủy trong hôn nhân ở việt nam hiện nay
1.6 NHỮNG ĐÓNG GÓP CỦA ĐỀ TÀI
- Góp phần hệ thống hóa tư tưởng triết học trường phái Âm dương
- Đề xuất được một số giải pháp nhằm phát huy giá trị tích cực đối với vấn đề
phong thuỷ trong hôn nhân ở Việt Nam hiện nay
- Ngoài ra, đề tài có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo trong việc học tập,
nghiên cứu tư tưởng trường phái Âm dương và nghiên cứu về phong thủy
Trang 13CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU
Vấn đề nghiên cứu về trường phái Âm dương - Ngũ hành được nhiều nhà khoa
học quan tâm nghiên cứu theo những khía cạnh, cách tiếp cận khác nhau:
- Về sách:
Lê Văn Sửu (1998) Học thuyết Âm dương - Ngũ hành Nxb Văn hóa Thông
tin Tác giả nghiên cứu lịch sử học thuyết Âm dương - Ngũ hành, học thuyết Âm dương - Ngũ hành trong nền văn minh nhân loại, học thuyết Ngũ hành trong đời sống
tự nhiên và xã hội Đồng thời, cuốn sách nghiên cứu khí chất sinh học người Việt Nam và Âm dương - Ngũ hành
Thiên Việt (2010) Bí ẩn Âm dương - Ngũ hành trong Thiên Can Địa Chi, Nxb
Hải Phòng Tác giả giải thích những truyền thuyết mang tính truyền kỳ trên đất nước Trung Hoa thời cổ đại, những dấu hiệu bí ẩn được hai thời vua Phục Hy và Hạ Vũ ghi nhận, khi thấy chúng xuất hiện trên lưng hai con Long Mã (Hà đồ) và Kim quy (Lạc thư) ở sông Hoàng Hà và sông Lạc Dương Khi nghiên cứu giữa Hà đồ và Lạc thư, thấy chúng có mối tương quan thông ước với nhau Vì thế để tìm hiểu về những
bí ẩn của Can chi, chúng ta phải nắm bắt thấu đáo sự biến đổi mang tính ẩn tàng của
Âm dương, Ngũ hành nằm trong đó
Nguyễn Vũ Tuấn Anh (2014) Minh triết Việt trong văn minh Đông phương,
Nxb Tri thức, Hà Nội Tác giả nhằm mục đích góp phần làm sáng tỏ cội nguồn văn hiến của dân tộc Việt qua sự phân tích những di sản văn hóa truyền thống bằng các phương pháp mang tính khoa học
Cao Tài Linh (2010) Phong thủy ứng dụng Tình yêu nồng thắm, Nxb Thời
đại, Hà Nội Tác giả chia sẻ chút tri thức phong thủy đã được đơn giản hóa cho dễ hiểu, với hình ảnh minh họa rõ nét, hướng dẫn cụ thể Những kiến thức cơ bản của phái hình thế và lý khí, xen kẽ những kiến thức nền về âm dương ngũ hành, với những ứng dụng thực tiễn trong mọi mặt đời sống, từ trang trí đến nhà cửa văn phòng, đến vị trí phương hướng xây dựng
Nguyễn Đăng Thục (2006) Lịch sử triết học Phương Đông, Nxb Từ điển bách
khoa Cuốn sách sự khác biệt giữa các vấn đề triết học khá phổ biến ở phương Tây với cách thức mà triết học phương Đông tiếp
Tư Mã Sơn Nhân & Nguyễn An (2007) Âm dương kinh, Nxb Hà Nội Tác giả
nghiên cứu Âm dương kinh dùng trong quan hệ con người, trong nhân sinh, trong kinh tế và tiền bạc, trong sự nghiệp và cạnh tranh, trong chính trị quân sự
Hoàng Tuấn (2007) Kinh dịch và hệ nhị phân, Nxb Văn Hóa Thông tin Tác
giả phát biểu một cách đầy đủ và rõ ràng nhất về vũ trụ quan và nhân sinh quan của người xưa
- Về tạp chí :
Trang 14Trần Ngọc Thêm (2013) Nguồn gốc Đông Nam Á của triết lý Âm dương, Tạp
Chí Triết học, Số 1 (260), tr 32 - 40 Tác giả trình bày đầy đủ và rõ ràng hơn vấn đề
về nguồn gốc tư tưởng Âm dương
Lương Minh Chung (2007) Kết cấu trận đồ bát quái theo Âm dương - Ngũ
hành Tạp chí Khoa học, Số 1B, tr 15 – 24 Tác giả trình bày kết cấu trận đồ bát quái
theo luật Âm dương - Ngũ hành Bài viết góp phần lí giải những đặc điểm của kết cấu hình tượng cái tôi trữ tình trong mối quan hệ với: vũ trụ, nhân sinh, kiếp người
và quê hương Kinh Bắc Qua đó rút ra một số đặc điểm thi pháp thơ Hoàng Cầm
- Về luận án, luận văn, khóa luận, tiểu luận :
Nguyễn Thị Thanh Thảo (2011) Thuyết Âm dương - Ngũ hành và ảnh hưởng
của học thuyết đối với nền y học của Phương Đông (Tiểu luận Cao học) Tác giả làm
sáng tỏ thuyết Âm dương - Ngũ hành của triết học phương Đông và ảnh hưởng của
nó đối với nền y học, các ứng dụng thực tế của nó trong việc điều trị và chấn thương hiện nay
Nguyễn Thị Minh Hiếu (2010) Tư tưởng triết học Âm dương gia và ảnh
hưởng của nó đến đời sống văn hóa tinh thần của người Việt (Tiểu luận cao học)
Tác giả trình bày về cơ sở lý luận của học thuyết âm dương, nguồn gốc và bản chất của triết lý âm dương, ảnh hưởng của tư tưởng triết học của âm dương gia đến đời sống văn hóa tinh thần của người Việt
Trần Thị Tố Uyên (2012) Triết học Âm dương gia và sự ảnh hưởng đến xã
hội Phương Đông (Tiểu luận cao học) Tác giả nghiên cứu khái niệm, nguồn gốc,
bản chất, lý luận thuyết Âm dương - Ngũ hành; sự ảnh hưởng và tồn tại của thuyết
Âm dương trong xã hội phương Đông cũng như sự tồn tại thuyết Âm dương - Ngũ hành trong xã hội Việt Nam
Nhưng chưa có một công trình nghiên cứu nào về tư tưởng triết học của Âm
dương gia và sự ảnh hưởng của nó đối với vấn đề phong thủy trong hôn hiện nay ở
Việt Nam Với mong muốn tìm hiểu để thấy được tầm quan trọng của học thuyết Âm
dương gia đối với vấn đề phong thủy trong hôn nhân tại Việt Nam hiện nay, nhóm chúng tôi mạnh dạn chọn đề tài này làm công trình nghiên cứu khoa học của mình
Trang 15CHƯƠNG 3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN
Đề tài thực hiện trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng
và chủ nghĩa duy vật lịch sử về tư tưởng triết học của Âm dương gia và vấn đề phong thủy trong hôn nhân gia đình
3.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU CỤ THỂ
- Phân pháp phân tích - phê khảo sử liệu: trên cơ sở phân tích các nguồn tư liệu
là quyển sách về các vấn đề liên quan đến học thuyết Âm dương - Ngũ hành, các tạp chí triết học cũng như các luận án, luận văn, khóa luận, tiểu luận bàn về vấn đề học thuyết Âm dương - Ngũ hành và ảnh hưởng của học thuyết này đến các vấn đề thực tiễn xã hội phát hiện, đánh giá thông tin và phục dựng lại hiện thực lịch sử trên cơ
sở các dữ liệu, thông tin thu nhận được; đồng thời nghiên cứu, so sánh các sử liệu và bằng cách đó, dùng tư liệu này để kiểm chứng tư liệu khác, tổng hợp các sự vật rời rạc thu được và xây dựng các quy tắc cần thiết để nhóm hoá các sự vật rời rạc thành chính thể khoa học
- Phương pháp lịch sử: là phương pháp xem xét và trình bày quá trình phát triển của các sự vật, hiện tượng lịch sử theo một trình tự liên tục và nhiều mặt trong mối liên hệ với các sự vật, hiện tượng khác Yêu cầu đối với phương pháp lịch sử là đảm bảo tính liên tục của các sự kiện; làm rõ điều kiện và đặc điểm phát sinh, phát triển và biểu hiện của chúng, làm sáng tỏ các mối liên hệ đa dạng của chúng với các
sự vật xung quanh
- Phương pháp logic: là phương pháp xem xét, nghiên cứu các sự kiện lịch sử dưới dạng tổng quát, nhằm vạch ra bản chất, khuynh hướng tất yếu, quy luật vận động của lịch sử Khác với phương pháp lịch sử, phương pháp logic không đi vào toàn bộ diễn biến, những bước quanh co, thục lùi của lịch sử; nó bỏ qua những cái ngẫu nhiên có thể xảy ra trong lịch sử mà nắm lấy bước phát triển tất yếu, nắm lấy cái cốt lõi của sự phát triển, nghĩa là nắm lấy quy luật lịch sử Như vậy, phương pháp logic cũng phản ánh quá trình lịch sử nhưng phản ánh với hình thức trừu tượng và khái quát bằng lý luận Có nghĩa là, phương pháp logic trình bày các sự kiện một cách khái quát trong mối quan hệ đúng quy luật, loại bỏ các chi tiết không cơ bản
Đó là hình thức đặc biệt phản ánh quá trình lịch sử
Trang 16CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 4.1 KHÁI LUẬN CHUNG VỀ TRƯỜNG PHÁI ÂM – DƯƠNG, NGŨ HÀNH VÀ PHONG THỦY
4.1.1 Học thuyết Âm dương
4.1.1.1 Nguồn gốc học thuyết Âm dương
Trời đất vạn vật nói chung là một đại vũ trụ và con người là một tiểu vũ trụ và cũng hàm chứa Âm dương và Ngũ hành
Theo Kinh dịch thì sự biến dịch trong vũ trụ từ vô cực đến thái cực, thái cực sinh lưỡng nghi (nghi âm và nghi dương); lưỡng nghi sinh tứ tượng (thái dương, thiếu dương, thái âm, thiếu âm), biểu tượng cho bốn yếu tố vật lý: lửa, kim, nước, gỗ;
tứ tượng sinh bát quái (tám quẻ) tượng trưng cho tám yếu tố vật chất cơ bản của thế
giới Mỗi quẻ gồm ba vạch vạch liền biểu tượng cho khí dương ( ), vạch đứt biểu tượng cho khí âm ( ), lần lượt chồng lên nhau theo thứ tự như bảng sau (bảng 1):
Kiền Khôn Chấn Tốn Khảm Ly Cấn Đoài
Bảng 1: Tám quẻ trong Kinh dịch Mỗi quẻ trong tá m quẻ lần lượt chồng lên nhau tạo ra 64 quẻ kép, gọi là trùng quái… từ đó mà vạn vật đều thuận theo lẽ tính mệnh và làm tròn đạo biến hóa; phân tán ra thì muôn phần khác nhau, thống nhất về đạo thì đó là một Mỗi quẻ kép có 6 hào (vạch), ba vạch trên là ngoại quẻ, ba vạch dưới là nội quẻ, tổng cộng có 384 hào
Hình 1: Bát quái
Trang 17Âm dương theo khái niệm cổ sơ không phải là vật chất cụ thể, không gian cụ thể mà là thuộc tính của mọi hiện tượng, mọi sự vật trong toàn vũ trụ cũng như trong từng tế bào, từng chi tiết Là hai khái niệm để chỉ hai thực thể đối lập ban đầu tạo nên toàn bộ vũ trụ, mâu thuẫn thống nhất, trong dương có mầm mống của âm và ngược
lại (Nguyễn Thị Thanh Thảo (2011) tr.5)
Và mọi tai họa trong vũ trụ xảy ra cũng là do không điều hòa được hai lực lượng ấy Âm thể hiện cho những gì yếu đuối nhỏ bé, tối tăm, thụ động, nữ tính, mềm mại đối lập nó là dương thể hiện sự mạnh mẽ, ánh sáng, chủ động, nam tính, cứng rắn Triết lý giải thích vũ trụ dựa trên âm và dương được gọi là triết lý Âm dương
Cốt lõi của Chu dịch là Bát quát và cơ sở của Bát quát là triết lý Âm dương
Âm dương còn là cơ sở của Hà đồ, Lạc thư, Ngũ hành cùng nhiều tư tưởng triết lý khác và phần lớn các ứng dụng trong mọi mặt đời sống của người Á Đông Song, nguồn gốc âm dương là từ đâu và từ bao giờ thì lại là vấn đề còn để ngỏ Những lời giải đáp hiện có đều khá mơ hồ, thiếu sức thuyết phục
Lý luận về Âm dương được viết thành văn lần đầu tiên xuất hiện trong sách
"Quốc ngữ" Tài liệu này mô tả Âm dương đại biểu cho hai dạng vật chất tồn tại phổ biến trong vũ trụ, một dạng có dương tính, tích cực, nhiệt liệt, cứng cỏi và một dạng
có âm tính, tiêu cực, lạnh nhạt, nhu nhược Hai thế lực âm và dương tác động lẫn nhau tạo nên tất cả vũ trụ Sách "Quốc ngữ" nói rằng: "khí của trời đất thì không sai thứ tự, nếu mà sai thứ tự thì dân sẽ loạn, dương mà bị đè bên dưới không lên được,
âm mà bị bức bách không bốc lên được thì có động đất"
Triết học Lão Tử (khoảng thế kỷ V - VI trước CN) cũng đề cập đến khái niệm
Âm dương Ông nói: “Trong vạn vật, không có vật nào mà không cõng âm và bồng dương”, ông không những chỉ tìm hiểu quy luật biến hoá Âm dương của trời đất mà còn muốn khẳng định trong mỗi sự vật đều chứa đựng thuộc tính mâu thuẫn, đó là
Âm dương
Nói về nguồn gốc của âm dương và triết lí Âm dương, theo rất nhiều người như Khổng An Quốc và Lưu Hâm (nhà Hán) cùng cho rằng Phục Hy (thời cổ ở Trung Quốc (khoảng 2852 - 2737 trước CN)) là người có công sáng tạo Theo Thiên Hệ Từ thượng truyện, chương II viết: “Ở sông Hà hiện ra bức đồ, ở sông Lạc hiện ra trang chữ, thánh nhân phỏng theo đó (Hà xuất đồ, Lạc xuất thư, thánh nhân tắc chi) Hai chữ thánh nhân ở đây mọi người đều cho là Phục Hy Phục Hy đã phỏng theo Hà Đồ,
Lạc Thư mà vẽ ra Bát quái.” (Trần Ngọc Thức, (2015), tr.2) (hình 2)
Trang 18Mà Bát quát đã được ghi chép trong Chu dịch, Ngũ hành đã được ghi chép trong Chu thư Trâu Diễn và phái Âm dương gia xuất hiện vào thế kỷ III TCN, chỉ vận dụng âm dương để mở rộng phạm vi giải thích việc đất (địa lý), việc thời (lịch sử) và việc đời (xã hội) mà thôi
Cách giải thích nguồn gốc triết lý Âm dương khác khá phổ biến là dựa vào
những thông tin về biểu tượng
Xét theo hai ký hiệu ( ) và (- -), thuyết của Quách Mạt Nhược cho rằng chúng
là sự mô phỏng bộ phận sinh dục nam và nữ, thuyết của Cao Hưởng cho rằng chúng
là sản phẩm của tục dùng ống trúc một đốt và hai đốt để bói, lại có thuyết cho rằng
chúng là sản phẩm của tục kết thừng không nút và một nút (Chu Bá Côn Dich học
(Nguyễn Viết Dần biên dịch))
Âm dương và thái cực gắn bó mật thiết với nhau Hình thái cực có khả năng bắt nguồn từ việc sùng bái cá thể hiện ở hình cá mặt người, hình đôi cá đối nhau
(Dương Lực kinh điển văn hóa 5000 năm Trung Hoa, tl)
Cách giải thích nguồn gốc triết lý Âm dương phổ biến nhất là dựa vào ngôn ngữ - văn tự
Chữ “âm” 陰 bên trái có bộ “phụ” 阝chỉ “núi đất”, bên phải phía trên có chữ
“kim” 今 hình cái nóc nhà, bên dưới có chữ “vân” 云 là “mây”, ý nói bị che khuất
Do vậy, âm là phía núi tối do mặt trời bị che khuất
Chữ “dương” 陽 bên trái có bộ “phụ” 阝chỉ “núi đất”, bên phải phía trên có chữ “nhật” 日 đứng trên chữ “nhất”, chỉ mặt trời đã mọc lên khỏi đường chân trời,
Trang 19bên dưới là chữ “vật” 勿 có hình các tia sáng rọi xuống Do vậy, dương là phía núi
sáng do có mặt trời chiếu vào (Trần Ngọc Thêm 2013 tr.32)
Các nghiên cứu khoa học liên ngành của Việt Nam và Trung Quốc đã kết luận:
“Khái niệm âm dương có nguồn gốc phương Nam” (“phương nam” ở đây bao gồm vùng nam Trung Hoa từ sông Dương Tử trở xuống và vùng Việt Nam) Trong quá trình phát triển, nước Trung Hoa đã trải qua hai thời kì: thời kì “Đông tiến”, và thời
kì “Nam tiến”
Trong quá trình “Nam tiến”, người Hán đã tiếp thu triết lý âm dương của các
cư dân phương nam, rồi phát triển, hệ thống hóa triết lý đó bằng khả năng phân tích của người du mục làm cho triết lý âm dương đạt đến hoàn thiện và mang ảnh hưởng của nó tác động trở lại cư dân phương nam Cư dân phương nam sinh sống bằng nông nghiệp nên quan tâm số một của họ là sự sinh sôi nảy nở của hoa màu và con người Sinh sản của con người thì do hai yếu tố: cha và mẹ, nữ và nam; còn sự sinh sôi nảy nở của hoa màu thì do đất và trời - "đất sinh, trời dưỡng" Chính vì thế mà hai cặp "mẹ - cha", "đất - trời" là sự khái quát đầu tiên trên con đường dẫn đến triết lý
âm dương
Chính từ quan niệm âm dương với hai cặp "mẹ - cha" và "đất - trời" này, người
ta đã mở rộng ra nhiều cặp đối lập phổ biến khác Đến lượt mình, các cặp này lại là
cơ sở để suy ra vô số các cặp mới
Tục dùng ống trúc một đốt và hai đốt để bói, tục kết thừng không nút và một nút chỉ có giá trị biểu tượng khi thể hiện ý nghĩa Âm dương, nếu không thì chúng chỉ
là những sự kiện ngẫu nhiên vô nghĩa Mà nếu thể hiện ý nghĩa âm dương thì chúng
là hệ quả của Âm dương, có sau Âm dương, chứ không phải là nguyên nhân sinh ra khái niệm Âm dương Hình cá mặt người chỉ có thể nói lên tục sùng bái cá chứ chưa liên quan gì đến khái niệm âm dương Hình đôi cá đối nhau (đầu đối đầu, đuôi đối đuôi) chỉ mới nói lên ý niệm đối xứng, mà giữa đối xứng và Âm dương là cả một khoảng cách rất xa
Xét về nguyên lý thì những tư tưởng triết lý quan trọng nhất bao giờ cũng phải xuất phát từ những nhu cầu thiết yếu nhất của cuộc sống con người Việc quả núi có mặt trời chiếu vào hay không là một sự kiện chung, chung đến mức không thể coi là một nhu cầu thuộc loại thiết yếu như vậy được Thuyết cho rằng Âm dương có liên quan đến tình dục nam nữ là có lý, nhưng tình dục nam nữ là nhu cầu thiết yếu của khắp thế gian, nguyên nhân nào khiến cho nó đã trở thành tiền đề cho sự ra đời của triết lý âm dương ở khu vực này?
Khi nghiên cứu văn hóa Trung Hoa, chúng ta đều biết rõ rằng sở dĩ văn hóa Trung Hoa vĩ đại như vậy là nhờ nó đã hấp thu tài tình những thành tựu văn hóa của các dân tộc mà Trung Quốc đã tiếp xúc giao lưu hoặc đã sáp nhập, đồng hóa Thế nhưng khi nghiên cứu những hiện tượng cụ thể, chúng ta lại rất hay quên điều này và thường vô tình giới hạn đối tượng nghiên cứu của mình trong phạm vi của một dân
tộc cố định và một không gian địa lý cố định (Trần Ngọc Thêm, 2013, tr.33)
Điểm xuất phát để đi tìm nguồn gốc triết lý Âm dương là phải mở rộng không gian tìm kiếm ra cả khu vực mà triết lý này tồn tại - đó là vùng Đông Á (bao gồm cả
Trang 20Đông Bắc Á và Đông Nam Á), và mở rộng chủ thể cần tìm kiếm ra tất cả các tộc người từng sinh sống trong khu vực rộng lớn này
Một nguyên lý quan trọng có thể hỗ trợ cho chúng ta trong việc định hướng tìm kiếm là một tư tưởng đặc biệt phải là sản phẩm của một hoàn cảnh đặc biệt Triết lý
Âm dương là một tư tưởng đặc biệt: tất cả các dân tộc trên thế giới đều có tư duy đối lập (thể hiện qua sự tồn tại của các cặp từ trái nghĩa có trong mọi ngôn ngữ), nhưng chỉ có vùng Đông Á là có triết lý âm dương mà thôi Xét về điều kiện sinh tồn thì vùng Đông Bắc Á là nơi trồng các loại ngũ cốc cạn (mỳ, kê, mạch, cao lương) và chăn nuôi, không có gì khác so với cả địa bàn rộng lớn từ Tây Nam Á đến phương Tây Song Đông Nam Á thì không như thế: Đông Nam Á là nơi duy nhất trên toàn
thế giới khai sinh ra nghề trồng lúa nước và sống bằng nó trong suốt lịch sử
Về nghề trồng lúa nước, mối quan tâm số một của con người nông nghiệp là
sự sinh sôi nảy nở của hoa màu Riêng nghề trồng lúa nước có đặc điểm là phụ thuộc hoàn toàn vào việc cấp thoát nước nên việc cấy gặt phải làm tập trung vào một thời điểm, khiến nó mang tính thời vụ rất cao, cần rất nhiều sức người (tục ngữ Việt Nam
có câu: Đông tay hơn hay làm) Vì vậy, người trồng lúa nước cùng lúc quan tâm ở
mức độ cao tới hai nhu cầu sinh sản là sự sinh sản của hoa màu và của con người
Người bình dân thì chỉ biết cầu xin các lực lượng siêu nhiên, chính đây là lý do giải thích vì sao mà trên thế giới, Đông Nam Á là nơi có tín ngưỡng phồn thực, tín ngưỡng thờ Mẫu và chế độ mẫu hệ phát triển mạnh nhất Văn hóa Đông Nam Á cũng
là văn hóa thuộc loại hình âm tính nhất
Người có đầu óc thì không khó khăn để nhận ra rằng hai hình thái sinh sản này
có cùng một bản chất: sự sinh sản của con người thì do sự kết hợp của mẹ và cha, sự sinh sản của hoa màu thì do sự kết hợp của đất và trời Đất được đồng nhất với mẹ, còn trời được đồng nhất với cha Việc hợp nhất của hai cặp “mẹ - cha” và “đất - trời”
chính là sự khái quát hóa đầu tiên dẫn tới sự hình thành triết lý Âm dương (Trần
Ngọc Thêm 2013 tr.32)
4.1.1.2 Ý nghĩa cặp từ Âm dương
Âm dương đối với chúng ta hiện nay là những khái niệm trừu tượng mơ hồ, nhưng vào thời xa xưa, chúng đã từng là những từ có ý nghĩa rất cụ thể Chúng tôi đã
cho rằng, ý nghĩa ban đầu của hai từ này chính là “Mẹ Cha + Đất Trời” (Trần Ngọc
Thêm Cơ sở văn hóa Việt Nam) Do văn hóa Đông Nam Á là văn hóa trọng âm, mà
tư duy âm (phụ nữ) thì thiên về tổng hợp nên người xưa đã ghép hai khái niệm “Mẹ + Trời” thành một cặp (so sánh cách nói “xem hát” (= xem múa + nghe hát), cách xưng hô “ông - con" (= ông cháu + cha con)… trong tiếng Việt hiện đại
Trong các ngôn ngữ Đông Nam Á, từ chỉ “mẹ” đều có chung một gốc là
“ina”: ina (tiếng Giarai, tiếng Chàm hiện đại), yana (tiếng Chàm cổ), inang (tiếng Indonesia), nạ (tiếng Việt cổ, nạ dòng = người đàn bà đã có con)… Từ chỉ “trời, thần” trong hàng loạt ngôn ngữ các dân tộc thiểu số Việt Nam đều có dạng là
“yang”: yang Sri “thần lúa” (nhiều ngôn ngữ Tây Nguyên), yang Đak “thần nước” (nhiều ngôn ngữ Tây Nguyên), giàng (tiếng Mường), nhang (tiếng Raglai),…
Trang 21Cặp từ “yĩn - yáng” trong tiếng Hán thể hiện trật tự “âm” trước “dương” sau Trật tự ưu tiên yếu tố âm này là bằng chứng ngôn ngữ học rõ ràng về việc khái niệm
“Âm dương” có nguồn gốc từ văn hóa trọng nữ Đông Nam Á, là kết quả của việc tổng hợp từ trật tự “mẹ” trước “cha” sau và “đất” trước “trời” sau Nó khác hẳn với truyền thống văn hóa trọng nam Đông Bắc Á, thể hiện qua trật tự “phụ mẫu” (父母),
“nam nữ” (男女), “thiên địa” (天地)
Hai từ “yĩn - yáng” trong tiếng Hán chỉ là sự mượn âm của cặp từ “ina - yang” của các ngôn ngữ Đông Nam Á cổ Hai chữ 陰陽 thì được hình thành muộn về sau
để ghi lại hai khái niệm đã có từ trước đó, lúc này cặp khái niệm “Âm dương” đã
phát triển ra nhiều nghĩa; nghĩa “tối - sáng” chỉ là một phần trong đó (Trần Ngọc
Thêm, 2013, tr.35)
Chính từ quan niệm âm dương với hai cặp đối lập “mẹ - cha” và “đất - trời” này, người xưa đã dần dần suy ra vô số những cặp đối lập phổ biến khác Nhiều cặp trong số đó đã trở thành những biểu tượng
Từ cặp “đất - trời”, người xưa đã suy ra:
Trời ở trên, đất ở dưới, nên trên thuộc âm, dưới thuộc dương Từ đây, cặp “trên
- dưới” đã trở thành biểu tượng vị trí cho Âm dương
Lạnh là thuộc tính của đất nên âm, nóng là thuộc tính của trời nên dương Phương Bắc lạnh nên thuộc âm, phương Nam nóng nên thuộc dương Ban đêm lạnh nên thuộc âm, ban ngày nóng nên thuộc dương
Đêm thì tối nên tối thuộc âm, ngày thì sáng nên sáng thuộc dương Tối thì có màu đen nên màu đen thuộc âm, ngày sáng thì nắng đỏ nên màu đỏ thuộc dương Từ đây, cặp “đen - đỏ” đã trở thành biểu tượng màu sắc cho Âm dương;…
Từ cặp “mẹ - cha”, người xưa đã suy ra:
Phụ nữ ưa tĩnh, ổn định nên tĩnh thuộc âm; nam giới ưa động, thay đổi nên động thuộc dương
Giống cái thì có tiềm năng mang thai (tuy một mà hai) nên số chẵn thuộc âm; giống đực thì không có khả năng ấy, một là một, cho nên số lẻ thuộc dương Từ đây, cặp số “chẵn - lẻ” đã trở thành biểu tượng loại số cho âm dương (đây là một khả
năng khác giải thích nguồn gốc biểu tượng hai vạch ngắn (- -) và một vạch dài ( )
Về hình khối, khối vuông thì ổn định, tĩnh nên hình vuông thuộc âm; còn khối cầu dễ chuyển động nên hình tròn thuộc dương Mặt khác, người trồng lúa nước phải chia đất trồng trọt thành vô vàn những thửa ruộng hình vuông để giữ nước và đào vô
số giếng để cấp nước nên họ rất am hiểu quy luật hình học của hình vuông, hình tròn
Họ biết rằng hình vuông có tỷ lệ giữa cạnh và chu vi là 1:4, mà số 4 là số chẵn, thuộc âm; còn hình tròn có tỷ lệ giữa đường kính và chu vi là 1:3, mà số 3 (số p) là số lẻ, thuộc dương Từ đây, cặp “vuông - tròn” đã trở thành biểu tượng hình khối cho Âm
dương (Trần Ngọc Thêm 2013 tr.36)
4.1.1.3 Các quy luật cơ bản của triết lý Âm dương
Các cặp đối lập vừa nêu chưa phải là nội dung chính của triết lý Âm dương Triết lý Âm dương không phải là triết lý về những cặp đối lập Triết lý về đối lập thì
Trang 22dân tộc nào cũng có: tư duy của mọi dân tộc đều có phạm trù đối lập, ngôn ngữ của mọi dân tộc đều có phạm trù từ trái nghĩa
Từ những cặp đối lập suy ra từ hai cặp gốc “mẹ - cha” và “đất - trời”, người xưa chắc hẳn đã thử vận dụng vào việc xác định bản chất Âm dương của các sự vật, hiện tượng quanh mình: cây lúa là âm hay dương? Cái cày là âm hay dương? Màu xanh là âm hay dương? Song, vì cây lúa, cái cày, màu xanh… là những khái niệm không có từ trái nghĩa nên đối với mỗi vật ta nói nó là âm hay dương đều được - mỗi cách trả lời đều có cái lý riêng của nó Chính từ thực tế này, người xưa đã tìm ra quy luật về bản chất các thành tố là vạn vật đều vừa âm vừa dương; nói một vật là âm hay dương chỉ đúng khi đặt trong quan hệ so sánh với một đối tượng khác theo một tiêu chí nhất định
Đồng thời, quan sát sự vận hành của ngày và đêm, tối và sáng, mưa và nắng, mùa nóng và mùa lạnh… người xưa cũng xác định được quy luật quan trọng thứ hai
là quy luật về quan hệ giữa các thành tố: âm và dương luôn gắn bó mật thiết với nhau
và chuyển hóa cho nhau
Tất cả các đặc điểm của triết lý âm dương đều tuân theo hai quy luật cơ bản
Quy luật về bản chất của các thành tố âm dương, không có gì hoàn toàn âm
hoặc hoàn toàn dương Trong âm có dương, trong dương có âm Quy luật này cho thấy việc xác định một vật là âm hay dương chỉ là tương đối, trong sự so sánh với
Trong mỗi người đều tiềm ẩn chất khác giới, nên giới tính có thể biến đổi bằng
cơ chế thức ăn hoặc giải phẫu Chính vì thế mà việc xác định tính Âm dương của các cặp đối lập có sẵn thường dễ dàng
Nhưng đối với các vật đơn lẻ thì khó khăn hơn nên có hai hệ quả để giúp cho việc xác định tính Âm dương của một đối tượng: muốn xác định được tính chất Âm dương của một đối tượng thì trước hết phải xác định được đối tượng so sánh nam so với nữ thì mạnh mẽ (dương) nhưng so với hùm beo thì lại yếu đuối (âm), màu trắng
so với màu đỏ thì là âm, nhưng so với màu đen thì là dương…
Ta có thể xác lập được mức độ âm dương cho nhiều hệ
Ví dụ, về màu sắc thì đi từ âm đến dương ta có đen - trắng - xanh - vàng - đỏ (đất "đen" sinh ra mầm lá "trắng", lớn lên thì chuyển thành "xanh", lâu dần chuyển thành lá "vàng" và cuối cùng thành "đỏ")
Tuy nhiên, không phải xác định được đối tượng rồi là xác định được tính chất
Âm dương của chúng Muốn xác định được tính chất Âm dương của một đối tượng thì sau khi xác định được đối tượng so sánh còn phải xác định được cơ sở so sánh Đối với cùng cùng một cặp hai vật, các cơ sở so sánh khác nhau sẽ cho ra những kết quả khác nhau
Trang 23Ví dụ: nước so với đất thì, về độ cứng thì nước là âm, đất là dương, nhưng về
độ linh động thì nước là dương, đất là âm; nữ so với nam, xét về giới tính là âm,
nhưng xét về tính cách có thể là dương (Trần Ngọc Thức, (2015), tr.4)
Quy luật về quan hệ giữa các thành tố Âm dương, Âm dương gắn bó mật thiết
với nhau, vận động và chuyển hóa cho nhau
Âm phát triển đến cùng cực thì chuyển thành dương, dương phát triển đến cùng cực thì chuyển thành âm Ngày và đêm, tối và sáng, mưa và nắng, nóng và lạnh, luôn chuyển hóa cho nhau
Cây màu xanh từ đất "đen", sau khi lớn chín "vàng" rồi hóa "đỏ" và cuối cùng lại rụng xuống và thối rữa để trở lại màu "đen" của đất
Từ nước lạnh (âm) nếu được đun nóng đến cùng cực thì bốc hơi lên trời (thành dương), và ngược lại, nếu được làm lạnh đến cùng cực thì nó sẽ thành nước đá (thành dương)
Âm và dương không chỉ phản ánh hai loại yếu tố (lực lượng) mà còn phản ánh hai loại khuynh hướng đối lập, không tách rời nhau, ôm lấy nhau xoắn vào nhau; trong âm có dương và trong dương có âm
Đó cũng là sự thống nhất giữa cái động và cái tĩnh; trong động có tĩnh, trong tĩnh có động… nghĩa là trong âm và dương đều có tĩnh và có động, chỉ khác ở chỗ, bản tính của âm thì hiếu tĩnh, còn bản tính của dương thì hiếu động… Do thống nhất, giao cảm với nhau mà âm và dương có động, mà động thì sinh ra biến; biến tới cùng thì hóa để được thông; có thông thì mới tồn vĩnh cữu được
Chính sự thống nhất và tác động của hai lực lượng, khuynh hướng đối lập âm
và dương tạo ra sự sinh thành biến hóa của vạn vật; khi vạn vật biến hóa tới cùng thì quay trở lại cái ban đầu
Biểu tượng Thái cực (hình thành trong đạo giáo vào đầu công nguyên) phản ánh đầy đủ hai qui luật về bản chất hòa quyện và quan hệ chuyển hóa của triết lí Âm dương; là một vòng tròn khép kín: trong đó được chia thành nửa đen nửa trắng, âm màu đen nặng hướng xuống, dương màu sáng nhẹ nổi lên, trong nửa đen có chấm trắng, trong nửa trắng có chấm đen; phần trắng là dương, phần đen là âm, chúng nói lên âm và dương thống nhất: trong âm có dương và trong dương có âm, trong thái âm
có thiếu dương, trong thái dương có thiếu âm Thiếu dương trong thái âm phát triển đến cùng thì có sự chuyển hóa thành thiếu âm trong thái dương và ngược lai Cứ vậy
vạn vật thay đổi, biến hóa không ngừng (hình 3) (Trần Ngọc Thức (2015) tr.5)
Hình 3: Biểu tượng Thái cực
Trang 24Trong logic học cũng có hai quy luật tương đương với hai quy luật ở trên Đó
là quy luật về bản chất của thành tố - luật đồng nhất, và quy luật về quan hệ giữa các thành tố - luật lý do đầy đủ mà hệ quả của nó là luật nhân quả
Luật đồng nhất (bản chất A = A) chỉ đúng khi sự vật và hiện tượng đứng yên,
mà điều này thì không biện chứng vì sự vật và hiện tượng luôn vận động (đổi mới),
mà nếu vận động thì nó không thể đồng nhất với chính nó được nữa
Trong khi đó, quy luật về bản chất của triết lý Âm dương là trong âm có dương, trong dương có âm, tức là trong A đã có B rồi Luật lý do đầy đủ xác lập nên luật nhân quả cũng chỉ xem xét sự vật và hiện tượng trong sự cô lập, không liên hệ với môi trường xung quanh, trong khi trên thực tế, sự vật và hiện tượng tồn tại trong không gian và quan hệ với các sự vật và hiện tượng khác Cái này là nhân của cái kia, nhưng nó lại là quả của cái khác Không có nhân tuyệt đối và quả tuyệt đối rất phù hợp với luật chuyển hóa âm dương bất tận, vô thủy (không có bắt đầu) và vô chung (không có kết thúc)
Hai quy luật của lôgíc học là sản phẩm của lối tư duy phân tích, chú trọng đến các yếu tố biệt lập của văn hóa du mục; trong khi quy luật của triết lý âm dương là điển hình của tư duy tổng hợp, chú trọng đến các quan hệ của văn hóa nông nghiệp
(Trần Ngọc Thức (2015) tr.5)
4.1.1.4 Triết lý Âm dương và tính cách người Việt
Triết lý Âm dương là cơ sở để xây dựng lên hai hệ thống triết lý khác đó là hệ thống "Tam tài, Ngũ hành" và "Tứ tượng, Bát quái"
Nếu so sánh phương Đông với phương Tây thì phương Tây chú trọng đến tư duy phân tích, siêu hình còn phương Đông chú trọng đến tư duy tổng hợp, biện chứng Nhưng nếu xét riêng ở phương Đông thì nếu đi từ bắc xuống nam ta sẽ thấy phía bắc Trung Quốc nặng về phân tích hơn tổng hợp, còn phía nam thì ngược lại, nặng về tổng hợp hơn phân tích
Triết lý âm dương bắt nguồn từ phương Nam, nhưng đối với các dân tộc Đông Nam Á, do tính phân tích yếu nên họ chỉ lại ở tư duy Âm dương sơ khai mang tính tổng hợp Trong khi đó khối Bách Việt đã phát triển và hoàn thiện nó
Tổ tiên người Hán cũng vậy, sau khi tiếp thu triết lý Âm dương sơ khai, họ cũng phát triển nó nhưng do năng lực phân tích của họ mạnh hơn năng lực phân tích của người Bách Việt mà từ triết lý Âm dương ban đầu, người Bách Việt và người Hán đã xây dựng nên hai hệ thống triết lý khác nhau
Ở phương Nam, với lối tư duy mạnh về tổng hợp, người Bách Việt đã tạo ra
mô hình vũ trụ với số lượng thành tố lẻ (dương): hai sinh ba (tam tài), ba sinh năm (Ngũ hành) Chính vì thế mà Lão Tử, một nhà triết học của nước Sở (thuộc phương Nam) lại cho rằng: "Nhất sinh nhị, nhị sinh tam, tam sinh vạn vật" Tư duy số lẻ là một trong những nét đặc thù của phương Nam
Trong rất nhiều thành ngữ, tục ngữ Việt Nam, các số lẻ như 1, 3, 5, 7, 9 xuất hiện rất nhiều
Ví dụ: "ba mặt một lời"; "ba vợ, bảy nàng hầu"; "tam sao, thất bản"
Trang 25Ở phương Bắc, với lối tư duy mạnh về phân tích, người Hán đã gọi Âm dương
là lưỡng nghi, và bằng cách phân đôi thuần túy mà sinh ra mô hình vũ trụ chặt chẽ với số lượng thành tố chẵn (âm) Chính vì vậy Kinh Dịch trình bày sự hình thành vũ trụ như sau: "Lưỡng nghi sinh tứ tượng, tứ tượng sinh bát quái, bát quái biến hóa vô cùng" (hai sinh bốn, bốn sinh tám) Người phương Bắc thích dùng số chẵn; ví dụ, "tứ đại", "tứ mã", "tứ trụ",
Văn hóa âm tính và tư duy lưỡng phân lưỡng hợp Đông Nam Á, chính hai quy
luật về bản chất của các thành tố âm dương và quy luật về quan hệ giữa các thành tố
Âm dương đã phản ánh nét đặc thù về tư duy của văn hóa âm tính, coi trọng sự tổng
hợp, bao quát và chú trọng đến các mối quan hệ
Triết lý Âm dương tuy hình thành ở Đông Nam Á nhưng ở Đông Nam Á nó chỉ dừng lại ở hình thức lưỡng phân, lưỡng hợp Tư duy lưỡng phân, lưỡng hợp (dualism) là dạng thiếu phân lập rạch ròi của triết lý âm dương Tính điển hình của tư duy lưỡng phân, lưỡng hợp đối với văn hóa Đông Nam Á đã được nhiều nhà nghiên
cứu phương Tây và Việt Nam khẳng định (Trần Ngọc Thêm Tìm về bản sắc văn
hóa Việt Nam)
Tính trung gian của văn hóa Đông Bắc Á, nếu Đông Nam Á thuộc loại
hình văn hóa âm tính điển hình, với lối tư duy trọng tổng hợp và quan hệ, còn phương Tây thuộc loại hình văn hóa dương tính điển hình, với lối tư duy trọng phân
tích và biệt lập, thì Đông Bắc Á thuộc loại hình văn hóa nào?
Lâu nay ta quen cho rằng Trung Quốc, Triều Tiên, Nhật Bản và Việt Nam là bốn nước “đồng văn” Đánh giá văn hóa mà chỉ căn cứ vào ảnh hưởng Nho giáo là sản phẩm vay mượn muộn sau này thì không thể vượt qua được những biểu hiện hình thức bề ngoài Bỏ ra một bên những biểu hiện hình thức bề ngoài thì sẽ thấy văn hóa
tư duy, văn hóa tổ chức, văn hóa ứng xử của Việt Nam khác hẳn ba dân tộc Đông Bắc Á, trong khi lại giống một cách lạ lùng với cách tư duy, tổ chức, ứng xử của các dân tộc Đông Nam
Đó chính là vì Đông Bắc Á tiêu biểu cho một loại hình văn hóa thứ ba: văn hóa trung gian Chính nhờ tính trung gian, từ gốc du mục chuyển sang nông nghiệp, mà người Đông Bắc Á có năng lực tư duy vừa phân tích vừa tổng hợp Nó giúp cho người Hoa Bắc sau khi tiếp thu tư duy âm dương ở dạng lưỡng phân lưỡng hợp của Đông Nam Á đã nhanh chóng hoàn thiện thành triết lý Âm dương và phát triển nó một cách hiệu quả nhất
Trong khi Đông Bắc Á là trung gian giữa Đông Nam Á và phương Tây thì Việt Nam là trung gian giữa phần còn lại của Đông Nam Á với Đông Bắc Á Việt Nam vừa nằm trong Đông Nam Á là cái nôi sinh ra triết lý Âm dương nguyên thủy, lại vừa nằm trong vòng ảnh hưởng của Trung Hoa là nơi tạo nên triết lý Âm dương hoàn thiện nên tính cách của người Việt thể hiện ảnh hưởng của tư duy Âm dương rất
mạnh (Trần Ngọc Thêm 2013 tr.37)
Tính ưa hài hòa:
Tính cách thứ nhất thuộc loại này là tính ưa hài hòa
Trang 26Tính ưa hài hòa thể hiện ở chỗ, người Việt Nam nắm rất vững quy luật “trong
âm có dương, trong dương có âm”:
Trong kho tàng tục ngữ ca dao Việt Nam, chúng tôi tìm được một số câu phản ánh nhận thức dân gian về quy luật “trong âm có dương, trong dương có âm”, kiểu như:
Trong rủi có may,
Trong cái khó, ló cái khôn
Trong dở có hay,
Trong họa có phúc;
Người có lúc vinh lúc nhục;
Nước dưới song khi mặn, khi nhạt,
Vận người đời hết nhục, phải vinh;
nước có lúc đục lúc trong,…
Do nắm vững quy luật “trong âm có dương, trong dương có âm” nên ở Việt Nam, mọi thứ thường thể hiện theo cặp đôi tạo nên âm dương hài hòa:
Tổ quốc là “đất - nước”, “non - nước”, “non - sông”
Người Ê-đê có sông đực và sông cái (krông nô và krông ana)
Trống đồng của người Ê - đê, Lô Lô có trống đực và trống cái
Câu hò trong dân gian có một vế trống và một vế mái (câu hò mái hai, mái
ba có nghĩa là một câu trống đi với hai hoặc ba câu mái)
Anh hùng dân tộc Trần Hưng Đạo và nàng Liễu Hạnh vốn chẳng có liên quan
gì với nhau và sống cách nhau tới ba thế kỷ, nhưng khi được tôn lên làm thánh, nhân dân bèn ghép lại thành đôi Cha - Mẹ (Tháng Tám giỗ Cha, tháng Ba giỗ Mẹ - tục ngữ)
Trong khi thủy tổ của người Hán là một ông Bàn Cổ, của người Hàn là một ông Dangun (Đàn Quân) thì thủy tổ của người Việt là cặp đôi Lạc Long Quân và Âu
Cơ biểu hiện cho Rồng và Tiên (cá sấu và chim); thủy tổ của người Mường là chàng Hươu và nàng Cá,
Người Chăm có hai bộ tộc là tộc cau (tính đặc, thuộc dương) và tộc dừa (tính rỗng, nước, thuộc âm)
Người Chân Lạp sống ở hai vùng là vùng Thủy Chân Lạp (âm) và vùng Lục Chân Lạp (dương)
Ở Tây Nguyên từng tồn tại trong một thời gian dài hai nhà nước Thủy
Xá (Pơtao Ia) và Hỏa Xá (Pơtao Pui)
Ngay cả những khái niệm đơn độc của dân tộc khác khi du nhập vào Việt Nam cũng được nhân đôi thành cặp:
Thần mai mối ở Trung Hoa chỉ là một ông Tơ Hồng thì vào Việt Nam được nhân đôi thành ông Tơ và bà Nguyệt
Người Hoa ở Chợ Lớn (Tp Hồ Chí Minh) dựng lên hai miếu thờ Quan Công
và Thiên Hậu riêng rẽ thì người Việt ở đây lập tức ghép hai nhân vật vốn không liên quan gì với nhau ấy thành một cặp và gọi hai miếu đó là “chùa Ông - chùa Bà”
(Trần Ngọc Thêm 2013 tr.38)
Trang 27Triết lý sống quân bình:
Nếu việc nắm vững quy luật “trong âm có dương, trong dương có âm” tạo nên tính ưa hài hòa thì việc nắm vững quy luật “Âm dương chuyển hóa” đã giúp người Việt có được triết lý sống quân bình
Trong kho tàng văn hóa dân gian người Việt, chúng tôi thu thập được một số câu tục ngữ phản ánh nhận thức về quy luật Âm dương chuyển hóa, kiểu như:
Sướng lắm khổ nhiều;
Quan cả vạ to;
Trèo cao ngã đau;
Cười người chớ vội cười lâu,
Cười người hôm trước hôm sau người cười;
Bên trái thẳng, bên phải chùng,
Cả hai cùng chẳng thì cùng đứt dây;
Ghét của nào trời trao của nấy;…
Từ đó dẫn đến triết lý sống quân bình, vừa phải: Trong việc ăn, không ăn nhanh quá, không ăn chậm quá; không ăn hết sạch, không để thừa nhiều Trong ứng
xử thì ở sao cho vừa lòng người, ở rộng người cười, ở hẹp người chê Trong giao tiếp thì đề cao cách nói nước đôi:
Làm trai nước hai mà nói;
Người khôn ăn nói nửa chừng,
Để cho người dại nửa mừng nửa lo
Ngay cả khi ước vọng cũng không tham lam: Cầu sung vừa đủ xài
Triết lý sống quân bình được thể hiện không chỉ nơi người sống mà cả nơi người chết: Trong mộ cổ ở Lạch Trường (Thanh Hóa) vào thế kỷ III TCN, các đồ vật tùy táng bằng gỗ (dương) được đặt ở phía Bắc (âm) và các đồ vật bằng gốm (âm) được đặt ở phía Nam (dương)
Trong khi biểu tượng Âm dương truyền thống của Trung Hoa là hai vạch ngắn
(- -) với một vạch dài ( ) của bát quái và hình tròn chia hai nửa bằng chữ S của Đạo
giáo thì biểu tượng Âm dương truyền thống khá bền vững của Việt Nam là cặp hình vuông - tròn Ý niệm vuông - tròn với nghĩa là sự hài hòa, quân bình, do vậy mà viên mãn, hoàn chỉnh được thể hiện khắp nơi:
Từ ý niệm (ví dụ: “cuộc vuông tròn” = hôn nhân),
Qua phong tục (bánh chưng bánh dày),
Đến các hiện vật: cái cối giã gạo của người Kh’mer có hình trong tròn, ngoài vuông Trong tròn là để thuận tiện cho việc giã gạo, còn ngoài vuông thì mang ý
nghĩa biểu tượng Âm dương thuần túy thể hiện sự hài hòa ( Janse O Nguồn gốc văn
minh Việt Nam) (hình 4a)
Trống đồng Thôn Mống (Nho Quan, Ninh Bình) của Việt Nam mà lâu nay được miêu tả là “trang trí bằng hình đồng tiền” có liên quan mật thiết với hình
“vuông ngoài tròn trong” trên rìa trống Yên Bồng (Lạc Thủy, Hòa Bình, và chính là những hình biểu tượng âm dương “tròn vuông” và “vuông tròn” lồng vào nhau (hình 4b) Tiền đồng cổ với lỗ vuông của Tần Thủy Hoàng xuất hiện sau đó
Trang 28(a) (b)
Hình 4: (a) Cối Kh’mer, (b) Hình tròn - vuông trên mặt trống Thôn Mống (phải) và hình vuông - tròn trên mặt trống Yên Bồng (trái)
Triết lý sống quân bình có nguồn gốc từ phương Nam được Khổng Tử và Lão
Tử tiếp nhận thành tư tưởng trung dung, trung đạo và được xem như một phẩm chất
mà nho sĩ, đạo sĩ phải rèn luyện để hướng đến Chính bởi vì chứa đựng những tư tưởng vay mượn khác thường này mà Nho gia và Đạo gia nguyên thủy đều không
được xã hội đương thời đề cao (Trần Ngọc Thêm, 2013, tr.39)
Nếu văn hóa Trung Hoa (phương Bắc) coi trọng cuộc sống thế tục thì văn hóa Việt Nam coi trọng tương lai (tinh thần lạc quan):
Khi nhỏ mà khổ thì tin rằng về già sẽ sướng,
Suốt đời khổ thì tin rằng đời con mình sẽ sướng: không ai giàu ba họ, không ai khó ba đời;
Nhất sĩ nhì nông, hết gạo chạy rông, nhất nông nhì sĩ (tục ngữ)
Tính cách người Việt với những biểu hiện mang tính dân gian nguyên thủy như trên cho thấy rõ ràng ảnh hưởng sâu đậm của triết lý Âm dương Chúng hoàn toàn khác xa với truyền thống văn hóa dân gian Trung Hoa tương ứng Đó cũng chính là những bằng chứng bổ sung thêm cho kết luận của chúng tôi về nguồn gốc Đông Nam
Á của triết lý Âm dương (Trần Ngọc Thêm, 2013, tr.40)
4.1.2 Học thuyết ngũ hành
4.1.2.1 Cơ sở Ngũ hành
Sự vận động không ngừng của vũ trụ đã hướng con người tới những nhận thức
sơ khai trong việc cắt nghĩa quá trình phát sinh của vũ trụ và hình thành thuyết Âm