Nghiên cứu học thuyết chính trị - xã hội của Nho giáo nói chung và tư tưởng về dân trong Nho giáo tiên Tần nói riêng cũng như ảnh hưởng của nó trong tư tưởng Việt Nam đã có nhiều công tr
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
- -
TRƯƠNG THỊ THẢO NGUYÊN
TƯ TƯỞNG CỦA NHO GIÁO TIÊN TẦN
VỀ DÂN VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA NÓ TRONG LỊCH SỬ TƯ TƯỞNG VIỆT NAM TỪ THẾ KỈ XI
ĐẾN NỬA THẾ KỶ XIX
LUẬN ÁN TIẾN SĨ TRIẾT HỌC
Hà Nội - 2019
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
- -
TRƯƠNG THỊ THẢO NGUYÊN
TƯ TƯỞNG CỦA NHO GIÁO TIÊN TẦN
VỀ DÂN VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA NÓ TRONG LỊCH SỬ TƯ TƯỞNG VIỆT NAM TỪ THẾ KỈ XI
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các tư liệu, kết quả trong luận án là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng và được trích dẫn đầy đủ theo quy định
Tác giả luận án
Trương Thị Thảo Nguyên
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 4
1 Lý do chọn đề tài 4
2 Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án 6
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 7
4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu 7
5 Đóng góp mới của luận án 7
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án 8
7 Kết cấu của luận án 8
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 9
1.1 Những công trình nghiên cứu về Nho giáo nói chung và tư tưởng về dân trong Nho giáo tiên Tần nói riêng 9
1.2 Những công trình nghiên cứu về sự ảnh hưởng tư tưởng về dân của Nho giáo tiên Tần đối với tư tưởng về dân trong lịch sử tư tưởng Việt Nam từ thế kỷ XI đến nửa đầu thế kỷ XIX 17
1.3 Những công trình nghiên cứu về giá trị, hạn chế và ý nghĩa của tư tưởng về dân trong lịch sử tư tưởng Việt Nam từ thế kỷ XI đến nửa đầu thế kỷ XIX 30
1.4 Khái quát những kết quả đạt được và những vấn đề luận án cần tiếp tục nghiên cứu 34
CHƯƠNG 2 BỐI CẢNH HÌNH THÀNH VÀ MỘT SỐ NỘI DUNG CHỦ YẾU TRONG TƯ TƯỞNG VỀ DÂN CỦA NHO GIÁO TIÊN TẦN 37
2.1 Khái quát điều kiện, tiền đề cơ bản cho sự hình thành tư tưởng về dân trong Nho giáo tiên Tần 37
2.1.1 Điều kiện kinh tế - xã hội thời Xuân Thu - Chiến Quốc 37
2.1.2 Tiền đề văn hóa, tư tưởng 43
2.2 Một số nội dung chủ yếu trong tư tưởng về dân của Nho giáo tiên Tần 47
2.2.1 Phạm trù dân trong Nho giáo tiên Tần 47
2.2.2 Quan niệm của Nho giáo tiên Tần về vị trí, vai trò của dân trong xã hội 53
Trang 52.2.3 Quan niệm của Nho giáo tiên Tần về thái độ và trách nhiệm của nhà vua, người cầm quyền đối với dân 58
2.3 Một số giá trị và hạn chế chủ yếu trong tư tưởng của Nho giáo tiên Tần về dân 75
2.3.1 Một số giá trị chủ yếu 76 2.3.2 Một số hạn chế chủ yếu 79
CHƯƠNG 3 ẢNH HƯỞNG TƯ TƯỞNG VỀ DÂN CỦA NHO GIÁO TIÊN TẦN ĐẾN TƯ TƯỞNG VỀ DÂN TRONG LỊCH SỬ TƯ TƯỞNG VIỆT NAM
TỪ THẾ KỶ XI ĐẾN NỬA ĐẦU THẾ KỶ XIX 83 3.1 Khái quát bối cảnh kinh tế - xã hội và tư tưởng của xã hội Việt Nam từ thế
kỷ XI đến nửa đầu thế kỷ XIX tác động đến sự hình thành tư tưởng về dân 83
3.1.1 Điều kiện kinh tế - xã hội 83 3.1.2 Sự tiếp thu tư tưởng Nho giáo 89
3.2 Những ảnh hưởng chủ yếu của tư tưởng về dân trong Nho giáo tiên Tần đối với lịch sử tư tưởng Việt Nam từ thế kỷ XI đến nửa đầu thế kỷ XIX 93
3.2.1 Những đối tượng, thành phần thuộc về dân 93 3.2.2 Quan niệm về vị trí, vai trò của dân trong xã hội 100 3.2.3 Quan niệm về trách nhiệm của nhà vua và nhà nước phong kiến đối với dân 111
CHƯƠNG 4 MỘT VÀI ĐÁNH GIÁ TƯ TƯỞNG VỀ DÂN TRONG LỊCH SỬ
TƯ TƯỞNG VIỆT NAM TỪ THẾ KỶ XI ĐẾN NỬA ĐẦU THẾ KỶ XIX VÀ
Ý NGHĨA, BÀI HỌC KINH NGHIỆM CỦA NÓ 146 4.1 Đánh giá khái quát về sự tương đồng và khác biệt cơ bản giữa tư tưởng về dân của Nho giáo tiên Tần và tư tưởng về dân trong lịch sử tư tưởng Việt Nam
từ thế kỷ XI đến nửa đầu thế kỷ XIX 146 4.2 Đánh giá về giá trị và hạn chế của tư tưởng về dân trong lịch sử tư tưởng Việt Nam từ thế kỷ XI đến nửa đầu thế kỷ XIX 149
4.2.1 Một số giá trị chủ yếu 150 4.2.2 Một số hạn chế chủ yếu 157
Trang 64.3 Ý nghĩa và bài học kinh nghiệm của tư tưởng về dân trong lịch sử tư tưởng Việt Nam từ thế kỷ XI đến nửa đầu thế kỷ XIX đối với công cuộc đổi mới ở nước ta hiện nay 160
4.3.1 Ý nghĩa của tư tưởng “lấy dân làm gốc” 160 4.3.2 Những bài học kinh nghiệm được rút ra từ tư tưởng về dân trong lịch sử tư tưởng Việt Nam từ thế kỷ XI đến nửa đầu thế kỷ XIX đối với công cuộc đổi mới ở nước ta hiện nay 167
KẾT LUẬN 174 DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 177 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 178
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Nho giáo là học thuyết triết học, chính trị - xã hội, đạo đức lớn nhất ở Trung Quốc và phương Đông thời cổ đại Trong nội dung của Nho giáo chứa đựng nhiều học thuyết, nhiều tư tưởng, đề cập đến nhiều lĩnh vực, nhiều mặt của đời sống xã hội và con người, trong đó có tư tưởng về dân Không ít những tư tưởng, quan niệm
ấy cho đến ngày nay chúng ta cần kế thừa, phát huy
Nho giáo là một trong rất ít hình thái tư tưởng thời cổ đại ngay từ đầu đã luôn quan tâm đến dân, đặc biệt là vai trò của dân Đây là một trong những tư tưởng
có giá trị quan trọng vì Nho giáo, đặc biệt là Nho giáo tiên Tần (hay còn gọi là Nho giáo sơ kỳ, Nho giáo nguyên thủy - giai đoạn đầu tiên của Nho giáo Trung Quốc) đã nhận thấy vai trò và sức mạnh to lớn của dân Từ trước đến nay, việc đánh giá Nho giáo cũng như tư tưởng về dân trong Nho giáo tiên Tần có nhiều ý kiến, nhận định khác nhau, dù về cơ bản là khá tương đồng Vì vậy, một trong những vấn đề lý luận cần thiết là cần phải nghiên cứu một cách khách quan, toàn diện nội dung, tính chất
và thực chất của tư tưởng ấy, để từ đó, tìm ra những giá trị tích cực và hạn chế của
nó và qua đó, sẽ giúp ta có thêm cơ sở để nhìn nhận, đánh giá đúng đắn, đầy đủ hơn
về Nho giáo nói chung và Nho giáo tiên Tần nói riêng
Theo nhiều tài liệu từ các nguồn sử học, văn học và các công trình nghiên cứu khác, Nho giáo du nhập vào Việt Nam từ thời Bắc thuộc thông qua việc xác lập
bộ máy xâm lược, cai trị và việc thực hiện chính sách Hán hoá của nhiều vương triều phong kiến phương Bắc ở nước ta Tuy nhiên, khi giành được độc lập và thành lập nhà nước phong kiến thì Nho giáo lại trở thành công cụ cai trị xã hội của giai cấp phong kiến Việt Nam Từ chỗ là công cụ xâm lược, nô dịch của ngoại xâm và bắt buộc người Việt Nam phải tiếp nhận nó, thì đến thế kỷ XI và từ đó trở đi, theo thời gian và yêu cầu phát triển của chế độ phong kiến Việt Nam, giai cấp phong kiến Việt Nam đã chủ động tiếp nhận Nho giáo và sử dụng nó thành công cụ của chính mình trong việc xây dựng, củng cố và phát triển chế độ phong kiến, trong việc xây dựng, phát triển đất nước về mọi mặt Vì vậy mà, Nho giáo đã tồn tại lâu
Trang 8dài, ảnh hưởng và đóng vai trò quan trọng trong xã hội phong kiến Việt Nam, trong nhiều tầng lớp người Việt Nam Là một bộ phận của kiến trúc thượng tầng xã hội và nhất là từ khi đóng vai trò ý thức hệ và công cụ thống trị của các triều đại phong kiến Việt Nam, Nho giáo đã ảnh hưởng đến nhiều mặt, nhiều lĩnh vực chủ yếu của đời sống xã hội và con người Việt Nam, đến quá trình hình thành và phát triển của
xã hội và chế độ phong kiến Việt Nam Cũng chính vì vậy mà nhiều nhà nghiên cứu, chẳng hạn như GS Nguyễn Tài Thư đã khẳng định rằng, Nho giáo là một bộ phận cốt lõi của di sản truyền thống dân tộc và theo chúng tôi, đã in đậm vào lịch
sử, văn hoá dân tộc Việt
Trong xã hội phong kiến ở nhiều nước phương Đông, tư tưởng về dân của Nho giáo đã ảnh hưởng đến đường lối trị nước không chỉ ở Trung Quốc mà còn nhiều nước chịu ảnh hưởng của Nho giáo trong đó phải kể đến Việt Nam Trong lịch sử tư tưởng Việt Nam, quan điểm về dân, đề cao vị trí, vai trò quần chúng nhân dân, xem quần chúng nhân dân là một trong những nhân tố có vai trò to lớn đối với quá trình xây dựng và phát triển của dân tộc đã được phản ánh, được biểu hiện trong
tư tưởng và hành động của nhiều nhà vua, nhà Nho, nhà tư tưởng Tư tưởng “lấy dân làm gốc” không chỉ đã trở thành nội dung, mục tiêu chủ yếu mà còn là cơ sở, là căn cứ để hình thành và triển khai đường lối cai trị, quản lý xã hội của các triều đại phong kiến Việt Nam, là sợi chỉ đỏ xuyên suốt quá trình xây dựng và phát triển đất nước về mọi mặt Vấn đề này đã được nhiều nhà tư tưởng đề cập đến và nó đã trở thành nội dung của nhiều diễn đàn nghiên cứu, là đối tượng thu hút nhiều nhà nghiên cứu Ngày nay, việc phát huy tinh thần “lấy dân làm gốc” đã trở thành bài học quý giá cho Đảng và Nhà nước ta trong quá trình lãnh đạo nhân dân ta thực hiện những mục tiêu của Chủ nghĩa xã hội, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việc đánh giá đúng đắn vị trí và vai trò của dân trong lịch sử, trong các diễn biến của lịch sử có
ý nghĩa hết sức quan trọng đối với sự tồn vong của mỗi triều đại và mỗi chế độ xã hội Đặc biệt là từ khi nước ta bước vào xây dựng nền kinh tế thị trường, đạo đức, lối sống của một số bộ phận cán bộ, đảng viên bị suy thoái đang giảm lòng tin của nhân dân vào Đảng, nhà nước và chế độ ta Bài học về dân, về vị trí vai trò của dân, về thái
Trang 9đó, việc rút ra những bài học từ thực tiễn trị nước và tư tưởng về dân trong lịch sử tư tưởng là rất cần thiết cho sự nghiệp xây dựng đất nước hiện nay, đặc biệt là trong việc quán triệt bài học “lấy dân làm gốc” để đẩy mạnh công cuộc đổi mới
Nghiên cứu học thuyết chính trị - xã hội của Nho giáo nói chung và tư tưởng
về dân trong Nho giáo tiên Tần nói riêng cũng như ảnh hưởng của nó trong tư tưởng Việt Nam đã có nhiều công trình khoa học đề cập đến từ nhiều góc độ tiếp cận, với những nội dung, và phạm vi nghiên cứu khác nhau, trong đó có không ít công trình
đã được xuất bản Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan, do phạm vi và mục đích nghiên cứu cũng như phương pháp tiếp cận ở mỗi công trình nghiên cứu ít nhiều có sự khác nhau Do vậy, có thể khẳng định rằng, chưa có công trình nghiên cứu nào đề cập đầy đủ, khái quát, toàn diện và có hệ thống về tư tưởng
về dân trong Nho giáo tiên Tần và ảnh hưởng của nó đến lịch sử tư tưởng Việt Nam
từ thế kỷ XI đến nửa đầu thế kỷ XIX Kế thừa những thành quả nghiên cứu trước
đó và từ góc độ tiếp cận triết học và lịch sử triết học, tác giả chọn vấn đề: “Tư
tưởng của Nho giáo tiên Tần về dân và ảnh hưởng của nó trong lịch sử tư tưởng Việt Nam từ thế kỉ XI đến nửa thế kỷ XIX” làm đề tài nghiên cứu cho luận án tiến
sĩ của mình
2 Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án
Mục đích: Trên cơ sở phân tích những nội dung chủ yếu trong tư tưởng về
dân của Nho giáo tiên Tần, luận án làm rõ sự ảnh hưởng của tư tưởng này đến tư tưởng về dân trong lịch sử tư tưởng Việt Nam từ thế kỷ XI đến nửa đầu thế kỷ XIX
và ý nghĩa của nó ở Việt Nam hiện nay
Nhiệm vụ:
- Tổng quan tình hình nghiên cứu về tư tưởng của Nho giáo tiên Tần về dân; ảnh hưởng của tư tưởng này trong lịch sử tư tưởng Việt Nam từ thế kỷ XI đến nửa đầu thế kỷ XIX và những đánh giá về nó
- Phân tích bối cảnh ra đời và những nội dung chủ yếu trong tư tưởng về dân của Nho giáo tiên Tần
- Phân tích ảnh hưởng của tư tưởng về dân trong Nho giáo tiên Tần đối với lịch sử tư tưởng Việt Nam từ thế kỷ XI đến nửa đầu thế kỷ XIX
Trang 10- Đánh giá tư tưởng về dân trong lịch sử tư tưởng Việt Nam từ thế kỷ XI đến nửa đầu thế kỷ XIX và rút ra ý nghĩa, bài học kinh nghiệm của tư tưởng này ở Việt Nam hiện nay
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Tư tưởng của Nho giáo tiên Tần về dân và ảnh
hưởng của nó trong lịch sử tư tưởng Việt Nam từ thế kỉ XI đến nửa đầu thế kỷ XIX
Phạm vi nghiên cứu:
- Nghiên cứu tư tưởng về dân trong Nho giáo tiên Tần tập trung chủ yếu vào
một số tác phẩm của các nhà Nho như: Ngũ Kinh, Tứ Thư (Đại học, Trung dung, Luận ngữ, Mạnh Tử) và sách Tuân Tử
- Nghiên cứu sự ảnh hưởng tư tưởng về dân của Nho giáo tiên Tần trong lịch
sử tư tưởng Việt Nam từ thế kỷ XI đến nửa đầu thế kỷ XIX thể hiện trong tư tưởng
về dân của một số nhà nho, nhà vua, nhà tư tưởng Việt Nam
4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý luận: Luận án được thực hiện trên cơ sở lý luận là quan điểm duy vật
lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin về mối quan hệ biện chứng giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội, về vai trò của quần chúng nhân dân trong lịch sử; tư tưởng Hồ Chí Minh
và Đảng Cộng sản Việt Nam về xã hội và con người
Phương pháp nghiên cứu: Luận án sử dụng phương pháp biện chứng duy
vật của triết học Mác - Lênin trong việc nghiên cứu xã hội và con người, phương pháp nghiên cứu lịch sử triết học và lịch sử tư tưởng Ngoài ra, luận án còn sử dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học khác như: phân tích - tổng hợp, phương pháp thống nhất giữa lịch sử và logic, phương pháp quy nạp - diễn dịch, phương pháp đối chiếu so sánh, phương pháp lịch sử - cụ thể, v.v
5 Đóng góp mới của luận án
Thứ nhất, từ phương pháp tiếp cận triết học, luận án góp phần làm phong phú,
sâu sắc hơn một số nội dung cơ bản của tư tưởng về dân trong Nho giáo tiên Tần như quan niệm về dân, về vai trò, vị trí của dân, về trách nhiệm của nhà vua, của nhà nước phong kiến đối với dân Trên cơ sở đó, luận án làm rõ sự ảnh hưởng của tư tưởng về
Trang 11thế kỷ XI đến nửa đầu thế kỷ XIX qua quan điểm của một số nhà nho, nhà vua, nhà
tư tưởng Việt Nam thời kỳ này
Thứ hai, khẳng định những giá trị của tư tưởng về dân trong lịch sử tư tưởng
Việt Nam từ thế kỷ XI đến nửa đầu thế kỷ XIX và rút ra ý nghĩa trong bài học “lấy dân làm gốc” của Đảng ta trong giai đoạn hiện nay Tư tưởng về dân trong lịch sử tư tưởng Việt Nam để lại nhiều giá trị, nhiều bài học kinh nghiệm mà ngày nay, chúng ta cần tiếp thu, kế thừa và vận dụng sáng tạo trong sự nghiệp xây dựng và phát triển đất
nước nhằm mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
- Về mặt lý luận: Luận án trình bày một cách có hệ thống những nội dung chủ yếu trong tư tưởng về dân trong Nho giáo tiên Tần và bước đầu luận giải, phân tích làm rõ sự ảnh hưởng của nó trong lịch sử tư tưởng Việt Nam từ thế kỷ XI đến nửa đầu thế kỷ XIX
- Về mặt thực tiễn: Những kết quả nghiên cứu trong luận án có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo, phục vụ cho công tác giảng dạy, nghiên cứu và học tập
về Nho giáo, Nho giáo Việt Nam và lịch sử tư tưởng Việt Nam Luận án cũng có thể trở thành tư liệu tham khảo cho các chuyên ngành có liên quan
7 Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, phần nội dung của luận án gồm 4 chương, 12 tiết
Trang 12CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN
ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN
Nghiên cứu về tư tưởng chính trị - xã hội của Nho giáo trong đó có tư tưởng
về dân của Nho giáo tiên Tần và ảnh hưởng của nó trong lịch sử tư tưởng Việt Nam,
từ trước đến nay, đã có rất nhiều công trình nghiên cứu ở nhiều góc độ, phương pháp tiếp cận khác nhau như sử học, văn học, chính trị học, đạo đức học, triết học, lịch sử tư tưởng, v.v Tuy nhiên, từ phương pháp tiếp cận chuyên ngành chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử và căn cứ vào chủ đề, đối tượng, mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu, nhất là xuất phát từ phạm vi, nội dung vấn đề cần phải nghiên cứu trong luận án, có thể khái quát một số thành quả nghiên cứu có liên quan đến đề tài luận án ở ba nhóm công trình sau:
1.1 Những công trình nghiên cứu về Nho giáo nói chung và tư tưởng về dân trong Nho giáo tiên Tần nói riêng
Nho giáo là học thuyết ra đời từ thời kỳ cổ đại ở Trung Quốc Sự hình thành, phát triển và những nội dung cơ bản của Nho giáo đã dành được sự quan tâm nhiều của giới nghiên cứu ở Trung Quốc, Việt Nam và nhiều quốc gia trên thế giới Các công trình nghiên cứu về Nho giáo trong những thập niên gần đây tăng nhanh và khó có thể có được con số thống kê chi tiết, cụ thể Vì vậy, một sự khảo sát, đánh giá tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài chỉ là phác thảo những nét
cơ bản thông qua những công trình tiêu biểu, để từ đó chúng tôi có thể đi sâu nghiên cứu và đạt được những kết quả nhất định
Nghiên cứu về Nho giáo và học thuyết chính trị - xã hội của Nho giáo, tại Việt Nam có thể kể đến những công trình nghiên cứu tiêu biểu sau:
Cuốn Khổng học đăng [12] của tác giả Phan Bội Châu là cuốn sách tâm huyết
của tác giả viết về tư tưởng triết học Nho giáo Cuốn sách vừa mang tính kinh học khi phân tích một số phạm trù, nguyên lý cơ bản của Nho giáo ở một số tác phẩm tiêu biểu của từng nhà Nho trong lịch sử hình thành, phát triển của Nho giáo; vừa mang tính ứng dụng để có thể vận dụng tư tưởng của Nho giáo vào thực tiễn giáo dục, hoàn thiện con người và phát triển xã hội Cuốn sách này chủ yếu nghiên cứu
Trang 13Nho giáo Trung Quốc trong sự hình thành, phát triển của nó qua các giai đoạn, thời
kỳ khác nhau với những đại biểu, tư tưởng trong mỗi một giai đoạn, thời kỳ cụ thể Cuốn sách này được viết với tâm thế nhà tư tưởng, nhà Nho và hết sức đề cao Nho học,
đúng như tên gọi của cuốn sách là “Khổng học đăng” (Ngọn đèn Khổng học) Trong
cuốn sách này, với quan điểm tiến bộ, tác giả đã đúc kết được tinh hoa của Khổng học
và những chi phái, những nhà tư tưởng tiêu biểu của Khổng học trong đó có Khổng Tử, Mạnh Tử và Tuân Tử Trong tác phẩm, tác giả đã chứng minh rằng, bản thân tư tưởng Khổng học chính thống là một hệ thống triết học mang tính nhân bản sâu sắc, phát huy được những phẩm chất cao cả của con người và nhằm phục vụ cho cuộc sống tốt đẹp của một xã hội bình đẳng Qua đó, tác giả cũng muốn khẳng định rằng, cho dù hoàn cảnh lịch sử đã đổi thay, Khổng học vẫn luôn là ngọn đèn sáng, soi rọi cho đời sống tinh thần của con người Á Đông Nội dung của cuốn sách đã đưa người đọc trở về với kho tàng trí tuệ phương Đông, tìm những giá trị cổ truyền chân chính trong cái kho tàng ấy để bổ sung cho hệ thống tư tưởng tiên tiến của thời đại mới, thúc đẩy nó đạt đến một tầm cao mới, phù hợp với yêu cầu phát triển của dân tộc và nhân loại Tuy nhiên, nội dung của Nho giáo nói chung và trong từng giai đoạn, thời kỳ của Nho giáo nói riêng chưa được Phan Bội Châu khái quát và trình bày cụ thể, chi tiết
Cuốn Khổng giáo phê bình tiểu luận [1] của tác giả Đào Duy Anh đã dành
một thời lượng nhất định để phê phán thái độ cực đoan của một số người trong giới tri thức ở Trung Quốc và Việt Nam lúc bấy giờ đối với di sản của Nho giáo Theo tác giả, để nhìn nhận Nho giáo phải có thái độ khách quan, toàn diện, biện chứng Trong cuốn sách này, tác giả nhận định, muốn biết rõ chân tướng của Khổng giáo phải đặt Khổng Tử vào xã hội đương thời để thấy rằng, dẫu là bậc thánh nhân cũng không thể vượt ra ngoài không gian và thời gian mà lập túc được Vì vậy, theo tác giả, chúng ta phải quan sát sự nghiệp và học thuyết của nhà Nho bằng nhãn quan biện chứng và toàn diện Từ những nhận định đó, tác giả đã nghiên cứu những nội dung cơ bản như: sự xuất hiện chân tướng của Khổng giáo; vì sao Khổng giáo tồn tại được hơn hai nghìn năm; kết quả của Khổng giáo ở Trung Quốc và Việt Nam, v.v Qua những nội dung trình bày trong cuốn sách, tác giả đã đưa ra phương pháp
Trang 14khoa học để đánh giá, nhìn nhận Khổng giáo một cách khách quan, công bằng và vì vậy, không thể phủ nhận giá trị của nó trong lịch sử Tuy nhiên, tác giả mới chỉ dừng lại ở việc nghiên cứu ban đầu về những giá trị và hạn chế của Khổng giáo đối với xã hội Việt Nam Trong cuốn sách này, tác giả nhận định: “dẫu nó không thích hợp nữa ở đời nay, mà công dụng nó, sự nghiệp nó, vẫn trọn vẹn ở trong lịch sử, không ai có thể chối cãi hay xóa bỏ đi được” [1, tr 50]
Cuốn Nho giáo của tác giả Trần Trọng Kim [71] là một trong số không nhiều
cuốn sách ra đời sớm nhất thời hiện đại nghiên cứu nghiêm túc, công phu về Nho giáo Trung Quốc và ảnh hưởng của nó trong đời sống văn hóa Việt Nam hàng nghìn năm Trong tác phẩm này, tác giả nhìn nhận Nho giáo không chỉ là học thuyết chính trị - xã hội, học thuyết đạo đức mà còn là học thuyết triết học, học thuyết giáo dục, học thuyết quản lý xã hội Cuốn sách đi sâu phân tích sự hình thành học thuyết của Khổng Tử và quá trình phát triển của học thuyết đó trong lịch sử Trung Quốc từ thời Xuân Thu - Chiến Quốc đến cuối triều Thanh (1644 - 1911) Tác giả đặc biệt
đề cao những nhân tố tích cực của Nho giáo, đã trình bày nhiều phạm trù, nguyên lý
cơ bản của Nho giáo trong sự phát triển của chúng Bên cạnh đó, tác giả cũng đã bàn đến nhiều nội dung, khía cạnh trong một số khái niệm về dân, vai trò của dân và một số nội dung trong tư tưởng thân dân của Nho giáo Đặc biệt trong tác phẩm này, tác giả hết sức đề cao những giá trị của Nho giáo trong bối cảnh mà đa số người Việt Nam lúc bấy giờ hồ nghi, xa lánh và ghét bỏ Ngoài ra, tác giả còn viết một thiên riêng về Nho giáo ở Việt Nam (gồm 16 trang) để trình bày khái quát quá trình du nhập và phát triển của Nho giáo ở Việt Nam
Trong cuốn Khổng Tử [78] của tác giả Nguyễn Hiến Lê đã trình bày chi tiết
về đời sống, con người, môn đệ và những tư tưởng của Khổng Tử như tư tưởng chính trị, chính sách trị dân và đạo làm người của ông Cuốn sách đã dành một phần
để phân tích về chính sách trị dân của Khổng Tử với những nội dung như dưỡng
dân và giáo dân Bên cạnh cuốn sách trên, trong cuốn Mạnh Tử [79], tác giả Nguyễn
Hiến Lê đã phân tích, đánh giá khái quát nhất những vấn đề về cuộc đời, con người
và những tư tưởng của Mạnh Tử như: tư tưởng về chính trị và tư tưởng về kinh tế -
Trang 15của dân trong xã hội, về thái độ và trách nhiệm của nhà vua đối với dân thể hiện qua hai chính sách dưỡng dân và giáo dân Trong cuốn sách này, tác giả đã dành nhiều dung lượng để phân tích những chính sách kinh tế - xã hội của Mạnh Tử như: việc điều chế điền sản cho dân, giảm tô thuế cho dân, khuyên nhà vua, người cầm quyền cần quan tâm đến đời sống của người dân
Có thể khẳng định rằng, các cuốn Khổng Tử [78], Mạnh Tử [79] và Tuân Tử
[25] là những công trình nghiên cứu khá hệ thống của tác giả về tư tưởng chính trị -
xã hội của Nho giáo tiên Tần Ở đó, tác giả đã có sự đánh giá, so sánh những điểm
kế thừa và khác biệt trong chủ trương chính trị từ Khổng Tử, Mạnh Tử đến Tuân
Tử Tuy nhiên, những nội dung mà tác giả đã trình bày trong các tác phẩm này mới chỉ đề cập ở góc độ khái quát chưa phải là những chuyên đề chuyên sâu về tư tưởng
về dân trong Nho giáo tiên Tần Vì vậy, trên cơ sở đó, cần phải nghiên cứu thêm và
làm rõ hơn những nội dung cơ bản trong tư tưởng về dân của Nho giáo tiên Tần
Cuốn Nho giáo [103] của tác giả Nguyễn Tôn Nhan là công trình nghiên cứu
đồ sộ, quy mô về lịch sử hình thành và phát triển của Nho giáo nói chung và một số nội dung chủ yếu của Nho giáo nói riêng Cuốn sách dài hơn 1.600 trang với 14 chương và 1 chương Phụ lục Nguyễn Tôn Nhan dành hẳn 12 chương (với gần 1.500 trang) để trình bày về lịch sử hình thành, phát triển của Nho giáo Trung Quốc Những nội dung của Nho giáo được trình bày xen kẽ trong các giai đoạn hình thành, phát triển của Nho giáo và các nhà Nho Trung Quốc Tuy nhiên, những nội dung cụ thể trong Nho giáo Trung Quốc (kể cả tư tưởng về dân) không được trình bày cụ thể Giá trị của cuốn sách này chủ yếu là những tư liệu để nghiên cứu về lịch sử và nội dung của Nho giáo Trung Quốc Trong cuốn sách này, Nguyễn Tôn Nhan còn dành một chương (chương phụ lục) với dung lượng 46 trang (từ trang 1526 đến trang 1551) để “Khái quát diện mạo Nho giáo Việt Nam” với hai nội dung chủ yếu
là khái quát quá trình du nhập, phát triển của Nho giáo ở Việt Nam và ảnh hưởng
của nó từ thời Lý (thế kỷ XI) đến thời Nguyễn (thế kỷ XIX)
Tác phẩm Nho giáo xưa và nay [33] là một tác phẩm đáng trân trọng về quy
mô, thành tựu nghiên cứu của tác giả Quang Đạm về Nho giáo mà chủ yếu là Nho giáo tiên Tần Tác giả đã trình bày các vấn đề cơ bản của Nho giáo như: đạo đức,
Trang 16chính trị, gia đình, nước, thiên hạ, v.v Tác giả cho rằng: “Nho giáo tỏ rõ tinh thần tích cực đi vào cuộc sống xã hội, đứng ra đảm nhiệm việc dân, việc nước, việc thiên
hạ nhằm thực hiện lý tưởng của mình ở khắp mọi nơi” [33, tr 443] Tác giả phân tích một cách khái quát nhất về vai trò, ý nghĩa của Nho giáo trong lịch sử và hiện tại Trên quan điểm khách quan, khoa học, tác giả phân tích và đưa ra những nhận định về vai trò của Nho giáo ở cả hai mặt tích cực và hạn chế Bên cạnh đó, cuốn sách còn tập trung phân tích các vấn đề: khái niệm về dân, vai trò của dân và một số nội dung trong tư tưởng thân dân của Khổng Tử, Mạnh Tử, Tuân Tử như dưỡng dân, giáo dân, sử dụng người hiền tài
Trong tác phẩm Đại cương lịch sử văn hoá Trung Quốc [24] do tác giả Ngô
Vĩnh Chính và Vương Miện Quý chủ biên, các tác giả đã khẳng định tính nhân văn, nhân bản của Nho giáo Liên quan đến đề tài của luận án, các tác giả đã đánh giá, Nho giáo luôn xem dân là rường cột của xã tắc Nhưng đồng thời, các tác giả cũng phê phán Nho học thiên về tư tưởng bình quân, tích trữ, tiết kiệm, điều đó cũng đã ít nhiều kìm hãm sự phát triển nền kinh tế Trung Quốc trong lịch sử Các tác giả còn cho rằng, Nho học đề cao một cách phiến diện việc giáo dục đạo đức nhân luân, coi thường người lao động chân tay và không quan tâm đến việc dạy kĩ thuật lao động cho dân chúng
Trong cuốn Bách khoa toàn thư tinh túy văn học cổ điển Trung Quốc Luận ngữ Thánh kinh của người Trung hoa [5] và đặc biệt là tác phẩm Bách khoa toàn thư tinh túy văn học cổ điển Trung Quốc Mạnh Tử linh hồn của Nho giáo [6] đã đề
cập đến vai trò của dân trong đời sống kinh tế, chính trị, xã hội Hai tác phẩm này cũng bàn ít nhiều đến việc Nho giáo quan tâm đời sống của dân, giáo hóa dân và việc sử dụng người hiền tài Tuy chỉ được trình bày với hàm lượng không nhiều về vấn đề này nhưng nó thực sự là những gợi mở hữu ích cho tác giả trong quá trình thực hiện luận án của mình
Công trình Nho gia với Trung Quốc ngày nay [135] của tác giả Vi Chính
Thông là tập hợp những bài viết của tác giả nghiên cứu về Nho gia Trung Quốc và Nho gia truyền thống cũng như trong xã hội Trung Quốc hiện đại Với 13 bài viết
Trang 17đồng thời, tác giả dành phần lớn nội dung để nói về những hạn chế của Nho giáo đối với xã hội Trung Quốc, trong đó, tác giả đã phân tích mặt tích cực và hạn chế của Nho giáo trên các vấn đề: đường lối đức trị, làm cho dân giàu, giáo hóa dân, quan hệ vua - dân, tư tưởng nhân bản, nhân đạo và vấn đề người hiền tài trong hệ thống tư tưởng của Nho giáo Khổng - Mạnh
Cuốn Lịch sử các học thuyết chính trị Trung Quốc [166] của tác giả Lã Trấn Vũ
đã phản ánh sâu sắc về quá trình phát triển của các quan điểm, tư tưởng, học thuyết như Nho giáo, Đạo gia, Pháp gia, v.v Đặc biệt, trong cuốn sách này, tác giả dành nhiều dung lượng để trình bày tiến trình hình thành, phát triển và nhiều nội dung chủ yếu của Nho giáo Trung Quốc, trong đó có Nho giáo tiên Tần với những nhà tư tưởng tiêu biểu như Khổng Tử, Mạnh Tử và Tuân Tử Khi trình bày tư tưởng chính trị - xã hội của Nho giáo, tác giả phân tích về sự giàu nghèo của dân và vai trò của pháp luật trong việc loại trừ sự lười biếng và ích kỷ của con người Theo tác giả,
“…những điều làm cho dân nghèo đều do kết quả của “sự lười biếng xa xỉ” của bản thân và dân giàu là do kết quả của sự “ra sức” kinh doanh Vì thế phải bài trừ bệnh
“lười biếng xa xỉ” [166 tr 229]
Tác giả Nguyễn Khắc Viện trong cuốn Bàn về đạo Nho [160] đã trình bày
những luận điểm về ông quan và kẻ sĩ, người tiểu nông và quan lại, đời sống làng
xã và Nho sĩ, nhân - lễ - nghĩa, nho sĩ quan lại và nho sĩ bình dân, v.v, đồng thời phân tích những giá trị tích cực cũng như hạn chế lịch sử của đạo Nho, mối quan hệ của đạo Nho với truyền thống văn hóa Việt Nam Khi đánh giá những mặt tích cực, tác giả cho rằng, đạo Nho đã đóng một vai trò quan trọng trong việc hình thành lòng yêu nước, bên cạnh đó, tác giả đã khái quát về vị trí, vai trò của người dân trong xã hội phong kiến đương thời
Cuốn Các bài giảng về tư tưởng phương Đông của tác giả Trần Đình Hượu
[59] là tập hợp các bài giảng về tư tưởng phương Đông với hai nội dung Phần 1: Tác giả trình bày về tư tưởng của Nho gia với Lão Trang và lịch sử vận động của các hệ tư tưởng này ở Trung Quốc Phần 2: Nho giáo và Nho giáo ở Việt Nam, tác giả trình bày nội dung học thuyết Nho giáo và ảnh hưởng của Nho giáo trong xã hội Việt Nam hiện đại Liên quan đến đề tài của luận án, tác giả của cuốn sách này đã
Trang 18đánh giá khá sâu sắc những nội dung trong đạo trị nước, trị dân của Nho giáo Khổng - Mạnh Có thể nói, đóng góp của tác giả là đã phân tích một cách khái quát những nội dung trong đạo trị nước của các nhà Nho tiên Tần, trong đó có tư tưởng
về dân Tuy nhiên, do hạn chế của tư liệu nên những nội dung đó chỉ mới được đề cập một cách rất cơ bản, chứ chưa đi sâu vào từng nội dung cụ thể của đề tài
Cuốn Sử ký Tư Mã Thiên [144] là một công trình sử học lớn của Trung Quốc
Trong công trình này, tác giả đã trình bày rất công phu về tiểu sử của Khổng Tử và chỉ ra vai trò của ông đối với các dân tộc Tác giả khẳng định rằng: “Khổng Tử là một người áo vải thể truyền hơn mười đời, các học giả đều tôn làm thầy, từ thiên tử tới vương hầu ở Trung Quốc hễ nói đến lục nghệ đều lấy Khổng Tử làm tiêu chuẩn
Có thể gọi là bậc chí thánh vậy” Bên cạnh đó, tác giả cũng đã phác họa một số nội dung cơ bản về cuộc đời và sự nghiệp của Mạnh Tử và Tuân Tử trong lịch sử triết học Trung Quốc Có thể nói rằng, đây là công trình ghi chép lại một số nét trong cuộc đời của các nhà Nho tiên Tần mà không đi sâu vào phân tích những nội dung trong tư tưởng chính trị - xã hội của Nho giáo Tuy nhiên, cuốn sử ký này đã cung cấp cho tác giả nhiều tư liệu hữu ích trong quá trình nghiên cứu, thực hiện luận án của mình
Cuốn Tư tưởng triết học phương Đông gợi những điểm nhìn tham chiếu [54]
của tác giả Cao Xuân Huy là công trình lớn có nhiều giá trị, đã được tặng giải thưởng
Hồ Chí Minh Công trình bao gồm ba phần, tác giả đã dành trọn vẹn phần III với tiêu
đề “Đề cương bài giảng triết học cổ đại Trung Quốc” mà trong đó có trình bày lịch sử hình thành, phát triển cùng với những nội dung, tư tưởng cơ bản của Nho giáo Nghiên cứu tư tưởng của mỗi nhà Nho, tác giả đều đưa ra các quan điểm và dẫn chứng rành mạch, khúc triết để chứng minh cho từng luận điểm của họ Tác giả đã dành một dung lượng nhất định để trình bày khái quát một số quan điểm chủ yếu của các nhà Nho tiên Tần trong đó có tư tưởng về dân và khẳng định, Nho giáo là công cụ của giai cấp thống trị, như tác giả cho rằng: “Các chi phái của Nho giáo có thể là nhất nguyên luận hay nhị nguyên luận, chủ quan luận hay khách quan luận, duy lí chủ nghĩa hay là trực quan chủ nghĩa, đức trị chủ nghĩa hay công lợi chủ nghĩa, v.v nhưng
Trang 19Cuốn Tổng quan tư tưởng pháp luật Nho gia [11] của tác giả Du Vĩnh Căn
đã khái quát về tư tưởng pháp luật của các bậc Nho gia tiền bối Trong tác phẩm này, tác giả lấy tư tưởng pháp luật Nho gia làm mục đích lập luận Cuốn sách đã có những phát hiện mới nên được nhiều học giả trong và ngoài nước quan tâm Chính
vì vậy, khi cuốn sách ra đời đã gây được tiếng vang lớn trong giới học thuật ở Trung Quốc cũng như trên thế giới Nếu như phần lớn các công trình nghiên cứu trên đều cho rằng, Nho giáo là một học thuyết chính trị - xã hội thì công trình nghiên cứu này của Du Vinh Căn được đánh giá cao vì đã phát hiện thêm được tinh thần quý báu trong di sản tư tưởng dân tộc Trung Quốc - đó là tư tưởng pháp luật Chính sự đóng góp khá mới mẻ khi tác giả tập trung nghiên cứu về tư tưởng pháp luật của Nho giáo đã góp phần vào xây dựng nhà nước Trung Hoa ngày nay Tiếc rằng trong cuốn sách này, tác giả đã không đi vào phân tích cụ thể những nội dung
cơ bản trong tư tưởng chính trị - xã hội của Nho giáo cũng như tư tưởng về dân trong Nho giáo tiên Tần
Ngoài những công trình nghiên cứu kể trên, còn có rất nhiều cuốn sách của các tác giả khác nhau, các bài viết, hội thảo đề cập đến Nho giáo tiên Tần và tư tưởng về dân của Nho giáo tiên Tần Có thể kể đến một số công trình như: cuốn
Nho giáo xưa và nay [66] của tác giả Vũ Khiêu (1990); Đại cương lịch sử triết học Trung Quốc [22] của tác giả Doãn Chính (chủ biên) (2002); Đạo Nho và văn hóa phương Đông [99] của tác giả Hà Thúc Minh (2002); Đại cương lịch sử các tư tưởng và học thuyết chính trị trên thế giới [100] của tác giả Nguyễn Thế Nghĩa (chủ biên) (1999); Pháp luật và những nhân tố tích cực của Nho giáo [101] của tác giả
Phạm Duy Nghĩa (2004), v.v
Liên quan đến hướng nghiên cứu này còn có các bài báo khoa học đăng trên
các tạp chí chuyên ngành như: Nguyễn Thị Lan (2012) có bài Ý nghĩa hiện thời trong quan niệm của Nho giáo sơ kỳ về xã hội lý tưởng [73]; bài viết của tác giả Hoàng Ngọc Thắng (2015) với nhan đề Tư tưởng thân dân trong Nho giáo Khổng Mạnh, giá trị và hạn chế [132]; tác giả Chung Yonghwan, Park Goo Yong, Gang Gyuyeo với bài viết Khổng giáo Hàn Quốc và con người [19], v.v
Trang 20Có thể nói rằng, tư tưởng về dân của Nho giáo tiên Tần đã được nghiên cứu
ở nhiều tác phẩm, ở nhiều tác giả và được nghiên cứu ở những góc độ và phạm vi khác nhau Nhìn chung, các tác phẩm, các công trình nghiên cứu thuộc nhóm thứ nhất đã đề cập ít nhiều đến khái niệm về dân, vai trò của dân và một số khía cạnh của tư tưởng thân dân trong Nho giáo tiên Tần Do nghiên cứu toàn diện vấn đề Nho giáo, cho nên các tác giả chưa có điều kiện nghiên cứu một cách hệ thống và đầy đủ tư tưởng về dân trong Nho giáo tiên Tần Tuy nhiên, những kết quả nghiên cứu trong nhóm công trình này là nguồn tài liệu quý giá, là cơ sở căn cứ có giá trị khoa học để tác giả tiếp thu, kế thừa, phát triển và đi sâu hơn trong việc nghiên cứu
tư tưởng về dân trong Nho giáo tiên Tần
1.2 Những công trình nghiên cứu về sự ảnh hưởng tư tưởng về dân của Nho giáo tiên Tần đối với tư tưởng về dân trong lịch sử tư tưởng Việt Nam từ thế
kỷ XI đến nửa đầu thế kỷ XIX
Nho giáo được xem là hệ tư tưởng có ảnh hưởng sâu rộng và lâu dài đến xã hội Việt Nam, có vai trò to lớn đối với việc tổ chức nhà nước, duy trì trật tự xã hội, phát triển kinh tế v.v Nho giáo được du nhập vào Việt Nam từ đầu thời Bắc thuộc thông qua việc xác lập bộ máy xâm lược, cai trị và thực hiện chính sách hán của các triều đình phong kiến Trung Quốc ở Việt Nam trong thời gian này Theo dòng lịch
sử, ở mỗi giai đoạn, Nho giáo có vai trò, vị trí khác nhau Từ chỗ là công cụ xâm lược, nô dịch của ngoại xâm và buộc người Việt Nam phải tiếp nhận nó, theo thời gian và yêu cầu phát triển của chế độ phong kiến Việt Nam, giai cấp phong kiến Việt Nam đã chủ động tiếp nhận Nho giáo và sử dụng Nho giáo như là công cụ cần thiết trong việc xây dựng, củng cố và phát triển chế độ phong kiến, trong việc xây dựng, phát triển đất nước về mọi mặt, trong việc dựng nước và giữ nước Vì vậy mà Nho giáo đã tồn tại lâu dài, ảnh hưởng và đóng vai trò quan trọng trong xã hội phong kiến Việt Nam, trong nhiều tầng lớp người Việt Nam Có thể nói rằng, sự ảnh hưởng tư tưởng về dân của Nho giáo Tiên Tần trong lịch sử tư tưởng Việt Nam
từ thế kỷ XI đến nửa đầu thế kỷ XIX cũng không hoàn toàn như nhau
Nghiên cứu về quá trình du nhập và phát triển của Nho giáo tại Việt Nam và
Trang 21đầu thế kỷ XIX phải kể đến những công trình nghiên của các tác giả: Vũ Khiêu, Cao Xuân Huy, Nguyễn Đăng Thục, Trần Đình Hượu, Trần Văn Giàu, Phan Đại Doãn, Nguyễn Tài Thư, Đào Duy Anh, Lê Văn Quán, Phan Văn Các, Nguyễn Đức
Sự, Nguyễn Duy Hinh, Nguyễn Hùng Hậu, Lê Sỹ Thắng, Trần Quốc Vượng, Nguyễn Thế Long, Trần Nguyên Việt, Nguyễn Thanh Bình, Trần Nghĩa, Lê Thị Lan, Nguyễn Tài Đông, v.v
Trong cuốn Lịch sử tư tưởng Việt Nam tập I [140] do tác giả Nguyễn Tài
Thư làm chủ biên, các tác giả đã phân tích, đánh giá về lịch sử tư tưởng Việt Nam qua các thời kì từ thời tiền sử đến thế kỷ XVIII Cuốn sách dành một phần từ trang
149 đến trang 220 nói về tư tưởng thời kỳ phục hồi và xây dựng quốc gia độc lập từ thế kỷ X đến thế kỷ XIV Tác giả khẳng định rằng, Nho giáo đã ảnh hưởng trên lĩnh vực tư tưởng chính trị và xã hội ở nước ta từ thời Lý khi Văn Miếu, Quốc Tử Giám được xây dựng Sang đến thời Trần, ảnh hưởng của Nho giáo cũng tỏ ra mạnh mẽ
và sâu sắc Sang thời Lê sơ, Nho giáo giữ vị trí độc tôn, chi phối trong nhiều lĩnh vực trong hệ tư tưởng chính trị Việt Nam Những biến đổi trong thực tiễn xã hội Việt Nam từ thế kỷ X đến thế kỷ XIV đã tạo điều kiện, tiền đề cho Nho giáo có những ảnh hưởng to lớn đến thế giới quan và những tư tưởng chính trị - xã hội trong lịch sử tư tưởng Việt Nam Tác giả đã nhận định:
Ảnh hưởng của Nho giáo trong lĩnh vực tư tưởng chính trị và xã hội thời Lý - Trần biểu hiện rõ rệt nhất ở các vấn đề trung hiếu, đức trị, thần quyền v.v Đó là những vấn đề thích hợp với hoàn cảnh mà nhà nước phong kiến ở nước ta đang đi vào thế ổn định, phát triển và đứng vững trước mọi thử thách của những cuộc chiến tranh giữ nước Lúc này Nho giáo được vận dụng bước đầu vào thực tiễn chính trị trong nước Nhưng cũng ở đây Nho giáo đã được cải biến, khiến cho nhiều khái niệm của nó mang tính dân tộc và tính nhân dân ở mức độ nhất định [140, tr 161]
Trong cuốn sách này, các tác giả cũng đã phân tích quan điểm của các nhà tư tưởng Việt Nam tiêu biểu trong lịch sử tư tưởng Việt Nam từ thế kỷ XI đến nửa đầu thế kỷ XIX như: Lý Công Uẩn, Trần Quốc Tuấn, Nguyễn Trãi, Lê Thánh Tông,
Trang 22Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Dữ, Phùng Khắc Khoan, Lê Quý Đôn, Ngô Thì Nhậm Khi đề cập đến hệ thống quan điểm của các nhà tư tưởng tiêu biểu, đặc biệt trong tư tưởng chính trị - xã hội, cuốn sách này đã phân tích đến một số nội dung trong tư tưởng về dân như quan niệm về dân, tư tưởng dân bản, chính sách thân dân, vai trò của dân trong công cuộc dựng nước và giữ nước của các triều đại Tác giả cho rằng: “Sự phát triển của tư tưởng dân bản của các nhà sử học thời Lê là một bước tiến so với thời cuối Trần Ở thời Trần, Trần Hưng Đạo nêu rõ phép trị nước phải nới sức dân nhưng đã bị Hồ Quý Ly bỏ quên Thắng lợi của khởi nghĩa Lam Sơn thể hiện sức mạnh quyết định của quần chúng nhân dân, tư tưởng dân bản lại được các nhà sử học nhận thức lại, nêu cao, coi là bài học lịch sử cho tầng lớp thống trị” [140, tr 318] Cuốn sách này có giá trị tham khảo hữu ích cho tác giả trong quá trình thực hiện luận án của mình
Tác giả Vũ Khiêu (1996) trong cuốn Bàn về văn hiến Việt Nam [67] đã khái
quát vị trí, vai trò của Nho giáo trong xã hội phong kiến Việt Nam từ thế kỷ XI trở
đi Theo tác giả, Nho giáo được nhà nước phong kiến Việt Nam coi trọng và tạo điều kiện để Nho giáo phát triển mạnh mẽ bắt đầu từ thời kỳ Lý - Trần Vai trò của Nho giáo trong đó có tư tưởng về dân của Nho giáo tiên Tần đã tác động tích cực trong thời kỳ Lý - Trần và Lê sơ, góp phần thúc đẩy xã hội ổn định và đáp ứng được những yêu cầu của chế độ quân chủ phong kiến trung ương tập quyền Những ảnh hưởng của những tư tưởng ấy đối với tư tưởng và đời sống của cộng đồng Việt Nam trên nhiều lĩnh vực như: về đời sống tinh thần của dân tộc, về chủ nghĩa nhân đạo,
về con người, quan niệm về đạo đức, lối sống…Trong hành trình tìm về văn hiến Việt Nam, tác giả đã khái quát được sự ảnh hưởng của Nho giáo ở Việt Nam trong quá trình xây dựng, củng cố và phát huy nền văn hiến của dân tộc thể hiện trong tư tưởng của một số nhà Nho, nhà tư tưởng Việt Nam như: Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Lê Quý Đôn, Ngô Thì Nhậm, Nguyễn Đình Chiểu, Nguyễn Khuyến, v.v
Bộ sách Lịch sử tư tưởng Việt Nam [136-139] của tác giả Nguyễn Đăng Thục là
một công trình đáng trân trọng về quy mô và thành tựu nghiên cứu quá trình chuyển biến tư tưởng Việt Nam trong lịch sử Trong cuốn sách này, đặc biệt trong nội dung tập
Trang 23trong quá trình lựa chọn hệ tư tưởng của các triều đại phong kiến Việt Nam từ thế kỷ
XI trở đi Tác giả cho rằng: “Nhà vua cho xây cất chùa tháp, cũng sai xây cất Văn Miếu năm 1070 để thờ Chu Công, Khổng Phu Tử, lập Quốc Tử Giám để cho con em trong nước học tập kinh điển Nho giáo Và đi đôi với các khoa thi Nho học để lấy người làm việc nước, cũng thi cả tam giáo cho xuất thân [138, tr 14]
Hội thảo Nho giáo ở Việt Nam [148] do Viện Nghiên cứu Hán Nôm và Viện
Harvard - Yenching (Mỹ) phối hợp gồm nhiều nhà khoa học Việt Nam và các nhà khoa học đến từ nhiều nước trên thế giới như: Trung Quốc, Mỹ, Đài Loan, v.v, đã thảo luận nhiều nội dung như: Ảnh hưởng của Nho giáo trong đời sống hiện nay, quá trình du nhập và phát triển của Nho giáo ở Việt Nam, ảnh hưởng của Nho giáo trong đời sống xã hội Việt Nam thời phong kiến, tư tưởng Nho giáo trong văn học,
sử học thời phong kiến Hầu hết các bài tham luận về các nội dung trên đều khẳng định: Nho giáo giữ một vị trí rất quan trọng trong đời sống tinh thần của xã hội Việt Nam và nó có ảnh hưởng sâu đậm đối với con người và xã hội Việt Nam Trong các bài nghiên cứu đăng trong kỷ yếu của Hội thảo, có một số bài có đề cập đến ảnh hưởng tư tưởng về dân của Nho giáo, trong đó có Nho giáo tiên Tần đối với lịch sử
tư tưởng Việt Nam và đường lối trị nước của các triều đại phong kiến Việt Nam
Cuốn Lịch sử tư tưởng chính trị - xã hội Việt Nam từ thời Bắc thuộc đến thời kỳ
Lý -Trần [110] của tác giả Lê Văn Quán đã trình bày, phân tích về sự phát triển của tư
tưởng chính trị - xã hội nước ta từ thời kỳ đấu tranh giành độc lập dân tộc, chống Hán hóa đến thời kỳ Lý - Trần Từ đó, tác giả khẳng định, Nho giáo chính là nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến tư tưởng chính trị - xã hội ở mỗi giai đoạn cụ thể của lịch sử và mức độ ảnh hưởng không giống nhau Trong cuốn sách này, tác giả không đi sâu nghiên cứu về những nội dung trong tư tưởng chính trị - xã hội của Nho giáo Việt Nam thời kỳ Lý - Trần nhưng nó là những gợi mở hữu ích cho tác giả khi tìm hiểu thêm về
sự ảnh hưởng của Nho giáo trong lĩnh vực tư tưởng chính trị - xã hội ở Việt Nam, trong
đó có tư tưởng về dân của Nho giáo tiên Tần
Trong công trình Nho giáo tại Việt Nam [127] do tác giả Lê Sĩ Thắng chủ
biên (1991), các tác giả đã trình bày một cách khái quát về ảnh hưởng và vai trò của Nho giáo trong đó có Nho giáo tiên Tần nói chung và tư tưởng về dân của hình thái
Trang 24Nho giáo này nói riêng ở Việt Nam Trong đó, công trình đã chỉ ra được một số khác biệt giữa tư tưởng về dân của Nho giáo Trung Quốc và tư tưởng về dân của Nho giáo Việt Nam, về ảnh hưởng của Nho giáo trong tiến trình lịch sử Việt Nam cũng như trong một số lĩnh vực văn hóa, tư tưởng Việt Nam
Tác giả Ngô Đức Thịnh chủ biên (2010) trong cuốn Những giá trị văn hóa truyền thống Việt Nam [134] đã phác họa một bức tranh tương đối đầy đủ về giá trị
truyền thống văn hóa Việt Nam trong đó có ảnh hưởng của Nho giáo trên một số nội dung chủ yếu như: nghiên cứu hệ giá trị tổng quát truyền thống Việt Nam và các giá trị văn hóa thể hiện trong các lĩnh vực khác nhau của đời sống dân tộc như trong việc tổ chức, quản lý xã hội, trong lĩnh vực sáng tạo văn học nghệ thuật, tín ngưỡng tôn giáo, trong việc khai thác nguồn tài nguyên thiên nhiên, trong cách thức tổ chức
và ứng xử xã hội, trong giao lưu văn hóa, trong đấu tranh chống giặc ngoại xâm, v.v Cuốn sách là nguồn tham khảo hữu ích, là cơ sở cho việc nghiên cứu sự ảnh hưởng của tư tưởng về dân trong lịch sử tư tưởng Việt Nam từ thế kỷ XI đến nửa đầu thế kỷ XIX
Trong cuốn Một số vấn đề về Nho giáo Việt Nam [27] do tác giả Phan Đại
Doãn chủ biên đã trình bày và phân tích rõ những đặc điểm cơ bản của tiến trình xác lập vị thế và những thành tựu của Nho giáo Việt Nam trong chặng đường lịch
sử từ thế kỷ XV đến đầu thế kỷ XX, mà đỉnh cao của nó là thời Lê Thánh Tông trị
vì (1460 - 1497) Theo nhóm tác giả, đây là thời kỳ chiếm địa vị độc tôn của Nho giáo Việt Nam trong chế độ quân chủ chuyên chế ở nước ta Bên cạnh đó, các tác giả cũng nghiên cứu về tư tưởng dân chủ của các nhà Nho duy tân đầu thế kỷ XX,
về Nho giáo với phong trào Đông Kinh nghĩa thục, về Nho giáo và gia đình truyền thống Việt Nam, về vấn đề giáo dục và khoa cử Nho học ở Việt Nam Đặc biệt, tác giả đã chỉ ra rằng, từ khi du nhập vào Việt Nam, theo thời gian, Nho giáo Việt Nam không hoàn toàn như Nho giáo Trung Quốc Các nhà Nho Việt Nam trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc đã tiếp nhận, kế thừa và khai thác những nội dung của Nho giáo Trung Quốc, trong đó có tư tưởng về dân của Nho giáo tiên Tần cho phù hợp với xã hội Việt Nam, đáp ứng những yêu cầu, nhiệm vụ thực tiễn của xã
Trang 25Công trình Học thuyết chính trị - xã hội của Nho giáo và ảnh hưởng của nó
ở Việt Nam (từ thế kỉ XI đến nửa đầu thế kỉ XIX) [9] của tác giả Nguyễn Thanh Bình
là công trình nghiên cứu khá chuyên sâu về tư tưởng chính trị - xã hội của Nho giáo
và ảnh hưởng, vai trò của nó trong lịch sử tư tưởng Việt Nam Trong công trình nghiên cứu này, liên quan đến đề tài luận án, từ việc nhìn nhận Nho giáo với tư cách
là học thuyết chính trị - xã hội, tác giả đã trình bày một cách khái quát những nội dung chủ yếu trong học thuyết ấy trong đó có tư tưởng về dân của Nho giáo tiên Tần và ảnh hưởng, vai trò của Nho giáo trong một số lĩnh vực chủ yếu của xã hội và con người Việt Nam trong lịch sử, trong đời sống tinh thần con người Việt Nam dưới chế độ phong kiến, nhất là trong việc hoạch định đường lối cai trị và quản lý
xã hội của giai cấp phong kiến Việt Nam Tác giả nhận định rằng, sự ảnh hưởng trong học thuyết chính trị - xã hội của Nho giáo ở mỗi giai đoạn lịch sử của chế độ phong kiến ở Việt Nam không hoàn toàn giống nhau Khi phân tích một số biện pháp chủ yếu trong tư tưởng về đường lối đức trị của Nho giáo (mà theo tác giả là một trong những nội dung chủ yếu trong học thuyết chính trị - xã hội của Nho giáo), tác giả đã chỉ ra và phân tích quan niệm của Nho giáo, nhất là của Nho giáo tiên Tần về vai trò của dân trong việc thực hiện đường lối đức trị Trong cuốn sách này, tác giả đã khẳng định, Nho giáo luôn quan tâm đến dân, đặc biệt là vai trò của dân Tác giả còn cho rằng, theo các nhà Nho, có xác định được đầy đủ vai trò của dân mới xác định được địa vị xã hội của họ và định ra thái độ trách nhiệm của tầng lớp thống trị đối với
họ [9, tr.71] Nhìn chung, đây là một công trình nghiên cứu có giá trị khi nghiên cứu
về sự ảnh hưởng tư tưởng chính trị - xã hội của Nho giáo trong lịch sử tư tưởng Việt Nam Tuy nhiên, do đối tượng và mục đích nghiên cứu của tác giả chỉ đi vào tìm hiểu
về vai trò của Nho giáo trong đời sống tinh thần con người Việt Nam và trong việc hoạch định đường lối của chế độ phong kiến Việt Nam, chính vì vậy, mà nội dung luận án của chúng tôi chưa được nghiên cứu một cách đầy đủ, do vậy đòi hỏi chúng tôi cần phải tiếp tục nghiên cứu, bổ sung và làm rõ hơn
Luận án Tiến sĩ Triết học của tác giả Phan Thị Thu Hằng (2015) về Tư tưởng chính trị - xã hội của Minh Mệnh và ảnh hưởng của nó đối với chế độ phong kiến Việt Nam dưới triều Nguyễn [44] đã tập trung nghiên cứu một số nội dung cơ bản
Trang 26trong tư tưởng chính trị - xã hội của Minh Mệnh về đạo trị nước, về hoàn thiện bộ máy nhà nước quân chủ tập quyền, về chủ quyền quốc gia và văn hóa truyền thống Khi trình bày về nội dung của đường lối đức trị trong tư tưởng của Minh Mệnh, tác giả cũng đã đề cập đến chính sách thân dân thể hiện ở việc vua đối xử với dân cùng một lòng nhân Đặc biệt khi phân tích về đức Nhân, tác giả cho rằng: trong quan niệm của Minh Mệnh, người làm vua có đức Nhân là phải yêu mến, thương dân Bên cạnh đó, tác giả cũng phân tích sự ảnh hưởng của tư tưởng chính trị - xã hội Minh Mệnh đến chế độ phong kiến Việt Nam dưới triều Nguyễn Sự ảnh hưởng đó thể hiện trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị, tôn giáo, tư tưởng Tuy khai thác những nội dung cơ bản trong tư tưởng chính trị - xã hội của Minh Mệnh, tác giả đã đề cập
ở mức độ nhất định những nội dung có liên quan đến sự ảnh hưởng tư tưởng về dân trong lịch sử tư tưởng Việt Nam đặc biệt dưới triều Nguyễn
Có thể khẳng định rằng, tư tưởng về dân là một trong những nội dung tư tưởng rất quan trọng trong học thuyết chính trị - xã hội của Nho giáo nói chung và Nho giáo Việt Nam nói riêng Mặc dù đứng trên lập trường của giai cấp phong kiến thống trị, các triều đại phong kiến Việt Nam từ thế kỷ XI đến nửa đầu thế kỷ XIX luôn quan tâm đến dân, bởi dân là gốc nước Liên quan đến một trong những nội dung của đề tài luận án, chúng tôi có thể khái quát một số kết quả nghiên cứu chủ yếu trong một số công trình sau đây:
Cuốn Từ chủ nghĩa yêu nước truyền thống đến chủ nghĩa yêu nước Hồ Chí Minh [48] do Nguyễn Hùng Hậu chủ biên (2008) đã phân tích chủ nghĩa yêu nước
truyền thống Việt Nam và sự kế thừa phát triển ở Chủ tịch Hồ Chí Minh Trong công trình nghiên cứu này, các tác giả đã trình bày, làm rõ quan điểm “dĩ dân vi bản” trong Nho giáo sơ kỳ và sự ảnh hưởng của nó đến lịch sử chính trị Việt Nam
Các tác giả cho rằng, “Quan điểm của Nho giáo là dân vi bản tức dân là gốc nước, chứ không phải là dĩ dân vi bản tức lấy dân làm gốc Tư tưởng thân dân được thể
hiện trên nhiều khía cạnh, chẳng hạn như chính trị, kinh tế, văn hóa và cách dùng người Về chính trị, tư tưởng thân dân thể hiện rõ ở mối quan hệ giữa vua với dân
(quân với dân) Theo Nho giáo, quân sử thần dĩ lễ thần sự quân dĩ trung, nghĩa là
Trang 27132-133] Bên cạnh đó, các tác giả còn phân tích sự ảnh hưởng của tư tưởng thân dân trong Nho giáo sơ kỳ đến tư tưởng chính trị truyền thống Việt Nam thể hiện trong quan điểm của nhà Nho, nhà vua, nhà tư tưởng Việt Nam như: Lý Công Uẩn, Trần Quốc Tuấn, Nguyễn Trãi
Cuốn sách của tác giả Nguyễn Hoài Văn (2002) Tìm hiểu tư tưởng chính trị Nho giáo Việt Nam từ Lê Thánh Tông đến Minh Mệnh [147] đã phân tích làm rõ tư
tưởng chính trị Nho giáo từ Lê Thánh Tông nửa sau thế kỷ XV đến tư tưởng chính trị Nho giáo của Minh Mệnh nửa đầu thế kỷ XX Bên cạnh đó, tác giả đã đưa đến một cái nhìn khái quát về tư tưởng (quan điểm, chính sách) của các triều đại phong kiến Việt Nam đối với dân có chịu ảnh hưởng tư tưởng về dân của Nho giáo Theo tác giả, tư tưởng về dân của họ, các chính sách của nhà nước phong kiến Việt Nam trong thời gian dài này đối với dân về cơ bản là sự tiếp tục tư tưởng về dân trước đây như coi trọng, đề cao vai trò của dân,… Nhưng từ sau thế kỷ XV trở đi, tính hiệu quả của những tư tưởng về dân trước đây (nhất là coi trọng, đề cao vai trò của dân,…) và hiệu quả của những tư tưởng chính sách ấy là hết sức hạn chế Đặc biệt, trong chương IV, tác giả cho rằng:
Trong Minh Mệnh chính yếu, Minh Mệnh bàn đến các vấn đề như: đạo
làm vua, đạo làm người, tư cách phẩm chất của quan lại, mối quan hệ vua - quan - dân, tư tưởng thân dân, an dân, yêu nước, trọng pháp luật, trọng hiền tài Ngoài ra, chủ trương đề cao Nho giáo của Minh Mệnh
cũng được ghi lại trong bộ sách Đại Nam thực lục chính biên - bộ sử
chính thức của triều Nguyễn [147, tr 254]
Công trình Sự phát triển của tư tưởng chính trị Việt Nam thế kỷ X - XV [146]
và công trình Đại cương lịch sử tư tưởng chính trị Việt Nam từ thế kỷ XVI đến thế
kỷ XIX [145] do Nguyễn Hoài Văn chủ biên, đã nghiên cứu sự phát triển tư tưởng
chính trị Nho giáo qua các thời kỳ: Thời Lý - Trần đến thời Lê sơ và thời Hậu Lê đến thời Nguyễn Trong đó, các tác giả bước đầu đề cập đến tư tưởng về dân của các nhà tư tưởng thời kỳ này như tư tưởng gần dân, gắn bó với nhân dân, thương yêu, chăm lo cho nhân dân có chịu ảnh hưởng của Nho giáo tiên Tần Tác giả đã phân tích diễn biến chính trị và những điều kiện kinh tế - xã hội Việt Nam từ thế kỷ
Trang 28X đến thế kỷ XIX Một trong những nội dung cơ bản trong tư tưởng chính trị của Minh Mệnh được tác giả đề cập đến đó là tư tưởng coi "dân là gốc nước" Theo tác giả, những chính sách và hoạt động của Minh Mệnh đều nhằm vào mục đích củng
cố nền thống nhất quốc gia, củng cố nền độc lập dân tộc, muốn thực hiện được mục đích đó thì theo ông phải đề ra và thực hiện những chính sách để yên dân Tác giả
cho rằng: “Minh Mệnh xác định hai mệnh đề cơ bản: thứ nhất, dân là gốc nước, có được dân yêu mến và tin theo thì mới giữ được ngôi vua và giàu sang lâu bền; thứ hai, dân có sức mạnh nên phải yêu cái dân yêu thì không việc gì không thành, ghét
cái dân ghét thì có thể đánh đổ tất cả mọi kẻ thù, trở ngại Do vậy, người làm chính trị không thể trái ý muốn của dân [146, tr 243]
Luận án Tiến sĩ Triết học của tác giả Hoàng Ngọc Thắng (2016), Tư tưởng thân dân trong Nho giáo sơ kỳ và những biểu hiện của nó dưới chế độ phong kiến Việt Nam từ thế kỷ XI đến thế kỷ XV [131] đã phân tích và bước đầu làm rõ được sự
hình thành tư tưởng thân dân của Nho giáo sơ kỳ thể hiện trong quan niệm của Nho gia và một số học thuyết chính trị - xã hội đương thời về dân, về vai trò và vị thế của dân và quan điểm về cách thức trị dân Bên cạnh đó, tác giả đã có những nghiên cứu khá công phu về một số nội dung cơ bản trong tư tưởng thân dân của Nho giáo
sơ kỳ như: chủ trương “dĩ đức trị quốc” để thu phục lòng dân, thực hiện việc dưỡng dân làm cho dân no đủ, thực hiện giáo hóa dân và trình bày khái quát ảnh hưởng của tư tưởng thân dân Nho giáo sơ kỳ đến đường lối trị nước của các triều đại phong kiến Việt Nam giai đoạn thế kỷ XI đến cuối thế kỷ XV qua đường lối trị nước của các triều đại Lý, Trần, Lê sơ và quan điểm của một số nhà tư tưởng tiêu biểu Việt Nam như Lý Thường Kiệt, Trần Quốc Tuấn, Nguyễn Trãi Trên cơ sở những nghiên cứu đó, từ việc đánh giá một cách khái quát giá trị và hạn chế trong
tư tưởng thân dân ở Việt Nam từ thế kỷ XI đến cuối thế kỷ XV, công trình đã nêu lên ba bài học về đường lối chính trị thân dân truyền thống đối với công cuộc đổi mới ở nước ta hiện nay Đó là:
1) Quan niệm về đường lối chính trị thân dân với tư cách là động lực chủ yếu
Trang 292) Đường lối chính trị thân dân phải được kế thừa và phát triển trên nền tảng hiện thực xã hội Việt Nam
3) Trong giai đoạn hiện nay, đường lối chính trị thân dân phải được đặt trên nền tảng chủ nghĩa Mác - Lênin về vai trò của quần chúng nhân dân
Những kết quả nghiên cứu trong luận án là nguồn tài liệu tham khảo đáng trân trọng đối với những người nghiên cứu đi sau Tuy nhiên, không ít nội dung nghiên cứu của công trình này cần phải bổ sung, đi sâu làm rõ thêm và nhất là do phạm vi nghiên cứu của công trình này (từ thế kỷ XI đến thế kỷ XV), nên rõ ràng, trong luận án của chúng tôi phải tiếp tục nghiên cứu thêm từ thế kỷ XV đến nửa đầu thế kỷ XIX
Trong cuốn Triết học phương Đông và phương Tây - vấn đề và cách tiếp cận [56] có bài viết Một số nội dung và giá trị cơ bản về quyền con người trong Quốc triều hình luật của tác giả Nguyễn Thanh Bình (2012) Tác giả đã phân tích những quyền cơ bản của con người được đề cập trong Luật Hồng Đức có ảnh hưởng Nho giáo và tư
tưởng về dân của Nho giáo tiên Tần với ba nội dung chính:
1 Luật Hồng Đức đã đưa ra nhiều điều luật, quy phạm cụ thể nhằm tạo ra môi
trường, thể chế để những quyền cơ bản của con người được tôn trọng và bảo vệ
2 Luật Hồng Đức, ở nhiều điều luật với nhiều quy định chứng tỏ nhân phẩm
con người và nhiều quyền tự do khác của con người được thừa nhận, tôn trọng và bảo vệ
3 Điểm nổi bật nhất, tiến bộ nhất của Luật Hồng Đức đó là mọi người đều có
quyền được sống, được chăm sóc, được bảo vệ
Tác giả cho rằng, trong Luật Hồng Đức do ảnh hưởng của Nho giáo nói chung ,
tư tưởng về dân của Nho giáo tiên Tần nói riêng mà bên cạnh những mặt hạn chế và tiêu cực còn chứa đựng những giá trị nổi bật và ý nghĩa tiến bộ, tích cực Tác giả còn cho rằng: “Những quyền tối thiểu nhưng cơ bản của con người, đặc biệt là của người dân được thừa nhận, được tôn trọng và được bảo vệ bằng pháp luật” [56, tr 330] Tác giả còn nhận định, không chỉ ở Việt Nam mà ở nhiều nước phương Đông khác, trong đời sống chính trị, không phải bao giờ và lúc nào, địa vị thống trị của các thế lực, giai cấp thống trị cũng bị quy định trực tiếp bởi địa vị kinh tế mà còn phụ thuộc
Trang 30vào sự quan tâm của các thế lực, giai cấp này đến đời sống và vai trò của người dân Đặc biệt ở Việt Nam, nhân dân có vai trò hết sức to lớn và có ý nghĩa quyết định trong công cuộc dựng nước và giữ nước, trong việc bảo vệ và phát triển chế độ
phong kiến Trong các bộ luật cũng như trong nhiều chiếu, dụ, điều của các nhà vua, các triều đại phong kiến Việt Nam được các bộ Quốc sử như: Đại Việt sử ký toàn thư, Khâm định Việt sử thông giám cương mục, Đại Nam thực lục ghi chép lại
rằng, các triều đại phong kiến Việt Nam rất quan tâm đến mọi mặt trong đời sống của người dân theo đúng tinh thần “thân dân”, “ái dân” của Nho giáo, trong đó có Nho giáo tiên Tần
Cuốn Lịch sử tư tưởng triết học Việt Nam từ thời kỳ dựng nước đến đầu thế
kỷ XIX [21] do Doãn Chính chủ biên (2013) là một công trình nghiên cứu công phu,
tỉ mỉ Thông qua các nguồn tư liệu được chắt lọc, với cách diễn đạt súc tích, cô đọng, nội dung của cuốn sách đã trình bày khái quát bối cảnh kinh tế - xã hội, tư tưởng của người Việt thời kỳ dựng nước và tư tưởng triết học Việt Nam từ thời kỳ Bắc thuộc đến đầu thế kỷ XIX Trong phần tư tưởng triết học Việt Nam từ thế kỷ X đến thế kỷ XIV, tác giả đã phân tích nội dung tư tưởng triết học thời kỳ Lý - Trần
và tư tưởng cải cách của Hồ Quý Ly Tác giả đã khái quát tư tưởng thân dân được thể hiện trong quan niệm của vua quan và nho sĩ thời kỳ này như: Lý Công Uẩn, Lý Thánh Tông, Trần Quốc Tuấn, v.v, về vị trí, vai trò của dân, trách nhiệm của nhà vua, người cầm quyền đối với dân Khi phân tích tư tưởng “Khoan thư sức dân” của Trần Quốc Tuấn, tác giả nhận định: “Trần Quốc Tuấn là người đã vận dụng thành công tư tưởng “thân dân” của Nho giáo vào đường lối kháng chiến cứu nước, tạo nên khí thế “Sát Thát”, hào khí Đông A của nước Đại Việt Ông đã chỉ ra nguyên nhân thắng lợi quân Nguyên - Mông xâm lược của dân tộc ta là do “vua tôi đồng lòng, anh em hòa mục, cả nước góp sức” Theo tác giả, tư tưởng chính trị bao trùm, chi phối đường lối cứu nước, giữ nước và toàn bộ hoạt động thực tiễn của Trần Quốc Tuấn là tư tưởng “Khoan thư sức dân”, đây là tư tưởng tiến bộ, có ý nghĩa thời đại” [21, tr 418]
Trong cuốn sách này, tác giả đã dành thêm một chương để nói về tư tưởng
Trang 31thời kỳ Trịnh - Nguyễn phân tranh, triều Tây Sơn và thời kỳ đầu nhà Nguyễn Khi trình bày về tư tưởng triết học của các nhà tư tưởng tiêu biểu như Nguyễn Trãi, Lê Thánh Tông, Nguyễn Dữ, Phùng Khắc Khoan, Lê Quý Đôn, Ngô Thì Nhậm, Minh Mệnh…, tác giả có đề cập đến tư tưởng chính trị - xã hội của các nhà tư tưởng thời
kỳ này, trong đó có tư tưởng về dân Tuy nhiên, do cuốn sách nghiên cứu về lịch sử
tư tưởng triết học Việt Nam trong suốt một thời gian dài nên những nghiên cứu của các tác giả về tư tưởng về dân trong lịch sử tư tưởng Việt Nam chỉ chiếm một dung lượng rất ít, đòi hỏi vẫn phải có sự nghiên cứu sâu và đầy đủ hơn nữa
Công trình Khái lược lịch sử tư tưởng triết học Việt Nam [39] do tác giả
Nguyễn Tài Đông chủ biên, là một trong những công trình nghiên cứu có giá trị về lịch sử tư tưởng triết học Việt Nam Cuốn sách gồm 5 chương bàn về tư tưởng triết học Việt Nam từ thời sơ sử (từ thế kỷ VII TCN) đến nửa đầu thế kỷ XX Trong công trình này, tác giả đã trình bày tư tưởng triết học thể hiện qua tư tưởng của các nhà Nho, nhà vua, nhà tư tưởng Việt Nam như: Lý Công Uẩn, Lý Thường Kiệt, Trần Quốc Tuấn, Nguyễn Trãi, Lê Thánh Tông, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Phùng Khắc Khoan, Lê Quý Đôn, Ngô Thì Nhậm, Minh Mệnh…Khi phân tích về tư tưởng nhân nghĩa của Nguyễn Trãi, tác giả đã nhận định: “nhân nghĩa của Nguyễn Trãi là một chủ nghĩa nhân đạo cao cả và toàn diện” Có thể nói, những kết quả nghiên cứu trong công trình này là cơ sở cho việc nghiên cứu tư tưởng về dân trong lịch sử tư tưởng Việt Nam giai đoạn từ thế kỷ XI đến nửa đầu thế kỷ XIX
Tác giả Nguyễn Minh Tường trong cuốn Cải cách hành chính dưới triều Minh Mệnh [143] đã dành một phần để nói về thực trạng bộ máy hành chính thời
Gia Long, tác giả đã phân tích nguyên nhân vì sao ông vua sáng lập ra vương triều Nguyễn lại chọn lựa Nho giáo làm hệ tư tưởng chính thống cho vương triều Tư tưởng này được Minh Mệnh kế thừa và khẳng định vị thế của Nho giáo nhằm mục đích xây dựng một chế độ quân chủ trung ương tập quyền Trong cuốn sách, tác giả nhận định:
Hoài bão của Minh Mệnh là làm một Lê Thánh Tông của triều Nguyễn Có lẽ, rút kinh nghiệm từ Lê Thánh Tông, muốn canh tân đất nước, trước hết phải tiến hành cải cách hành chính Công cuộc cải
Trang 32cách hành chính được quy định bởi những tư tưởng dưới đây của Minh Mệnh Đó là: Độc tôn Nho giáo, Nho học; Đề cao Pháp trị; Củng cố nền thống nhất quốc gia và yên dân [143, tr 44]
Tác giả Trần Nguyên Việt có bài viết Con đường của Nho giáo Việt Nam thời Lý - Trần in trong cuốn Tư tưởng Việt Nam thời Lý - Trần [18] Trong bài viết
này, tác giả cho rằng, Nho giáo đã có mặt ở Việt Nam từ thời Hán và phát triển hơn
ở hai triều đại Lý - Trần Khi đề cập đến tư tưởng thân dân trong thời kỳ này, tác giả nhận định: “Tư tưởng thân dân, khoan thư sức dân được thể hiện rõ nét trong quan niệm của Trần Quốc Tuấn…Vả lại, khoan thư sức dân để làm kế sâu gốc bền rễ, đó
là thượng sách để giữ nước” [18, tr 242] Ngoài ra, trong bài viết Vấn đề dân sinh trong Đại Việt sử ký toàn thư và ý nghĩa hiện đại của nó [164], tác giả Trần Nguyên
Việt đã phân tích cho thấy vấn đề dân sinh qua từng giai đoạn lịch sử được nêu
trong Đại Việt sử ký toàn thư từ góc độ triết học đối với các lĩnh vực đời sống xã
hội như: lĩnh vực đời sống sản xuất vật chất, lĩnh vực chính trị - xã hội, lĩnh vực đời sống tinh thần xã hội Tác giả cho rằng:
Đại Việt sử ký toàn thư là bộ sử lớn, ghi chép các sự kiện từ thời Hồng
Bàng đến năm Ất Mão (1675), tức là đến đời vua Gia Tông nhà Lê…, việc xây dựng Nhà nước phong kiến trung ương tập quyền Việt Nam (từ thời Lý, Trần đến thời Lê Trung Hưng) đã ít nhiều gắn với việc củng cố mối quan hệ quân - dân mà ở đó, vấn đề dân sinh luôn được các triều đại chú ý.” [164, tr 10-11]
Tác giả cũng chỉ ra bài học quý giá từ vấn đề dân sinh trong lịch sử đối với giai đoạn phát triển ở Việt Nam hiện nay Theo tác giả: “Dù các triều đại phong kiến Việt Nam có sự trường tồn khác nhau, có sự suy bại khác nhau, song ở mức độ nhất định, đều tỏ ra quan tâm đến đời sống của nhân dân, luôn lo lắng tới vấn đề có được lòng dân hay không để từ đó đưa ra những quyết sách phù hợp Đó là bài học lịch sử quý giá nhất cho muôn đời, đặc biệt là ở những giai đoạn khó khăn trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội như ở nước ta hiện nay” [164, tr 18] Đây là bài viết
có giá trị và tư liệu bổ ích cho chúng tôi trong quá trình hoàn thành luận án
Ngoài những công trình nghiên cứu trên, còn có nhiều công trình khác, các
Trang 33kỷ XI đến nửa đầu thế kỷ XIX như các cuốn: Bước đầu tìm hiểu những giá trị văn hóa chính trị truyền thống Việt Nam [55] của các tác giả Nguyễn Văn Huyên, Nguyễn Hoài Văn, Nguyễn Văn Vĩnh (2009); cuốn Tư tưởng Việt Nam thời Lý - Trần [18] do Trương Văn Chung, Doãn Chính đồng chủ biên (2008);
Những bài báo khoa học viết về đề tài này cũng có rất nhiều Chẳng hạn:
Trần Nguyên Việt (2003) Vấn đề tam giáo trong tư tưởng Nguyễn Bỉnh Khiêm [163]; Nguyễn Tài Đông (2017), Vài nét về tinh thần dân chủ trong Nho giáo Việt Nam [41];…
1.3 Những công trình nghiên cứu về giá trị, hạn chế và ý nghĩa của tư tưởng về dân trong lịch sử tư tưởng Việt Nam từ thế kỷ XI đến nửa đầu thế kỷ XIX
Cuốn Nho học và Nho học ở Việt Nam - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn
[142] của tác giả Nguyễn Tài Thư là công trình nghiên cứu toàn diện và sâu sắc về Nho học ở Việt Nam Trong tác phẩm, tác giả đã khái quát những nội dung cơ bản của Nho học cùng với vai trò, sức sống của nó trong lịch sử và hiện tại ở Trung Quốc và Việt Nam Theo tác giả, Nho giáo có sức sống hàng ngàn năm ở Việt Nam
và ảnh hưởng trên tất cả các lĩnh vực của đời sống con người Việt Nam Bên cạnh việc khẳng định những giá trị tích cực của Nho học thì tác giả cũng chỉ ra những hạn chế và ảnh hưởng tiêu cực của nó Tác giả cho rằng: “Nho học đã đi hết một chặng đường lịch sử dài ở nước ta Trên chặng đường ấy, có lúc nó giữ vai trò thúc đẩy, có lúc nó bất lực, lại có lúc nó kìm hãm sự phát triển của kinh tế - xã hội và con người Việt Nam Dù là thúc đẩy hay kìm hãm, nó đều đã góp phần làn nên truyền thống tư tưởng và văn hóa của Việt Nam” [142, tr 150]
Công trình Tìm hiểu xã hội Việt Nam thời Lý Trần [151] của Viện Sử học
Việt Nam đã nghiên cứu toàn diện, tổng thể xã hội Việt Nam thời Lý - Trần Công trình tập trung nghiên cứu với ba vấn đề cốt lõi:
1.1 Hình thái kinh tế thời Lý - Trần
1.2 Thể chế chính trị và kết cấu đẳng cấp thời Lý - Trần
1.3 Văn hóa và tư tưởng thời Lý - Trần
Trong phần thứ ba của cuốn sách của công trình trên với nhan đề Văn hóa
và tư tưởng thời Lý - Trần, có bài viết của tác giả Nguyễn Đức Sự: Tư tưởng chính
Trang 34trị và xã hội thời Lý - Trần Bài viết này đã phân tích những nội dung cơ bản trong
tư tưởng chính trị - xã hội thời Lý - Trần Trong bài viết này, khi nghiên cứu về nhân dân với tư cách là một thực thể chính trị, tác giả đã trình bày một số nội dung
cơ bản của tư tưởng về dân thời Lý - Trần như quan niệm về dân, về vai trò của dân,
về sự quan tâm của nhà vua và những người cầm quyền đối với nhân dân, về chính sách thân dân của nhà vua, nhà nước Tác giả nhận định:
Trên vũ đài tư tưởng thời Lý - Trần nhân dân đã được nhìn nhận như một lực lượng xã hội cần phải quan tâm đến khi tiến hành những cuộc chiến tranh cứu nước và duy trì trật tự xã hội nhằm đem lại sự thịnh vượng cho nước nhà…Nhưng ở Việt Nam lúc ấy, chế độ phong kiến còn đang phát triển và giai cấp phong kiến còn có sứ mệnh lịch sử của
nó, thì quan điểm và chính sách thân dân đó ít nhiều cũng có tác dụng đóng góp vào việc củng cố khối đoàn kết toàn dân để chống giặc giữ nước, đồng thời phát triển kinh tế và văn hóa làm cho nước nhà được thịnh vượng Giá trị tích cực của quan điểm nhân dân trong thời Lý - Trần chính là ở chỗ đó [151, tr 576-578]
Cuốn Nho giáo xưa và nay [66] do tác giả Vũ Khiêu chủ biên là sự tập hợp
các bài viết của các tác giả trình bày một cách khái quát một số vấn đề về giá trị của Nho giáo với những nội dung về sự ảnh hưởng của Nho giáo ở Việt Nam Trong các bài viết, các tác giả đã trình bày những quan điểm, những cách nhìn nhận và những phân tích khác nhau về Nho giáo Các tác giả đều cho rằng, nhìn chung Nho giáo đều tồn tại những giá trị và hạn chế của nó đối với sự phát triển ở Việt Nam Hay
cuốn Bàn về văn hiến Việt Nam [67] của tác giả Vũ Khiêu đã trình bày những quan
điểm của tác giả về vai trò của Nho giáo trong xã hội phong kiến Việt Nam từ thế
kỷ XI trở đi Với công trình này, tác giả đã có cái nhìn thấu đáo, sâu sắc và toàn diện khi khi đánh giá về vai trò của Nho giáo có giá trị tích cực thúc đẩy xã hội phát triển từ thời Lý - Trần đến thời Lê sơ, nhằm đáp ứng được những đòi hỏi của chế độ quân chủ phong kiến tập quyền, góp phần ổn định trật tự đời sống xã hội
Luận án tiến sĩ Triết học của tác giả Trần Việt Thắng (2015) Nho giáo thời
Trang 35quát quá trình du nhập và phát triển của Nho giáo Việt Nam từ thời kỳ Bắc thuộc đến đầu thời Lê sơ và những điều kiện, tiền đề cho sự độc tôn Nho giáo thời Lê sơ Nội dung chủ yếu của công trình này là phân tích nội dung, đặc điểm chủ yếu của Nho giáo Việt Nam thời Lê sơ để qua đó, rút ra ý nghĩa của Nho giáo thời Lê sơ trong lịch sử tư tưởng Việt Nam từ đầu thế kỷ XVI đến nửa đầu thế kỷ XIX Đặc biệt, trong nghiên cứu quan niệm về dân và trách nhiệm của nhà vua, người cầm quyền đối với dân, tác giả cũng đã phân tích khái quát quan niệm về dân của các nhà Nho, nhà tư tưởng, nhà vua thời Lê sơ Tuy nhiên, những nội dung trên trong công trình này đã cho thấy, nội dung và phạm vi của đề tài luận án của chúng tôi chỉ được đề cập sơ lược và đan xen vào trong những nội dung trên ở luận án của tác giả
Trong luận án Tiến sĩ triết học (2017): Nho giáo Việt Nam thời Lý - Trần và
ý nghĩa lịch sử của nó [106] tác giả Nguyễn Thị Như đã có những nghiên cứu hết
sức công phu và hệ thống nhiều nội dung cơ bản trong tư tưởng Nho giáo Việt Nam thời Lý - Trần như: tư tưởng chính trị - đạo đức, Nho giáo với lĩnh vực giáo dục, khoa cử thời Lý - Trần, Nho giáo trong cấu trúc Nho - Phật - Đạo Khi trình bày về giá trị và hạn chế chủ yếu của Nho giáo Việt Nam thời Lý - Trần, tác giả đã khẳng định, Nho giáo thời Lý - Trần chứa đựng tư tưởng thân dân tiến bộ nhưng nó vẫn mang tính giai cấp, chưa vượt ra khỏi khuôn khổ của ý thức hệ phong kiến và tư tưởng thân dân trong Nho giáo thời Lý - Trần chủ yếu xuất phát từ lợi ích của giai cấp phong kiến Từ đó, tác giả đã phân tích, làm rõ ý nghĩa lịch sử của Nho giáo Việt Nam thời Lý - Trần Theo tác giả, những tư tưởng chính trị - xã hội trong Nho giáo thời kỳ Lý - Trần không chỉ có ý nghĩa đối với lịch sử xã hội đương thời, mà
nó còn có giá trị, được kế thừa và phát triển mạnh mẽ ở các giai đoạn sau đó
Còn trong luận án Tiến sĩ Triết học (2004) Vấn đề đức trị và pháp trị trong lịch sử tư tưởng Việt Nam [120] tác giả Phan Quốc đã phân tích nội dung cơ bản
trong tư tưởng đức trị của Nho gia và tư tưởng pháp trị của Pháp gia trong lịch sử Trung Quốc đã tác động vào Việt Nam từ thời kỳ phong kiến đến giai đoạn hiện nay Khi trình bày những nội dung chủ yếu của tư tưởng Đức trị và Pháp trị trong lịch sử Việt Nam từ nhà Lý đến nhà Nguyễn, tác giả đã đánh giá những giá trị và hạn chế của tư tưởng đó và vấn đề kế thừa tư tưởng Đức trị và Pháp trị trong xây
Trang 36dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay Nhìn chung công trình trên đã đề cập đến nội dung của Nho giáo ở Việt Nam và rút ra giá trị, hạn chế trong tư tưởng về dân dưới chế độ phong kiến và ý nghĩa của nó đối với nước ta hiện nay
Nguyễn Bá Cường trong bài viết “Người dân và người cầm quyền trong tư tưởng của Nguyễn Trãi và Nguyễn Bỉnh Khiêm” [20] đã chỉ ra rằng, người dân vừa
có vai trò to lớn hợp thành xã hội, vừa là lực lượng làm ra của cải vật chất nuôi sống toàn xã hội Thông qua tư tưởng của Nguyễn Trãi và Nguyễn Bỉnh Khiêm về đường lối trị nước và trách nhiệm của nhà vua người cầm quyền và triều đình phong kiến đối với người dân, có thể thấy, những nhà tư tưởng này đã kế thừa, tiếp thu và phát triển những giá trị nhân văn của Nho giáo dựa trên điều kiện của đời sống xã hội hiện thực Thêm vào đó, theo tác giả, tư tưởng của Nguyễn Trãi và Nguyễn Bỉnh Khiêm đã thể hiện những nội dung nhân bản cao cả, tiếp nối được truyền thống nhân văn của dân tộc trong lịch sử
Bên cạnh những công trình trên thì còn có những công trình nghiên cứu khoa học về Nho giáo ở Việt Nam và ý nghĩa của nó, những tác phẩm, các đề tài luận án tiến sĩ, những bài viết của các nhà nghiên cứu về giá trị, hạn chế và ý nghĩa từ ảnh hưởng tư tưởng của Nho giáo trong lịch sử tư tưởng Việt Nam như các tác phẩm:
Lịch sử tư tưởng Việt Nam tập 1 [140] do tác giả Nguyễn Tài Thư (1993) chủ biên; Lịch sử tư tưởng Việt Nam tập 2 [129] của tác giả Lê Sỹ Thắng (1997); Đến hiện đại từ truyền thống [58] của tác giả Trần Đình Hượu (1997); Bản sắc văn hóa Việt Nam [97] của tác giả Phan Ngọc (1998); Việt Nam văn hóa sử cương [2] của tác giả
Đào Duy Anh (1992) Ngoài ra, còn có các bài báo khoa học liên quan đến hướng nghiên cứu này, có thể kể đến các công trình như: Tác giả Trần Nguyên Việt (2005)
Vấn đề dân sinh trong Đại Việt sử ký toàn thư và ý nghĩa hiện đại của nó [164]; Tác giả Nguyễn Tài Đông (2017), Vài nét về tinh thần dân chủ trong Nho giáo Việt Nam [41];,…Tuy nhiên, có thể nhận thấy rằng, tương tự như các công trình nghiên cứu
đã được nêu trên, việc đi sâu phân tích giá trị, hạn chế và ý nghĩa của tư tưởng về dân trong lịch sử tư tưởng Việt Nam từ thế kỷ XI đến nửa đầu thế kỷ XIX chưa
Trang 371.4 Khái quát những kết quả đạt đƣợc và những vấn đề luận án cần tiếp tục nghiên cứu
Qua việc tìm hiểu các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án Tư
tưởng của Nho giáo tiên Tần về dân và ảnh hưởng của nó trong lịch sử tư tưởng Việt Nam từ thế kỷ XI đến nửa thế kỷ XIX cho thấy, vấn đề này đã được quan tâm
nghiên cứu ở nhiều khía cạnh và mức độ khác nhau Tuy nhiên, việc nghiên cứu Nho giáo nói chung, trong đó có tư tưởng về dân của Nho giáo tiên Tần và ảnh hưởng của nó trong lịch sử tư tưởng Việt Nam vẫn là đề tài nghiên cứu lớn, cần phải đào sâu nghiên cứu, tìm hiểu thêm Liên quan trực tiếp tới luận án, từ những kết quả nghiên cứu trong các công trình nghiên cứu trên, có thể khái quát một số thành tựu chủ yếu mà các công trình nghiên cứu đó đã đạt được và một số vấn đề đặt ra đòi hỏi phải được tiếp tục nghiên cứu như sau:
Thứ nhất, các công trình nghiên cứu về Nho giáo tiên Tần được nghiên cứu
một cách tổng thể, bao quát, với nhiều nội dung từ thế giới quan đến nhân sinh quan
và đặc biệt được nghiên cứu, nhìn nhận với tư cách là học thuyết chính trị - xã hội, đạo đức thông qua tư tưởng của các nhà Nho tiêu biểu như: Khổng Tử, Mạnh Tử, Tuân Tử, v.v Có thể nói, ở những mức độ khác nhau, các tác giả đã có những kiến giải hợp lý về nguồn gốc, nội dung của Nho giáo tiên Tần ở Trung Quốc Nhiều công trình nghiên cứu cụ thể về tư tưởng thân dân trong Nho giáo tiên Tần và qua
đó, đã chỉ ra những giá trị và hạn chế của tư tưởng về dân trong Nho giáo tiên Tần Đây là nguồn tài liệu tham khảo phong phú và quý báu đối với tác giả trong quá trình nghiên cứu và hoàn thiện luận án
Thứ hai, tư tưởng về dân trong Nho giáo tiên Tần đã được nghiên cứu, đề cập đến
trong các công trình nghiên cứu về Nho giáo tiên Tần và ít nhiều trong các công trình nghiên cứu khác về Nho giáo nói chung Ở mức độ nhất định, các công trình đó đã phác họa được những vấn đề chủ yếu trong nội dung tư tưởng về dân, vị trí và vai trò của dân trong tiến trình phát triển của xã hội, của thể chế chính trị và người cầm quyền, cũng như trách nhiệm của nhà vua, người cầm quyền đối với dân
Thứ ba, ở các công trình nghiên cứu đi trước của các tác giả đã cho thấy,
Nho giáo nói chung và Nho giáo tiên Tần nói riêng trong quá trình du nhập và phát
Trang 38triển ở Việt Nam, nhất là từ thế kỷ XI trở đi, đã có ảnh hưởng và vai trò rất lớn đến nhiều mặt, nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội và con người Việt Nam, đặc biệt là trong lĩnh vực chính trị - xã hội, đạo đức, giáo dục và pháp luật Bởi vậy mà, không
ít nhà nghiên cứu đã khẳng định rằng, Nho giáo đã trở thành nét văn hóa đặc sắc của Việt Nam và góp phần to lớn vào truyền thống dân tộc
Thứ tư, các công trình nghiên cứu, ở mức độ nhất định đã chỉ ra và bước đầu
phân tích những ảnh hưởng của tư tưởng về dân trong Nho giáo tiên Tần đến lịch sử
tư tưởng Việt Nam từ thế kỷ XI đến nửa đầu thế kỷ XIX qua quan niệm của một số nhà vua, nhà Nho, nhà tư tưởng Việt Nam Qua đó cho thấy, Nho giáo tiên Tần nói chung, tư tưởng về dân của Nho giáo tiên Tần nói riêng đều ảnh hưởng đến tư tưởng nhiều nhà vua, nhà Nho, nhà tư tưởng Việt Nam, nhất là những nhà tư tưởng chịu ảnh hưởng của Nho giáo, nhưng phạm vi, mức độ ảnh hưởng ấy là ít nhiều khác nhau ở những nhà tư tưởng khác nhau và trong những thời kỳ phát triển khác nhau của xã hội và chế độ phong kiến Việt Nam
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu trên đã cung cấp những tài liệu quan
trọng trong quá trình nghiên cứu đề tài Tư tưởng của Nho giáo tiên Tần về dân và ảnh hưởng của nó trong lịch sử tư tưởng Việt Nam từ thế kỷ XI đến nửa thế kỷ XIX
của chúng tôi Tuy nhiên, do mục đích nghiên cứu và phương pháp tiếp cận khác nhau và phạm vi, nhiệm vụ, nội dung nghiên cứu ở mỗi công trình ấy có sự khác nhau, cho nên, nhiều nội dung nghiên cứu, nhiều đánh giá, nhận định trong những công trình này cần phải được bổ sung, phát triển thêm Và hơn nữa, những vấn đề
về nguồn gốc, quá trình hình thành tư tưởng về dân của Nho giáo tiên Tần và ảnh hưởng của nó đến đời sống xã hội Việt Nam, đến lịch sử tư tưởng Việt Nam thời kỳ phong kiến từ thế kỷ XI đến nửa đầu thế kỷ XIX, theo chúng tôi, cần phải được trình bày có hệ thống và được lý giải từ góc độ triết học và phương pháp biện chứng duy vật của triết học Mác - Lênin
Có thể khẳng định rằng, cho đến nay, chưa có công trình nghiên cứu nào đề cập đầy đủ, khái quát và có hệ thống tư tưởng về dân trong Nho giáo tiên Tần và ảnh hưởng của nó đến Việt Nam từ thế kỷ XI đến nửa đầu thế kỷ XIX Do vậy, để thực hiện và hoàn thành đề tài này, luận án cần tập trung nghiên cứu để bổ sung,
Trang 39Một là: Trình bày khái quát và có hệ thống những nội dung chủ yếu trong tư
tưởng về dân của Nho giáo tiên Tần như: phạm trù dân, về vai trò và vị trí của dân trong xã hội, về thái độ và trách nhiệm của nhà vua, người cầm quyền đối với dân Trên cơ sở đó, luận án chỉ ra những giá trị và hạn chế của nó
Hai là: Trình bày khái quát điều kiện kinh tế - xã hội và sự tiếp thu tư tưởng
Nho giáo từ thế kỷ XI đến nửa đầu thế kỷ XIX tác động đến sự hình thành tư tưởng
về dân trong lịch sử tư tưởng Việt Nam thời gian này
Ba là: Phân tích những ảnh hưởng tư tưởng về dân của Nho giáo tiên Tần
đến tư tưởng về dân trong lịch sử tư tưởng Việt Nam từ thế kỷ XI đến nửa đầu thế
kỷ XIX (qua nghiên cứu ảnh hưởng của nó trong một số nhà vua, nhà Nho, nhà tư tưởng Việt Nam)
Bốn là: Luận án làm rõ giá trị, hạn chế của tư tưởng về dân trong lịch sử tư
tưởng Việt Nam từ thế kỷ XI đến nửa đầu thế kỷ XIX và rút ra ý nghĩa của tư tưởng này ở Việt Nam hiện nay
Trang 40CHƯƠNG 2 BỐI CẢNH HÌNH THÀNH VÀ MỘT SỐ NỘI DUNG CHỦ YẾU
TRONG TƯ TƯỞNG VỀ DÂN CỦA NHO GIÁO TIÊN TẦN
2.1 Khái quát điều kiện, tiền đề cơ bản cho sự hình thành tư tưởng về dân trong Nho giáo tiên Tần
Nho giáo về cơ bản là học thuyết triết học, chính trị - xã hội, đạo đức lớn nhất ở Trung Quốc thời cổ đại do Khổng Tử (551 - 479 tr.CN), một nhà tư tưởng lớn thời cổ đại của Trung Hoa sáng lập, có ảnh hưởng lâu dài ở Trung Quốc và ở Việt Nam Nho giáo Trung Quốc có lịch sử hình thành, phát triển qua nhiều giai đoạn Đã có nhiều cách phân chia lịch sử hình thành và phát triển của Nho giáo Trung Quốc Chúng tôi nhất trí với cách phân chia Nho giáo Trung Quốc thành ba giai đoạn là: Nho giáo tiên Tần (hay Nho giáo nguyên thủy, Nho giáo sơ kỳ), Hán Nho và Tống Nho Sự phân chia này là chủ yếu căn cứ vào thay đổi về nội dung, tính chất của Nho giáo cũng như ảnh hưởng, vai trò của Nho giáo đối với xã hội và con người
Khi nghiên cứu và đánh giá tư tưởng của một thời đại lịch sử nào ngay cả Nho giáo tiên Tần cũng vậy, thì một trong những căn cứ, cơ sở chủ yếu là phải xuất phát vào tình hình kinh tế, xã hội của thời đại đã nảy sinh, chi phối sự hình thành
và phát triển của tư tưởng ấy
2.1.1 Điều kiện kinh tế - xã hội thời Xuân Thu - Chiến Quốc
Trước hết phải khẳng định rằng, Nho giáo Trung Quốc với tư cách là một học thuyết hoàn chỉnh xuất hiện trong thời Xuân Thu - Chiến Quốc, và do vậy, giai đoạn đầu tiên của Nho giáo Trung Quốc là Nho giáo tiên Tần
* Trên lĩnh vực kinh tế: Thời kỳ Xuân Thu - Chiến Quốc bắt đầu từ thế kỷ
thứ VIII tr.CN cho đến thế kỷ thứ III tr.CN Đây là thời kỳ xã hội Tây Chu có nhiều
sự biến động to lớn Trên cơ sở sự phát triển của lực lượng sản xuất thì quan hệ sản xuất chiếm hữu nô lệ với chế độ sở hữu “tỉnh điền” bóc lột nhân dân của quý tộc nhà Chu quy định trước đây đã trở nên lạc hậu, không còn phù hợp nữa, tất yếu đòi hỏi phải thay thế bằng hình thức sở hữu khác, đó là sự hình thành của chế độ tư hữu ruộng đất Ruộng đất ngày càng tập trung vào tay địa chủ lớn, nông dân bị mất hết ruộng đất, tình trạng chiếm hữu ruộng đất tư ngày càng trở nên phổ biến Cùng với