Bởi một trong những đặc điểm nổi bật của triết học Việt Nam là ở nước ta từ xưa đến nay, triết học thường được biểu hiện qua các hình thái ý thức xã hội khác như văn học, sử học, hay ch
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
………
VŨ THỊ THƠ
ẢNH HƯỞNG CỦA TƯ TƯỞNG NHO GIÁO
VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA TRỜI VÀ NGƯỜI TRONG LỊCH SỬ TƯ TƯỞNG VIỆT NAM (QUA “ĐẠI VIỆT SỬ KÝ TOÀN THƯ”)
Luận văn Thạc sĩ
HÀ NỘI - 2012
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
………
VŨ THỊ THƠ
ẢNH HƯỞNG CỦA TƯ TƯỞNG NHO GIÁO
VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA TRỜI VÀ NGƯỜI TRONG LỊCH SỬ TƯ TƯỞNG VIỆT NAM (QUA “ĐẠI VIỆT SỬ KÝ TOÀN THƯ”)
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 4
1 Tính cấp thiết của đề tài 4
2 Tình hình nghiên cứu 6
3 Mục đích và nhiệm vụ 11
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 11
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu 12
6 Đóng góp và ý nghĩa của luận văn 12
7 Bố cục của luận văn 12
CHƯƠNG 1: TƯ TƯỞNG CỦA NHO GIÁO VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA TRỜI VÀ NGƯỜI 13
1.1.Quan niệm của Nho giáo về trời, mệnh trời 14
1.2 Quan niệm của Nho giáo về con người 31
1.3.Quan niệm của Nho giáo về mối quan hệ giữa trời và người 45
Chương 2: TƯ TƯỞNG VIỆT NAM ẢNH HƯỞNG BỞI TƯ TƯỞNG NHO GIÁO VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA TRỜI VÀ NGƯỜI QUA BỘ ĐẠI VIỆT SỬ KÝ TOÀN THƯ 64
2.1 Khái quát chung về bộ Đại Việt sử ký toàn thư 64
2.2 Ảnh hưởng của tư tưởng Nho giáo về mối quan hệ giữa trời và người trong Đại Việt sử ký toàn thư 80
KẾT LUẬN 118
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 121
Trang 4MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Nho giáo là một học thuyết triết học, học thuyết đạo đức, chính trị - xã hội do Khổng Tử sáng lập ở Trung Hoa cuối thời Xuân Thu đã trải qua quá trình phát triển với nhiều biến cố, thăng trầm Từ thời Xuân Thu - Chiến Quốc, qua các triều đại phong kiến đến phong trào Ngũ Tứ 1919, do phù hợp với nhu cầu cai trị của giai cấp phong kiến Trung Quốc, Nho giáo được xếp hàng đầu trong “cửu lưu thập gia” thời tiên Tần và là dòng chính của văn hóa Trung Quốc Sở dĩ, Nho giáo có thể đóng vai trò là hệ tư tưởng chính thống của chế độ phong kiến tập quyền Trung Hoa bởi những tư tưởng chính trị - đạo đức của nó, vốn được xây dựng trên một cơ sở triết học vững chắc, đã phục vụ rất đắc lực cho mục đích cai trị của giới cầm quyền phong kiến Vì vậy, việc khái quát tư tưởng triết học Nho giáo nói chung, tư tưởng Nho giáo về trời, về người và mối quan hệ giữa trời và người nói riêng là việc làm khá hữu ích để hiểu, lý giải những triết lý cai trị
và quan niệm đạo đức của các triều đại phong kiến Trung Quốc
Nho giáo du nhập vào Việt Nam từ thời Bắc thuộc Trong suốt thời gian đầu, Nho giáo bị chống đối bởi phần lớn người Việt Nam, nhưng sau
đó, Nho giáo đã được các triều đại phong kiến Việt Nam: Lý, Trần, Lê, Nguyễn tiếp nhận và sử dụng nhằm xây dựng quốc gia phong kiến Việt Nam độc lập, tự chủ Quá trình đó đã tạo điều kiện để Nho giáo trở thành một bộ phận quan trọng của kiến trúc thượng tầng xã hội, là ý thức hệ của các triều đại phong kiến Việt Nam Không ai có thể phủ nhận rằng, tư tưởng Nho giáo nói chung, tư tưởng Nho giáo về mối quan hệ giữa trời và người ảnh hưởng đậm nét và sâu sắc trong tư tưởng của người Việt Nam, chi phối mọi lĩnh vực như chính trị, xã hội, quan hệ gia đình, dòng tộc của người Việt
Trang 5Trong những năm qua, ở Việt Nam có rất nhiều nhà nghiên cứu bàn về Nho giáo và sự ảnh hưởng của nó ở Việt Nam Chắc chắn, vấn đề này sẽ còn thu hút sự quan tâm của các nhà nghiên cứu nhiều hơn nữa Bởi vì, bản thân học thuyết ấy, bên cạnh các giá trị mang tính lịch sử còn có các giá trị mang tính thời đại, và ở Việt Nam, tư tưởng Nho giáo, tuy có những hạn chế nhất định song cũng mang nhiều triết lý về nhân sinh và đạo đức rất có
ý nghĩa
Nghiên cứu ảnh hưởng của Nho giáo trong tiến trình lịch sử của xã hội Việt Nam, chẳng những phải xem xét trong đời sống xã hội lắng đọng những yếu tố văn hóa Nho giáo đã biểu hiện, đã trở thành phong tục, tập quán, lối sống, cách ứng xử xã hội… mà còn phải đặc biệt chú ý đến tư tưởng của các nhà Nho, nhà sử học Việt Nam thông qua nghiên cứu các bộ
quốc sử, đặc biệt là bộ Đại Việt sử ký toàn thư Bởi một trong những đặc
điểm nổi bật của triết học Việt Nam là ở nước ta từ xưa đến nay, triết học thường được biểu hiện qua các hình thái ý thức xã hội khác như văn học, sử học, hay chính trị học …
Sự ảnh hưởng của Nho giáo nói chung, tư tưởng Nho giáo về trời, người,
về mối quan hệ giữa trời và người nói riêng trong lịch sử tư tưởng Việt Nam
được thể hiện qua bộ Đại Việt sử ký toàn thư rất phong phú và đa dạng trên
các lĩnh vực thế giới quan, tư tưởng chính trị, tư tưởng đạo đức… phần nào thể hiện triết lý nhân sinh, tinh thần nhập thế của Nho giáo Nghiên cứu vấn
đề này có ý nghĩa to lớn, bởi vì nó sẽ giúp chúng ta có thêm góc nhìn rõ hơn
về quá trình người Việt đã tiếp nhận và cải biến tư tưởng Nho giáo trong công cuộc dựng nước và giữ nước - đó cũng chính là quá trình mà nhiều nhà nghiên cứu gọi là “Việt Nam hóa Nho giáo” Đồng thời, nghiên cứu vấn
đề này còn có ý nghĩa giáo dục cho chúng ta lý tưởng cao cả và tinh thần trách nhiệm trước xã hội, có thể và cần phải khai thác để xây dựng niềm tin vào cuộc sống
Trang 6Xuất phát từ lý luận và thực tiễn ấy, chúng tôi chọn đề tài “Ảnh hưởng
của tư tưởng Nho giáo về mối quan hệ giữa trời và người trong lịch sử tư tưởng Việt Nam (qua Đại Việt sử ký toàn thư)” để nghiên cứu trong luận
văn Thạc sỹ triết học của mình
2 Tình hình nghiên cứu
Ở Việt Nam, liên quan đến đề tài từ trước đến nay, đã có rất nhiều công trình nghiên cứu Trước hết phải kể đến các công trình nghiên cứu về Nho giáo và ảnh hưởng của Nho giáo ở Việt Nam:
Ở lĩnh vực này, lại có hai hướng: hướng thứ nhất, nghiên cứu về Nho giáo thông qua các tác phẩm kinh điển, sách vở của các nhà Nho; hướng thứ
hai, nghiên cứu về sự thể hiện của Nho giáo trong đời sống tư tưởng và xã
hội, con người Việt Nam kể từ khi Nho giáo du nhập vào Việt Nam
Tiêu biểu cho những nghiên cứu về Nho giáo thông qua các tác phẩm kinh điển, sách vở của các nhà Nho là các công trình nghiên cứu của Phan Bội Châu, Trần Trọng Kim, Quang Đạm
Trong cuốn Khổng học đăng của Phan Bội Châu và Nho giáo của Trần
Trọng Kim, các tác giả đã thông qua việc trình bày, phân tích một số phạm trù, nguyên lý cơ bản của Nho giáo trong quá trình hình thành, phát triển của nó để khẳng định, Nho giáo là một học thuyết triết học, học thuyết chính trị - xã hội, học thuyết đạo đức Cả hai ông đều đặc biệt đề cao những yếu tố, nhân tố tích cực của Nho giáo, coi đạo đức Nho giáo có vai trò to lớn trong việc giáo dục, hoàn thiện đạo đức con người và ổn định trật tự, kỷ cương xã hội Qua những nghiên cứu này, chúng ta cũng có thể thấy, thế giới quan Nho giáo nói chung, tư tưởng Nho giáo về trời, về người, về mối quan hệ giữa trời và người nói riêng được các tác giả trình bày rải rác thông qua việc tìm hiểu, đánh giá tư tưởng của các nhà Nho tiêu biểu của Trung Quốc Đồng thời, chúng ta cũng có thể thấy, tư tưởng về mối quan hệ giữa
Trang 7trời và người của Nho giáo ảnh hưởng thế nào tới tư tưởng chính trị, tư tưởng đạo đức của các nhà Nho
Khác với hai công trình trên của Phan Bội Châu và Trần Trọng Kim - thiên về ca ngợi và mong muốn giữ lại nhiều giá trị của Nho giáo, nhất là
những giá trị đạo đức Nho giáo, thì cuốn Nho giáo xưa và nay của Quang
Đạm đã tìm hiểu, đánh giá về Nho giáo trên cả hai mặt tích cực và hạn chế của nó Trong tác phẩm này, tác giả cũng dành hẳn một chương để nói về tam tài: trời - đất - người Tác giả cũng đã có những so sánh cụ thể về sự khác nhau giữa quan niệm về trời của Nho giáo với quan niệm về trời của Thiên chúa giáo Đó là những nghiên cứu có tính chất gợi mở, làm nền tảng cho chúng tôi trong những nghiên cứu ở luận văn này
Nhìn chung, những cuốn sách trên đây là những công trình khá bổ ích cho những người quan tâm và nghiên cứu Nho giáo Song cũng do lập trường, quan điểm và mục đích nghiên cứu Nho giáo ở các tác giả ít nhiều là khác nhau, cho nên những tư tưởng, phạm trù của Nho giáo chưa được trình bày, phân tích một cách toàn diện và có hệ thống, một số nhận định, đánh giá
về Nho giáo chưa thật khách quan, đòi hỏi phải tiếp tục nghiên cứu
Trong hướng nghiên cứu về sự thể hiện của Nho giáo trong đời sống tinh thần của xã hội và con người Việt Nam từ khi Nho giáo du nhập vào nước ta, phải kể đến các công trình tiêu biểu của nhiều nhà nghiên cứu có tên tuổi như các Giáo sư Đào Duy Anh, Vũ Khiêu, Nguyễn Tài Thư, Lê Sĩ Thắng, Trần Văn Giàu, Trần Đình Hượu, Phan Huy Lê, Cao Xuân Huy… Trong những công trình nghiên cứu của mình, các tác giả đã bắt đầu từ những mệnh đề, tư tưởng, phạm trù của cơ bản của Nho giáo để nghiên cứu, xem xét ảnh hưởng của nó trong các lĩnh vực chủ yếu của đời sống xã hội
và con người Việt Nam như: chính trị, đạo đức, tư tưởng, thế giới quan… Qua các công trình nghiên cứu đó, ảnh hưởng của tư tưởng Nho giáo về mối
Trang 8quan hệ giữa trời và người trong lịch sử tư tưởng Việt Nam cũng được thể hiện phần nào
Công trình Nho học và Nho học ở Việt Nam của Giáo sư Nguyễn Tài
Thư đã có nhiều kiến giải mới về ảnh hưởng và vai trò của Nho giáo đối với
xã hội và con người Việt Nam trong lịch sử Đề cập tới phạm vi, ảnh hưởng của Nho gáo trong lịch sử tư tưởng Việt Nam, tác giả cho rằng, ảnh hưởng
rõ nét của Nho giáo là trong lĩnh vực thế giới quan và nhân sinh quan
Trong cuốn Lịch sử tư tưởng Việt Nam, tập 1, do Giáo sư Nguyễn Tài
Thư chủ biên đã trình bày khái quát ảnh hưởng của cả ba hệ tư tưởng Nho, Phật, Lão từ khi du nhập vào Việt Nam cho tới thế kỉ XIX, trong đó, những ảnh hưởng của quan niệm về trời, mệnh trời của Nho giáo cũng được tác giả phân tích và minh chứng bằng nhiều ví dụ cụ thể
Trong cuốn Bản sắc văn hóa Việt Nam, Giáo sư Phan Ngọc đã phân
tích cho thấy, những phạm trù cơ bản của Nho giáo như trung, hiếu, nhân, nghĩa… khi vào Việt Nam cũng đã bị khúc xạ, đã được người Việt Nam tiếp biến Do vậy, những phạm trù này ở các nhà Nho Việt Nam có nội hàm rộng hơn, phong phú hơn, mang nhiều yếu tố, tính chất nhân văn, nhân bản hơn Và theo ông, chỉ như vậy, Nho giáo mới đóng một vai trò quan trọng đối với lịch sử của dân tộc và ảnh hưởng nhất định đến nhiều mặt của văn hóa Việt Nam
Hướng nghiên cứu thứ hai này cũng được thể hiện ở một số công trình tiêu biểu trong mỗi giai đoạn phát triển của xã hội phong kiến Việt Nam Điển hình nhất là những nghiên cứu của Giáo sư Nguyễn Duy Hinh, như:
thời Lý, ông có nghiên cứu Hệ tư tưởng Lý; thời Trần, ông viết Hệ tư tưởng
Trần; thời Lê, ông viết Hệ tư tưởng Lê
Trang 9Ngoài ra, liên quan tới hướng nghiên cứu về Nho giáo và ảnh hưởng của Nho giáo ở Việt Nam còn có rất nhiều những luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ và
những bài viết được đăng ở các tạp chí Triết học, Nghiên cứu lịch sử, Văn học…
Liên quan tới đề tài trong luận văn này, chúng ta còn phải kể đến các
công trình nghiên cứu về bộ Đại Việt sử ký toàn thư
Các nghiên cứu từ trước tới nay về bộ sử này thường đi theo hai khuynh hướng chính: tìm hiểu về các tác giả đã tham gia soạn thảo, biên
chép Đại Việt sử ký toàn thư và nghiên cứu những nội dung tư tưởng được
phản ánh qua bộ sử
Nghiên cứu về các tác giả đã tham gia soạn thảo, biên chép bộ Đại Việt
sử ký toàn thư có thể kể đến các công trình, bài viết sau: Bài viết của Trần
Văn Giáp: “Lược khảo về bộ Đại Việt sử ký toàn thư cùng tác giả của nó”, đăng trên tạp chí Nghiên cứu lịch sử, số 63/1964 Trong bài viết này, tác giả
đã lược khảo và liệt kê ra các bộ chính sử Việt Nam bắt đầu từ Đại Việt sử
ký của Lê Văn Hưu Từ đó, tác giả phân tích, nhận định về các sử thần đã
biên chép bộ Đại Việt sử ký toàn thư mà hiện nay chúng ta đang có như thế nào Hay như trong cuốn Tìm về cội nguồn (1998), tập 1, của Giáo sư Phan Huy Lê, do Nhà xuất bản Thế giới phát hành, cũng có một phần viết về Đại
Việt sử ký toàn thư: tác giả, văn bản, tác phẩm Đây là công trình khảo cứu
rất công phu của Giáo sư về tác giả, văn bản và tác phẩm Đại Việt sử ký
toàn thư Giáo sư giới thiệu về bố cục, một số nội dung chính của tác phẩm
cùng toàn bộ quá trình cũng như công lao biên soạn của các tác giả bắt đầu
từ Lê Văn Hưu đến Phan Phu Tiên, Ngô Sĩ Liên, Vũ Quỳnh, Phạm Công Trứ, nhóm Lê Hy - Nguyễn Quý Đức
Nghiên cứu về nội dung tư tưởng được phản ánh trong bộ Đại Việt sử
ký toàn thư là một hướng được nhiều học giả quan tâm Về vấn đề này, có
thể kể đến những công trình, bài viết sau: Bài “Tư tưởng triết học của các
Trang 10nhà sử học Việt Nam thế kỉ XV - XVII” của tác giả Minh Anh đăng trên
Tạp chí Triết học số 12/2007, tác giả đã trình bày và phân tích một cách
chung nhất tư tưởng triết học của các sử thần thông qua bộ Đại Việt sử ký
toàn thư Đó là các tư tưởng về sự vận động xã hội là do trời định, về vai trò
của nhân dân trong lịch sử, về quy luật xây dựng một xã hội thái bình, thịnh
trị Trong cuốn Lịch sử tư tưởng Việt Nam, tập 1, do Giáo sư Nguyễn Tài
Thư chủ biên cũng có một phần nghiên cứu về hoàn cảnh ra đời, nội dung
tư tưởng phản ánh trong Đại Việt sử ký toàn thư Các tác giả khẳng định, các sử thần biên soạn Đại Việt sử ký toàn thư đã đứng trên hệ tư tưởng Nho
giáo để chép sử, khen chê, để đánh giá và bình luận về các nhân vật lịch sử, các sự kiện lịch sử Phó giáo sư Trần Nguyên Việt có bài: “Vấn đề dân sinh
trong Đại Việt sử ký toàn thư và ý nghĩa thời đại của nó” đăng trên Tạp chí
Triết học, số 4, tháng 4/2009 Tác giả đã xem xét vấn đề dân sinh từ góc độ
triết học xã hội và đời sống tinh thần của xã hội được thực hiện ở các triều
đại phong kiến Việt Nam, thông qua bộ Đại Việt sử ký toàn thư Tác giả
nhận xét: “Có thể nói, khái niệm dân sinh lần đầu tiên đã được sử dụng
trong Đại Việt sử ký toàn thư theo đúng nghĩa của từ này” [57,tr 18] và
“Nhà nước phong kiến nào trong lịch sử cũng đều giương cao ngọn cờ nhân nghĩa an dân, lấy đó làm thước đo sự thịnh trị của đất nước và tính đúng đắn trong đường lối trị nước của triều đại mình” [57,tr 15]
Nhìn chung, những nghiên cứu nêu trên đều đã có những trình bày, phân tích ít nhiều về tư tưởng Nho giáo về mối quan hệ giữa trời và người
và ảnh hưởng của tư tưởng này ở Việt Nam qua bộ Đại Việt sử ký toàn thư
Tuy nhiên, cho đến nay, một công trình nghiên cứu có hệ thống, mang tính chất tổng hợp, có sự so sánh cụ thể giữa các thời kì về vấn đề này là chưa
có Do vậy, trên cơ sở kế thừa những công trình đi trước, những nghiên cứu
Trang 11trong luận văn này hướng tới sự phân tích, tổng hợp, so sánh tư tưởng Nho giáo về mối quan hệ giữa trời và người và ảnh hưởng của nó trong tư tưởng
Việt Nam qua Đại Việt sử ký toàn thư
3 Mục đích và nhiệm vụ
a Mục đích: Tìm hiểu những giá trị và hạn chế chủ yếu trong tư tưởng
của Nho giáo về mối quan hệ giữa trời và người và phạm vi ảnh hưởng của
nó trong tư tưởng chính trị, tư tưởng đạo đức ở Việt Nam thể hiện trong bộ
Đại Việt sử ký toàn thư
b Nhiệm vụ
Để đạt được mục đích trên, luận văn tập trung làm rõ những nội dung chủ yếu sau đây:
- Trình bày một cách có hệ thống tư tưởng Nho giáo về trời, về người,
về mối quan hệ giữa trời và người
- Trình bày bối cảnh ra đời, về các tác giả và quá trình biên soạn và giá
trị của bộ Đại Việt sử ký toàn thư
- Trình bày ảnh hưởng của tư tưởng Nho giáo về mối quan hệ giữa trời
và người trên lĩnh vực chính trị và đạo đức trong Đại Việt sử ký toàn thư
4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu là nội dung tư tưởng Nho giáo về mối quan hệ giữa trời và người và ảnh hưởng của tư tưởng ấy trong lịch sử tư tưởng Việt
Nam qua Đại Việt sử ký toàn thư
- Phạm vi nghiên cứu: tác giả tập trung hệ thống, phân tích tư tưởng Nho giáo về mối quan hệ giữa trời và người trong một số tác phẩm kinh điển của Nho giáo và tìm hiểu những ảnh hưởng của tư tưởng Nho giáo về
mối quan hệ giữa trời và người trong tư tưởng Việt Nam qua Đại Việt sử ký
toàn thư
Trang 125 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
- Cơ sở lý luận của luận văn là những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam trong việc giữ gìn những giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc và phát huy bản sắc văn hóa Việt Nam
- Phương pháp nghiên cứu: Luận văn sử dụng đồng thời phương pháp biện chứng duy vật của Triết học Mác - Lênin kết hợp với một số phương pháp nghiên cứu khoa học khác như phương pháp lôgic - lịch sử, phương pháp so sánh, phân tích, tổng hợp…
6 Đóng góp và ý nghĩa của luận văn
Luận văn khái quát một cách có hệ thống tư tưởng Nho giáo về mối quan hệ giữa trời và người và ảnh hưởng của nó trong tư tưởng Việt Nam
thể hiện qua Đại Việt sử ký toàn thư
Luận văn góp phần tìm hiểu về những ảnh hưởng của Nho giáo ở Việt Nam nói riêng và lịch sử tư tưởng Việt Nam nói chung từ giai đoạn đầu của lịch sử dân tộc tới thế kỷ XVII
Kết quả của luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho những người quan tâm tới Nho giáo và lịch sử tư tưởng Việt Nam
7 Bố cục của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, phần Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, Nội dung của luận văn gồm 2 chương, 5 tiết
Chương 1 Tư tưởng Nho giáo về mối quan hệ giữa trời và người, với
3 tiết
Chương 2 Tư tưởng Việt Nam ảnh hưởng bởi tư tưởng Nho giáo về
mối quan hệ giữa trời và người qua bộ Đại Việt sử ký toàn thư, với 2 tiết
Trang 13CHƯƠNG 1
TƯ TƯỞNG CỦA NHO GIÁO
VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA TRỜI VÀ NGƯỜI
Trong lịch sử tư tưởng Trung Quốc, có một truyền thống là các nhà tư tưởng thường xuất phát từ quá khứ, lựa chọn lấy cái “sở đắc” rồi từ đó vận dụng cho phù hợp với thời đại của mình Quá trình ra đời, tồn tại và phát triển của Nho giáo cũng theo truyền thống đó Nho giáo do Khổng Tử (551
- 479 Tr.CN) sáng lập ở Trung Quốc cuối thời Xuân Thu thực chất cũng là kết quả của một sự kế thừa Trên cơ sở kho tàng văn hóa truyền thống Trung Quốc có từ thời Hạ - Ân -Thương - Chu, Khổng Tử đã tổng kết, “san
định” những kinh sách đầu tiên của Nho giáo (Thi, Thư, Lễ, Dịch), với
phương châm “thuật nhi bất tác” cái đạo lớn của thánh hiền Khi Khổng Tử mất, học trò của ông mỗi người lĩnh hội một phần đạo lý đó, bổ sung, phát triển thêm lên cho phù hợp với hoàn cảnh thực tế, dẫn tới tình trạng Nho giáo từ sau Khổng Tử mất chia làm nhiều phái: Mạnh Tử, Tuân Tử; Đổng Trọng Thư (Hán Nho); Chu Đôn Di, Trương Tái, Trình Hạo, Trình Di, Chu
Hy (Tống Nho)…
Với tư cách là một học thuyết triết học, Nho giáo cũng đưa ra hệ thống tư tưởng về trời, về người, về mối quan hệ giữa trời và người Những quan niệm đó thể hiện rất phong phú trong thế giới quan của các nhà Nho tiêu biểu từ Nho giáo tiên Tần đến Hán Nho, Tống Nho sau này, từ đó cho thấy những mạch tư duy chuyển tiếp liên tục một cách lôgíc Tuy nhiên, cùng một vấn đề nhưng mỗi nhà Nho trong những thời kỳ khác nhau lại có cách
lý giải theo lập trường duy vật, duy tâm, nhất nguyên, nhị nguyên khác nhau Ngay trong mỗi thời đại, quan niệm của các nhà tư tưởng cũng đã có
Trang 14sự khác nhau ít nhiều Sự phong phú trong tư tưởng của các nhà Nho là kết quả phản chiếu nhiều biến động trong lịch sử xã hội Trung Hoa rộng lớn Trước khi đi vào tìm hiểu tư tưởng Nho giáo về mối quan hệ trời - người,
có một số vấn đề chúng ta cần chú ý, đó là khái niệm thiên, trong chữ Hán,
có khi được dịch là Trời, có khi được dịch là giới tự nhiên Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp “không có cách dịch nào là hoàn toàn thích đáng” [27,tr 202] Một nhà nghiên cứu lịch sử tư tưởng chính trị Trung Quốc có nói:
“Có lẽ nếu giảng Thiên là “cõi tự nhiên” và “đấng thần linh” cai trị toàn cõi
tự nhiên - tùy lúc mà chú trọng một trong hai nghĩa này thì ta tiếp cận được
ý nghĩa của chữ Hán này” [27,tr 202] Tương tự như vậy, với chữ nhân (người), đôi khi các nhà Nho sử dụng để chỉ loài người - với tư cách là sản phẩm tiến hóa cao nhất của giới tự nhiên nói chung, nhưng cũng có khi chữ người ấy lại được sử dụng để chỉ từng giai tầng trong xã hội (quân tử, tiểu nhân, lao lực, lao tâm, người thống trị, kẻ bị trị,…)
Trong luận văn này, chúng tôi cố gắng lý giải quan niệm Nho giáo về mối quan hệ giữa trời và người theo sự đa nghĩa của hai khái niệm nói trên
1.1 Quan niệm của Nho giáo về trời, mệnh trời
Trời và mệnh trời là tư tưởng cơ bản trong siêu hình học Nho giáo, làm cơ sở để các nhà Nho xây dựng lên học thuyết chính trị xã hội của mình Qua kiến giải của các nhà Nho về trời, mệnh trời ta thấy, có hai khuynh hướng về cơ bản là đối lập nhau, đó là duy vật và duy tâm, nhưng quan điểm duy tâm là khuynh hướng bao trùm và có tính phổ biến
1.1.1 Quan điểm duy tâm của các nhà Nho về trời, mệnh trời
Tư tưởng về trời, mệnh trời của Nho giáo được đặt nền móng từ trong
Kinh Thư, Kinh Thi - sách chép về chế độ và văn chương của bốn đời Ngu,
Hạ, Ân, Thương (Chu) do Khổng Tử sau này san dịch lại Trong chương
Bàn Canh, sách Kinh Thư có chép những câu như: “Trời đã ban mệnh cho
Trang 15ta lâu dài ở cấp dưới này” [Dẫn theo 59,tr 20] Hay như trong chương Kim
Đằng có viết: “Chớ làm rơi mất mệnh quý của trời đã ban xuống”; “Ngày
nay, trời đã ra oai để làm nổi rõ cái đức của Chu Công” [Dẫn theo 59,tr 41] Thời Hạ - Thương - giai đoạn đầu của lịch sử tư tưởng Trung Quốc, trời được xem là vị thần tối cao có nhân cách Qua những dẫn chứng có thể thấy, trời sinh ra vũ trụ, con người, chi phối cuộc sống của con người Đây
là những quan niệm hoàn toàn mang tính chất duy tâm thần bí
Khổng Tử - người sáng lập ra đạo Nho, ông ít khi nói về trời và mệnh
trời Như trong sách Luận ngữ có ghi lời Tử Cống nói rằng: “Phu Tử nói về
văn chương chúng ta thường được nghe, Phu Tử nói về bản tính và đạo trời, chúng ta không thường được nghe” [23,tr 298] Tuy nhiên, quan niệm về trời
và mệnh trời vẫn giữ vai trò quan trọng trong học thuyết của ông
Nhiều đoạn trong Luận ngữ thể hiện rõ Khổng Tử cũng coi trời là
một đấng chúa tể của vũ trụ Ông từng nói rằng: “Hồi mười năm tuổi ta đã
để tâm trí vào việc học, ba mươi tuổi trí đã kiên định, bốn mươi tuổi không còn ngờ vực, năm mươi tuổi biết mệnh trời” [23,tr 216] Hay “Trời sinh ra
ta có đức” [23,tr 360], rồi “mắc tội với trời, trốn đâu cho khỏi” [23,tr 250]
Có lúc, Khổng Tử lại coi mệnh trời có ý nghĩa quyết định đối với thân phận,
số phận của con người: “Sống chết có mệnh, giàu sang do trời” [23,tr 476]
và đến mọi việc của con người: “Đạo có ta có được thi hành hay không là
do mệnh trời, phải phế bỏ cũng do mệnh trời” [23,tr 553] Nhưng mặt khác,
cũng trong Luận ngữ, trời còn được Khổng Tử lý giải như quy luật tự nhiên:
“Trời có nói gì chăng? Bốn mùa cứ vận hành, các loài vật sinh sôi, nẩy nở” [23,tr 630]
Như vậy, với quan niệm về trời và mệnh trời như trên, rõ ràng tư tưởng của Khổng Tử đã thể hiện lập trường duy vật, duy tâm lẫn lộn Tuy nhiên, xét đến cùng, quan niệm của Khổng Tử về trời về cơ bản là duy tâm
Trang 16Sau này, quan niệm duy tâm đó của ông được nhiều nhà Nho tiếp tục và phát triển
Đến Mạnh Tử (372 - 289 Tr.CN) - nhà Nho tiêu biểu thời Chiến Quốc, quan niệm duy tâm về trời và mệnh trời của Khổng Tử không chỉ được ông tiếp tục, cụ thể hóa mà còn được ông bổ sung, phát triển
Trong sách Mạnh tử, đúng là có lúc ông thể hiện quan điểm duy vật
khi coi trời là giới tự nhiên, là tổng thể vũ trụ: “Trời cao lồng lộng, các ngôi sao trên trời xa tít, nhưng nếu ta tìm hiểu nhiều điều sẵn có, thì ta có thể ngồi một chỗ mà tính đúng ngày đông chí, nghìn năm sau cũng không hề sai” [23,tr 1084], nhưng quan điểm mang tính duy vật này chỉ xuất hiện trong
cuốn Mạnh tử đúng một lần Còn về cơ bản, cũng như Khổng Tử, quan niệm
của Mạnh Tử về trời và mệnh trời là duy tâm Theo Mạnh Tử, trời là đấng anh minh tối cao, sáng tạo và chi phối con người, vạn vật trong vũ trụ Như
trong chương Tận tâm thượng, sách Mạnh tử có viết: “Hình thể, sắc thái là
bản tính trời cho” [23,tr 1326] Hay “Trời sinh ra con người, khiến chỉ có một gốc là cha mẹ” [23,tr 960]; “Trời sinh ra dân chúng” [23,tr 1139]
Cũng theo Mạnh Tử, do trời sinh ra con người, nên mọi sự vật, hiện tượng trong thế giới, từ sự biến hóa của giới tự nhiên đến sự biến đổi của đời sống xã hội, sự thay đổi lẫn nhau của các triều đại trong lịch sử, quyền hành, chức tước của quý tộc, địa vị của thường dân đều bị chi phối bởi quyền uy, ý chí của trời Trời có thể ban thưởng chức tước, bổng lộc cho người hiền đức, hoặc trừng phạt những kẻ tàn ác Quan niệm này của Mạnh
Tử thể hiện trong đoạn đối đáp giữa ông và Vạn Chương như sau:
“Vạn Chương hỏi rằng: - Vua Nghiêu đem thiên hạ mà cho vua Thuấn, việc đó có không?
Mạnh Tử đáp rằng: - Không Thiên tử không thể đem thiên hạ mà cho người khác
Trang 17- Vậy, vua Thuấn được thiên hạ thì ai cho ngài?
Đáp: - Trời cho đấy!” [23,tr 1127]
Tất cả những biến đổi tự nhiên và xã hội đó, Mạnh Tử quy lại là do mệnh trời hay số mệnh: “Chẳng có điều gì là không do số mệnh” và ông khuyên người ta: “Hãy thuận theo ý trời mà chấp nhận số mệnh chính đáng” [23,tr 1286]
Tuy có quan điểm duy tâm về trời và mệnh trời nhưng quan điểm của Mạnh Tử lại thể hiện thái độ tích cực, khi ông cho rằng: “Thành thực là mệnh trời” [23,tr 1037] và mệnh trời chỉ giáng tai ương cho kẻ thất đức, hại dân còn trời sẽ mang điều lành, ban thưởng cho người có đức, hết lòng giữ đạo trời
Đổng Trọng Thư (170 - 104 Tr.CN) là một nhà Nho được ví như
“ông Khổng thời Hán” Ông có nhiều công lao trong việc đưa Nho học lên địa vị độc tôn Đổng Trọng Thư đã kết hợp quan niệm duy tâm của Nho giáo Khổng - Mạnh với học thuyết Âm dương, ngũ hành để sáng tạo ra một
vị thần có nhân cách đứng trên cả vũ trụ - có ý thức, có đạo đức - đó là trời
Theo Đổng Trọng Thư, trời là vị chúa tể tối cao chi phối tự nhiên và
xã hội, là ông tổ của vạn vật Vai trò to lớn đó của trời được ông khẳng định qua những câu nói như: “Trời là tổ của vạn vật, bao trùm khắp cả mà không riêng tư” [Dẫn theo 59,tr 372], trời đặt ra mặt trời, mặt trăng, mưa gió để điều hòa mọi vật, có âm dương, nóng lạnh để dựng ra mọi vật Cho nên, nhà vua, bậc thánh nhân bắt chước theo trời mà đặt ra đạo, cũng yêu thương khắp cả mà không riêng tư Ban bố thi hành nhân đức để làm cho đạo ấy đầy đủ, đặt ra lễ nghĩa để dạy cái đạo ấy Mùa xuân là cái trời dùng để sinh
ra mọi vật Đạo người là cái nhà vua dùng để yêu thương Mùa hạ là cái trời dùng để làm cho mọi vật lớn lên, đức là cái nhà vua dùng để nuôi dưỡng Hình phạt là cái nhà vua dùng để trừng phạt [Dẫn theo 59,tr 374]
Trang 18Tính chất duy tâm thần bí của Đổng Trọng Thư còn biểu hiện khi ông cho rằng, trời có vai trò, uy quyền to lớn như vậy, cho nên, mọi sự vật, hiện tượng cũng như mọi quá trình biến hóa của tự nhiên, sự biến đổi, hưng vong của xã hội đều là sự an bài, có mục đích của trời Hoàng đế là con của trời nên được gọi là “thiên tử” Âm dương, ngũ hành đều là thể hiện của mệnh trời Trời lấy dương làm mặt chủ đạo, lấy âm làm mặt phụ thuộc, dương quý mà âm tiện Như Đổng Trọng Thư nói: “Lẽ thường của trời đất là một
Âm một Dương Dương là đức của trời, Âm là hình phạt của trời”… , “Đạo trời lấy ba mùa: xuân, hạ, thu sinh thành và lấy một mùa đông gây chết chóc” [Dẫn theo 27,tr 203] Nhưng với ông, “Trời tín nhiệm Dương chứ không tín nhiệm Âm, hiếu đức chứ không thích trừng phạt”
Có thể thấy, trong hệ thống triết học của Đổng Trọng Thư nói chung, quan niệm về trời của Đổng Trọng Thư nói riêng về căn bản dựa vào quan điểm duy tâm của Nho giáo tiên Tần, đồng thời tiếp thu quan điểm của các học phái khác, đặc biệt là quan điểm của học thuyết Âm dương, ngũ hành (đã bị ông loại bỏ đi các yếu tố duy vật) để làm thành một hệ thống mang tính chất thần học duy tâm, mang đậm màu sắc tôn giáo
Như vậy từ Khổng Tử, Mạnh Tử đến Đổng Trọng Thư, quan điểm về trời và mệnh trời của Nho giáo đã có nhiều sự khác biệt Nếu ở Khổng Tử, quan điểm của ông còn có chút dao động khi nói “trời sinh ra mọi thứ”,
nhưng lại có chỗ cho rằng: “trời có nói gì chăng? Mà vạn vật cứ sinh hóa
mãi”, thì đến Đổng Trọng Thư, học thuyết của ông là sự pha trộn giữa những quan điểm có tính chất duy tâm trong triết học Khổng - Mạnh cùng những quan niệm có tính chất thần bí, định mệnh Đó chính là nguyên nhân khiến cho “cả hệ thống quan điểm luân lý, đạo đức của Đổng Trọng Thư xây dựng trên quan điểm về trời và mệnh trời ấy bị xơ cứng, nặng nề và mang tính duy tâm thần bí” [4; 365]
Trang 19Trước đây, Khổng Tử và Mạnh Tử chưa đi sâu vào vấn đề bản thể của vũ trụ, việc giải thích của các ông về vấn đề đó chưa thật cụ thể, nhất quán Nhưng đến Đổng Trọng Thư, ông đã xuất phát từ lập trường của chủ nghĩa duy tâm chủ quan mà đi sâu vào nghiên cứu vấn đề vũ trụ - về trời, và
đã đi tới một kết luận theo hữu thần luận, do đó hạ thấp Nho học xuống địa
vị thần học Điều đó là do kết cấu giai cấp và do cơ sở chính trị - kinh tế của thời đại đã làm cho ông trở thành người phát ngôn của giai cấp địa chủ, đòi hỏi ông phải giải thích theo quan điểm của giai cấp thống trị xã hội đó, đồng thời vĩnh viễn hóa cơ cấu của trật tự giai cấp hiện thời và lợi ích giai cấp mà ông đại diện [59,tr 369]
Đến đời Tống, đời sống kinh tế - xã hội Trung Quốc có nhiều biến đổi sâu sắc Sau một thời gian dài chiến tranh, loạn lạc bởi cục diện “ngũ đại thập quốc”, triều đại Tống đã thực hiện được sự thống nhất và ổn định khá lâu về chính trị, văn hóa, tạo điều kiện cho nền kinh tế phát triển phồn vinh, thịnh vượng Để bảo vệ trật tự, luân lý, cương thường của chế độ phong kiến, các vua Tống đã rất đề cao Nho học, lấy Nho học làm hệ tư tưởng chính thống Đó chính là mảnh đất tốt để Nho giáo phát triển hưng thịnh Nếu như Hán Nho cho thấy tư tưởng duy tâm của Khổng Tử và Mạnh
Tử được kết hợp với thuyết Âm dương, ngũ hành, thì Nho giáo đời Tống được bổ sung bằng các tư tưởng của Phật, Đạo, và do đó, đã sáng tạo nên một hình thức mới của Nho học là Lý học Điều này khiến cho “Tống nho
có hệ thống lý luận tinh vi, chặt chẽ và sâu sắc hơn nhiều so với Nho giáo truyền thống” [4,tr 515]
Trong hệ thống triết học của Tống Nho chủ yếu tập trung lý giải các cặp phạm trù triết học cơ bản “lý - khí” (đạo - khí), “tâm” - “vật” (tri - hành) Qua đó, tư tưởng về trời - người, mối quan hệ giữ trời và người được bộc lộ rõ rệt
Trang 20Về trời, trong quan niệm của Chu Đôn Di (1017 - 1073) - triết gia mở đường cho lý học đời Tống - Minh cho rằng, “thái cực” bao hàm trong nó hai thể động và tĩnh, tự vận động, biến hóa mà sinh ra Âm - Dương Âm, dương là hai mặt đối lập nhưng liên hệ, tương tác nhau mà sinh ra năm yếu
tố vật chất: kim, mộc, thủy, hỏa, thổ Sự tương tác của âm và dương, theo ông cũng chính là nguồn gốc sinh ra con người, vạn vật và làm lên sự biến đổi trong thế giới Ông nói: “Vô cực rồi thái cực Thái cực động rồi sinh ra khí dương, động đến cùng cực rồi lại tĩnh, tĩnh rồi sinh ra khi âm, tĩnh đến cùng cực rồi trở lại về động … Rồi khí dương cứ biến động, khí âm cứ hợp theo, mà sinh ra kim, mộc, thủy, hỏa và thổ Năm chất khí cứ thuận theo thế
mà lan tràn ra và bốn mùa theo đó mà xoay vần Đạo kiền thành ra nam, đạo khôn thành ra nữ … Khí giao cảm với nhau mà hóa sinh muôn vật, biến hóa
vô cùng” [Dẫn theo 59,tr 517]
Theo Chu Đôn Di, sự biến hóa của vạn vật bắt nguồn từ sự tương tác giữa Âm - Dương chính là sự thể hiện của đức lớn của trời đất Ông viết
trong sách Thông thư như sau: “Giời lấy khi dương sinh ra muôn vật, lấy
khí âm để hoàn thành muôn vật Sinh ra đó là nhân, hoàn thành đó là nghĩa Cho nên, bậc thánh nhân ở bên trên lấy nhân mà tạo ra muôn vật, lấy nghĩa
mà uốn nắn muôn vật Đạo giời được thực hành cho nên muôn vật đã thuận theo, thánh đức được sửa sang cho nên muôn dân đã tiến hóa” [Dẫn theo 59,tr 551]
Có thể thấy, mặc dù lúc đầu Chu Đôn Di cho rằng, sự đắp đổi Âm - Dương tạo ra còn người và sinh vật, nhưng sau đó, ông đã có những lý giải mang tính chất duy tâm khi cho rằng, sự tương tác Âm - Dương đó là thể hiện đức lớn của trời, và về thực chất, đức lớn của trời mới là nguyên nhân
để sinh ra vạn vật, con người, thậm chí cả nhân nghĩa, đạo đức của con người… Ở đây, quan niệm về trời, mệnh trời, đức của trời trong quan niệm
Trang 21của Chu Đôn Di được thể hiện một cách gián tiếp qua cặp phạm trù Âm - Dương và sự đắp đổi giữa hai yếu tố Âm - Dương, dẫn đến quan niệm về vũ trụ nói chung, về trời nói riêng của Nho giáo, đến thời Chu Đôn Di mà có được một bước ngoặt trong tiến trình phát triển [59,tr 546]
Chu Đôn Di tuy được coi là người mở đường cho Lý học thời kỳ Tống, Minh nhưng người thực sự đặt nền móng của Lý học Nho gia lại là Trình Hạo (1032 - 1085) và Trình Di (1033 - 1107)
Tư tưởng về trời của hai anh em Trình Hạo và Trình Di được xây dựng từ việc lý giải mối quan hệ giữa “lý” và “khí” Theo Nhị Trình: “Lý
là cái bản thể, là khởi nguyên của thế giới vạn vật, khi âm - dương chưa phân định, thế giới hỗn độn đó là “lý”, trên trời chỉ có một “lý”; “lý” không sinh, không diệt, tồn tại cùng khắp, không ở đâu không có “lý” [Dẫn theo 4,tr 527]
Cũng theo các ông, khi cái “lý” ấy phân thành âm - dương gọi là
“khí” “Khí” được hai ông lý giải, là cái vật chất, là nguyên liệu để sinh thành vạn vật Quá trình sinh thành, tồn tại, mất đi của vạn vật, theo họ là
do sự tụ - tán của khí: “Cái sinh ra vạn vật là khí tụ vậy, cái làm vạn vật chết đi là khí tán vậy” Khi đề cập đến mối quan hệ giữa lý và khí, hai anh
em họ Trình đều khẳng định, lý là cái có trước, khí là cái có sau, lý là gốc, khí là ngọn
Trong sách Minh Đạo án ngữ lục, hai ông lý giải rõ hơn về mối quan
hệ lý - khí như sau: Trình Hạo: “Cái lý của muôn vật trong giời đất không
cô độc mà phải có đôi, đều là tự nhiên thế” “Muôn vật không có cái nào không có đôi, một âm - một dương Dương lớn lên thì âm tiêu đi Lý ấy suy
ra rộng lắm thay, người ta chỉ cần biết lý ấy mà thôi” Trình Di: “Dùi cây lấy lửa, người ta bảo lửa sinh ra từ gỗ, không đúng Hai vật cọ sát vào nhau dùng nhiều sức thì khi dương sinh Nay lấy đá sát vào nhau thì cũng ra lửa,
Trang 22không phải chỉ riêng gì gỗ, bởi vì trong trời đất không có một vật nào không
có âm - dương” [Dẫn theo 59,tr 571]
Ở đây, chúng ta thấy Trình Hạo, Trình Di, khi lý giải về mối quan hệ
lý - khí và vai trò của lý và khí trong việc sinh thành ra vạn vật, con người
đã thể hiện quan điểm biện chứng Nhưng không dừng lại ở đó, Nhị Trình còn đồng nhất lý với trời Như họ nói: “trên trời chỉ có một lý”, “về lý mà nói tức là trời” [Dẫn theo 59,tr 572], rồi “vạn vật đều cùng một thiên lý” Với Nhị Trình, lý là cái tuyệt đối, vĩnh cửu, không thể thêm, bớt, không thể
sờ thấy, không thể nghe thấy, nhưng nó vẫn tồn tại: “Lý như là hư không, chẳng có gì mà lại đủ cả, cái ấy làm sao nói được còn mất, thêm bớt” Khi đồng nhất lý với trời, về thực chất trong quan niệm của Nhị Trình, lý chẳng qua chỉ là tên gọi khác của trời mà thôi
Mặc dù Trình Hạo và Trình Di đều khẳng định “trên trời chỉ có một lý”, “vạn vật đều cùng một thiên lý”, nhưng quan điểm về lý - trời của Trình Hạo và Trình Di cũng có điểm khác nhau Nếu Trình Hạo gọi “Thiên Lý tức
lý tức tâm”, thì Trình Di lại cho rằng: “lý tức là từ trời, gọi là thiên lý”, nhưng nó có ở tâm con người, “Ở trời là mệnh, ở nghĩa là lý, ở người là tích, chủ của nó là tâm” [Dẫn theo 4,tr 532]
Sự khác biệt trong tư tưởng về lý - trời này ở Trình Hạo, Trình Di thì khó có thể phân định rạch ròi Tuy nhiên, nó chính là nguồn gốc để có người cho rằng: “Trình Di là người sáng lập ra phái Lý học của Nho gia, sau này được Chu Hy hoàn thiện, còn gọi là phái Trình Chu Trình Hạo sáng lập ra một phái khác được kế tục bởi Lục Cửu Uyên và được phát triển đến đỉnh cao bởi Vương Thủ Nhân đời Minh Phái này gọi là Tâm học, hay phái Lục Vương” [4,tr 526]
“Lý” hay “thiên lý” không chỉ là nguyên tắc tối cao của giới tự nhiên
mà theo Nhị Trình, nó còn là nguyên tắc tối cao của đời sống xã hội Nhị
Trang 23Trình cho rằng: “Nhân luân cũng chính là thiên lý” “Thiên lý” biểu hiện trong đời sống xã hội con người, theo hai ông, chính là các quy phạm đạo đức, và các nguyên tắc, thể chế xã hội phong kiến Đến đây, có thể thấy, trong quan niệm của Nhị Trình: “Lý - trời quy định cả quy phạm đạo đức các mối quan hệ xã hội loài người” [Dẫn theo 59,tr 576-577]
Tư tưởng duy tâm thần bí về lý và khí cũng như mối quan hệ giữa lý - khí của Trình Di đã được Chu Hy (1130 - 1200) - một danh Nho đời Tống tiếp tục và phát triển thành thế giới quan triết học tương đối có hệ thống Chu Hy tập trung lý giải mối quan hệ giữa lý - khí nhưng qua đó, ta thấy quan điểm về trời, vai trò sáng tạo, chi phối của trời của ông cũng được bộc
lộ khá rõ nét
Trước hết, Chu Hy một mặt thừa nhận sự tồn tại hiện thực của cái
mà ông gọi là “khí”, nhưng mặt khác, ông cũng xác định, cái bản nguyên tinh thần - mà ông gọi là “lý” tự nó tồn tại độc lập Theo Chu Hy, mọi sự vật hiện tượng trong vũ trụ đều do lý và khí tạo ra, như ông viết: “Giữa trời đất, có lý, có khí Lý tức là cái đạo hình nhi thượng, là cái gốc sinh
ra muôn vật; khí là những vật thể hình nhi hạ, là những khí cụ sinh ra muôn vật” [Dẫn theo 59,tr 596]
Cũng theo Chu Hy, sự thống nhất giữa lý và khí là nguồn gốc của mọi sự vật hiện tượng Ông lý giải điều này như sau: Nếu trước hết không
có cái “lý” ấy, thì dẫu có cái “khí” ấy tồn tại cũng không thể sinh ra sự vật hiện tượng, nếu như không có cái khí ấy ngưng tụ thì cái lý ấy không có chỗ treo mắc và cũng mất tác dụng Lý và khí thống nhất mới có thể biểu hiện được cái tác dụng sinh thành và tồn tại của tạo hóa Tuy nhiên, trong sự thống nhất ấy, Chu Hy lại cho rằng, lý là cái có trước, khí là cái có sau, như ông nói: “… lý chưa bao giờ có thể tách khỏi được khí, nó là cái hình nhi thượng, khí là cái hình nhi hạ Theo hình nhi thượng hạ mà nói, há lại chẳng
Trang 24có trước sau hay sao, lý thì vô hình, khí thì thô sơ và có cặn” [Dẫn theo 59,tr 596] Có người hỏi ông, phải có cái lý ấy rồi sau mới có cái khí ấy, vậy thì thế nào? Ông trả lời: “cái đó vốn không thể nói được cái nào có trước, cái nào có sau nhưng muốn thu tới nguồn gốc của nó, thì phải nó rằng trước là có cái lý ấy” Nhưng “lý” không phải là một vật gì khác, mà vẫn tồn tại trong cái khí ấy, không có cái khí ấy thì cái lý ấy sẽ không có chỗ “treo mắc” Khí tức là kim, mộc, thủy, hỏa; lý tức là nhân, lễ, nghĩa, trí [Dẫn theo 59,tr 596]
Ở đây, Chu Hy bộc lộ quan điểm duy tâm khách quan khá rõ trong việc lý giải mối quan hệ giữa lý và khí Ông không thừa nhận tinh thần (lý) được sinh ra từ vật chất (khí), ngược lại, ông đã đem tinh thần đối lập với vật chất, coi cái vật chất chỉ là biểu hiện của cái tinh thần
Cũng qua quan điểm của Chu Hy về lý - khí, chúng ta thấy, nếu như trước đây, Hán Nho coi trời là thực thể cao nhất, quyết định sự sinh hóa của muôn vật, con người, nhân luân của con người, nhưng trong tư tưởng của Chu Hy, sự tương tác, hòa hợp giữa lý - khí mới là nguồn gốc của con người, vạn vật trong vũ trụ; trời, đất thậm chí chỉ là sản phẩm của sự tương tác ấy Ông viết: “Hỏi: thời gọi là trước khi có giời đất, thì chung quy trước
đó có “lý” không? Đáp: trước khi chưa có trời đất thì chung quy cũng có
“lý” Có cái “lý” ấy thì mới có trời đất ấy, nếu không có cái lý ấy thì cũng không có trời đất, không có con người, không có muôn vật, và tất cả đều không có Có “lý” mới có khí lưu hành và sinh ra muôn vật” [Dẫn theo 59,tr 599] Có thể thấy, trong quan niệm của Chu Hy, lý là cái bản nguyên, cái có trước Trời đất, vạn vật và cũng là kết quả của sự vận động, tương tác giữa
lý - khí mà thôi
Rõ ràng, mối quan hệ giữa lý - khí được Chu Hy nhìn nhận theo quan điểm duy tâm khách quan Ông đã sử dụng nó làm cơ sở để giải thích các
Trang 25mối quan hệ trong xã hội Theo ông, lễ, nghĩa, trí, tín là đạo lý Hợp năm yếu tố đó lại tạo thành cái thiên lý - là cái trọn vẹn duy nhất Nhân, lễ, nghĩa, trí, tín là các quy phạm đạo đức, nhưng vì nó là lý nên nó không có hình dạng Vì vậy, nó cần phải có ngũ luân (năm mối quan hệ của con người trong xã hôi: vua - tôi, cha - con, anh - em, chồng - vợ, bằng - hữu)
để biểu hiện ra và phải thông qua những hành vi đạo đức của con người
Lý học Tống Nho lấy tư tưởng Khổng Mạnh làm hạt nhân, nhưng nó
là một hệ thống chặt chẽ hơn, tinh vi hơn, nội dung cũng sâu sắc hơn so với Nho học truyền thống Có thể thấy rõ điều đó qua sự lý giải mối qua hệ lý - khí như trên Có thể nói, Tống Nho đã đưa Nho giáo nói chung, thế giới quan Nho giáo nói riêng bước vào một giai đoạn phát triển cao hơn, mới hơn cả về sắc thái lẫn nội dung
1.1.2 Quan điểm duy vật của các nhà Nho về trời, mệnh trời
Đối lập với khuynh hướng duy tâm thần bí trong tư tưởng của các nhà Nho về trời, mệnh trời, trong thế giới quan Nho giáo, chúng ta cũng có thể tìm thấy những tư tưởng duy vật
Trong sách Kinh Dịch, nguồn gốc của vũ trụ, vạn vật được lý giải
như sau: Thái cực sinh ra lưỡng nghi, lưỡng nghi sinh tứ tượng, tứ tượng sinh bát quái, bát quái sinh vạn vật Thái cực được hiểu là cực lớn, là cái hỗn độn ban đầu (là khí) Rồi thái cực sinh lưỡng nghi, một nghi gồm nhiều khí đục, nặng rơi xuống và kết hợp lại thành đất, gọi là âm; nghi kia gồm những khí nhẹ, trong, lơ lửng trong không trung, hợp lại thành trời, gọi là dương Hai khí âm - dương luôn giao cảm với nhau và là nguồn gốc sinh ra
vạn vật, con người Như vậy, theo Kinh Dịch, trời là sản phẩm của khí dương mà thôi.Trong Kinh Dịch cũng có ghi: “có trời đất rồi mới có muôn
vật, có muôn vật mới có trai gái, có gái trai rồi mới có vợ chồng, có vợ
Trang 26chồng rồi mới có cha con, có cha con mới có vua - tôi, từ đó mới có trên dưới và lễ nghĩa được”
Như vậy, qua những tư tưởng trong Kinh Dịch cho thấy, chính sự liên
hệ, tác động của hai mặt đối lập âm - dương trong thái cực là nguồn gốc, động lực của biến hóa, sinh tồn trong vũ trụ Trời, đất là kết quả của quá trình biến hóa đó Đồng thời, trời đất đến lượt nó lại tác động với nhau - như hai mặt đối lập, góp phần vào quá trình tạo tác muôn vật
Một triết gia tiêu biểu cho khuynh hướng duy vật trong hệ thống Nho giáo là Tuân Tử (298-238 Tr.CN) [27,tr 157] - một trong những nhà Nho cuối thời Chiến Quốc Trong quan điểm về trời, mệnh trời, trái với học thuyết “thiên mệnh” của Khổng Tử - coi trời là lực lượng tối cao sinh thành
và chi phối vạn vật, Tuân Tử đã đưa ra một thế giới quan thể hiện rõ tính chất duy vật vô thần của ông
Tuân Tử khẳng định rằng, toàn bộ thế giới gồm ba bộ phận - tam tài: thiên, địa, nhân Trời có bốn mùa, đất có sản vật, người có văn trị [Dẫn theo 27,tr 158] Trong đó, trời chỉ là một bộ phận của tự nhiên và bản thân tự
nhiên là cơ sở hình thành và biến hóa của vạn vật Trong sách Tuân Tử, ông
viết: Trời là các hiện tượng vật chất như “các vì sao đi vòng, mặt trời mặt trăng thay nhau soi sáng, tứ thời luân chuyển, âm dương biến hóa, gió mưa khắp chốn, vạn vật mỗi thứ đều từ sự hài hòa ấy mà sinh sôi” [Dẫn theo 27,tr 158] Đó là vai trò của trời và đất
Theo Tuân Tử, đạo trời rất thần diệu, công hiệu vô hình, “không làm
mà nên”, nhờ đó vạn vật được sinh ra: “Vạn vật đều được cái hòa khí của tự nhiên mà sinh, đều được cái nuôi dưỡng của trời mà trưởng thành, làm việc của trời không thấy mà có cái công hiệu, thế mới ví như thần Người ta ai cũng biết cái thành hình, mà không biết được cái vô hình, ấy thế gọi là trời” [Dẫn theo 4,tr 306]
Trang 27Ông còn cho rằng: theo đạo trời, mỗi loại sự vật trong giới tự nhiên đều thông qua sự cạnh tranh giữa cái này với cái kia để cắt bỏ thứ không phải loại của nó để nuôi loại chính [Dẫn theo 4,tr 306] Ở đây, có thể thấy, ở Tuân Tử đã thấy xuất hiện tư tưởng về sự đấu tranh, lọc bỏ - quy luật tiến hóa của tự nhiên Có lẽ vì vậy, theo ông, mọi sự vật hiện tượng trong trời đất đều nằm trong quá trình phát triển từ thấp đến cao, trong đó, con người
có nguồn gốc từ giới tự nhiên và là thực thể tự nhiên hoàn thiện nhất Như
ông nói trong thiên Vương chế, sách Tuân Tử: “Nước lửa có khí nhưng vô
sinh, cỏ cây có sinh nhưng vô tri, cầm thú có tri nhưng vô lễ nghĩa, con người
có khí, có sinh, có tri và có cả lễ nghĩa” Trên cơ sở quan điểm này, ông đã phê phán các học thuyết có tính chất duy tâm tôn giáo thần bí một cách kiên quyết và xác đáng khi ông chỉ ra: “Các hiện tượng do giới tự nhiên sinh ra như sao sa, cây kêu, nhật thực, nguyệt thực, nắng mưa, hạn hán, lụt lội … chỉ
là những hiện tượng của bản thân tự nhiên, đó là cái biến hóa của trời đất âm dương” [Dẫn theo 4,tr 309] Các hiện tượng nhật nguyệt thực, thiên tai… vốn
bị nhiều nhà triết học duy tâm cổ đại cho là tai dị thì với Tuân Tử, đó chẳng qua chỉ là các hiện tượng tự nhiên, không đáng lo sợ và thời nào cũng có:
“Mặt trời, mặt trăng có khi ăn lẫn nhau, mưa gió có khi không hợp thời, những ngôi sao lạ có khi xuất hiện từng chiều, những cái đó không thời nào không thấy” [Dẫn theo 4,tr 310]
Tuy nhiên, bên cạnh những tư tưởng duy vật về trời, đạo trời như trên, trong tư tưởng về trời của Tuân Tử cũng có những hạn chế, nhất là khi ông cho rằng: thực trạng của trời đất từ khi khai thiên lập địa cho đến nay không có gì thay đổi Điều này đã bộc lộ rõ, Tuân Tử chưa thoát khỏi sự chi phối của phương pháp tư duy siêu hình
Một nhà tư tưởng có thế giới quan duy vật khác của Nho giáo mà chúng ta phải kể đến là Trương Tải - tức Trương Hoành Cừ (1020-1077),
Trang 28quê ở Trường An Trương Tải căn cứ vào Dịch truyện để xây dựng lên vũ
trụ luận của mình, trong đó ông nhấn mạnh đến sự tồn tại khách quan và vai trò của khí “Thái hòa cũng là Đạo Bên trong nó hàm chứa tính chất tương tác giữa chìm và nổi, lên và xuống, động và tĩnh Nó là khởi đầu của các lực tác động nhau, tạo ra sự hơn kém và co duỗi” [Dẫn theo 27,tr 285]
Thái hòa là thuật ngữ mà Trương Tải dùng để chỉ “khí lưu động”:
“Nổi, lên, động” là tính chất của Dương, “chìm, xuống, tĩnh” là tính chất của Âm Khí bị ảnh hưởng bởi Dương thì “nổi, lên, động”, bị ảnh hưởng bởi
Âm thì “chìm, xuống, tĩnh” Kết quả là khí có lúc tụ, lúc tán Hễ khí tụ thì các sự vật được sinh ra, thành hình Khi khí tán thì các sự vật vị tiêu diệt, hay mất đi Trương Tải nói: “Hễ khí tụ thì “cái có thể nhìn thấy bằng sự sáng của mắt ta” trở lên hữu hình, hễ khí không tụ thì “cái có thể nhìn thấy bằng sự sáng của mắt ta” trở lên vô hình Khi nó tụ lại, sao không gọi là có hình thể tạm thời? Khi nó tán ra, sao nói không có gì cả?” Như vậy, ở đây, ông bác bỏ khái niệm “vô” của Phật gia và Đạo gia Ông nói: “Hễ ta biết Thái hư tức là khí, thì không phải không có gì hết” Thái hư thực sự không phải là một chân không tuyệt đối, mà nó chỉ là khí ở trạng thái tán [Dẫn theo 27,tr 286]
Theo Trương Tải, khí là nguồn gốc tạo lên mọi sự vật hiện tượng Tuy nhiên, ông cũng cho rằng: Mọi người đều cùng một bọc do trời sinh ra
[Dẫn theo 4,tr 544] Thậm chí trong sách Chính nông, ông còn cho rằng:
“Vua là con trưởng của trời đất Bởi vì, vạn vật trong vũ trụ đều được tạo thành từ cùng một khí, do đó con người, mọi sự vật khác chẳng qua là một
bộ phận của một cơ thể lớn Ta nên phụng sự trời đất như phụng sự cha mẹ Mỗi hành vi đạo đức của ta… chính là hành vi phụng sự cha mẹ, trời đất”
Ở đây, ta thấy khái niệm khí - Thái hòa, Thái hư đã biến thành khái niệm
“cha mẹ, trời đất” Trời đất là do khí Thái hư mà thành ra, “Đất” sở dĩ gọi là
Trang 29hai, vì phân ra cương - nhu, nam - nữ, mà làm ra chưởng hiệu Trời sở dĩ gọi là ba, là lấy một thái cực và hai nghi mà làm tượng một vật, hai thể là khí vậy Một cho nên thần, hai cho nên hòa “Trời sở dĩ là ba vậy” [Dẫn theo 26,tr 435]
Cũng theo Trương Tải, trời đất chuyển vần trong vũ trụ Đất là thuần
âm, ngưng tụ ở giữa Trời là phù dương, quay quanh ở ngoài Mặt trời, mặt trăng và sao, tuy thuận theo trời đi về bên tả, nhưng vì ở vòng trong thì đi chậm hơn, cho nên mới trông ra đi về bên hữu Nhưng đó là nói cái hình thức và sự chuyển động ở bên ngoài Chứ trời cốt là ở cái thần: “biến hóa bất trắc gọi là thần, thần mà có thường gọi là trời” [Dẫn theo 26,tr 453 - 454] Trời thể được cả vạn vật và chủ thể của cả mọi sự, cho nên “Đạo trời là bốn mùa chuyển vần, trăm vật sinh ra Trời thể các vật không sót, như là nhân thể
đủ các sự, và có sự nào là không có nhân vậy” [Dẫn theo 26,tr 454] Trong trời đất chỉ có thần và hóa, biết được hai điều ấy thì hiểu được đạo trời Ông nói: “Thần là cái đức của trời, hóa ra là cái đạo của Trời Đức là thể, đạo là dũng Hợp lại với khí chỉ là một mà thôi” [Dẫn theo 26,tr 454]
Tóm lại, các nhà Nho Trung Quốc từ Khổng – Mạng tới Đổng Trọng Thư, Chu Đôn Di, Trương Tải, Chu Hy, Trình Hạo, Trình Di … đã đưa ra
hệ thống quan điểm rất phong phú về trời, mệnh trời Qua quan điểm của các nhà Nho về trời, mệnh trời, cho thấy nổi lên hai khuynh hướng chính: khuynh hướng duy tâm (Khổng - Mạnh, Đổng Trọng Thư, Nhị Trình, Chu
Hy, …) và khuynh hướng duy vật (Tuân Tử, Trương Tải) Khái niệm trời, mệnh trời của Nho giáo đã trải qua một lịch sử phát triển lâu dài theo hướng ngày càng thần bí hóa và siêu hình hóa Trong Nho giáo tiên Tần, trời còn được hiểu theo nghĩa là chúa tể vô hình, rất khó nhận biết Đến Hán Nho, trời đã được quan niệm như một vị thượng đế có nhân cách, là lực lượng sáng tạo, chi phối tất cả Quyền uy của trời là sắp xếp mọi việc, quyết định
Trang 30mọi việc và sinh sinh hóa hóa mọi việc Quyền uy ấy ở trên hết thảy, định trước mọi việc Đến Tống Nho, trời lại được đồng nhất với lý - cái lý tất nhiên, phổ biến của mọi sự vận động, biến hóa cả trong tự nhiên và trong xã hội loài người
Trong bức tranh tổng quát về trời, mệnh trời của Nho giáo, ta thấy quan điểm duy vật của Tuân Tử hiện lên như một điểm sáng - một sự tiến
bộ so với các nhà tư tưởng duy tâm đương thời Chỉ có điều là, tư tưởng duy vật của Tuân Tử dẫu sao cũng chưa phải là triệt để bởi nó còn bị chi phối bởi tư duy siêu hình
Một điểm nữa trong quan niệm về trời của Nho giáo đó là, “trời của Nho giáo không có nhân hình, nhân dạng rõ ràng, không đẹp mê mẩn như thiên thần, hoặc xấu ghê gớm như hung thần Những miêu tả theo nhân hình, nhân dạng ấy không phải là của đạo Nho” [9,tr 463] Trời là tinh khí của âm - dương, là lực lượng siêu nhiên vô hình, thần diệu Nhà Nho đã dùng sự vô hình, thần diệu ấy của trời để tập trung nói đến một vấn đề quan trọng hơn nhiều: đạo trời, đức của trời, mệnh trời
Đức của trời đất, theo các nhà Nho là sinh ra muôn vật, muôn loài, chăm chút, nuôi nấng mọi vật, theo dõi cái gì vươn lên thì vun đắp thêm, cái
gì xiêu đổ thì cho ngã xuống Đức của trời là bao dung tất cả mọi đức nhỏ
và đức lớn của muôn vật, muôn loài “Đức nhỏ của trời đất thì như sông chảy không ngừng, còn đức lớn làm chuyển hóa muôn loài Vì thế trời đất
là lớn lao vậy” [23,tr 169]
Đạo của trời thể hiện đức của trời trong sự sinh ra, mất đi, sự biến hóa của muôn vật, muôn loài, đạo của trời lặng lẽ thể hiện qua các hiện
tượng trong tự nhiên, xã hội Cái đạo ấy, như sách Trung dung viết: “Lớn
thay là đạo của thánh nhân! Tràn đầy khắp nơi để phát triển và nuôi dưỡng muôn loài, lại cao vút tới tận trời Đầy đủ thay là Kinh Lễ với ba trăm điều
Trang 31lễ nghi, ba ngàn điều uy nghi! Phải đợi có người đó mới thi hành được Vì vậy mới nói: nếu không có người chí đức thì đạo cao cả chẳng thành tựu vậy” [23,tr 158] Đạo của trời bao gồm mọi sự biến hóa, qua lại trong vũ trụ, nhưng nó cũng có thể gói gọn lại trong phạm vi một chữ “lễ”, bao gồm những quy tắc chặt chẽ Khi con người tuân theo những quy tắc đó, tức là theo những lễ nghi mà Nho giáo đặt ra, con người hoàn toàn có thể hiểu được sự biến hóa của vạn vật Ở đây, chúng ta có thể thấy, vũ trụ theo các nhà Nho, thực chất chỉ là một vũ trụ đạo đức mà thôi
Mệnh của trời là quyền uy, là sự thể hiện vai trò của trời đối với vạn vật trong sự sinh thành, biến đổi và mất đi của mỗi loài Theo đó, việc mỗi con người được sống hay chết, sang hay hèn đều là do mệnh trời Mệnh trời
là tuyệt đối, và vì vậy con người không thể cưỡng lại được Việc hiểu mệnh trời, biết và làm theo mệnh trời, vì thế, theo các nhà nho là có vai trò đặc biệt quan trọng, có ý nghĩa sống còn và là một trong những tiêu chuẩn cơ bản để trở thành người quân tử
Trong học thuyết của Nho giáo, trời có ý nghĩa quan trọng bậc nhất Những cụm từ mệnh trời, đạo trời, được các nhà Nho nhắc đi nhắc lại rất nhiều lần Nhưng Nho giáo lại “không nói về trời một cách thật rõ ràng và
có hệ thống” [9,tr 48] Các nhà Nho dù ở thời đại khác nhau, khi nói đến trời, mệnh trời, họ đều thể hiện một thái độ trân trọng, đề cao Họ muốn sử dụng những quan điểm về trời, mệnh trời làm chỗ dựa, làm căn cứ để lý giải những vấn đề về con người, về xã hội và về đạo đức…
1.2 Quan niệm của Nho giáo về con người
Vấn đề con người là một trong những vấn đề cơ bản nhất, chủ yếu nhất của Nho giáo Ở Nho giáo, vấn đề con người, ngay từ đầu đã được đề cập đến, và có thể nói, Nho giáo đặc biệt đề cao vai trò của con người, “coi con người cùng với trời, đất là tiêu biểu cho tất cả, và nói rõ: trời, đất, người
Trang 32là tam tài” [9,tr 64] Bởi vì, trong quan niệm của các nhà Nho, vấn đề con người gắn liền và liên quan trực tiếp đến việc củng cố, ổn định trật tự, kỷ cương của xã hội [3,tr18]
Trong quan niệm về con người, Nho giáo đề cập đến những vấn đề cơ bản nhất như: nguồn gốc nảy sinh, hình thành con người? Bản tính con người là gì? Vai trò của con người trong các mối quan hệ cơ bản của con người là như thế nào?
1.2.1 Quan niệm của các nhà Nho về nguồn gốc của con người
Các nhà Nho Trung Quốc đã rất cố gắng trong việc lý giải nguồn gốc của con người, vạn vật Mỗi nhà Nho đi theo một khuynh hướng, lập trường khác nhau, nhưng những kiến giải của họ về nguồn gốc của con người cho thấy khuynh hướng duy tâm là khuynh hướng bao trùm, phổ biến
1.2.1.1.Quan niệm của Nho giáo tiên Tần
Trong sách Kinh Lễ, khi đề cập đến nguồn gốc của con người, có
viết: “Vạn vật hồ thiên, nhân bản hồ tổ” Mệnh đề trên còn được tiếp tục lý giải rõ hơn: “Con người là đức của trời đất và sự giao hợp của âm dương, là
tụ hội của quỷ thần, là khí ưu tú của ngũ hành vậy” Theo mệnh đề trên, thế giới vạn vật có nguồn gốc từ trời, gốc của con người là tổ tiên, mà tổ tiên của con người, loài người đều có nguồn gốc từ trời Bởi vậy mà, nguồn gốc của con người, loài người cũng đều từ trời, ở trời
Cũng theo Kinh Lễ, sự sinh ra của con người không chỉ do trời mà ngay cả chuyện con người chết đi cũng do định mệnh của trời Cuốn Chu Lễ
viết: “Trời tùy có lúc mà sinh, có lúc mà sát”
Những kiến giải về nguồn gốc của con người, sự sinh và sự sát của
con người trong Kinh Lễ đã đặt nền móng cho những quan điểm về nguồn
gốc con người của Nho giáo Vạn vật, con người là do trời sinh ra và chi phối, quan điểm đó sau này được các nhà Nho khẳng định lại nhiều lần
Trang 33Như Khổng Cấp, trong sách Trung dung, có nói: “Trời sinh ra vạn vật, tất
căn cứ vào tài năng mà vun đắp thêm Vậy nên cây nào non nớt thì bồi đắp cho, cây nào nghiêng ngả thì đẵn đi” [23,tr 116] Sự sinh sát của con người cũng theo nguyên lý chung là trời sinh, trời sát ấy Mạnh Tử nói rằng:
“Hình thể và sắc thái là bản tính trời cho” [23,tr 1326], “trời sinh ra người ta khiến chỉ có một gốc (là cha mẹ)” [23,tr 962] Và theo Mạnh Tử, ngay cả cơ thể con người và bản tính vốn là thiện của con người cùng với tứ đoan (trắc
ẩn chi tâm, cung kính chi tâm, tu ố chi tâm, thị phi chi tâm) và tứ đức (nhân, nghĩa, lễ, trí) đều là do trời ban cho, phú cho con người
1.2.1.2 Quan niệm của Hán Nho
Khổng Cấp và Mạnh Tử, khi bàn về nguồn gốc của con người, các ông chỉ dừng ở mức cho rằng: “trời sinh ra người ta” thì tới đời Hán, khi lý giải về nguồn gốc của con người, Đổng Trọng Thư đã nâng những quan điểm duy tâm ấy lên thành chủ nghĩa duy tâm một cách cực đoan Ông khẳng định, con người là do thượng đế hay trời sáng tạo ra Ông nói: “Biết sinh đẻ cũng không thể làm ra người được, làm ra người ấy là trời vậy” [Dẫn theo 59,tr 373], “Người ta sở dĩ thành người là gốc ở trời, trời cũng là
tổ tiên của loài người”, và “Muôn vật không có trời thì không sinh ra được” [Dẫn theo 59,tr 372]
Trong các trước tác của Đổng Trọng Thư như Xuân Thu phồn lộ,
Thiên nhân tam sách, các mệnh đề có ý nghĩa khẳng định “con người do
trời sinh ra” được nhắc lại nhiều lần Lý giải cho sự khẳng định này, Đổng Trọng Thư cho rằng: Hình thể, tinh thần, ý chí, đạo đức của con người đều
là những cái trời sinh ra theo hình mẫu của trời và “Giời đã lấy số mục cả năm mà sinh ra thân xác, cho nên những đốt nhỏ gồm 366 thứ, đó là theo với số ngày Đốt lớn thì chia ra 12 phần, là theo với số tháng; trong người
có ngũ tạng (tim, gan, lá lách, phổi, thận); theo số mục của ngũ hành (kim,
Trang 34mộc, thủy, hỏa, thổ); bên ngoài có bốn tay chân, theo số mục của bốn mùa; lúc nhắm, lúc mở, là theo với ngày đêm; lúc cứng, lúc mềm là theo mùa đông, mùa hạ; lúc vui, lúc buồn là theo với âm dương” [Dẫn theo 59,tr 372]
“Người ta nguyên do là một loài giời ở cõi người Hình thể của người ta hóa theo số mục của giời mà thành, huyết khí của người ta hóa theo chí của trời
mà hiểu biết, yêu thương, đức hạnh của người ta hóa theo lý trời mà có đạo nghĩa, những cái tốt xấu của người là hóa theo cái ấm, cái mát của trời Những cái vui, giận của người là hóa theo cái lạnh, cái nóng của trời; người
ta chịu mệnh trời thì hóa theo bốn mùa; đời sống con người có vui, giận, buồn, sung sướng là ứng với xuân, hạ, thu, đông” [Dẫn theo 59,tr 373] Ông còn khẳng định, sở dĩ con người cao hơn muôn vật cũng là do trời, như ông nói: “Tinh túy mà trời đất sinh ra mọi vật, không có gì cao quý bằng con người” [Dẫn theo 59,tr 372]
Như vậy, theo Đổng Trọng Thư thì hình thể con người và mọi biểu hiện về mặt đạo đức và tinh thần của con người đều do trời sinh ra, do trời sắp đặt và hoàn toàn phù hợp với bản thể của trời Nói một cách khác, trời
đã dựa theo cấu tạo của bản thân mình mà sáng tạo ra loài người Những lý giải trên của Đổng Trọng Thư thể hiện rất rõ lập trường và tính chất duy tâm cực đoan của ông
1.2.1.3 Quan niệm của Tống Nho
Trong quan niệm về nguồn gốc của con người, các nhà Nho đời Tống
Trang 35Như ông nói trong Thái cực đồ thuyết: “hai khí chất giao cảm với nhau, hóa
sinh ra muôn vật, hai khí sinh sôi và biến hóa vô cùng, chỉ có con người có được tất cả những tinh hoa cho nên tốt đẹp duy nhất” và “Hình thể đã sinh
ra thì tinh thần bắt đầu có tri giác, năm tính của người ta giao cảm với nhau
và chia ra làm thiện, ác, muôn việc mới từ đó mà ra” [Dẫn theo 59,tr 549]
Như vậy, theo Chu Đôn Di, muôn vật và con người đều từ thái cực
mà sinh ra Nhưng con người khác muôn vật bởi con người có tri giác - đây cũng là lý do khiến con người là tinh hoa của vũ trụ Ông lý giải sự khác biệt giữa con người và vạn vật như sau: Lặng lẽ không động là thành; tương cảm rồi thông suốt là “thần”; động mà chưa hình thành và ở giữa cái có với cái không có, đó là cái “cơ”; “thành” tinh túy cho nên sáng suốt; “thần” cảm ứng được cho nên huyền diệu; còn cái “cơ” nhỏ cho nên u tối Có “thành”,
“thần”, “cơ” - đó là thánh nhân Mặc dù khi lý giải nguồn gốc con người xuất phát từ sự biến hóa của Thái cực, Âm - Dương, năm yếu tố vật chất: kim, mộc, thủy, hỏa, thổ, Chu Đôn Di đã thể hiện quan điểm duy vật nhưng khi lý giải nguyên nhân khiến con người trở thành tinh hoa của vũ trụ, ông lại rơi vào chủ nghĩa duy tâm
Ngoài ra, Trình Hạo, Trinh Di khi lý giải về nguồn gốc và bản tính của con người còn cho rằng, con người sinh ra là kết quả sự bẩm thụ tinh khí của trời đất và hợp với đức sinh của trời đất Như Trình Hạo nói: “Sinh
ra coi là tính, tính tức là khí, khí tức là tính, nghĩa là sinh ra vậy” “Cái đức lớn của trời đất là sinh ra, trời đất hun đúc, quấn quýt nhau với vạn vật mới cảm hóa mà sinh ra Sinh ra gọi là tính”, “Người ta cũng là một trong muôn vật” [Dẫn theo 59,tr 570] Còn Trình Di thì nói: “Cái khí chân nguyên của con người là do cái khí của giời đất sinh ra; không lẫn lộn với cái khí bên ngoài, chỉ có lấy cái khí bên ngoài để nuôi dưỡng mà thôi” Như vậy, theo Trình Hạo và Trình Di, cơ thể con người, hơi thở của con người là do “khí
Trang 36bên ngoài” nuôi dưỡng Còn như “cái khí chân nguyên” của con người - hay tính của con người, chính là do khí của trời đất sinh ra Những lý giải về nguồn gốc của con người của Nhị Trình dường như rắc rối và khó hiểu
Chu Hy xuất phát từ quan điểm cho rằng, mọi sự vật, hiện tượng trong thế giới đều do sự tương tác qua lại giữa “lý” và “khí” tạo thành, cho nên khi lý giải về nguồn gốc con người, theo ông, tất cả mọi người, sinh ra
và tồn tại đều là sự thống nhất của “lý” và “khí” Ông viết: “Giữa trời đất có
lý, có khí Lý tức là cái đạo hình nhi thượng, là cái gốc sinh ra muôn vật Thế cho nên loài người và muôn vật sinh ra phải bẩm thụ được cái lý ấy, rồi sau mới có tính, bẩm thụ được cái khí ấy rồi sau mới có hình thể” [Dẫn theo 59,tr 596] Ở đây, theo Chu Hy, hình thể con người có nguồn gốc từ khí, tâm tính con người có nguồn gốc từ lý
Nhìn chung, Nho giáo từ Khổng Mạnh đến Chu Hy, các nhà Nho khi bàn về nguồn gốc của con người đều có ba quan điểm sau: con người do trời đất sinh ra (Đổng Trọng Thư, Mạnh Tử), hoặc con người là kết quả sự kết hợp giữa lý và khí (Chu Hy) hoặc con người là kết quả của sự biến hóa
từ thái cực đến âm dương mà thành
Các nhà Nho khi bàn về nguồn gốc của con người đã không nói gì đến những quá trình vận động nào đưa đến chỗ con người xuất hiện trong trời đất, càng không có một lời nào biểu thị một ý nghĩ có thể làm cho người ta hiểu rằng con người là con cháu của một giống động vật nào đó trên con đường biến hóa của các sinh vật [4,tr 64] Nguyên nhân của tình trạng đó là xuất phát từ lập trường của Nho giáo: lấy lý giải về nguồn gốc của con người nhằm mục đích chứng minh rằng, con người hội tụ mọi tinh hoa tốt đẹp, quý báu của cả mọi vật trong thế giới vật chất và thế giới tinh thần Triết học Nho giáo nêu cao con người muôn thuở là anh linh của muôn vật, chúa tể của
Trang 37muôn loài Đây cũng chính là cơ sở để Nho giáo khẳng định đạo đức, luân lý của con người, quy tắc của xã hội loài người theo tiêu chuẩn Nho giáo đưa ra
là những quy tắc cao nhất, con người khi tuân theo những quy tắc, chuẩn mực đó có thể “cùng trời đất hóa sinh muôn vật”
1.2.2 Quan niệm của các nhà Nho về bản tính con người
Vấn đề tính người là một trong những nội dung cơ bản của tư tưởng Nho giáo về con người Doãn Chính cho rằng: Đó là “một trong những vấn đề được các nhà triết học cổ đại Trung Quốc rất quan tâm đặc biệt là Nho giáo” [4,tr 216]; với giáo sư Nguyễn Tài Thư thì đó là “một trong những vấn đề cơ bản và xuyên suốt lịch sử triết học Trung Quốc” [45,tr 65]; còn theo Nguyễn Thanh Bình, “đó là một trong những vấn đề không chỉ được các nhà Nho bàn luận từ rất sớm, là vấn đề được tranh luận, bàn cãi nhiều nhất trong lịch sử triết học Trung Quốc” [3,tr19] Sở dĩ vấn đề tính người trong Nho giáo có vai trò quan trọng như vậy, là bởi “tính người
là một trong những cơ sở để từ đó, các nhà Nho đề xuất ra học thuyết chính trị, đạo đức; là căn cứ để khẳng định tính tuyệt đối của những nguyên lý cai trị và phục vụ lợi ích của giai cấp thống trị” [3,tr19]
Khi giải quyết vấn đề tính người, Nho giáo tập trung vào một số điểm: Bản tính người là gì? Bản tính ấy do đâu mà có? Và nó có thể cải tạo được không? Những ai là người có thể cải tạo được bản tính ấy và cải tạo bằng phương thức nào? Cải tạo nhằm mục đích gì?
Khổng Tử là người đầu tiên đưa ra khái niệm tính Trong sách Luận
ngữ, khi đề cập đến tính, có chỗ ông cho rằng, bản tính của con người khi
mới sinh ra là “dã trực” - vốn lành, ngay thật [23,tr 332], có chỗ Khổng Tử nói: “Bản tính người ta gần giống nhau, thói quen khiến xa nhau” [23,tr 614] Như vậy, theo Khổng Tử, tính của con người khi mới sinh là ngây
Trang 38thơ, trong trắng, tự nhiên Nhưng do người ta sống trong những môi trường khác nhau, bản tính ấy của con người có thể bị biến đổi bởi các điều kiện bên ngoài và sự tu dưỡng đạo đức của con người
Nhìn chung, khi đề cập đến vấn đề tính người, Khổng Tử chưa bàn luận, giảng giải gì nhiều Như học trò của ông - Tử Cống nói: “Phu tử nói
về văn chương, chúng ta thường được nghe Phu tử nói về bản tính và đạo trời chúng ta không thường được nghe” [23,tr 298] Tuy nhiên, quan niệm
về tính người của Khổng Tử đã đặt nền móng ban đầu để các nhà Nho về sau kế thừa, phát triển
1.2.2.1 Các quan niệm khác nhau về bản tính con người
Muốn bàn luận về tính, trước hết phải hiểu khái niệm đó có nghĩa gì Các nhà Nho thời Chiến Quốc đã lý giải rõ về vấn đề này
Cáo Tử - một học trò của Mạnh Tử thì nhận định rằng: “Tư chất trời sinh
ra thì gọi là tính” [23,tr 1195] Tuân Tử thì giải thích rằng: “Phàm là bản tính, đều do thiên nhiên tạo nên, không thể học được, cũng không thể luyện tập được … Cái không thể học được, không luyện tập được mà ở ngay trong người, gọi là tính” [Dẫn theo 59,tr 235] Đổng Trọng Thư thì cho rằng:
“Tên của bản tính lại chẳng phải là chất giời sinh ra ư ? Theo như tư chất tự nhiên sinh ra gọi là tính Bản tính là chất vậy” [Dẫn theo 59,tr 370] Trong
sách Trung dung, Khổng Cấp đã đưa ra một nguyên lý cơ bản về tính
người: “Mệnh trời ban cho gọi là tính, noi theo tính gọi là đạo, tu theo đạo gọi là giáo” [23,tr 85] Trình Hạo thì nói: “Cái đức lớn của trời đất là sinh ra… Sinh ra gọi là tính” [Dẫn theo 59,tr 570] Trình Di cho rằng: “Bản tính tức là lý, cái gọi là lý tức là bản tính” Khi đồng nhất lý với trời, Trình Di đi đến chỗ cho rằng: cái lý ban cho con người chính là bản tính của con người Quan điểm này của Trình Di sau đó cũng được Chu Hy vận dụng lại, Chu
Trang 39Hy nói: “Người ta và muôn vật đều bẩm thụ cái lý của giời đất để thành ra tính, đều bẩm thụ cái khí của giời đất để thành ra hình thể”
Nói tóm lại, theo quan điểm của Nho giáo, tính là cái bẩm sinh ban đầu, là phẩm chất tự nhiên vốn có của con người, sinh ra đã như vậy “Nếu diễn tả theo ngôn ngữ ngày nay thì “tính” là ý thức, tư tưởng, phẩm chất đạo đức của con người” [45,tr 66] Và bản tính này của con người, theo nhiều nhà Nho, là do trời phú cho
Bản tính con người do trời phú, nhưng bản tính đó thiện hay ác Đây là vấn đề thật sự được các nhà Nho quan tâm Lý giải vấn đề này, có thể khái quát một số quan điểm sau:
Quan điểm thứ nhất cho rằng: Bản tính con người vốn là thiện Tiêu
biểu cho quan điểm này là Mạnh Tử
Trong thuyết tính thiện, Mạnh Tử cho rằng, bản tính con người từ khi mới sinh ra là do trời phú, cho nên vốn là thiện Ông nói: “Bản tính người ta vốn thiện, cũng như nước phải chảy xuống chỗ thấp vậy Người ta chẳng ai là bất thiện, như nước luôn luôn chảy xuống chỗ thấp vậy” [23,tr 1193]
Để làm rõ thêm nhận định này, trong sách Mạnh tử, ông đã đưa ra hình ảnh
của đứa trẻ khi mới sinh ra vốn đã có sẵn tình cảm quyến luyến với cha mẹ, lòng yêu mến anh chị em của mình, ai cũng động lòng thương xót và muốn cứu đứa trẻ khi nhìn thấy nó té xuống nước [23,tr 1298] Những tình cảm tự nhiên này, Mạnh Tử gọi là “lương tri”, “lương năng” Và từ đây, mở rộng ra, theo Mạnh Tử, ai cũng có tứ đoan, tứ đức Như ông viết: “Lòng trắc ẩn ai cũng có, lòng tu ố ai cũng có, lòng cung kính ai cũng có, lòng thị phi ai cũng có” Theo ông, tứ đoan này là đầu mối của tứ thiện đức của con người “Lòng trắc ẩn là đầu mối của nhân, lòng tu ố là đầu mối của nghĩa, lòng cung kính là đầu mối của lễ, lòng thị phi là đầu mối của trí vậy” [23,tr 1205] Tất cả đều là những cái vốn có của con người, nó có sẵn, đầy đủ trong tâm của con người
Trang 40Quan điểm thứ hai cho rằng: Tính người là ác
Đối lập với thuyết tính thiện của Mạnh Tử là thuyết “tính ác” của Tuân Tử Tuân Tử xuất phát từ những nhu cầu bản năng, sinh học tự nhiên của con người để cho rằng: „Tất cả mọi người sinh ra đều có một chỗ giống nhau: đói thì muốn ăn, rét thì muốn ấm, mệt thì muốn nghỉ, thích cái lợi và ghét cái hại; những cái đó người ta sinh ra đã vốn có rồi…” [Dẫn theo 59,tr 254] Cứ theo bản tính ấy, vì hám lợi “con người mới nảy sinh tranh cướp, tàn bạo, gian ác”; “sinh ra đã có những thèm muốn của hai mắt, ưa chuộng tiền hay sắc đẹp, nên mới sinh ra dâm loạn… lấy đó mà xét thì bản tính người là ác” [Dẫn theo 59,tr 255]
Theo Tuân Tử, những cái Khổng Tử gọi là “đạo nhân”, Mạnh Tử gọi là
“tính thiện” hoàn toàn do sự tu dưỡng sau này của con người mà có Như ông nói: “Cây gỗ cong phải chờ hơ nóng, uốn nắn lại mới được thẳng, đồ dùng kim loại mà cùn phải chờ mài mới sắc Bản tính của người thì nay gian ác, phải học tập, phép tắc thì mới ngay thẳng, theo lễ nghĩa thì mới thành tốt Người xưa vì thấy được tính ác của con người ta, nên lập ra lễ nghĩa, đặt ra pháp độ” [Dẫn theo 59,tr 255]
Như vậy, thuyết tính thiện của Mạnh Tử, thuyết tính các của Tuân Tử, dù
có những yếu tố và cách lý giải hợp lý nhưng không thể tránh khỏi tính chất trực quan, máy móc, siêu hình Mạnh Tử thì thiên về mặt xã hội, đạo đức thì Tuân Tử lại thiên về bản năng tự nhiên của con người để lý giải bản tính vốn có của con người Các ông chưa nhận thức được rằng, bản tính con người là sự thống nhất không thể tách rời giữa cái sinh vật và cái xã hội Chính sự khác nhau và hạn chế cơ bản này đã dẫn tới sự đối lập trong thuyết tính thiện và tính ác của Nho giáo
Quan điểm thứ ba cho rằng, bản tính nguyên sơ của con người không thiện cũng không ác Tiêu biểu cho quan điểm này là Cáo Tử