1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tìm hiểu sự biến động về lãi suất huy động vốn của các ngân hàng thương mại ở việt nam từ năm 2008 đến quí 2 năm 2011

38 46 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 38
Dung lượng 485,07 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cho đến khi Thông tư 02/2011/TT-NHNN với quy định mức lãi suất tối đa được phép huy động là 14%/năm được Ngân hàng Nhà nước ban hành ngày 03/03/2011 thì mặt bằng lãi suất huy động vốn củ

Trang 1

KHOA KINH TẾ - QUẢN TRỊ KINH DOANH

TRẦN THỤY THIÊN TRANG

TÌM HIỂU SỰ BIẾN ĐỘNG VỀ LÃI SUẤT HUY ĐỘNG VỐN CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI Ở VIỆT NAM

TỪ NĂM 2008 ĐẾN QUÍ 2 NĂM 2011

Chuyên ngành: TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG

Long Xuyên, tháng 07 năm 2011

Trang 2

KHOA KINH TẾ - QUẢN TRỊ KINH DOANH

CHUYÊN ĐỀ NĂM 3

TÌM HIỂU SỰ BIẾN ĐỘNG VỀ LÃI SUẤT HUY ĐỘNG VỐN CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI Ở VIỆT NAM

TỪ NĂM 2008 ĐẾN QUÍ 2 NĂM 2011

Chuyên ngành: TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG

Sinh viên thực hiện: TRẦN THỤY THIÊN TRANG Lớp: DH9NH Mã số SV: DNH083273

Giáo viên hướng dẫn: Ths ĐẶNG ANH TÀI

Long Xuyên, tháng 07 năm 2011

Trang 3

Đề tài nghiên cứu này nhằm tìm hiểu sự biến động về lãi suất huy động vốn từ năm 2008 đến quí 2 năm 2011 Kết quả nghiên cứu cho thấy trong giai đoạn từ năm

2008 đến nay có hai cuộc chạy đua lãi suất diễn ra quyết liệt nhất, một là vào trung tuần những tháng cuối quí 2 năm 2008, hai là giai đoạn cuối năm 2010 cho đến nay Trong hai giai đoạn này có những thời điểm lãi suất huy động lên đến mức 20%/năm với những trường hợp lách luật, vượt rào diễn ra bằng nhiều hình thức khác nhau từ ngân hàng nhỏ cho đến ngân hàng lớn, ngân hàng ngoài quốc doanh cho đến ngân hàng quốc doanh khiến cho mặt bằng lãi suất huy động vốn ngày càng gia tăng Trước tình hình này Ngân hàng Nhà nước đã nhiều lần ra công văn nhắc nhở, quyết định xử lý nhưng vẫn không thể giải quyết được tận gốc mà ngược lại làn sóng lãi suất mỗi lúc một dâng cao Cho đến khi Thông tư 02/2011/TT-NHNN với quy định mức lãi suất tối đa được phép huy động là 14%/năm được Ngân hàng Nhà nước ban hành ngày 03/03/2011 thì mặt bằng lãi suất huy động vốn của các Ngân hàng Thương mại ở Việt Nam mới dần ổn định trở lại

Trang 4

DANH MỤC BẢNG i

DANH MỤC BIỂU ĐỔ i

DANH MỤC HÌNH i

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT ii

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ ĐỀ TÀI 1

1.1 Lý do chọn đề tài 1

1.2 Mục tiêu nghiên cứu 1

1.3 Phạm vi nghiên cứu 1

1.4 Phương pháp nghiên cứu 2

1.5 Ý nghĩa nghiên cứu 2

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 3

2.1 Lãi suất cơ bản 3

2.2 Lãi suất huy động vốn 3

2.3 Tác động của lãi suất đến hoạt động huy động vốn của các NHTM 3

2.4 Rủi ro lãi suất 3

2.5 Hiệu ứng lãi suất Domino 4

2.6 Những quy định của Ngân hàng Nhà nước về lãi suất huy động vốn 4

2.6.1 Lãi suất huy động vốn tối đa bằng VNĐ qua các năm 4

2.6.1.1 Lãi suất huy động tối đa năm 2008 4

2.6.1.2 Lãi suất huy động tối đa năm 2010 5

2.6.1.3 Lãi suất huy động tối đa năm 2011 5

2.6.2 Lãi suất trong trường hợp rút tiền gửi trước kỳ hạn 5

2.6.3 Lãi suất, phí trong hoạt động kinh doanh của tổ chức tín dụng 6

CHƯƠNG 3: SỰ BIẾN ĐỘNG LÃI SUẤT HUY ĐỘNG VỐN CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 7

3.1 Sự biến động lãi suất huy động vốn năm 2008 7

3.1.1 Điều chỉnh lãi suất cơ bản của NHNN 7

3.1.2 Cuộc chạy đua lãi suất huy động vốn năm 2008 của các NHTM 8

3.2 Sự biến động lãi suất huy động vốn năm 2009 14

3.2.1 Điều chỉnh lãi suất cơ bản của NHNN 14

3.2.2 Sự biến động lãi suất huy động vốn 14

3.3 Sự biến động lãi suất huy động vốn năm 2010 16

3.3.1 Điều chỉnh lãi suất cơ bản của NHNN 16

Trang 5

3.4.1 Tình hình lãi suất cơ bản đầu năm 2011 19

3.4.2 Tình hình huy động vốn đầu năm 2011 của các NHTM 19

3.4.3 Sự biến động lãi suất huy động vốn năm quí 1 và quí 2 năm 2011 20

CHƯƠNG 4: KẾT LUẬN 24

PHỤ LỤC 25

Phụ lục 1: Lãi suất cơ bản năm 2008 25

Phụ lục 2: Lãi suất cơ bản năm 2009 26

Phụ lục 3: Lãi suất cơ bản năm 2010 27

TÀI LIỆU THAM KHẢO 28

Trang 6

DANH MỤC CÁC BẢNG

Trang

Bảng 1: Mức lãi suất huy động vốn bình quân cuối năm 2009……… 15

Bảng 2: Lãi suất huy động vốn phổ biến của các NHTM đầu năm 2011……….…… 20

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ Trang Biểu đồ 1: Lãi suất cơ bản năm 2008………7

Biểu đồ 2: Biến động lãi suất HĐV năm 2008………13

Biểu đồ 3: Lãi suất cơ bản năm 2009……… 14

Biểu đồ 4: Lãi suất cơ bản năm 2010……… 16

DANH MỤC HÌNH Trang Hình 1: Đua lãi suất huy động VNĐ……….4

Trang i

Trang 7

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

CSTT Chính sách tiền tệ HĐV Huy động vốn KKH Không kỳ hạn

LSCB Lãi suất cơ bản

NHNN Ngân hàng nhà nước NHNNVN Ngân hàng nhà nước Việt Nam NHTM Ngân hàng thương mại

NH TMCP Ngân hàng thương mại cổ phần

NH TMNN Ngân hàng thương mại nhà nước

Trang ii

Trang 8

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ ĐỀ TÀI

cơ hội cho họ có thể gia tăng tiêu dùng trong tương lai, mặt khác, khách hàng có thể an tâm khi cất trữ và tích lũy vốn tạm thời nhàn rỗi tại đây Chính vì lý do đó nhiều khách hàng đã quyết định chọn giải pháp an toàn là gửi món tiền của họ vào ngân hàng để được hưởng lãi

Thế nhưng số lượng ngân hàng ở Việt Nam ngày càng nhiều nên thách thức đặt

ra cho các ngân hàng thương mại (NHTM) là phải tìm ra giải pháp để thu hút khách hàng về gửi tiền tại ngân hàng mình mà đa số khách hàng đều muốn được hưởng lãi tiền gửi cao Hiểu được tâm lý đó nhiều NHTM đã nâng lãi suất huy động vốn của mình lên mức cao hơn mức lãi suất bình quân được áp dụng, ban đầu chỉ là một vài ngân hàng nhưng tiếp theo sau đó nhiều ngân hàng cùng nhau áp dụng chiêu thức này khiến cho mặt bằng lãi suất huy động vốn ngày càng nâng cao lên, tạo nên một cuộc cạnh tranh lãi suất huy động vốn giữa các ngân hàng thương mại với nhau

Tính đến thời điểm này đã có hai cuộc cạnh tranh lãi suất diễn ra giữa các ngân hàng, một là vào năm 2008 và một đang diễn ra hiện nay, năm 2011 Với vai trò là một

tổ chức kinh doanh tiền tệ không ít ngân hàng phải sử dụng đến giải pháp nâng lãi suất tiền gửi vượt mức lãi suất trần do Ngân hàng Nhà nước (NHNN) công bố nhằm thu hút nguồn vốn từ dòng tiền của khách hàng Theo thông tư 02/2011/TT-NHNN do Ngân hàng Nhà nước ban hành ngày 03/03/2011, các NHTM chỉ được phép huy động vốn ở mức tối đa 14%/năm (NHNNVN, 2011a), tuy nhiên, sau một thời gian tuân thủ quy định, nhiều NHTM lại vượt rào với những mức lãi suất cao như 18%/năm có khi lên tới 19,5%/năm tùy theo lượng tiền và kỳ hạn gửi của khách hàng (An Hạ, 2011a) Có nhiều

lý do khách quan lẫn chủ quan dẫn đến việc làm này nhưng nếu tình hình này kéo dài sẽ càng làm cho mặt bằng lãi suất huy động vốn có nhiều biến động hơn Nhận thấy được

vấn đề này, em đã chọn đề tài: “Tìm hiểu sự biến động về lãi suất huy động vốn của các ngân hàng thương mại ở Việt Nam từ năm 2008 đến quí 2 năm 2011” để nghiên

cứu

1.2 Mục tiêu nghiên cứu

Tìm hiểu sự biến động về lãi suất huy động vốn của các ngân hàng thương mại ở Việt Nam (NH Đông Nam Á, NH Á Châu, NH Kiên Long)

1.3 Phạm vi nghiên cứu

Đề tài tìm hiểu sự biến động của lãi suất huy động huy động vốn bằng Việt Nam đồng (VNĐ) tại các ngân hàng thương mại ở Việt Nam diễn ra trong giai đoạn từ năm

2008 đến quí 2 năm 2011, trong đó tập trung chủ yếu vào năm 2008, quí 4 năm 2010 và

2 quí đầu năm 2011, đây là những khoảng thời gian có nhiều sự thay đổi lớn về lãi suất huy động vốn

Trang 9

1.4 Phương pháp nghiên cứu

1.4.1 Phương pháp thu thập dữ liệu

Thu thập thông tin từ sách, báo và internet

1.4.2 Phương pháp phân tích dữ liệu

Sử dụng phương pháp tổng hợp thông tin, số liệu

Phương pháp thống kê lãi suất qua bảng số liệu

Phương pháp so sánh lãi suất huy động vốn giữa các NHTM

1.5 Ý nghĩa nghiên cứu

Đề tài giúp người đọc hiểu rõ hơn tình hình biến động về lãi suất trong hoạt động huy động vốn của ngành ngân hàng ở Việt Nam trong giai đoạn từ năm 2008 đến quí 2 năm 2011 Đồng thời đề tài là nguồn tài liệu tham khảo cho những nghiên cứu về biến động lãi suất huy động vốn sau này

Trang 10

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT

2.1 Lãi suất cơ bản

Lãi suất cơ bản (LSCB) là một công cụ để thực hiện chính sách tiền tệ (CSTT) của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam trong ngắn hạn Theo Luật Ngân hàng Nhà nước, lãi suất cơ bản chỉ áp dụng cho Đồng Việt Nam do Ngân hàng Nhà nước công bố, làm

cơ sở cho các tổ chức tín dụng ấn định lãi suất kinh doanh Lãi suất cơ bản được xác định dựa trên cơ sở lãi suất thị trường liên ngân hàng, lãi suất nghiệp vụ thị trường mở của Ngân hàng Nhà nước, lãi suất huy động đầu vào của tổ chức tín dụng và xu hướng biến động cung cầu vốn (QHVN, 2003)

2.2 Lãi suất huy động vốn

Lãi suất huy động vốn (HĐV) là tỉ lệ phần trăm lãi suất (LS) tính trên số tiền khách hàng gửi vào ngân hàng hay vào tổ chức tín dụng Mức lãi suất này thường áp dụng cho một năm Tuy nhiên, ngày nay các tổ chức tín dụng đều có biểu lãi suất huy động vốn cụ thể cho từng kỳ hạn gửi khác nhau của khách hàng

2.3 Tác động của lãi suất đến hoạt động huy động vốn của các NHTM

Lãi suất huy động vốn chính là mối quan tâm hàng đầu của các khách hàng khi

họ muốn gửi tiền vào một ngân hàng Điều này rất hợp lý vì trong nền kinh tế thị trường hiện nay, nơi nào có tiềm năng mang lại lợi nhuận cao thì nơi đó sẽ thu hút được nhiều nhà đầu tư hơn Trong các loại lãi suất tiền gửi, lãi suất tiền gửi tiết kiệm có tác động lớn hơn lãi suất tiền gửi thanh toán vì khách hàng gửi tiền tiết kiệm nhằm mục đích

hưởng lãi là chính

Bên cạnh đó lãi suất là công cụ để các NHTM cạnh tranh với nhau trong hoạt động huy động vốn Với mức lãi suất cao các NH có quy mô nhỏ thường chịu ảnh hưởng nhiều hơn các NH có quy mô lớn vì khó huy động vốn hơn và không đảm bảo được tính thanh khoản trong hệ thống Điều này đã dẫn đến tình trạng các NH nhỏ

thường phải huy động vốn với lãi suất cao hơn mức lãi suất của các NH lớn Ngoài ra

lãi suất còn tác động đến nhiều mặt của các ngân hàng, với mức lãi suất cao và không

ổn định sẽ ảnh hưởng nhiều tới kết quả hoạt động kinh doanh làm gia tăng rủi ro trong hoạt động của ngân hàng Vì khi lãi suất huy động vốn cao thì lãi suất cho vay cũng phải cao nhằm đảm bảo sự cân bằng trong thu chi tiền lãi và đạt được mục tiêu lợi nhuận mà một khi lãi suất huy động vượt quá mức cho phép sẽ làm cho ngân hàng gặp khó khăn trong khâu hạch toán phần lãi chênh lệch cho khách hàng (NK, 2011) Chính

vì thế một ngân hàng có chính sách lãi suất linh hoạt và hợp lý luôn có tác dụng kích thích khách hàng gửi tiền vào Do đó yếu tố lãi suất là điều kiện cần để các ngân hàng huy động vốn

2.4 Rủi ro lãi suất

Rủi ro lãi suất là loại rủi ro do biến động của lãi suất gây ra Rủi ro lãi suất thể hiện ở khả năng thay đổi của lãi suất làm ảnh hưởng đến thu nhập kỳ vọng từ tài sản sinh lãi hoặc chi phí kỳ vọng của nguồn vốn huy động phải trả lãi

(Nguyễn Minh Kiều, 2007: 1099)

Trang 11

2.5 Hiệu ứng lãi suất Domino

Hình 1: Đua lãi suất huy động VNĐ

(Minh Hường, Hoàng Linh và Phương Anh, 2011) Xuất phát từ việc NHNN ấn định mức trần lãi suất huy động vốn Với mức lãi suất này NH A đang thiếu vốn không thể hoạt động được buộc phải lách luật để tăng lãi suất huy động lên Việc làm này đã đánh trúng tâm lý khách hàng thích được hưởng lãi cao  khách hàng đến gửi tiền tại ngân hàng A  NH A thu được một lượng VNĐ

Trước tình hình khách hàng tập trung gửi tiền tại NH A có lãi suất HĐV cao,

NH B dần dần phải nâng mức lãi suất huy động lên để cạnh tranh Khi NH B tăng lãi suất huy động, đại bộ phận khách hàng đổ xô về gửi tiền tại đây vì cho rằng sẽ được hưởng lãi suất cao hơn, dẫn đến tình trạng NH A bị mất khách hàng Vì khó có khả năng cạnh tranh lại, NH A lại tiếp tục tăng lãi suất huy động lên mức cao hơn

Giống như hiệu ứng Domino chỉ cần một ngân hàng nâng lãi suất huy động vốn của mình lên việc làm này sẽ tác động trực tiếp đến các ngân hàng khác Trong hình 1 chỉ minh họa hai ngân hàng: NH A và NH B, nhưng trong thực tế nếu hiệu ứng này xảy

ra sẽ tạo nên tác động dây chuyền trong hệ thống ngân hàng, từ ngân hàng này đến ngân hàng khác Điều này cũng đúng khi xét về quy mô của các ngân hàng Vì thông thường hoạt động huy động vốn của các ngân hàng nhỏ kém hiệu quả hơn so với ngân hàng lớn

do không đảm bảo được tính thanh khoản hệ thống Vì thế các ngân hàng nhỏ do thiếu vốn buộc phải tăng mức lãi suất huy động lên để thu hút khách hàng Mà tâm lý khách hàng luôn thích được hưởng lãi tiền gửi cao Chính vì thế họ sẵn sàng rút tiền từ ngân hàng mình đang gửi để chuyển sang một ngân hàng khác có mức lãi suất hấp dẫn hơn Đứng trước tình hình này các ngân hàng lớn dù không thiếu vốn cũng buộc phải tăng lãi suất huy động của mình lên để giữ lấy khách hàng Cứ như thế, lượng VNĐ di chuyển

từ nơi có lãi suất huy động vốn thấp sang nơi có lãi suất huy động vốn cao Nếu không

có biện pháp ngăn chặn tình trạng này sẽ tiếp tục diễn ra và mỗi khi lãi suất đi hết một vòng nó lại tăng lên vài phần trăm Kết quả là lãi suất huy động vượt xa mức lãi suất trần do NHNN qui định

2.6 Những quy định của Ngân hàng Nhà nước về lãi suất huy động vốn

2.6.1 Lãi suất huy động vốn tối đa bằng VNĐ qua các năm

2.6.1.1 Lãi suất huy động tối đa năm 2008

Theo Quyết định Số 16/2008/QĐ-NHNN do Ngân hàng Nhà nước ban hành ngày 16/05/2008 lãi suất huy động vốn tối đa không vượt quá 150% lãi suất cơ bản do NHNN công bố để áp dụng cho từng thời kỳ, quyết định này có hiệu lực từ ngày 19/05/2008 (NHNNVN, 2008)

NH B tăng LS huy động VNĐ

NH A tăng LS huy động VNĐ

NH A thiếu VNĐ

NH A hút VNĐ từ NH B lớn

Trang 12

2.6.1.2 Lãi suất huy động tối đa năm 2010

Ngày 14/12/2010 Ngân hàng Nhà nước ban hành Công văn số CSTT, theo điều 1 của công văn này mức lãi suất huy động vốn bằng Việt Nam đồng đã bao gồm cả khoản chi khuyến mại dưới mọi hình thức không vượt quá 14%/năm Mức lãi suất huy động vốn tối đa này được thực hiện kể từ ngày 15/12/2010 (NHNNVN, 2010)

2.6.1.3 Lãi suất huy động tối đa năm 2011

Thông tư 02/2011/TT-NHNN do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam ban hành ngày 03/03/2011 quy định mức lãi suất huy động vốn tối đa bằng đồng Việt Nam của các tổ chức tín dụng và chi nhánh ngân hàng nước ngoài (NHNNVN, 2011a)

Theo thông tư:

Tổ chức tín dụng ấn định lãi suất huy động vốn bằng đồng Việt Nam (lãi suất tiền gửi; lãi suất chứng chỉ tiền gửi, kỳ phiếu, tín phiếu và trái phiếu) của các tổ chức (trừ tổ chức tín dụng) và cá nhân bao gồm cả khoản chi khuyến mại dưới mọi hình thức không vượt quá 14%/năm; riêng các Quỹ Tín dụng nhân dân

cơ sở ấn định lãi suất huy động vốn bằng đồng Việt Nam không vượt quá 14,5%/năm Mức lãi suất huy động vốn tối đa này áp dụng đối với phương thức trả lãi cuối kỳ; đối với các phương thức trả lãi khác, phải được quy đổi theo phương thức trả lãi cuối kỳ tương ứng với mức lãi suất huy động vốn tối đa

Nghiêm cấm tổ chức tín dụng thực hiện khuyến mại huy động vốn bằng tiền, lãi suất và các hình thức khác không đúng với quy định của pháp luật và Thông tư này

(NHNNVN, 2011a: 1-2)

2.6.2 Lãi suất trong trường hợp rút tiền gửi trước kỳ hạn

Thông tư 04/2011/TT-NHNN do Ngân hàng Nhà nước ban hành ngày 10/03/2011 quy định áp dụng lãi suất trong trường hợp tổ chức, cá nhân rút tiền gửi trước hạn tại tổ chức tín dụng (NHNNVN, 2011b)

Theo thông tư:

Tổ chức tín dụng áp dụng lãi suất tối đa bằng mức lãi suất tiền gửi không

kỳ hạn thấp nhất của tổ chức tín dụng theo từng đồng tiền trong trường hợp tổ chức, cá nhân rút tiền gửi trước hạn; mức lãi suất tiền gửi không kỳ hạn này là thấp nhất tại thời điểm tổ chức, cá nhân rút tiền gửi trước hạn Tiền gửi bao gồm các hình thức tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn, chứng chỉ tiền gửi,

kỳ phiếu, trái phiếu và các hình thức nhận tiền gửi khác của tổ chức (trừ tổ chức tín dụng), cá nhân theo quy định tại Khoản 13 Điều 14 Luật Các tổ chức tín dụng

Tổ chức tín dụng niêm yết công khai lãi suất áp dụng trong trường hợp tổ chức, cá nhân rút tiền gửi trước hạn tại các địa điểm huy động vốn (Hội sở chính, sở giao dịch, chi nhánh, phòng giao dịch, quỹ tiết kiệm) Các thỏa thuận lãi suất tiền gửi trước ngày Thông tư này có hiệu lực thi hành, các bên tiếp tục thực hiện theo thỏa thuận đã cam kết cho đến hạn trả; hoặc thỏa thuận thực hiện theo quy định tại Thông tư này

(NHNNVN, 2011b: 1)

Trang 13

2.6.3 Lãi suất, phí trong hoạt động kinh doanh của tổ chức tín dụng

Theo điều 91 luật 47/2010/QH12 do Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XII, kỳ họp thứ 7 thông qua ngày 16 tháng 6 năm 2010

Tổ chức tín dụng được quyền ấn định và phải niêm yết công khai mức lãi suất huy động vốn, mức phí cung ứng dịch vụ trong hoạt động kinh doanh của tổ chức tín dụng

Tổ chức tín dụng và khách hàng có quyền thỏa thuận về lãi suất, phí cấp tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng theo quy định của pháp luật

Trong trường hợp hoạt động ngân hàng có diễn biến bất thường, để bảo đảm an toàn của hệ thống tổ chức tín dụng, Ngân hàng Nhà nước có quyền quy định cơ chế xác định phí, lãi suất trong hoạt động kinh doanh của tổ chức tín

dụng

(QHVN, 2010: 66)

Trang 14

CHƯƠNG 3: SỰ BIẾN ĐỘNG LÃI SUẤT HUY ĐỘNG VỐN

CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

3.1 Sự biến động lãi suất huy động vốn năm 2008

3.1.1 Điều chỉnh lãi suất cơ bản của NHNN

Mức LSCB khởi điểm đầu năm 2008 là 8,25%/năm, sau lần điều chỉnh tăng đầu tiên của NHNN lãi suất ở mức 8,75%/năm Ngày 19/05 năm lãi suất cơ bản đạt mức 12%/năm tăng 3,25% so với 4 tháng trước đó (Trang tin điện tử Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, 2011) Trước việc NHNN điều chỉnh tăng LSCB, một số nhận định cho rằng mức lãi suất 12% đã phản ánh thực tế lãi suất thị trường và đóng vai trò là lãi suất điều hành chính sách tiền tệ của NHNN góp phần tạo nên mặt bằng lãi suất huy động vốn và cho vay hợp lý, đảm bảo lợi ích của cả ba đối tượng là người gửi tiền, tổ chức tín dụng

và người vay vốn (VOV, 2008)

Trở lại tình hình biến động LSCB, lãi suất đang có chiều hướng tăng, đầu năm

2008 mức lãi suất này chỉ là 8,25%/năm sau 3 lần tăng đã lên đến 14%/năm vào cuối quí 2 Mức lãi suất này được duy trì đến đầu quí 4, sau đó vào ngày 20/10/2008 Ngân hàng Nhà nước có Quyết định 2316/QĐ-NHNN đưa mức LSCB từ 14%/năm giảm xuống còn 13%/năm Những tháng cuối năm 2008, LSCB đi theo chiều hướng giảm, từ mức 13%/năm đến ngày 05/11 giảm còn 12%/năm Cùng trong tháng đó, ngày 21 LSCB lại giảm thêm 1% và sang đến ngày 05/12 mức này chỉ còn là 10%/năm Vậy trong vòng một tháng, từ 05/11 đến 05/12, NHNN đã hai lần điều chỉnh lãi suất cơ bản Vào ngày 19/12, NHNN lại tiếp tục ban hành Quyết định 3161/QĐ-NHNN giảm lãi suất xuống còn 8,25%/năm, kết thúc đợt biến động LSCB trong năm, quyết định này có hiệu lực từ ngày 22/12/2008 (Trang tin điện tử Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, 2011)

Biểu đồ 1: Lãi suất cơ bản năm 2008

(Nguồn: Lãi suất cơ bản - Trang tin điện tử Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, 2011) Biểu đồ 1 cho thấy trong vòng một năm, Ngân hàng Nhà nước đã có đến 3 lần tăng và 5 lần giảm lãi suất cơ bản với biên độ chênh lệch khá lớn Ngày 01/01 lãi suất

cơ bản là 8,25%/năm sau 3 lần điều chỉnh tăng mức lãi suất này đã đạt đến mốc 14%/năm vào cuối quí 2, so với cùng kì năm 2007 cao hơn 5,75%, lãi suất cơ bản cuối

Trang 15

quí 2 năm 2007 là 8,25% Mức 14%/năm được giữ ổn định đến đầu quí 4, từ sau đó đến cuối năm lãi suất giảm đều 1% trong mỗi lần điều chỉnh, đến ngày 22/12 mức LSCB chỉ còn 8,5%/ năm Vậy so với đầu năm 2008, lãi suất cơ bản cuối năm chỉ tăng 0,25%

Việc lãi suất cơ bản liên tiếp thay đổi là một trong những nguyên nhân dẫn đến

sự biến động trong lãi suất huy động vốn, lãi suất huy động biến đổi trong nhiều tháng liền có khi chỉ trong vài ngày lãi suất đã thay đổi đến vài phần trăm

3.1.2 Cuộc chạy đua lãi suất huy động vốn năm 2008 của các NHTM

Ngay từ những tháng đầu năm 2008 các ngân hàng đã bắt đầu điều chỉnh tăng mức lãi suất huy động vốn:

Bắt đầu từ ngày 10/1/2008, Ngân hàng Đông Á công bố tăng lãi suất tiền gửi tiết kiệm VNĐ dành cho khách hàng cá nhân trên phạm vi toàn quốc Cụ thể, lãi suất tiết kiệm 1 tháng là 0,65%/tháng tương đương 7,8%/năm, tăng 0,04% so với mức lãi suất

cũ, kỳ hạn 2 tháng đối với lãnh lãi hàng tháng là 0,66%/tháng tương đương 7,92%/năm

và lãnh lãi cuối kỳ là 0,68%/tháng tương đương với 8,16%/năm Tiếp theo, kỳ hạn 3 tháng lãnh lãi cuối kỳ là 0,73%/năm tức 8,76%/năm, tăng 0,02%, kỳ hạn 6 tháng lãnh lãi cuối kỳ là 0,75%/năm tức 9%/năm, tăng 0,02% Ngoài ra lãi suất tiền gửi tiết kiệm dài hạn của NH này cũng tăng, đối với kỳ hạn 12 tháng lãi suất tăng 0,02% đạt mức 0,79% (9,48%/năm), 18 tháng tăng 0,01% đạt 0,74%/tháng (8,88%/năm) và 36 tháng tăng 0,02% đạt 0,85%/tháng tương đương với mức 10,2%/năm Đặc biệt, lãi suất kỳ hạn

24 tháng là 0,84% (10,08%/năm) tăng 0,03% (H.P, 2008) Nhìn chung trong đợt tăng lãi suất đầu tiên của năm, mức tăng phổ biến được NH Đông Á áp dụng là 0,02%, lãi suất tăng mạnh ở các kỳ hạn 1 tháng và 24 tháng Cùng trong quí 1, ngày 21/2 lãi suất kỳ hạn 12 tháng cao nhất đã lên đến 13,8%/năm, đây là mức lãi suất của NH Thương mại

Cổ phần Sài Gòn, bỏ xa đỉnh lãi suất trước đó một ngày là 12%/năm của NH Đông Nam

Á (Thanh Nhân, 2008)

Việc các NHTM đồng loạt tăng lãi suất huy động ngay trong quí đầu năm cho thấy sự khởi sắc trong hoạt động huy động vốn của các ngân hàng, lãi suất tăng là một trong những điều kiện kích thích người dân gửi tiết kiệm nhiều hơn điều đó đồng nghĩa với việc ngân hàng thu được một nguồn vốn huy động dồi dào để tài trợ cho các hoạt động khác như tín dụng, đầu tư phát triển các dịch vụ và mở rộng mạng lưới trụ sở Thế nhưng việc tăng lãi suất chỉ mang lại hiệu quả tốt trong mức độ có giới hạn vì một khi lãi suất huy động tăng nhanh và tăng cao sẽ dẫn đến tình trạng thiếu thanh khoản đưa đến việc các ngân hàng phải tăng cả lãi suất cho vay nhằm giữ vững lợi nhuận Vì những lý do trên, vấn đề đặt ra cho các ngân hàng là vừa phải giữ cho mức lãi suất huy động của mình đủ hấp dẫn để thu hút khách hàng vừa phải ổn định được mặt bằng lãi suất huy động và cho vay nhằm đảm bảo tính thanh khoản tốt Tuy vậy, thực trạng diễn

ra trong năm 2008 ngược lại hoàn toàn khi lãi suất huy động mỗi lúc một tăng, mức lãi suất 13,8%/năm vào giữa quí 1 của NHTMCP Sài Gòn xem chừng như đã cao, song chỉ sang đến quí 2 mức lãi suất này đã trở thành mức phổ biến thậm chí đối với khách hàng đây là mức lãi suất rất thấp vì trong quí 2 hầu hết các ngân hàng đều tăng lãi suất huy động với những mức lãi suất mới cao hơn, hấp dẫn hơn Tình hình tăng lãi suất vào quí

2 diễn ra từ ngân hàng này đến ngân khác bất kể quy mô lớn hay nhỏ, ngân hàng quốc doanh hay ngân hàng ngoài quốc doanh, tạo nên một cuộc đua tranh lãi suất huy động vốn giữa các ngân hàng với nhau mà diễn biến của cuộc đua tranh lãi suất này chỉ thực

sự sôi nổi từ trung tuần tháng 5, đây là khoảng thời gian các ngân hàng thi nhau tăng lãi suất với nhiều mức lãi suất kỷ lục được thiết lập

Trang 16

Mở đầu cho chiến dịch tăng lãi suất này là việc Ngân hàng Phương Đông chính thức áp dụng mức lãi suất mới vào ngày 21/05/2008, theo đó, kỳ hạn gửi 1 tuần lãi suất

là 1%/tháng tương đương 12% một năm, 2 tuần là 1,05%/tháng (12,6%/năm), 3 tuần là 1,1%/tháng (13,2%/năm) Kỳ hạn gửi từ 13 đến 24 tháng lãi suất 15%/năm (Tần Vy, 2008a) Tình hình diễn ra tương tự tại Ngân hàng Đông Nam Á, từ ngày 27/5 mức lãi suất cho kỳ hạn 9 tháng sẽ là 15,36%/năm Với hình thức Tiết kiệm siêu lãi suất, trong

đó người gửi không được rút tiền trước thời hạn với bất kỳ lý do nào, lãi suất cao nhất được niêm yết cho kỳ hạn 12 tháng là 16,2%/năm Tuy nhiên, tại các bàn giao dịch, nhân viên nhà băng cho khách hàng xem một biểu lãi suất mới áp dụng cho Tiết kiệm siêu lãi suất, trong đó mức cao nhất là 19,2% mỗi năm cho kỳ hạn 13 tháng Với kỳ hạn

6 tháng, lãi suất là 18%/năm và cho kỳ hạn 12 tháng là 18,6% mỗi năm (Ngọc Châu và Hương Vy, 2008) Vào thời điểm này Quyết định số 16/2008/QĐ-NHNN về lãi suất huy động tối đa do NHNN ban hành đã có hiệu lực, áp dụng cách tính lãi suất huy động tối

đa bằng 150% lãi suất cơ bản (NHNNVN, 2008) thì lãi suất tối đa ở thời điểm này là 18%/năm (lãi suất cơ bản hiện ở mức 12%/năm) vậy đối với kỳ hạn 12 tháng ngân hàng này đã huy động vượt 0,6% còn ở kỳ hạn 13 tháng mức chênh lệch lên đến 1,2% Ngoài

ra việc nhân viên ngân hàng đưa ra các mức lãi suất 18,6%, 19,2%/năm còn cho thấy sự thiếu minh bạch trong việc áp dụng lãi suất huy động của NH Đông Nam Á khi mà biểu lãi suất được công bố và lãi suất mà khách hàng thực nhận lại chênh lệch nhau đến 2-3% Tình huống này đã chứng minh được nhiều điều, một là các ngân hàng đã áp dụng lãi suất huy động trái luật Thế nhưng các NH này vẫn không bị xử lý là vì vào thời điểm năm 2008 hệ thống luật định về việc áp dụng lãi suất huy động vẫn chưa đầy đủ và còn thiếu chặt chẽ, NHNN chưa đưa ra văn bản ấn định mức lãi suất huy động cụ thể bằng bao nhiêu là tối đa cũng như chưa có biện pháp xử lý rõ ràng đối với các trường hợp vi phạm, chỉ có Công điện số 02 ngày 26/02/2008 yêu cầu các NHTM không được huy động vượt mức 12%/năm ở tất cả các kỳ hạn Tuy nhiên, sau hơn hai tháng, trước sức ép lạm phát lên cao, ngày 16/5/2008, NHNN công bố bỏ quy định khống chế mức trần lãi suất huy động 12%/năm và thay bằng Quyết định Số 16/2008/QĐ-NHNN qui định mức lãi suất huy động tối đa bằng 150% lãi suất cơ bản Nhưng thực chất sự thay đổi này cũng không mang lại hiệu quả cao vì việc áp dụng quyết định này vô cùng khó khăn Năm 2008 là năm LSCB liên tiếp thay đổi, có khi chỉ trong cùng một tháng LSCB

đã thay đổi đến hai lần thì đôi khi cán bộ thanh tra đến giám sát còn chưa kịp cập nhật LSCB đã thay đổi đến mức nào chứ bàn chi đến việc ngồi tính ra mức lãi suất huy động tối đa lúc bấy giờ là bao nhiêu để xử lý Ngoài ra sự việc trên đã cho thấy sự thiếu minh bạch trong hoạt động huy động vốn của NH Đông Nam Á khi mà mức lãi suất công bố bên ngoài ngân hàng và mức lãi suất thực tế bên trong ngân hàng lại có sự chênh lệch nhiều đến như vậy Tuy nhiên không riêng gì NH Đông Nam Á, trong diễn biến của cuộc chạy đua lãi suất huy động vốn năm 2008 còn có nhiều trường hợp lách luật tương

tự và mức lãi suất 19,2%/năm vẫn chưa phải là mức cao nhất Quay trở lại với diễn biến cuộc đua lãi suất, vào giữa quí 2 có nhiều NH tham gia vào cuộc đua lãi suất này

Ngày 28/05/2008 cuộc chạy đua có thêm một vận động viên mới - Ngân hàng thương mại cổ phần Việt Á Không thể đứng ngoài vòng đua lâu hơn nữa, NH Việt Á đã

áp dụng mức tăng lãi suất huy động VNĐ, theo đó, kỳ hạn 1 tháng là 14,8% một năm; 2 tháng 14,9% một năm; 3 tháng 15%/năm Các kỳ hạn 6 tháng, 9 tháng và 12 tháng cùng được áp lãi 15% mỗi năm, trong khi người gửi kỳ hạn 13 tháng hưởng lãi suất 15,4%/năm Ngoài ra lãi suất không kỳ hạn của NH ở mức khá cao 10,8%/năm, một tuần 13%/năm, 2 tuần 13,5% và 3 tuần 14%/năm (Tần Vy, 2008b) Điểm đặc biệt trong đợt tăng lãi suất của NH Việt Á là NH này lại tập trung thu hút tiền gửi ngắn hạn bằng các mức lãi suất cao khi mà mức lãi suất không kỳ hạn của NH lên đến 10,8%/năm,

Trang 17

mức lãi suất của các kỳ hạn ngắn ngày khác cũng cao hơn so với một số ngân hàng Kỳ hạn 1 tuần được áp lãi 13%/năm cao hơn mức lãi suất của NH Phương Đông 1%, kỳ hạn 2 tuần cao hơn 0,9% và kỳ hạn 3 tuần cao hơn mức lãi suất của NH Phương Đông 0,8% Đây là một nét nổi bật trong cuộc chạy đua lãi suất năm 2008, khi khó có thể cạnh tranh lại các NH bạn bằng những mức lãi suất tiết kiệm dài hạn, NH Việt Á đã chọn cho mình một lối đi riêng khi tập trung thu hút khách hàng bằng những mức lãi suất ngắn hạn vô cùng hấp dẫn Tính đến hết tháng 5/2008 đỉnh lãi suất đang ở mức 19,2%/năm, trên nền tảng lãi suất ngày càng tăng cao của tháng 5 sang đến tháng 6 lãi suất tiếp tục đi theo chiều hướng gia tăng

Ngày 9/6 đến 30/6, Ngân hàng Phương Đông một lần nữa nâng mức lãi suất huy động lên 16,08%/năm với sản phẩm mới "Siêu lãi suất - siêu linh hoạt" Khách hàng tham dự chương trình này có nhu cầu rút vốn trước thời hạn sẽ được tính lãi suất theo thời gian thực gửi (Tần Vy, 2008c) Chỉ trong vòng 20 ngày từ 21/5 đến 9/6 lãi suất đã được NH Phương Đông nâng lên 1,08%, đây quả là một sự bức phá ngoạn mục Ngoài

NH Phương Đông vào khoảng thời gian này còn có nhiều ngân hàng khác tham gia vào cuộc chạy đua lãi suất như:

Ngân hàng An Bình lãi suất huy động ngày 9/6 chính thức lên 16,2%/năm đối với kỳ hạn gửi 13 tháng (đã tính luôn cả lãi suất cộng thêm tùy mức tiền gửi) Kỳ hạn gửi 6 tháng tại ngân hàng này có lãi suất 16,1%/năm.Tính đến thời điểm này một số ngân hàng đang có mức lãi suất 16%/năm trên thị trường là NH Nam Việt, NH TMCP Phát triển nhà TP HCM, NH Kiên Long, NH Đại Dương (Tần Vy, 2008c) Tiếp theo đó vào ngày 11/06 hàng loạt ngân hàng đã đua nhau tăng lãi suất huy động

Ngân hàng Sài Gòn Thương Tín công bố tăng lãi suất trên toàn hệ thống, theo

đó, lãi suất cho các kỳ hạn từ 1 đến 12 tháng là 15,12% đến15,48% mỗi năm, với kỳ hạn

13 tháng trở lên là 15,24% Riêng với trường hợp gửi từ 50 triệu đồng trở lên, khách hàng được cộng thêm lãi suất thưởng 0,036% đến 0,48%, tùy theo kỳ hạn Trước đó, mức lãi suất cao nhất mà NH này áp dụng là 14,4%/năm (Ngọc Châu và Hương Vy, 2008) Vậy mức cao nhất vào thời điểm này cao hơn mức cũ đến 1,08% Cùng ngày, tại

TP HCM, ngân hàng TMCP Phương Đông tiến hành nâng mức lãi suất huy động tiền gửi VNĐ lên 18,08% mỗi năm cho những khách hàng tham dự sản phẩm "Siêu lãi suất - siêu linh hoạt" đối chiếu với mức công bố vào ngày 9/6 là 16,08%/năm thì ngân hàng đã tăng đến 2% lãi suất

Tại chi nhánh của Ngân hàng Công thương Việt Nam trên phố Láng Hạ (Hà Nội), mức lãi suất huy động tiền đồng cao nhất vẫn được niêm yết là 14,5% mỗi năm Song khi khách hàng hỏi chi tiết, nhân viên ở đây cho khách xem một biểu lãi suất viết tay, và cho hay, ngân hàng chưa kịp cập nhật lên bảng niêm yết Theo đó, lãi suất cao nhất tại NH Công thương là 16% mỗi năm cho kỳ hạn 12 tháng Với kỳ hạn 3 tháng, lãi suất là 15% và cho kỳ hạn 6-9 tháng là 15,5% (Ngọc Châu và Hương Vy, 2008) Tình huống này diễn ra tương tự như khi khách hàng đến tham gia chương trình Tiết kiệm siêu lãi suất vào ngày 27/5 tại NH Đông Nam Á khi mà lãi suất khách hàng thực nhận cao hơn lãi suất do chính NH niêm yết

Vào 15 giờ chiều ngày 11/06, NH Việt Á bắt đầu áp dụng biểu lãi suất mới ở tất

cả kỳ hạn với mức tăng trung bình 1% một năm cho tất cả các kỳ hạn Cụ thể, từ 3 đến

13 tháng, khách hàng sẽ nhận lãi 17,2% mỗi năm Tuy nhiên, nếu khách hàng gửi trên 5

tỷ đồng, sẽ cộng thêm lãi suất thưởng 0,3%, nâng lãi suất thực nhận lên đến 17,5% một năm Lãi suất thưởng cho số tiền gửi từ 2 tỷ đến dưới 5 tỷ là 0,2%/năm (Ngọc Châu và Hương Vy, 2008)

Trang 18

Cuối tháng 6 một lần nữa kỷ lục mới được sát lập khi NH Kiên Long đưa lãi suất huy động lên mức 20%/năm cho kỳ hạn 12 tháng Trước sự việc này Ngân hàng Nhà nước đã yêu cầu Ngân hàng Kiên Long ngay lập tức phải giải trình và điều chỉnh lại biểu lãi cho phù hợp Sau đó, Kiên Long đã hạ mức lãi suất đỉnh xuống còn 19% một năm (Vi Vi và Song Linh, 2008) Tính đến thời điểm này mức 20%/năm đã đạt mốc cao nhất, NH Kiên Long đã vượt mặt mức 19,2%/năm của NH Đông Nam Á

Lý giải cho sự gia tăng lãi suất huy động một cách đột biến trong quí 2 năm

2008 phải kể đến sự điều chỉnh lãi suất cơ bản của NHNN Ngoài ra, trước sức ép lạm phát lên cao, ngày 16/5/2008, NHNN công bố bỏ quy định khống chế mức trần lãi suất huy động 12%/năm thay bằng Quyết định số 16/2008/QĐ-NHNN, tiếp theo đó ngày 19/5 lãi suất cơ bản đã vọt lên mức 12% rồi sang đến ngày 11/6/2008, mức lãi suất cơ bản được nâng lên là 14%/năm, do đó lãi suất huy động tối đa đã lên đến 21%/năm bỏ

xa mức tối đa đầu năm đến 9%/năm, thế nên không lý do gì các NHTM lại không nâng lãi suất huy động lên để thu hút khách hàng Vì vậy trong hơn một tháng, từ 19/5 đến hết tháng 06 là giai đoạn có nhiều sự bức phá lãi suất, nhiều mức kỷ lục được các ngân hàng thi nhau thiết lập trong đó cao nhất phải nói đến mức 20%/năm vào thời điểm cuối tháng 6 của NH Kiên Long Giữ vị trí á quân là NH Đông Nam Á với mức lãi suất 19,2% vào ngày 27/5 Đứng hàng thứ ba là mức lãi suất cũng cực kỳ cao, 18.08%/năm vào ngày 11/06 của NH Phương Đông, những mức lãi suất của các NH còn lại dù không cao bằng nhưng vẫn giữ vào khoảng từ 15 đến 17%/năm Đây là giai đoạn lãi suất được nâng lên cao nhất trong năm, bước sang tháng 7 cơn sốt lãi suất đã bắt đầu hạ nhiệt

Trong tháng 7/2008, hàng loạt ngân hàng đã thực hiện hạ lãi suất huy động Lãi suất của Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn được điều chỉnh giảm nhẹ, theo đó mức lãi suất cao nhất là 18,8%/năm, giảm là 0,2% so với đỉnh 19%/năm trước đó (Phước Hà, 2008) Sang đến cuối tháng 9, Ngân hàng Quân đội giảm lãi suất từ 0,2-0,7%/năm, lãi suất huy động VNĐ tối đa của kỳ hạn 3 tháng chỉ còn 17,5%/năm Hay như Ngân hàng Đông Nam Á, một trong những ngân hàng tiên phong trong các cuộc đua tăng lãi suất huy động, thì nay kỳ hạn từ 1-6 tháng giảm xuống chỉ còn 17,28%-17,76%/năm, kỳ hạn 1 tuần-3 tuần còn 13,2%-15,6%/năm.Tại nhiều ngân hàng cổ phần khác, lãi suất cũng đã rút về phổ biến dưới 17%/năm (An Hạ, 2008) Mức lãi suất này được các NH duy trì cho đến hết tháng 9, sang đến tháng 10 các NH lại tiếp tục giảm lãi suất

Ngay sau cuộc họp giữa các thành viên hiệp hội ngân hàng chiều 8/10, Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam giảm mức lãi suất huy động ở các kỳ hạn dưới 3 tháng xuống còn 15%/năm, các kỳ hạn từ 3-12 tháng còn 16,5%/năm, trên 12 tháng đến

24 tháng từ 17%-17,3%/năm (An Hạ, 2008) Nối tiếp quyết định nhanh nhạy này của

NH Đầu tư và Phát triển Việt Nam, chiều ngày 20/10 Ngân hàng cổ phần Ngoại thương Việt Nam ban hành biểu lãi suất mới ngay sau khi Ngân hàng Nhà nước công bố một loạt quyết định mới về lãi suất và hỗ trợ thanh khoản cho các ngân hàng, theo đó mặt bằng lãi suất huy động của NH này đồng loạt giảm 1% Lãi suất huy động thấp nhất áp dụng cho kỳ hạn trên 12 tháng là 13,5%/năm, kế đó là kỳ hạn dưới 6 tháng 15%/năm, tiền gửi 12 tháng hưởng lãi cao nhất 15,5%/năm Bên cạnh đó các ngân hàng nhỏ cũng nhanh chóng điều chỉnh, song mặt bằng lãi suất vẫn khá cao Kỳ hạn một tháng tại Ngân hàng Đại Tín hiện là 17,64% một năm, 2-6 tháng là 18%/năm, 9-12 tháng tính lãi 17,4% một năm NH Kien Long tính lãi kỳ hạn 1-3 tháng ở mức 17,55%-17,64% một năm, 6-9 tháng lãi suất là17,4% một năm Sau đó một ngày, sáng ngày 21/10, khách hàng gửi số tiền dưới 100 triệu đồng kỳ hạn 1-2 tháng tại Ngân hàng TMCP Đông Nam Á chỉ được hưởng mức lãi suất 15,84% một năm thay cho mức cũ là 16,5% một năm Lãi suất kỳ

Trang 19

nhất, chỉ còn 12% một năm, thấp hơn trước 1,8 điểm phần trăm Riêng các kỳ hạn 15-24 tháng, ngân hàng tăng từ mức 10,02% một năm lên 10,2%-10,8% một năm so với trước

đó (Tần Vy và Song Linh, 2008) Vậy sau hai đợt giãm lãi, NH Đông Nam Á đã tuột từ đỉnh 19,2% xuống còn 15,84%

Chưa bao giờ lãi suất huy động vốn của các NH Việt Nam lại có nhiều biến động đến như vậy, vừa ở quí 2 lãi suất thi nhau tăng đến đỉnh điểm thì đến quí 3 lãi suất

đã có chiều hướng ngược lại khi lãi suất mỗi lúc một giảm rồi sang những tháng đầu của quí 4 lãi suất tuột dốc hoàn toàn Nhưng điểm đáng chú ý là việc tăng giảm lãi suất lại diễn ra một cách đồng loạt như một hiệu ứng Domino, chỉ cần một NH tăng lãi suất sẽ kéo theo các NH khác cùng tăng và cũng chỉ cần một NH giảm lãi suất thì đồng loạt các

NH công bố giảm theo Và nếu như vào ngày 21/10 chỉ có một NH giảm lãi suất thì đúng một tháng sau, ngày 21/11/2008, đồng loạt các ngân hàng giảm mạnh lãi suất

Từ đầu giờ sáng ngày 21/11, tại Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín trừ mức lãi suất đối với kỳ hạn 12 tháng tăng từ 10,92%/năm lên 11,04%/năm, các kỳ hạn còn lại, lãi suất đều giảm từ 0,54-1,56% Các kỳ gửi 1-2 tháng xuống còn 9,6 đến 9,12%, 3-

6 tháng lãi từ 10,32% đến 10,56%, 10 tháng còn 10,92% một năm (Tần Vy, 2008)

Cùng ngày Ngân hàng Phát triển nhà TP HCM áp dụng biểu lãi suất huy động mới Mức lãi suất cao nhất 14,86%/năm ở kỳ gửi 3 tháng nhà băng này đưa vào áp dụng cách đây 3 ngày đã được điều chỉnh giảm 2,84% còn 12,02%/năm Vẫn trong đợt điều chỉnh lãi suất này, Ngân hàng Kỹ thương Việt Nam bắt đầu tính lãi 12,5%/năm cho tất

cả các kỳ hạn gửi 3-12 tháng, mức lãi mới này đã giảm 0,7 đến 1,55% so với mức cũ Mức lãi suất kỳ hạn 1-2 tháng có mức giảm mạnh hơn, từ 1,55-1,75%, hiện còn 10,09-11,5% một năm Ngoài ra, Ngân hàng TMCP Phương Đông cũng điều chỉnh giảm lãi suất huy động VNĐ Mức giảm dao động từ 0,64%/năm đến 2,76%/năm, hiện tiền gửi

kỳ hạn một tháng được áp dụng là 10,5%, 2 tháng 11,5%, 3 tháng 12%, 6-9 tháng giảm còn 11%/năm Đối với tiền gửi 1, 2, 3 tuần, NH áp dụng mức lãi suất tương ứng 6%, 7%, 8%/năm Lãi suất kỳ hạn 12 tháng áp dụng cho sản phẩm tiết kiệm linh hoạt lãi suất giảm từ 11,04% còn 10% một năm (Tần Vy, 2008) Diễn biến cuộc đua lãi suất vào hai tháng 10 và 11 năm 2008 đã không còn sôi nổi khi các nhà băng điều giảm tốc độ mức lãi suất cao nhất trong thời điểm này chỉ còn 13,5%/năm có khi chỉ còn 11,04% sang đến tháng 12 cuộc đua lãi suất dần đến hồi kết thúc

Theo thống kê của NHNN, từ ngày 11 đến 17/12, lãi suất huy động của các ngân hàng thương mại đối với khách hàng tiếp tục giảm Lãi suất huy động VNĐ của khối ngân hàng thương mại quốc doanh phổ biến là 8,88%/năm (kỳ hạn 3 tháng), 9,13%/năm (kỳ hạn 6 tháng) và 10,25%/năm (kỳ hạn 12 tháng), khối ngân hàng TMCP có mức lãi suất huy động cao hơn, tương ứng với 9,98%/năm, 10,16%/năm và 10,44%/năm (Nguyễn Hiền, 2008)

Ngày 18/12, Ngân hàng TMCP Kỹ thương Việt Nam đã công bố giảm lãi suất huy động từ 0,3%-1%/năm so với trước, rút lãi suất kỳ hạn 1 tháng xuống còn 8,45%/năm, 3 tháng còn 9,2%/năm, 6 tháng còn 9,3%/năm, 12 tháng còn 9,5%/năm Cũng từ 18/12, Ngân hàng TMCP Quốc tế giảm lãi suất huy động từ 0,3-0,5%/năm, mặc dù vậy, đây là một trong những ngân hàng có mức lãi suất huy động tương đối cao

so với mặt bằng chung Cụ thể, lãi suất cao nhất đạt 10,5%/năm (12 tháng); các kỳ hạn 1 tháng, 2 tháng và 3 tháng tương ứng như sau: 9,2%/năm, 9,5%/năm và 10,2%/năm (Nguyễn Hiền, 2008)

Sang đến ngày 19/12, mức lãi suất huy động cao nhất tại NH Quân Đội chỉ còn 9%/năm đối với kỳ hạn 12 tháng và 24 tháng, tức là giảm 1%-1,5% so với trước Các kỳ hạn còn lại dao động ở mức 8%-8,33%/năm Dù điều chỉnh lãi suất huy động nhỉnh hơn

Ngày đăng: 28/02/2021, 19:47

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w