Nguồn vốn để phát triển kinh tế có thể được huy động ở trong nước hoặc từ nước ngoài, tuy nhiên nguồn vốn trong nước thường có hạn, nhất là đối với những nước đang phát triển như Việt Na
Trang 1ĐẠI HỌC AN GIANG KHOA KINH TẾ - QUẢN TRỊ KINH DOANH
Trang 2ĐẠI HỌC AN GIANG KHOA KINH TẾ - QUẢN TRỊ KINH DOANH
Trang 3Mục Lục
Chương 1: Phần mở đầu: 4
1.1 Cơ sở hình thành đề tài: 4
1.2 Mục tiêu nghiên cứu: 4
1.3 Phạm qui nghiên cứu: 4
1.4 Ý nghĩa: 4
Chương 2 : Cơ sở lý luận: 5
2.1 Khái niệm: 5
2.2 Đặc điểm: 5
2.3 Phân loại FDI: 6
2.3.1 Theo hình thức thâm nhập (Quốc tế): 6
2.3.2 Theo quy định của pháp luật Việt Nam: 7
2.4 Những nhân tố thúc đẩy đầu tư trực tiếp nước ngoài: 7
Chương 3: Vai Trò Đầu Tư Trực Tiếp Nước Ngoài đến sự phát triển kinh tế xã hội tại Việt Nam: 10
3.1 Tình hình đầu tư trực tiếp nước ngoài vào một số quốc gia trên thế giới đến trong giai đoạn 2005-2010: 10
3.2 Đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam và vai trò của vốn đầu tư nước ngoài đối với nền kinh tế: 11
3.2.1 Tổng quan nguồn vốn FDI tại Việt Nam giai đoạn 2005-2010: 11
3.2.1.1 Tình hình đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam: 11
3.2.1.2 Đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam theo vốn đầu tư toàn xã hội giai đoạn 2005-2010: 12
3.2.1.3 Một số đặc điểm của FDI tại Việt Nam: 13
3.2.2 Vai trò của khu vực FDI với nền kinh tế Việt Nam: 18
3.2.2.1 FDI đối với vốn đầu tư xã hội và tăng trưởng kinh tế: 18
3.2.2.2 FDI với việc nâng cao năng lực sản xuất công nghiệp và xuất nhập khẩu: 19
3.2.2.3 FDI đối với việc làm và cải thiện nguồn nhân lực: 22
3.2.2.4 FDI với nguồn thu ngân sách Nhà nước và chuyển giao công nghệ : 23
3.2.3 Nhìn nhận vốn FDI với mô hình kinh tế: 25
3.3 Một số vấn đề khó khăn cần khắc phục: 25
Trang 43.4 Giải pháp nâng cao thu hút FDI vào Việt Nam: 26
Chương 4: Kết luận và Kiến nghị: 27
4.1 Kết luận: 27
4.2 Kiến nghị: 27
Trang 5Danh Mục Các Biểu
Biểu 3.1: Top 10 quốc gia có vốn FDI cao trong khu vực Nam, Đông, Đông Nam Á
trong giai đoạn 2005-2010: 10
Biểu 3.2: Đầu tư trực tiếp nước ngoài được cấp phép năm 2005-2010: 12
Biểu 3.3: Vốn đầu tư toàn xã hội thực hiện năm 2005-2010: 13
Biểu 3.4: Cơ cấu FDI phân theo ngành năm 2005-2010: 14
Biểu 3.5: FDI theo địa bàn đầu tư năm 2005-2010: 15
Biểu 3.6: Phân theo một số nước và vùng lãnh thổ giai đoạn 2005-2010: 17
Biểu 3.7: Lao động đang làm việc trong các khu vực kinh tế: 23
Danh Mục Các Đồ Thị Đồ thị 3.1: FDI thực hiện so với tổng đầu tư toàn xã hội và đóng góp của khu vực có vốn đầu tư nước ngoài trong GDP (giá hiện hành) giai đoạn 2005-2010: 18
Đồ thị 3.2: Tốc độ tăng sản xuất công nghiệp giai đoạn 2005-2010: 19
Đồ thị 3.3: Tỷ trọng đóng góp vào giá trị Xuất Khẩu phân theo khu vực kinh tế năm 2005-2010: 21
Đồ thị 3.4: Tỷ trọng đóng góp vào giá trị Nhập Khẩu phân theo khu vực kinh tế năm 2005-2010: 22
Đồ thị 3.5: Cơ cấu thu ngân sách giai đoạn 2000-2010: 24
Các Từ Viết Tắt
FDI: đầu tư trực tiếp nước ngoài
IMF: quỹ tiền tệ quốc tế
Trang 6Chương 1: Phần mở đầu
1.1 Cơ sở hình thành đề tài
Đối với bất kỳ một quốc gia nào, dù là nước phát triển hay đang phát triển thì để phát triển đều cần có vốn để tiến hành các hoạt động đầu tư tạo ra tài sản mới cho nền kinh tế Nguồn vốn để phát triển kinh tế có thể được huy động ở trong nước hoặc
từ nước ngoài, tuy nhiên nguồn vốn trong nước thường có hạn, nhất là đối với những nước đang phát triển như Việt Nam.Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đã được nhìn nhận như là một trong những “trụ cột” để tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam Vai trò của FDI được thể hiện rất rõ qua việc đóng góp vào các yếu tố quan trọng của tăng trưởng như bổ sung nguồn vốn đầu tư, đẩy mạnh xuất khẩu, chuyển giao công nghệ, phát triển nguồn nhân lực và tạo việc làm, đóng góp tích cực vào tạo nguồn thu ngân Nhờ có sự đóng góp quan trọng của FDI mà Việt Nam đã đạt được tốc độ tăng trưởng kinh tế cao trong nhiều năm qua Trong Đại hội lần thứ IX của Đảng ta đã coi kinh tế có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài là một thành phần kinh tế, là một bộ phận cấu thành của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, được khuyến khích phát triển, hướng vào xuất khẩu, xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế- xã hội, gắn với thu hút công nghệ hiện đại, tạo thêm nhiều việc làm và đề ra nhiệm vụ cải thiện nhanh môi trường kinh tế và pháp lý để thu hút mạnh nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đối với chiến lược phát triển KT-XH của cả nước
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
- Phân tích tình hình FDI ở một số quốc gia trên thế giới
- Tác động của nguồn vốn FDI đến nền kinh tế xã hội tại Việt Nam
- Một số vấn đề cần khắc phục và giải pháp để thu hút nguồn vốn FDI
1.3 Phạm vi nghiên cứu
Kinh tế xã hội Việt Nam từ giai đoạn năm 2005 đến 2010
1.4 Ý nghĩa
Kết quả nghiên cứu cho ta thấy vai trò của FDI đến nền kinh tế xã hội và sử dụng
FDI có những thuận lợi và khó khăn gì cho nền kinh tế Việt Nam
Trang 7Chương 2: Cơ sở lý luận
2.1 Khái niệm
- Theo nguồn quốc tế của quỹ tiền tệ quốc tế (IMF): Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI)
là một hoạt động đầu tư được thực hiện nhằm đạt được những lợi ích lâu dài trong một doanh nghiệp hoạt động trên lãnh thổ của một nền kinh tế khác nền kinh tế nước chủ đầu
tư, mục đích của chủ đầu tư là giành quyền quản lý thực sự doanh nghiệp
- Theo nguồn Luật đầu tư năm 2005 mà quốc hội khoá XI Việt Nam đã thông qua có các khái niệm về “đầu tư”, “đầu tư trực tiếp”, “đầu tư nước ngoài”, “đầu tư ra nước ngoài nhưng không có khái niệm “đầu tư trực tiếp nước ngoài” Tuy nhiên, có thể “gộp” các khái niệm trên lại và có thể hiểu FDI là hình thức đầu tư do nhà đầu nước ngoài bỏ vốn đầu tư và tham gia quản lý hoạt động đầu tư ở Việt Nam hoặc nhà đầu tư Việt Nam
bỏ vốn đầu tư và tham gia quản lý hoạt động đầu tư ở nước ngoài theo quy định của luật này và các quy định khác của pháp luật có liên quan”
Các chủ đầu tư nước ngoài phải đóng góp một tỷ lệ vốn tối thiểu trong vốn pháp định hoặc vốn điều lệ tùy theo quy định của luật pháp từng nước để giành quyền kiểm soát hoặc tham gia kiểm soát doanh nghiệp nhận đầu tư Luật các nước thường quy định không giống nhau về vấn đề này Luật Mỹ quy định tỷ lệ này là 10%, Pháp và Anh là 20%, Việt Nam theo luật hiện hành là 30% (điều 8 Luật ĐTNN 1996), trừ những trường hợp do Chính phủ quy định thì nhà đầu tư nước ngoài có thể góp vốn với tỉ lệ thấp hơn nhưng không dưới 20% (Điều 14 mục 2 Nghị định 24/2000 NĐ-CP)
Tỷ lệ đóng góp của các bên trong vốn điều lệ hoặc vốn pháp định sẽ quy định quyền
và nghĩa vụ của mỗi bên, đồng thời lợi nhuận và rủi ro cũng được phân chia dựa vào tỷ
lệ này Theo Luật đầu tư nước ngoài của Việt Nam, trong doanh nghiệp liên doanh, các bên chỉ định người của mình tham gia vào Hội đồng quản trị theo tỷ lệ tương ứng với phần vốn góp vào vốn pháp định của liên doanh
Thu nhập mà chủ đầu tư thu được phụ thuộc vào kết quả kinh doanh của doanh nghiệp mà họ bỏ vốn đầu tư, nó mang tính chất thu nhập kinh doanh chứ không phải lợi tức
Chủ đầu tư tự quyết định đầu tư, quyết định sản xuất kinh doanh và tự chịu trách nhiệm về lỗ lãi Nhà đầu tư nước ngoài được quyền tự lựa chọn lĩnh vực đầu tư, hình thức đầu tư, thị trường đầu tư, quy mô đầu tư cũng như công nghệ cho mình, do đó sẽ tự
Trang 8đưa ra những quyết định có lợi nhất cho họ Vì thế, hình thức này mang tính khả thi và hiệu quả kinh tế cao, không có những ràng buộc về chính trị, không để lại gánh nặng nợ nần cho nền kinh tế nước nhận đầu tư
FDI thường kèm theo chuyển giao công nghệ cho các nước tiếp nhận đầu tư Thông qua hoạt động FDI nước chủ nhà có thể tiếp nhận được công nghệ, kĩ thuật Ví dụ trong lĩnh vực bưu chính viễn thông của Việt Nam, hầu hết công nghệ mới trong lĩnh vực này
có được nhờ chuyển giao công nghệ từ nước ngoài
2.3 Phân loại FDI
2.3.1 Theo hình thức thâm nhập (Quốc tế)
Hai hình thức chủ yếu là Greenfield Investment (GI) và Cross-border Merger and Acquisition (M&A)
Đầu tư mới (Greenfield Investment): là hoạt động đầu tư trực tiếp vào các cơ sở sản xuất kinh doanh hoàn toàn mới ở nước ngoài, hoặc mở rộng một cơ sở sản xuất kinh doanh đã tồn tại
Mua lại và sáp nhập qua biên giới (M&A: Cross-border Merger and Acquisition): Mua lại và sáp nhập qua biên giới là một hình thức FDI liên quan đến việc mua lại hoặc hợp nhất với một doanh nghiệp nước ngoài đang hoạt động
Hai thuật ngữ mua lại và sáp nhập có gì khác nhau không? Theo Luật cạnh tranh mới thông qua tháng 12 năm 2004 và có hiệu lực từ ngày 1 tháng 7 năm 2005, điều 17, có đưa ra khái niệm rõ hơn về mua lại và sáp nhập như sau:
Sáp nhập doanh nghiệp là việc một hoặc một số doanh nghiệp chuyển toàn bộ tài sản,
quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp của mình sang một doanh nghiệp khác, đồng thời chấm dứt sự tồn tại của doanh nghiệp bị sáp nhập
Hợp nhất doanh nghiệp là việc hai hoặc nhiều doanh nghiệp chuyển toàn bộ tài sản,
quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp của mình để hình thành một doanh nghiệp mới, đồng thời chấm dứt sự tồn tại của các doanh nghiệp bị hợp nhất
Mua lại doanh nghiệp là việc một doanh nghiệp mua toàn bộ hoặc một phần tài sản của
doanh nghiệp khác đủ để kiểm soát, chi phối toàn bộ hoặc một ngành nghề của doanh nghiệp bị mua lại
Liên doanh giữa các doanh nghiệp là việc hai hoặc nhiều doanh nghiệp cùng nhau góp
một phần tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp của mình để hình thành một doanh nghiệp mới
Các hình thức của sáp nhập
Sáp nhập theo chiều ngang: là hình thức sáp nhập diễn ra giữa các công ty trong
cùng một ngành kinh doanh (hay có thể nói là giữa các đối thủ cạnh tranh)
Sáp nhập theo chiều dọc: là hình thức sáp nhập của các công ty khác nhau trong
cùng một dây chuyền sản xuất ra sản phẩm cuối cùng Có 2 dạng sáp nhập theo chiều dọc là: Backward: Liên kết giữa nhà cung cấp và công ty sản xuất, Forward: Liên kết
Trang 9giữa công ty sản xuất và nhà phân phối Sáp nhập theo chiều dọc diễn ra nhiều trong lĩnh vực dầu mỏ
Sáp nhập hỗn hợp (conglomerate): là hình thức sáp nhập giữa các công ty kinh
doanh trong các lĩnh vực khác nhau Mục tiêu của những vụ sáp nhập như vậy là đa dạng hóa, và chúng thường thu hút sự chú ý của những công ty có lượng tiền mặt lớn
2.3.2 Theo quy định của pháp luật Việt Nam
Theo dự thảo Nghị định hướng dẫn chi tiết thi hành luật đầu tư năm 2005 của Việt Nam, có các hình thức FDI tại Việt Nam như sau (Điều 21):
Thành lập tổ chức kinh tế 100% vốn của nhà đầu tư nước ngoài
Thành lập tổ chức kinh tế liên doanh giữa các nhà đầu tư trong nước và nhà đầu tư nước ngoài
Đầu tư theo các hình thức hợp đồng
Đầu tư phát triển kinh doanh
Mua cổ phần hoặc góp vốn để tham gia quản lý hoạt động đầu tư
Đầu tư thực hiện việc sáp nhập và mua lại doanh nghiệp
Các hình thức đầu tư trực tiếp khác
2.4 Những nhân tố thúc đẩy đầu tư trực tiếp nước ngoài
Một là, Chênh lệch về năng suất cận biên của vốn giữa các nước
Helpman và Sibert, Richard S Eckaus cho rằng có sự khác nhau về năng suất cận biên (số có thêm trong tổng số đầu ra mà một nhà sản xuất có được do dùng thêm một đơn vị của yếu tố sản xuất) của vốn giữa các nước Một nước thừa vốn thường có năng suất cận biên thấp hơn Còn một nước thiếu vốn thường có năng suất cận biên cao hơn Tình trạng này sẽ dẫn đến sự di chuyển dòng vốn từ nơi dư thừa sang nơi khan hiếm nhằm tối đa hóa lợi nhuận Vì chi phí sản xuất của các nước thừa vốn thường cao hơn các nước thiếu vốn Tuy nhiên như vậy không có nghĩa là tất cả những hoạt động nào có năng suất cận biên cao mới được các doanh nghiệp tự sản xuất mà cũng có những hoạt động quan trọng, là sống còn của doanh nghiệp thì họ vẫn tự sản xuất cho dư hoạt động
đó cho năng suất cận biên thấp
Hai là, Chu kỳ sản phẩm
Đối với hầu hết các doanh nghiệp tham gia kinh doanh quốc tế thì chu kì sống của các sản phẩm này bao gồm 3 giai đoạn chủ yếu là: giai đoạn sản phẩm mới; giai đoạn sản phẩm chín muồi; giai đoạn sản phẩm chuẩn hóa Akamatsu Kaname (1962) cho rằng sản phẩm mới, ban đầu được phát minh và sản xuất ở nước đầu tư, sau đó mới được xuất khẩu ra thị trường nước ngoài Tại nước nhập khẩu, ưu điểm của sản phẩm mới làm nhu cầu trên thị trường bản địa tăng lên, nên nước nhập khẩu chuyển sang sản xuất để thay thế sản phẩm nhập khẩu này bằng cách chủ yếu dựa vào vốn, kỹ thụât của nước ngoài (giai đoạn sản phẩm chín muồi) Khi nhu cầu thị trường của sản phẩm mới trên thị trường trong nước bão hòa, nhu cầu xuất khẩu lại xuất hiện(giai đoạn sản phẩm chuẩn hóa) Hiện tượng này diễn ra theo chu kỳ và do đó dẫn đến sự hình thành FDI
Trang 10Raymond Vernon (1966) lại cho rằng khi sản xuất một sản phẩm đạt tới giai đoạn chuẩn hóa trong chu kỳ phát triển của mình cũng là lúc thị trường sản phẩm này có rất nhiều nhà cung cấp Ở giai đoạn này, sản phẩm ít được cải tiến, nên cạnh tranh giữa các nhà cung cấp dẫn tới quyết định giảm giá và do đó dẫn tới quyết định cắt giảm chi phí sản xuất Đây là lý do để các nhà cung cấp chuyển sản xuất sản phẩm sang những nước cho phép chi phí sản xuất thấp hơn
Ba là, Lợi thế đặc biệt của các công ty đa quốc gia
Stephen H Hymes (1960, công bố năm 1976), John H Dunning (1981), Rugman A
A (1987) và một số người khác cho rằng các công ty đa quốc gia có những lợi thế đặc thù (chẳng hạn năng lực cơ bản) cho phép công ty vượt qua những trở ngại về chi phí ở nước ngoài nên họ sẵn sàng đầu tư trực tiếp ra nước ngoài Khi chọn địa điểm đầu tư, những công ty đa quốc gia sẽ chọn nơi nào có các điều kiện (lao động, đất đai, chính trị) cho phép họ phát huy các lợi thế đặc thù nói trên Những công ty đa quốc gia thường có lợi thế lớn về vốn và công nghệ đầu tư ra các nước sẵn có nguồn nguyên liệu, giá nhân công rẻ và thường là thị trường tiêu thụ tiềm năng ta dễ dàng nhận ra lợi ích của việc này
Bốn là, Tiếp cận thị trường và giảm xung đột thương mại
Đầu tư trực tiếp ra nước ngoài là một biện pháp để tránh xung đột thương mại song phương Ví dụ, Nhật Bản hay bị Mỹ và các nước Tây Âu phàn nàn do Nhật Bản
có thặng dư thương mại còn các nước kia bị thâm hụt thương mại trong quan hệ song phương Đối phó, Nhật Bản đã tăng cường đầu tư trực tiếp vào các thị trường đó Họ sản xuất và bán ô tô, máy tính ngay tại Mỹ và châu Âu, để giảm xuất khẩu các sản phẩm này
từ Nhật Bản sang Họ còn đầu tư trực tiếp vào các nước thứ ba, và từ đó xuất khẩu sang thị trường Bắc Mỹ và châu Âu
Năm là, Khai thác chuyên gia và công nghệ
Không phải FDI chỉ đi theo hướng từ nước phát triển hơn sang nước kém phát triển hơn Chiều ngược lại thậm chí còn mạnh mẽ hơn nữa Nhật Bản là nước tích cực đầu tư trực tiếp vào Mỹ để khai thác đội ngũ chuyên gia ở Mỹ Ví dụ, các công ty ô tô của Nhật Bản đã mở các bộ phận thiết kế xe ở Mỹ để sử dụng các chuyên gia người Mỹ Các công
ty máy tính của Nhật Bản cũng vậy Không chỉ Nhật Bản đầu tư vào Mỹ, các nước công nghiệp phát triển khác cũng có chính sách tương tự Trung Quốc gần đây đẩy mạnh đầu
tư trực tiếp ra nước ngoài, trong đó có đầu tư vào Mỹ Việc công ty đa quốc gia quốc tịch Trung Quốc là Lenovo mua bộ phận sản xuất máy tính xách tay của công ty đa quốc gia mang quốc tịch Mỹ là IBM được xem là một chiến lược để Lenovo tiếp cận công nghệ sản xuất máy tính ưu việt của IBM Hay việc TCL (Trung Quốc) trong sáp nhập với Thompson (Pháp) thành TCL-Thompson Electroincs, việc National Offshore Oil Corporation (Trung Quốc) trong ngành khai thác dầu lửa mua lại Unocal (Mỹ) cũng với chiến lược như vậy
Sáu là, Tiếp cận nguồn tài nguyên thiên nhiên
Để có nguồn nguyên liệu thô, nhiều công ty đa quốc gia tìm cách đầu tư vào những nước có nguồn tài nguyên phong phú Làn sóng đầu tư trực tiếp ra nước ngoài lớn đầu
Trang 11tiên của Nhật Bản vào thập niên 1950 là vì mục đích này FDI của Trung Quốc hiện nay cũng có mục đích tương tự
Trang 12Chương 3: Vai Trò Đầu Tư Trực Tiếp Nước Ngoài đến sự phát triển
kinh tế xã hội tại Việt Nam
3.1 Tình hình đầu tư trực tiếp nước ngoài vào một số quốc gia trên thế giới trong giai đoạn 2005-2010
Khu vực Nam, Đông, Đông Nam Á là một trong những khu vực năng động trên thế giới với nhiều quốc gia đang phát triển, nên lượng vốn FDI tập trung đổ vào khu vực này cũng càng ngày tăng
Biểu 3.1: Top 10 quốc gia có vốn FDI cao trong khu vực Nam, Đông, Đông Nam Á
trong giai đoạn 2005-2010
Hong Kong, China 35,7 43,1 59,9 60 48 53
(Nguồn: báo cáo đầu tư thế giới)
Dựa vào bảng số liệu ta có thể chia thành ba giai đoạn để phân tích:
Giai đoạn 2005-2008: Trung Quốc và Hồng Kông (Trung Quốc) là hai quốc gia giữ
vị trí đầu là người nhận FDI lớn nhất trong khu vực, tiếp theo là Singapore, Ấn Độ, Thái Lan Trung Quốc trung bình thu hút 82,425 tỷ USD, Hồng Kông (Trung Quốc) thu hút 50,175 tỷ USD FDI, Singapore 18,325 tỷ USD, và Ấn Độ 21,65 tỷ USD, Thái Lan 9,425
Trang 13tỷ USD, FDI đã tăng liên tục qua trong giai đoạn này làm cho khu vực này ngày càng thu hút FDI "chất lượng cao" nhằm mục đích cao giá trị gia tăng và các hoạt động tri thức, ở Việt Nam nguồn vốn này góp phần vào tăng trưởng kinh tế như xây dựng nhà máy sản xuất, các trung tâm công nghiệp… Ở Trung Quốc, FDI trong lĩnh vực sản xuất
đã được chuyển dịch theo hướng công nghệ tiên tiến hơn Airbus có kế hoạch để xây dựng một dây chuyền lắp ráp máy bay A320 ở Trung Quốc… FDI vào khu vực Nam, Đông và Đông Nam Á vẫn tập trung vào công nghiệp và dịch vụ là chủ yếu vì hai lĩnh vực này giúp nhà đầu tư đạt lợi nhuận cao, tận dụng nguồn nhân công dồi dào ở các
nước đang phát triển như: Việt Nam, India, Malaysia…
Giai đoạn 2008-2009: trong giai đoạn này FDI vào khu vực này giảm, Trung quốc
giảm 13 tỷ USD, Hồng Kông giảm 12 tỷ USD, tiếp theo là Sigapore, Ấn Độ, Thái Lan
và một số quốc gia trong Top 10 Nguyên nhân làm giảm lượng FDI vào khu vực là do cuộc khủng hoảng toàn cầu xảy ra năm 2008 đã làm ảnh hưởng lớn đến nguồn tài chính thế giới để nhiều hậu quả kinh tế khiến các quốc gia bị giảm lượng FDI đầu tư vào khu vực này Việt Nam là quốc gia vừa được vào Top 10 vào năm 2006 nhưng cũng đã giữ vững được vị trí sau khủng hoảng
Giai đoạn 2009-2010: sau cuộc khủng hoảng thì kinh tế toàn cầu bắt đầu tăng trở lại
và khu vực Nam, Đông, Đông Nam Á lượng vốn FDI đã đầu tư trở lại, giữ vị trí đầu vẫn
là Trung Quốc, Hồng Kông trung bình tăng 3-4 tỷ USD, tiếp theo là các quốc gia như Thái Lan, Ấn Độ, Sigapore trung bình tăng 1-2 tỷ USD
Nhìn chung, đầu tư trực tiếp nước ngoài giảm hay tăng do kết hợp hai nhân tố:
- Một là, khả năng đầu tư của các công ty bị giảm sút do khả năng tài chính cũng như lợi nhuận của các công ty sụt giảm
- Hai là, môi trường kinh tế bên trong và bên ngoài giảm sút cũng ảnh hưởng đến xu hướng đầu tư của các công ty
3.2 Đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam và vai trò của vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đối với nền kinh tế
3.2.1 Tổng quan nguồn vốn FDI tại Việt Nam giai đoạn 2005-2010
3.2.1.1 Tình hình đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam
Từ khi ban hành Luật đầu tư năm 1986 cho đến nay Việt Nam đã nhận được rất nhiều dự án đầu tư từ nguồn vốn đầu tư FDI tạo nên nhiều quy mô công nghiệp, giải quyết phần lớn lực lượng lao động từ khu vực đầu tư trực tiếp nước ngoài, tuy nhiên nguồn vốn FDI vào Việt Nam qua nhiều năm thường không ổn định có nhiều diễn biến tăng giảm bất thường
Trang 14Biểu 3.2: Đầu tư trực tiếp nước ngoài được cấp phép năm 2005-2010
Năm Vốn đăng ký (Triệu USD) thực hiện (Triệu USD) Tổng số vốn Số dự án
- Giai đoạn 2008- 2010: này FDI đăng ký giảm trung bình khoảng 1334 dự án và
37811 triệu USD vốn đầu tư mỗi năm, trong khi đó vốn giải ngân tương đối cao khoảng
10833 triệu USD vốn đầu tư mỗi năm Nguyên nhân là do cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu năm 2008 đã tác động đến các nhà đầu tư khiến họ lo ngại làm giảm lượng vốn
đăng ký dẫn đến vốn giải ngân cũng giảm
3.2.1.2 Đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam theo vốn đầu tư toàn xã hội giai đoạn 2005-2010
Nhìn chung trong ba khu vực kinh tế thì khu vực kinh tế nhà nước có tỷ trọng cao nhất trung bình 27,32%/năm, khu vực ngoài nhà nước 24,97%/năm, khu vực có vốn đầu
tư trực tiếp nước ngoài 14,38%/năm Tuy khu vực có vốn FDI đóng góp không nhiều vào tỷ trọng nhưng cũng đã đóng góp một phần vào quá trình thúc đẩy tăng trưởng kinh
tế
Trang 15Biểu 3.3: Vốn đầu tư toàn xã hội thực hiện năm 2005-2010
ĐVT: %
Năm Tổng số Nhà nước Kinh tế Kinh tế ngoài nhà nước
Khu vực có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài
- Giai đoạn 2008-2010: cuộc khủng hoảng kinh tế năm 2008 đã làm các nhà đầu tư nước ngoài giảm vốn đầu tư dẫn đến khu vực có vốn FDI giảm trung bình 4-5%/năm, tuy nhiên trong năm 2010 nền kinh tế cũng bắt đầu tăng trưởng trở lại khu vực có vốn FDI cũng tăng trở lạ khoảng 0,1% so với năm 2009
3.2.1.3 Một số đặc điểm của FDI tại Việt Nam
- Về qui mô vốn trên một dự án: Nhìn chung các dự án FDI vào Việt Nam đều có qui
mô vừa và nhỏ, trung bình cho cả giai đoạn 1988-2010 chỉ ở mức 11,11 triệu USD/dự
án Đáng chú ý, sau khi đạt mức 27 triệu USD/dự án vào năm 2002 trở lại đây quy mô vốn của dự án ngày càng nhỏ, chỉ ở mức dưới 5 triệu USD/dự án và đến năm 2008 còn 2,17 triệu USD/dự án, nhưng đã tăng lên thành 7 triệu USD/dự án trong năm 2009
- Về hình thức sở hữu: Hạn chế thành lập doanh nghiệp FDI với 100% vốn đầu tư
nước ngoài, các dự án FDI đăng ký ở Việt Nam cho đến giữa thập kỷ 90 chủ yếu dưới hình thức liên doanh giữa doanh nghiệp nhà nước và nhà đầu tư nước ngoài Tính đến cuối năm 1998, số dự án liên doanh chiếm tới 59 % tổng số dự án và 69% tổng số vốn đăng ký Từ năm 1997, hạn chế này đã được xóa bỏ và tác động mạnh tới chuyển dịch
cơ cấu số dự án FDI theo hình thức sở hữu Hiện tại, hình thức liên doanh giảm xuống còn chiếm 42,5% tổng vốn đăng ký, trong khi hình thức dự án có 100% vốn nước ngoài chiếm 45,5%, còn lại là dự án và hợp đồng hợp tác kinh doanh Trong các dự án liên