Trang bị cho sinh viên những kiến thức cần thiết về các nguồn lực phát triển kinh tế, về cơ cấu kinh tế và hệ thống không gian nền kinh tế, về vai trò đặc điểm và tổ chức sản xuất các ng
Trang 1LỜI NÓI ĐẦU
Địa lý kinh tế - xã hội Việt Nam là một môn học có tầm quan trọng đặc biệt trong chương trình đào tạo sinh viên Địa lý của các trường Cao đẳng và Đại học sư phạm ở nước ta Tính chất quan trọng của nó được thể hiện trước nhất là sự hiểu biết của sinh viên về Việt Nam, đất nước, con người, trên cơ sở sinh viên đã được học tập những vấn đề chung về lý luận cũng như chuyên ngành Địa lý Thứ hai, đây là môn học cuối cấp trong chương giáo dục Trung học cơ sở cũng như Trung học phổ thông Sinh viên
ra trường, sẽ phải dạy môn học này ở chương trình địa lý lớp 9 và lớp 12 Phần kỹ năng thực hành về biểu đồ, bản đồ… cũng là một kiến thức vô cùng quan trọng giúp sinh viên có thể tự tin khi đứng lớp cũng như bồi dưỡng học sinh giỏi về Địa lý theo yêu cầu của trường
Nhằm tạo điều kiện cho sinh viên có cơ sở nghiên cứu thuận lợi học phần Địa lý kinh tế - xã hộiViệt Nam, tài liệu giảng dạy được biên soạn với mục tiêu chủ yếu là cung cấp cho sinh viên những kiến thức cơ bản về đối tượng, nhiệm vụ phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu địa lý kinh tế xã hội Nắm được các khái niệm cơ bản, quy luật chung và bức tranh toàn cảnh trong việc sử dụng tài nguyên thiên nhiên, môi trường cũng như về địa lý dân cư, quần cư Trang bị cho sinh viên những kiến thức cần thiết về các nguồn lực phát triển kinh tế, về cơ cấu kinh tế và hệ thống không gian nền kinh tế, về vai trò đặc điểm và tổ chức sản xuất các ngành kinh tế chủ yếu: nông - lâm - ngư nghiệp, công nghiệp và dịch vụ Việt Nam, trong đó chú ý đến các vấn đề lý luận mới để soi sáng thực tiễn nước ta, trên cơ sở chương trình khung, dựa vào nhiều tài liệu có liên quan và cập nhật theo những số liệu gần đây nhất
Về nội dung, giáo trình bao gồm 6 chương:
Chương 1 Đối tượng, nhiệm vụ và phương pháp nghiên cứu Địa lý kinh tế - xã hội Chương 2 Việt Nam qua các chặng đường phát triển và các nguồn lực phát triển
kinh tế- xã hội
Chương 3 Địa lý nông nghiệp
Chương 4 Địa lý công nghiệp
Chương 5 Địa lý dịch vụ
Chương 6 Những vấn đề phát triển kinh tế xã hội của các vùng
Ngoài phần lý thuyết, trong tài liệu còn có các câu hỏi cuối chương, các phần thực hành nhằm góp phần củng cố kiến thức và rèn kỹ năng địa lý cần thiết cho sinh viên Mong muốn của người biên soạn là giúp cho sinh viên dễ dàng nắm bắt kiến thức, hiểu rõ hơn về đất nước con người Việt Nam, đánh giá được những thuận lợi khó khăn cũng như các kết quả đạt được trong quá trình đổi mới và hội nhập quốc tế
An Giang ngày 15 tháng 5 năm 2011
Người biên sọan
Lê Thị Ngọc Linh
Trang 2Hình 1 Lược đồ vị trí Việt Nam trong Đông Nam Á
(Nguồn: Tập bản đồ Địa lý 12)
Trang 3CHƯƠNG 1 ĐỐI TƯỢNG, NHIỆM VỤ VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN
CỨU ĐỊA LÝ KINH TẾ - XÃ HỘI
Mỗi một khoa học đều có một đối tượng nghiên cứu cụ thể Địa lý kinh tế - xã hội cũng là một khoa học độc lập, có đối tượng nghiên cứu rõ ràng Tuy nhiên, do nhận thức không giống nhau về vị trí của Địa lý kinh tế - xã hội trong hệ thống các khoa học mà các quan niệm cơ bản về đối tượng, nhiệm vụ nghiên cứu cũng rất khác nhau
Từ thập kỷ 70 của thế kỷ trước trở lại đây, có sự nhất quán về quan niệm giữa các nhà khoa học, Địa lý kinh tế - xã hội được xem là khoa học nghiên cứu sự hình thành, phát triển và điều khiển các hệ thống kinh tế - xã hội theo lãnh thổ được xây dựng trên bề mặt đất nước như là sự phản ánh phân công lao động xã hội Từ đó, có sự thống nhất
về nhiệm vụ, phương pháp nghiên cứu cũng như quan điểm nghiên cứu
1 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
Thời gian và không gian là hai hình thức cơ bản của vật chất Các quá trình kinh tế
- xã hội đều diễn biến theo thời gian và không gian nhất định Các quá trình này được biểu hiện dưới hình thức không gian bằng các hệ thống lãnh thổ kinh tế - xã hội rất đa dạng và phức tạp
Địa lý kinh tế - xã hội là một môn khoa học xã hội và kinh tế, nghiên cứu sự hình thành và phát triển các hệ thống lãnh thổ kinh tế - xã hội nói chung và nghiên cứu những điều kiện, đặc điểm phát triển kinh tế - xã hội của từng vùng, từng nước nói riêng, từ đó làm cơ sở cho tổ chức không gian (lãnh thổ) hợp lí các hoạt động kinh tế -
xã hội phù hợp với nguồn lực phát triển của một vùng hay một quốc gia
Hình 1.1 Sơ đồ hệ thống khoa học địa lý kinh tế - xã hội bao gồm các phân ngành
Địa lí quan hệ quốc tế
Địa lí giao thông vận tải
Địa lí sinh thái
Địa lí xã hội Địa lí dân cư
Địa lí dân tộc Địa lí dịch vụ Địa lí du lịch Địa lí kinh tế Địa lí công nghiệp Địa lí nông nghiệp
Trang 42 NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU CỦA ĐỊA LÝ KINH TẾ - XÃ HỘI VIỆT NAM
Trong giai đoạn hiện nay, khoa học địa lý kinh tế - xã hội Việt Nam tập trung nghiên cứu các vấn đề sau đây:
Một là, đánh giá đúng đắn nguồn lực các vùng trong cả nước cùng với quá trình
khai thác và sử dụng chúng Đánh giá thực trạng và định hướng phát triển phân công lao động xã hội theo lãnh thổ Việt Nam, khả năng hội nhập của Việt Nam vào tiến trình phân công lao động khu vực và quốc tế
Hai là, tham gia nghiên cứu quá trình hình thành tổ chức lãnh thổ kinh tế - xã hội
của các vùng và cả nước (phân vùng kinh tế, phân bố lực lượng sản xuất, quy hoạch lãnh thổ Việt Nam,…) Hoạch định các chính sách và chiến lực quốc gia những chuyển dịch cơ cấu kinh tế lãnh thổ mạnh mẽ và có hiệu quả theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Ba là, nghiên cứu phương pháp luận, phương pháp phân vùng và huy hoạch tổng
thể kinh tế - xã hội, phân bố lực lượng sản xuất của Việt Nam và kinh nghiệm của các nước
3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU – QUAN ĐIỂM NHIÊN CỨU
Địa lý kinh tế - xã hội là một môn khoa học mang tính tổng hợp cao, bao gồm nghiên cứu tự nhiên, kinh tế và xã hội trong mối quan hệ tương hỗ chặt chẽ Cơ sở phương pháp luận của khoa học này là duy vật biện chứng
3.1 Quan điểm chủ yếu trong nghiên cứu địa lý – kinh tế
3.1.1 Quan điểm tiếp cận hệ thống và tổng hợp
Đối tượng nghiên cứu của Địa lý kinh tế - xã hội khá rộng lớn, liên quan đến nhiều vấn đề, nhiều khía cạnh có quy mô và bản chất khác nhau, nhưng lại tương tác chặt chẽ với nhau.Vì vậy, các nhà nghiên cứu Địa lý kinh tế - xã hội phải sử dụng
thường xuyên, nhất quán các quan điểm tiếp cận hệ thồng và tổng hợp
- Quan điểm hệ thống
Tiếp cận hệ thống và phân tích hệ thống thể hiện tính ưu việt trong việc nghiên cứu các đối tượng phức tạp (bao gồm nhiều phần tử cấu tạo thành) khác nhau về chất lượng (bản chất) tồn tại, hoạt động và phát triển theo những quy luật khác với vô số các mối liên hệ qua lại (trực tiếp và gián tiếp) mà không phải bao giờ chúng ta cũng có
thể lượng hóa được
Ý nghĩa thực tiễn của lý thuyết hệ thống cho phép tiến hành phân tích cơ cấu hệ
thống theo hai xu hướng chủ yếu sau:
• Lãnh thổ quốc gia với tư cách là một hệ thống lớn, bao gồm các phân hệ có quy mô lớn khác nhau
• Dù ở quy mô nào, trên mỗi bộ phận lãnh thổ (hệ thống) cũng đều có ít nhất ba phân hệ tác động qua lại, phụ thuộc và quy định lẫn nhau Đó là các phân hệ tự nhiên, dân cư và kinh tế
Mỗi một phân hệ đó tồn tại, hoạt động và phát triển theo những quy luật chung
và quy luật đặc thù, thường xuyên tương tác với nhau thông qua sự trao đổi vật chất – năng lượng – thông tin
Trang 5Các quá trình và hiện tượng nói trên thường đan xen, chồng lắp nhau và nhiều khi hạn chế, loại trừ và triệt tiêu lẫn nhau làm giảm hiệu quả hoạt động của toàn hệ thống
- Quan điểm tổng hợp
Lý thuyết về các tổng hợp thể sản xuất – lãnh thổ cho phép nhận thức đầy đủ hơn các mối liên hệ chặt chẽ, các mối tương quan phụ thuộc lẫn nhau, quy định lẫn nhau giữa các đối tượng, các phần tử, các quá trình diễn ra trên một địa bàn lãnh thổ nhất định trong một tổng thể duy nhất, hoạt động theo những chức năng, những mục tiêu xác định nhằm đạt được hiệu quả kinh tế - xã hội và sinh thái
Nhận thức sâu sắc xu hướng tất yếu của sự hình thành cá thể, dạng tổng hợp thể sản xuất – lãnh thổ, vận dụng quan điểm tổng hợp là con đường tốt nhất và có hiệu quả nhất để nghiên cứu khả năng hình thành và phát triển các tổ hợp công nghiệp, tổ hợp xây dựng, tổ hợp nhiên liệu – năng lượng, các hình thức tổ chức từ thấp đến cao của quan hệ liên kết nông – công nghiệp trong các vùng sản xuất tập trung, các vùng chuyên canh cây nông nghiệp ngắn ngày, đồng thời nghiên cứu quy luật hình thành các trung tâm, các thành phố lớn, các thị xã, thị trấn, thị tứ,…
3.1.2 Quan điểm động và lịch sử
Các quá trình kinh tế - xã hội không ngừng vận động trong không gian và biến thiên theo thời gian Việc định hướng đúng đắn sự phát triển tương lai của chúng cần phải có quan điểm động và quan điểm lịch sử
Quan điểm động cho phép nghiên cứu, xem xét các quá trình tự nhiên, dân số, kinh tế - xã hội trong quá trình vận động biến đổi theo thời gian và trong không gian
Do vậy, vận dụng quan điểm động vào nghiên cứu tổ chức không gian sẽ cho phép tìm ra những phương thức tác động hợp lí đối với từng đối tượng cụ thể và tìm ra những giải pháp tối ưu, hài hòa, trong việc hoạch định các kế hoạch phát triển kinh tế -
xã hội của đất nước nói chung, cũng như từng vùng, từng địa phương nói riêng
3.1.3 Quan điểm kinh tế và phát triển bền vững
Quan điểm kinh tế được coi trọng trong nghiên cứu Địa lý kinh tế - xã hội Quan điểm này thể hiện thông qua một số chỉ tiêu kinh tế cụ thể như tốc độ tăng trưởng, hiệu quả kinh tế… Trong cơ chế thị trường, sản xuất phải đem lại lợi nhuận song cần tránh xu hướng phải đạt các mục tiêu kinh tế bằng mọi giá
Quán triệt quan điểm phát triển bền vững đòi hỏi phải đảm bảo sự bền vững về
cả ba mặt: kinh tế, xã hội và môi trường
Những quan điểm cơ bản nêu trên sẽ chỉ đạo và chi phối toàn bộ cơ cấu và nội dung các nghiên cứu về tổ chức không gian kinh tế - xã hội ở nước ta trong thời kì chuyển sang nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, xác định quá trình hình thành cơ cấu lãnh thổ tối ưu, phù hợp với những điều kiện và đặc điểm của đất nước cũng như phản ánh những xu hướng tiến bộ của thời đại
Trang 6Hình 1.2 Sơ đồ “Ven” về phát triển bền vững (1993)
(Nguồn: Theo Jonh Venn)
Hình 1.3 Sơ đồ tiếp cận sự “phát triển bền vững”
(Nguồn: Theo WCED năm 1987)
Các mục tiêu
Văn hóa – xã hội
Kinh tế cộng đồng như là con người đã thực hiện
Phát triển bền vững như
là một khối cộng đồng của các giá trị kinh tế - văn hóa – môi trường
Các mục tiêu môi trường
Bảo vệ với bình đẳng
Liên kết kinh
tế - môi trường
Các mục tiêu kinh tế
Mục tiêu kinh tế
- Tăng trưởng
- Hiệu quả
- Ổn định
Mục tiêu môi trường
- Bảo vệ thiên nhiên
- Đa dạng sinh học
- Sử dụng hiệu quả nguồn tài nguyên
- Tiền tệ hóa tác động môi
Trang 73.2 Các phương pháp nghiên cứu chủ yếu của Địa lý kinh tế - xã hội hiện đại 3.2.1 Phương pháp chương trình mục tiêu
Trong điều kiện hình thành nền kinh tế thị trường, phương pháp này có ý nghĩa rất quan trọng để xác lập các chương trình tổng hợp lớn theo ngành và lãnh thổ, nó bao gồm tất cả các giai đoạn nghiên cứu, thu nhập số kiệu, đánh giá các hệ thống kinh
tế - xã hội theo lãnh thổ, các quy luật hình thành, dự báo phát triển, thẩm định các dự
án có liên quan đến sự chuyển dịch của các hệ thống kinh tế - xã hội từng vùng và cả nước
3.2.2 Phương pháp phân tích hệ thống
Đối tượng nghiên cứu của Địa lý kinh tế - xã hội là những hệ thống động phức tạp, bao gồm nhiều phần tử có bản chất khác nhau, thường xuyên tác động qua lại, mang tính thang cấp rõ rệt Muốn hiểu rõ các đặc điểm và tính quy luật vận động, hành vi của chúng, cần phân tích các mối liên hệ đa dạng, đa chiều bên trong và bên
ngoài hệ thống về các mặt số lượng, cường độ, mức độ chặt chẽ…
3.2.3 Phương pháp dự báo
Giúp ta có định hướng chiến lược, xác định các mục tiêu và kịch bản phát triển trước mắt và lâu dài của các đối tượng nghiên cứu của Địa lý kinh tế - xã hội một cách khách quan, có cơ sở khoa học, phù hợp với các điều kiện và xu hướng phát triển của hiện thực
3.2.4 Phương pháp cân đối liên ngành, liên vùng
Phương pháp này được sử dụng rộng rãi trong kế hoạch hóa phát triển vùng nhằm phát hiện ra các khâu, các mặt yếu và thiếu để tập trung đầu tư các nguồn lực cần thiết, tạo ra các cân đối vĩ mô theo lãnh thổ, bảo dảm sự phát triển bền vững
3.2.5 Phương pháp mô hình toán – kinh tế
Cho phép tổng hợp hóa, đơn giản hóa các thông số hoạt động, các mối liên hệ đa dạng, phức tạp của các đối tượng nghiên cứu Địa lý kinh tế - xã hội trong thực tiễn, làm nổi bật các đặc trưng cơ bản, quy luật vận động của đối tượng và điều khiển tối
ưu, hướng đích quá trình phát triển của chúng
3.2.6 Hệ thống thông tin địa lý (Geographic Information System- GIS)
GIS là một hệ thống cơ sở dữ liệu trên máy tính hiện đang dược sử dụng rộng rãi
để lưu giữ, phân tích, xử lí và hiển thị các thông tin về không gian (lãnh thổ) Đây là phương pháp có hiệu quả trong nghiên cứu kinh tế - xã hội
3.2.7 Phương pháp bản đồ
Phương pháp truyền thống này được sử dụng phổ biến trong Địa lý tự nhiên, Địa
lý nhân văn, Địa lý kinh tế và nhiều môn khoa học khác Các nghiên cứu địa lý kinh tế
- xã hội được khởi đầu bằng bản đồ và kết thúc cũng bằng bản đồ, vì bản đồ là “ngôn ngữ” tổng hợp, ngắn gọn súc tích, trực quan của các đối tượng nghiên cứu
3.2.8 Phương pháp khảo sát thực địa
Đây cũng là phương pháp truyền thống, đặc trưng của Địa lý kinh tế - xã hội Sử dụng phương pháp này giúp cho ta tránh được những kết luận, quyết định chủ quan, vội vàng, thiếu cơ sở thực tiễn Phương pháp này còn giúp ta xác định lại một cách
Trang 8đầy đủ, chính xác tài liệu đã có, đồng thời bổ sung kịp thời những nội dung mới được phát hiện trong quá trình khảo sát thực địa
3.2.9 Phương pháp chuyên gia
Được sử dụng trong những trường hợp thiếu thông tin, thông tin không đủ độ tin cậy hoặc đối tượng nghiên cứu không thể lượng hóa, nhưng phải cần đưa ra các kết
lụân, các kiến nghị, các quyết định, lựa chọn các phương án, các kịch bản phát triển… 3.2.10 Phương pháp điều tra xã hội học
Phương pháp này được sử dụng khá phổ biến đối với các nghiên cứu về Địa lý kinh tế - xã hội, đặc biệt ở các lĩnh vực Địa lý dân cư, Địa lý du lịch Đây có thể coi là
một nguồn tài liệu cập nhật, có độ tin cậy nhất định
CÂU HỎI VÀ BÀI TẬP
1 Nghiên cứu Địa lý kinh tế - xã hội nói chung và Địa lý kinh tế- xã hội Việt Nam nói riêng đem lại cho các anh (chị) những lợi ích thiết thực như thế nào?
2 Phân tích những nhiệm vụ của Địa lý kinh tế- xã hội
3 Trình bày các phương pháp nghiên cứu Địa lý kinh tế- xã hội Vì sao các phương pháp phân tích và tổng hợp; Phương pháp sử dụng bản đồ, khảo sát thực địa thường được sử dụng có hiệu quả trong nghiên cứu Địa lý kinh tế- xã hội ?
Trang 9CHƯƠNG 2 VIỆT NAM QUA CÁC CHẶNG ĐƯỜNG PHÁT TRIỂN
VÀ CÁC NGUỒN LỰC PHÁT TRIỂN KINH TẾ- XÃ HỘI
Lãnh thổ Việt Nam ngày nay trải dài trên hai nghìn cây số, từ Hà Giang đến mũi
Cà Mau đã được xây dựng trên một quá trình đấu tranh lâu dài gian khổ của ông cha
ta nhằm chinh phục thiên nhiên cũng như chống lại các thế lực thù địch để bảo vệ chủ
quyền, giữ vững độc lập dân tộc
Cuối năm 1954, trên đường trở về Thủ đô Hà Nội, Hồ Chủ Tịch đã dừng chân tại
núi Nghĩa Lĩnh (Phú Thọ) để bái yết đền Hùng Tại nơi này, Bác Hồ đã nói những lời
đầy xúc động với các bộ đội, cán bộ và dân chúng:“Các vua Hùng đã có công dựng
nước, Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước”
Muốn thực hiện di huấn “giữ nước” của Bác, trước hết phải tìm hiểu phạm vi lãnh
thổ nước ta tới đâu, lịch sử được hình thành như thế nào? Thiết nghĩ đây là một vấn
đề hết sức thiêng liêng và cần thiết vì mấy ai hiểu được đất nước theo một bức chân
dung đầy đủ, và giữ nước đâu phải chỉ chống giặc ngoại xâm
Ngày nay, trong xu hướng toàn cầu hóa, xu hướng hội nhập quốc tế và khu vực thì
“giữ nước”, bảo vệ đất nước bao hàm một ý nghĩa rộng lớn hơn Phải hiểu biết cụ
thể, rõ ràng hơn về đất nước, về con người, về mọi nguồn lực sẵn có nhằm sử dụng
hiệu quả sức mạnh mọi nguồn lực trong quá trình xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội
chủ nghĩa
1 VIỆT NAM QUA CÁC CHẶNG ĐƯỜNG PHÁT TRIỂN
1.1 Quốc hiệu nước ta qua các thời kỳ: Văn Lang – Đại Việt – Việt Nam
Cách đây hơn 2000 năm, các vua Hùng dựng nước và đặt tên nước là Văn Lang
Nước Văn Lang đóng ở Phong Châu, nay là vùng Bạch Hạc (tỉnh Phú Thọ) gồm 15
bộ: Văn Lang, Giao Chỉ, Vũ Định, Vũ Ninh, Lục Hải, Tân Hưng, Phúc Lộc, Chu
Diên, Dương Tuyền, Cửu Chân, Hoài Hoan, Cửu Đức, Việt Thường và Bình Văn
Cương vực nước văn Lang đại để là Bắc Bộ và Trung Bộ ngày nay Nước Văn Lang
nhỏ bé buổi ban đầu đã là một quốc gia hoàn chỉnh, có núi, đồng bằng và vùng biển kể
cả các đảo ven bờ Đứng đầu nhà nước có vua, gọi là Hùng Vương Giúp vua Hùng cai
quản đất nước có lạc hầu, lạc tướng, dân thường thì gọi là lạc dân, tầng lớp thấp kém
nhất gọi là nô tì
Dân số cuối thời Văn Lang, ở niên đại 300 trước Công Nguyên (TCN), có khoảng
500.000 người (theo GS Nguyễn Đình Đầu) Dựa vào các hiện vật người xưa để lại,
các nhà sử học cho biết: dưới thời các vua Hùng, nghề chính của lạc dân là làm ruộng
Họ trồng lúa, khoai, đỗ, cây ăn quả, rau và dưa hấu Họ cũng biết chế biến những món
ăn như xôi, bánh chưng, bánh giầy, nấu rượu, làm mắm… Ngoài ra, người lạc Việt
còn biết trồng đay, gai, trồng dâu, nuôi tằm, ươm tơ, dệt vải Họ cũng biết đúc đồng
làm giáo mác, mũi tên, lưỡi rìu, lưỡi cày, vòng tay, hoa tai, trống, chiêng, lục lạc…,
nặn nồi niêu, đan rổ, rá, gùi, nong, đan thuyền nan, đóng thuyền gỗ… Người Lạc Việt
làm nhà sàn để tránh thú dữ và họp nhau thành các làng, bản, họ thờ thần Đất, thần
Mặt Trời Người Lạc Việt có tục nhuộm răng đen, ăn trầu, xăm mình, búi tóc hoặc cạo
trọc đầu Phụ nữ thích đeo hoa tai và nhiều vòng tay bằng đá, đồng Những ngày hội
làng, mọi người thường hoá trang, vui chơi, nhảy múa theo nhịp trống đồng Các trai
Trang 10làng đua thuyền trên sông hoặc đấu vật trên những bãi đất rộng Nước Văn Lang tồn tại qua 18 đời vua Hùng
Vào cuối thế kỷ III TCN, quân Tần (Trung Quốc) tràn xuống xâm lược các nước phương Nam Thục Phán đã lãnh đạo người Âu Việt và người Lạc Việt đánh lui giặc ngoại xâm (người Âu Việt thuộc nước Âu Lạc nằm trên địa phận Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ, nước Âu Lạc nằm Tây Bắc nước văn Lang) rồi sau đó dựng nước Âu Lạc,
tự xưng là An Dương Vương, kinh đô dời xuống vùng Cổ Loa (Đông Anh - Hà Nội ngày nay)… Dân số Âu Lạc ở năm 180 TCN có khoảng 600.000 người Thời Âu Lạc, người dân sử dụng rộng rãi các lưỡi cày đồng, biết kỹ thuật rèn sắt Người Âu Lạc đã chế tạo được loại nỏ bắn một lần nhiều mũi tên An Dương Vương cũng cho xây dựng thành Cổ Loa (nay còn di tích ở huyện Đông Anh, Hà Nội)
Năm 208 TCN, nhà Tần bị diệt Triệu Đà vốn đã chiếm các quận Nam Hải, Quế Lâm, Tượng, lập nên nước Nam Việt, xưng Vương rồi sau quy phục nhà Hán Năm
207 TCN, Triệu Đà nhiều lần kéo quân xâm lược nước Âu Lạc Người dân Âu Lạc đoàn kết một lòng chống giặc, lại có tướng chỉ huy giỏi, vũ khí tốt, thành luỹ kiên cố nên lần nào quân giặc cũng bị bại trận Tương truyền rằng biết không thể thắng nổi người Âu Lạc bằng sức mạnh quân sự, Triệu Đà đã hoãn binh, cho con là Trọng Thuỷ sang làm con rể An Dương Vương để điều tra cách bố trí lực lượng và chia rẽ nội bộ những người đứng đầu nhà nước Âu Lạc Năm 179 TCN, Triệu Đà đem quân sang đánh Âu Lạc, An Dương Vương thua trận, phải nhảy xuống biển tự vẫn Từ đó nước
Âu Lạc rơi vào ách đô hộ của các triều đại phong kiến phương Bắc Triệu Đà sáp nhập đất Âu Lạc vào Nam Việt và chia Âu Lạc thành 2 quận là Giao Chỉ (Bắc Bộ) và Cửu Chân (Bắc Trung Bộ)
Sau khi nước Nam Việt bị diệt, Âu Lạc chuyển sang tay nhà Hán Từ đó kéo dài thời kỳ Bắc thuộc trải hơn 1000 năm Bọn quan lại đô hộ bắt dân ta phải lên rừng săn voi, tê giác, bắt chim quý, đẵn gỗ trầm, xuống biển lặn mò ngọc trai, bắt đồi mồi, khai thác san hô để cống nạp cho chúng Chúng đưa người Hán sang ở lẫn với dân ta, bắt dân ta phải theo phong tục của người Hán, học chữ Hán, sống theo luật pháp của nhà Hán Bất chấp sự thống trị lúc tàn bạo, lúc quỷ quyệt của các vương triều Trung Quốc như: Hán, Ngô, Nam Triều (Đông Tấn, Tống, Tề, Lương, Trần), Tuỳ, Đường, nhân dân ta không ngừng đấu tranh để chống áp bức bóc lột, chống âm mưu đồng hoá, bảo
vệ bản sắc của mình, giành quyền tự chủ
Mở đầu là cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng (năm 40), tiếp theo là Bà Triệu (năm 248)
Giữa thế kỷ thứ VI, phong trào nổi dậy của nhân dân ta ngày càng cao Khởi nghĩa
Lí Bí (? - ?), người Long Hưng, Thái Bình đã giành được thắng lợi vẻ vang Đánh đuổi được giặc phương Bắc, dẹp yên bờ cỏi phía Nam, Lí Bí lên ngôi xưng danh là Nam
Đế, đặt tên nước là Vạn Xuân, đóng đô ở Long Biên (Bắc Ninh)
Nước Vạn Xuân đã tồn tại gần 60 năm (542- 602) bất chấp sự phản công của phong kiến Trung Quốc Quốc hiệu Vạn Xuân không chỉ nói lên nguyện vọng và ý chí của nhân dân ta mãi mãi sống trong độc lập tự do Dân số nước Vạn Xuân vào năm 542 có khoảng 1 triệu người
Năm 602, vua Tuỳ sai quân sang đánh chiếm Vạn Xuân Nhà Tuỳ đô hộ nước ta đã
bỏ đơn vị hành chính châu, lập lại tổ chức quận: quận Giao Chỉ (Bắc Bộ), quận Cửu Chân (Thanh Hoá), quận Nhật Nam (Nghệ Tĩnh) Lãnh thổ nước ta khi đó còn có thêm một số đất đai ở Nam Đèo Ngang Nhà Tuỳ dời trụ sở quận Giao Chỉ từ Long Biên
Trang 11(Bắc Ninh) về Tống Bình (Hà Nội), nhưng chẳng bao lâu nhà Tuỳ sụp đổ và nhà Đường lên thay Nhà Đường lại bỏ các quận, lập lại các châu, năm 618, họ lập Giao Châu đô hộ phủ, năm 678 đổi thành An Nam đô hộ phủ, nước ta có tên An Nam kể từ
đó (678 - 757- 866); có 9 năm mang tên Trấn Nam đô hộ phủ (757 - 766)
Ngô Quyền quê ở Đường Lâm (Hà Tây, 898-944), con rể của tướng Dương Đình Nghệ, sau khi nghe tên Kiều Công Tiễn giết chết Dương Đình Nghệ, Ngô Quyền đem quân đi đánh để báo thù, Công Tiễn cho người sang cầu cứu vua Nam Hán Thái Tử Hoằng Thao đưa một đội quân rất đông vượt biển, ngược sông Bạch Đằng (Quảng Ninh) sang đánh nước ta Ngô Quyền đã dùng kế chôn cọc gỗ đầu nhọn xuống nơi hiểm yếu trên sông Bạch Đằng, quân giặc bị tiêu diệt Với chiến thắng lịch sử trên sông Bạch Đằng đã đánh tan thuỷ quân Nam Hán vào cuối năm 938, đè bẹp ý chí xâm lược của Nam Hán và kết thúc hoàn toàn thời kỳ mất nước của nhân dân ta kéo dài hơn 1000 năm, giành lại quyền làm chủ đất nước Mùa xuân 939, Ngô Quyền xưng vương, Cổ Loa lại được chọn làm kinh đô
Ngô Quyền trị vì đất nước được 6 năm thì mất Triều đình lục đục, tranh giành nhau ngai vàng Các thế lực phong kiến địa phương nổi dậy, chia cắt nhau thành 12 vùng, lập chính quyền riêng, không phục tùng triều đình và đánh chiếm lẫn nhau, sử
cũ gọi là “loạn 12 sứ quân” Hai mươi năm liên tiếp loạn lạc, đất nước bị chia cắt, làng mạc, đồng ruộng bị tàn phá Trong khi đó, quân thù ngoài bờ cõi lăm le xâm lược Bây giờ ở Hoa Lư (Gia Viễn, Ninh Bình) có Đinh Bộ Lĩnh tập trung lực lượng ở vùng Hoa
Lư rồi đem quân đi đánh các sứ quân
Sau khi dẹp tan loạn 12 sứ quân, Đinh Bộ Lĩnh (924- 979) lên làm vua (sử cũ gọi là Đinh Tiên Hoàng), đặt tên nước là Đại Cồ Việt, niên hiệu là Thái Bình, đóng đô tại Hoa Lư (năm 968) Quốc hiệu này tồn tại được 86 năm
Năm 979, Đinh Tiên Hoàng và con trưởng là Đinh Liễn bị một viên quan trong triều giết hại Con thứ là Đinh Toàn mới 6 tuổi lên ngôi Lợi dụng cơ hội đó nhà Tống đem quân xâm lược nước ta Thế nước lâm nguy, vua còn quá nhỏ, triều đình họp bàn
để chọn người chỉ huy kháng chiến, Thái Hậu Dương Vân Nga đã sai người lấy áo long bào trao cho Lê Hoàn và mời ông lên ngôi, lập ra nhà Lê (sử cũ gọi là Tiền Lê) Triều Tiền Lê (980-1009) đẩy mạnh công cuộc xây dựng đất nước, giữ vững được cương giới phía Bắc và phía Nam, nền kinh tế bắt đầu phát triển trong cảnh thái bình Khi vua cuối cùng của nhà Tiền Lê mất (Lê Long Đĩnh), triều đình suy tôn Lý Công Uẩn (974- 1028) lên làm vua chấm dứt thời Tiền Lê, lập ra triều Lý (1009-1225) Năm
1010, Lý Thái Tổ dời đô từ Hoa Lư về Đại La và đổi tên là Thăng Long thành Năm
1054, sau khi lên ngôi, Lý Thánh Tông (1023- 1072) đổi quốc hiệu là Đại Việt
Dưới thời Lý, đạo Phật được truyền bá rộng rãi trong cả nước Các vua nhà Lý như
Lý Thái Tông, Lý Thánh Tông, Lý Cao Tông, Lý Huệ Tông đều theo đạo Phật, nhiều nhà sư được giữ cương vị quan trọng trong triều đình, chùa mọc lên khắp kinh thành, làng xã Năm 1031, triều đình đã bỏ tiền ra xây dựng 950 ngôi chùa
Đến cuối thế kỷ XII, nhà Lý ngày càng suy yếu, nội bộ triều đình mâu thuẫn, nhân dân sống cơ cực Quân Chăm-pa ở phía Nam thỉnh thoảng kéo sang cướp phá, quân xâm lược phương Bắc thường xuyên rình rập, vua Lý phải dựa vào họ Trần mới giữ được ngai vàng Từ đó mọi việc trong triều đình đều do Trần Thủ Độ quyết định Lý Huệ Tông không có con trai, truyền ngôi cho con gái là Lý Chiêu Hoàng, mới 7 tuổi Trần Thủ Độ tìm cách cho Lý Chiêu Hoàng lấy Trần Cảnh, rồi nhường ngôi cho chồng (đầu năm 1226), nhà Trần được thành lập
Trang 12Nhà Trần (1225- 1400) rất quan tâm đến việc đắp đê phòng lụt, đã đặt chức Hà đê
sứ để trông coi việc đắp đê và bảo vệ đê (triều đại đắp đê) Nhà Trần đã có công đánh tan 3 cuộc xâm lăng của đế quốc Mông – Nguyên, đế quốc mạnh nhất thời bấy giờ đã thôn tính nhiều quốc gia, lãnh thổ dưới vó ngựa ngàn dặm (hội nghị Diên Hồng, Hịch tướng sĩ của Trần Hưng Đạo), Nhà Trần đã có công lớn góp phần tích cực xây dựng nước Đại Việt
Từ giữa thế kỷ XIV, tình hình đất nước ngày càng xấu đi, vua quan ăn chơi sa đoạ, Chu Văn An dâng sớ xin chém 7 tên quan lại lộng hành nhưng không được, ông từ quan Năm 1400, Hồ Quý Ly (1337-1407), bức vua Thiếu Đế (1396 - ?) nhường ngôi,
mở đầu cho triều đại nhà Hồ, đặt tên nước là Đại Ngu (An vui lớn) Năm 1406, quân Minh sang xâm lược nước ta Hồ Quý Ly không đoàn kết được lòng dân để tiến hành kháng chiến mà chỉ dựa vào quân đội nên đã bị thất bại, nước ta bị nhà Minh đô hộ Nghĩa quân Lam Sơn do Lê Lợi đứng đầu đã vây đánh Liễu Thăng ở ải Chi Lăng (Lạng Sơn) Năm 1428, Lê Lợi lên làm vua, lấy lại quốc hiệu Đại Việt, đóng đô ở Đông Kinh tức là Thăng Long, mở triều Hậu Lê đến hơn 300 năm sau Đến đời Lê Thánh Tông, biên giới phía Nam được mở rộng đến đèo Cù Mông (thế kỷ XV) Quốc hiệu Đại Việt tồn tại 748 năm (trừ đi 7 năm mang tên Đại Ngu và 20 năm nhà Minh gọi là Giao Chỉ quận (1047-1427) Vua Lê Thánh Tông cho vẽ bản đồ đất nước, gọi là bản đồ Hồng Đức, đây là bản đồ đầu tiên của nước ta và ban hành bộ luật Hồng Đức, đây là bộ luật hoàn chỉnh đầu tiên của nước ta và có những điều tiến bộ Nội dung cơ bản của bộ luật là bảo vệ quyền lợi vua, quan lại, địa chủ; bảo vệ quyền lợi quốc gia; khuyến khích phát triển kinh tế; giữ gìn truyền thống tốt đẹp của dân tộc; bảo vệ quyền lợi của phụ nữ (Quốc âm thi tập của Nguyễn Trãi)
Từ đầu thế kỷ XVI, nhà Lê bắt đầu bị suy yếu, đất nước rơi vào cảnh loạn lạc Năm
1527, nhân tình hình đó, Mạc Đăng Dung cầm đầu một số quan lại lật đổ triều Lê, lập nên triều Mạc (sau gọi là Bắc Triều) Vua Lê được họ Nguyễn giúp sức, lập nên một triều đình riêng ở vùng Thanh Hoá, Nghệ An (lịch sử gọi là Nam triều) Đất nước bị chia cắt, Nam triều và Bắc triều đánh nhau, gây ra cuộc nội chiến kéo dài hơn 50 năm Đến năm 1592, nhà Lê diệt được nhà Mạc Tưởng là giang sơn được thống nhất như
cũ, nào ngờ họ Trịnh và họ Nguyễn nổi lên hùng cứ mỗi họ một phương Từ sông Gianh trở ra là Đàng Ngoài thuộc họ Trịnh, từ sông Gianh trở vào là Đàng Trong thuộc họ Nguyễn Từ đó đất nước bị chia cắt kéo dài hơn 200 năm
Mùa xuân năm 1771, ba anh em Nguyễn Nhạc, Nguyễn Lữ, Nguyễn Huệ lên vùng Tây Sơn thượng đạo lập căn cứ (nay thuộc An Khê, Gia Lai), dựng cờ khởi nghĩa chống chính quyền nhà Nguyễn Sau khi lật đổ chính quyền họ Nguyễn, đánh bại cuộc xâm lược của quân Xiêm làm chủ toàn bộ vùng đất Đàng Trong, Nguyễn Huệ quyết định tiến ra Thăng Long, lật độ chính quyền họ Trịnh, thống nhất giang sơn năm 1786 Những chiến công hiển hách của Quang Trung và nhà Tây Sơn đã chấm dứt tình trạng chia cắt Bắc Nam theo dòng sông Gianh, thu giang sơn về một mối Cuối thế kỷ thứ XVIII đầu thế kỷ XIX, nước ta đã có hình dáng và mang tầm vóc như hiện nay: Phía Bắc đến xã Lũng Cú, phía Nam đến xóm Rạch Tàu tức mũi Cà Mau, về phía Tây
và Tây Nam giáp Lào và Campuchia với dãy Trường Sơn hùng vĩ làm ranh giới, có một vùng đất liền và một vùng biển bao la kéo dài đến 2 vùng biển Hoàng Sa và Trường Sa giáp với Hải Nam về phía Bắc, với Philippines và Malaysia về phía Đông
và Đông Nam (chiếu Khuyến nông thời Quang Trung)
Sau khi Quang Trung qua đời, triều đại Tây Sơn suy yếu dần Lợi dụng thời cơ đó, Nguyễn Ánh (thuộc dòng họ chúa Nguyễn Đàng Trong) đã huy động lực lượng tấn
Trang 13công nhà Tây Sơn Năm 1802 nhà Tây Sơn bị lật đổ, Nguyễn Ánh lên ngôi hoàng đế, lấy niên hiệu là Gia Long, định đô ở Phú Xuân (Huế)
Năm 1804, Gia Long đổi quốc hiệu là Việt Nam Năm 1838, Minh Mệnh lại đổi
tên nước là Đại Nam Sau khi thực dân Pháp chiếm nước ta, đã chia ta ra 3 kỳ: Bắc
kỳ, Trung kỳ và Nam kỳ Tuy nhiên, tên Việt Nam vẫn tồn tại đến ngày 2/9/1945, đất
nước mang quốc hiệu mới là Việt Nam Dân Chủ Cộng hoà
Đất nước Việt Nam độc lập chưa được bao lâu thì ngày 23/09/1945, giặc Pháp gây hấn ở Nam bộ và ngày 19/12/1945 toàn quốc kháng chiến Trải qua 9 năm kháng chiến, với thắng lợi Điện Biên Phủ vang dội, hiệp định hoà bình Geneva được ký kết (1954), đất nước Việt Nam tạm thời bị chia cắt đến vĩ tuyến 17, dọc theo sông Bến Hải đã đi vào lịch sử 21 năm đất nước bị chia cắt làm hai miền Nhưng dân tộc Việt Nam là một, sông có thể cạn, núi có thể mòn, song chân lý đó không bao giờ thay đổi (Hồ Chủ Tịch) Nhân dân hai miền đã đứng lên đánh đuổi giặc Mỹ xâm lược và chính quyền thân Mỹ Ngày 30/4/1975, miền Nam được giải phóng, đất nước được thống
nhất Ngày 2/7/1976, quốc hội nước ta thống nhất lấy quốc hiệu là Cộng hoà xã hội
chủ nghĩa Việt Nam
1.2 Biên giới quốc gia hiện nay
Đường biên giới trên đất liền giữa nước ta với Trung Quốc, Lào và Campuchia đã được hoạch định nhiều lần Về cơ bản, ranh giới quốc gia được xác định như trên bản
đồ mới nhất (2005) Tuy nhiên, trên thực tế vẫn còn nhiều việc phải xác minh, thoả thuận thêm
Đường biên giới trên biển chưa được xác minh đầy đủ, vì vậy vẫn còn nhiều vấn đề
ở các vùng nước lịch sử: ở vùng ven biển Tây Nam (vịnh Thái Lan), vịnh Bắc Bộ, và vùng biển giáp các nước ở vùng biển Đông Việc ký kết phân chia vùng biển vịnh Bắc
Bộ giữa Việt Nam và Trung Quốc là một bước tiến lớn trong quan hệ giữa 2 nước Ngày 17/06/2003, Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, khoá XI,
kỳ họp thứ 3 đã thông qua Luật Biên giới quốc gia Trong đó khẳng định vấn đề biên giới quốc gia của nước CHXHCN Việt Nam là thiêng liêng, bất khả xâm phạm Điều
1 Luật nêu rõ: “Biên giới quốc gia của nước CHXHCN Việt Nam là đường và mặt thẳng đứng theo đường đó để xác định giới hạn lãnh thổ đất liền, các đảo, các quần đảo trong đó có đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa, vùng biển, lòng đất, vùng trời của nước CHXHCN Việt Nam” Trong luật đã chỉ rõ:
- Đường cơ sở: Là đường gãy khúc nối liền các điểm được lựa chọn tại ngấn nước
thuỷ triều thấp nhất dọc theo bờ biển và các đảo gần bờ do chính phủ nước CHXHCN Việt Nam xác định và công bố Phía trong đường cơ sở là vùng nội thuỷ (vùng nước tiếp giáp với đất liền theo quy định của chính phủ ta ngày 12-11-1982) Vùng nội thuỷ được xem như một bộ phận lãnh thổ trên đất liền
- Vùng lãnh hải: Rộng 12 hải lý (1 hải lý = 1852m) tính từ đường cơ sở Ranh giới
phía ngoài của lãnh hải chính là biên giới trên biển của nước ta
- Vùng tiếp giáp lãnh hải: Là vùng tiếp liền phía ngoài lãnh hải, có chiều rộng 12
hải lý Trong vùng này, Nhà nước ta có quyền thực hiện các biện pháp để bảo vệ an ninh quốc phòng, kiểm soát thuế quan, các quy định về y tế, môi trường, nhập cư…
- Vùng đặc quyền kinh tế: Là vùng biển tiếp phía ngoài của lãnh hải và hợp với lãnh
hải tạo thành một vùng biển rộng 200 hải lý tính từ đường cơ sở, trừ trường hợp điều ước quốc tế giữa nước CHXHCN Việt Nam và các quốc gia hữu quan có quy định
Trang 14khác Ở vùng này, Nhà nước ta có chủ quyền hoàn toàn về kinh tế nhưng các nước khác được đặt ống dẫn dầu, dây cáp ngầm và tàu thuyền, máy bay nước ngoài được tự
do hoạt động về hàng hải, hàng không theo Công ước của Liên hợp quốc về Luật biển năm 1982
- Thềm lục địa: Là đáy biển và lòng đất dưới đáy biển thuộc phần kéo dài tự nhiên
của lục địa mở rộng ra ngoài lãnh hải cho đến bờ ngoài của rìa lục địa, có độ sâu khoảng 200m hoặc hơn nữa Nơi nào bờ ngoài của rìa lục địa cách đường cơ sở không đến 200 hải lý thì thềm lục địa nơi ấy được tính đến 200 hải lý Nhà nước ta có chủ quyền hoàn toàn về mặt thăm dò, khai thác, bảo vệ và quản lý các tài nguyên thiên nhiên ở thềm lục địa Việt Nam
Hình 2.2 Sơ đồ đường phân định vịnh Bắc Bộ Việt Nam –
Trung Quốc năm 2000 Hình 2.1 Sơ đồ vùng biển và chủ quyền của Việt Nam
Trang 152 CÁC NGUỒN LỰC PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI VIỆT NAM
2.1 Một số khái niệm cơ bản
2.1 1 Khái niệm nguồn lực
Hiện nay, người ta hiểu nguồn lực là tổng thể các nguồn tự nhiên, dân cư và nguồn lao động, hệ thống tài sản quốc dân và đường lối chính sách liên quan đến việc phát triển kinh tế xã hội của một quốc gia
Khái niệm nguồn lực không hoàn toàn đồng nghĩa với khái niệm điều kiện tự nhiên và điều kiện kinh tế – xã hội mà khái niệm này còn có ý nghĩa rộng hơn
Nhìn chung, có hai nguồn lực: nguồn lực bên trong (nội lực) và nguồn lực bên ngoài (ngoại lực)
Nguồn lực bên trong gồm: vị trí địa lý – tài nguyên thiên nhiên, con người, đường lối phát triển kinh tế - xã hội và cơ sở vật chất kỹ thuật Có thể hiểu là toàn bộ nguồn tự nhiên, nhân lực, hệ thống tài sản quốc dân dưới dạng khai thác hoặc dưới dạng tiềm năng của một quốc gia Nguồn lực này thường đóng vai trò quyết định trong việc phát triển kinh tế - xã hội của đất nước
Nguồn lực bên ngoài gồm: máy móc thiết bị, quy trình công nghệ, kinh nghiệm quản lý, vốn đầu tư Nói chung, nguồn lực bên ngoài là khả năng tác động trực tiếp từ bên ngoài vào việc phát triển kinh tế - xã hội của một nước Các nguồn lực này rất đa dạng từ chính trị đến kinh tế Trong các nguồn lực kinh tế từ bên ngoài, nguồn vốn cùng với kĩ thuật và công nghệ tiên tiến từ nước ngoài có ý nghĩa rất quan trọng đối với một nước đang phát triển như Việt Nam Nguồn lực này gồm 3 loại:
- Tài trợ chính thức (ODA_Official Development Assistance) được chính phủ các nước chuyển giao thông qua con đường đa phương hay song phương
- Đầu tư trực tiếp nước ngoài ( FDI – Foreign Direct Investment)
- Tài trợ của các tổ chức phi chính phủ (NGO_ Non - Governmental Organizations)
- Tài trợ từ nguồn tư nhân nước ngoài: đầu tư dạng BOT (Build Operate Transfer); BTO (Build Transfer Operate) hay BT (Build Transfer )…
Vai trò và mối quan hệ giữa các nguồn lực:
Các nguồn lực có mối quan hệ mật thiết với nhau và có ý nghĩa vai trò riêng:
- Vị trí địa lý và tài nguyên thiên nhiên: Là điều kiên cần thiết là tiền đề để phát triển kinh tế xã hội
- Dân cư và nguồn lao động: Có vai trò then chốt, có ý nghĩa quan trọng đến sự phát triển kinh tế xã hội vì con người vừa là lực lượng sản xuất vừa là lực lượng tiêu thụ, kích thích sản xuất phát triển
- Đường lối phát triển kinh tế - xã hội: Có tác dụng chỉ đạo, có thể làm chậm đi hay thúc đẩy nhanh quá trình xây dựng đất nước
- Cơ sở vật chất kỹ thuật: tạo điều kiện thuận lới hay gây khó khăn cho sự phát triển kinh tế - xã hội
Trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội, cần phát huy sức mạnh tổng hợp các nguồn lực để tạo hiệu quả cao nhất
Trang 162.1.2 Khái niệm môi trường
Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và các yếu tố vật chất nhân tạo có quan
hệ mật thiết với nhau bao quanh con người, có ảnh hưởng đến đời sống, sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con người và sinh vật (Theo Điều 3, Luật bảo vệ Môi trường ban
hành ngày 29/11/2005)
2.1.3 Tài nguyên thiên nhiên
“Tài nguyên thiên nhiên là các vật thể và lực lượng tự nhiên, ở một trình độ phát triển lực lượng sản xuất nhất định, chúng được sử dụng nhằm thoả mãn nhu cầu xã hội, như là các phương tiện tồn tại của con người (Theo Điều 3, Luật bảo vệ Môi trường ban hành ngày 29/11/2005)
Tài nguyên thiên nhiên có thể được phân loại như sau:
Hình 2.3 Sơ đồ phân loại tài nguyên thiên nhiên
2.1.4 Tăng trưởng kinh tế và phát triển kinh tế
2.1.4.1 Tăng trưởng kinh tế
Tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng về quy mô kết quả hoạt động của nền kinh
tế trong một thời kỳ nhất định, thường là một năm
Tiêu chuẩn đánh giá tăng trưởng kinh tế là mức tăng thu nhập và thu nhập tính theo đầu người
2.1.4.2 Phát triển kinh tế
Phát triển kinh tế là sự biến đổi nền kinh tế trên tất cả các mặt số lượng, chất lượng của nền kinh tế và sự tiến bộ của xã hội
Tiêu chuẩn để đánh giá phát triển kinh tế là:
- Mức thu nhập và thu nhập tính theo đầu người;
Hữu hạn
Thổ nhưỡng
vật
Động vật
Có thể phục hồi
Không thể phục hồi
Trang 17- Những biến đổi về cơ cấu kinh tế;
- Những biến đổi về tiến bộ xã hội, bảo vệ môi trường và phát triển bền vững
2.1.4.3 Các chí tiêu phản ảnh sự phát triển kinh tế
Tổng sản phẩm trong nước (GDP) và tổng sản phẩm quốc gia (GNP)
GDP và GNP đo lường giá trị gia tăng sản lượng hàng hoá và dịch vụ của một quốc gia trong một năm
- GDP (Gross domestic Product): Toàn bộ giá trị sản phẩm cuối cùng của
sản xuất và dịch vụ được tạo ra do kết quả hoạt động kinh tế trên phạm vi lãnh thổ của một nước trong một thời gian nhất định, thường là một năm
- GNP (Gross National Product): Kết quả sản xuất thuộc một quốc gia, một
vùng không phân biệt sản xuất đó được thực hiện ở trong nước hay ở nước ngoài
GNP = GDP + (thu nhập nhân tố từ nước ngoài – thu nhập nhân tố trả nước ngoài)
Khác với GDP, chỉ tiêu GNP không tính kết quả sản xuất của các đơn vị thường trú ở Việt Nam nhưng thuộc sở hữu của nước ngoài, đồng thời phải tính kết quả sản xuất của các đơn vị không thường trú ở Việt Nam, nhưng thuộc sở hữu của nước ta
GDP được tính theo giá hiện hành hay giá cố định Để phản ánh cơ cấu thực
tế thì sử dụng giá hiện hành, muốn so sánh tăng trưởng thì dùng giá cố định
- GDP (GNP) theo đầu người
Là chỉ tiêu vừa phản ảnh sự tăng trưởng kinh tế vừa phản ảnh sự phát triển kinh tế Nó phản ảnh mức tăng thu nhập đã được điều chỉnh theo dân số và được dùng
để so sánh tăng trưởng kinh tế giữa các nước và các thới kỳ
2.1.5 Một số khái niệm và nội dung liên quan đến tổ chức không gian (tổ chức lãnh thổ)
2.1.5.1.Tổ chức không gian (tổ chức lãnh thổ)
Khi nói đến tổ chức không gian, không thể nói không gian hay lãnh thổ trừu tượng mà phải gắn với lãnh thổ (không gian) kinh tế – xã hội của một nước, một vùng
cụ thể và trong một hình thái xã hội nhất định
Trong sách “Địa lý kinh tế - xã hội” – Từ điển khái niệm - thuật ngữ (1983) của E.B, Alaev đã đưa ra nhận thức chung của các nhà Địa lý Xô Viết như sau: “Tổ chức lãnh thổ kinh tế – xã hội trong nghĩa rộng của từ này bao gồm các vấn đề liên quan đến sự phân công lao động theo lãnh thổ, phân bố lực lượng sản xuất, các sự khác biệt về vùng trong quan hệ tương hỗ giữa xã hội và thiên nhiên, cũng như các vấn đề chính sách vùng về kinh tế – xã hội Ở một nghĩa hẹp hơn, nó bao gồm các phạm trù như tổ chức lãnh thổ hành chính của nhà nước, quản lý vùng về sản xuất, sự hình thành các thành tạo lãnh thổ về tổ chức kinh tế, sự xác định các khách thể vùng của sự quản lý, sự phân vùng về kinh tế – xã hội…
Có thể đưa ra định nghĩa ngắn gọn như sau: Tổ chức lãnh thổ kinh tế - xã
hội là sự kết hợp các cơ cấu lãnh thổ đang hoạt động (bố trí sắp xếp dân cư, sản xuất, sử dụng tài nguyên thiên nhiên) được liên kết lại bởi các cơ cấu quản lý với
Trang 18mục đích tái sản xuất cuộc sống của xã hội phù hợp với các mục đích và trên cơ sở các quy luật kinh tế hiện hành trong hình thái xã hội đó”
Các nhà khoa học của các nước phát triển phương Tây theo hướng kinh tế thị trường thường sử dụng phổ biến thuật ngữ tổ chức không gian kinh tế – xã hội Khái niệm này ra đời từ cuối thế kỷ XIX Theo các nhà khoa học này, có thể hiểu tổ chức không gian kinh tế xã hội là sự “sắp xếp” và “phối hợp” các đối tượng trong mối quan
hệ liên ngành, liên vùng nhằm sử dụng một cách hợp lý các tiềm năng tự nhiên, lao động, vị trí địa lý kinh tế, chính trị và cơ sở vật chất kỹ thuật đã và sẽ được tạo dựng
để đem lại hiệu quả kinh tế - xã hội cao và nâng cao mức sống dân cư, đảm bảo sự phát triển bền vững của một lãnh thổ
Trên quan niệm địa lý đổi mới và phát triển, có thể coi tổ chức lãnh thổ là một hành động địa lý học có chủ ý nhằm hướng tới sự công bằng về mặt không gian
Tổ chức lãnh thổ không phải là việc làm một lần mà phải làm đi làm lại nhiều lần Trong khoa học địa lý ở nước ta hiện nay, phần lớn các nhà khoa học coi tổ chức lãnh thổ và tổ chức không gian hầu như đồng nghĩa
2.1.5.2 Khái niệm về vùng - vùng kinh tế
Đối tượng của tổ chức không gian kinh tế - xã hội là một lãnh thổ, một vùng nhất định
Vùng:
Vùng là một khái niệm được sử dụng rất rộng rãi trong các khoa học, đặc biệt
là trong kinh tế - xã hội và địa lý Các quan niệm và cách nhận biết về những vùng rất khác nhau, phụ thuộc vào mục đích của người nghiên cứu và sử dụng: vùng sinh thái, vùng phát triển, vùng cư trú, vùng tự nhiên… Tuy nhiên, trên góc độ địa lý, bản chất vùng là một nét chung, vùng là một khái niệm không gian (lãnh thổ), là hình thức kết cấu của vùng đất chiếm một không gian nhất định trên mặt Trái Đất, dựa vào điều kiện vật chất khác nhau làm đối tượng Vùng có những đặc tính cơ bản sau:
- Là một phần của bề mặt Trái Đất, chiếm không gian nhất định (không gian
3 chiều) Không gian này có thể là không gian tự nhiên, không gian kinh tế, không gian xã hội…
- Có phạm vi ranh giới nhất định Phạm vi của nó có thể lớn, có thể nhỏ do căn cứ vào các yêu cầu khác nhau, hệ thống chỉ tiêu khác nhau để phân chia Ranh giới của vùng là một “dải đất” biến đổi cả về lượng và chất; ranh giới của vùng theo
tự nhiên có lúc là đứt đoạn (còn gọi là không liền khoảng), nhưng phần lớn có tính liên tục (liền khoảng)
- Có hình thức kết cấu hệ thống nhất định, có tính phân cấp hoặc tính nhiều cấp, tính phân tầng Do vậy, vùng có mối quan hệ giữa trên và dưới, dọc và ngang Mỗi vùng nhỏ là một hợp phần để tạo nên một vùng lớn hơn
Vùng kinh tế:
“Vùng kinh tế: Là một lãnh thổ nguyên vẹn của nền kinh tế quốc dân cả
nước, có những dấu hiệu sau : chuyên môn hoá những chức năng kinh tế quốc dân cơ bản; tính tổng hợp: được hiểu theo nghĩa rộng như là mối quan hệ qua lại giữa các bộ phận cấu thành quan trọng nhất trong cơ cấu kinh tế và cơ cấu lãnh thổ của vùng… coi vùng như một hệ thống toàn vẹn, một đơn vị có tổ chức trong bộ máy quản lý lãnh thổ nền kinh tế quốc dân (Alaev, sdd)”
Trang 19Hình 2.4 Sơ đồ tính chiều rộng lãnh hải Việt Nam
(Nguồn: Sách giáo khoa Địa lý 12)
Cơ sở hình thành và phát triển vùng là các yếu tố tạo vùng, trong đó các yếu
tố tiền đề là sự phân công lao động theo lãnh thổ Sự phân công lao động theo ngành
đã kéo theo sự phân công trên phạm vi lãnh thổ là yếu tố giải lý quá trình tạo vùng ở một số quốc gia
Vùng kinh tế xã hội là “một bộ phận lớn của lãnh thổ quốc gia có các hoạt động kinh tế – xã hội tiêu biểu, thực hiện sự phân công lao động xã hội trên phạm vi
cả nước Đây là loại vùng có quy mô diện tích, dân số ở cấp cao nhất, phục vụ cho việc hoạch định các chiến lược, các kế hoạch phát triển theo lãnh thổ cũng như để quản lý các quá trình phát triển kinh tế – xã hội trên mỗi vùng của đất nước” (Viện
Trang 20chiến lược phát triển, Quy hoạch phát triển kinh tế – xã hội: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn, NXB Chính trị Quốc gia, 2004)
Phân vùng kinh tế:
Phân vùng là việc phân chia lãnh thổ đất nước ra những đơn vị đồng cấp, phục vụ cho một mục đích nhất định trong một khoảng thời gian nhất định, nên khó có một sự phân vùng khách quan “tuyệt đối và vĩnh viễn” Nếu ta hiểu “vùng” là một thực thể khách quan thì phân vùng là sản phẩm của tư duy khoa học dựa trên một số
chỉ tiêu và phương pháp mà người nghiên cứu, người quản lý chọn để phân vùng 2.2 Các nguồn lực phát triển kinh tế - xã hội
2.2.1 Vị trí địa lý và lãnh thổ
Lãnh thổ nước ta gồm hai bộ phận:
- Phần đất liền: Diện tích 331.212km2 (Niên giám thống kê, 2006) với hơn 4.600km đường biên giới trên đất liền, Bắc giáp Trung Quốc (1.400km), Tây giáp Lào (gần 2.100km), Tây Nam giáp Campuchia (hơn 1.100km), Đông và Nam, Tây Nam giáp Biển Đông
- Phần biển: Khoảng 1 triệu km2, tiếp giáp vùng biển nhiều nước: Trung Quốc, Campuchia, Thái Lan, Philippin, Malaysia, Indonesia, Xingapo, Brunei
Tọa độ địa lý:
- Điểm cực Bắc: 23023’B (xã Lũng Cú, huyện Đồng Văn, tỉnh Hà Giang)
- Điểm cực Nam: 8034’B (xã Đất Mũi, huyện Ngọc Hiển, tỉnh Cà Mau)
- Điểm cực Tây: 102009’, Đ (xã Sín Thầu, huyện Mường Nhé, tỉnh Điện Biên)
- Điểm cực Đông: 109024’Đ (xã Vạn Thạnh, huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hoà)
Ở ngoài khơi, các đảo của nước ta còn kéo dài tới tận vĩ độ 6050’B và từ khoảng kinh độ 1010Đ đến khoảng 117020’Đ trên biển Đông
Kinh tuyến 1050Đ là kinh tuyến giờ của Việt Nam xuyên suốt từ tỉnh cực Bắc đến tỉnh cực Nam, nối 2 đầu đất nước, tạo điều kiện thống nhất về sự quản lý, về thời gian sinh hoạt và lao động
Việt Nam nằm hoàn toàn trong khu vực nhiệt đới gió mùa, tiếp giáp lục địa và đại dương, là chiếc cầu nối giữa Đông Nam Á lục địa và Đông Nam Á hải đảo, nằm liền kề vành đai sinh khoáng Thái Bình Dương và Địa Trung Hải
Việt Nam nằm ở phía Đông bán đảo Đông Dương, trung tâm Đông Nam Á, nằm gần ngã tư đường hàng không và hàng hải quốc tế, nằm trên các tuyến đường bộ và đường sắt xuyên Á
Việt Nam nằm ở khu vực Châu Á – Thái Bình Dương, một khu vực đang diễn ra những hoạt động kinh tế sôi động của thế giới
Trang 21Hình 2.5 Bản đồ Việt Nam
(Nguồn: Atlas Địa lý Việt Nam)
Trang 222.2.2 Ý nghĩa của vị trí địa lý và lãnh thổ
2.2.2.1 Ý nghĩa tự nhiên
Nằm ở vĩ độ 23023’B đến 8034’B, Việt Nam nằm ở khu vực nhiệt đới gió
mùa nên có nền nhiệt ẩm cao, chan hoà ánh nắng
Là khu vực thường xuyên chịu ảnh hưởng của gió tín phong và gió mùa châu
Á nên một năm có 2 mùa rõ rệt Chế độ mưa mùa với lượng ẩm dồi dào của các khối khí hải dương đã làm cho cây cối xanh tươi, giàu sức sống, xoá đi các cảnh quan
hoang mạc, bán hoang mạc như các nước khác cùng vĩ độ
Vị trí và hình thể nước ta đã tạo nên sự phân hoá đa dạng của tự nhiên giữa
miền Bắc, miền Nam, giữa đồng bằng với miền núi, ven biển và hải đảo
Nằm ở vị trí tiếp giáp lục địa và đại dương, liền kề vành đai sinh khoáng Thái Bình Dương và Địa Trung Hải, nằm trên đường di cư của các luồng di cư động thực vật khiến cho tài nguyên khoáng sản và tài nguyên sinh vật nước ta vô cùng
phong phú
2.2.2.2 Ý nghĩa kinh tế, văn hoá - xã hội và quốc phòng
Điều kiện nóng ẩm đã giúp cây trồng tăng trưởng nhanh, thuận lợi cho xen canh tăng vụ với nhiều loại cây trồng vật nuôi, đặc biệt là các loại cây lương thực thực
phẩm và cây công nghiệp nhiệt đới
Chính sự phân hoá của tự nhiên đã tạo điều kiện cho nông nghiệp nước ta có các sản phẩm đa dạng, ngoài các loại sản phẩm nhiệt đới còn có thể phát triển các sản phẩm cận nhiệt đới và ôn đới, tạo nguồn nguyên liệu phong phú cho các ngành công
nghiệp chế biến
Nguồn khoáng sản phong phú (hơn 60 loại) tạo điều kiện phát triển các ngành
công nghiệp, xuất khẩu
Việt Nam nằm ở ngã tư đường hàng không và hàng hải quốc tế, có các tuyến đường bộ và đường sắt xuyên Á, có nhiều cảng biển quan trọng như: Cái Lân, Hải Phòng, Đà Nẵng, Sài Gòn… các sân bay quốc tế như Nội Bài, Đà Nẵng, Tân Sơn Nhất nên có ý nghĩa về mặt chiến lược, an ninh quốc phòng, thuận lợi cho việc giao lưu với nhiều nước trên thế giới và khu vực Là cửa ngõ ra biển của Lào, Đông Bắc Thái Lan
và Campuchia, Tây Nam của Trung Quốc…
Có điều kiện để phát triển các ngành kinh tế biển: đánh bắt nuôi trồng hải sản,
phát triển giao thông vận tải biển, khai thác dầu khí và phát triển du lịch biển
Là nơi gặp gỡ của các nền văn hoá khác nhau, tạo điều kiện để tiếp thu những tinh hoa của văn hoá thế giới làm giàu bản sắc dân tộc, tạo điều kiện chung sống hoà
bình, hợp tác và hữu nghị với các nước láng giềng và khu vực
Nước ta có vị trí quân sự đặc biệt quan trọng ở Đông Nam Á, dễ dàng hội nhập, tiếp thu kinh nghiệm, chuyển giao công nghệ, kỹ thuật, thu hút vốn đầu tư và
mở rộng thị trường
Biển Đông của nước ta có ý nghĩa chiến lược trong công cuộc xây dựng phát
triển và bảo vệ đất nước
Khó khăn:
Những tai biến của thiên nhiên thường xảy ra: bão, hạn hán, lũ lụt
Trang 23Sự phân mùa của khí hậu nên mùa mưa thừa nước gây úng lụt, mùa khô thiếu
nước cho sản xuất Khí hậu nóng ẩm dễ làm sâu bệnh phát triển
Đường biên giới dài gây khó khăn cho bảo vệ an ninh chủ quyền, biển Đông
là biển chung của nhiều nước
Nằm ở khu vực có nền kinh tế phát triển năng động nên có nhiều thách thức
trong phát triển kinh tế xã hội, cạnh tranh thị trường…
2.2.3 Các tài nguyên thiên nhiên và việc sử dụng chúng
Tài nguyên thiên nhiên là các dạng vật chất và năng lượng tự nhiên được con người khai thác và sử dụng nhằm thoả mãn các nhu cầu sản xuất và đời sống
Tài nguyên thiên nhiên nước ta rất phong phú và đa dạng bao gồm tài nguyên đất, tài nguyên nước, tài nguyên khí hậu, sinh vật, khoáng sản
2.2.3.1 Tài nguyên đất
Đất đai là tài sản quí giá của quốc gia, là tư liệu sản xuất không thể thiếu được của nông – lâm nghiệp, là thành phần quan trọng của môi trường sống, là địa bàn
phân bố dân cư và là nơi tiến hành các hoạt động kinh tế xã hội
Tài nguyên đất nước ta rất đa dạng, khác nhau về nguồn gốc phát sinh, về độ
phì, về khả năng khai thác cho các hoạt động nông, lâm nghiệp
Nhìn chung, có thể chia làm hai nhóm chính: nhóm đất ở trung du miền núi
và nhóm đất ở đồng bằng
Nhóm đất ở trung du miền núi
Ở miền núi quá trình hình thành đất chủ yếu là quá trình Feralit Đây là quá trình hình thành đất đặc trưng cho các xứ nhiệt đới ẩm gió mùa Trong điều kiện nhiệt
ẩm cao, quá trình phong hoá diễn ra rất mạnh, các chất badơ dễ tan như Ca2+, Mg2+,
K+ bị rửa trôi làm cho đất chua, đồng thời oxit sắt ( Fe3+) và nhôm (Al3+) được tích tụ,
làm cho đất có màu đỏ vàng
Đất Feralit có tên Việt Nam là đất đỏ vàng, tổng diện tích khoảng 16,5 triệu
ha Các nhà thổ nhưỡng học phân ra nhiều loại đất Feralit: đất Feralit nâu đỏ, vàng đỏ,
nâu vàng, đỏ nâu, đất xám bạc màu, đất đen, đất mùn
Có ý nghĩa nhất đối với sản xuất nông nghiệp là đất Feralit phát triển trên đá
badan và đất Feralit phát triển trên đá vôi
- Đất Feralit phát triển trên đá ba dan (nâu đỏ): Khoảng 2 triệu ha tập trung
ở Tây Nguyên, Đông Nam Bộ và rãi rác phần phía tây các tỉnh Thanh Hoá, Nghệ An, Quảng Bình, Quảng Trị, Phú Yên Đất giàu Ca, Mg, Fe, Al, giàu đạm, có tầng đất dày,
khá phì nhiêu thích hợp cho các cây công nghiệp lâu năm như cà phê, cao su, chè
- Đất Feralit đỏ nâu phát triển trên đá vôi: Diện tích khoảng 300.000 ha, tập
trung ở miền núi trung du phía Bắc Đất giàu đạm, mùn, tơi xốp thuận lợi cho việc
trồng ngô, đậu tương…
- Đất xám bạc màu trên phù sa cổ: Diện tích khoảng 1,2 triệu ha (riêng Đông
Nam Bộ có hơn 900.000 ha), ngoài ra còn phân bố ở rìa đồng bằng sông Hồng, duyên hải Nam Trung Bộ, dải đất cao ở Long An, Đồng Tháp Địa hình cao 15 – 20m Đất bị rửa trôi lâu ngày nên ít phì nhiêu nhưng tơi xốp, thoát nước tốt Đất này nếu được cải
tạo có thể dùng để trồng cây lương thực, thực phẩm, cây ăn quả và cây công nghiệp
Trang 24Ngoài các loại đất trên ở miền đồi núi còn có khoảng 330.000 ha đất thung lũng do sản phẩm bồi tụ, thích hợp cho làm ruộng bậc thang để sản xuất lúa nước thâm
canh, trồng hoa màu, cây công nghiệp ngắn ngày
Nhìn chung, đất Feralit thuận lợi cho việc phát triển các vùng chuyên canh cây công nghiệp lâu năm, phát triển đồng cỏ chăn nuôi gia súc lớn và trồng rừng Tuy nhiên, độ dốc lớn nên dễ bị xói mòn, đá ong hóa, tầng đất canh tác mỏng ảnh hưởng
đến năng suất cây trồng
Nhóm đất ở đồng bằng
Đất vùng đồng bằng chủ yếu là đất phù sa Tuỳ theo vị trí nằm trong đê hay ngoài đê mà người ta chia 2 loại đất phù sa chính: đất phù sa được bồi tụ hàng năm và đất phù sa không được bồi tụ hàng năm Tuỳ theo lưu vực sông mà các loại đất phù sa
có đặc tính khác nhau nhưng nhìn chung khá màu mỡ, có địa hình tương đối bằng phẳng, quy mô lớn thuận lợi cho việc phát triển các vùng chuyên canh cây lương thực
– thực phẩm, cây công nghiệp ngắn ngày, cây ăn quả, nuôi trồng thuỷ sản
- Đất phù sa sông Hồng: Có thành phần cơ giới chủ yếu từ cát pha đến thịt
trung bình, tại các ô trũng thì thành phần cơ giới là thịt nặng đến sét, độ pH từ 5,5 – 7,0; giàu N, P, K, Mg và chất hữu cơ Do có đê nên phần lớn diện tích đồng bằng là đất phù sa không được bồi tụ hàng năm, lại được sử dụng với cường độ cao nên nhiều nơi đất đã bị bạc màu Trong đồng bằng hình thành nhiều ô trũng, đất trong vùng ô trũng bị hoá lầy, có hiện tượng glây mạnh Đất lầy thường có nhiều độc tố trong đất, hạn chế sự sinh trưởng và năng suất cây trồng cũng như khả năng nuôi thuỷ sản, đòi hỏi phải có biện pháp thuỷ lợi, cải tạo đất thích hợp Đất ngoài đê được bồi hàng năm
là đất cát pha, màu mỡ thường được dùng để trồng cây hoa màu, cây công nghiệp ngắn
ngày
- Đất phù sa sông Cửu Long: Có thành phần cơ giới nặng hơn từ đất thịt đến
sét, phản ứng từ chua đến trung tính, mùn và đạm trung bình, lân tương đối thấp nhưng cũng phì nhiêu Do ở đồng bằng sông Cửu Long chỉ có một số hệ thống đê bao nên về mùa lũ phần lớn diện tích đông bằng được tưới phù sa Diện tích đất phù sa ngọt ven sông Tiền, sông Hậu hiện nay đang được thâm canh cao, trồng cây lương
thực – thực phẩm và cây ăn quả
- Đất phù sa các đồng bằng duyên hải Miền Trung: Do tác động của biển rõ
rệt trong quá trình hình thành đồng bằng nên đất có thành phần cơ giới từ cát pha đến
thịt nhẹ, đất chua nghèo
- Đất phèn: Diện tích trên 2,1 triệu ha Riêng ở đồng bằng sông Cửu Long có
tới 1,9 triệu ha, tập trung chủ yếu ở Đồng Tháp Mười, Tứ giác Long Xuyên và bán đảo Cà Mau Ở đồng bằng sông Hồng đất phèn có ở các huyện ven biển Hải Phòng, Thái Bình Đất phèn phân bố chủ yếu ở các vũng biển cũ, nơi có nhiều xác thực vật thối rữa của rừng ngập mặn trước đây Nếu như độ pH của đất và nước dưới 4,5 thì hầu hết các loài cá không sống được, nếu độ pH dưới 3 thì không loài thủy sinh và giống cây nào sống được Vì vậy, đối với đất phèn cần phải tiến hành tháu chua, rửa
phèn
- Đất mặn: Diện tích gần 1 triệu ha, tập trung ở vùng cửa sông ven biển của
đồng bằng sông Cửu Long nhất là ở các tỉnh Long An, Tiền Giang, Bến Tre, Trà Vinh, Sóc Trăng, Bạc Liêu và Cà Mau Ở đồng bằng sông Hồng đất mặn phân bố chủ yếu ở các tỉnh Thái Bình, Nam Định Đất bị nhiễm mặn do bị ngập nước mặn hay do nước
Trang 25ngầm mặn gây ra Tuỳ theo hàm lượng clo trong đất mà phân ra: đất mặn nhiều, mặn trung bình, mặn ít và đất mặn dưới rừng ngập mặn
Để khai thác đất mặn, nhân dân ta thường quai đê lấn biển, rửa mặn bằng nước mưa, trồng cói trước khi trồng lúa Hiện nay ở nhiều vùng nhất là vùng đồng bằng sông Cửu Long, nhân dân ta trồng một vụ lúa dựa vào nước trời và nuôi một vụ
tôm, cho hiệu quả kinh tế cao
- Đất cát ven biển: Diện tích khoảng 500.000 ha, phân bố dọc bờ biển, nhiều
nhất ở Trung bộ, có nhiều ở Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên - Huế, Bình Thuận Các cồn cát thường lấn vào làng mạc, ruộng đồng nên việc trồng rừng chắn gió, chắn cát là rất quan trọng Đối với những cồn cát đã ổn định, không di động có thể tận dụng
để trồng hoa màu, cây công nghiệp hay trồng rừng
Hình 2.6 Bản đồ đất của Việt Nam
(Nguồn: Atlas Địa lý Việt Nam)
Trang 26Sự cần thiết phải đặt ra vấn đề bảo vệ tài nguyên đất
Diện tích đất tự nhiên nước ta khoảng 33 triệu ha Do dân số đông, diện tích
đất tự nhiên bình quân đầu người thấp, chỉ 0,4 ha/ người (bằng 1/6 bình quân thế giới)
Hiện có khoảng trên 9,4 triệu ha đất tự nhiên sử dụng trong nông nghiệp, bình
quân diện tích đất nông nghiệp chỉ khoảng 0,1 ha/người
Những năm gần đây, diện tích đất hoang giảm mạnh nhưng diện tích đất bị suy thoái vẫn rất lớn, Ngoài nửa triệu ha đất xói mòn trơ sỏi đá, các loại đất khác cần
cải tạo chiếm gần 6 triệu ha (đất phèn, đất mặn, đất cát biển, đất glây…)
Đất chưa sử dụng còn nhiều, khả năng mở rộng diện tích đất nông nghiệp rất hạn chế, lại bị thu hẹp do nhiều nguyên nhân (mặn hoá, phèn hoá, bạc màu…) Vì vậy,
vấn đề bảo vệ tài nguyên đất là vấn đề hết sức cấp thiết
Biện pháp bảo vệ: Cần sử dụng đất hợp lý có hiệu quả
Đối với vùng đồi núi: Do điều kiện nhiệt đới ẩm mưa mùa nên đất đai dễ bị
rửa trôi, nghèo mùn, điều kiện thuỷ lợi khó khăn, khó áp dụng các biện pháp thâm canh như đồng bằng, sự hạn chế cơ sở hạ tầng, dịch vụ nông nghiệp làm cho sản xuất thấp, mang tính tự cấp tự túc Việc sử dụng đất chưa hợp lý cùng với việc phá rừng làm cho diện tích đất trống đồi trọc tăng Vì vậy, cần xác định ranh giới đất lâm nghiệp và nông nghiệp, cần quy hoạch bảo vệ rừng đầu nguồn, chống đốt phá rừng, hạn chế nạn du canh, du cư, có các biện pháp chống xói mòn, thực hiện trồng rừng làm ruộng bậc thang, nông – lâm kết hợp, sử dụng kĩ thuật canh tác trên đất dốc để
tránh xói mòn và giữ ẩm cho đất
Ở vùng đồng bằng:
Cần có những biện pháp nghiêm ngặt nhằm hạn chế việc suy giảm tài nguyên đất nông nghiệp do lãng phí đất trong khi chuyển từ đất nông nghiệp sang đất chuyên dùng và thổ cư, do để đất hoang hoá trở lại đồng thời thâm canh, nâng cao hiệu quả sử
dụng đất
Cần canh tác sử dụng đất hợp lý, chống bạc màu, glây, nhiễm mặn, nhiễm phèn, bón phân cải tạo đất thích hợp Bên cạnh đó, cần có biện pháp chống ô nhiễm làm thoái hoá đất do do chất độc hoá học, thuốc trừ sâu, chất thải công nghiệp, chất
bẩn chứa nhiều vi khuẩn gây bệnh hại cây trồng
Nói chung, thuỷ lợi là biện pháp hàng đầu để nâng cao hệ số sử dụng đất
gồm: tháu úng, chống hạn, tháu chua, rửa mặn, tăng vụ trong mùa khô, cải tạo đất
Việc quản lý và sử dụng hợp lý các đất phèn là nhiệm vụ rất khó khăn ở đồng bằng, cần áp dụng các hệ thống canh tác hợp lý như lên liếp để trồng các cây trồng cạn (mía, dứa…), cây ăn quả; trồng các giống cây địa phương có khả năng chịu phèn tốt
và phát triển các hệ thống cây trồng, vật nuôi thích nghi với các độ chua phèn khác
nhau
2.2.3.2 Tài nguyên khí hậu
Là tài nguyên quan trọng ảnh hưởng đến cơ cấu cây trồng, thời vụ, khả năng xen canh tăng vụ trong nông nghiệp Đây cũng là một yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến sự phát triển của lâm, ngư nghiệp, công nghiệp hay các hoạt động khác
Đặc điểm khí hậu
Trang 27Hình 2.7 Bản đồ Khí hậu Việt Nam
(Nguồn: Atlas Địa lý Việt Nam)
Nước ta có khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa, thể hiện ở:
- Nền nhiệt cao: nhiệt độ trung bình năm 22 - 270C, tổng nhiệt độ hoạt động
từ 8000 – 10.0000C, mỗi năm có trên 1.400 giờ nắng, cán cân bức xạ luôn luôn dương
- Lượng mưa trung bình năm từ 1.500 – 2.000 mm/ năm, ở nơi đón gió có thể lên 3.500 – 4.000 mm/ năm, riêng vùng khô hạn Ninh Thuận, Bình Thuận chỉ 700 –
800 mm/ năm, độ ẩm không khí nước ta thường xuyên trên 80%
Trang 28Khí hậu phân hoá theo mùa, theo vĩ tuyến (Bắc – Nam) và theo độ cao địa hình:
- Theo vĩ tuyến: càng vào Nam nhiệt độ càng tăng Miền Bắc có mùa đông lạnh, miền Nam nóng quanh năm
- Theo mùa: một năm có hai mùa mưa và khô
- Theo độ cao địa hình: Ở vùng núi và cao nguyên có các vành đai khí hậu khác nhau từ nhiệt đới đến cận nhiệt đới và ôn đới núi cao
Ảnh hưởng của khí hậu đến phát triển kinh tế
Khí hậu nhiệt đới gió mùa của nước ta có nguồn nhiệt rất phong phú, cho phép cây cối phát triển xanh tươi quanh năm Từ đó có thể phát triển một nền nông nghiệp nhiệt đới với nhiều sản phẩm quý (luá gạo, cà phê, tiêu ) tạo khả năng xen
canh tăng vụ để tăng sản lượng, rừng mưa nhiệt đới phát triển cho nhiều lâm sản
Sự phân hoá của khí hậu góp phần tạo ra một hệ thống mùa vụ phong phú, đa dạng, hiệu quả kinh tế cao Ngoài các sản phẩm nhiệt đới còn có các sản phẩm cận nhiệt đới và ôn đới, đáp ứng nhu cầu lương thực – thực phẩm cho nhân dân và là
nguồn nguyên liệu phong phú cho công nghiệp và phục vụ xuất khẩu
Khí hậu thuận lợi cho nhiều loài thuỷ hải sản phát triển, tạo điều kiện cho
việc nuôi trồng đánh bắt thuỷ sản
Hạn chế
Khí hậu gió mùa đem lại nhiều tai biến:
- Mùa khô gây ra hạn hán, thiếu nước cho sản xuất, sinh hoạt
- Mùa mưa gây lụt úng ở đồng bằng, trượt đất, lũ quét ở miền núi, làm tắc nghẽn giao thông…
- Bão thường xảy ra (hàng năm trung bình 3 - 4 cơn bão lớn và nhiều đợt áp thấp nhiệt đới), gây nhiều thiệt hại nhất là duyên hải miền Trung
- Một số địa phương còn chị ảnh hưởng gió Lào, sương muối, mưa đá
Thời tiết nóng ẩm làm sâu bệnh dễ phát triển
Mưa tập trung theo mùa dẫn đến hiện tượng rửa trôi, xói mòn, bạc màu đất đai, nhiễm mặn ở vùng ven biển
Thời tiết biến đổi thất thường ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp, phải xác định cơ cấu mùa vụ hợp lý, ảnh hưởng đến ngành thuỷ sản, các ngành công nghiệp, giao thông vận tải và du lịch
Phải đầu tư nhiều vốn để phòng chống và cải tạo sau thiên tai
2.2.3.3 Tài nguyên nước
Tài nguyên nước ở nước ta khá phong phú, bao gồm cả nguồn nước trên mặt
và nguồn nước dưới đất, phục vụ đắc lực cho sản phẩm nông nghiệp, công nghiệp,
giao thông vận tải và đời sống
Tài nguyên nước trên mặt:
Trang 29Mạng lưới sông ngòi dày đặc, mật độ trung bình 0,5 - 1,0 km/km2, dọc bờ biển trung bình 20 km gặp một cửa sông Cả nước có 2360 con sông có chiều dài từ 10
km trở lên
Lượng mưa lớn nên tổng lượng dòng chảy lớn (839 tỉ m3/năm), lượng phù sa nhiều (trên 200 triệu tấn), thuỷ chế theo mùa do ảnh hưởng khí hậu; 60% lượng nước
là từ phần lưu vực bên ngoài lãnh thổ
Lượng nước phân bố không đều giữa các hệ thống sông:
- Sông Mê Công: Chiếm trên 60% tổng lượng nước toàn quốc
- Sông Hồng: Chiếm gần 15% tổng lượng nước toàn quốc
- Các sông khác chỉ chiếm khoảng 25% tổng lượng nước toàn quốc
Tài nguyên nước ngầm: Dồi dào, phân bố chủ yếu ở các đồng bằng châu thổ
và ven biển (hạn chế trong các tầng đá vôi và các tầng badan) Đã phát hiện khoảng
350 nguồn nước khoáng, nước nóng, ước tính mỗi năm có thể khai thác khoảng 6 – 7
tỉ m3 nước
Nhìn chung sông ngòi nước ta có ý nghĩa kinh tế lớn Các hệ thống sông lớn tạo nên các đồng bằng lớn như: đồng bằng sông Hồng, đồng bằng sông Cửu Long, dải đồng bằng hẹp duyên hải miền Trung, các cánh đồng giữa núi tạo điêu kiện phát triển một nền nông nghiệp lúa nước, định canh, định cư, tập trung dân cư và phát triển kinh
tế
Ven sông có nhiều địa điểm lập làng, phát triển các đô thị, nhiều trung tâm công nghiệp dịch vụ được phân bố ven sông Hệ thống sông nếu được cải tạo sẽ là hệ thống giao thông đường thủy lý tưởng
Ven sông có các cảng sông, thậm chí có cảng có ý nghĩa quốc tế như cảng Cần Thơ Ngoài ra, sông ngòi còn là môi trường rộng lớn để nuôi thuỷ sản phục vụ sinh hoạt, sản xuất nông nghiệp, công nghiệp
Sông ngòi nước ta có giá trị lớn về thủy điện Tổng trữ năng khoảng 30 triệu
kw, có khả năng cung cấp 250 – 270 tỉ kwh điện mỗi năm
Nguồn nước ngầm cũng có giá trị lớn, cung cấp nước tưới cho cây trồng, cho sản xuất công nghiệp và cho sinh hoạt Một số nguồn nước khoáng được khai thác để phục vụ cho tiêu dùng, du lịch và chữa bệnh
Tuy nhiên, khó khăn trong khai thác nguồn lợi sông ngòi của nước ta trước
hết là do tính chất thất thường của thuỷ chế, sự chênh lệch quá lớn giữa lưu lượng mùa
lũ và mùa kiệt Lũ lụt năm nào cũng gây thiệt hại lớn về người và của, vào mùa kiệt lại thiếu nước cho sản xuất và thuỷ điện, do lưu lượng dòng chảy nhỏ nên ảnh hưởng của thuỷ triều khá sâu vào đất liền có ảnh hưởng lớn đến việc khai thác tài nguyên khác cho tưới, vận tải thuỷ nhất là ở đồng bằng sông Cửu Long
Dòng chảy cát bùn (phù sa) lớn, lượng phù sa này một mặt bồi bổ cho các đồng bằng mặt khác lại gây bồi lấp thuỷ lợi (kênh, mương, hồ chứa nước), các đập thủy điện làm thay đổi luồng lạch, đòi hỏi phải tạo vét thường xuyên, tốn kém
Mặt khác, do dân số tăng nhanh, do hoạt động nông nghiệp, công nghiệp và nguồn nước nhiều vùng đang bị ô nhiễm kể cả nước mặt và nước ngầm Hàng năm hoạt động công nghiệp thải trên 300 nghìn tấn các chất độc hại vào môi trường Khu công nghiệp Biên Hoà - Tp HCM có lượng nước thải hàng ngày là 500 ngàn m3 Ở
Trang 30Hà Nội, mỗi ngày có khoảng 300 nghìn m3nước thải đổ vào sông, hồ Trong hoạt động nông nghiệp, lượng thuốc trừ sâu, phân bón hữu cơ và hoá chất dư thừa cũng là nguồn gây ô nhiễm nhiều vùng nước ở nông thôn Nói chung, bảo vệ tài nguyên môi trường bao gồm sử dụng tài nguyên hợp lý lâu dài và đảm bảo chất lượng môi trường sống cho con người
2.2.3.4 Tài nguyên sinh vật
Do vị trí địa lý, sự phân hoá của các điều kiện khí hậu, điều kiện địa hình và lịch sử hình thành lãnh thổ lâu dài mà tài nguyên sinh vật nước ta phong phú và đa dạng Có cả các loài động thực vật trên cạn ven biển và ngoài khơi tạo điều kiện phát triển ngành công nghiệp chế biến lương thực – thực phẩm, công nghiệp nhẹ và phục
vụ xuất khẩu
Trên cạn: Có cả 7.000 loài thực vật bậc cao, 700 loài chim, 300 loài thú
Dưới nước: Có hơn 500 loài cá nước ngọt, 2000 loài cá biển trong đó có hơn
100 loài có giá trị kinh tế cao, trên 600 loài rong biển, 70 loài tôm, 50 loài cua và
nhiều đặc sản khác
Tài nguyên rừng: Năm 2009 tổng diện tích rừng Việt Nam khoảng 13,2 triệu
ha Trong đó, diện tích rừng tự nhiên 10,3 triệu ha, diện tích rừng trồng 2,9 triệu ha, tỷ
lệ che phủ chiếm 39,1% Có cả các loài rừng rậm nhiệt đới, cận nhiệt đới, ôn đới và rừng ngập mặn ven biển
Rừng có giá trị cung cấp gỗ, lâm sản, dược liệu, chim thú Là nguồn nguyên liệu cho công nghiệp chế biến lâm sản, thuốc chữa bệnh, sản xuất hàng thủ công, cung cấp thực phẩm, phục vụ xuất khẩu
Phân bố tập trung ở Tây Nguyên, duyên hải Miền Trung
Bảng 2.1 Sự biến động diện tích rừng qua các năm (triệu ha)
Trang 31Nhìn chung từ năm 1943 – 2009, diện tích rừng nước ta không ngừng biến
- Năm 1985: Chỉ còn 7,2 triệu ha, độ che phủ chỉ 22,0%
- Năm 1999: Tăng lên 10,9 triệu ha ,năm 2005 có 12,7 triệu ha, độ che phủ 38,0% Năm 2009 hơn 13,2 triệu ha, độ che phủ 39,1%
Trong điều kiện miền núi nhiệt đới gió mùa, nếu lớp phủ rừng dưới 30% đã ở dưới mức an toàn về sinh thái Điều này đã làm cho thiên tai nhất là hiện tượng lũ quét, hạn hán ở miền núi những năm gần đây thêm dữ dội và xảy ra thường xuyên
hơn
Nguyên nhân làm suy thoái lớp phủ rừng
- Do việc mở rộng diện tích đất canh tác Ở vùng núi phía Bắc chủ yếu là do
mở rộng diện tích để trồng cây lương thực tự cấp tự túc và tình trạng du canh du cư còn phổ biến Còn ở Tây Nguyên lại là việc phá rừng để mở rộng diện tích trồng cây
lâu năm (cà phê, chè, cao su )
- Do chặt rừng lấy củi Nhu cầu về củi đốt của nhân dân ta rất lớn, chiếm tới
75% tổng năng lượng sử dụng các loại Mỗi năm cả nước khai thác khoảng 30 triệu ste
củi
- Do khai thác gỗ cho nhu cầu công nghiệp và dân dụng, do xuất khẩu
- Do du canh, du cư Tình trạng đốt nương làm rẫy, du canh còn khá phổ biến
ở vùng núi trung du phía Bắc, Tây Nguyên và Bắc Trung Bộ
- Do cháy rừng: Việc đốt nương làm rẫy mà không có các biện pháp ngăn lửa
làm cho diện tích đất rừng bị đốt lớn gấp 10 – 20 lần diện tích cần khai hoang Hiện tượng cháy rừng diễn ra với quy mô lớn ở đồng bằng sông Cửu Long vì ở đây có lượng mưa nhỏ về mùa khô; mùa khô rõ rệt và đất than bùn làm cho thực bì dễ bén lửa Quy mô cháy rừng hiện nay đặc biệt lớn ở Tây Nguyên và Đông Nam Bộ, gây
thiệt hại lớn về tài nguyên rừng và động vật hoang dã
- Các nguyên nhân khác: Do chiến tranh, việc xây dựng các công trình hồ chưa nước lớn làm ngập nhiều diện tích rừng, do trồng rừng kém
Trong những năm gần đây, tình trạng suy giảm diện tích rừng chậm lại Nếu giai đoạn 1976 – 1990 bình quân hàng năm mất 190.000 ha rừng thì giai đoạn 1991 –
1995 chỉ còn 35.000 ha, diện tích rừng trồng đã tăng lên nhanh chóng
Tác động của con người làm thu hẹp diện tích rừng, đồng thời còn làm nghèo
tính đa dạng của kiểu hệ sinh thái
Không chỉ trên đất liền mà nguồn tài nguyên sinh vật dưới nước, đặc biệt nguồn hải sản nước ta cũng bị giảm sút rõ rệt Nguồn lợi cá nổi (cá trích, cá nục…) ở ven vịnh Bắc Bộ cũng có chiều hướng giảm dần Nhiều loài có nguy cơ tuyệt chủng như cá mòi, cá cháy… Nhiều loài đang giảm mức độ tập trung như cá chim, cá gúng,
cá hồng… Đó là tình trạng khai thác quá mức và tình trạng ô nhiễm môi trường nước,
nhất là vùng cửa sông, ven biển
Trang 32Phương hướng bảo vệ rừng
Quy hoạch sử dụng rừng một cách hợp lý, song song khai thác phải bảo vệ và
tái tạo tài nguyên rừng
Định canh định cư, phát triển kinh tế xã hội vùng cao Ngăn cấm đốt phá
rừng, săn bắn và buôn bán các động vật rừng quý hiếm
Lập các khu bảo tồn tự nhiên, các vườn quốc gia, bảo vệ cảnh quan, sự đa dạng sinh học (Hiện có hơn 30 vườn quốc gia Một số khu đã được UNESCO công nhận là khu dự trữ sinh quyển của thế giới như vườn quốc gia Cát Bà, Cát Tiên, Khu
bảo tồn thiên nhiên Cần Giờ…)
Chú ý bảo vệ rừng phòng hộ (đầu nguồn, ven biển) nhất là rừng đầu nguồn của các lưu vực sông Đà, sông Chảy, sông Sài Gòn, Trà Khúc, sông Xêxan, sông
Đồng Nai và sông Đa Nhim để bảo vệ các công trình thuỷ điện lớn tại đây
Đối với rừng sản xuất: Đảm bảo duy trì diện tích và chất lượng rừng
Ban hành Sách Đỏ Việt Nam với số lượng các loài cần bảo vệ
2.2.3.5 Tài nguyên khoáng sản
Vai trò: Khoáng sản là tài nguyên có ý nghĩa đặc biệt trong phát triển kinh tế
Đặc điểm: Tài nguyên khoáng sản nước ta phong phú về chủng loại, đa dạng
về loại hình bao gồm các loại khoáng sản kim loại, phi kim loại, nhiên liệu
Đã phát hiện 3.500 điểm quặng mỏ của hơn 60 loại khoáng sản Trong đó có một số loại khoáng sản có trữ lượng lớn, chất lượng tốt như than đá, dầu mỏ, khí đốt, thiếc, bôxit, vật liệu xây dựng là điều kiện vật chất cho việc xây dựng một số ngành
công nghiệp trọng điểm, đồng thời tạo ra nguồn hàng xuất khẩu chủ lực của đất nước
Tuy nhiên, khoáng sản nước ta phân tán theo không gian và không đều về trữ
lượng, hàm lượng chưa cao, phức tạp khi sử dụng và chế biến
Phần lớn các mỏ có trữ lượng trung bình và nhỏ nên khó khăn trong thiết kế khai thác công nghiệp và cũng gây trở ngại trong quản lý tài nguyên Các mỏ lại phân
bố chủ yếu ở miền núi và trung du, nơi có điều kiện cơ sở hạ tầng nhất là giao thông
vận tải kém phát triển gây khó khăn cho việc khai thác và chế biến
Các loại khoáng sản nhiên liệu - năng lượng
Dầu khí: Có nhiều ở thềm lục địa, đặc biệt là thềm lục địa Nam Bộ Theo kết
quả nghiên cứu, dầu khí nước ta tập trung vào các bể trầm tích sau:
Bể trầm tích sông Hồng: Đã phát hiện mỏ khí Tiền Hải (Thái Bình)
Bể trầm tích Trung Bộ: Tiềm năng hạn chế
Bể trầm tích Cửu Long: Trữ lượng tương đối lớn
Trang 33Bể trầm tích Nam Côn Sơn: Có trữ lượng lớn nhất nhưng đây là vùng nước
sâu nên công tác thăm dò gặp nhiều khó khăn
Bể trầm tích Thổ Chu – Mã Lai: Tiềm năng không lớn
Tổng trữ lượng dự báo toàn bộ vùng thềm lục địa Việt nam đạt khoảng 10 tỉ tấn dầu, trữ lượng khai thác 4 – 5 tỉ tấn, trữ lượng khí đồng hành khoảng 250 – 300 tỉ
m3 Các mỏ dầu đã khai thác hiện nay là Bạch Hổ, Mỏ Rồng, Đại Hùng, Lan Đỏ, Lan
Tây
Than đá: Có nhiều loại và có nhiều nơi với trữ lượng lớn (khoảng 7 tỉ tấn) ,
trong đó than antraxit và nửa antraxit là 6.610 triệu tấn, than mỡ (than cốc) là 25 triệu
tấn, ngoài ra là than nâu lửa dài và than bùn
Vùng than lớn nhất nước ta là bể than Đông Bắc, chủ yếu tập trung ở Quảng
Ninh Than ở đây chủ yếu là than antraxit và nửa antraxit, có nhiệt lượng cao, ít tro
Ngoài ra, than antraxit còn có ở bể than Nghệ Tĩnh, bể than Nông Sơn (Quảng Nam)
Than mỡ: Trữ lượng ít, chỉ có một số mỏ ở Phấn Mễ, làng Cẩm, chợ Đồn, (bể
than Đông bắc), bể than Điện Biên, Khe Bố (Nghệ An), trữ lượng thăm dò khoảng 8,6
triệu tấn
Than nâu: Là than biến chất yếu, hàm lượng lưu huỳnh trong than cao, chứa
nhiều chất bốc nên gọi là than lửa dài Phân bố ở Na Dương (Lạng Sơn) , vùng trũng
Hà Nội, vùng trũng dọc sông Cả
Than bùn: Phân bố chủ yếu ở các hố trũng ở trung du phía Bắc, ở đồng bằng
sông Hồng và nhất là ở đồng bằng sông Cửu Long Hiện đã được khai thác làm chất
đốt, phân bón phục vụ nhu cầu của các địa phương
Khoáng sản kim loại
Kim loại đen: Dùng làm nguyên liệu cho công nghiệp luyện kim đen có sắt,
mangan, crôm, titan
Sắt: đã phát hiện mỏ sắt lớn ở Mạo Khê (Hà Tĩnh), ngoài ra còn có nhiều ở
Yên Bái, Thái Nguyên
Mangan: Chỉ có một số mỏ nhỏ, đáng kể là mỏ Trùng Khánh, Trà Lĩnh (Cao
Bằng)
Crôm: Có ở Cổ Định (Thanh Hoá), là một loại mỏ vào loại lớn trên thế giới,
trữ lượng dự báo là 22,8 triệu tấn
Titan: Có ở khu vực núi Chúa (Thái Nguyên), trữ lượng khoảng 180 triệu tấn
Ngoài ra còn có ở các bãi cát ven biển
Kim loại màu, kim loại quý và hiếm
Đặc điểm chung của các mỏ kim loại màu là mỏ đa kim, thường là mỏ nhỏ,
lại ở vùng núi điều kiện khai thác khó khăn, đòi hỏi công nghệ cao Phân bố:
Mỏ đồng: Mỏ Tạ Khoa (Sơn La), chủ yếu là đồng – niken,mỏ Sinh Quyền
(Lào Cai ) là đồng – vàng
Chì - kẽm: Tập trung ở vùng mỏ Chợ Đồn – Chợ Điền Ngoài ra còn có ở
Thái Nguyên, Tuyên Quang
Trang 34Thiếc – vônfram: Có nhiều ở Tĩnh Túc (Cao Bằng), Sơn Dương (Tuyên
Quang) và Quỳ Hợp (Nghệ An)
Bôxit: Có ở nhiều nơi, riêng ở vùng Cao Bằng, Lạng Sơn trữ lượng khoảng
30 triệu tấn, còn ở Tây Nguyên lên tới hàng tỉ tấn
Vàng: Có ở nhiều nơi, lớn nhất là mỏ vàng Bồng Miêu (Quảng Nam), trữ
lượng dự báo 10 tấn, khai thác từ lâu
Khoáng sản phi kim loại: Được phân thành một số nhóm: nguyên liệu cho
công nghiệp hoá chất và phân bón, nguyên liệu kĩ thuật và mỹ nghệ, nguyên liệu sản xuất gạch chịu lửa - gốm sứ – vật liệu xây dựng
Apatit: Tập trung ở Cam Đường (Lào Cai), trữ lượng trên 500 triệu tấn, dùng
để sản xuất phân lân
Photphorit: Ít, có ở Lạng Sơn, có giá trị công nghiệp
Pyrit: Dùng để sản xuất axit sulfurit, rãi rác nhiều nơi Hiện mới khai thác ở
Thanh Sơn (Phú Thọ) để cung cấp nguyên liệu cho nhà máy hoá chất Lâm Thao
Đá quý: Tập trung ở sông Hồng (từ Lào Cai đến Sơn Tây với các loại như
rubi, saphia
Cát, thuỷ tinh: Chủ yếu ở duyên hải miền Trung Cát Cam Ranh nổi tiếng
chất lượng tốt dùng để sản xuất pha lê, thuỷ tinh
Cao lanh: Để sản xuất đồ sứ cao cấp và sứ mỹ nghệ, có ở nhiều nơi (50 triệu
tấn)
Đá vôi: Rất phong phú, tập trung từ khu vực Thừa Thiên Huế ra Bắc Ngoài
ra còn có ở Quảng Nam, Đà Nẵng, Hà Tiên
Đá xây dựng: Có nhiều loại có giá trị như đá hoa, granit, cát kết,… ở nhiều
địa phương
Nước khoáng: Phong phú với trên 300 nguồn nước khoáng, nước nóng lộ ra
mặt đất, trong đó có 62 nguồn lộ có nhiệt độ trên 500C Đây là nguồn tài nguyên du lịch và nghỉ dưỡng, có giá trị chữa bệnh Nhiều nguồn đã được khai thác như Kim Bôi (Hoà Bình), Thạch Bích (Quảng Ngãi ), Vĩnh Hảo (Bình Thuận)
Trang 35Hình 2.8 Bản đồ Địa chất Khoáng sản Việt Nam
(Nguồn: Atlas Địa lý Việt Nam)
Trang 36Hình 2.9 Sơ đồ các bể trầm tích Đệ Tam ở Việt Nam
Trang 372.2.4 Vấn đề sử dụng hợp lý tài nguyên và bảo vệ môi trường ở Việt Nam 2.24.1 Những vấn đề về tài nguyên môi trường
Tài nguyên nước ta phong phú và đa dạng, song hiện nay chúng ta đang đứng
trước một nguy cơ là tài nguyên môi trường Việt Nam đang bị kiệt quệ và ô nhiễm
Tài nguyên rừng nước ta có nguy cơ cạn kiệt đi nhanh chóng, vượt xa mức báo động thông thường và đe doạ trên phạm vi cả nước Vì vậy, vấn đề mất rừng, cạn
kiệt nguồn nước, xói mòn, rửa trôi, sụp lỡ đất đá đã và đang xảy ra ở nhiều nơi
Chất lượng đất đang bị suy giảm nghiêm trọng và diện tích đất canh tác trên
người đã thấp và ngày càng thấp
Tài nguyên biển, nhất là sinh vật biển ven bờ đã và đang suy giảm đáng kể
Môi trường biển bắt đầu bị ô nhiễm, trước hết do dầu mỡ, chất thải trên biển
Nguồn tài nguyên khoáng sản, nước, sinh vật, hệ sinh thái do sử dụng
không hợp lý dẫn đến sự cạn kiệt, nghèo đi và mất cân bằng
Ô nhiễm môi trường, ô nhiễm nguồn nước, không khí đã xuất hiện nhiều nơi nhất là ở các thành phố do chất thải công nghiệp, khí thải từ các phương tiện giao thông, nướa thải, rác thải Do đó, vấn đề xử lý rác, nước thải đã trở thành vấn đề nan
giải cho các thành phố, đặc biệt là các thành phố lớn
Do gia tăng dân số nước ta quá nhanh và việc phân bố không đều, không hợp
lý lực lượng lao động giữa các vùng và các ngành khai thác tài nguyên đã gây sức ép nặng nề đến việc giải quyết công ăn, việc làm, quá trình đô thị hoá và tác động tiêu
cực đến môi trường
Ảnh hưởng của chiến tranh, đặc biệt là chất độc hoá học đã và đang gây hậu
quả nghiêm trọng đối với con người và môi trường sống
Thiếu các cơ sở vật chất kỹ thuật, cán bộ, hệ thống văn bản hướng dẫn các vấn đề môi trường trong khi yêu cầu cải thiện, chống ô nhiễm môi trường ngày càng
khu vực và bảo vệ môi trường toàn cầu
Xác định luật tài nguyên, luật bảo vệ môi trường như: luật bảo vệ và phát triển rừng, luật dầu khí, luật thuế sử dụng đất nông nghiệp, luật bảo vệ môi trường hay các pháp lệnh tài nguyên khoáng sản, pháp lệnh bảo vệ và kiểm dịch thực vật, pháp
lệnh về phòng chống lũ lụt
Trang 38Xác định quyền sở hữu về tài nguyên môi trường, làm sáng tỏ quyền sở hữu
và quyền sử dụng tài nguyên thiên nhiên, góp phần cải thiện có hiệu quả đối với môi
trường
Ngoài ra, Nhà nước còn có chính sách thuế tài nguyên, đánh giá kinh tế tài nguyên thiên nhiên, tuyên truyền, giáo dục, vận động, nâng cao nhận thức của toàn dân về bảo vệ môi trường và tổ chức lãnh thổ kinh tế – xã hội trên phạm vi cả nước,
từng vùng, từng địa phương
2.2.4.3 Chiến lược quốc gia về bảo vệ tài nguyên môi trường
Chiến lược quốc gia về bảo vệ tài nguyên môi trường ở Việt Nam dựa trên những nguyên tắc chung của chiến lược bảo vệ toàn cầu (WSC), chiến lược này nhằm đảm bảo sự bảo vệ đi đôi với sự phát triển bền vững
Các nhiệm vụ chiến lược đề ra là:
- Duy trì các quá trình sinh thái chủ yếu và các hệ thống sống có ý nghĩa quyết định đến đời sống con người
- Đảm bảo sự giàu có của đất nước về vốn gen các loài nuôi trồng cũng như các loài hoang dại có liên quan đến lới ích lâu dài của nhân dân Việt Nam và của cả nhân loại
- Đảm bảo việc sử dụng hợp lý các nguồn tài nguyên thiên nhiên, điều khiển việc sử dụng trong giới hạn có thể phục hồi được
- Đảm bảo chất lượng môi trường phù hợp với yêu cầu về đời sống con người
- Phấn đấu đạt tới trạng thái ổn định dân số ở mức cân bằng với khả năng sử dụng hợp lý các nguồn tài nguyên thiên nhiên
Để thực hiện các nhiệm vụ chiến lược trên, ngày 10/1/1994, Nhà nước đã ban hành Luật bảo vệ môi trường Luật bảo vệ môi trường nêu rõ mục tiêu phòng, chống, khắc phục sự suy thoái môi trường, ô nhiễm môi trường, sự cố môi trường để đảm bảo một môi trường trong lành, phục vụ sự nghiệp phát triển lâu bền của đất nước, góp phần bảo vệ môi trường của khu vực và của toàn cầu
3 ĐỊA LÝ DÂN CƯ
3.1 Cộng đồng dân tộc Việt Nam
3.1.1 Việt Nam là một quốc gia nhiều dân tộc
Cộng đồng dân tộc Việt Nam bao gồm 54 dân tộc thuộc 8 nhóm ngôn ngữ của 3 dòng: Nam Á, Nam Đảo, Hán – Tạng Quá trình hình thành cộng đồng dân tộc Việt Nam gắn liền với hoàn cảnh địa lý của khu vực
Trong cộng đồng dân tộc Việt Nam, người Việt (Kinh) chiếm đa số 86,2% dân
số cả nước (1999), các dân tộc ít người còn lại sống rải rác từ Bắc đến Nam nhưng chỉ chiếm 13,8% dân số toàn quốc
Về mặt số lượng, sau người Việt là người Tày (1,85%), Thái (1,6%) dân số cả nước, mỗi dân tộc có số dân trên 1 triệu người Các dân tộc Mường, Hoa, Khơme, Nùng, H’Mông, Dao có số dân từ 500.000 đến 1 triệu người Các tộc khác có số dân ít hơn và dao động từ vài trăm ngàn đến vài trăm người
Trang 39Các dân tộc xếp theo các dòng ngôn ngữ
Dòng Nam Á:
- Ngôn ngữ Việt - Mường: Kinh (Việt), Mường, Thổ, Chứt
- Ngôn ngữ Môn - Khơme: Khơme, Ba Na, Xơ Đăng, Cơ Ho, Hrê, Mnông,
Xtiêng, Bru- Vân Kiều, Cơ Tu, Giẻ - Triêng, Mạ, Khơ Mú, Co, Tà Oi, Chơ Ro,
Kháng, Xinh Mun, Mảng, Brâu, Ơ Đu, Rơ Măm
- Ngôn ngữ Tày - Thái: Tày, Thái, Nùng, Sán Chay (Cao Lan- Sán Chỉ), Giáy, Lào , Lụ, Bố Y
- Ngôn ngữ Mèo - Dao: Mông (Mèo), Dao, Pà Thẻn
- Ngôn ngữ Ka Đai: La Chí, La Ha, Cơ Lao, Pu Péo
Dòng Nam Đảo: Ngôn ngữ Malayô - Pôlinêdiêng: Gia Rai, Ê Đê, Chăm
(Chàm), Raglai, Chu Ru
Dòng Hán – Tạng:
- Ngôn ngữ Hán: Hoa (Hán), Ngái, Sán Dìu
- Ngôn ngữ Tạng - Miến: Hà Nhì, La Hủ, Phù Lá, Lô Lô, Cống, Si La
Mỗi tộc người có tiếng nói và chữ viết riêng, nhưng ngôn ngữ chính thức của nước ta là tiếng Việt
Trang 40Hình 2.10 Bản đồ Dân tộc Việt Nam
(Nguồn: Atlas Địa lý Việt Nam)
Dân số xếp theo tôn giáo
Hơn 80% dân số không tôn giáo (cao ở các tỉnh phía Bắc)
Hơn 19% dân số nước ta theo các tín ngưỡng nhất định
Các tôn giáo chính nước ta là: Phật giáo, Công giáo, Tin lành, Hồi giáo, đạo Cao Đài, đạo Hoà Hảo Ngoài ra, Việt Nam còn chịu ảnh hưởng rõ nét của Nho giáo và Lão giáo