1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đánh giá tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài đến sự phát triển kinh tế xã hội tỉnh bắc giang

120 15 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đánh giá tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài đến sự phát triển kinh tế, xã hội tỉnh Bắc Giang
Tác giả Đàm Minh Tuấn
Người hướng dẫn TS. Nguyễn Bình Giang
Trường học Đại học Bách Khoa Hà Nội
Chuyên ngành Quản lý kinh tế
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2020
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 120
Dung lượng 1,21 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tổng quan về tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài đến sự phát triển kinh tế xã hội; thực trạng và các giải pháp phát huy tác động tích cực và hạn chế tác động tiêu cực của đầu tư trực tiếp nước ngoài đến sự phát triển kinh tế, xã hội tỉnh Bắc Giang.

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI

Giảng viên hướng dẫn: TS Nguyễn Bình Giang

HÀ NỘI, 2020

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI

Giảng viên hướng dẫn: TS Nguyễn Bình Giang

HÀ NỘI, 2020

Chữ ký của GVHD

Trang 3

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

BẢN XÁC NHẬN CHỈNH SỬA LUẬN VĂN THẠC SĨ

Họ và tên tác giả luận văn : ĐÀM MINH TUẤN

Đề tài luận văn: Đánh giá tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài đến sự phát triển kinh tế, xã hội tỉnh Bắc Giang

Chuyên ngành: Quản lý kinh tế

Mã số SV: CA180050

Tác giả, Người hướng dẫn khoa học và Hội đồng chấm luận văn xác nhận tác giả đã sửa chữa, bổ sung luận văn theo biên bản họp Hội đồng ngày30/6/2020 với các nội dung sau:

- Đã bổ sung thêm các tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài tới sự phát triển kinh tế xã hội

- Đã hoàn thiện các lỗi kỹ thuật (Câu văn, danh mục tài liệu tham khảo, bảng

biểu, biểu đồ);

- Đã viết lại phần Mục tiêu, đối tượng nghiên cứu

- Đã sửa lại tên chương 2, chương 3 phù hợp với Đề tài

- Đã sắp xếp lại các giải pháp tại chương 3 nhằm tăng các tác động tích cực và giảm các tác động tiêu cực của đầu tư trực tiếp nước ngoài./

Ngày 26 tháng 7 năm 2020

CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG

PGS.TS Trần Thị Bích Ngọc

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các thông tin và kết quả nghiên cứu trong luận văn là do tôi tự tìm hiểu, đúc kết và phân tích một cách trung thực, phù hợp với tình hình thực tế

Tác giả

Đàm Minh Tuấn

Trang 5

Tôi xin chân thành cảm ơn thầy giáo, TS Nguyễn Bình Giang đã tận tình hướng dẫn cho Tôi trong suốt thời gian thực hiện luận văn Với sự quan tâm chỉ bảo

và sự góp ý chân thành của Thầy đã cho Tôi rất nhiều kinh nghiệm trong quá trình thực hiện đề tài này

Do thời gian nghiên cứu có hạn và kinh nghiệm nghiên cứu chưa nhiều nên luận văn không thể tránh khỏi những thiếu sót, rất mong nhận được ý kiến đóng góp của quý thầy cô để học viên tiếp tục hoàn thiện công tác nghiên cứu trong thời gian tới

Xin trân trọng cảm ơn!

Tóm tắt nội dung luận văn

Luận văn bao gồm các nội dung chính sau:

- Chương 1: Cơ sở lý luận về tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài đến sự phát triển kinh tế xã hội

- Chương 2: Thực trạng tác động đầu tư trực tiếp nước ngoài đến phát triển kinh

tế xã hội của tỉnh Bắc Giang

- Chương 3: Các giải pháp phát huy tác động tích cực và hạn chế tác động tiêu cực của đầu tư trực tiếp nước ngoài đến sự phát triển kinh tế, xã hội trên địa bàn tỉnh Bắc Giang

HỌC VIÊN

Đàm Minh Tuấn

Trang 6

MỤC LỤC

MỤC LỤC i

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VIẾT TẮT, CÁC CHỮ VIẾT TẮT iv

DANH MỤC BẢNG v

DANH MỤC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ v

PHẦN MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TÁC ĐỘNG CỦA ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI ĐẾN SỰ PHÁT TRIỂN KINH TẾ XÃ HỘI 5

1.1 Tổng quan về đầu tư trực tiếp 5

1.1.1 Khái niệm về FDI 5

1.1.2 Phân loại FDI 5

1.1.3 Yêu cầu khách quan tăng cường tác động tích cực và hạn chế tác động tiêu cực của FDI tới phát triển kinh tế -xã hội 7

1.2 Tiêu chí đánh giá tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài tới sự phát triển kinh tế - xã hội 7

1.2.1 Tác động tới sự phát triển kinh tế 7

1.2.2 Mức độ ứng dụng khoa học công nghệ 11

1.2.3 Gia tăng cơ hội việc làm và thu nhập, nâng cao trình độ nguồn nhân lực 14

1.2.4 Tác động tới môi trường 15

1.2.5 Tác động tới văn hóa, xã hội 16

1.3 Các nhân tố ảnh hưởng tới tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài đến phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh 18

1.3.1 Điều kiện tự nhiên 18

1.3.2 Trình độ phát triển kinh tế 19

1.3.3 Đặc điểm văn hóa - xã hội 21

1.3.4 Cơ chế chính sách của tỉnh về thu hút, sử dụng đầu tư trực tiếp nước ngoài 22

1.4 Kinh nghiệm phát huy tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài đối với phát triển kinh tế - xã hội ở một số tỉnh và quốc gia trên thế giới 22

1.4.1 Kinh nghiệm một số địa phương khác trong nước 22

1.4.2 Kinh nghiệm nước ngoài 30

1.4.3 Những bài học rút ra từ kinh nghiệm thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài trong và ngoài nước 35

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG TÁC ĐỘNG ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI ĐẾN PHÁT TRIỂN KINH TẾ XÃ HỘI CỦA TỈNH BẮC GIANG 38

2.1 Tổng quan về môi trường kinh tế xã hội tỉnh Bắc Giang 38

2.1.1 Giới thiệu về tỉnh Bắc Giang 38

2.1.2 Đặc điểm dân cư tỉnh Bắc Giang 39

2.1.3 Tài nguyên thiên nhiên 40

2.1.4 Cơ sở hạ tầng 40

Trang 7

2.2 Thực trạng đầu tư trực tiếp nước ngoài trên địa bàn tỉnh Bắc Giang

41

2.2.1 Chính sách thu hút và quản lý FDI của Tỉnh Bắc Giang 41

2.2.2 Tình hình thu hút đầu tư trực tiếp 42

2.2.3 Hoạt động của các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Bắc Giang 48

2.3 Đánh giá tác động của FDI tới sự phát triển kinh tế xã hội của tỉnh Bắc Giang 49

2.3.1 Tác động tới sự phát triển kinh tế 49

2.3.2 Tác động tới phát triển khoa học công nghệ 51

2.3.3 Tác động tới việc làm, nguồn nhân lực 53

2.3.4 Tác động tới môi trường 55

2.3.5 Tác động tới văn hóa, xã hội 56

2.4 Các nhân tố ảnh hưởng 57

2.4.1 Điều kiện tự nhiên tỉnh Bắc Giang 57

2.4.2 Trình độ phát triển kinh tế 58

2.4.3 Đặc điểm văn hóa – xã hội 60

2.4.4 Cơ chế chính sách của tỉnh về thu hút FDI 61

2.5 Đánh giá chung 63

CHƯƠNG 3: CÁC GIẢI PHÁP PHÁT HUY TÁC ĐỘNG TÍCH CỰC VÀ HẠN CHẾ TÁC ĐỘNG TIÊU CỰC CỦA ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI ĐẾN SỰ PHÁT TRIỂN KINH TẾ, XÃ HỘI TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BẮC GIANG 68 3.1 Bối cảnh và nhu cầu thu hút FDI cho phát triển kinh tế - xã hội trong giai đoạn tới 68

3.1.1 Bối cảnh hội nhập của Việt Nam với khu vực ASEAN 68

3.1.2 Bối cảnh hội nhập của Việt Nam với Liên minh kinh tế Á – Âu 69

3.1.3 Bối cảnh hội nhập của Việt Nam với EU 69

3.1.4 Bối cảnh hội nhập của Việt Nam trong khuôn khổ Hiệp định Toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương 70

3.1.5 Xu hướng vận động của FDI trên thế giới trong thời gian tới 74

3.2 Quan điểm và mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Bắc Giang 77

3.2.1 Mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Bắc Giang đến năm 2030 77

3.2.2 Quan điểm thu hút FDI cho phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Bắc Giang thời gian tới 77

3.3 Các giải pháp chủ yếu phát huy tác động tích cực và hạn chế tác động tiêu cực của đầu tư trực tiếp nước ngoài đến phát triển kinh tế, xã hội của tỉnh 83

3.3.1 Thu hút đầu tư nhằm phát triển công nghiệp hỗ trợ 83

3.3.2 Nắm bắt xu hướng ĐTNN toàn cầu trong bối cảnh Cách mạng KHCN 4.0 và tự do thương mại để thực hiện thu hút và xúc tiến đầu tư 85

Trang 8

3.3.3 Cân đối giữa các ưu đãi về tài chính và các yếu tố cơ bản khác trong thu hút ĐTNN

86

3.3.4 Lựa chọn các dự án đầu tư trên cơ sở cân nhắc hiệu quả đóng góp ngân sách và lợi ích kinh tế của tỉnh thông qua liên kết với các doanh nghiệp địa phương 87

3.3.5 Tăng cường liên kết trong thu hút ĐTNN 88

3.3.6 Nâng cao năng lực, trình độ sản xuất của các doanh nghiệp địa phương 88

3.3.7 Nâng cao năng lực, trình độ của người lao động 90

3.3.8 Mở rộng đối tác thu hút đầu tư 90

3.3.9 Đổi mới chính sách nhằm gia tăng tác động tích cực, hạn chế tác động tiêu cực từ FDI 91

3.4 Kết luận 95

KẾT LUẬN 96

PHỤ LỤC 1 99

PHỤ LỤC 2 103

Trang 9

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VIẾT TẮT, CÁC CHỮ VIẾT TẮT

ASEAN Tổ chức Hợp tác các quốc gia Đông Nam Á

BTGPMB Bồi thường giải phóng mặt bằng

BHXH, BHYT Bảo hiểm xã hội; Bảo hiểm y tế

GTKNNK Giá trị kim ngạch nhập khẩu

GTKNXK Giá trị kim ngạch xuất khẩu

GTSXCN Giá trị sản xuất công nghiệp

ODA Vốn “Hỗ trợ phát triển chính thức"

OECD Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế

UNCTAD Diễn đàn Thương mại và Phát triển Liên Hiệp quốc

Trang 10

DANH MỤC BẢNG

Bảng 2 1 Số lượng và vốn đăng ký các dự án đầu tư nước ngoài tại tỉnh Bắc Giang

2015-2019 44

Bảng 2 2 Quy mô các dự án ĐTNN tại Bắc Giang 2015-2019 44

Bảng 2 3 Các dự án ĐTNN tại Bắc Giang 2015-2019 theo lĩnh vực 44

Bảng 2 4 Các dự án ĐTNN tại Bắc Giang 2015-2019 theo đối tác 45

Bảng 2 5 Cơ cấu FDI phân theo hình thức đầu tư 46

Bảng 2 6 Cơ cấu FDI phân theo hình thức đầu tư của cả nước 47

Bảng 2 7: Các dự án ĐTNN tại Bắc Giang 2015-2019 theo địa bàn 47

Bảng 2 8 Một số kết quả hoạt động sản xuất, kinh doanh của các doanh nghiệp FDI tại Bắc Giang giai đoạn 2015 - 2019 48

Bảng 2 9 Trình độ công nghệ của các dự án ĐTNN cuả tỉnh Bắc Giang 52

Bảng 2 10: Việc làm trong các khu vực kinh tế trên địa bàn tỉnh Bắc Giang 53

Bảng 2 11 Thống kê năng suất lao động trên địa bàn tỉnh Bắc Giang 54

Bảng 2 12 Các doanh nghiệp FDI vi phạm quy định về môi trường đã bị xử 55

DANH MỤC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ Hình 2 1 Tăng trưởng GRDP giai đoạn 2016 – 2019 của tỉnh Bắc Giang 58

Hình 2 2 Cơ cấu kinh tế của tỉnh Bắc Giang năm 2019 59

Trang 12

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong quá trình phát triển kinh tế hiện nay, vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) là một bộ phận quan trọng trong cơ cấu nguồn vốn đầu tư của bất kỳ một quốc gia hoặc một địa phương nào Đối với những nước đang trong quá trình chuyển đổi

và hội nhập kinh tế như Việt Nam, để đảm bảo mục tiêu phát triển kinh tế thì nhu cầu vốn đầu tư rất lớn, trong đó vốn FDI có vai trò đặc biệt quan trọng

Dưới góc độ của quốc gia hay một địa phương tiếp nhận vốn, FDI có mục tiêu và tác động đa chiều Ngoài tác động phục vụ cho mục tiêu phát triển đất nước, qua các hoạt động FDI còn tạo cơ hội tiếp nhận kỹ thuật sản xuất, kinh nghiệm kinh doanh, các sáng chế, phát minh, bí quyết công nghệ, năng lực quản lý, điều hành, giúp các chủ thể trong nước và nền kinh tế nói chung đẩy nhanh quá trình phát triển những ngành nghề có kỹ thuật, công nghệ mới, góp phần chuyển dịch

cơ cấu kinh tế và tăng trưởng nhanh FDI còn góp phần quan trọng vào việc giải quyết việc làm, đẩy mạnh kim ngạch xuất khẩu, góp phần vào việc lành mạnh hoá các cân đối vĩ mô của nền kinh tế Ngay từ khi bắt đầu thực hiện công cuộc đổi mới, vấn đề thu hút vốn FDI đã được Đảng và Nhà nước ta đặc biệt quan tâm, chú

ý và đã có nhiều biện pháp tích cực, đổi mới liên tục nhằm thu hút ngày càng nhiều

và ngày càng có chất lượng nguồn vốn quan trọng này Đối với Bắc Giang, một trong những thành phố nằm ở vị trí chiến lược của vùng kinh tế trọng điểm miền Bắc, với nhiều lợi thế, tiềm năng chưa được khai thác đúng mức, đầu tư FDI lại càng có vai trò quan trọng

Nghị quyết các Đại hội Đảng, từ Đại hội VI đến Đại hội XII đều khẳng định rằng, kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài là một bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta, được khuyến khích phát triển lâu dài, bình đẳng với các thành phần kinh tế khác Thu hút vốn FDI là chủ trương quan trọng của Bắc Giang, có tác dụng khai thác nguồn lực vốn ngoài nước, mở rộng hợp tác kinh tế quốc tế, làm đòn bẩy khai thác có hiệu quả các nguồn lực trong nước, tạo nên sức mạnh tổng hợp, phát triển bền vững cho kinh tế thành phố Bắc Giang nói riêng và cả vùng kinh tế trọng điểm nói chung

Thực tế qua hơn 30 năm đổi mới vừa qua, nhất là 10 năm gần đây cho thấy, với chính sách thu hút ngày càng cởi mở và minh bạch, vốn FDI đã trở thành một trong những yếu tố quan trọng để phát triển kinh tế ở nước ta FDI đã có đóng góp quan trọng vào tốc độ tăng trưởng kinh tế, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tăng thu ngân sách, giải quyết việc làm, xoá đói giảm nghèo trên quy mô toàn bộ nền kinh

tế nói chung cũng như trên địa bàn Bắc Giang nói riêng Tuy nhiên, ở Bắc Giang, các biện pháp thu hút vốn FDI thời gian qua cũng đã bộc lộ nhiều mặt yếu kém,

Trang 13

hạn chế Kết quả là tốc độ tăng vốn FDI chưa đạt như mong đợi Số lượng các nhà đầu tư nước ngoài đến tìm hiểu môi trường đầu tư, số dự án đăng ký dự định đầu

tư khá nhiều nhưng số dự án đầu tư được cấp phép và đi vào hoạt động vẫn còn thấp, số vốn thực sự đầu tư còn thấp về số lượng Ngoài những nguyên nhân khách quan như điều kiện tự nhiên không thuận lợi, thị trường nhỏ hẹp, sức mua yếu, nguồn nguyên liệu và các ngành công nghiệp phụ trợ còn thiếu và yếu, chất lượng kém, cơ chế chính sách còn nhiều bất cập…, những nguyên nhân chủ quan từ phía chính quyền cũng đã làm ảnh hưởng tiêu cực đến thu hút vốn FDI trên địa bàn Tình hình đó đòi hỏi phải nghiên cứu, tìm kiếm những giải pháp đổi mới mạnh

mẽ hơn nữa để tăng cường thu hút vốn FDI có hiệu quả hơn, xem đó là vấn đề quan trọng, đột phá để phát triển kinh tế - xã hội trong giai đoạn 2015 - 2019 và các giai

đoạn tiếp theo Đó là lý do tác giả lựa chọn đề tài: “Đánh giá tác động của đầu tư

trực tiếp nước ngoài đến sự phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Bắc Giang” được chọn

làm luận văn thạc sĩ của mình

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu

Đã có nhiều công trình nghiên cứu về FDI nói chung cũng như những giải pháp thu hút FDI nói riêng Sau đây là những công trình tiêu biểu tác giả đã tìm hiểu và đưa vào để tham khảo trong luận văn như sau:

- “Kinh nghiệm thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài ở các nước ASEAN và

vận dụng vào Việt Nam”, Nguyễn Huy Thám, Luận án tiến sĩ Kinh tế, Học

viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội, 1999

- “Thực trạng và giải pháp nhằm thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài trên

địa bàn tỉnh Đồng Nai”, Phan Minh Thành, Luận văn thạc sĩ Kinh tế, Học

viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội, 2000

- “Hoàn thiện Quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp

nước ngoài ở Việt Nam hiện nay”, Nguyễn Văn Hùng, Luận văn thạc sĩ Kinh

tế, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội, 2002

- “Một số giải pháp nhằm tăng cường thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài tại

thành phố Đà Nẵng”, Ngô Quang Vinh, Luận văn thạc sĩ Kinh tế, Đại học

Đà Nẵng, Đà Nẵng, 2003

- “Đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Bình Dương - Thực trạng và giải pháp”, Bùi

Thị Dung, Luận văn thạc sĩ Kinh doanh và quản lý, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội, 2005

Ngoài ra, còn có nhiều bài viết đăng trên các tạp chí về vấn đề vốn FDI với những cách tiếp cận và giải quyết ở những khía cạnh khác nhau của vấn đề thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài Các công trình nghiên cứu đã đề cập đến rất nhiều khía cạnh của đầu tư FDI như tác động của FDI; vị trí, vai trò của FDI; quản lý nhà

Trang 14

nước đối với khu vực này; các biện pháp thu hút FDI phục vụ phát triển kinh tế… Tuy nhiên đến thời điểm này đã có rất nhiều thay đổi của môi trường, chính sách, các điều kiện thực tế và chưa có công trình nào nghiên cứu đầy đủ và có hệ thống

về những giải pháp thu hút vốn FDI trong điều kiện cụ thể của tỉnh Bắc Giang

Vì lý do này, để bổ sung thêm những nghiên cứu trước đây, tác giả tập trung

nghiên cứu đề tài: “Đánh giá tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài đến sự

phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Bắc Giang”

3 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài

Mục đích nghiên cứu của đề tài là hệ thống hoá có cơ sở lý luận và thực tiễn chính sách thu hút vốn FDI đối với các vùng, địa phương, đánh giá thực trạng tác đông của đầu tư trực tiếp nước ngoài đến sự phát triển kinh tế xã hội và tìm ra những giải pháp phát huy những tác động tích cực và hạn chế tác động tiêu cực của FDI nhằm tăng cường hơn nữa thu hút vốn FDI ở tỉnh Bắc Giang

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

* Đối tượng: Đối tượng nghiên cứu của luận văn bao gồm các bộ phận triển

khai thực hiện các chính sách đầu tư trực tiếp nước ngoài của tỉnh Bắc Giang, tình hình đầu tư trực tiếp nước ngoài và những tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài đến sự phát triển kinh tế, xã hội của tỉnh Bắc Giang

* Đối tượng khảo sát của luận văn:

Khảo sát các hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Bắc Giang như là đối tượng tác động (kết quả) của các biện pháp chính sách Ngoài ra, luận văn khảo sát hoạt động của các cơ quan quản lý nhà nước của chính quyền tỉnh Bắc Giang

* Phạm vi nghiên cứu:

- Về thời gian: thời gian nghiên cứu giới hạn từ năm 2015 - 2019

- Về không gian: giới hạn trong phạm vi các hoạt động FDI tại tỉnh Bắc Giang

5 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn thực hiện khảo sát 03 đối tượng, bao gồm:

- Điều tra khảo sát cán bộ quản lý trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài với số lượng 50 phiếu nhằm đánh giá thực trạng thu hút và sử dụng FDI ở Bắc Giang, thực trạng công tác quản lý nhà nước đối với FDI ở tỉnh Bắc Giang và những thuận lợi, khó khăn đối với doanh nghiệp FDI ở Bắc Giang

- Điều tra khảo sát lao động làm việc cho các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài với số lượng 50 phiếu nhằm đánh giá những đóng góp của các doanh nghiệp FDI đến việc làm, thu nhập và nguồn nhân lực trên địa bàn tỉnh Bắc Giang

Trang 15

- Điều tra khảo sát dành cho người dân ở xung quanh khu vực doanh nghiệp FDI, khu công nghiệp với số lượng 100 phiếu nhằm đánh giá những tác động tích cực và tiêu cực của FDI đến cộng đồng, môi trường kinh tế - xã hội tỉnh Bắc Giang

6 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn bao gồm 3 chương:

- Chương 1: Cơ sở lý luận về tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài đến

sự phát triển kinh tế xã hội

- Chương 2: Thực trạng tác động đầu tư trực tiếp nước ngoài đến phát triển

kinh tế xã hội của tỉnh Bắc Giang

- Chương 3: Các giải pháp phát huy tác động tích cực và hạn chế tác động

tiêu cực của đầu tư trực tiếp nước ngoài đến sự phát triển kinh tế, xã hội trên địa bàn tỉnh Bắc Giang

Trang 16

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TÁC ĐỘNG CỦA ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI ĐẾN SỰ PHÁT TRIỂN KINH TẾ XÃ HỘI 1.1 Tổng quan về đầu tư trực tiếp

1.1.1 Khái niệm về FDI

Theo Quỹ tiền tệ Quốc tế (IMF) thì đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI - Foreign Direct Investment) được hiểu là: “Một hình thức đầu tư được thực hiện bởi nhà đầu

tư (doanh nghiệp, cá nhân) ở nền kinh tế này vào nền kinh tế khác mang tính dài hạn nhằm thu về những lợi ích lâu dài cho nhà đầu tư”

Theo Uỷ ban Thương mại và Phát triển của Liên hiệp quốc (UNCTAD), xét dưới góc độ sở hữu cho rằng: luồng vốn FDI bao gồm vốn được cung cấp (trực tiếp hoặc thông qua các công ty liên quan khác) bởi nhà đầu tư trực tiếp nước ngoài cho các doanh nghiệp FDI, hoặc vốn mà nhà đầu tư trực tiếp nước ngoài nhận được từ doanh nghiệp FDI

WTO đã đưa ra nhận định như sau: “Đầu tư trực tiếp nước ngoài diễn ra khi một nhà đầu tư từ một nước (nước chủ đầu tư) có được một tài sản ở một nước khác (nước tiếp nhận đầu tư) cùng với quyền quản lý tài sản đó” Như vậy phương diện quản lý là để phân biệt FDI với các công cụ tài chính khác Trong trường hợp này nhà đầu tư được gọi là “công ty mẹ” và các tài sản được gọi là “công ty con” hay

“chi nhánh công ty”

Theo điều 3 - Luật đầu tư 2005: “Đầu tư nước ngoài là việc nhà đầu tư nước ngoài đưa vào Việt Nam vốn bằng tiền và các tài sản hợp pháp khác để tiến hành hoạt động đầu tư” và “Đầu tư trực tiếp là hình thức đầu tư do nhà đầu tư bỏ vốn đầu

tư và tham gia quản lý hoạt động đầu tư”

Như vậy, các khái niệm của các tổ chức trên về cơ bản đều thống nhất với nhau về mối quan hệ và vai trò, lợi ích của nhà đầu tư nước ngoài tại Việt Nam Tuy nhiên, các định nghĩa của IMF, UNCTAD và WTO đều nêu rõ đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI là hình thức đầu tư mà nguồn vốn hình thành từ 100% vốn nước ngoài, không bao gồm vốn của nước tiếp nhận đầu tư, còn đối với Việt Nam, đầu tư trực tiếp nước ngoài có thể có nhiều hình thức được công nhận bao gồm cả việc góp vốn, liên doanh với các công ty trong nước Vậy FDI là sự di chuyển vốn quốc tế dưới hình thức vốn sản xuất thông qua việc nhà đầu tư ở một nước đưa vốn vào một nước khác để đầu tư, đồng thời trực tiếp tham gia quản lý, điều hành, tổ chức sản xuất, tận dụng ưu thế về vốn, trình độ công nghệ, kinh nghiệm quản lý nhằm mục đích thu lợi nhuận

1.1.2 Phân loại FDI

Trang 17

Theo Luật đầu tư 2005 thì đầu tư trực tiếp từ nước ngoài được thực hiện dưới các hình thức:

- Hợp đồng hợp tác kinh doanh (gọi tắt là hợp đồng BBC): là hình thức đầu tư

được ký kết giữa các nhà đầu tư nhằm hợp tác kinh doanh phân chia lợi nhuận, phân chia sản phẩm mà không thành lập pháp nhân

- Doanh nghiệp liên doanh: do các bên nước ngoài và nước chủ nhà cùng góp

vốn cùng kinh doanh, cùng hưởng lợi và chia sẻ rủi ro theo tỷ lệ vốn góp Doanh nghiệp liên doanh được thực hiện theo hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn, có tư cách pháp nhân theo luật pháp nước nhận đầu tư Mỗi bên liên doanh trong phạm vi phần vốn của mình trong vốn pháp định Tỷ lệ góp vốn của bên nước ngoài do các bên liên doanh thỏa thuận Theo luật đầu tư nước ngoài của Việt Nam, vốn góp của bên nước ngoài không thấp hơn 30% vốn pháp định của doanh nghiệp liên doanh và trong quá trình hoạt động không được giảm vốn pháp định Đối với các dự án xây dựng kết cấu hạ tầng tại các vùng có điều kiện kinh tế, xã hội khó khăn, các dự án đầu tư vào miền núi, vùng sâu, vùng xa, các dự án trồng rừng tỷ lệ này có thể thấp đến 20% nhưng phải được cơ quan cấp giấy phép đầu tư chấp thuận

- Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài: là doanh nghiệp thuộc ở hữu của nhà đầu

tư nước ngoài (tổ chức hoặc cá nhân là người nước ngoài) do nhà đầu tư nước ngoài thành lập tại nước chủ nhà, tự quản lý và chịu trách nhiệm về kết quả sản xuất kinh doanh Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài được thành lập theo hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn có tư cách pháp nhân theo luật pháp nước chủ nhà

- Hợp đồng xây dựng - kinh doanh - chuyển giao (BOT): là hình thức đầu tư được

ký kết giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền và nhà đầu tư để xây dựng, kinh doanh công trình kết cấu hạ tầng trong một thời gian nhất định; hết thời hạn, nhà đầu tư chuyển giao không bồi hoàn công trình đó cho Nhà nước Việt Nam

- Hợp đồng xây dựng - chuyển giao – kinh doanh (BTO): là hình thức đầu tư

được ký kết đầu tư để xây dựng công trình kết cấu hạ tầng; sau khi xây dựng xong nhà đầu tư chuyển giao công trình đó cho Nhà nước Việt Nam; Chính phủ dành cho nhà đầu tư quyền kinh doanh công trình đó trong một thời hạn nhất định để thu hồi vốn đầu tư và lợi nhuận

- Hợp đồng xây dựng - chuyển giao (BT): là hình thức đầu tư được ký kết giữa

cơ quan nhà nước có thẩm quyền và nhà đầu tư để xây dựng công trình kết cấu hạ tầng; sau khi xây dựng xong, nhà đầu tư chuyển giao công trình đó cho Nhà nước Việt Nam; Chính phủ tạo điều kiện cho nhà đầu tư thực hiện dự án khác để thu hồi vốn đầu tư và lợi nhuận hoặc thanh toán cho nhà đầu tư theo thỏa thuận trong hợp đồng BT

Trang 18

1.1.3 Yêu cầu khách quan tăng cường tác động tích cực và hạn chế tác động tiêu cực của FDI tới phát triển kinh tế -xã hội

Cùng với xu hướng toàn cầu hóa, hội nhập kinh tế quốc tế, dòng chảy FDI trên thế giới ngày càng gia tăng, và đi cùng với nó thì tác động hai mặt của FDI cũng gia tăng Nếu các quốc gia tiếp nhận đầu tư trực tiếp nước ngoài không quan tâm đến làm thế nào để hạn chế những tác động tiêu cực của nó thì trong tương lai không xa, các tác động như gây ô nhiễm môi trường, mất cân đối nền kinh tế, phân hóa giàu nghèo… sẽ ảnh hưởng sâu sắc đến phát triển kinh tế - xã hội Bên cạnh đó, mặc dù FDI có những tác động tích cực, song nếu không có những giải pháp hỗ trợ tốt thì không thể phát huy hết những tác động tích cực mà đầu tư trực tiếp nước ngoài có thể đem lại

Đầu tư trực tiếp nước ngoài có vai trò rất quan trọng đối với sự phát triển kinh

tế - xã hội trên phạm vi cả nước nói chung và địa bàn tỉnh nói riêng, đặc biệt là nó

đã góp phần quan trọng vào việc phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh Thông qua đầu tư nước ngoài, nhiều nguồn lực trong nước như lao động, đất đai, lợi thế địa kinh tế, tài nguyên được khai thác và sử dụng có hiệu quả hơn Vì vậy, phát huy những tác động tích cực và hạn chế những tác động tiêu cực của FDI là một yêu cầu tất yếu và khách quan để phát triển kinh tế một cách bền vững, góp phần tạo lập nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa của nước ta

1.2 Tiêu chí đánh giá tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài tới sự phát triển kinh tế - xã hội

Đầu tư trực tiếp nước ngoài có tác động rất lớn đối với phát triển kinh tế - xã hội của một quốc gia, nó vừa có tác động tích cực vừa có tác động tiêu cực, điều này được thể hiện qua mối quan hệ giữa đầu tư trực tiếp nước ngoài với phát triển kinh

tế - xã hội của nước tiếp nhận đầu tư Cụ thể các tác động đó bao gồm:

1.2.1 Tác động tới sự phát triển kinh tế

Hầu hết các quốc gia khi thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài là nhằm mục tiêu thúc đẩy tăng trưởng và phát triển kinh tế Vào những năm 1950, các nhà kinh tế của Liên hợp quốc đã coi sự thiếu hụt về vốn là một hạn chế chủ yếu của tăng trưởng kinh tế ở các nước kém phát triển Để có vốn các nước này chỉ tiến hành bằng con đường tích lũy nội bộ, nhưng trong xu hướng phát triển như hiện nay nếu chỉ trông chờ vào quá trình tích lũy nội bộ thì khó tránh khỏi tụt hậu

1.2.1.1 Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tiến bộ

Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tiến bộ là một trong những mục tiêu kinh tế quan trọng của mỗi quốc gia, bản thân mỗi nền kinh tế luôn tồn tại những lợi thế riêng, tùy theo những tương quan nhất định mà đó có thể là lợi thế tuyệt đối hay

Trang 19

lợi thế tương đối Tuy nhiên, chuyển dịch cơ cấu kinh tế không thể thực hiện được nếu thiếu những nguồn lực quan trọng như vốn, công nghệ, tài nguyên và con người (đặc biệt là những chủ thể có vai trò tạo lập) Đầu tư trực tiếp nước ngoài với việc

bổ sung về vốn cho nền kinh tế, đưa thiết bị, công nghệ hiện đại và phương thức tổ chức quản lí vào đã tạo ra những điều kiện mới cho việc khai thác những tiềm năng của nước nhận đầu tư, từng bước hình thành những lợi thế mới trong hệ thống phân công lao động quốc tế Việc phát huy nội lực và tranh thủ ngoại lực giúp nước nhận đầu tư xác định rõ hơn các ngành hàng chủ lực, từ đó chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng ngày càng tiến bộ với sự giảm dần về tỷ trọng của nông nghiệp, sự gia tăng của công nghiệp, dịch vụ trong sản xuất GDP và cơ cấu lao động

Một trong những biểu hiện về tăng cường khai thác các lợi thế của quốc gia được thể hiện thông qua việc nhận chuyển giao công nghệ từ đầu tư trực tiếp nước ngoài Những công nghệ được chuyển giao bao gồm cả những công nghệ không còn

có sức cạnh tranh ở các nước tiên tiến do nguyên nhân giá trị hàng hóa sức lao động tăng cao, đặc biệt là những công nghệ dùng nhiều lao động và nhiều năng lượng truyền thống Dưới các hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài đã nhập khẩu toàn bộ thiết bị để nước tiếp nhận có thể khai thác những công nghệ đó vào sản xuất và xuất khẩu

1.2.1.2 Gia tăng vốn cho đầu tư phát triển kinh tế

Đầu tư trực tiếp nước ngoài có khả năng giải quyết có hiệu quả những khó nhăn về vốn cho quá trình công nghiệp hóa, thúc đẩy kinh tế của một nước phát triển Trong điều kiện của thời kỳ đầu tiến hành công nghiệp hóa, nhìn chung các nước đang phát triển đều gặp rất nhiều khó khăn: mức sống thấp, khả năng tích lũy kém, cơ sở hạ tầng chưa phát triển, công nghệ kỹ thuật lạc hậu, mức đầu tư thấp nên kém hiệu quả, ít có điều kiện để xâm nhập, mở rộng hợp tác kinh tế quốc tế, thiếu khả năng tiếp cận với khoa học kỹ thuật tiên tiến của thế giới… giải pháp của các nước đang phát triển lúc này là tìm đến với các nguồn đầu tư quốc tế Nhưng trong

số các nguồn đầu tư quốc tế thì vốn viện trợ tuy có một số ưu đãi nhưng lại đòi hỏi phải đi kèm một số điều kiện ràng buộc về chính trị, xã hội thậm chí cả về quân sự Còn vốn vay thì thủ tục vừa khắt khe mà lại phải chịu lãi suất cao Ở các nước đang phát triển, khi khả năng tiếp cận thị trường còn hạn chế, trình độ tổ chức sản xuất kinh doanh cũng như quản lí chưa có kinh nghiệm thì việc đầu tư (nhất là đối với vốn vay nước ngoài) rất khó đạt hiệu quả Đối với vốn vay, cho dù đầu tư có lãi hay không thì hàng năm cũng phải chi trả thêm một mức lãi suất nhất định

Nguồn vốn được đánh giá có hiệu quả nhất đối với giai đoạn đầu tiến hành công nghiệp hóa của các nước đang phát triển là vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài Điều này cũng dễ hiểu, khi nhà đầu tư bỏ vốn đầu tư cũng đồng thời họ hoàn toàn

Trang 20

chịu trách nhiệm về hiệu quả của đồng vốn mà mình bỏ ra, do đó trước khi đầu tư

họ buộc phải tính toán kỹ các điều kiện cần thiết cho việc thực hiện dự án Trước khi tiến hành đầu tư, các nhà đầu tư nước ngoài thường có sẵn một số điều kiện cơ bản như vốn, kỹ thuật, kinh nghiệm quản lí, khả năng thị trường… tức là nhà đầu tư

đã dự báo được phần nào hiệu quả có thể thu được của đồng vốn đầu tư Mặc dù vậy, cũng không ai dám chắc khi có đầy đủ các điều kiện như vậy là sẽ đạt kết quả tốt trong đầu tư Rất dễ nhận thấy rằng khi nhà đầu tư bắt đầu bỏ vốn thực hiện dự

án đầu tư thì xác suất giữa thành công và thất bại là ngang nhau Khi doanh nghiệp đầu tư 100% vốn nước ngoài kinh doanh có lãi, thì phần lãi thu được họ phải trích một phần đóng góp cho nước sở tại, nhưng nếu kinh doanh thua lỗ thì nhà đầu tư phải gánh chịu toàn bộ Trong trường hợp kinh doanh gặp khó khăn thì chính các công ty mẹ ở chính quốc phải tìm cách hỗ trợ… nói đúng hơn đây là những rủi ro

có thể xảy ra mà tất cả các nhà đầu tư đều phải tính toán trước Điều này chỉ ra rằng không có dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài nào lại không tính toán kỹ trước khi đầu

tư Hay nói cách khác, các nhà đầu tư chỉ xin phép và triển khai dự án khi họ tính toán thấy độ rủi ro ít và khả năng thu lợi cao Đây là lợi thế hơn hẳn của loại vốn đầu tư trực tiếp so với các loại vốn vay khác

Như vậy, tranh thủ nguồn lực từ bên ngoài là bước đi hiệu quả nhất cho các nước để phát triển, trong đó nguồn vốn FDI đóng vai trò quan trọng đối với tăng trưởng và phát triển kinh tế Thực chất của việc làm này là tận dụng điều kiện khách quan thuận lợi mà thế giới đã tạo ra thay vì phải mất trăm năm phát triển để tích lũy Tức là các nước đi sau có thể “mượn sức” những nước đi trước để thực hiện chiến lược “đi tắt đón đầu” để thu dần khoảng cách tụt hậu so với các nước phát triển Mặt khác, tìm kiếm lĩnh vực và địa bàn đầu tư có khả năng thu lợi nhuận cao

là bản chất của nhà đầu tư nước ngoài Do các nhà đầu tư nước ngoài lựa chọn những ngành sản xuất, những địa bàn thuận lợi để đầu tư, nên chính phủ cần phải dành một

số vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước tập trung vào xây dựng cơ sở hạ tầng, đầu tư vào những vùng đặc biệt khó khăn, những ngành trọng điểm, những lĩnh vực thấy không nên có yếu tố nước ngoài Nhằm tạo nên sự phát triển cân đối trong đầu tư Hay nói cách khác vốn FDI là nguồn vốn bổ sung quan trọng tạo ra năng lực sản xuất mới cho nền kinh tế và tiến tới phát triển bền vững

Việt Nam tiến hành công cuộc đổi mới với xuất phát điểm rất thấp Do vậy, xét về nhu cầu vốn, FDI được coi là một nguồn vốn bổ sung quan trọng cho đầu tư trong nước, nhằm đáp nhu cầu đầu tư cho phát triển, góp phần đẩy nhanh tiến trình công nghiệp hóa - hiện đại hóa mà nước ta đang thực hiện

Khi đã đi vào hoạt động, với hoạt động sản xuất kinh doanh của mình các doanh nghiệp FDI có nghĩa vụ phải nộp thuế cho nước sở tại, qua đó góp phần tăng

Trang 21

nguồn thu ngân sách nhà nước, nguồn thu này lại quay trở lại phục vụ cho các mục tiêu phát triển kinh tế và đảm bảo phúc lợi xã hội của nước tiếp nhận đầu tư Ở Việt Nam trong thời gian qua khu vực FDI đã đóng góp ngày càng tăng vào nguồn thu ngân sách của nhà nước Bên cạnh đó, FDI đã góp phần quan trọng vào việc tăng thặng dư của tài khoản vốn, cải thiện cán cân thanh toán nói chung và tạo ra những cân đối vĩ mô trong nền kinh tế

1.2.1.3 Sự hình thành các hình thức kinh doanh, liên kết ngành nghề mới

Trước đây, khi Việt Nam còn thực hiện nền kinh tế khép kín, các hoạt động kinh tế chỉ bó hẹp trong loại hình kinh tế nhà nước và kinh tế tập thể, do đó nền kinh

tế nước ta thời kỳ đó rất trì trệ và kém hiệu quả, không khai thác hết những tiềm năng kinh tế, nhìn chung nước ta lúc bấy giờ chỉ là một nước nông nghiệp lạc hậu Thực tế 20 năm đổi mới cho thấy, sự phát triển của nền kinh tế nhiều thành phần với

sự hình thành các hình thức đầu tư ngoài kinh tế nhà nước và tập thể đã tạo ra những đối thủ cạnh tranh đối với các doanh nghiệp nhà nước và tập thể cùng những hình thức kinh doanh đa dạng Sự có mặt và ngày càng gia tăng các hình thức đầu tư đó

đã thực sự tạo ra nền kinh tế ngày càng năng động, thúc ép bản thân các doanh nghiệp nhà nước và tập thể phải không ngừng vươn lên Sức ép đó ngày càng lớn với sự hình thành, phát triển của thành phần kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài cùng với lộ trình hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế của nền kinh tế nước ta Sự tồn tại

và phát triển trong môi trường cạnh tranh của các thành phần kinh tế khác nhau với

sự góp mặt của các doanh nghệp FDI đã làm đa dạng hơn các loại hình doanh nghiệp, tạo ra xung lực mới cho phát triển kinh tế Từ đó làm đa dạng thêm các hoạt động sản xuất kinh doanh trong nền kinh tế, góp phần tạo dựng một nền kinh tế năng động, tận dụng tối đa các nguồn lực của quốc gia thúc đẩy phát triển kinh tế

Không những làm đa dạng các hình thức kinh doanh, đầu tư trực tiếp nước ngoài còn góp phần tạo sự liên kết giữa các ngành với nhau, đặc biệt trong lĩnh vực công nghiệp, sự liên kết này xuất hiện do các nguyên nhân:

- Thứ nhất, các công ty trong nước thường nắm giữ nguồn nguyên liệu, hàng

hóa và dịch vụ cung cấp cho các công ty nước ngoài trong lĩnh vực công nghiệp;

- Thứ hai, bất kỳ một ngành công nghiệp nào cũng cần các ngành công nghiệp

phụ trợ, các ngành công nghiệp phụ trợ này phải do các công ty trong nước đảm nhiệm;

- Thứ ba, đầu tư trực tiếp nước ngoài thường tập trung vào các khu công nghiệp

nên xu hướng các công ty trong khu công nghiệp liên kết với nhau nhằm giảm chi phí đầu vào

Liên kết giữa các ngành công nghiệp được biểu hiện chủ yếu thông qua quá trình trao đổi trực tiếp giữa các công ty nội địa với các công ty nước ngoài những

Trang 22

hàng hóa (tư liệu sản xuất, nguyên vật liệu đầu vào) và dịch vụ phục vụ cho hoạt động sản xuất - kinh doanh Mối liên kết này sẽ tạo ra năng lực sản xuất mới cho các ngành công nghiệp nội địa và các công ty trong nước

1.2.2 Mức độ ứng dụng khoa học công nghệ

Đầu tư trực tiếp nước ngoài có vai trò rất lớn trong việc thúc đẩy ứng dụng khoa học - công nghệ, nâng cao năng suất lao động và chất lượng sản phẩm cũng như khả năng cạnh tranh của nước tiếp nhận đầu tư Theo yêu cầu của kinh tế thị trường, muốn có được tăng trưởng GDP và phát triển kinh tế phải không ngừng nâng cao trình độ kỹ thuật - công nghệ của quá trình sản xuất từ đó làm nền tảng cho nâng cao sức cạnh tranh của các ngành hàng, các vùng cũng như toàn bộ nền kinh tế Nâng cao sức cạnh tranh là đòi hỏi khách quan và là điều kiện để tồn tại đối với từng chủ thể sản xuất kinh doanh trong kinh tế thị trường Đầu tư trực tiếp nước ngoài đã

có tác động lớn đối với quá trình này

Như chúng ta biết, muốn có lợi nhuận các chủ thể kinh doanh buộc phải, một mặt, không ngừng hạ thấp hao phí lao động cá biệt so với hao phí lao động xã hội cần thiết theo đòi hỏi của quy luật giá trị, mặt khác phải không ngừng cải tiến mẫu

mã, chủng loại, chất lượng sản phẩm, cách thức phục vụ khách hàng dựa trên sự phát triển ngày càng đa dạng với những yêu cầu ngày càng cao của hệ thống các nhu cầu xã hội Điều này chỉ có thể thực hiện được khi các chủ thể kinh tế không ngừng ứng dụng những thành tựu mới nhất của khoa học kỹ thuật - công nghệ vào quá trình sản xuất nhằm nâng cao năng suất lao động Bản thân các nước đang phát triển với trình độ sản xuất còn lạc hậu nên dẫn đến năng suất lao động không cao, sản phẩm kém chất lượng, không có khả năng cạnh tranh trên thị trường Trong khi đó, các dự

án đầu tư trực tiếp nước ngoài luôn được thực hiện dựa trên những công nghệ hiện

có nhất định, nên đầu tư trực tiếp nước ngoài đã đồng thời thực hiện chuyển giao công nghệ từ nước ngoài vào nước tiếp nhận đầu tư Trước sức ép cần phải tồn tại trong môi trường cạnh tranh, các doanh nghiệp trong nước không thể không tiến hành ứng dụng kỹ thuật - công nghệ vào sản xuất, điều này đã góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh nội bộ ngành nói riêng và của toàn nền kinh tế nói chung Như vậy, công nghệ là yếu tố không thể thiếu trong quá trình phát triển kinh

tế - xã hội của một quốc gia, đối với các nước đang phát triển thì vai trò của công nghệ lại càng khẳng định rõ FDI được coi là kênh quan trọng để phát triển công nghệ của nước chủ nhà, trong dài hạn đây chính là lợi ích căn bản nhất đối với nước tiếp nhận đầu tư Chuyển giao công nghệ thông qua con đường FDI thường được thực hiện bởi các công ty xuyên quốc gia Tuy nhiên, việc chuyển giao những công nghệ mới, có tính cạnh tranh cao thường khó thực hiện được, đây chính là hạn chế

cơ bản trong chuyển giao công nghệ thông qua FDI

Trang 23

Bên cạnh chuyển giao các công nghệ sẵn có, các dự án FDI còn tham gia nghiên cứu và phát triển (R&D) công nghệ của nước chủ nhà, nhờ đó mà năng lực công nghệ của nước tiếp nhận FDI ngày càng phát triển hơn Mặt khác, trong quá trình sử dụng các công nghệ hiện đại của nước ngoài đội ngũ chuyên gia cũng như công nhân trong nước học được rất nhiều kinh nghiệm Muốn học được công nghệ hiện đại đòi hỏi lực lượng lao động trong nước (chuyên gia và công nhân) phải nỗ lực rất nhiều mới có thể nhanh chóng tiếp thu được công nghệ hiện đại, sau đó cải biến cho phù hợp với điều kiện của nước mình và biến chúng thành công nghệ của mình Công nghệ của nước tiếp nhận FDI được cải thiện làm cho năng suất lao động ngày càng được tăng lên, nâng cao khả năng cạnh tranh, thúc đẩy tăng trưởng kinh

tế

Trong tất cả các lĩnh vực sản xuất, thì công nghệ hiện đại có vai trò quyết định đến năng suất lao động nó tác động trực tiếp đến năng lực cạnh tranh của ngành Nền kinh tế Việt Nam có xuất phát điểm thấp, trình độ công nghệ lạc hậu thì việc nâng cao trình độ công nghệ thông qua FDI là bước đi đúng đắn Tuy nhiên, trong chừng mực nào đó, công nghệ hiện đại không là giải pháp duy nhất cho tất cả các trường hợp tiếp nhận công nghệ, vì còn phụ thuộc vào năng lực tiếp nhận của người

sử dụng

Bên cạnh những tác động thuận lợi, chuyển giao công nghệ thông qua FDI cũng đặt ra nhiều vấn đề cho nước tiếp nhận công nghệ như: nhập công nghệ lạc hậu, công nghệ không phù hợp với các nước đang phát triển, giá đắt hơn thực tế

Về lâu dài, công nghệ lạc hậu sẽ gây ra hậu quả xấu cho nước chủ nhà vì loại công nghệ này kém sức cạnh tranh, năng suất lao động thấp và gây ô nhiễm môi trường, tuy giá cả của nó có thể rẻ hơn, phù hợp với điều kiện của những nước nghèo Đây

là một vấn đề mà các nước cần quan tâm khi tiếp nhận đầu tư trực tiếp nước ngoài

1.2.2.1 Nâng cao năng lực sản xuất công nghiệp và xuất khẩu, mở rộng thị trường, thúc đẩy giao lưu kinh tế và hội nhập kinh tế quốc tế

Đầu tư trực tiếp nước ngoài có các điều kiện cần thiết cho việc lập một hệ thống thị trường phù hợp với yêu cầu của một nền sản xuất công nghiệp hóa, tiếp cận và mở rộng được thị trường mới, tăng cường hợp tác kinh tế quốc tế, v.v Hình thành được các khu chế xuất, khu công nghiệp chủ lực, tạo ra các điều kiện cơ bản

để phát triển kinh tế của một quốc gia trong giai đoạn hội nhập kinh tế toàn cầu

Sự phát triển của sản xuất kinh doanh đa dạng dựa trên những hình thức đầu

tư khác nhau theo cơ chế thị trường sẽ thúc đẩy sự phát triển của các quan hệ thị trường và không ngừng mở rộng hệ thống thị trường theo hướng đồng bộ, gắn với thị trường khu vực và quốc tế Sự phát triển của các doanh nghiệp trong nước cho phép phục vụ ngày càng tốt hơn các nhu cầu trong nước và từng bước mở rộng xuất

Trang 24

khẩu, sự phát triển của các doanh nghiệp FDI là nhân tố thúc đẩy mạnh mẽ tiến trình hội nhập vì tạo thuận lợi cho khai thác và mở rộng thị trường ở nước ngoài Với sự gia tăng của của các dự án FDI, xuất khẩu của nước tiếp nhận đầu tư sẽ phát triển nhanh chóng, cơ cấu xuất khẩu được cải thiện theo hướng tăng các mặt hàng chế biến, giảm tỷ trọng các sản phẩm thô, tạo một số mặt hàng có khối lượng lớn và thị trường tương đối ổn định, tạo thuận lợi cho hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế Xuất nhập khẩu có mối quan hệ mật thiết với tăng trưởng và phát triển kinh tế Xuất nhập khẩu tăng hay giảm sẽ tác động trực tiếp đến tốc độ tăng trưởng kinh tế, khi nền kinh tế tăng trưởng ổn định là điều kiện tốt nhất thúc đẩy lĩnh vực ngoại thương phát triển Xuất khẩu cho phép chúng ta khai thác tối đa lợi thế so sánh, hiệu quả kinh tế nhờ quy mô, năng suất cao nhờ chuyên môn hóa sản xuất Nhập khẩu

bổ sung được hàng hóa, dịch vụ khan hiếm đặc biệt là thiết bị máy móc phục vụ cho sản xuất và tiêu dùng Mặt khác, xuất nhập khẩu còn thúc đẩy trao đổi thông tin, dịch vụ, tìm kiếm thị trường cho các doanh nghiệp nội địa

Đầu tư trực tiếp nước ngoài vào các nước đang phát triển chủ yếu tập trung đầu tư vào lĩnh vực công nghiệp, nhờ xuất khẩu mà nước chủ nhà khai thác có hiệu quả hơn các nguồn lực trong nước, mở rộng thâm nhập thị trường quốc tế, gia tăng các quan hệ kinh tế đối ngoại Do đó, khuyến khích đầu tư nước ngoài hướng vào xuất khẩu thường là ưu tiên hàng đầu trong chính sách thu hút FDI của nước tiếp nhận đầu tư

Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vào Việt Nam đã tăng mạnh kể từ khi Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) vào năm 2007 Nhất là sau khi Việt Nam ký kết và tham gia hàng loạt hiệp định thương mại tự do (FTA), trở thành nền kinh tế có độ mở lớn (đạt hơn 200% GDP năm 2018) Sau hơn 30 năm mở cửa, hội nhập và cải cách môi trường kinh doanh, Việt Nam đã trở thành điểm đến hấp dẫn của các nhà đầu tư (NĐT) nước ngoài Nguồn vốn FDI vào Việt Nam đã tăng mạnh, số vốn đăng ký và số vốn thực hiện đều có sự cải thiện so cùng kỳ các năm

Số liệu thu hút đầu tư FDI trong quý I/2019 là minh chứng cụ thể Theo đó, tổng vốn đăng ký 3 tháng đầu năm 2019 đạt 10,8 tỷ USD, tăng 86,2% so với cùng kỳ quý I/2018 Trong đó, 785 dự án đăng ký mới đạt tổng vốn 3,8 tỷ USD (tăng 80%); vốn góp, mua cổ phần đạt gần 5,7 tỷ USD (tăng hơn 200%); Giải ngân vốn FDI đạt 4,12

tỷ USD (tăng 6,2%) so với cùng kỳ năm 2018

NĐT nước ngoài đã đầu tư vào 19/21 ngành trong hệ thống phân ngành kinh

tế quốc dân, trong đó lĩnh vực công nghiệp chế biến, chế tạo chiếm tỷ trọng cao nhất với gần 201,2 tỷ USD (chiếm 58% tổng vốn đầu tư) Tiếp đến là các lĩnh vực kinh doanh bất động sản (BĐS) với 58,2 tỷ USD (chiếm 16,8% tổng vốn đầu tư); sản xuất, phân phối điện, khí nước với 23 tỷ USD (chiếm 6,6% tổng vốn đầu tư)

Trang 25

Về kim ngạch xuất khẩu của khu vực FDI ở nước ta luôn có tốc độ tăng cao và chiếm tỷ trọng ngày càng lớn trong tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam Năm

1991, kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam đạt 2 tỷ USD, trong đó khu vực FDI chiếm

tỷ trọng 4%, năm 2004 con số này là 26,5 tỷ USD khu vực FDI chiếm 54,6% Thành tích xuất khẩu ấn tượng của Việt Nam nhiều năm qua ghi dấu ấn đậm nét của các

DN FDI Tỷ trọng đóng góp vào xuất khẩu của khối này đã tăng mạnh từ dưới 50% tổng kim ngạch trước năm 2003 lên trên 60% và 2012 và tiếp tục tăng vượt 70% từ

2015 trở lại đây

1.2.2.2 Cải thiện hạ tầng cơ sở công nghệ

Một đặc điểm tương đối phổ biến ở các nước đang phát triển là sự lạc hậu và thiếu thốn về công nghệ và kỹ thuật Theo quy luật và sức ép thay thế kỹ thuật thì một kỹ thuật nào đó đã đến lúc cần thay thế ở các nước phát triển, nhưng nó có thể còn hiện đại và phù hợp với trình độ của các nước đang phát triển Về bản chất, các nhà đầu tư trực tiếp nước ngoài bao giờ cũng đặt vấn đề lợi nhuận cao và thu hồi vốn nhanh làm mục tiêu hàng đầu Những công nghệ, những kỹ thuật mà nhà đầu tư đưa vào thực hiện dự án đầu tư có thể đã đến lúc cần thay thế ở nước họ Nhưng vì

đi cùng với nó thường là một số lượng nhất định tiền vốn phải bỏ ra, có nghĩa là kỹ thuật đó sẽ là nhân tố trực tiếp chi phối lợi ích của nhà đầu tư nên khi đưa kỹ thuật vào thực hiện dự án, họ buộc phải cân nhắc, lựa chọn những kỹ thuật còn có khả năng phát huy hiệu quả cho tới khi họ thu hồi đủ vốn và có lãi Để thực hiện một số

dự án đầu tư có khả năng sinh lời lớn, thu hồi vốn nhanh, nhiều nhà đầu tư đã chọn một số lĩnh vực như giao thông vận tải, viễn thông, tin học… như là điều kiện cho việc thực hiện các dự án đầu tư của mình Bên cạnh đó, chính phủ các nước nhận đầu tư cũng thường có nhiều chính sách ưu đãi, khuyến khích các nhà đầu tư bỏ vốn đầu tư vào một số lĩnh vực công nghiệp, cơ sở hạ tầng quan trọng hy vọng thúc đẩy nhanh sự phát triển của các lĩnh vực này Như vậy, đầu tư trực tiếp nước ngoài tạo

ra điều kiện để góp phần cải thiện đáng kể cơ sở hạ tầng của nước nhận đầu tư

1.2.3 Gia tăng cơ hội việc làm và thu nhập, nâng cao trình độ nguồn nhân lực

Việc thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài của các nước có nhiều mục tiêu, trong

đó có mục tiêu giải quyết việc làm và phát triển nguồn nhân lực Tác động của đầu

tư trực tiếp nước ngoài tới vấn đề việc làm có thể xem xét trên hai phương diện: trực tiếp và gián tiếp Theo phương diện tác động trực tiếp, đầu tư trực tiếp nước ngoài tạo ra hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp từ đó thu hút sức lao động vào các doanh nghiệp đó

Theo phương diện gián tiếp, đầu tư trực tiếp nước ngoài gián tiếp tạo thêm việc làm trong lĩnh vực dịch vụ và có thể tạo thêm lao động trong các ngành công nghiệp phụ trợ trong nước với điều kiện tồn tại mối quan hệ mua bán nguyên vật liệu hoặc

Trang 26

hàng hóa trung gian giữa các doanh nghiệp này; đầu tư trực tiếp nước ngoài góp phần vào cải thiện điều kiện kết cấu hạ tầng lạc hậu, yếu kém ở nhiều địa phương, điều này cũng tạo điều kiện cho người dân có thể phát triển các dịch vụ phục vụ sản xuất và đời sống của mình, tạo nhiều việc làm cho lao động ở nước tiếp nhận đầu

tư Có thể nói, đầu tư trực tiếp nước ngoài đã tạo cơ hội cho người dân có khả năng tìm kiếm và tự tạo việc làm, mở mang ngành nghề giúp làm giảm tỷ lệ thất nghiệp trong nền kinh tế, đồng thời tạo cơ hội và điều kiện cho sự hình thành và phát triển thị trường lao động

Tại Việt Nam lực lượng lao động làm việc trong khu vực FDI hầu hết là lao động giản đơn tập trung chủ yếu trong các ngành công nghiệp chế biến, may mặc

Số lao động trực tiếp trong các dự án FDI ngày càng tăng, nhờ các hoạt động cung ứng dịch vụ và gia công cho các đối tác nước ngoài Năm 2006, các dự án có vốn FDI tại Việt Nam đang sử dụng khoảng 730 ngàn lao động, chiếm 1,5% tổng lao động có việc làm tại Việt Nam Số lao động này được tiếp cận với công nghệ hiện đại, có kỷ luật lao động tốt, học hỏi được các phương thức lao động tiên tiến Đặc biệt, một số chuyên gia Việt Nam làm việc tại các doanh nghiệp FDI đã có thể thay thế dần các chuyên gia nước ngoài trong việc đảm nhiệm những chức vụ quản lí doanh nghiệp và điều khiển các qui trình công nghệ hiện đại Thúc đẩy sự hình thành tác phong làm việc theo phương pháp công nghiệp đối với lực lượng lao động Qua việc tạo ra ngày càng nhiều chỗ làm, đầu tư trực tiếp nước ngoài đã tạo ra thu nhập cho người lao động, góp phần cải thiện và nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của người dân

1.2.4 Tác động tới môi trường

Những nội dung trên đã cho thấy những tác động tích cực mà đầu tư trực tiếp nước ngoài có thể đem lại cho một quốc gia để phát triển kinh tế - xã hội Tuy nhiên đầu tư trực tiếp nước ngoài không chỉ có tác động tích cực mà bên cạnh đó nó còn gây ra một số tác động xấu mà bản thân nước nhận đầu tư nhiều khi không lường trước được hoặc chấp nhận nó như một tất yếu khách quan và tìm cách hạn chế đến mức tối đa có thể Trong đó, nổi bật hơn cả là vấn đề môi trường, nó luôn được đặt

ra bên cạnh những dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài đặc biệt là những dự án thuộc lĩnh vực công nghiệp, bởi bảo vệ môi trường là một vấn đề mà ngày nay các quốc gia luôn quan tâm trong chiến lược phát triển bền vững

Trong thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài cần hiểu rằng, tại các quốc gia đã phát triển, nhiều công nghệ sản xuất, đặc biệt là những công nghệ ô nhiễm môi trường, đang có xu hướng bị thải loại trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế Những công nghệ đó có thể trở thành đối tượng để xuất khẩu sang các nước đang phát triển thông qua FDI, do đó thu hút FDI ngày nay của các nước đang phát triển

Trang 27

đang song hành với nguy cơ ô nhiễm môi trường Mục tiêu chủ yếu của các nhà đầu

tư nói chung và các nhà đầu tư trực tiếp nước ngoài nói riêng là thu được lợi nhuận cao Để đạt được mục tiêu đó các nhà đầu tư luôn tìm cách giảm chi phí sản xuất, tận dụng khai thác tối đa những công nghệ hiện có Tại các nước phát triển những yêu cầu cao của xã hội về môi trường đã làm cho các chi phí về môi trường đối với một số những ngành sản xuất ngày càng tăng cao, ảnh hưởng đến lợi nhuận của nhà đầu tư Vì vậy, một trong những nguyên nhân của đầu tư trực tiếp ra nước ngoài là

do sự chuyển đổi cơ cấu kinh tế tại các nước đang phát triển với yêu cầu tiến hành công nghiệp hóa - hiện đại hóa rút ngắn, những bức bách về vốn đầu tư phát triển buộc các quốc gia này nhiều khi phải chấp nhận sự hiện diện của những công nghệ

cũ tương đối, điều này có lợi cho chủ đầu tư, song trong một chừng mực nào đó nó lại có ảnh hưởng xấu đến môi trường của nước tiếp nhận

Trong những năm qua, với sự phát triển của nền kinh tế thị trường, vì chạy theo mục tiêu lợi nhuận nên việc xây dựng hệ thống xử lý chất thải đạt tiêu chuẩn

kỹ thuật không được các nhà đầu tư nước ngoài quan tâm Bên cạnh đó, hệ thống pháp luật về bảo vệ môi trường ở Việt Nam chưa hoàn chỉnh, chưa hình thành hệ thống các quy định thống nhất về công tác quản lí môi trường, điều này đã ảnh hưởng xấu tới môi trường sinh thái nước ta

Hiện nay tình trạng ô nhiễm môi trường ở các KCN, KCX của nước ta đã đến mức báo động, chủ yếu tập trung tại các KCN ở vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc

và phía Nam Số KCN đưa vào vận hành hệ thống xử lý nước thải tập trung là rất ít Tuy nhiên, ngay cả ở những KCN đã có trạm xử lý nước thải tập trung, thì chất lượng thực tế của các công trình này vẫn còn hạn chế, chưa đạt được những tiêu chuẩn quy định, gây ô nhiễm môi trường, đặc biệt là ở một số KCN tập trung các ngành công nghiệp nhẹ như dệt may, thuộc da, ngành hóa chất… Tình trạng ô nhiễm này đã ảnh hưởng xấu đến đời sống và sức khỏe của người dân lân cận, phá hủy môi trường sinh thái Đặt ra vấn đề các nước nhận đầu tư cần lưu ý trong quá trình thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài

Tóm lại, vai trò của đầu tư trực tiếp nước ngoài đối với các nước đang phát triển là rất quan trọng Đối với Việt Nam đây là nguồn lực cần thiết cho phát triển kinh tế, việc nhận thức đúng đắn vai trò của FDI cũng như những hệ lụy của nó sẽ cho phép Việt Nam nói chung và từng địa phương nói riêng khai thác hiệu quả hơn nguồn lực này và chủ động trong chiến lược thu hút FDI thúc đẩy kinh tế phát triển, từng bước hội nhập kinh tế của khu vực và thế giới

1.2.5 Tác động tới văn hóa, xã hội

Với việc tạo ra việc làm và nâng cao thu nhập cho người lao động, đầu tư trực tiếp nước ngoài bên cạnh nâng cao đời sống của người lao động, giải quyết vấn nạn

Trang 28

thất nghiệp của nước nhận đầu tư, đã trở thành là một trong những nhân tố dẫn đến

sự phân hóa giàu - nghèo trong tiến trình phát triển nền kinh tế, đây cũng là một hệ quả khó tránh khỏi mà đầu tư trực tiếp nước ngoài tạo ra Điều này xuất phát từ nguyên nhân đầu tư trực tiếp nước ngoài thường xuất hiện chủ yếu trong các ngành tập trung vốn và sử dụng lao động có trình độ kỹ năng cao nên mức thu nhập trung bình của lao động trong khu vực này thường cao hơn so với các doanh nghiệp khác cùng ngành

Trên phương diện lý thuyết, dòng vốn FDI có quan hệ qua lại với năng suất lao động (NSLĐ) của nước tiếp nhận, tuy nhiên cũng cần lưu ý là nó sẽ có tác động tích cực khi khu vực DN nội địa đủ năng lực học hỏi công nghệ mới, hoặc đủ năng lực cung cấp đầu vào cho khối DN FDI Theo chiều ngược lại, NSLĐ cũng là nhân

tố ảnh hưởng tới thu hút FDI Theo báo cáo của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, khu vực FDI đang tạo việc làm cho hơn 3,6 triệu lao động trực tiếp và khoảng 5-6 triệu lao động gián tiếp Phân tích từ báo cáo của Tổng cục Thống kê (2016) cho thấy, theo thời gian khoảng cách NSLĐ giữa các thành phần kinh tế mặc dù dần được thu hẹp nhưng nhìn chung thì NSLĐ khu vực FDI cao hơn khoảng 1,4 lần so với khu vực kinh tế nhà nước và cao gấp 7 đến 8 lần so với khu vực dân doanh

Nghiên cứu của Lê Văn Hùng (2017) đo lường và phân tách đóng góp của khu vực này vào tăng trưởng NSLĐ trong giai đoạn 2006 - 2016 cho thấy, khu vực FDI đóng vai trò quan trọng vào thúc đẩy tăng trưởng NSLĐ của Việt Nam Tuy nhiên, đóng góp của khu vực FDI vào tăng trưởng NSLĐ được tạo bởi tác động dịch chuyển lao động từ khu vực NSLĐ thấp (chủ yếu từ khu vực nông nghiệp) sang khu vực FDI với NSLĐ cao hơn (chiếm 64%) Theo đó, tăng trưởng NSLĐ thực sự từ khu vực FDI chiếm tỷ lệ nhỏ hơn rất nhiều (36%) Thêm nữa, do mức độ liên kết giữa khu vực FDI và khu vực nội địa hầu hết đều thấp ở mọi ngành, đặc biệt nhóm ngành công nghệ và kỹ năng cao Thực trạng này hàm ý khả năng tác động gián tiếp vào NSLĐ của khu vực FDI thông qua công nghệ và kỹ năng lao động hiện nay còn thấp

Mặt khác, chúng ta cũng cần nhìn nhận một tất yếu là đầu tư trực tiếp nước ngoài thường chỉ tập trung ở các thành phố lớn, các vùng kinh tế trọng điểm bởi ở đây có môi trường đầu tư và điều kiện kinh doanh thuận lợi như cơ sở hạ tầng tốt, nhu cầu thị trường cao, khả năng chu chuyển vốn nhanh… mặc dù điều này góp phần làm cho các vùng này thực sự là vùng kinh tế động lực để lôi kéo sự phát triển chung và các vùng phụ cận nhưng đã vô hình chung góp phần tạo khoảng cách chênh lệch ngày càng lớn về mức sống và điều kiện sống giữa người dân thành thị và nông thôn, miền núi, làm phân hóa giàu - nghèo trong xã hội

Trang 29

Ngoài một số tác động tiêu cực chủ yếu trên, đầu tư trực tiếp nước ngoài còn

có một số tác động tiêu cực khác mà chúng ta cần phải quan tâm để có những biện pháp thích hợp, kịp thời không để các tác động tiêu cực đó trở nên trầm trọng kìm hãm sự phát triển của nền kinh tế như:

- Do mục tiêu của các nhà đầu tư khi bỏ vốn ra là nhằm mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận nên đầu tư trực tiếp nước ngoài thường phân bố không đều, chỉ tập trung vào những ngành có lợi nhuận cao Hầu hết các nhà đầu tư chỉ hướng vào đầu tư các ngành nghề có mức độ rủi ro thấp, thu hồi vốn nhanh, lợi nhuận nhiều điều này gây

ra hiện tượng mất cân đối ngành nghề đối với nước chủ nhà Đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Việt Nam trong thời gian qua chủ yếu tập trung vào các lĩnh vực công nghiệp

- xây dựng và dịch vụ, trong khi đó lĩnh vực nông - lâm - ngư nghiệp chưa được các nhà đầu tư trực tiếp nước ngoài quan tâm

- Ngoài ra, với kinh nghiệm dày dặn trên thị trường các doanh nghiệp FDI rất

có thể sẽ thôn tính thị trường trong nước, hoặc có những hành vi thao túng giá cả gây thiệt hại tức thời đối với các doanh nghiệp trong nước không có khả năng cạnh tranh (như hiện tượng Wal Mart ở Trung Quốc đã từng được nhắc đến)

- Hiện nay, một số nhà nghiên cứu sau một thời gian dài nghiên cứu về tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài đã phân tích và chỉ ra một vấn đề rằng các doanh nghiệp FDI đang có xu hướng tạo ra thêm thâm hụt mậu dịch đối với nền kinh

tế ở nước ta, với tỷ trọng xuất khẩu/doanh thu nhỏ hơn nhập khẩu/doanh thu và khoảng cách này đã tăng lên trong thời gian 2015-2019 Điều này xuất phát từ xu hướng đầu tư thiên lệch vào ngành xây dựng bất động sản và ngành thép, chủ yếu đáp ứng cho thị trường nội địa chưa hướng tới xuất khẩu

1.3 Các nhân tố ảnh hưởng tới tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài đến phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh

1.3.1 Điều kiện tự nhiên

Điều kiện tự nhiên bao gồm các yếu tố về vị trí địa lý, khí hậu, tài nguyên thiên nhiên, quy mô dân số Đây là những yếu tố tác động quan trọng có ảnh hưởng đến

tỷ suất lợi nhuận của các dự án đầu tư Các yếu tố này thuận lợi sẽ cung cấp được các yếu tố đầu vào phong phú và giá rẻ cho các hoạt động đầu tư Quy mô về dân số

sẽ ảnh hưởng đến thị trường tiêu thụ và chất lượng NNL, đây được coi là lợi thế của các nước đang phát triển thường có dân số đông và tiền công lao động thấp Thuận lợi về giao thông là nhân tố hấp dẫn các nhà đầu tư, không một nhà đầu tư nước ngoài nào quyết định đầu tư vào nơi mà không thu ận lợi về khoảng cách vận chuyển

và cách xa nguồn nguyên liệu, vị trí này thuận lợi sẽ giảm được chi phí đầu vào, thu được lợi nhuận cao Khí hậu cũng là nhân tố ảnh hưởng đáng kể tới thu hút FDI, chẳng hạn, khi công nghệ hiện đại được nhập từ các nước phương Tây, khí hậu ở

Trang 30

nước tiếp nhận công nghệ mà xấu sẽ có tác động đến độ bền của thiết bị và điều kiện sống của các chuyên gia nước ngoài Quốc gia nào có vị trí thông thương thuận lợi

ở nội địa cũng như các nước khác, nguồn khoáng sản dồi dào với trữ lượng lớn, nhiều danh lam thắng cảnh đẹp và dân số đông là một trong những thế mạnh để thu hút các nhà đầu tư nước ngoài Trong lĩnh vực công nghiệp, thứ tự ưu tiên của nhà đầu tư là nguồn nguyên liệu, số lượng và chất lượng NNL, bởi vì thực chất của dòng vốn FDI chủ yếu tập trung vào lĩnh vực công nghiệp nhờ có ưu thế về công nghệ hiện đại được chuyển giao từ công ty mẹ cho nên các d ự án FDI thường chảy vào các quốc gia có nhiều tài nguyên phục vụ cho các ngành công nghiệp chế biến chưa được khai thác nhiều, thêm vào đó là giá công nhân rẻ và có thuận lợi về vị trí cũng như thị trường

Như vậy, các điều kiện tự nhiên thuận lợi sẽ tạo ra lợi thế tuyệt đối cho các địa phương cấp tỉnh thu hút và sử dụng FDI, từ đó tạo cơ sở cho tác động của FDI đến phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh Tuy nhiên, đối với từng địa phương cấp tỉnh cũng cần chú ý rằng, trong số các điều kiện tự nhiên, có những lợi thế giảm dần trong quá trình khai thác sử dụng do không thể tái tạo Vì vậy, sử dụng điều kiện tự nhiên mà đặc biệt là các nguồn tài nguyên thiên nhiên để thu hút FDI phải được tính toán kỹ càng, tránh tình trạng làm cho chúng nhanh chóng cạn kiệt và cùng với điều

đó là sự mất cân bằng sinh thái, sự xuống cấp của môi trường

1.3.2 Trình độ phát triển kinh tế

Hoạt động kinh tế dựa trên cơ sở sử dụng các yếu tố kinh tế bao gồm tư liệu sản xuất và sức lao động để tạo ra sản phẩm thoả mãn các nhu c ầu xã hội Hoạt động kinh tế trong từng giai đoạn lịch sử cụ thể thể hiện trình độ chinh phục thiên nhiên của con người với những quan hệ xã hội giữa con người với nhau, vì vậy trình

độ phát triển kinh tế thể hiện trình độ phát triển của lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất xã hội thông qua sự phát triển của các yếu tố cấu thành chúng cùng với những kết quả mà nền sản xuất xã hội đạt được

Sự phát triển của lực lượng sản xuất thể hiện thông qua trình độ phát triển của

tư liệu sản xuất (kỹ thuật công nghệ thủ công, cơ khí hoá, tự động hoá), trình độ phân công lao động xã hội; kết cấu hạ tầng kỹ thuật của sản xuất; số lượng, chất lượng NNL Sự phát triển của quan hệ sản xuất thể hiện ở những hình thức sở hữu, thành phần kinh tế, hình thức tổ chức SXKD

Theo giác độ kết quả của hoạt động kinh tế, trình độ phát triển kinh tế biểu hiện thông qua tăng trưởng và phát triển kinh tế Tăng trưởng kinh tế được hiểu là

sự tăng lên về quy mô, sản lượng sản phẩm hàng hoá và dịch vụ trong một thời kỳ nhất định (thường là một năm) thể hiện thông qua sự gia tăng của GDP, GNP hoặc GDP/người, GNP/người

Trang 31

Phát triển kinh tế là một quá trình tăng tiến về mọi mặt của nền kinh tế - xã hội trong một thời kỳ nhất định Nó bao gồm cả sự tăng thêm về quy mô sản lượng (tăng trưởng kinh tế) và sự tiến bộ về cơ cấu kinh tế - xã hội ở từng quốc gia, được biểu hiện là sự tiến bộ, thịnh vượng và cuộc sống tốt đẹp hơn ở quốc gia đó

Việc thu hút, sử dụng và phát huy vai trò c ủa FDI trên địa bàn tỉnh không nh ững phụ thuộc vào trình độ phát triển của nền kinh tế quốc gia nói chung thể hiện ở mức độ phát triển về quản lý kinh tế vĩ mô, cơ sở hạ tầng, chất lượng cung cấp dịch

vụ và tính cạnh tranh của thị trường, mà còn đặc biệt là chịu ảnh hưởng lớn từ trình

độ phát triển kinh tế của địa phương nói riêng Trình độ quản lý vĩ mô kém có thể dẫn tới mất ổn định kinh tế vĩ mô như lạm phát cao, nợ nước ngoài lớn, tốc độ tăng trưởng kinh tế thấp, nạn tham nhũng trở thành phổ biến đây là những nguyên nhân tiềm ẩn cho các cuộc khủng hoảng kinh tế - xã hội và làm tăng mức độ rủi ro cho hoạt động đầu tư, do đó có tác dụng làm giảm tính hấp dẫn của môi trường đầu tư Mặc dù cùng nằm trong môi trường vĩ mô chung của quốc gia, song trên địa bàn của từng địa phương cấp tỉnh lại có những khả năng khác nhau về thu hút, sử dụng và phát huy vai trò của FDI Sự phát triển của cơ sở hạ tầng và dịch vụ sẽ tạo

ra những điều kiện thuận lợi và giảm những chi phí phát sinh trong hoạt động đầu

tư Trong những năm gần đây, nhiều địa phương của Việt Nam đã chú trọng đến đầu

tư phát triển cả về cơ sở hạ tầng cứng (giao thông vận tải, sân bay, cảng, viễn thông ) và cơ sở hạ tầng mềm (chất lượng các dịch vụ về lao động, tài chính, công nghệ ) thông qua các dự án ODA và vay nợ nước ngoài Tuy nhiên, do những hạn chế về nguồn tài chính và trình độ xuất phát thấp, hệ thống kết cấu hạ tầng nước ta mặc dù đã có b ước phát triển quan trọng nhưng chưa thể phát triển đồng đều mà vẫn thường tập trung ở một số vùng, những trung tâm kinh tế lớn của cả nước Do vậy, các địa phương, tỉnh thành xa các trung tâm lớn, nơi hệ thống kết cấu hạ tầng chưa phát triển đồng bộ, thuận tiện, vẫn đang phải đối mặt với tình trạng khó thu hút

v ốn FDI, từ đó khó có thể hy vọng sử dụng tác động của FDI để đẩy nhanh phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh

Thị trường của nước chủ nhà có tính cạnh tranh cao thì sẽ giảm được các rào cản cho nhà đầu tư nước ngoài, vì các nhà đầu tư nước ngoài tự do lựa chọn các lĩnh vực đầu tư mà không bị chi phối bởi tính độc quyền của thị trường Các nghiên cứu cho thấy có mối liên hệ mạnh giữa FDI và quy mô cũng như tốc độ phát triển thị trường…

Hiện nay, chúng ta v ẫn thừa nhận rằng nền kinh tế nước ta đang ở trình độ phát triển thấp, nhân tố hấp dẫn trong thu hút đầu tư là nguồn tài nguyên thiên nhiên dồi dào và tiền lương trả cho lao động Việt Nam rẻ, lợi thế này sẽ mất dần trong tương lai khi nguồn tài nguyên ngày càng khan hi ếm dần và khi trình độ lực lượng

Trang 32

sản xuất phát triển FDI vào nước ta trong thời gian qua mới tập trung chủ yếu vào các ngành sản xuất thu hút nhiều lao động có tay nghề thấp với công nghệ chủ yếu

ở mức trung bình và lạc hậu Để thực hiện thành công sự nghiệp CNH, HĐH đất nước trong thời gian tới chúng ta cần không ng ừng cải thiện hệ thống kết cấu hạ tầng, đổi mới đào tạo nhân lực, cải cách thể chế nhằm từng bước tạo thuận lợi thu hút các dự án FDI vào các ngành công nghệ cao

1.3.3 Đặc điểm văn hóa - xã hội

Đặc điểm văn hoá - xã hội bao gồm ngôn ngữ, tôn giáo, phong tục tập quán, trình độ dân trí, tinh thần dân tộc, thị hiếu các nhân tố này ảnh hưởng trực tiếp đến các hoạt động đầu tư nước ngoài Ngôn ngữ là một trong những khó khăn cho các nhà đầu tư nước ngoài, sự khác nhau về ngôn ngữ làm khó khăn trong công tác kinh doanh, dễ gây ra sự hiểu nhầm dẫn đến kinh doanh kém hiệu quả Tín ngưỡng tác động mạnh đến quan niệm sống của người dân về các giá trị cá nhân và xã hội, từ

đó ảnh hưởng đến thái độ của nhà đầu tư như thói quen tiêu dùng và thuần phong

mỹ tục có ảnh hưởng đến quy mô thị trường Mỗi tôn giáo có cái nhìn rất khác nhau

về chuẩn mực xã hội, những người theo đạo Hồi thường không thích nhìn thấy hình ảnh của người phụ nữ với trang phục quyến rũ, trong khi đó ở các nước phương Tây thì hoàn toàn ngược lại họ dùng vẻ đẹp tự nhiên của người phụ nữ để quảng cáo cho sản phẩm của mình Phong tục tập quán của từng địa phương cấp tỉnh của nước tiếp nhận đầu tư có tác động mạnh mẽ đến các hoạt động kinh doanh của các nhà đầu nước ngoài trên địa bàn tỉnh Bởi lẽ, phong tục tập quán là nhân tố tinh thần đối với các nhà đầu tư nước ngoài, họ dễ dàng hoà nh ập vào cuộc sống cộng đồng nước sở tại hay không là phụ thuộc vào phong tục tập quán của nước chủ nhà Mặt khác, sản phẩm của họ cũng phải tính đến vấn đề có được thị trường chấp nhận hay không từ

đó sẽ có những thay đổi trong chiến lược kinh doanh của mình

Trình độ dân trí là một trong những nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến hoạt động SXKD của các nhà đầu tư nước ngoài Trình độ dân trí cao hay thấp sẽ tác động trực tiếp đến NNL mà đặc biệt là đội ngũ công nhân kỹ thuật có tay nghề cao, điều này có ảnh hưởng trực tiếp đến chi phí đầu vào Nhà đầu tư nước ngoài bao giờ cũng tính đến NNL của nước tiếp nhận đầu tư có đáp ứng được yêu cầu SXKD của

họ hay không Nhóm nhân tố này tạo ra sức hấp dẫn nhất định đối với các nhà đầu

tư nước ngoài Trình độ dân trí thấp đã trở thành lực cản cho sự phát triển của xã hội, hạn chế khả năng mở rộng kinh doanh của DN Những tập quán sản xuất manh mún nhỏ lẻ với tâm lý tiểu nông đã và đang cản trở sự hình thành tác phong công nghiệp cho nguồn lao động nước ta, gây khó khăn không nhỏ cho hoạt động quản lý

vi mô ở các DN nói chung và các DN FDI nói riêng Vì vậy, để thu hút ngày càng nhiều nguồn vốn nước ngoài trong đó đặc biệt là nguồn vốn FDI và phát huy tác

Trang 33

động tích cực của FDI đến phát triển kinh tế - xã hội của địa phương, các địa phương cấp tỉnh cần phải không ngừng nâng cao dân trí, xoá bỏ những tập quán sản xuất lạc hậu, thúc đẩy sự hình thành đội ngũ người lao động có chuyên môn và có kỷ luật lao động cao

1.3.4 Cơ chế chính sách của tỉnh về thu hút, sử dụng đầu tư trực tiếp nước ngoài

Các hoạt động FDI không những chịu ảnh hưởng trực tiếp bởi các chính sách của nước chủ nhà quy định về lĩnh vực đầu tư, bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ, chính sách ưu đãi đầu tư, chính sách tiền tệ, thương mại mà còn ph ụ thuộc rất lớn vào việc triển khai thực hiện những cơ chế chính sách đó tại địa phương, trong đó có cấp tỉnh Tính hợp lý của các chính sách này, đặc biệt thông qua tri ển khai thực hiện gắn với sự năng động sáng tạo của địa phương cấp tỉnh sẽ là yếu tố vô cùng quan tr ọng đảm bảo lợi ích của các nhà đầu tư nước ngoài, do đó sẽ có tác dụng trực tiếp đến các DN FDI Tính minh bạch và bình đẳng của những chính sách và hệ thống pháp luật là nhân t ố hấp dẫn đối với nhà đầu tư nước ngoài Trong đó chính sách ưu đãi đầu tư là công cụ nhằm thu hút FDI hoặc định hướng đầu tư theo những mục tiêu phát triển nhất định Chính sách ưu đãi đầu tư tác động trực tiếp đến việc khai thác, phát huy các nguồn lực bên trong và thu hút các nguồn lực bên ngoài Mặt khác, chính sách ưu đãi đầu tư còn tác động đến sự phân bổ các nguồn lực một cách đúng hướng và đạt hiệu quả cao

Việc xây dựng chính sách ưu đãi đầu tư chủ yếu là công việc của Chính phủ Tuy nhiên, vai trò của chính quyền địa phương là hết sức quan trọng trong việc thực thi và vận dụng sáng tạo, bằng cơ chế chính sách riêng trong khuôn khổ cho phép Vấn đề là ưu đãi phải cụ thể, thiết thực, có tính khả thi, đặc biệt là phải nhất quán và

có xu hướng mở rộng theo hướng đồng bộ cho hoạt động FDI nói riêng cũng như cho sự vận hành của nền kinh tế nói chung

1.4 Kinh nghiệm phát huy tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài đối với phát triển kinh tế - xã hội ở một số tỉnh và quốc gia trên thế giới

1.4.1 Kinh nghiệm một số địa phương khác trong nước

1.4.1.1 Kinh nghiệm của Bắc Ninh

Tỉnh Bắc Ninh với lợi thế về vị trí địa lý có khả năng liên kết vùng và khu vực thuận lợi, có nguồn nhân lực chất lượng Để tăng cường tác động tích cực của FDI trước hết lãnh đạo tỉnh đã chú trọng tạo nên một môi trường hấp dẫn để thu hút FDI, đặc biệt là các nhà đầu tư nước ngoài có uy tín, công nghệ cao như FDI từ Nhật Bản, Hàn Quốc Tính đến hết năm 2011, đã có 339 đơn vị FDI trong đó 322 dự án FDI

và 17 chi nhánh, văn phòng đại diện với tổng vốn đầu tư đăng ký là 3,9 t ỷ USD

Trang 34

Năm 2013, toàn tỉnh cấp mới giấy chứng nhận đầu tư cho 95 DN, chi nhánh, văn phòng đại diện có vốn đầu tư nước ngoài; cấp điều chỉnh tăng vốn 32 lượt dự án, nâng tổng vốn đầu tư đăng ký sau điều chỉnh 1.592,73 triệu USD; Cấp giấy chứng nhận nhà đầu tư mới 31 dự án và thực hiện xác nhận đầu tư 27 dự án đầu tư trong nước, tổng vốn đầu tư đăng ký 4.2525 t ỷ đồng; Cấp giấy chứng nhận đăng ký 604

DN, 36 chi nhánh và văn phòng đại diện, tổng vốn đăng ký 2.538,5 tỷ đồng Luỹ kế đến nay, trên địa bàn có 459 đơn vị đầu tư trực tiếp nước ngoài còn hi ệu lực, tổng vốn đầu tư đăng ký sau điều chỉnh 5.958 triệu USD

Cho đến nay, đã có nhiều tập đoàn đa quốc gia danh tiếng thế giới đầu tư vào tỉnh Bắc Ninh như: Tập đoàn Samsung với Dự án “Khu tổ hợp công nghệ Samsung” tại KCN Yên Phong với tổng vốn đầu tư 670 triệu USD, Tập đoàn Nokia với Dự án Nhà máy s ản xuất điện thoại di động tại KCN VISIP với tổng vốn đầu tư 302 triệu USD, Tập đoàn Canon với 2 dự án đầu tư sản xuất máy in, linh kiện điện tử tại KCN Tiên Sơn và KCN Quế Võ v ới tổng vốn đầu tư 130 triệu USD… Đặc biệt với riêng mặt hàng điện thoại di động, Bắc Ninh hiện được biết đến như “Thánh địa sản xuất điện thoại di động của khu vực và thế giới” Đầu tư trực tiếp nước ngoài đã góp ph

ần quan trọng đem lại một diện mạo mới cho nên kinh tế của tỉnh, góp phần hình thành một số ngành công nghiệp mũi nhọn như: công nghiệp điện tử, công nghiệp công nghệ cao, phát triển cơ sở hạ tầng…, góp phần tăng thu ngân sách, tạo công ăn việc làm và chuyển dịch cơ cấu nền kinh tế của tỉnh với mục tiêu đưa Bắc Ninh liên kết với Hà Nội trở thành một trung tâm lớn của cả nước về công nghiệp điện tử, công nghiệp phụ trợ và công nghiệp công nghệ cao

Khu vực kinh tế có vốn FDI cũng góp phần vào chuyển dịch cơ cấu giá trị sản xuất của tỉnh Giá trị sản xuất công nghiệp (GTSXCN) khu vực FDI: Giai đoạn 2001-2005: đạt 5.184 tỷ đồng (giá cố định), chiếm 23,6 % tổng GTSXCN toàn tỉnh; Giai đoạn 2006-2010: đạt 43.681 tỷ đồng, chiếm 46,2 % tổng GTSXCN toàn tỉnh Giá trị sản xuất khu vực FDI tăng với tốc độ nhanh qua các năm: Năm 2001 đạt 842

tỷ đồng (giá cố định), năm 2005 đạt 1.462 tỷ đồng và năm 2010 đạt 22.859 tỷ đồng (chiếm 62% GTSXCN toàn tỉnh năm 2010); 9 tháng đầu năm 2011, GTSXCN FDI đạt 32.004 tỷ đồng (chiếm 72,9%) Xuất khẩu của khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài tăng nhanh và đóng vai trò quan tr ọng thúc đẩy gia tăng tổng kim ngạch xuất khẩu của Bắc Ninh Giai đoạn 2001-2005, kim ngạch xuất khẩu khu vực FDI đạt 54,85 triệu USD, chiếm 18,9% kim ngạch xuất khẩu của cả tỉnh; Giai đoạn 2006

- 2010, kim ngạch xuất khẩu khu vực FDI đạt 2.281 triệu USD, chiếm 51,67% kim ngạch xuất khẩu của cả tỉnh; 9 tháng đầu năm 2011, kim ngạch xuất khẩu đạt 2.761 triệu USD, chiếm 97,7% tổng kim ngạch xuất khẩu Năm 2013 kim ngạch xuất khẩu của DN có vốn đầu tư nước ngoài ước 22.882 triệu USD

Trang 35

Tỷ lệ kim ngạch xuất khẩu của khu vực FDI trong kim ngạch xuất khẩu của cả tỉnh đã tăng với tốc độ cao, từ 0,2% vào năm 2001 lên 38,4% vào năm 2005, năm

2010 đạt 66,8%, năm 2013 - 99,3%

Khu vực đầu tư nước ngoài góp phần giải quyết việc làm, tăng thu nhập cho người lao động Năm 2006, DN FDI đã tạo việc làm cho 7.699 người lao động, chiếm 12% tổng số lao động trong các DN toàn tỉnh Đến năm 2010, số lượng người lao động làm việc cho các DN FDI đã tăng lên 36.800 người, chiếm 30,9% tổng số lao động trong các DN toàn tỉnh

Bên cạnh đó, Chính quyền Tỉnh cũng chủ động thực hiện các biện pháp hạn chế tác động tiêu cực của FDI Những dự án FDI không đạt hiệu quả mong muốn như các dự án dừng hoạt động hoặc không triển khai thực hiện đã bị thu hồi giấy phép đầu tư Nếu xét tương quan một số chỉ số như: hiệu quả đầu tư của vốn FDI trên phương diện đóng góp vào tốc độ tăng trưởng GDP của tỉnh, hay số thu nộp ngân sách hàng năm trên tổng vốn đăng ký đầu tư thì chỉ số của Bắc Ninh vẫn còn

ch ưa cao Ngoài ra, một số DN FDI còn bộc lộ một số hạn chế khác như: tranh chấp

về quyền lợi giữa công nhân với chủ sử dụng lao động, an toàn lao động, gây ô nhiễm môi trường, vay nợ và không có khả năng thanh toán…Thực trạng đó đã ảnh hưởng nhất định đến môi trường đầu tư của tỉnh, hạn chế việc mở rộng đầu tư của các dự án đầu tư đã thực hiện, đồng thời làm suy giảm hiệu quả thu hút đầu tư đối với các nhà đầu tư nước ngoài chưa vào tỉnh

Để phát huy tác động tích cực và giảm thiểu tác động tiêu cực của FDI Bắc Ninh đã không ngừng nỗ lực hoàn thiện quy hoạch, cải thiện môi trường đầu tư Trong những năm qua, tỉnh đã thực hiện đầy đủ những chính sách ưu đãi đầu tư vào các KCN tập trung và ngoài KCN theo quy định hiện hành, thường xuyên tổ chức gặp mặt đối thoại cùng tháo g ỡ khó khăn với các DN FDI Ngoài ra, việc quy hoạch các KCN tập trung, khu, CCN vừa và nhỏ được thực hiện tốt tạo điều kiện về cơ sở

hạ tầng thuận lợi cho nhà đầu tư

Trong quá trình thụ lý hồ sơ dự án đề nghị cấp Giấy CNĐT, các ngành chức năng như: Sở Kế hoạch-Đầu tư, Ban Quản lý các KCN tỉnh luôn tuân thủ, quy trình thủ tục cấp giấy CNĐT theo quy định nhằm rút ngắn thời gian thụ lý hồ sơ so với quy định của Nhà nước Thực hiện chức năng kiểm tra, giám sát tình hình triển khai thực hiện của các dự án, Sở Kế hoạch - Đầu tư, Ban quản lý các KCN tỉnh đã tổ chức rà soát, phân loại các dự án có vốn FDI trên địa bàn tỉnh chậm triển khai và không có khả năng thực hiện báo cáo Bộ Kế hoạch - Đầu tư và UBND tỉnh Bắc Ninh Chủ động phát hiện và giải quyết các khó khăn, vướng mắc cho nhà đầu tư trong các lĩnh vực lao động, môi trường, đất đai…

Trang 36

Để tăng cường thu hút FDI và quản lý tốt những dự án FDI đã và đang hoạt động, Bắc Ninh đã có nhiều cố gắng trong việc chuẩn bị sẵn sàng mặt bằng sản xuất thông qua việc hoàn thiện quy hoạch và triển khai đầu tư hạ tầng KCN tập trung, các CCN nhỏ Ưu tiên các dự án công nghiệp sạch, công nghệ cao, thân thiện với môi trường và đầu tư theo hình thức Hợp đồng xây dựng - kinh doanh - chuyển giao (BOT), hợp đồng xây dựng -chuyển giao - kinh doanh (BTO), hợp đồng xây dựng-chuyển giao (BT)… đối với các lĩnh vực giao thông, y tế, bảo vệ môi trường Triển khai chính sách hỗ trợ đầu tư, chính sách khuyến khích đầu tư theo quy định của Chính phủ và quy định của tỉnh Thực hiện cải cách thủ tục hành chính đối với nhà đầu tư theo hướng ngày càng thông thoáng, minh bạch Đặc biệt, hạn chế các dự án đầu tư vào khu vực phi sản xuất, khai thác không gắn với chế biến Không cấp giấy CNĐT đối với các dự án sử dụng lãng phí năng lượng, tài nguyên, sử dụng công nghệ lạc hậu, gây ô nhiễm môi trường Hoàn thiện cơ sở hạ tầng phục vụ triển khai

dự án như: Giao thông, cấp điện, cấp thoát nước, nhà ở cho người lao động…Thực hiện đề án NNL chất lượng cao để đáp ứng nhu cầu tuyển dụng của các DN FDI Phối hợp với các bộ, ngành chức năng nghiên cứu đổi mới phương thức xúc tiến đầu

tư theo hướng có trọng tâm, trọng điểm vào các đối tác tiềm năng, bảo đảm tính thống nhất, liên vùng, liên ngành và mang tính chuyên đề…

Trong thời gian qua, tỉnh Bắc Ninh đã thực hiện triển khai các hoạt động về công tác xúc tiến thu hút đầu tư nước ngoài như: Môi trường đầu tư - kinh doanh luôn được cải thiện theo hướng thông thoáng, minh bạch và hấp dẫn các nhà đầu tư, được thể hiện qua chỉ số năng lực môi trường cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) của tỉnh xếp thứ 6/63 tỉnh năm 2010; Thực hiện tốt cơ chế “một cửa” trong cấp giấy CNĐT tại

Sở Kế hoạch-Đầu tư, Ban quản lý các KCN tỉnh Hỗ trợ nhà đầu tư một cách hiệu quả trong việc cung cấp thông tin liên quan đến dự án đầu tư, hướng dẫn thủ tục đầu

tư, xây dựng và triển khai dự án; thực hiện biên soạn tài liệu giới thiệu môi trường đầu tư, thường xuyên điều chỉnh, bổ sung danh mục dự án gọi vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài

Bên cạnh đó, công tác quản lý, giám sát được thực hiện có kế hoạch, thường xuyên, chặt chẽ và đồng bộ sẽ đảm bảo dự án đầu tư được thực hiện đúng theo các quy định của pháp luật, đúng tiến độ, hạn chế được các tác hại về môi trường, chống các hoạt động chuyển giá, trốn thuế…

1.4.1.2 Kinh nghiệm của tỉnh Hải Dương

Hải Dương là một tỉnh thuộc đồng bằng sông Hồng với điện tích 1.662 km2,

là một trong bảy tỉnh nằm trong vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc, tiếp giáp với sáu tỉnh: Bắc Ninh, Bắc Giang, Quảng Ninh, Thái Bình, Hải Phòng, Hưng Yên Trong những năm trở lại đây, kinh tế Hải Dương đạt tốc độ tăng trưởng khá cao, bốn năm

Trang 37

liền tăng trưởng liên tục (hơn 10%) Năm 2016 tăng 10,1%, năm 2017 tăng 9,3%, tuy không đạt mục tiêu so với kế hoạch nhưng vẫn giữ được mức tăng trưởng khá Quy mô tổng sản phẩm trên địa bàn tỉnh năm 2017 đạt 39.028 tỷ đồng, tăng 2,92 lần

so với năm 2015 (13.334 tỷ đồng) Trong đó khu vực nông, lâm, thủy sản đạt 8.986

tỷ đồng; khu vực công nghiệp, xây dựng đạt 17.811 tỷ đồng; khu vực dịch vụ đạt 12.231 tỷ đồng Tốc độ trung bình của khu vực công nghiệp và xây dựng giai đoạn 2015-2019 tăng 11,6%/năm Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tiến bộ, tuy không nhanh nhưng bền vững, phù hợp với sự nghiệp CNH, HĐH trong tỉnh Năm

2015 cơ cấu ngành nông, lâm, ngư nghiệp là 27,1%; công nghiệp, xây dựng là 43,6%; dịch vụ là 29,3%, đến năm 2017 cơ cấu ngành tương ứng là 23.0%; 45,6%; 31,4% Những thành tựu phát triển kinh tế của Hải Dương có sự đóng góp không nhỏ của việc thu hút, sử dụng FDI

Theo số liệu của Sở Kế hoạch-Đầu tư tỉnh Hải Dương, tính đến hết ngày 31/3/2019, trên địa bàn tỉnh Hải Dương có 247 dự án đầu tư nước ngoài đến từ 23 quốc gia và vùng lãnh thổ, với tổng vốn đầu tư đăng ký là 5.693,7 triệu USD; tổng vốn đầu tư thực hiện của các DN FDI đạt 2.505,9 triệu USD

Điểm nổi bật của khu vực đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Hải Dương, đó là mặc

dù sản xuất, kinh doanh của các DN nói chung vẫn gặp nhiều khó khăn, nhưng trong

số 247 dự án FDI được cấp giấy CNĐT còn hiệu lực trên địa bàn, có tới 192 DN đã

đi vào hoạt động Doanh thu trong quý I/2019 của các DN FDI ước đạt 700 triệu USD, tăng 19,6 % so với cùng kỳ năm 2018; trong đó doanh thu xuất khẩu ước đạt

600 triệu USD, tăng 22,2% so với cùng kỳ 2018 Đây là một kết quả tích cực Cũng nhờ hoạt động SXKD tiếp tục tăng trưởng, nên trong quý I, khu vực kinh tế này đã thực hiện nghĩa vụ thuế và các khoản phải nộp ngân sách nhà nước đạt 20 triệu USD; đảm bảo việc làm cho 110.300 người lao động

Trong cơ cấu đầu tư, các nhà đầu tư trên địa bàn tỉnh tập trung chủ yếu vào lĩnh vực công nghiệp và xây dựng, với 200 dự án, với các ngành nghề tiêu biểu như sản xuất các sản phẩm điện và điện tử, lắp ráp ô tô, sản xuất xi măng, sắt thép, gia công hàng dệt may, cơ khí chế tạo, thiết bị cơ khí chính xác Khu vực dịch vụ có

21 dự án tập trung vào giao thông vận tải, kinh doanh khách sạn, siêu thị Khu vực nông nghiệp có số dự án thấp nhất do nhiều nguyên nhân, trong đó có nguyên nhân

về nguy cơ rủi ro, ảnh hưởng của thời tiết, khó khăn khi thu mua nguyên liệu đầu vào

Nhìn chung, thời gian qua, khu vực FDI đã góp ph ần tạo ra năng lực sản xuất mới, hình thành các ngành nghề mới, công nghệ sản xuất, quản lý mới và các sản phẩm mới có tính cạnh tranh cao trên thị trường Đồng thời, góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế của Hải Dương theo hướng CNH, HĐH, tạo điều kiện

Trang 38

khai thác các nguồn lực của địa phương mà trước đây còn ở dạng tiềm năng như đất đai, nhà xưởng, NNL

Để phát huy tác động tích cực và giảm thiểu tác động tiêu cực của FDI, tỉnh Hải Dương đã cố gắng xây dựng và phát triển đồng bộ kết cấu hạ tầng như giao thông, điện, nước, bưu chính viễn thông; các ngành công nghiệp phụ trợ và hạ tầng

xã hội, dịch vụ nhằm đáp ứng nhu cầu của các DN Bố trí, sắp xếp dự án theo quy hoạch về đất đai cũng như quy hoạch ngành; trong quá trình lập quy hoạch các KCN, CCN đã từng bước chú ý các vấn đề về môi trường, cấp thoát nước , cải thiện môi trường đầu tư tại các khu vực thị trấn, huyện thị và nông thôn Tỉnh đã tập trung thu hút đầu tư để sớm lấp đầy các KCN, CCN đã được quy hoạch chi tiết Ngoài các KCN, CCN đã nằm trong quy hoạch, thì chưa quy hoạch phát triển thêm các KCN, CCN mới Khi tỷ lệ lấp đầy chung đạt từ 70% trở lên mới nghiên cứu để bổ sung thêm Khuyến khích các DN xây dựng nhà xưởng 2-3 tầng để nâng cao hiệu quả sử dụng đất

Trong thời gian qua, tỉnh đã tập trung thu hút và phát tri ển các ngành công nghi ệp có thị trường, có lợi thế cạnh tranh nhằm tiếp nhận chuyển giao công nghệ, từng bước vươn lên sản xuất linh kiện, phụ tùng để tiến tới sản xuất hoàn chỉnh một

số thiết bị, sản phẩm công nghiệp với công nghệ cao tại địa phương, tăng cường thu hút đầu tư vào lĩnh vực phát triển cơ sở hạ tầng kinh tế, xã hội

Thực hiện cải cách hành chính, nhất là thủ tục hành chính, trách nhiệm công

vụ của cán bộ công chức trong việc giải quyết các thủ tục đầu tư, đất đai, xây dựng, xuất nhập khẩu, lao động, môi trường…, nhằm loại bỏ phiền hà, tạo điều kiện thời gian nhanh nhất cho các nhà đầu tư khi thực hiện dự án Quan tâm và tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư trong hoạt động sản xuất, kinh doanh, tạo mối liên hệ chặt chẽ giữa cơ quan quản lý nhà nước và DN, tạo dựng và củng cố lòng tin để các nhà đầu tư nước ngoài yên tâm sản xuất kinh doanh tại Hải Dương

Tỉnh đã quan tâm đẩy mạnh đào tạo NNL, đặc biệt NNL chất lượng cao đáp ứng nhu cầu của DN và xã hội Phát triển các cơ sở, trang thiết bị và dịch vụ y tế tiên tiến hiện đại, đáo ứng nhu cầu đa dạng của người dân và DN FDI Chuẩn bị tốt các điều kiện xã hội như dịch vụ khách sạn, nhà hàng; vui chơi giải trí v.v , để phục

vụ nhu cầu của các nhà đầu tư và người lao động làm việc trong các KCN, CCN Đồng thời, quan tâm giải quyết tốt vấn đề đời sống nhân dân vùng giao đất để làm KCN, CCN

Bên cạnh đó đã từng bước tạo môi trường thuận lợi cho các loại hình dịch vụ như tài chính, thị trường vốn, kinh doanh tài sản và dịch vụ tư vấn, kiểm toán, xúc tiến thương mại Hình thành và từng bước mở rộng thị trường vốn trên địa bàn; đẩy mạnh các hoạt động tài chính, ngân hàng và các tổ chức tín dụng phi ngân hàng Tạo

Trang 39

môi trường, điều kiện thành lập công ty đầu tư tài chính, tham gia thị trường chứng khoán; khuyến khích, hỗ trợ các doanh nghiệp phát hành trái phiếu công ty; phát triển các loại hình tín dụng phù hợp với từng ngành, từng lĩnh vực

1.4.1.3 Kinh nghiệm của tỉnh Hưng Yên

Trong giai đoạn 2011- 2015 Hưng Yên đã đạt được những thành tựu đáng kể

về phát triển kinh tế Tăng trưởng kinh tế GDP bình quân 12,28%/năm Cơ cấu kinh

tế năm 2015: nông nghiệp 30,5%; công nghiệp, xây dựng 38%; dịch vụ 31,5% Thu nhập bình quân đầu người đạt 550 USD Công nghi ệp phát triển nhanh Giá trị sản xuất tăng bình quân 26,7%/năm Năm 2005, sản xuất công nghiệp vẫn duy trì tốc độ tăng cao Giá trị sản xuất công nghiệp ước 7.700 tỷ đồng, đạt 100,9% kế hoạch, tăng 30% so cùng kỳ Xuất khẩu tiếp tục tăng, kim ngạch xuất khẩu đạt 210,4 triệu USD vượt kế hoạch 0,2%, tăng 15,4% so với cùng kỳ Đóng góp vào kết quả trên có phần đáng kể của các DN FDI

Cho đến nay, Hưng Yên đã tiếp nhận 410 dự án đầu tư với tổng số vốn đăng

ký 1.223 triệu USD, trong đó có 160 dự án (chiếm 39% tổng số dự án) đã đi vào hoạt động Các dự án đầu tư nước ngoài có số lượng là 56 (chiếm 13,66% tổng số

dự án) với tổng số vốn đăng ký 225,8 triệu USD (18,46% tổng vốn đầu tư) trong năm 2005 đã đóng góp vào GTSXCN của tỉnh 2.846 tỷ đồng (36,96% tổng GTSXCN), kim ngạch xuất khẩu đạt 98,6 triệu USD (46,86% kim ngạch xuất khẩu của tỉnh) Những kết quả tích cực của các DN FDI kể trên xuất phát từ những nguyên nhân: có trình độ công nghệ và kinh nghiệm quản lý tiên tiến, có những chiến lược tiêu thụ sản phẩm phù hợp với thị hiếu người tiêu dùng, tăng cường năng lực cạnh tranh, cải tiến mẫu mã, nâng cao chất lượng sản phẩm, thị trường tiêu thụ được mở rộng; nhiều sản phẩm có khả năng cạnh tranh tốt trên thị trường trong và ngoài nước như: xe máy, quần áo may sẵn, thép xây dựng, thức ăn gia súc

Để phát huy hiệu quả nguồn vốn FDI, Hưng Yên đã chủ trương đặc biệt khuyến khích đối với các dự án đầu tư vào các lĩnh vực công nghệ hiện đại, có khả năng thúc đẩy các ngành khác cùng phát triển; các dự án sớm có hiệu quả và đóng góp nhiều cho ngân sách; các dự án nuôi trồng, chế biến nông sản thực phẩm sử dụng nguyên liệu địa phương; các dự án giải quyết nhiều lao động tại chỗ Tập trung khuyến khích các dự án sử dụng nhiều lao động vào khu vực các huyện phía Nam như các dự án sản xuất, chế biến hàng xuất khẩu Cho phép các dự án FDI được hưởng các chính sách ưu đãi đầu tư ở mức tối đa theo các quy định của Chính phủ Thủ tục cấp ưu đãi đầu tư đơn giản, nhanh chóng Đối với các dự án đặc biệt khuyến khích đầu tư theo phương hướng phát triển kinh tế của tỉnh, có thể được tỉnh cho phép hưởng thêm các ưu đãi như: hỗ trợ một phần kinh phí đào tạo nghề; hỗ trợ một phần kinh phí đền bù, làm hạ tầng tăng thời gian được miễn, giảm tiền thuê đất

Trang 40

Các chính sách thúc đẩy thu hút FDI vào phát triển công nghiệp đã và đang được thực hiện bao gồm:

Một là, về chính sách đất đai, tạo mặt bằng SXKD Tỉnh đã giành các vị trí

thuận lợi nhất để quy hoạch các KCN, tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp

có nhu cầu thuê đất làm mặt bằng SXKD Các thủ tục thuê đất được rút gọn, đơn giản hóa nhưng vẫn đảm bảo đúng quy định của pháp luật Hiện nay, Ban quản lý các KCN của tỉnh là cơ quan đầu mối tiếp nhận và quản lý các dự án đầu tư vào các KCN hoạt động theo quy chế KCN tập trung, Sở Kế hoạch-Đầu tư có chức năng là

cơ quan đầu mối giúp UBND tỉnh thực hiện tiếp nhận các dự án đầu tư vào các khu vực nằm ngoài KCN, phối hợp với các sở, ngành chức năng khác như Sở Xây dựng

và các sở quản lý các ngành kinh tế kỹ thuật trong việc thẩm định các dự án đầu tư xin thuê đất của DN; phối hợp cùng Sở Tài nguyên môi trường trong việc thực hiện các thủ tục cho DN thuê đất tạo mặt bằng SXKD một cách thuận lợi nhất

Hai là, về chính sách hỗ trợ về đào tạo, khoa học công nghệ Để hỗ trợ doanh

nghiệp về đào tạo lao động, tỉnh đã khuyến khích các thành phần kinh tế tham gia đầu tư cho các dự án dạy nghề Các dự án dạy nghề đã được đặc biệt khuyến khích

và tạo điều kiện thuận lợi về mọi mặt như: mặt bằng, tín dụng, thủ tục… Các trường, các trung tâm dạy nghề công lập của tỉnh cũng được đầu tư xây dựng mới và mở rộng, năng cao chất lượng đào tạo

Ba là, về chính sách hỗ trợ thông tin, xúc tiến thương mại Các thông tin về

quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh, các thông tin về chính sách, pháp luật của Nhà nước đều được công khai hóa, doanh nghiệp và công dân có thể dễ dàng tiếp cận Trung tâm xúc tiến thương mại thuộc Sở Thương mại đã được thành lập và đang triển khai hoạt động, hệ thống thông tin về doanh nghiệp trong tỉnh đang từng bước hoàn thiện và sẵn sàng cung cấp theo yêu cầu của các tổ chức, cá nhân

Bốn là, thực hiện cải cách thủ tục hành chính Trong tiếp nhận dự án đầu tư,

khi biết được các nhà đầu tư muốn đầu tư vào những địa phương có môi trường đầu

tư thuận lợi, tỉnh đã chỉ đạo các sở ban ngành liên quan phải tinh giản các thủ tục hành chính khi tiếp nhận các dự án đầu tư ngay từ những ngày đầu tái lập tỉnh Giao cho Sở Kế hoạch - Đầu tư là đầu mối duy nhất tiếp nhận dự án đầu tư ngoài nước, phối hợp với các cơ quan chức năng giải quyết các vướng mắc, kiến nghị của chủ đầu tư trong quá trình thực hiện dự án, theo dõi xử lý các tranh chấp phát sinh trong hoạt động của DN, kịp thời đề xuất với UBND tỉnh quyết định những vấn đề vượt thẩm quyền Rút ngắn thời gian thẩm định cấp phép hoặc chấp thuận dự án đầu tư, chỉ đạo các địa phương làm tốt công tác giải phóng mặt bằng, nghiêm cấm các đơn

vị, cá nhân lợi dụng việc thanh tra, kiểm tra để sách nhiễu, gây phiền hà cho hoạt động của DN

Ngày đăng: 13/04/2021, 15:55

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Lê Xuân Bá (2006), Tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài tới tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam, Nxb KHKT, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài tới tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam
Tác giả: Lê Xuân Bá
Nhà XB: Nxb KHKT
Năm: 2006
2. PGS, TS Đỗ Đức Bình (2005), Đầu tư của các công ty xuyên quốc gia (TNCs) tại Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đầu tư của các công ty xuyên quốc gia (TNCs) tại Việt Nam
Tác giả: TS Đỗ Đức Bình
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2005
3. Ngô Thu Hà (2009), Chính sách thu hút vốn đầu tư nước ngoài vào Trung Quốc và khả năng vận dụng tại Việt Nam, LATS Kinh tế, Đại học Kinh tế quốc dân Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính sách thu hút vốn đầu tư nước ngoài vào Trung Quốc và khả năng vận dụng tại Việt Nam
Tác giả: Ngô Thu Hà
Nhà XB: LATS Kinh tế
Năm: 2009
4. Phạm Thị An Hoà (2000), Đầu tư trực tiếp nước ngoài của tỉnh Hải Dương, Luận văn Thạc sỹ Kinh tế, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đầu tư trực tiếp nước ngoài của tỉnh Hải Dương
Tác giả: Phạm Thị An Hoà
Năm: 2000
5. PGS, TS Hoàng Thị Bích Loan (chủ biên), (2008), Thu hút đầu tư trực tiếp của các công ty xuyên quốc gia vào Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thu hút đầu tư trực tiếp của các công ty xuyên quốc gia vào Việt Nam
Tác giả: PGS, TS Hoàng Thị Bích Loan (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2008
6. Nguyễn Tiến Long (2011), Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) với việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế của tỉnh Thái Nguyên, LATS Kinh tế, Đại học Kinh tế quốc dân Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) với việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế của tỉnh Thái Nguyên
Tác giả: Nguyễn Tiến Long
Năm: 2011
7. Th.S Đặng Hoàng Thanh Nga (2011), Đầu tư trực tiếp nước ngoài của các công ty xuyên quốc gia của Hoa Kỳ ở Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đầu tư trực tiếp nước ngoài của các công ty xuyên quốc gia của Hoa Kỳ ở Việt Nam
Tác giả: Th.S Đặng Hoàng Thanh Nga
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2011
8. Bùi Tiến Quý (2005), Quản lý Nhà nước về kinh tế đối ngoại, Nxb Lao động, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý Nhà nước về kinh tế đối ngoại
Tác giả: Bùi Tiến Quý
Nhà XB: Nxb Lao động
Năm: 2005
9. Đỗ Văn Sử (2011), Kinh nghiệm của Hàn Quốc trong lĩnh vực đánh giá hiệu quả FDI, Cục Đầu tư nước ngoài, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh nghiệm của Hàn Quốc trong lĩnh vực đánh giá hiệu quả FDI
Tác giả: Đỗ Văn Sử
Năm: 2011
10. Nguyễn Trọng Tuân (2002), Đầu tư trực tiếp nước ngoài với công cuộc công nghiệp hoá hiện đại hoá ở Việt Nam, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đầu tư trực tiếp nước ngoài với công cuộc công nghiệp hoá hiện đại hoá ở Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Trọng Tuân
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 2002
11. Trần Xuân Tùng (2005), Đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Việt Nam - Thực trạng và giải pháp, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trần Xuân Tùng (2005), "Đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Việt Nam - Thực trạng và giải pháp
Tác giả: Trần Xuân Tùng
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2005
12. Đào Văn Thanh (2013), Tác động tràn của đầu tư trực tiếp nước ngoài tới các doanh nghiệp thuộc ngành dệt may Việt Nam. LATS Kinh tế. Đại học Kinh tế quốc dân Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tác động tràn của đầu tư trực tiếp nước ngoài tới các doanh nghiệp thuộc ngành dệt may Việt Nam
Tác giả: Đào Văn Thanh
Năm: 2013
13. Thanh Thảo (2003), “Bài học kinh nghiệm từ chính sách thu hút FDI của Trung Quốc giai đoạn 1990 -2002”, Tạp chí Tài chính, Tháng 5/2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài học kinh nghiệm từ chính sách thu hút FDI của Trung Quốc giai đoạn 1990 -2002
Tác giả: Thanh Thảo
Nhà XB: Tạp chí Tài chính
Năm: 2003
14. Bùi Thúy Vân (2011), Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) với việc chuyển dịch cơ cấu hàng xuất khẩu ở vùng đồng bằng Bắc bộ, LATS Kinh tế, Đại học Kinh tế quốc dân Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) với việc chuyển dịch cơ cấu hàng xuất khẩu ở vùng đồng bằng Bắc bộ
Tác giả: Bùi Thúy Vân
Năm: 2011
15. TS Nguyễn Tấn Vinh (2012), Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đối với quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh. Nxb Chính trị - Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đối với quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh
Tác giả: TS Nguyễn Tấn Vinh
Nhà XB: Nxb Chính trị
Năm: 2012
16. David O. Dapice (2003), Nền kinh tế Việt Nam: Câu chuyện thành công hay tình trạng lưỡng thể bất thường? Một phân tích các điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và nguy cơ, Đại học Harvard Sách, tạp chí
Tiêu đề: David O. Dapice (2003), "Nền kinh tế Việt Nam: Câu chuyện thành công hay tình trạng lưỡng thể bất thường? Một phân tích các điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và nguy cơ
Tác giả: David O. Dapice
Năm: 2003
17. Cục Thống kê tỉnh Vĩnh Phúc, Niên giám thống kê tỉnh Vĩnh Phúc các năm 2015, 2016, 2017, 2018 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cục Thống kê tỉnh Vĩnh Phúc
18. Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Vĩnh Phúc (2012), Báo cáo đánh giá tổng quan về tình hình kinh tế - xã hội của tỉnh Bắc Giang các năm 2015, 2016, 2017, 2018, 2019 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo đánh giá tổng quan về tình hình kinh tế - xã hội của tỉnh Bắc Giang các năm 2015, 2016, 2017, 2018, 2019
Tác giả: Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Vĩnh Phúc
Năm: 2012

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w