1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Địa lý kinh tế xã hội việt nam (các nguồn lực)

129 1K 4
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Địa Lý Kinh Tế - Xã Hội Việt Nam (các Nguồn Lực)
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Địa Lý Kinh Tế
Thể loại bài viết
Năm xuất bản 2006
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 129
Dung lượng 1,54 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

1. Công cuộc đổi mới - cuộc cải cách toàn diện về kinh tế - xã hội - Bối cảnh. 30/04/1975: đất nước thống nhất, cả nước tập trung vào hàn gắn vết thương chiến tranh, xây dựng đất nước Việt Nam hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh. Nước ta đi lên từ một nền kinh tế nông nghiệp là chủ yếu, chịu hậu quả nặng nề của chiến tranh. Bối cảnh trong nước và quốc tế vào cuối những năm 70 đầu 80 của thế kỉ XX diễn biến phức tạp... Tất cả những điều này đã đưa nền kinh tế nước ta sau chiến tranh rơi vào tình trạng khủng hoảng kéo dài, lạm phát luôn ở mức 3 con số - Diễn biến. Công cuộc đổi mới được manh nha từ 1979, những đổi mới đầu tiên từ lĩnh vực nông nghiệp với “khoán 100” và “khoán 10”, sau đó lan sang lĩnh vực công nghiệp và dịch vụ. Đường lối Đổi mới được khẳng định từ Đại hội Đảng CSVN lần thứ VI (1986), đưa nền kinh tế nước ta phát triển theo 3 xu thế: Dân chủ hoá đời sống kinh tế - xã hội; Phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần; Tăng cường giao lưu và hợp tác với các nước trên thế giới - Những thành tựu của công cuộc Đổi mới. Tính đến năm 2006, công cuộc đổi mới đã qua chặng đường 20 năm. Thành tựu đã đạt được: + Đã đưa nước ta thoát khỏi tình trạng khủng hoảng kinh tế - xã hội kéo dài. Lạm phát được đẩy lùi chỉ còn ở mức 2 con số + Tốc độ tăng trưởng kinh tế cao: Cụ thể, vào thời kì từ 1975 – 1980 tốc độ tăng GDP chỉ đạt (0,2%), năm 1988 (0,6%), năm 1995 (9,5%); Vào cuối 1997, mặc dù chịu ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính ở khu vực, nhưng năm 1999 tốc độ tăng GDP vẫn đạt 4,8%, năm 2005 tăng lên 8,4%. Nếu tính trong 10 nước ASEAN, giai đoạn 1987 – 2004 thì GDP của Việt Nam là 6,9%, chỉ sau Xingapo (7,0%)

Trang 1

ĐỊA LÝ KINH TẾ - XÃ HỘI VIỆT NAM (các nguồn lực)

MỞ ĐẦU VIỆT NAM TRONG BỐI CẢNH QUỐC TẾ VÀ KHU VỰC

1 Công cuộc đổi mới - cuộc cải cách toàn diện về kinh tế - xã hội

- Bối cảnh 30/04/1975: đất nước thống nhất, cả nước tập trung vào hàn gắn

vết thương chiến tranh, xây dựng đất nước Việt Nam hoà bình, thống nhất, độc lập,dân chủ và giàu mạnh Nước ta đi lên từ một nền kinh tế nông nghiệp là chủ yếu,chịu hậu quả nặng nề của chiến tranh Bối cảnh trong nước và quốc tế vào cuốinhững năm 70 đầu 80 của thế kỉ XX diễn biến phức tạp Tất cả những điều này đãđưa nền kinh tế nước ta sau chiến tranh rơi vào tình trạng khủng hoảng kéo dài, lạmphát luôn ở mức 3 con số

- Diễn biến Công cuộc đổi mới được manh nha từ 1979, những đổi mới đầu

tiên từ lĩnh vực nông nghiệp với “khoán 100” và “khoán 10”, sau đó lan sang lĩnhvực công nghiệp và dịch vụ Đường lối Đổi mới được khẳng định từ Đại hội ĐảngCSVN lần thứ VI (1986), đưa nền kinh tế nước ta phát triển theo 3 xu thế: Dân chủhoá đời sống kinh tế - xã hội; Phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần;Tăng cường giao lưu và hợp tác với các nước trên thế giới

- Những thành tựu của công cuộc Đổi mới Tính đến năm 2006, công cuộc

đổi mới đã qua chặng đường 20 năm Thành tựu đã đạt được:

+ Đã đưa nước ta thoát khỏi tình trạng khủng hoảng kinh tế - xã hội kéo dài.Lạm phát được đẩy lùi chỉ còn ở mức 2 con số

+ Tốc độ tăng trưởng kinh tế cao: Cụ thể, vào thời kì từ 1975 – 1980 tốc độtăng GDP chỉ đạt (0,2%), năm 1988 (0,6%), năm 1995 (9,5%); Vào cuối 1997, mặc

dù chịu ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính ở khu vực, nhưng năm 1999 tốc

độ tăng GDP vẫn đạt 4,8%, năm 2005 tăng lên 8,4% Nếu tính trong 10 nướcASEAN, giai đoạn 1987 – 2004 thì GDP của Việt Nam là 6,9%, chỉ sau Xingapo(7,0%)

+ Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng công nghiệp hóa và hiện đại hóa:Cho tới đầu thập kỉ 90 (TK 20), trong cơ cấu GDP thì nông nghiệp chiếm tỉ trọngcao nhất, công nghiệp – xây dựng chiếm tỉ trọng nhỏ; Đến 2005 tỉ trọng trong nông– lâm - ngư chỉ còn 21,0%, công nghiệp – xây dựng tăng lên 41,0% và dịch vụ

Trang 2

+ Cơ cấu kinh tế theo lãnh thổ cũng có chuyển biến rõ nét: Đã hình thành cácvùng kinh tế trọng điểm; phát triển các vùng chuyên canh qui mô lớn; các trungtâm công nghiệp và dịch vụ lớn Ở vùng sâu, vùng xa, vùng núi và biên giới, hảiđảo cũng được ưu tiên phát triển

+ Về xã hội: Công tác xoá đói giảm nghèo đã đạt được những thành tựu tolớn, đời sống vật chất – tinh thần của nhân dân được cải thiện rõ nét

Bảng 1.1 Tỉ lệ nghèo của cả nước qua các cuộc điều tra mức sống dân cư từ 1993

2 Nước ta trong quá trình hội nhập quốc tế và khu vực

- Bối cảnh Toàn cầu hoá là một xu thế lớn, cho phép Việt Nam tranh thủ

được các nguồn lực từ bên ngoài (đặc biệt là nguồn vốn, công nghệ, thị trường);Mặt khác, cũng đưa nước ta vào thế bị cạnh tranh quyết liệt bởi các nền kinh tếphát triển hơn trong khu vực và thế giới

+ Việt Nam và Hoa Kì bình thường hoá quan hệ (1995)

+ 07-1995 là thành viên thứ 7 của khối Asean Đây là một khối liên kết khuvực gồm 10 nước, là nhân tố quan trọng thúc đẩy sự hợp tác ngày càng toàn diệngiữa các nước trong khối và với ngoài khu vực Việt Nam đã đóng góp quan trọngvào sự củng cố khối Asean

+ Việt Nam trong lộ trình thực hiện cam kết của AFTA (khu vực mậu dịch tự

- Những thành tựu trong công cuộc hội nhập.

+ Đã thu hút mạnh các nguồn vốn đầu tư nước ngoài: Vốn Hỗ trợ phát triển

chính thức (ODA); Đầu tư trực tiếp của nước ngoài (FDI); Đầu tư gián tiếp củanước ngoài (FPI), cùng với nó là việc mở rộng thị trường chứng khoán, cải thiệnmôi trường đầu tư… Các nguồn vốn này có tác động tích cực đến việc đẩy mạnhtăng trưởng kinh tế, hiện đại hoá đất nước

Trang 3

+ Hợp tác kinh tế - khoa học – kĩ thuật, khai thác tài nguyên, bảo vệ môitrường, an ninh khu vực… được đẩy mạnh

+ Ngoại thương được phát triển ở tầm cao mới: tổng giá trị xuất khẩu tăngnhanh, 1985 (3,0 tỉ USD), năm 2005 (69,4 tỉ USD), BQ chung (1986-2005) tăng17,9% Việt Nam trở thành nước xuất khẩu lớn về các mặt hàng (dệt, may, thiết bịđiện tử, tàu biển, gạo, cà phê, điều, hồ tiêu, thuỷ sản các loại)

Bảng 1.2 GDP theo giá so sánh 1994, phân theo thành phần kinh tế (nghìn tỉ đồng)

1986 1989 1992 1995 1997 1999 2001 2003 2005Tổng số 109,2 125,6 151,8 195,6 231,3 256,2 292,5 336,2 393,0Nhà nước 46,6 52,1 59,2 78,4 95,6 103,5 119,8 138,2 159,8Ngoài Nhà

nước 62,6 71,7 84,7 104,0 116,7 126,2 141,0 160,4 185,7Đầu tư nước

3 Một số định hướng

- Thực hiện chiến lược toàn diện về tăng trưởng và xoá đói giảm nghèo

- Hoàn thiện và thực hiện đồng bộ thể chế kinh tế thị trường định hướngXHCN

- Đẩy mạnh công nghiệp hóa và hiện đại hóa gắn với phát triển kinh tế trithức

- Đẩy mạnh hội nhập kinh tế để tăng tiềm lực kinh tế quốc gia

- Có các biện pháp hữu hiệu bảo vệ tài nguyên – môi trường và phát triểnbền vững

- Đẩy mạnh phát phát triển giáo dục, y tế, phát triển nền văn hóa mới, chốngcác tệ nạn xã hội, mặt trái của kinh tế thị trường

Chương 1

ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN VÀ TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN ẢNH HƯỞNG

ĐẾN PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI 1.1 Vị trí địa lí và phạm vi lãnh thổ - Ý nghĩa của nó đối với sự phát triển kinh

tế - xã hội

1.1.1 Vị trí địa lý và phạm vi lãnh thổ

a Trên đất liền

Trang 4

- Vị trí: Nước ta nằm ở rìa Đông của bán đảo Đông Dương; phía Bắc giáp

với Trung Quốc; phía Tây giáp với Lào và Cămpuchia; phía Đông là biển Đôngthông với Thái Bình Dương rộng lớn

- Toạ độ địa lý trên đất liền: Điểm cực Bắc 23023'B (xã Lũng Cú, Đồng Văn,

Hà Giang) Điểm cực Nam 8034'B (Xóm Mũi, xã Đất Mũi, Ngọc Hiển, Cà Mau).Điểm cực Tây 102010'Đ (dãy Khoan La San, xã Sìn Thầu, Mường Nhé, Điện Biên).Điểm cực Đông 109024'Đ (trên bán đảo Hòn Gốm thuộc xã Vạn Thạnh, Vạn Ninh -Khánh Hòa) Lãnh thổ nước ta hẹp ngang, trải dài trên nhiều vĩ độ (15 vĩ độ)

- Diện tích tự nhiên 331.212,1 km2,xếp thứ 56/200 quốc gia, (gấp 4 lần BồĐào Nha, gấp 1,5 lần nước Anh, gần bằng nước Nhật) So với khu vực Đông Nam

Á, diện tích nước ta tương đương với Malaixia, nhỏ hơn Inđônêxia, Mianma vàThái Lan

- Nước ta có đường biên giới rất dài với các nước: Biên giới Việt-Trung dài

> 1.400km, phần lớn dựa theo núi, sông tự nhiên và những hẻm núi hiểm trở Tất

cả đã cắm mốc, phân định và đi vào lịch sử (hoàn thiện mốc biên giới 02/2009).Biên giới với CHDCND Lào > 2.067km, phần lớn dọc theo đỉnh của các dãy núi,

đã được cắm mốc biên giới (cùng các Văn bản, Nghị định kèm theo) Dãy TrườngSơn (Phuluông-theo tiếng Lào), biên giới giữa 2 nước như là một xương sốngchung, được chia ra nhiều đoạn với những đèo thấp như Nabẹ (có QL8), Lao Bảo(có QL9) cắt ngang,.v.v Tất cả đều không gây trở ngại cho sự giao lưu giữa 2nước, mà trái lại còn mở ra những tuyến giao thông quan trọng nối liền thung lũngsông Mê Công ở phía trong với biển Đông ở phía ngoài Biên giới với Cămpuchiadài > 1.080km, phần lớn xuyên qua các vùng đồi thoải, đổ từ cao sơn nguyên TâyNguyên Việt Nam xuống miền Đông Cămpuchia, từ phía Tây Nam thị xã Tây Ninhtrở đi nó chạy qua vùng đồng bằng hạ lưu sông Mê Công

phải đàm phán với các nước chung biển (*) Tại vùng vịnh Bắc Bộ, năm 2001 Việt

Trang 5

Nam đàm phán với Trung Quốc thỏa thuận phân chia chủ quyền, mốc ranh giới lấy

từ đảo Cồn Cỏ cắt thẳng ra phía đảo Hải Nam, phần thuộc lãnh thổ Việt Nam có diện tích ~ 53%].

▪ Căn cứ vào Công ước Quốc tế về luật biển và Tuyên bố của Chính phủ nước CHXHCNVN ngày 12/11/1982, có thể khẳng định một số điểm sau:

- Đường cơ sở (để xác định vùng nội thủy; lãnh hải; tiếp giáp lãnh hải).

Được xác định dựa trên cơ sở các điểm chuẩn của các mũi đất và các đảo ven bờ.Bên trong đường cơ sở là vùng nội thủy, mặc dù ở trên biển nhưng vẫn được coi làlãnh thổ đất liền; Như vậy, diện tích lãnh thổ nước ta (nếu tính từ đường cơ sở)rộng trên 560.000km2

Bảng 1.3 Các điểm chuẩn để tính đường cơ sở bao gồm 10 đoạn thẳng nối từ điểm

A1 Hòn Nhạn thuộc quần đảo Thổ Chu – Kiên Giang 9015'0 103027'0’’

A2 Hòn Đá Lẻ ở Đông Nam Hòn Khoai – Minh Hải 8022'8 104052'4’’

A3 Hòn Tài Lớn, Côn Đảo – Bà Rịa – Vũng tàu 8037'8 106037'5’’

A4 Hòn Bông Lang, Côn Đảo 8038'9 106040'3’’

A6 Hòn Hải (nhóm đảo Phú Quí, Bình Thuận) 9058'0 109005'0’’

(Riêng 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, chúng ta chưa công bố đường cơ sở).

- Lãnh hải Được xác định là 12 hải lý (1 hải lý = 1.858m) chạy song song

cách đều đường cơ sở về phía biển và đường phân định trên các vịnh với các nướchữu quan Ranh giới này được coi là biên giới quốc gia trên biển

- Vùng tiếp giáp lãnh hải Được tính 12 hải lý (tính từ mép ngoài đường lãnh

hải) Vùng này hợp với lãnh hải thành vùng biển rộng 24 hải lý Việt Nam có quyềnbảo vệ an ninh; kiểm soát thuế quan; qui định về y tế, môi trường, di cư, nhập cư

Trang 6

- Vùng đặc quyền kinh tế Được xác định rộng 200 hải lý (tính từ mép ngoài

đường cơ sở) Việt Nam có quyền lợi hoàn toàn, riêng biệt về kinh tế như thăm dò,khai thác, bảo vệ, sử dụng và quản lý tất cả các nguồn tài nguyên thiên nhiên;Quyền thiết lập các công trình đảo nhân tạo; quyền riêng biệt về nghiên cứu khoahọc, bảo vệ, chống ô nhiễm môi trường biển

- Vùng thềm lục địa Bao gồm đáy biển và lòng đất dưới đáy biển thuộc

phần kéo dài tự nhiên của lục địa Việt Nam mở rộng ra ngoài lãnh hải cho đến rìangoài của lục địa (nơi nào chưa đến 200 hải lý được tính đến 200 hải lý) Việt Nam

có quyền hoàn toàn về thăm dò, khai thác, bảo vệ và quản lý tất cả các nguồn tàinguyên ở thềm lục địa

c Vùng trời Là khoảng không gian (không giới hạn độ cao) trên đất liền,

vùng nội thuỷ, lãnh hải và các hải đảo thuộc chủ quyền hoàn toàn của Việt Nam

1.1.2 Ý nghĩa của vị trí địa lí và phạm vi lãnh thổ Việt Nam

a Đối với việc hình thành lãnh thổ tự nhiên Vị trí địa lí đã qui định đặc

điểm cơ bản của thiên nhiên nước ta mang tính chất nhiệt đới ẩm gió mùa:

Do nằm hoàn toàn trong vùng nội chí tuyến Bắc Bán Cầu nóng ẩm, ở giữavùng gió mùa châu Á (khu vực gió điển hình nhất trên thế giới) khí hậu nước ta có

2 mùa rõ rệt: mùa Đông bớt nóng và khô và mùa Hạ nóng và mưa nhiều

Do ở vị trí tiếp giáp với Biển Đông, đây là nguồn dự trữ rất dồi dào về nhiệt

và ẩm, đồng thời cũng chịu ảnh hưởng sâu sắc của biển, vì thế thảm thực vật ởnước ta quanh năm xanh tốt, giàu sức sống khác hẳn với các nước có cùng vĩ độ(Tây Nam Á và châu Phi)

Trang 7

Do nằm ở vị trí tiếp giáp giữa lục địa và đại dương trên vành đai sinh khoángchâu Á – Thái Bình Dương cùng các hoạt động mác ma ứng cho nên tài nguyênkhoáng sản của Việt Nam khá đa dạng.

Do nằm ở nơi giao thoa của các luồng thực-động vật thuộc các khu hệHymalaya, Malaixia-Inđônêxia và Ấn Độ-Mianma, các luồng di cư này diễn ra chủyếu vào thời kỳ Tân kiến tạo làm cho khu hệ thực-động vật của nước ta càng thêmphong phú

Do vị trí và hình dáng lãnh thổ cũng đã tạo nên sự phân hóa đa dạng của tựnhiên , hình thành các vùng tự nhiên khác nhau, bổ sung cho nhau trong sự pháttriển kinh tế - xã hội (giữa M.Bắc -Nam; giữa miền núi-đồng bằng, ven biển, hảiđảo)

● Hạn chế: Nước ta nằm trong vùng có nhiều thiên tai trên thế giới (bão, lũ

lụt, hạn hán) thường xuyên xảy ra, vì vậy cần phải có biện pháp phòng chống tíchcực và chủ động

b Đối với phát triển kinh tế, văn hóa - xã hội

- Việt Nam nằm ở ngã tư đường hàng hải và hàng không quốc tế quan trọngcùng với các cảng biển (Cái Lân, Hải Phòng, Đà Nẵng, Sài Gòn); Các sân bay quốc

tế (Nội Bài, Tân Sơn Nhất, Đà Nẵng); Các tuyến đường bộ, đường sắt Xuyên Á

đã tạo điều kiện thuận lợi để trao đổi, giao lưu với các nước xung quanh Việt Namcòn là cửa ngõ thông ra biển của Lào, Thái Lan, Đông Bắc CPC và khu vực TâyNam Trung Quốc

- Vị trí địa lí và hình dáng lãnh thổ nước ta đã ảnh hưởng sâu sắc đến sự

hình thành các đặc điểm của tự nhiên; Từ đó ảnh hưởng đến việc lựa chọn phươngthức khai thác tài nguyên; Tới sự tổ chức lãnh thổ kinh tế quốc dân (đặc biệt là việc

tổ chức các trung tâm, hạt nhân phát triển của vùng); Đồng thời cũng ảnh hưởng tớicác mối liên hệ nội-ngoại vùng cũng như mối liên hệ kinh tế quốc tế

- Về văn hóa – xã hội, do ở vị trí liền kề cùng với nhiều nét tương đồng về tựnhiên, kinh tế, văn hóa, lịch sử và mối giao lưu lâu đời với các nước trong khu vực

đã tạo điều kiện thuận lợi cho việc chung sống hòa bình, hợp tác hữu nghị và cùng

phát triển với các nước (nhất là các nước láng giềng) Hơn nữa, vị trí địa lí cũng

ảnh hưởng lớn đến sự hình thành cộng đồng các dân tộc Việt Nam, một quốc gia đa

Trang 8

c Đối với an ninh - quốc phòng (AN - QP)

- Theo quan điểm địa lý chính trị và địa lý quân sự, nước ta có vị trí đặc biệtquan trọng ở khu vực Đông Nam Á: Do nằm ở nơi tiếp giáp giữa Đông Nam Á (lụcđịa) và Đông Nam Á (hải đảo), một khu vực giàu tài nguyên, một thị trường có sứcmua đang tăng, một vùng kinh tế rất năng động Như vậy, đây là nơi rất hấp dẫnvới các thế lực đế quốc thù địch, mặt khác đây cũng là khu vực rất nhạy cảm trướcnhững biến chuyển trong đời sống chính trị thế giới

- Vấn đề an ninh – quốc phòng còn đặt ra trên đất liền Việt Nam có đườngbiên giới rất dài với các nước láng giềng (4500km): Dọc biên biên giới với TrungQuốc và Lào núi liền núi, sông liền sông, không có những trở ngại lớn về tự nhiên,(ngược lại) có các thung lũng, đèo thấp thông với các nước láng giềng; VớiCămpuchia, không có biên giới tự nhiên, mà là châu thổ mênh mông trải dài từ CàMau đến tận Biển Hồ (việc xác định mốc biên giới giữa hai nước còn là vấn đề cầnđàm phán để thống nhất)

- Vấn đề an ninh – quốc phòng còn đặt ra với đường biên giới trên biển: Bờbiển nước ta dài (3260km), giáp với rất nhiều nước như Trung Quốc, Đài Loan,Inđônêxia, Malaixia, Philipin, Brunây, Xingapo, Thái Lan, Cămpuchia Biển Đôngrất giàu tài nguyên tôm, cá, Thềm lục địa rất giàu tài nguyên khoáng sản (dầukhí ), lại án ngữ đường biển quốc tế nối hai đại dương lớn Thái Bình Dương - Ấn

Độ Dương Vì vậy, biển Đông có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với nước ta vềmặt chiến lược đối với kinh tế, an ninh – quốc phòng

● Như vậy, nét khá độc đáo của vị trí địa lý nước ta là: Nằm ở nơi gặp gỡ,

giao thoa của nhiều hệ thống tự nhiên, của nhiều nền văn hoá lớn trên thế giới vàcác luồng di cư trong lịch sử; Ở vị trí cầu nối giữa Đông Nam Á lục địa với ĐôngNam Á hải đảo Cũng chính vì thế, đã làm cho thiên nhiên nước ta trở nên đa dạng

và phong phú mà nhiều nơi trên thế giới không có được; Cũng tại khu vực nàytrong chiến tranh (nóng - lạnh) còn là nơi tập trung nhiều mâu thuẫn lớn, trong xâydựng lại là nơi hội tụ nhiều cơ hội phát triển

1.2 Lịch sử hình thành và phát triển lãnh thổ Việt Nam

Lịch sử hình thành và phát triển lãnh thổ nước ta có liên quan chặt chẽ vớilịch sử hình thành và phát triển Trái Đất, là một quá trình lâu dài và phức tạp Cóthế chia thành 3 giai đoạn:

1.2.1 Giai đoạn Tiền Cambri

Trang 9

- Theo các nghiên cứu mới nhất, Trái Đất được hình thành cách đây ~ 4,6 tỉ

năm Phần lớn thời gian lịch sử Trái Đất thuộc 2 đại: Thái cổ (Ackêôzôi) kết thúccách đây ~ 2,6 tỉ năm và tiếp theo là Nguyên sinh (Prôtêrôzôi) kết thúc cách đây

540 triệu năm Ở giai đoạn này, lớp vỏ Trái Đất chưa định hình rõ ràng và có rấtnhiều biến động Những dấu vết của nó hiện nay lộ ra trên mặt đất không còn nhiều

mà phần lớn đã bị chìm ngập dưới các lớp đất (nên còn ít được nghiên cứu) Giai

đoạn sơ khai này của Trái Đất được gọi là giai đoạn Tiền Cambri

Ở Việt Nam, giai đoạn tiền Cambri được xem là giai đoạn hình thành nền móng ban đầu của lãnh thổ, với 3 đặc điểm chính sau:

▪ Là giai đoạn cổ nhất và kéo dài nhất trong lịch sử phát triển lãnh thổ VN.

Các đá biến chất cổ nhất đã phát hiện ở Kon Tum, Hoàng Liên Sơn có tuổi cáchđây ~ 2,3 tỉ năm; Như vậy, giai đoạn tiền Cambri diễn ra ở nước ta trong suốt thờigian hơn 2,0 tỉ năm, kết thúc cách đây 540 triệu năm

▪ Diễn ra trong một phạm vi hẹp trên phần lãnh thổ nước ta hiện nay Giai

đoạn này chủ yếu diễn ra ở một số nơi, tập trung ở một số khu vực núi cao (HoàngLiên Sơn và Trung Trung Bộ)

▪ Các điều kiện cổ địa lí còn rất sơ khai và đơn điệu Cùng với sự xuất hiện

các thạch quyển, lớp khí quyển ban đầu còn rất mỏng manh (chủ yếu là các chất khíamôniac, điôxit cacbon, nitơ, hiđrô và về sau là ôxi) Khi nhiệt độ không khí hạthấp dần, thuỷ quyển mới xuất hiện với sự tích tụ của lớp nước trên bề mặt TráiĐất Từ đó sự sống xuất hiện Tuy vậy, các sinh vật còn ở các dạng sơ khai, nguyênthuỷ (như tảo, động vật thân mềm)

1.2.2 Giai đoạn cổ kiến tạo

Là giai đoạn tiếp nối của giai đoạn tiền Cambri Đây là giai đoạn có tính chất quyết định đến lịch sử phát triển của tự nhiên nước ta, với 3 đặc điểm chính sau:

▪ Diễn ra trong thời gian khá dài, tới 475 triệu năm Giai đoạn Cổ kiến tạo

bắt đầu từ kỉ Cambri (cách đây 540 triệu năm), trải qua cả 2 đại Cổ sinh và Trungsinh, chấm dứt vào kỉ Krêta (cách đây 65 triệu năm)

▪ Là giai đoạn có nhiều biến động mạnh mẽ nhất trong lịch sử phát triển tự

nhiên nước ta Trong giai đoạn này, tại lãnh thổ nước ta có nhiều khu vực chìm

Trang 10

các kì vận động tạo núi Calêđôni và Hecxini (thuộc đại Cổ sinh); các kì vận độngtạo núi Inđôxini và Kimêri (thuộc đại Trung sinh) Đất đá giai đoạn này rất cổ, baogồm các loại trầm tích (trầm tích biển và trầm tích lục địa), macma và biến chất.Các trầm tích biển phân bố rộng khắp trên lãnh thổ, đặc biệt là đá vôi tuổi Đêvon

và Cacbon – Pecmi có nhiều ở miền Bắc Tại một số vùng sụt lún trên đất liền đượcbồi lấp bởi các trầm tích lục địa vào đại Trung sinh đã hình thành các mỏ than ởQuảng Ninh, Quảng Nam, các đá cát kết, cuội kết màu đỏ sẫm ở khu vực ĐôngBắc Các hoạt động uốn nếp và nâng lên diễn ra ở nhiều nơi Trong đại Cổ sinh làcác khối Thượng nguồn sông Chảy, khối nâng Việt Bắc, địa khối Kon Tum Trongđại Trung sinh là các dãy núi hướng tây bắc - đông nam ở Tây Bắc và Bắc TrungBộ; các dãy núi hướng vòng cung ở Đông Bắc và các khối núi cao ở Nam Trung

Bộ Kèm theo các hoạt động uốn nếp tạo núi, sụt võng là các đứt gãy, động đất vớicác loại đá macma xâm nhập và mac ma phun trào như granit, riolit, anđêzit cùngcác khoáng sản quí (đồng, sắt, thiếc, vàng, bạc, đá quí…)

▪ Là giai đoạn lớp vỏ cảnh quan địa lí nhiệt đới ở nước ta đã rất phát triển.

Các điều kiện cổ địa lí của vùng nhiệt đới ẩm ở nước ta vào giai đoạn này đã đượchình thành và phát triển dấu vết để lại là các hoá đá san hô tuổi Cổ sinh, các hoá đáthan tuổi Trung sinh cùng nhiều sinh vật cổ khác

Như vậy, có thể nói về cơ bản đại bộ phận lãnh thổ nước ta hiện nay đã được định hình từ khi kết thúc giai đoạn Cổ kiến tạo

1.2.3 Giai đoạn Tân kiến tạo

Giai đoạn Tân kiến tạo là giai đoạn cuối cùng trong lịch sử hình thành và phát triển của tự nhiên nước ta, còn kéo dài cho đến ngày nay Giai đoạn này ở nước ta có những đặc điểm sau:

▪ Là giai đoạn diễn ra ngắn nhất trong lịch sử hình thành và phát triển của

tự nhiên VN Giai đoạn này chỉ mới bắt đầu từ cách đây 65 triệu năm và đang tiếp

diễn đến ngày nay

▪ Chịu sự tác động mạnh mẽ của kì vận động tạo núi Anpơ - Himalaya và

những biến đổi khí hậu có qui mô toàn cầu.Sau khi kết thúc giai đoạn Cổ kiến tạo,

lãnh thổ nước ta trải qua một thời kì tương đối ổn định và tiếp tục được hoàn thiệndưới chế độ lục địa, chủ yếu chịu sự tác động của các quá trình ngoại lực Vậnđộng tạo núi Anpơ - Himalaya có tác động đến lãnh thổ nước ta bắt đầu từ kỉNêôgen (cách đây ~ 23 triệu năm) cho đến ngày nay Do chịu tác động của vận

Trang 11

động tạo núi Anpơ-Himalaya, trên lãnh thổ nước ta đã xảy ra các hoạt động nhưnâng cao và hạ thấp địa hình, bồi lấp các bồn trũng lục địa kèm theo các đứt gãy vàphun trào macma Cũng vào giai đoạn này (đặc biệt là trong kỉ Đệ tứ), khí hậu TráiĐất có những biến đổi lớn với những thời kì băng hà, gây nên tình trạng dao độnglớn của nước biển Đã có lần biển tiến và biển lùi trên phần lãnh thổ của nước ta màdấu vết để lại là các thềm biển, cồn cát, các ngấn nước trên các vách đá ở vùng venbiển và các đảo ven bờ…

▪ Là giai đoạn tiếp tục hoàn thiện các điều kiện tự nhiên làm cho đất nước ta

có diện mạo và đặc điểm tự nhiên như hiện nay Ảnh hưởng của hoạt động Tân

kiến tạo ở nước ta đã làm cho các hoạt động xâm thực, bồi tụ được đẩy mạnh, hệthống sông suối bồi đắp nên những đồng bằng châu thổ rộng lớn (Bắc Bộ và NamBộ), các khoáng sản có nguồn gốc ngoại sinh được hình thành (dầu mỏ, khí tựnhiên, than nâu, bôxit, ) Các điều kiện thiên nhiên nhiệt đới ẩm đã thể hiện rõ néttrong các quá trình tự nhiên như quá trình phong hóa và hình thành đất, trongnguồn nhiệt ẩm dồi dào của khí hậu, lượng nước phong phú của mạng lưới sôngngòi và nước ngầm, sự phong phú và đa dạng của thổ nhưỡng và giới sinh vật đãtạo nên diện mạo và sắc thái của thiên nhiên nước ta ngày nay

Bảng 1.4 Bảng Niên biểu địa chất

Đại (Giới) Kỉ (Hệ) Thế (Thống) Kí hiệu

Thời giancách đây(triệunăm)

Thời giandiễn ra (triệunăm)

Tân sinh

(Kainôzôi

KZ)

Đệ tứ (Q)

- Hôlôxen

- Plêitôxen muộn(trên)

Trang 12

- Triat muộn (trên)

- Pecmi muộn (trên)

- Pecmi sớm (dưới)

P2

Cacbon(C)

- Cacbon muộn (trên)

- Đêvon muộn (trên)

- Silua muộn (trên)

- Silua sớm (dưới)

S2

Ocđôvic(O)

- Ocđôvic muộn (trên)

- Cambri muộn (trên)

Khoảng2060

● Bảng Niên biểu địa chất:

Khi nghiên cứu địa chất hoặc lịch sử phát triển lãnh thổ tự nhiên của mộtquốc gia, khu vực trên thế giới rất cần thiết phải có sự thống nhất về quan niệm vàthước đo thời gian Bảng Niên biểu địa chất là bảng xác định các đơn vị thời gian

và đơn vị địa tầng trong lịch sử phát triển của Trái Đất, được các nhà địa chất thếgiới thừa nhận và thống nhất sử dụng

Bảng Niên biểu địa chất gồm các cột dọc trình bày các đơn vị thời gian (Đại,

Kỉ, Thế), các đơn vị địa tầng (Giới, Hệ, Thống), thời gian các đơn vị ấy xảy racách đây và số thời gian thực tế đã diễn ra Các hàng ngang trình bày các thời kì cụ

Trang 13

thể của các Đại (thời gian) ứng với các Giới (địa tầng), các Kỉ ứng với các Hệ, cácThế ứng với các Thống với các tên gọi cụ thể

Đa số các Kỉ (Hệ) mang tên địa phương, nơi mà lần đầu tiên trầm tích đượcphát hiện và mô tả Tên các Kỉ (Hệ) thuộc đại Tân sinh phản ánh sự tiến hoá củathế giới hữu cơ, trong đó có thống Môlôxen với sự xuất hiện của loài người Riêngtrong đại Tân sinh, hai kỉ Palêôgen và Nêôgen có tên chung là kỉ Đệ tam

1.3 Điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên

1.3.1 Đặc điểm chung

Điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên là tiền đề vật chất quan trọng để

phát triển kinh tế - xã hội; là điều kiện thường xuyên, cần thiết trong quá trình sảnxuất; là một trong những nhân tố tạo vùng quan trọng Việc sử dụng hợp lý cácnguồn tài nguyên sẽ đảm bảo cho phát triển hôm nay và cho sự phát triển bền vững

trong tương lai Việc đánh giá thực trạng về tài nguyên thiên nhiên nước ta còn là

một vấn đề mà cho đến nay chúng ta cũng chưa thể khẳng định được cụ thể

Có thể phân chia tài nguyên thiên nhiên dựa vào đặc điểm, tính chất tự nhiên

và mục đích sử dụng (theo sơ đồ) Việc phân loại như trên là nhằm khai thác, sửdụng các tài nguyên thiên nhiên một cách hợp lý, có tính đến việc bảo vệ, khôiphục tài nguyên thiên nhiên

Các dạng tài nguyên thiên nhiên

Tài nguyên thiên nhiên

Tài nguyên thiênnhiên có thể bị hao

kiệt

Tài nguyên thiênnhiên không bị hao

kiệt

Tài nguyên thiên

nhiên không khôi

phục được

Tài nguyên thiênnhiên khôi phụcđược

(Các đường đứt gãy trong hình biểu diễn đặc điểm biện chứng trong quá trình sử

Trang 14

1.3.2 Điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên với sự phát triển kinh tế

Hướng tây bắc-đông nam là hướng nghiêng chung của địa hình, đồng thời làhướng chính của các dãy núi vùng Tây Bắc, Bắc Trường Sơn và các hệ thống sônglớn Hướng vòng cung là hướng của các dãy núi, các sông ở vùng Đông Bắc vàhướng của địa hình Nam Trường Sơn

● Tính đa dạng của địa hình

* Khu vực đồi núi Địa hình núi chia thành 4 vùng:

- Vùng núi Đông Bắc: nằm ở tả ngạn sông Hồng với 4 cánh cung lớn, đầu

chụm ở Tam Đảo và mở ra về phía bắc và phía đông (cánh cung sông Gâm, NgânSơn, Bắc Sơn, Đông Triều), núi thấp chiếm phần lớn diện tích Theo hướng các dãynúi là hướng vòng cung của các dòng chảy sông Cầu, Thương, Lục Nam (thuộc hệthống sông Thái Bình) Địa hình vùng Đông Bắc cũng có hướng nghiêng chung làtây bắc-đông nam Những đỉnh núi cao trên 2000m nằm ở thượng nguồn sôngChảy Giáp biên giới Việt-Trung (Hà Giang, Cao Bằng) là các khối núi đá vôi độcao trên 1000m Trung tâm là vùng đồi núi thấp 500-600m

- Vùng núi Tây Bắc: nằm giữa sông Hông và sông Cả, có địa hình cao nhất

nước ta với 3 dãy núi lớn hướng tây bắc-đông nam Phía đông là dãy Hoàng LiênSơn: giới hạn từ biên giới Việt-Trung (thuộc tỉnh Lào Cai) tới khủyu sông Đà, cóđỉnh phanxipăng (3143m) cao nhất nước ta; phía tây là địa hình trung bình của dãysông Mã chạy dọc biên giới Việt-Lào từ Khoan La San đến sông Cả; ở giữa thấphơn là các dãy núi xen kẽ các cao - sơn nguyên đá vôi từ Phong Thổ (Lai Châu)đến Mộc Châu (Sơn La), tiếp nối là những đồi núi đá vôi ở Ninh Bình - Thanh Hóa.Kẹp giữa các dãy núi là các thung lũng sông cùng hướng (sông Đà, sông Mã, sôngChu)

Trang 15

- Vùng núi Trường Sơn Bắc (thuộc Bắc Trung Bộ) giới hạn từ phía nam sông

Cả tới dãy Bạch Mã, gồm các dãy núi song song và so le theo hướng tây bắc-đôngnam Địa hình Bắc Trường Sơn thấp và hẹp ngang, chỉ nâng cao ở 2 đầu: phía bắc

là vùng núi Tây Nghệ An và phía nam là vùng núi Tây Thừa Thiên-Huế, mạch núicuối cùng là dãy Bạch Mã - ranh giới với vùng núi Nam Trường Sơn và cũng làbức chắn ngăn cản các khối khí lạnh tràn xuống phương Nam

- Vùng Nam Trường Sơn: gồm các khối núi và cao nguyên Khối núi Kon

Tum và khối núi cực Nam trung bộ được nâng cao, đồ sộ Có những đỉnh cao >2000m nghiêng dần về phía đông, tạo nên thế chênh vênh của đường bờ biển cósườn dốc và dải đồng bằng nhỏ hẹp ở ven biển Tương phản với địa hình vùng núiphía đông là các bề mặt cao nguyên khá bằng phẳng, làm thành các bề mặt caonguyên 500 - 800 - 1000m tạo nên sự bất đối xứng rõ nét giưa 2 sườn Đông - Tâycủa địa hình Nam Trường Sơn

* Địa hình bán bình nguyên và đồi trung du: Nằm chuyển tiếp giữa miền

núi - đồng bằng là các bề mặt bán bình nguyên hoặc các đồi trung du Bán bìnhnguyên thể hiện rõ ở Đông Nam Bộ với bậc thềm phù sa cổ ở độ cao ~ 100m và bềmặt phủ ba dan ở độ cao ~ 200m Địa hình đồi trung du phần nhiều là do tác độngcủa dòng chảy chia cắt các thềm phù sa cổ, đồi trung du rộng lớn nhất ở rìa Đồngbằng sông Hồng và thu hẹp ở rìa đồng bằng ven biển miền Trung

*Khu vực đồng bằng

- Hai đồng bằng châu thổ lớn: Đồng bằng sông Cửu Long rộng trên 40.000

km2, Đồng bằng sông Hồng 15.000 km2 Hai đồng bằng này hình thành trên cácvùng sụt lún ở hạ lưu sông, có bờ biển phẳng, vịnh biển nông, thêm lục địa rộng.Đồng bằng sông Cửu Long thấp, phẳng, không có đê, mạng lưới kênh rạch chằngchịt, mùa lũ nước ngập sâu ở các vùng trũng, mùa khô nước triều lấn mạnh làmcho 2/3 diện tích đồng bằng bị nhiễm mặn Đồng bằng sông Hồng cao và chia cắthơn, do có hệ thống đê ven sông ngăn lũ nên vùng trong đê không được bồi đắpphù sa hàng năm, tạo thành các bậc ruộng cao bạc màu và các ô trũng ngập nước,vùng ngoài đê thường xuyên được phù sa bồi đắp Do địa hình khá bằng phẳng, đấtphù sa màu mỡ, hai đồng bằng này đã trở thành vùng trọng điểm lương thực – thựcphẩm lớn của cả nước Ngoài ra, ở ven biển có các bãi triều, vũng vịnh, đầm phá

có tiềm năng lớn cho nuôi trồng thủy sản

Trang 16

- Các đồng bằng ven biển miền Trung, diện tích ~ 15.000 km2, hẹp ngang và

bị chia cắt thành nhiều đồng bằng nhỏ Chỉ có một vài đồng bằng được mở rộng ởcửa sông lớn như đồng bằng Thanh Hóa (cửa sông Mã), Nghệ An (cửa sông Cả),Quảng Nam (cửa sông Thu Bồn) và Phú Yên (cửa sông Ba) Ở nhiều đồng bằng có

sự phân chia thành 3 dải (giáp biển là cồn cát, đầm phá; giữa là vùng thấp trũng;trong cùng đã được bồi tụ thành đồng bằng) Trong sự hình thành đồng bằng, thìbiển đóng vai trò chủ yếu Đất có đặc tính là nghèo, ít phù sa Các nhánh núi lan rasát biển khiến cho nhiều đoạn địa hình bờ biển khúc khủyu, lắm mũi đất, nhiềuđèo

● Ảnh hưởng của địa hình đối với sự phát triển kinh tế - xã hội

* Ở vùng núi: Khoáng sản: khu vực đồi núi tập trung nhiều loại khoáng sản

có nguồn gốc nội sinh (đồng, chì, thiếc, sắt, pyrit, niken, crôm, vàng, vonfram,antimoan ) và các khoáng sản ngoại sinh (bôxit, apatit, đá vôi, than đá); đó lànguyên liệu, nhiên liệu cho nhiều ngành công nghiệp Rừng và đất trồng: tạo cơ sởcho phát triển nông - lâm nhiệt đới; Rừng giàu có về thành phần loài động - thựcvật (trong đó có nhiều loài quí hiếm tiêu biểu cho sinh vật rừng nhiệt đới) Miềnnúi còn có các cao nguyên và thung lũng tạo thuận lợi cho việc hình thành cácvùng chuyên canh cây công nghiệp, cây ăn quả, phát triển chăn nuôi gia súc Ở cácvùng núi cao có thể nuôi - trồng được các loài động - thực vật cận nhiệt và ôn đới.Địa hình bán bình nguyên và đồi trung du thích hợp để trồng cây công nghiệp, cây

ăn quả và cả cây lương thực Nguồn thủy năng: các sông lớn có tiềm năng thủyđiện lớn Tiềm năng du lịch: miền núi có nhiều điều kiện phát triển nhiều loại hình

du lịch (tham quan, nghỉ dưỡng ) nhất là du lịch sinh thái

* Ở vùng đồng bằng: Là cơ sở để phát triển nền nông nghiệp nhiệt đới, đa

dạng các loại nông sản; Cung cấp các nguồn lợi thiên nhiên khác nhau (khoáng sản,thủy sản và lâm sản) Là điều kiện thuận lợi để tập trung các thành phố, các khucông nghiệp, các trung tâm thương mại

* Khai thác những thế mạnh: Vùng núi, phương thức canh tác thích hợp nhất

là nông-lâm kết hợp (canh tác trên đất dốc) Tiềm năng chính ở đây là lâm sản, câycông nghiệp , cây ăn quả, chăn nuôi gia súc lớn, khai thác khoáng sản và thủy điện.Riêng với công nghiệp, có khả năng phát triển các ngành công nghiệp "thượng du"

(khai thác trực tiếp từ các nguồn tài nguyên thiên nhiên) Vùng trung du, với vị trí

địa lý đặc biệt (địa hình là những vùng đồi, địa chất công trình lý tưởng), có khảnăng lớn để phát triển cây công nghiệp; công nghiệp cơ bản (năng lượng và công

Trang 17

nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng) Vùng đồng bằng, nơi hội tụ nhiều điều kiện

thuận lợi; là nơi tập trung các ngành công nghiệp "hạ du" (các ngành chế biến, sảnxuất các thành phẩm cuối cùng) Nông nghiệp ở đây là thâm canh cây lương thực -thực phẩm; chăn nuôi gia súc nhỏ, gia cầm; thủy sản và các ngành dịch vụ

● Những mặt hạn chế

- Vùng đồi núi: Chủ yếu là đồi núi thấp nhưng địa hình bị chia cắt mạnh, tạo

nên nhiều sông suối, hẻm vực, sườn dốc gây trở ngại cho giao thông vận tải, choviệc khai thác tài nguyên và giao lưu giữa các vùng Do mưa nhiều, sườn dốcmạnh, miền núi còn là nơi xảy ra nhiều thiên tai như lũ nguồn, lũ quét, xói mòn,trượt lở đất; Tại các đứt gãy sâu có nguy cơ phát sinh động đất; Nơi khô nóngthường xảy ra nạn cháy rừng; Miền núi đá vôi và vùng đất đỏ ba dan thường thiếunước trong mùa khô; Vùng núi cao địa hình hiểm trở cuộc sống của người dân cànggặp nhiều khó khăn Do vậy, việc khai thác và sử dụng hợp lý miền đồi núi khôngchỉ giúp cho sự phát triển kinh tế - xã hội ở các miền này, mà còn có ý nghĩa choviệc bảo vệ môi trường sinh thái chung của cả nước

- Vùng đồng bằng: có mối quan hệ chặt chẽ với địa hình miền núi Các sông

lớn mang vật liệu phù sa từ miền đồi núi bồi đắp mở rộng các đồng bằng châu thổ.Nhưng do tài nguyên rừng đang bị khai thác quá mức, diện tích đất trống đồi núitrọc tăng lên kèm theo với nó là cường độ xói mòn đất vào mùa mưa diễn ra ngàycàng mạnh đã gây hậu quả rất lớn, làm giảm tuổi thọ các công trình thủy điện, thủylợi, phù sa lắng đọng ở các vùng cửa sông ven biển cản trở cho giao thông vận tảiđường thủy Thiên tai (bão, lụt, hạn hán) thường xuyên xảy ra gây thiệt hại lớn vềngười và tài sản

b Biển Đông

● Khái quát về Biển Đông Biển Đông là vùng biển rộng, nguồn nước dồi

dào, tương đối kín, có đặc tính nóng-ẩm và chịu ảnh hưởng của gió mùa Tính chấtnhiệt đới của Biển Đông được thể hiện rõ qua các yếu tố như nhiệt độ, độ muối,sóng, thủy triều và hải lưu (Nhiệt độ TB cao > 230C và biến động theo mùa, rõ nhất

ở vùng ven biển phía Bắc; Độ muối trung bình ~ 30 - 330/00 tăng giảm theo mùakhô và mùa mưa; Sóng biển mạnh vào thời kì gió mùa Đông Bắc và ảnh hưởngmạnh nhất ở vùng bờ biển Trung Bộ; Thủy triều: cũng biến động theo 2 mùa lũ -cạn, cao nhất và lấn sâu nhất ở Đồng bằng sông Cửu Long và Đồng bằng sông

Trang 18

với hướng chịu ảnh hưởng của gió mùa (tại vịnh Bắc Bộ và vịnh Thái Lan cũnghình thành dòng hải lưu theo những vòng tròn nhỏ hơn) Biển Đông giàu tài nguyênkhoáng sản, hải sản, có tiềm năng lớn về du lịch – dịch vụ cảng

● Ảnh hưởng của Biển Đông đến thiên nhiên và phát triển kinh tế-xã hội của đất nước

- Khí hậu: Biển Đông cùng với các khối khí di chuyển qua biển đã mang lại

cho nước ta một lượng mưa lớn, làm giảm tính chất khắc nghiệt của thời tiết lạnhkhô trong mùa đông và dịu bớt thời tiết nóng bức trong mùa hạ Các luồng gióhướng đông nam từ biển thổi vào luồn sâu theo các thung lũng làm giảm độ lục địacủa các vùng ở phía tây đất nước Nhờ có Biển Đông, khí hậu nước ta mang nhiềuđặc tính của miền khí hậu hải dương, điều hòa hơn

- Địa hình và các hệ sinh thái ven biển: Các dạng địa hình ven biển nước ta

rất đa dạng (địa hình vịnh cửa sông, các bờ biển mài mòn, các tam giác châu vớibãi triều rộng lớn, các bãi cát phẳng, các vịnh nước sâu, các đảo ven bờ, các rạnsan hô ) có giá trị về kinh tế như xây dựng các hải cảng - vận tải biển, khai thác -nuôi trồng thủy sản, du lịch biển - đảo Các hệ sinh thái ven biển đa dạng và giàucó: hệ sinh thái rừng ngập mặn lên tới 450.000 ha (Nam Bộ 300.000 ha), chỉ đứngsau rừng ngập mặn Amadôn (Nam Mĩ) Hệ sinh thái rừng ngập mặn cho năng suấtsinh học cao (nhất là sinh vật nước lợ), nhưng hiện nay rừng đã bị thu hẹp nhiều dochuyển đổi thành diện tích nuôi tôm, cá và cháy rừng Các hệ sinh thái trên đấtphèn, đất mặn và hệ sinh thái rừng trên đảo cũng đa dạng và phong phú

- Tài nguyên thiên nhiên vùng biển: Khoáng sản có trữ lượng lớn nhất là dầu

khí (trên các bể trầm tích) Các bãi cát ven biển có titan Vùng ven biển thuận lợi

cho nghề làm muối (nhất là Nam Trung Bộ) Hải sản: sinh vật Biển Đông tiêu biểu

cho hệ sinh vật vùng biển nhiệt đới giàu thành phần loài và có năng suất sinh họccao, nhất là ven bờ Cá > 2000 loài, tôm > 100 loài, vài chục loài mực, hàng nghìnloài sinh vật phù du và sinh vật đáy Ven các đảo (nhất là quần đảo Hoàng Sa vàTrường Sa) có nguồn nguyên liệu quí là các rạn san hô cùng các loài sinh vật khác.Với nguồn tài nguyên thiên nhiên và những điều kiện tự nhiên thuận lợi, BiểnĐông thực sự đóng góp vai trò quan trọng trong sự phát triển kinh tế - xã hội củanước ta

- Thiên tai: Bão, mỗi năm trung bình có 3 - 4 cơn bão qua Biển Đông trực

tiếp đổ bộ vào nước ta Bão lớn kèm theo với sóng lừng, nước dâng cao gây nên lũlụt là loại thiên tai bất thường, khó phòng tránh, thường xuyên xảy ra gây thiệt hại

lớn về người và tài sản (nhất là với dân cư ven biển) Sạt lở bờ biển: hiện tượng

Trang 19

này đang đe dọa nhiều đoạn bờ biển nước ta (Trung Bộ) Nạn cát bay, cát lấnchiếm ruộng vườn, làng mạc và làm hoang hóa đất đai (miền Trung)

Như vậy, sử dụng hợp lí nguồn lợi thiên nhiên biển, phòng tránh ô nhiễmmôi trường biển, thực hiện các biện pháp phòng tránh thiên tai là những vấn đề hệtrọng trong chiến lược khai thác tổng hợp, phát triển kinh tế biển của nước ta

c Khí hậu Đặc điểm chung của khí hậu nước ta là nhiệt đới - ẩm - gió mùa

và có sự phân hoá phức tạp cả về thời gian và không gian.

● Tính chất nhiệt đới - ẩm - gió mùa

- Tính chất nhiệt đới của khí hậu được qui định bởi vị trí nước ta nằm trong

vùng nội chí tuyến Bắc Bán Cầu Hàng năm nhận được lượng bức xạ mặt trời lớn

do Mặt Trời luôn đứng cao trên đường chân trời và ở nơi trong năm đều có 2 lầnMặt Trời qua thiên đỉnh Tổng lượng bức xạ nhiệt cao (120 - 140 kcal/cm2/năm).Cán cân bức xạ trên 75 kcalo/cm2/năm Nhiệt độ trung bình năm dao động từ 22 -

270C (tiêu chuẩn của vùng nhiệt đới 210C) Tổng nhiệt độ hoạt động năm 8.000 10.0000C Tổng số giờ nắng trên 1.400 giờ/năm

Tính chất ẩm thể hiện ở lượng mưa trung bình/năm 1.500 2.000mm (sườn

đón gió của nhiều dãy núi lượng mưa lên tới 3.500 - 4.000mm) Độ ẩm không khíluôn luôn ở mức 80% - 100% (trừ một vài vùng khô hạn như Ninh - Bình Thuậnlượng mưa thấp ~ 700 - 800mm)

- Tính chất gió mùa: do nằm trong vùng nội chí tuyến BBC nên ở nước ta

Tín phong nửa cầu Bắc có thể thổi quanh năm Tuy nhiên, khí hậu nước ta chịu ảnhhưởng mạnh mẽ của các khối khí hoạt động theo mùa với 2 mùa gió chính: gió mùamùa đông và gió mùa mùa hạ Gió mùa đã lấn át Tín phong, vì vậy Tín phong chỉhoạt động mạnh vào các thời kì chuyển tiếp giữa 2 mùa gió

+ Gió mùa mùa Đông: Từ 16 0 B trở ra Bắc: Khối không khí cực đới (NPc)

thống trị từ tháng X - IV, phạm vi ảnh hưởng của nó vào đến vĩ độ 160B (BạchMã) Nửa đầu mùa Đông (lạnh - khô) Nửa sau mùa đông (lạnh-ẩm) NPc thổi vàonước ta không liên tục mà chỉ từng đợt, ảnh hưởng mạnh ở miền Bắc và hình thành

ở đây có một mùa đông lạnh (2 - 3 tháng) Khi di chuyển về P.Nam, khối không khí

này bị biến tính và suy yếu dần và dường như kết thúc bởi bức chắn dãy Bạch Mã

Từ vĩ độ 16 0 B trở vào Nam: tín phong TBD Bắc Bán Cầu (Tm) cũng thổi theo

hướng Đông Bắc trở nên chiếm ưu thế làm hình thành "gió mùa mùa Đông" ở miền

không có mùa đông này, thời tiết thường mát và ẩm

Trang 20

+ Gió mùa mùa Hạ Trong mùa này các luồng gió thổi vào lãnh thổ nước ta

lại rất phức tạp, đặc biệt là sự chanh chấp trong thời gian chuyển mùa làm cho thời

tiết rất thất thường Có 2 luồng gió cùng hướng tây nam thổi vào: Nửa đầu mùa Hạ,

dòng khí từ vịnh Bengan (TBg) thổi vào nước ta theo hướng tây nam, mang nhiềuhơi nước gây mưa lớn cho Tây Nguyên và đồng bằng Nam Bộ, sau đó vượt qua dãyTrường Sơn, khối khí trở nên khô nóng tràn xuống vùng đồng bằng ven biển miềnTrung và phần phía nam của khu vực Tây Bắc; đôi khi áp thấp Bắc Bộ sụt sâu tạonên sức hút mạnh làm xuất hiện gió Tây tại đồng bằng Bắc Bộ, thời kỳ này nhiệt độlên tới 370C, độ ẩm xuống < 50% Nửa giữa và cuối mùa Hạ, gió mùa Tây Nam (Em) xuất phát từ áp cao cận chí tuyến nửa cầu Nam hoạt động, hình thành gió

mùa mùa Hạ chính thức ở Việt Nam Khi vượt qua vùng biển Xích Đạo khối không

khí này đổi hướng tây nam vào lãnh thổ nước ta lại theo hướng các hướng khácnhau: hướng tây nam (Tây Nguyên và đồng bằng NBộ), hướng nam (miền Trung),

hướng đông nam (Bắc Bộ) [Nguyên nhân làm cho khối không khí (Em) thổi vào

lãnh thổ nước ta theo các hướng khác nhau là do ở miền Bắc lúc này hình thành một hạ áp (xoáy tụ) hút gió làm đổi hướng] Khối không khí này gây mưa cho cả

hai miền nước ta (riêng ở miền Trung mưa vào tháng IX) Đặc biệt, khi gặp cácnhiễu động khí quyển như bão, hội tụ nhiệt đới sẽ gây mưa lớn kéo dài, đây cũng làmùa mưa bão của nước ta

● Sự phân hóa của khí hậu nước ta

- Theo tác giả Phạm Ngọc Toàn - Phan Tất Đắc (1978, 1993) đã phân chia phần đất liền nước ta thành 3 miền khí hậu: (1) Miền khí hậu phía Bắc (từ vĩ độ

180B-dãy Hoành Sơn trở ra Bắc), đây là miền khí hậu đặc biệt: “Nhiệt đới-gió mùa,

có một mùa đông lạnh”, miền này lại được chia làm 5 vùng khí hậu (vùng núi

Đông Bắc; vùng núi Việt Bắc-Hoàng Liên Sơn; vùng đồng bằng Bắc Bộ; vùng núi

Tây Bắc; vùng Bắc Trung Bộ) (2) Miền khí hậu phía Nam, bao gồm lãnh thổ

Trung Bộ ở sườn Tây thuộc dãy Trường Sơn, Tây Nguyên, Đông Nam Bộ và Đồngbằng sông Cửu Long Khí hậu có 2 mùa khô - mưa, càng về phía nam tính chất nàycàng thể hiện rõ Miền này chia làm hai vùng khí hậu (Tây Nguyên và Đông Nam

Bộ - Đồng bằng sông Cửu Long) (3) Miền khí hậu Đông Trường Sơn, bao gồm

phần Đông Trường Sơn từ vĩ độ 180B (phía Nam dãy Hoành Sơn) đến vĩ độ 120B(Bình Thuận) Đây là miền khí hậu chuyển tiếp giữa hai miền khí hậu trên và đượcchia làm 3 vùng khí hậu (vùng Bình - Trị - Thiên; vùng Trung Trung Bộ và vùngNam Trung Bộ)

Trang 21

- Theo Atlát khí tượng thủy văn Việt Nam - 1994, sơ đồ phân vùng khí hậu

nước ta gồm 2 miền (ranh giới 160B):

Miền khí hậu phía Bắc có 4 vùng khí hậu (Đông Bắc, Tây Bắc, Đồng bằng

sông Hồng và Bắc Trung Bộ)

Miền khí hậu phía Nam có 3 vùng khí hậu (Duyên hải Nam Trung Bộ, Tây

Nguyên và Nam Bộ)

Bảng 1.5 Một số đặc trưng của các miền và các vùng khí hậu.

P.Bắc

Miền khí hậuP.Nam

- Biên độ năm của nhiệt độ không khí

Trang 22

Thành phố Hồ Chí Minh (10047'B - 106047'Đ, độ cao 9m/biển)

▪ Đối với sản xuất nông nghiệp: Do nằm trong khu vực khí hậu nhiệt đới gió

mùa nóng - ẩm, nhiệt độ TB/năm cao, độ ẩm TB lớn cùng với sự phân hóa đa dạng

cả về thời gian và không gian là một thuận lợi lớn cho phát triển một nền nôngnghiệp nhiệt đới với nhiều loại nông sản phong phú (cây lương thực, cây côngnghiệp, cây ăn quả, rau đậu ; chăn nuôi đại gia súc, gia súc, gia cầm, thủy sản).Cho phép trồng các loại cây có nguồn gốc nhiệt đới, cận nhiệt và ôn đới Cho phéptăng vụ, xen canh, gối vụ (nếu điều kiện ẩm được thỏa mãn)

▪ Đối với các ngành công nghiệp chế biến lâm sản, rừng nhiệt đới với nhiều

loại lâm sản khác nhau là nguồn nguyên liệu có giá trị đối với các ngành công

nghiệp chế biến gỗ, giấy, dược liệu, thủ công mĩ nghệ Ngoài ra, lượng mưa trung

bình hàng năm cao, nguồn nước ngầm phong phú cùng hệ thống sông ngòi dày đặc

đủ để cung cấp nước cho sản xuất công nghiệp, nông nghiệp, giao thông vận tải,sinh hoạt của dân cư

● Hạn chế:

▪ Đối với sản xuất nông nghiệp: Sự phân phối ẩm không đều trong năm gây

hạn chế cho việc khai thác nhiệt Chính vì vậy, dù cho điều kiện kĩ thuật có tiến bộđến đâu, thì ở nước ta thủy lợi vẫn là vấn đề hàng đầu trong sản xuất nông nghiệp,đặt ra cho hầu hết các vùng nhất là trong mùa khô (đặc biệt là các tỉnh phía nam)yêu cầu là phải tiết kiệm nước, phải tính đến việc thay đổi cơ cấu cây trồng cho phùhợp (ví dụ, trong mùa khô có thể hạn chế diện tích trồng lúa nước, hoặc những loạicây có nhu cầu về nước lớn) Trong điều kiện thời tiết nóng - ẩm, sâu bệnh dễ phátsinh và lây lan trên diện rộng gây hại cho cả cây trồng lẫn vật nuôi Các hiện tượngthời tiết cực đoan, nhiễu động thời tiết thường xảy ra vào thời gian chuyển mùa làmcho sản xuất nông – lâm - ngư thêm bấp bênh Bão, lụt, thiên tai hạn hán, cũngxảy ra ở hầu hết các vùng lãnh thổ nước ta, gây thiệt hại lớn cả về người và của chonhân dân Bão thường tập trung vào tháng VI-XI, dịch dần từ Bắc vào Nam, cónăm bão đổ bộ vào sớm, có năm muộn Bão thường kèm theo gió giật, mưa lớn kéo

Trang 23

dài, nước sông sẽ dâng cao ở vùng cửa sông, ven biển uy hiếp các công trình thủylợi, đê điều Nếu mưa lớn lại trùng với lúc triều cường thì lại càng nguy hiểm hơn.

[Theo thống kê của đài Khí tượng - Thuỷ văn thì từ 1884 - 1989, mỗi năm TB có 4,7 cơn bão đổ bộ vào lãnh thổ nước ta ( vào Bắc Bộ 30%; Thanh – Nghê - Tĩnh 19%; Bình - Trị - Thiên 18%; Quảng Nam - Bình Định 24%; Từ đèo Cả trở vào 9%) Gần đây, do những biến động của khí hậu mà bão lũ xảy ra rất thất thường.

Cơn bão Linda (12/1997) đổ bộ vào Đồng bằng sông Cửu Long, tốc độ gió lên tới

150 km/giờ (cấp gió 14), là một trường hợp mà hàng trăm năm mới gặp, 4500người chất, hư hại 200.000 ha căn nhà và 325.000 ha ruộng Ở Đồng bằng sôngHồng, lũ do bão Frankie (24/07/1999), cấp gió 11 làm chết 100 người, 194.000 cănnhà hư hại và ngập úng 177.000 ha ruộng Ở miền Trung, lũ lụt năm 1996 làm chết

400 người, năm 1998 chết 450 người, năm 1999 hai trận lũ liên tiếp xảy ra ngày03/11/1999 và 02/12/1999 trên diện rộng suốt từ Quảng Bình- Bình Định (nặngnhất là Thừa Thiên-Huế), đây là trận lụt mà hàng trăm năm mới thấy xảy ra, làm

chết 750 người, tổn thất lên tới 300 triệu USD (~ 4,8 nghìn tỉ đồng VN]

▪ Đối với sản xuất công nghiệp: độ ẩm cao dễ làm cho những thiết bị, máy

móc bị ăn mòn, ẩm mốc; Các ngành công nghiệp khai thác (khoáng sản, rừng, hảisản) cũng phải tuân theo nhịp điệu mùa, tính chất mùa của nguồn nguyên liệu cung

cấp cho công nghiệp chế biến cũng phải tuân theo lịch thời vụ

▪ Đối với giao thông vận tải: Mưa, bão gây ách tắc giao thông cả đường sắt,

bộ, đặc biệt là những tuyến đường từ đồng bằng lên miền núi

▪ Đối với hoạt động du lịch, nghỉ dưỡng, tham quan,.v.v Tính chất gió mùa

cũng ảnh hưởng khá sâu sắc, hiệu quả khai thác giảm hẳn mà rõ nhất là ở miềnBắc

d Tài nguyên nước

Khi nền kinh tế càng phát triển thì nhu cầu về nước cho sản xuất và sinh hoạtngày càng tăng Nhưng sự phân bố nước lại không đều giữa các vùng đã dẫn tới sựmất cân đối giữa cung-cầu về nước sạch Như vậy, loại tài nguyên này tưởng như là

vô tận lại trở thành có hạn

● Nước trên mặt

Với địa hình 3/4 diện tích là đồi núi, lại bị chia cắt dữ dội, điều kiện khí hậunhiệt đới-ẩm-gió mùa, sông ngòi nước ta khá dày đặc Mật độ sông ~ 0,5 - 1,2

Trang 24

sông với tổng diện tích lưu vực 292.470km2 Có 10 lưu vực sông chính (BằngGiang-Kỳ Cùng; Hồng-Thái Bình; Mã; Cả; Thu Bồn; Đà Rằng; Đồng Nai; CửuLong; Xêsan; Xrêpốc); diện tích lưu vực > 10.000km2;10 lưu vực này chiếm 80%diện tích; 70% nguồn nước và trên 80% dân số cả nước.

- Sông ngòi nhiều nước, giàu phù sa: Tổng lượng dòng chảy của tất cả các

sông ~ 880km3/năm (lượng dòng chảy sinh ra trong nước 325 km3, chiếm 37% tổnglượng dòng chảy năm) tổng lượng cát bùn hàng năm do sông vận chuyển ra BiểnĐông ~ 200 triệu tấn (sông Hồng 120 triệu tấn, sông Cửu long 70 triệu tấn)

- Những dòng chảy lớn: sông Mê Công, diện tích lưu vực 795.000 km2,thuộc phần lãnh thổ Việt Nam 72.000 km2 (~ 9%) Tổng lưu lượng nước 520,6 tỉ m3

(Việt Nam 10%) Hệ thống sông Hồng-Thái Bình, diện tích lưu vực 169.000 km2

(thuộc phần lãnh thổ Việt Nam 51%), tổng lượng dòng chảy 137 tỉ m3 (Việt Nam68%) Như vậy, nếu ở thượng nguồn của hai hệ thống sông lớn này khai thác mạnhtài nguyên nước (đặc biệt trong mùa khô) thì nguồn nước có thể khai thác ở ViệtNam sẽ nằm ngoài tầm kiểm soát Vì vậy, vấn đề sử dụng chung nguồn tài nguyênnước của các sông này đã trở nên cấp bách trong thế kỷ XXI này, đây cũng là vấn

đề cần hợp tác với các nước có liên quan

- Về thủy chế, do tính chất bất thường của chế độ mưa mùa, trạng thái bề mặt

các lưu vực và hình dáng sông ngòi nước ta mà dòng chảy có sự chênh lệch lớntrong mùa mưa và mùa khô:

+ Hệ thống sông Hồng: Thủy chế ít điều hòa, lũ vào tháng VI-X (chiếm 74%

lưu lượng nước cả năm) Lũ do 3 sông tạo nên (sông Đà 41-61%, sông Lô 20-34%,sông Thao 15-23%), khi lũ của 3 sông gặp nhau gây lũ đột xuất Với hình thái lưuvực dốc ở thượng nguồn và trung du ít dốc ở hạ du, nên lũ lên nhanh nhưng rút lạichậm Chính vì vậy mà hệ thống đê điều ở Đồng bằng sông Hồng đã được hìnhthành từ rất sớm (thế kỷ XI) đến nay đã khá hoàn chỉnh Việc xây dựng các côngtrình thủy điện ở đây sẽ có ý nghĩa không chỉ về năng lượng mà còn có ý nghĩa trịthủy (kiểm soát lũ) ở sông Hồng

+ Hệ thống sông Mê Công: sông dài 4.500km chảy qua 5 nước Trung Quốc

– Mianma - Thái Lan – Lào - Cămpuchia vào Việt Nam ở hạ lưu, sông chảy quanhiều miền khí hậu khác nhau Đây là sông có lượng dòng chảy lớn nhất, lũ từtháng VI-XI, lũ lên chậm và rút chậm (do có sự điều tiết của hồ Tônglêsáp (BiểnHồ) Lượng dòng chảy cũng chênh lệch lớn giữa mùa lũ và kiệt (khoảng 7 lần).Người dân vùng Đồng bằng sông Cửu Long có kinh nghiệm sống chung với lũ (tại

Trang 25

đây không có hệ thống đê điều vững chắc như ở Đồng bằng sông Hồng) Ngay từkhi con người đến khai thác vùng đất này và cả bây giờ chúng ta cũng chỉ chủtrương kiểm soát lũ từng phần bằng cách đắp đê bao, các tuyến đường vượt lũ.

+ Hệ thống sông Đồng Nai - Vàm Cỏ Diện tích lưu vực 42.655 km2, thuộcphần lãnh thổ Việt Nam 36.261 km2 Hệ thống sông Đồng Nai-Vàm Cỏ bao trùmgần như toàn bộ lãnh thổ vùng Đông Nam Bộ, một phần phía Nam Tây Nguyên vàDuyên hải miền Trung Lũ vào mùa Hạ, lớn nhất là tháng VII-IV; mùa kiệt từ thángIII-V Đây là lưu vực sông của vùng kinh tế phát triển năng động nhất cả nước, vìvậy sử dụng hợp lý nguồn nước sông có ý nghĩa rất quan trọng

+ Hệ thống sông ở Tây Nguyên có những sông nhánh của tả ngạn sông Mê

Công (lớn hơn cả là sông Xrêpốc và Xêsan), những sông này tuy nhỏ, nhưng có ýnghĩa rất lớn về nước tưới và thủy điện Trên sông Xêsan đã xây dựng thủy điệnYaly, sông Srêpốc đã xây dựng thủy điện Đrây Hlinh, hiện nay đang tiếp tục xâydựng một vài công trình thủy điện khác

+ Hệ thống sông Mã, sông Chu Diện tích lưu vực 28.400 km2, chảy qua mộtphần vùng Tây Bắc qua Lào vào Thanh Hóa Hai sông này cung cấp phù sa chođồng bằng Thanh Hóa (rộng nhất trong các đồng bằng Duyên hải miền Trung) Lũvào tháng VI - XI (cao nhất tháng IX)

+ Hệ thống sông Cả Diện tích lưu vực 27.200 km2 Bắt nguồn từ Lào chảyvào Nghệ An, tạo nên đồng bằng Nghệ An nối liền với đồng bằng Thanh Hóa Dolưu vực sông mở rộng về phía Tây, vì vậy đồng bằng cũng mở rộng sâu vào trongđất liền Lũ vào tháng VI - X (cao nhất tháng IX), kiệt vào tháng XI - V (kiệt nhấttháng III) Ở hạ lưu của hệ thống sông này có các thành phố lớn như thành phốVinh, trung tâm kinh tế lớn nhất của Bắc Trung Bộ

+ Các sông ở miền Trung (Đông Trường Sơn) từ Hà Tĩnh - Bình Thuận có

đặc điểm chung là đều ngắn, dốc, lưu lượng nước nhỏ (nhiều sông chảy theo hướngTây - Đông), lượng dòng chảy nhỏ chủ yếu trong địa phận nước ta Mùa lũ lệch vàomùa Thu Đông, lũ lớn nhất vào tháng X, XI, lũ tiểu mãn vào tháng V, VI; thángkiệt nhất vào IV hoặc VII, VIII Các sông này tạo nên các đồng bằng nhỏ hẹp, lại bịchia cắt bởi các nhánh núi lan ra sát biển Ở hạ lưu các sông thường có các thị xã,thị trấn Những sông lớn ở đây khi chảy qua các vùng lãnh thổ nào thường mangtên các thị xã, thị trấn mà nó chảy qua (ví dụ Tam Kỳ, Vĩnh Điện, Sông Cầu v.v.)

Trang 26

Do sông ngắn và dốc, ở hạ lưu lại không có đê nên lũ lên rất nhanh và rútcũng nhanh Lũ ở miền Trung rất nguy hiểm (đặc biệt là ở thượng nguồn) hiệntượng lũ quét thường đe dọa các điểm dân cư, các công trình xây dựng, đường sá ,

còn ở đồng bằng thiệt hại do lũ gây ra cũng rất lớn Với Duyên hải miền Trung

việc làm các hồ, xây dựng các đập chứa nước có ý nghĩa rất lớn để điều tiết nướctrong mùa lũ và giữ nước cho mùa khô

Bảng 1.7 Phân bố nước trên mặt

m3/năm)

%

Trang 27

15,77,27,2

4,82,22,2

8,02,32,92,8

58,314,719,823,8

17,94,56,37,3

4 Duyên hải Nam Trung Bộ

5,82,61,71,4

48,721,614,612,5

14,86,63,24,4

6 Đông Nam Bộ

- Lưu vực sông Đồng Nai

- Khu vực Ninh - Bình Thuận

34,930,08,4

4,23,01,0

34,98,4

10,62,6

7 Đồng bằng sông Cửu Long

- Lưu vực sông Cửu Long 505,0 60,1 50,0 15,2

Nguồn: Viện qui hoạch thủy lợi, Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn.

● Nước ngầm

Tài nguyên nước ngầm của Việt Nam hiện nay vẫn chưa được thăm dò, đánhgiá đầy đủ Theo kết quả nghiên cứu bước đầu cho thấy phần lớn nước ngầm chứatrong các thành tạo ở độ sâu từ 10-100 m Các phức hệ có khả năng khai thác đó làphức hệ trầm tích rời bở tập trung ở Đồng bằng sông Hồng, Đồng bằng sông CửuLong và một vài nơi ven biển miền Trung, phức hệ trầm tích cácbonat phân bố chủyếu ở Đông Bắc, Tây Bắc, vùng Bắc và Bắc Trung Bộ, phức hệ đá phun trào (Tây

Trang 28

Tổng trữ lượng động thiên nhiên của cả nước 1.513 tỉ m3/s (lưu lượng dòng

ngầm ở một cắt nào đó của tầng chứa nước) Trữ lượng khai thác thăm dò khoảng

3,3 tỉ m3 Nước ngầm phân bố không đều trong cả nước, tập trung nhiều nhất ở cácvùng đồng bằng (nhưng thường bị nhiễm mặn, hàm lượng sắt và độ axit cao), rấthạn chế trong các vùng núi đá vôi và trong tầng ba dan Khai thác nước ngầm chủyếu cung cấp nước cho đô thị, sản xuất công nghiệp, nước sạch cho các vùng nôngthôn, đối với các vùng chuyên canh cây công nghiệp (cà phê Tây Nguyên) lại càngquan trọng

● Ý nghĩa kinh tế của hệ thống sông ngòi nước ta

- Tạo nên các đồng bằng rộng lớn (Đồng bằng sông Hồng, Đồng bằng sôngCửu Long Duyên hải miền Trung); thuận lợi cho nền nông nghiệp lúa nước, địnhcanh Tạo điều kiện tập trung dân cư và phát triển các ngành kinh tế khác Chính vìthế, ở ven sông thường tập trung các đô thị lớn, các trung tâm công nghiệp, dịch vụ;Các vùng ven sông và các cửa sông còn hình thành các cảng rất lớn (Cần Thơ);Nhiều cửa sông rộng (hình phễu) rất thuận lợi cho tàu bè ra vào; Các sông ngòi nếuđược nạo vét thường xuyên sẽ là hệ thống giao thông vận tải lý tưởng

- Về thủy điện, sông ngòi nước ta có giá trị về thủy điện rất lớn Tổng trữnăng (lý thuyết) 28-30 triệu kw Sản lượng điện ~ 250 tỉ kw/h/năm (khả năng chokhai thác 60 tỉ kw/h/năm), hiện nay chúng ta mới khai thác trên 50% Như vậy khaithác thủy điện có ý nghía rất lớn cho phát triển kinh tế - xã hội và sử dụng tổng hợpnguồn tài nguyên nước

▪ Những hạn chế của nguồn tài nguyên nước

- Tính chất bất thường của thủy chế (lũ và kiệt) Lũ lụt năm nào cũng xảy ragây thiệt hại rất lớn cả về người và của của nhân dân Mùa kiệt, lượng dòng chảynhỏ, nước mặn vào khá sâu trong đất liền, riêng ở hai đồng bằng lớn trong phạm vi

30 - 50 km từ cửa sông vào là chịu ảnh hưởng của triều biển sông Hồng (20km),sông Thái Bình (40km), sông Tiền (50km), sông Hậu (40km)

- Dòng chảy cát, bùn (phù sa) lớn, ước tính hàng năm các sông đổ ra biển ~

200 triệu tấn phù sa (sông Hồng 120 triệu tấn; sông Cửu Long 70 triệu tấn) Nếu ởthượng lưu, rừng bị khai thác quá mức, hiện tượng xói mòn đất diễn ra ngày càngmạnh, thì lượng bùn đổ ra biển càng lớn Phù sa một mặt bồi đắp cho các đồngbằng, nhưng mặt khác nó còn lắng đọng trong hệ thống kênh mương, hồ chứa

Trang 29

nước, các đập thủy điện, đòi hỏi chúng ta phải thường xuyên nạo vét lòng sông rấttốn kém.

▪ Để bảo vệ nguồn nước (trên mặt và nước ngầm):

Hạn chế việc làm ô nhiễm do chất thải (công nghiệp và sinh hoạt) Nâng cấp,cải tạo các hệ thống thoát nước Hạn chế việc dùng hóa chất trong nông nghiệp, đặcbiệt là những vùng rau ở Đà Lạt, Hà Nội, ở những vùng chè; ở vùng trồng lúa thâmcanh thường gây ô nhiễm ở tầng nước nông, đây lại là tầng nước phần lớn dùng chosinh hoạt của nông dân

e Tài nguyên đất

● Các loại đất chính ở đồng bằng Đất đồng bằng chủ yếu là đất phù sa; tùy

theo từng lưu vực mà thành phần cơ giới, đặc tính lý-hóa và độ phì của đất khácnhau Đất phù sa đã được cải tạo qua nhiều thế kỷ, được san bằng, đắp bờ giữ nước,cấy lúa, cho nên thành phần cơ giới, lý - hóa đã bị biến đổi nhiều và trở thành loại

đất đặc biệt ”Đất trồng lúa nước” Các loại đất chính:

▪ Đất phù sa mới ~ 3,40 triệu ha (Đồng bằng sông Hồng 0,6 triệu ha; Đồng

bằng sông Cửu Long 1,2 triệu ha)

- Đất phù sa ở Đồng bằng sông Hồng: Thành phần cơ giới chủ yếu từ cát

pha đến thịt trung bình (vùng trũng là thịt nặng) Độ pH 5,5-7,0, giàu N, P, K, Ca,

Mg và chất hữu cơ Do có hệ thống đê điều khá vững chắc nên phù sa không đượctrải đều trong năm Đất đã được sử dụng với cường độ cao nhiều nơi đã bị bạc màu.Trong đồng bằng có nhiều ô trũng (Hà-Nam-Ninh) đất bị hóa lầy, hiện tượng glâymạnh, đất giàu mùn, đạm, nghèo lân, trong đất chứa nhiều chất độc hại cho câytrồng và thủy sản

- Đất phù sa ở Đồng bằng sông Cửu Long: Thành phần cơ giới nặng hơn so

với đất ở Đồng bằng sông Hồng (từ thịt đến sét), lượng mùn và đạm trung bình,nghèo lân, nhưng cũng khá phì nhiêu Do chỉ mới có một số hệ thống đê bao, nênphù sa vẫn được trải đều Riêng dải phù sa ngọt ven sông Tiền và sông Hậu đãđược thâm canh khá cao cả cây lương thực - thực phẩm và cây ăn quả

- Đất phù sa ở các đồng bằng Duyên hải miền Trung: Do tác động rõ rệt của

biển trong quá trình hình thành đồng bằng, nên đất có thành phần từ cát pha đếnthịt nhẹ, chua, nghèo mùn, kèm màu mỡ

Trang 30

▪ Đất phèn 2,0 triệu ha, Đồng bằng sông Cửu Long gần 1,9 triệu ha tập trung

nhiều ở tứ giác Long Xuyên, Đồng Tháp Mười, vùng trũng bán đảo Cà Mau; Đồngbằng sông Hồng (ven biển Hải Phòng và Thái Bình) Đất phèn được hình thành trêncác vùng biển cũ, nơi có nhiều xác thực vật thối rữa của rừng ngập mặn trước đây.Phèn thường tồn tại dưới dạng tiềm tàng (FeS), nếu bị ôxy hóa sẽ tạo thành H2SO4

làm cho đất chua và nước trong đất chua (nếu trong đất và nước: độ pH < 4,5 cá

không sống được, độ pH < 3,0 thì tất cả các loài thủy sinh và cây cối không sống được, kể cả cây ngập mặn) Muốn sử dụng loại đất này phải tiến hành thau chua -

rửa phèn, cần rất nhiều nước ngọt

▪ Đất mặn Khoảng 1,0 triệu ha Tập trung ở các vùng cửa sông ven biển,

nhiều nhất ở Đồng bằng sông Cửu Long diện tích lên tới 744 000 ha (Long An,Tiền Giang, Bến Tre, Trà Vinh, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau), ở Đồng bằng sôngHồng (Thái Bình, Nam Định) Đất nhiễm mặn do 2 nguyên nhân (do ngập nướctriều mặn và nước ngầm mặn gây ra) Tùy theo hàm lượng (CL- ) trong đất mà phân

ra mặn nhiều hay ít Để khai thác đất mặn, nhân dân ta thường quai đê lấn biển, rửamặn bằng nước mưa, trồng cói trước - lúa sau Hiện nay ở Đồng bằng sông CửuLong, nhiều vùng nhân dân đã trồng một vụ lúa nhờ vào nước trời và một vụ tômcho năng suất khá cao

▪ Đất cát ven biển ~ 50,0 vạn ha Phân bố dọc bờ biển, nhiều nhất ở Trung

Bộ Có các loại cồn cát sau:

Các cồn cát hiện đại (cồn cát vàng), nhiều nhất ở Quảng Bình Các cồn cát

cũ (cồn cát trắng) kéo dài từ Quảng Trị đến Thừa Thiên Huế Các cồn cát cổ (cátđỏ) có nhiều ở Bình Thuận Ngoài ra còn có các bãi cát biển khá bằng phẳng

Đất cát nghèo mùn và N, P, K, có phản ứng chua Thường thiếu nước chosinh hoạt và cây trồng gặp rất nhiều khó khăn Các cồn cát hiện đại và cồn cát cũlại thường hay di động, lấn vào làng mạc, ruộng đồng nên việc trồng rừng chắn gió,chắn cát ở các tỉnh miền Trung là rất quan trọng Các cồn cát cổ đã ổn định, không

di động, có thể tận dụng trồng hoa màu, cây công nghiệp hay trồng rừng

● Các loại đất ở vùng trung du - miền núi và cao nguyên

* Đặc điểm chung

Ở miền đồi núi, quá trình hình thành đất feralit là chủ yếu, đây là quá trìnhhình thành đất đặc trưng cho vùng nhiệt đới ẩm trong điều kiện nhiệt-ẩm cao, quátrình phong hóa diễn ra rất mạnh, các chất bazơ Ca+, Mg+, K+ dễ hòa tan, rửa trôi

Trang 31

làm cho đất bị chua; đồng thời ôxit sắt fe3+ và nhôm AL3+ được tích tụ làm cho đất

có màu đỏ vàng, đất nói chung nghèo mùn Quá trình feralit diễn ra điển hình trên

đá mẹ axit, cũng diễn ra cả trên đất bazơ và các thềm phù sa cổ

* Các loại đất chính

▪ Đất feralit (có tên Việt Nam là đất đỏ - vàng) ~ 16,0 triệu ha Có thể chia ra

7 loại:

Đất feralit nâu - đỏ trên đá bazơ, chủ yếu là badan ~ 2,0 triệu ha, nhiều nhất

ở Tây Nguyên và Đông Nam Bộ; ngoài ra còn có ở rải rác phần phía tây tỉnh ThanhHóa, Nghệ An, Quảng Bình, Quảng Trị và Phú Yên Đất giàu cation Ca, Mg, Fe,

Al, đạm và lân, nhưng nghèo kali và lân dễ tiêu Tầng đất dày, khá phì nhiêu thíchhợp cho cây công nghiệp lâu năm như cà phê, cao su, chè

Đất nâu - vàng trên đá bazơ ~ 0,4 triệu ha (tập trung trên cao nguyên, ở độ

cao 800-900m) Bên cạnh cây công nghiệp lâu năm, còn trồng được cây lương thựccạn (do lượng ẩm trong đất khá)

Đất feralit đỏ - nâu trên đá vôi ~ 0,3 triệu ha (tập trung ở vùng núi đá vôi và

cao nguyên đá vôi miền núi phía Bắc) Đất giàu mùn, đạm, tơi xốp, thuận lợi chotrồng ngô, đậu tương

Đất feralit đỏ - vàng trên đá biến chất và đá sét Trên 6,0 triệu ha (tập trung

chủ yếu ở Cao Bằng, Lạng Sơn, Bắc Giang, Phú Thọ, Hoà Bình, Sơn La, LaiChâu) Đất có thành phần cơ giới nặng, kém tơi xốp, tầng đất dày từ 1,5-2,0 m Dođịa hình dốc nên đất dễ bị xói mòn, chủ yếu dành cho lâm nghiệp và nông-lâm kếthợp

Đất Feralít vàng - đỏ trên đá mác ma axit ~ 4,0 triệu ha Phân bố tại các

vùng đồi núi granit và riolit Tầng đất mỏng, lẫn nhiều đá, đất chua, nghèo mùn vàlân Địa hình thường dốc, dễ bị xói mòn, việc khai thác không hợp lý nên hầu hết

đã bị thoái hóa, cần trồng rừng để phục hồi đất

Đất feralit vàng nhạt trên đá cát Trên 2,2 triệu ha, hình thành trên đá mẹ có

thành phần silic cao hơn các đá mác ma axit, tầng đất mỏng, thành phần cơ giới từcát đến cát pha, đất nghèo, chua, khô hạn Phần lớn là đồi trọc

Đất feralit nâu - vàng trên phù sa cổ ~ 0,4 triệu ha, phân bố ở rìa các châu

thổ, trên các thềm sông cổ Địa hình là những vùng đồi (độ cao 25 - 30m) đã bịthoái hóa, đất có kết von ôxit sắt, nhôm (một số nơi có đá ong) Đất này cần cải tạo

để trồng hoa màu, cây công nghiệp lâu năm, ngắn ngày và cây ăn quả

Trang 32

- Đất xám bạc màu trên đá axit Trên 80,0 vạn ha Tập trung ở Tây Nguyên

và rải rác ở ven biển miền Trung Đất nghèo mùn, thành phần cơ giới nhe từ cátpha đến cát thô Thảm thực vật là rừng khộp hay cỏ tranh

- Đất xám bạc màu trên phù sa cổ ~ 1,2 triệu ha (Đông Nam Bộ 90,0 vạn

ha), ngoài ra còn có ở rìa Đồng bằng sông Hồng, Duyên hải Nam Trung Bộ và dảiđất cao ở Long An, Đồng Tháp Địa hình cao 15 - 20 m, đất bị rửa trôi lâu ngày nênnghèo phì liệu nhưng tơi xốp, thoát nước tốt Đất này nếu được cải tạo, có thể trồngđược cây lương thực - thực phẩm, cây ăn quả và cây công nghiệp

▪ Đất mùn đỏ - vàng trên núi ~ 3,0 triệu ha Phân bố ở độ cao từ 500 - 600m

đến 1.600 - 1.700m Đây là đai rừng cận nhiệt đới trên núi, nhiệt độ giảm nhưnglượng mưa tăng làm cho quá trình Feralit yếu đi, quá trình tích lũy mùn tăng lên.Địa hình dốc, đất có tầng mỏng, thích hợp cho lâm nghiệp Một số nơi như Sa Pa

có thể trồng các loại rau ôn đới

▪ Đất mùn thô trên núi cao (đất alit trên núi cao) Trên 28,0 vạn ha, phân bố

ở độ cao 1.600 - 1.700 m, đây là đai rừng cận nhiệt đới mưa mù trên núi, quanhnăm mây mù lạnh ẩm, quá trình Feralit chấm dứt hoàn toàn Đất chứa nhiều mùnthô, tầng thảm mục dày, tầng đất mỏng, lại là khu vực đầu nguồn nên cần bảo vệnghiêm ngặt, phải trồng rừng phòng hộ

▪ Ngoài ra, ở vùng đồi núi còn có: Đất thung lũng do sản phẩm dốc tụ

khoảng 33,0 vạn ha, thích hợp cho việc làm ruộng bậc thang (lúa nước thâm canh),

trồng hoa màu, cây công nghiệp ngắn ngày Đất xói mòn trơ sỏi đá (50,5 vạn ha).

Đất bị thoái hóa nghiêm trọng, không trồng trọt được Việc cải tạo, phủ xanh diện

tích này rất khó khăn Đất lầy và than bùn > 7,0 vạn ha, tập trung ở các thung lũng

miền núi và ở vùng đồng bằng; Đất than bùn nhiều nhất ở U Minh (Kiên Giang) và

Cà Mau

● Vấn đề sử dụng hợp lý tài nguyên đất

- Đất đai là tài nguyên vô cùng quí giá, là tư liệu sản xuất chủ yếu không thể

thay thế được của ngành nông - lâm Là mặt bằng để bố trí các điểm dân cư (nôngthôn, đô thị), các cơ sở công nghiệp, các công trình cơ sở hạ tầng phục vụ cho sảnxuất, sinh hoạt và các công trình quốc phòng Trong điều kiện nền kinh tế thịtrường, đất đai trở thành một loại hàng hóa đặc biệt, việc thay đổi mục đích sửdụng có thể làm thay đổi mạnh mẽ giá trị của đất đai Chính vì vậy, sử dụng hợp lý,

Trang 33

có hiệu quả về kinh tế và sinh thái sẽ đảm bảo cho sự phát triển lâu bền trong tươnglai

Bảng 1.8 Hiện trạng sử dụng đất phân theo vùng tại thời điểm 01/01/2006 (đơnvị:1000 ha)

tích

Chia raĐất

NN

Đất LN Đất

CD

ĐấtTC

ChưaSD

ĐB sông Cửu

Theo dự báo đến 2010: Chúng ta có thể sử dụng ~ 50% diện tích đất chưa sử

dụng (~ 2,0 triệu ha), như vậy quĩ đất nông nghiệp sẽ vào khoảng gần 10,0 triệu ha

và được phân bố như sau: đất canh tác hàng năm 6,5 triệu ha (trong đó đất trồng lúa4,3 triệu ha); đất trồng cây lâu năm 2,8 triệu ha; đất cỏ và nuôi trồng thuỷ sản 0,7triệu ha Như vậy, tài nguyên đất ở nước ta rất hạn chế; BQ đất tự nhiên < 0,5ha/người (thấp nhất thế giới); đất nông nghiệp tuy có tăng lên chút ít (năm 1989 là6,9 triệu ha; 1999 tăng lên 7,8 triệu ha, năm 2006 tăng lên 9,4 triệu ha), song BQcũng chỉ ~ 0,1 ha/người Vì vậy, việc chuyển mục đích sử dụng đất sang chuyêndùng hay thổ cư (tức là thay đổi giá trị sử dụng và giá trị của đất đai) cần phải tiếnhành thận trọng, trên cơ sở quy hoạch tổng thể việc sử dụng của cả nước hay trongtừng vùng

Bảng 1.9 Qui hoạch sử dụng đất đến 2010 (đơn vị: 1000 ha)

Trang 34

9.383,416.165,71.712,01.086,54.576,4

28,649,05,23,313,9

(*) Đất lâm nghiệp bao gồm rừng tự nhiên, rừng trồng & đất mới chưa thành rừng

- Vấn đề sử dụng:

+ Đối với các vùng đồi núi: do địa hình dốc, trong điều kiện khí hậu nhiệt

đới - ẩm - mưa mùa, sự luân phiên giữa mùa khô - mưa, quá trình khoáng hóa diễn

ra mạnh nên đất dễ bị rửa trôi, nghèo mùn, chua; công tác thủy lợi rất khó khăn,khó áp dụng biện pháp thâm canh Đây là địa bàn cư trú của các dân tộc ít người,sản xuất còn mang tính tự túc tự cấp, nạn phá rừng còn tăng, diện tích đất trống đồinúi trọc còn rất lớn Vì vậy, để sử dụng hợp lý cần phải xác định rõ ranh giới đấtlâm nghiệp với đất nông nghiệp; áp dụng các biện pháp nông - lâm kết hợp; kĩ thuậtcanh tác trên đất dốc, tích cực bón phân hữu cơ; giữ độ che phủ cho đất để tránhxói mòn và giữ ẩm Đối với các vùng chuyên canh cây công nghiệp (Tây Nguyên)cần giữ giới hạn mở rộng diện tích cây công nghiệp lâu năm, hạn chế làm mất rừng

và cân bằng nước

+ Đối với các vùng đồng bằng: Phải có biện pháp nghiêm ngặt khi chuyển

đất nông nghiệp sang đất chuyên dùng và thổ cư; Thủy lợi phải được đặt lên hàngđầu để nâng cao hệ số sử dụng đất (tháo úng, chống hạn, thau chua, rửa mặn, tăng

vụ trong mùa khô, cải tạo đất) Ngoài ra, sử dụng đất đồng bằng còn tính đến việc

sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên khí hậu (nhiệt- ẩm) & tài nguyên nước Vì vậy,việc thay đổi cơ cấu cây trồng, cơ cấu mùa vụ có ý nghĩa rất quan trọng trong việc

sử dụng hợp lý tài nguyên đất Riêng đối với đất phèn ở Đồng bằng sông CửuLong, việc sử dụng đất gặp nhiều khó khăn, cần nhiều nước ngọt khi cải tạo, trongkhi đó vào mùa khô rất thiếu nước ngọt; biện pháp tốt nhất có thể là lên liếp (luống)cao để trồng các loại cây trồng cạn (mía, rứa, rau), cây ăn quả

f Tài nguyên sinh vật

• Về thành phần loài Giới sinh vật nước ta rất phong phú, mặt khác do nằm

ở nơi gặp gỡ của các luồng di cư thực-động vật, cho nên chúng ta có cả các loài bản

Trang 35

địa và loài di cư Các loài di cư chủ yếu là: Luồng Hymalaya mang yếu tố ôn đới từ

Vân Nam-Quý Châu-Hymalaya xuống Phân bố nhiều ở Tây Bắc kéo dọc dảiTrường Sơn đến vĩ độ 100B (cực Nam Trung Bộ) Luồng Hoa Nam chịu ảnh hưởng

mạnh của gió mùa Đông Bắc, đem đến nhiều loài thực vật đặc sắc vùng Đông Bắc

Luồng Ấn Độ-Mianma từ P.Tây sang, mang đến các loài cây lá rụng trong mùa

khô Phân bố ở những vùng có gió fơn khô nóng ở Tây Bắc và Trung Bộ Luồng

Malaixia-Inđônêxia từ phía Nam lên mang theo cây họ dầu, phân bố đến vĩ độ 180B(đặc trưng nhất là Tây Nguyên và Nam Bộ)

• Về các kiểu hệ sinh thái Trên bề mặt đất nổi cảnh quan rừng bao phủ với

15 kiểu hệ sinh thái Nếu xếp theo độ cao địa hình được chia làm 2 nhóm: Nhóm hệsinh thái thực vật nhiệt đới núi thấp, phân bố ở độ cao 600 - 700m (miền Bắc) và

900 - 1000m (ở miền Nam); và nhóm hệ sinh thái thực vật á nhiệt đới và ôn đới

trên núi (phân bố ở độ cao từ 600 - 700m đến 1600 - 1700m) Các nhóm hệ sinh

thái và kiểu rừng:

- Nhóm hệ sinh thái rừng rậm nhiệt đới có các kiểu rừng chính sau.

+ Kiểu rừng nhiệt đới ẩm gió mùa thường xanh: Rừng có nhiều tầng (có 3

tầng gỗ) Là loại rừng có trữ lượng gỗ lớn nhất nước ta (200 - 300 m3/ha) Phân bốdọc P.Đông Trường Sơn nơi có nhiệt độ TB > 200C, không có tháng lạnh < 180C,lượng mưa > 2.000 mm/năm, mùa khô không quá 3 tháng Các loại gỗ chủ yếuthuộc cây họ Dầu Từ vĩ độ 160B trở ra là các loài (lim, táu, chò chỉ, chò xanh, chònâu); từ vĩ độ 160B trở vào là các loài (sao, gụ, kiền kiền )

+ Kiểu rừng rậm nhiệt đới gió mùa nửa rụng lá Phát triển trong điều kiện có

mùa đông lạnh (< 180C), phổ biến ở miền Bắc & các vùng có mùa khô rõ rệt nhưTây Nguyên, Đông Nam Bộ Rừng có nhiều tầng tán (ngoài các cây thường xanh,

có 25% số cá thể rụng lá như sến cát, dầu lông, xoan, săng lẻ Trữ lượng gỗ ~ 120

-150 m3/ha

+ Kiểu rừng rậm nhiệt đới gió mùa rụng lá Phát triển trong điều kiện lượng

mưa ít (1.000-1.500 mm/năm), mùa khô kéo dài 4- 5 tháng Phân bố chủ yếu ở TâyNguyên, Nam Trung Bộ và Nam Bộ Rừng có kết cấu đơn giản (1 - 2 tầng cây gỗ);

về mùa khô khoảng trên 75% số cây rụng lá, trơ cành Các loại cây thường gặp làloài cây họ dầu (dầu lông, dầu trà ben,dầu chai, sến cát), các cây họ đậu có (săng lẻ,lim sẹt, sau sau) Trữ lượng gỗ thấp khoảng 60 - 70 m3/ha

- Nhóm hệ sinh thái rừng thưa nhiệt đới và xavan với các kiểu rừng:

Trang 36

+ Kiểu rừng thưa nhiệt đới khô lá rộng Chỉ gặp ở những vùng khô, lượng

mưa ít (Ninh Thuận, Bình Thuận và Mường Xén - Nghệ An) Rừng chỉ có mộttầng, chủ yếu là cây họ dầu (dầu lông, dầu trà ben)

+ Kiểu rừng nhiệt đới khô lá kim, chủ yếu là rừng thông phát triển trên đất

trơ sỏi đá (Quảng Ninh, Lâm Đồng)

+ Kiểu xavan nhiệt đới khô (trảng cỏ) Phát triển trên các vùng khô cằn ở cực

Nam Trung Bộ Thảm thực vật chủ yếu là cỏ, cây bụi mọc rải rác

+ Kiểu truông nhiệt đới khô ở vùng khô cằn Ninh Thuận, Bình Thuận,

+ Kiểu rừng nhiệt đới gió mùa trên đất mặn (rừng ngập mặn) Phân bố ở các

cửa sông ven biển Nước ta có 4 khu vực (Đông Bắc Quảng Ninh; Đồng bằng sôngHồng; Duyên hải miền Trung; và Nam Bộ (từ Nam Vũng Tàu trở vào) Ở phía bắcchủ yếu là sú, vẹt, phát triển chậm do có mùa đông lạnh, lớp bùn mỏng Ở phía namchủ yếu là đước, đâng, chà là, giá; Vùng nước lợ có bần, dừa nước mọc xen ô rô,

do điều kiện khí hậu thuận lợi nên rừng phát triển rất mạnh

+ Kiểu rừng nhiệt đới gió mùa trên đất phèn Phát triển chủ yếu trên đất

phèn và đất than bùn tập trung ở U Minh, cây tràm là tiêu biểu nhất Đây cũng lànơi cho các loài chim di trú, tạo thành những sân chim nổi tiếng, còn gọi là hệ sinh

thái “Tràm - Chim” rất nổi tiếng ở nước ta.

+ Kiểu rừng cận nhiệt đới (ở độ cao 600 - 700 m đến 1.600 - 1.700 m, trong

điều kiện khí hậu lạnh-ẩm hơn, thường gặp kiểu rừng cận nhiệt hỗn giao (dẻ, re, hồđào mọc xen kẽ với cây lá kim như samu, pơmu, thông nàng, thông ba lá, du sam)

+ Kiểu rừng lùn đỉnh núi cao chỉ có ở độ cao > 2.600m (miền Bắc).

• Nguồn tài nguyên thực - động vật: Thực vật có 14.624 loài thuộc ~ 300 họ.

Về cây trồng > 200 loài Động vật (cả trên cạn và dưới nước) có 11.217 loài và

phân loài Trong đó, 1.009 loài và phân loài chim; 265 loài thú; 439 loài bò sát

Trang 37

lưỡng cư; 2.000 loài cá biển; trên 200 loài cá nước ngọt; hàng ngàn loài tôm, cua,

nhuyễn thể khác Trong rừng Có rất nhiều loài gỗ cứng như (đinh, lim, sến, táu,

nghiến, sao, chò chỉ, kiền kiền) Có nhiều loài gỗ đẹp, được dùng để đóng đồ trangtrí nội thất như (lát hoa, trai, mun, gụ, huỳnh đường, cẩm lai, giáng hương ) Trữlượng rừng tự nhiên 657 triệu m3, 60 loài tre nứa (5,5 tỉ cây), 1.300 loại cây thuốc

• Sự suy giảm tài nguyên sinh vật

- Diện tích rừng: năm 1943, cả nước còn 14,3 triệu ha rừng tự nhiên (trong

đó ~ 10,0 triệu ha là rừng giàu), đất trống đồi núi trọc 2,0 - 3,0 triệu ha Năm 1993,đất lâm nghiệp là 20,0 triệu ha; trong đó, rừng tự nhiên ~ 8,6 triệu ha (43,1% diệntích đất lâm nghiệp), đất trống đồi núi trọc ~ 13,0 triệu ha Năm 1999, diện tíchrừng đã tăng lên 9,3 triệu ha, nhưng đất trống đồi núi trọc vẫn còn ~ 12,6 triệu ha,rừng giàu còn ~ 61,3 vạn ha tập trung chủ yếu ở trên những vùng núi cao hiểm trởkhó khăn trong khai thác Đến năm 2005, đất lâm nghiệp có rừng 12,4 triệu ha(37,7% diện tích đất tự nhiên phần đất liền) Trong đó, rừng tự nhiên 9,53 triệu ha,rừng trồng 2,89 triệu ha, (diện tích rừng lớn nhất là Mièn núi và trung du Bắc Bộ4,36 triệu ha (35,11% rừng cả nước), tiếp đến là Tây Nguyên 2,99 triệu ha(24,12%)

- Độ che phủ rừng: Năm 1943 tỉ lệ che phủ rừng là là 67%, thì đến 1993

giảm xuống còn 29%, tương đương với 12,6 triệu ha rừng bị mất (ở miền Bắc giảm8,0 triệu ha, và ở miền Nam giảm 4,6 triệu ha) Lớp phủ rừng bị hủy hoại mạnhnhất ở Miền núi – trung du phía Bắc (1993 độ che phủ chỉ còn 17%), năm 2005 độche phủ rừng của cả nước đã tăng lên 37,7%, nhưng vẫn còn là quá ít so với mộtquốc gia 3/4 diện tích là đồi núi

Bảng 1.10 Biến đổi diện tích rừng và độ che phủ qua các năm từ

1943 - 2005

Năm Rừng tự nhiên

(1000 ha)

Rừng trồng(1000 ha)

Tổng diện tíchrừng (1000 ha)

Độ che phủ(%)

Trang 38

- Chất lượng rừng, sau nhiều năm khai thác, hiện tại rừng nghèo chiếm tỉ

trọng lớn Ví dụ, năm 2002 trong tổng số 5,18 triệu ha rừng thường xanh, thì rừnggiàu còn ~ 0,56 triệu ha (11%), rừng trung bình 1,72 triệu ha (33%), còn lại là rừngnghèo ~ 2,9 triệu ha (56%) Nếu tiếp tục khai thác thì rừng trung bình còn giảmchất lượng hơn nữa

- Môi trường sống của các loài động vật cũng bị thu hẹp, nguy cơ tuyệt

chủng của một số loài quí hiếm có nguy cơ tăng cao Không chỉ trên đất liền, mànguồn tài nguyên sinh vật ở dưới nước cũng bị giảm sút rõ rệt; nguồn lợi cá nổi (cátrích, cá nục, cá lầm, ) ở ven vịnh Bắc Bộ đã có chiều hướng giảm dần; nhiều loài

có nguy cơ tuyệt chủng như cá mòi, cá cháy , nhiều loài đang giảm mức độ tậptrung như cá chim, cá gúng, cá hồng, đây là hậu quả của sự khai thác quá mức vàtình trạng ô nhiễm môi trường nước, nhất là vùng cửa sông, ven biển

Bảng 1.12 Sự suy giảm tài nguyên sinh vật

Thựcvật

Động vật

Thú Chim Bò sát,

lưỡng cư

Cánướcngọt

Cánướcmặn

Trang 39

Số loài quí hiếm

có nguy cơ tuyệt

chủng

(100) (62) (29)

* Nguyên nhân làm suy thoái rừng Do mở rộng diện tích đất canh tác; ở

miền Bắc để trồng lương thực tự túc tự cấp cùng tình trạng du canh du cư của đồngbào dân tộc; ở miền Nam (Tây Nguyên) phá rừng để trồng cây công nghiệp Dokhai thác gỗ cho nhu cầu công nghiệp, dân dụng, xuất khẩu (khai thác quá mức,khai thác lậu ở các khu rừng cấm) Do chặt phá rừng lấy củi (hàng năm đã khai thác

~ 30 triệu ste củi) Do du canh, du cư, đốt nương làm rẫy của đồng bào dân tộc Docháy rừng (nếu đốt rẫy mà không có biện pháp ngăn lửa thì diện tích rừng bị cháy

sẽ lớn gấp 10 - 20 lần diện tích cần khai hoang) Ví dụ năm 1995, diện tích rừng bịcháy 7.457 ha (Tây Nguyên 2.344 ha, Duyên hải Nam Trung Bộ 1.748 ha, Đồngbằng sông Cửu Long 2.072 ha) Riêng ở Tây Nguyên cháy rừng còn liên quan đếnviệc di dân tự do phá rừng lấy đất trồng cây công nghiệp Ngoài ra, còn có cácnguyên nhân khác

▪ Vấn đề đặt ra trong việc bảo vệ và sử dụng hợp lý tài nguyên sinh vật

- Bảo vệ tài nguyên rừng: Dựa trên Luật bảo vệ và phát triển vốn rừng đã

được Hội đồng Nhà nước công bố ngày 19/08/1991 và Ngày 22/12/2003, Chínhphủ công bố Luật bảo vệ và phát triển vốn rừng (sửa đổi) - Quốc hội khóa X thôngqua Nội dung Luật qui định các điều luật về quản lý, bảo vệ, phát triển và sử dụngrừng; quyền và nghĩa vụ của chủ rừng; chức năng, nhiệm vụ của kiểm lâm, giảiquyết tranh chấp và vi phạm về rừng

- Trong quản lý, bảo vệ, phát triển và khai thác rừng tập trung vào 3 loại rừng: Đối với rừng phòng hộ: có kế hoạch, biện pháp bảo vệ nuôi dưỡng rừng hiện

có, trồng rừng trên vùng đất trống, đồi núi trọc Đối với rừng đặc dụng: bảo vệ

cảnh quan, đa dạng sinh học của các vườn quốc gia, khu dự trữ thiên nhiên về rừng

và khu bảo tồn các loài Đối với rừng sản xuất: đảm bảo duy trì phát triển diện tích

và chất lượng rừng Nhiệm vụ đến 2010, trồng được 5,0 triệu ha rừng

- Biện pháp bảo vệ đa dạng sinh học: Xây dựng và mở rộng hệ thống vườn

quốc gia và các khu bảo tồn thiên nhiên Bảo vệ nguồn gien động-thực vật quí hiếmkhỏi nguy cơ tuyệt Qui định về khai thác: cấm khai thác gỗ quí, khai thác trongrừng cấm, rừng non, gây cháy rừng, cấm săn bắn động vật trái phép, cấm dùng chất

nổ đánh bắt cá và các dụng cụ bắt cá con, cá bột, cấm gây hại cho môi trường nước

Trang 40

● Đặc điểm

Nước ta có lịch sử hình thành lãnh thổ lâu dài và phức tạp cùng các chu kỳvận động tạo sơn lớn diễn ra trong lịch sử địa chất Các chu kỳ vận động tạo sơnlớn diễn ra trong đại Cổ sinh (Calêđôni, Hecxini), đại Trung sinh (Inđôxini,Kimêri) với các pha trầm tích, phun trào mácma Những vận động uốn nếp, vònhàu, các đứt gãy sâu tạo nên các mỏ nội sinh; còn quá trình phong hóa lâu dài, sựphân hủy khoáng từ các mỏ thân quặng và trầm tích đã tạo nên các mỏ ngoại sinh.Các mỏ khoáng sản nước ta gắn với các thời kỳ tạo khoáng trong đại Cổ sinh vàTrung sinh Nhưng đến đại Tân sinh, vận động Tân kiến tạo lại làm cho địa hìnhnước ta trẻ lại, các bán bình nguyên cổ được nâng lên mạnh và bị cắt xẻ dữ dội Vìvậy, phần lớn các mỏ của nước ta (đặc biệt kim loại) khai thác không mấy thuậnlợi, nhưng trong đại Tân sinh đã hình thành các mỏ có giá trị như dầu khí, than nâu

Để đánh giá chính xác tài nguyên khoáng sản nước ta giàu hay nghèo Các nhànghiên cứu đã đánh giá, so sánh với nhiều nước trên thế giới & khu vực; cũng nhưyêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, và trình độ kĩ thuật công nghệ hiện tại, cho

phép nhận định rằng: “Tài nguyên khoáng sản nước ta phong phú về thể loại,

nhưng phức tạp về cấu trúc, hạn chế khả năng sử dụng, và tiềm năng”.

Về thể loại Đã phát hiện trên 3.500 mỏ và điểm quặng của trên 80 loại

khoáng sản khác nhau (mới khai thác 300 mỏ của 30 loại khoáng sản) Về trữ

lượng, phần lớn các mỏ có trữ lượng trung bình và nhỏ, mang ý nghĩa địa phương.

Tuy nhiên, chúng ta cũng có một số loại tài nguyên có trữ lượng và chất lượng tốt

là cơ sở để phát triển một số ngành công nghiệp trọng điểm Về phân bố, tập trung

chủ yếu ở Miền núi trung du, cao nguyên nơi mà cơ sở hạ tầng còn yếu kém, giaothông vận tải cùng các dịch vụ, sinh hoạt còn gặp nhiều khó khăn, nên rất khó khăntrong việc thiết kế khai thác công nghiệp, gây trở ngại cho công tác quản lý tàinguyên khoáng sản

Bảng 1.13 Trữ lượng một số khoáng sản đã được tìm kiếm, thămdò

Khoáng sản Đơn vị Trữ lượng tìm

kiếm + thăm dò

Tổng trữ lượng (dựbáo + tìm kiếm thăm

Ngày đăng: 13/08/2013, 11:18

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.3. Các điểm chuẩn để tính đường cơ sở bao gồm 10 đoạn thẳng nối từ điểm - Địa lý kinh tế   xã hội việt nam (các nguồn lực)
Bảng 1.3. Các điểm chuẩn để tính đường cơ sở bao gồm 10 đoạn thẳng nối từ điểm (Trang 5)
Bảng 1.4. Bảng Niên biểu địa chất - Địa lý kinh tế   xã hội việt nam (các nguồn lực)
Bảng 1.4. Bảng Niên biểu địa chất (Trang 11)
Bảng 1.5. Một số đặc trưng của các miền và các vùng khí hậu. - Địa lý kinh tế   xã hội việt nam (các nguồn lực)
Bảng 1.5. Một số đặc trưng của các miền và các vùng khí hậu (Trang 21)
Bảng 1.7. Phân bố nước trên mặt. - Địa lý kinh tế   xã hội việt nam (các nguồn lực)
Bảng 1.7. Phân bố nước trên mặt (Trang 26)
Bảng 1.8. Hiện trạng sử dụng đất phân theo  vùng tại thời điểm 01/01/2006 (đơn vị:1000 ha) - Địa lý kinh tế   xã hội việt nam (các nguồn lực)
Bảng 1.8. Hiện trạng sử dụng đất phân theo vùng tại thời điểm 01/01/2006 (đơn vị:1000 ha) (Trang 32)
Bảng 1.11. Sự biến động diện tích rừng các loại qua các năm (ngàn ha) - Địa lý kinh tế   xã hội việt nam (các nguồn lực)
Bảng 1.11. Sự biến động diện tích rừng các loại qua các năm (ngàn ha) (Trang 37)
Bảng 2.3.  Dân số Việt Nam qua các năm (triệu người) - Địa lý kinh tế   xã hội việt nam (các nguồn lực)
Bảng 2.3. Dân số Việt Nam qua các năm (triệu người) (Trang 66)
Bảng 2.4  Tỉ suất gia tăng dân số tự nhiên  trung bình qua các thời kỳ 1921-2005 (%) - Địa lý kinh tế   xã hội việt nam (các nguồn lực)
Bảng 2.4 Tỉ suất gia tăng dân số tự nhiên trung bình qua các thời kỳ 1921-2005 (%) (Trang 67)
Bảng 2.5. Tỉ suất sinh thô phân theo các vùng lãnh thổ các năm từ 1989 – 2002 ( 0 / 00 - Địa lý kinh tế   xã hội việt nam (các nguồn lực)
Bảng 2.5. Tỉ suất sinh thô phân theo các vùng lãnh thổ các năm từ 1989 – 2002 ( 0 / 00 (Trang 68)
Bảng 2.6. Tỉ suất sinh thô và tổng tỉ suất sinh các năm từ 1979 - 2002. - Địa lý kinh tế   xã hội việt nam (các nguồn lực)
Bảng 2.6. Tỉ suất sinh thô và tổng tỉ suất sinh các năm từ 1979 - 2002 (Trang 69)
Bảng 2.8. Tỉ suất tử thô của Việt Nam qua các thời kỳ ( 0 / 00 ) Trước 1945 55 - Địa lý kinh tế   xã hội việt nam (các nguồn lực)
Bảng 2.8. Tỉ suất tử thô của Việt Nam qua các thời kỳ ( 0 / 00 ) Trước 1945 55 (Trang 70)
Bảng 2.10. Tuổi thọ bình quân giữa các vùng từ năm 1989 - 2002 (ĐV: năm) - Địa lý kinh tế   xã hội việt nam (các nguồn lực)
Bảng 2.10. Tuổi thọ bình quân giữa các vùng từ năm 1989 - 2002 (ĐV: năm) (Trang 71)
Bảng 2.17. Dân số không hoạt động kinh tế của nước ta thời kỳ 1989 - 1998 - Địa lý kinh tế   xã hội việt nam (các nguồn lực)
Bảng 2.17. Dân số không hoạt động kinh tế của nước ta thời kỳ 1989 - 1998 (Trang 85)
Bảng 2.19. Tỷ lệ thất nghiệp của lực lượng lao động trong độ tuổi ở một số thành phố lớn (%) - Địa lý kinh tế   xã hội việt nam (các nguồn lực)
Bảng 2.19. Tỷ lệ thất nghiệp của lực lượng lao động trong độ tuổi ở một số thành phố lớn (%) (Trang 86)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w