1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

đảng cộng sản việt nam lãnh đạo công tác vận động quần chúng tu nam 1930 den nam 1939

123 400 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 123
Dung lượng 1,18 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Một câu hỏi đặt ra: tại sao những chính đảng khác, những tổ chức yêu nước khác cũng được sự ủng không nhỏ của quần chúng mà không thể duy trì được sức bền của phong trào quần chúng, và c

Trang 2

2

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 6

1.Lý do chọn đề tài: 6

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài 8

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu 11

4 Phạm vi nghiên cứu 12

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu 12

5.1 Luận văn được thực hiện trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác quần chúng, các văn kiện, nghị quyết về công tác vận động quần chúng nói riêng và các văn kiện, nghị quyết chỉ đạo cách mạng của Đảng nói chung trong giai đoạn từ 1930- 1939 12

5.2 Đề tài thuộc vấn đề lịch sử nên phương pháp nghiên cứu chủ yếu là các

phương pháp nghiên cứu của khoa học lịch sử và lôgic Ngoài ra luận văn còn phối hợp sử dụng các cách tiếp cận khác của khoa học chính trị, phương pháp phân tích, đồng đại, lịch đại, tổng hợp, so sánh, khái quát, rút ra kết luận để làm rõ hơn hai phương pháp trên 12

6 Kết cấu luận văn 12

Chương 1: Công tác vận động quần chúng của Đảng những năm 1930-1935 13

1.1 Bối cảnh lịch sử và các vấn đề đặt ra đối với công tác quần chúng của Đảng 13

1.2 Công tác vận động quần chúng của Đảng những năm 1930- 1931 13

1.3 Công tác vận động quần chúng của Đảng những năm 1932- 1935 13

Chương 2: Công tác vận động quần chúng của Đảng những năm 1936-1939 13

Trang 3

3

2.1 Chủ trương của Đảng về công tác vận động quần chúng trong tình hình mới

13

2.2 Quá trình tổ chức thực hiện công tác quần chúng giai đọan 1936-1939 13

Chương 3: Ý nghĩa và kinh nghiệm 13

3.1 Ý nghĩa 13

3.2 Một số kinh nghiệm 13

Chương 1 14

CÔNG TÁC VẬN ĐỘNG QUẦN CHÚNG CỦA ĐẢNG NHỮNG NĂM 1930-1935 14

1.1 Bối cảnh lịch sử và các vấn đề đặt ra đối với công tác quần chúng của Đảng 14

1.1.1 Khái niệm quần chúng 14

1.1.2 Khái lược về vai trò quần chúng nhân dân trong phong trào cách mạng dân tộc dân chủ ở nước ta từ 1858 đến trước khi thành lập Đảng (3/2/1930) 14

1.1.3.Những cơ sở lý luận và thực tiễn cho sự hình thành đường lối vận động quần chúng của Đảng khi mới thành lập 25

1 2 Công tác vận động quần chúng của Đảng những năm 1930- 1931 31

1 2 1 Đường lối vận động quần chúng của Đảng Cộng sản Việt Nam 31

1.2.2 Qúa trình lãnh đạo và tổ chức quần chúng đấu tranh giai đoạn cao trào cách mạng 1930- 1931 34

1 2 3 Những chủ trương vận động quần chúng của Đảng Cộng sản Đông Dương từ Hội nghị Trung ương Đảng tháng 10 năm 1930: 39

Trang 4

4

1.2 4 Phong trào cách mạng 1930 – 1931 từ sau Hội nghị Trung ương tháng 10

1930 41

1 3 Công tác vận động quần chúng của Đảng những năm 1932- 1935 48

1.3.1Đấu tranh trong các nhà tù thực dân 49

1.3.2 Cuộc đấu tranh để giữ gìn cơ sở, khôi phục tổ chức và phong trào cách mạng của Đảng Cộng sản Đông Dương 52

Chương 2 58

CÔNG TÁC VẬN ĐỘNG QUẦN CHÚNG CỦA ĐẢNG 58

NHỮNG NĂM 1936-1939 58

2.1 Chủ trương của Đảng về công tác vận động quần chúng trong tình hình mới 58

2.1.1 Bối cảnh quốc tế và trong nước 58

2.1.2 Nội dung chuyển hướng chỉ đạo chiến lược cách mạng của Đảng 62

2.1.3 Nội dung chuyển hướng chỉ đạo công tác vận động quần chúng của Đảng 63

2.2 Quá trình tổ chức thực hiện công tác quần chúng giai đoạn 1936- 1939 71

Chương 3 97

Ý NGHĨA VÀ KINH NGHIỆM 97

3.1 Ý nghĩa 97

3.1.1 Cao trào 1930 - 1931 97

3.1.2 Giai đoạn 1932- 1935 99

3.1.3 Giai đoạn 1936- 1939 101

3.2 Một số kinh nghiệm 103

Trang 5

5

3.2.1 Từ quá trình lãnh đạo cách mạng nói chung và quá trình vận động quần chúng nói riêng của Đảng trong giai đoạn 1930- 1931, chúng ta có thể rút ra một số kinh nghiệm như sau: 103 3.2.2 Giai đoạn Đảng Cộng sản Đông Dương lãnh đạo quần chúng đấu tranh

để phục hồi lực lượng sau khủng bố trắng của Thực dân Pháp để lại nhiều kinh nghiệm sâu sắc trong đấu tranh cách mạng vận động quần chúng: 107 3.2.3 Qua thời kỳ Mặt trận Dân chủ 1936- 1939 có thể ghi nhận nhiều kinh nghiệm về công tác vận động quần chúng 108 KẾT LUẬN 115 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 120

Trang 6

Việt Nam là một quốc gia có vị trí địa lý chiến lược quan trọng nên ngay từ thuở bình minh của lịch sử nhân dân ta đã liên tiếp phải đương đầu với nhiều thế lực ngoại xâm lớn mạnh hơn mình rất nhiều lần Để giữ vững được độc lập cho đất nước và chủ quyền cho dân tộc,` cách duy nhất là phải củng cố khối đoàn kết toàn dân, huy động toàn thể nhân dân tham gia vào sự nghiệp dựng nước và giữ nước Đại Việt sử ký toàn thư có ghi việc tháng 6 năm 1300, vị tướng già Trần Quốc Tuấn ốm nặng, vua Trần ngự tới thăm, có hỏi về kế sách giữ nước nếu lại bị nước ngoài xâm lược, sau khi trình bày kinh nghiệm đánh giặc một cách rõ ràng và tỉ mỉ,

Trần Quốc Tuấn đã khẳng định: khoan thư sức dân để làm kế sâu rễ bền gốc, đó là

thượng sách giữ nước

Cũng trên lập trường thân dân, Nguyễn Trãi nhận thức rất rõ về vai trò và sức

mạnh của nhân dân Thay mặt vua Lê, trong Chiếu răn dạy Thái tử, ông viết: Mến

người có nhân là dân, mà chở thuyền và lật thuyền cũng là dân; thuyền bị lật mới tin rằng dân như nước

Những bài học kinh nghiệm của cha ông cũng như những nguyên lý của chủ nghĩa Mác – Lênin đã được vận dụng hết sức sáng tạo vào sự nghiệp cách mạng của Đảng và nhân dân ta do chủ tịch Hồ Chí Minh lãnh đạo

Tiếp thu chủ nghĩa Mác- Lênin ngay từ khi bắt đầu sáng lập ra Hội Việt Nam cách mạng thanh niên, Hồ Chí Minh đã nêu ra một nguyên lý có tính chất dẫn đường cho toàn bộ sự nghiệp giải phóng dân tộc Việt Nam, đây là nguyên nhân của

mọi thắng lợi sau này của cách mạng Việt Nam, nguyên lý này là: công nông là gốc

cách mạng

Quả thật như vậy, nhìn lại lịch sử cuộc vận động giải phóng dân tộc Việt Nam

từ khi người Pháp xâm lược cho đến Cách mạng tháng Tám năm 1945 đặc biệt là giai đoạn 1930- 1945 dưới sự lãnh đạo của Đảng chúng ta đều phát hiện ra một đặc điểm nổi trội, một sự khác biệt giữa phong trào giải phóng dân tộc Việt Nam với

Trang 7

7

phong trào giải phóng dân tộc ở các nước khác trong khu vực Đông nam Á đó là sự tham gia đông đảo tích cực của quần chúng nhân dân vào sự nghiệp cứu nước chung của toàn dân tộc

Ngay từ khi thực dân Pháp đặt chân vào xâm lược nước ta, chính nhờ sự tham gia của quần chúng nhân dân vào phong trào kháng chiến đã kìm chân địch và giáng cho địch những đòn nặng nề tại Đà Nẵng, 3 tỉnh miền Tây, 3 tỉnh miền Đông Nam kỳ của những lãnh tụ như Trương Định, Nguyễn Trung Trực chính là sức mạnh của quần chúng, tấm lòng cảm khái của quần chúng đã giữ Trương Định lại

để nhận thanh kiếm Bình Tây đại nguyên soái chứ không phải là việc đi nhận chức lãnh binh ở An Giang, chính cảm khái những tấm gương chiến đấu anh dũng của quần chúng nhân dân mà Nguyễn Đình Chiểu đã viết nên những áng văn bất hủ

như Văn tế nghĩa sỹ Cần Giuộc hay Văn tế chiến sỹ trận vong lục tỉnh

Phong trào Cần Vương, do sự tham gia của đông đảo quần chúng nên Nguyễn Thiện Thuật, Phạm Bành, Đinh Công Tráng, Phan Đình Phùng mới có thể duy trì được sức bền của cuộc đấu tranh oanh liệt như ở Bãi Sậy, Ba Đình, Hương Sơn Chính sự che chở, tham gia tích cực của nhân dân đã giúp cho Hùm thiêng Yên Thế Đề Thám có thể giằng co với thực dân Pháp suốt 30 năm trời

Sang đầu thế kỷ XX, phong trào quần chúng đầu tiên đã làm nên một phong trào cách mạng có ảnh hưởng rất lớn đến tình hình trong nước, đó là phong trào biểu tình chống thuế của hàng vạn nông dân ở miền Trung, phong trào Duy Tân, Đông Kinh Nghĩa Thục Sau Chiến tranh thế giới thứ nhất, chính phong trào cách mạng của quần chúng đã làm chấn động toàn cõi Đông Dương, đặc biệt ở Việt Nam, đó

là cuộc biểu tình của quần chúng đòi xóa bản án của Phan Bội Châu, đòi để tang Phan Chu Trinh, bảo vệ nhà chí sỹ yêu nước Nguyễn An Ninh trong những năm

1925 – 1927 và phong trào đó đã tiến lên một bước mới khi nó được tiếp nhận, được dẫn đường bởi ánh sáng của của nghĩa Mác- Lê Nin do sự truyền bá của lãnh

tụ Nguyễn Ái Quốc Từ đây, phong trào công nhân, phong trào yêu nước Việt Nam

đã kết hợp chặt chẽ với chủ nghĩa Mác- Lê Nin, thúc đẩy phong trào cách mạng Việt Nam phát triển ngày một mạnh mẽ hơn, kết quả của nó, một mặt là sự ra đời của Đảng vào đầu năm 1930, mặt khác là cao trào cách mạng 1930-1931 đỉnh cao

là Xô viết Nghệ Tĩnh Trải qua một thời kỳ khó khăn đến những năm 1936- 1939 một cao trào vận động với sự tham gia của đông đảo quần chúng đã tạo ra một cao trào cách mạng duy nhất có ở xứ thuộc địa Việt Nam chứ không có ở xứ thuộc địa khác, đó là cuộc vận động vì các quyền dân sinh dân chủ, đây là những cuộc tập dượt lần lượt từ thấp đến cao, tập dượt cho sự hồi sinh mạnh mẽ của toàn dân tộc khi thời cơ đến đó là Cách mạng tháng Tám năm 1945 Cách mạng tháng Tám diễn

Trang 8

8

ra trong một thời gian ngắn với hình thái chủ yếu là biểu tình của hàng vạn quần chúng đã làm suy sụp chính quyền địch Một câu hỏi đặt ra: tại sao những chính đảng khác, những tổ chức yêu nước khác cũng được sự ủng không nhỏ của quần chúng mà không thể duy trì được sức bền của phong trào quần chúng, và cuối cùng phong trào yêu nước của họ đã thất bại, trong khi Hồ Chí Minh và những người cộng sản đã thành công trong việc huy động được quần chúng tham gia phong trào

mà còn giác ngộ quần chúng, nhân bội sức mạnh quần chúng đi đến lật nhào ách thống trị của thực dân Pháp, của Nhật, phong kiến và tạo đà cho toàn dân tộc Việt Nam vượt qua hai cuộc trường chinh để đến thắng lợi cuối cùng Đó chính là bí quyết của Đảng với đường lối lãnh đạo sáng suốt với phương pháp cách mạng khoa học được chỉnh sửa tùy theo từng thời kỳ của thực tiễn, học được từ chính những sai lầm của mình để cuối cùng thành công trong cuộc vận động tuyên truyền, vận động tổ chức quần chúng đấu tranh Đó chính là những lý do khoa học cũng như thực tiễn, lý do lý luận cũng như học thuật để tôi chọn đề tài này làm luận văn thạc

sỹ của mình

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Công tác vận động quần chúng là một nhiệm vụ đặc biệt mang tính chiến lược

trong các phong trào cách mạng do Đảng ta lãnh đạo từ khi thành lập đến nay, đặc

biệt trong các giai đoạn cách mạng từ khi thành lập Đảng đến khi cách mạng tháng Tám thắng lợi, vì vậy, đã có nhiều công trình khoa học và tác phẩm lý luận của nhiều tác giả, bao gồm cả các nhà khoa học và các nhà lý luận, các nhà chính trị nghiên cứu về vấn đề này như:

* Nhóm công trình của các nhà lãnh đạo Đảng, Nhà Nước:

- Hồ Chí Minh: Về liên minh công nông, Nxb Sự thật, HN, 1977.Gồm một số bài viết của Hồ chí Minh về vấn đề Liên minh công nông từ năm 1924 đến năm

1969, chia làm hai phần: Phần thứ nhất: từ năm 1924 đến năm 1954; Phần thứ hai:

từ 1954 đến năm 1969, Hồ Chí Minh đặc biệt nhấn mạnh đến những cơ sở hình thành liên minh công nông, tầm quan trọng của liên minh công nông trong sự nghiệp cách mạng dân tộc, những kinh nghiệm xây dựng liên minh công nông trong các thời kỳ lịch sử…

Trang 9

9

quá trình vận động sự tham gia đông đảo quần chúng trong các thời kỳ

- Võ Nguyên Giáp (chủ biên): Tư tưởng Hồ Chí Minh và con đường cách mạng

Việt Nam, Nxb CTQG, Hà Nội, 2003 Trong nội dung “Tư tưởng Hồ Chí Minh về

chiến lược đại đoàn kết và chính sách mặt trận dân tộc thống nhất”, tác giả đã trình bày một cách cơ bản những nội dung chủ yếu trong tư tưởng Hồ Chí Minh về sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân, về chính sách Mặt trận dân tộc thống nhất và khẳng định đây là một chính sách rất quan trọng

* Nhóm công trình của các tổ chức, nhà nghiên cứu khoa học:

- Ban nghiên cứu lịch sử Đảng Trung ương: Lịch sử Đảng Cộng Sản Việt Nam

(Sơ thảo), tập 1, Nxb Sự Thật, HN.1981 Tác phẩm trình bày có cơ bản, có hệ

thống sự ra đời và phát triển Đảng Cộng sản Việt Nam trong chặng đường lãnh đạo quần chúng đấu tranh từ năm 1920 đến năm 1954 Trong đó trình bày khái quát mục tiêu, hoạt động cụ thể của công tác vận động quần chúng của Đảng ta qua các giai đoạn cụ thể như : 1930- 1931; 1936- 1939…

- Tác giả Trần Văn Giàu trong một bộ sách viết về giai cấp công nhân Việt Nam

( Giai cấp công nhân Việt Nam, tập 1 Nxb Sử học Viện Sử Học, HN 1962 ; Giai

cấp công nhân Việt Nam, tập 2 Nxb Sử học Viện Sử Học, HN 1962; Giai cấp công nhân Việt Nam, tập 3 Nxb Sử học Viện Sử Học, HN 1963; Giai cấp công nhân Việt Nam - sự hình thành và sự phát triển của nó từ giai cấp” tự mình” đến giai cấp “cho mình”, Nxb Sự Thật, HN, 1958) đã cung cấp bức tranh sinh động về

quá trình hình thành và phát triển của giai cấp công nhân Việt Nam từ lúc mới hình thành, phát triển qua các giai đoạn lịch sử, những đặc trưng chủ yếu, những cống hiến to lớn của giai cấp công nhân Việt Nam đối với sự phát triển của phong trào cách mạng Việt Nam do Đảng ta lãnh đạo Đồng thời, tổng kết kinh nghiệm vận động, lãnh đạo giai cấp công nhân không chỉ đi đầu trong quá trình đấu tranh cách mạng mà còn là trụ cột cho sự đoàn kết rộng rãi của dân tộc Những cuốn sách này

là sự mở đầu tốt đẹp cho những công trình tiếp theo của những nhà khoa học Việt Nam nghiên cứu về giai cấp công nhân

- Tác giả Nguyễn Công Bình trong cuốn Mặt trận dân tộc thống nhất (Nxb

Khoa học, Hà Nội, 1963) đã nghiên cứu một cách hệ thống quá trình tập hợp lực lượng dân tộc trước khi đảng của giai cấp công nhân ra đời, các hình thức mặt trận dân tộc thống nhất qua các thời kỳ lịch sử từ khi Đảng thành lập, thời kỳ vận động cách mạng tháng Tám, kháng chiến chống Pháp, xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Miền Bắc sau năm 1954, kháng chiến chống Mỹ

- Uỷ Ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Lịch sử Mặt trận dân tộc

thống nhất Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006, 2007 Gồm ba quyển,

Trang 10

- Ngoài ra còn nhiều bài viết của nhiều tác giả về công tác vận động quần chúng của Đảng trên các báo và tạp chí như:

+ Lê Mậu Hãn: Hồ Chí Minh hoàn thiện về đường lối chính trị và tổ chức cho

sự ra đời của Mặt trận dân tộc thống nhất ở Việt Nam, Nghiên cứu lịch sử, số 2,

1992 Tác giả đã trình bày một cách xác đáng những đánh giá của mình về quá trình Hồ Chí Minh cũng như Đảng ta khẳng định và hoàn thiện về đường lối chính trị và tổ chức cho sự ra đời của Mặt trận dân tộc thống nhất cho cách mạng Việt Nam Tiến trình này, theo tác giả, việc xây dựng Mặt trận dân tộc thống nhất được khởi nguồn từ năm 1930 và được hoàn thiện về chính trị và tổ chức vào năm 1941

+ Lê Mậu Hãn: Chủ nghĩa dân tộc truyền thống và tư tưởng độc lập tự do -

động lực, mục tiêu đại đoàn kết, đại thành công của cách mạng Việt Nam, Nghiên

cứu lịch sử, số 6, 1995 Tác giả khẳng định độc lập tự do là tư tưởng cách mạng vĩ

đại của Hồ Chí Minh có bệ đỡ của chủ nghĩa dân tộc truyền thống, phản ánh khát vọng của hiện tại và rọi sáng cả tương lai của dân tộc, chính là chìa khoá vạn năng, điểm hội tụ thắng lợi của chiến lược “đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết; thành công, thành công, đại thành công.” Nội dung và hình thức tổ chức tập hợp lực lượng trong chiến lược đại đoàn kết của Đảng và Hồ Chí Minh được thực hiện phong phú qua các thời kỳ cách mạng của nhân dân Việt Nam

+ Phạm Hồng Tung: Lịch sử cuộc vận động vì các quyền dân sinh, dân chủ ở

Việt Nam(1936- 1939), Nxb CTQG, HN, 2008 Với nguồn tư liệu phong phú từ

các tài liệu trong nước và nước ngoài, tác giả đã trình bày một cách ngắn gọn nhưng đầy đủ về tất cả các cuộc vận động vì các quyền dân sinh, dân chủ trong thời

kỳ 1936- 1939, đặc biệt tác giả rất chú trọng trình bày về những diễn biến cách mạng tại các vùng nông thôn Công trình mang lại cách nhìn tổng quan nhưng cũng rất rõ ràng về những thành công cũng như những hạn chế của Đảng Cộng sản Đông Dương trong công tác vận động quần chúng thời kỳ đấu tranh dân chủ công khai 1936- 1939

Trang 11

11

+ Phạm Hồng Tung: Các cuộc vận động bầu cử và tranh cử trong cuộc đấu

tranh vì các quyền dân sinh, dân chủ (1936-1939), Nghiên cứu lịch sử, số 10 (366),

2006, tr 39-46 Tác giả đã góp phần làm sáng tỏ hơn một loại hình đấu tranh cách mạng sáng tạo, linh hoạt của Đảng ta, phù hợp của với hoàn cảnh lịch sử trong thời

kỳ đấu tranh vì các quyền dân sinh, dân chủ ở Việt Nam từ 1936- 1939, loại hình “ đấu tranh nghị trường” Chính thông qua các cuộc vận động bầu cử này đã vận động được sự tham gia của hàng triệu quần chúng vào phong trào do Đảng ta lãnh đạo Uy tín chính trị của Đảng do vậy được củng cố và tăng cường thêm

+ Phạm Hồng Tung: Về quyết định chuyển hướng chỉ đạo chiến lược của Đảng

Cộng sản Đông Dương trong quá trình lãnh đạo cuộc vận động dân chủ 1936-1939

ở Việt Nam, Nghiên cứu lịch sử, số 2 (358), 2006, tr 3-14 Tác giả trình bày những

điều kiện khách quan và chủ quan cũng như quá trình chuyển hướng chỉ đạo chiến lược và sách lược của Đảng trong quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam thời kỳ 1936- 1939, từ đó làm sáng tỏ hơn vai trò lãnh đạo của Đảng, từ những thành công

và cả những hạn chế trong quá trình lãnh đạo cuộc vận động dân chủ sôi nổi, phong phú, được coi là cuộc “Tổng diễn tập lần thứ hai” cho thắng lợi của cách mạng tháng Tám năm 1945

Các tác giả nói trên dù là những nhà lãnh đạo hay những nhà khoa học đều đã cố gắng trình bày công trình của mình theo những cách thể hiện riêng biệt và để đạt được những hiệu quả ở những mức độ khác nhau Tuy nhiên, những tác phẩm của những nhà lãnh đạo thường nặng về chính trị vận động nên tính khoa học chưa thực

sự nổi bật, còn những công trình của những nhà khoa học thường chi tiết hóa trong những vấn đề nghiên cứu riêng Mặc dù đã có một số nghiên cứu đề cập ở mức độ khác nhau nhưng cho đến nay, nhìn chung, chưa có một công trình chuyên khảo nào nghiên cứu toàn diện về sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác vận động quần

chúng từ 1930 đến 1939 Trong những năm gần đây, việc công bố bộ Văn kiện

Đảng Toàn tập đã cho phép nghiên cứu đầy đủ, cụ thể hơn về vấn đề này Đây là

một thuận lợi, một chỗ dựa rất căn bản của Luận văn

Kế thừa những kết quả nghiên cứu đó, luận văn sẽ làm rõ công tác vận động quần chúng dưới sự lãnh đạo của Đảng ta với những thành công và hạn chế trong giai đoạn từ 1930 – 1939

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

* Mục đích nghiên cứu:

Hệ thống hóa, làm sáng tỏ đường lối, chủ trương và biện pháp của Đảng

Trang 12

12

trong lĩnh vực tuyên truyền, vận động, tổ chức và hướng dẫn quần chúng đấu tranh Trên cơ sở đó rút ra những nhận xét về sự thành công và chưa thành công của Đảng trong lãnh đạo, chỉ đạo thực tiễn công tác vận động quần chúng trong từng thời kỳ cách mạng cụ thể, đồng thời rút ra những bài học thiết thực cho công tác vận động quần chúng của Đảng và Nhà nước ta trong bối cảnh hiện nay của thời kỳ công nghiệp hóa hiện đại hóa

* Nhiệm vụ nghiên cứu:

Để đạt được mục đích trên, luận văn cần giải quyết các vấn đề cơ bản sau:

- Làm rõ quá trình hình thành quan điểm đường lối và phương pháp vận động quần chúng của Đảng

- Làm rõ quá trình hiện thực hóa đường lối và phương pháp đó

- Trên cơ sở đó đánh giá khách quan những thành công và hạn chế của Đảng trong lãnh đạo công tác vận động quần chúng thời kỳ này, qua đó rút ra những bài học kinh nghiệm

4 Phạm vi nghiên cứu

Đề tài giới hạn nghiên cứu trong quá trình hình thành, phát triển của chủ trương, quan điểm của Đảng về công tác vận động quần chúng và thực tiễn tổ chức thực hiện đường lối, chủ trương đó trong giai đoạn 1930- 1939

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

5.1 Luận văn được thực hiện trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin và

tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác quần chúng, các văn kiện, nghị quyết về công tác vận động quần chúng nói riêng và các văn kiện, nghị quyết chỉ đạo cách mạng của Đảng nói chung trong giai đoạn từ 1930- 1939

5.2 Đề tài thuộc vấn đề lịch sử nên phương pháp nghiên cứu chủ yếu là các

phư-ơng pháp nghiên cứu của khoa học lịch sử và lôgic Ngoài ra luận văn còn phối hợp sử dụng các cách tiếp cận khác của khoa học chính trị, phương pháp phân tích,

đồng đại, lịch đại, tổng hợp, so sánh, khái quát, rút ra kết luận để làm rõ hơn hai phương pháp trên

6 Kết cấu luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, luận văn có 3 chương, 7 tiết

Trang 13

13

Chương 1: Công tác vận động quần chúng của Đảng những năm 1930-1935

1.1 Bối cảnh lịch sử và các vấn đề đặt ra đối với công tác quần chúng của Đảng 1.2 Công tác vận động quần chúng của Đảng những năm 1930- 1931 1.3 Công tác vận động quần chúng của Đảng những năm 1932- 1935

Chương 2: Công tác vận động quần chúng của Đảng những năm 1936-1939

2.1 Chủ trương của Đảng về công tác vận động quần chúng trong tình hình mới 2.2 Quá trình tổ chức thực hiện công tác quần chúng giai đọan 1936-1939 Chương 3: Ý nghĩa và kinh nghiệm

3.1 Ý nghĩa

3.2 Một số kinh nghiệm

Trang 14

1.1 Bối cảnh lịch sử và các vấn đề đặt ra đối với công tác quần chúng của Đảng

1.1.1 Khái niệm quần chúng

Từ trước đến nay, trong cuộc sống hàng ngày và trong nghiên cứu khoa học

đã có những quan niệm khác nhau về “quần chúng” Đây là khái niệm có tính lịch

sử, thường được tiếp cận dưới góc độ triết học, xã hội học và khoa học chính trị

Trong Từ điển xã hội học giản yếu (bản tiếng Đức, Nxb Kindler Muenchen,

1977, tr.423) viết: “Quần chúng là một khái niệm xã hội học- lịch sử dùng để chỉ

bộ phận đông đảo nhất trong cộng đồng dân cư không bao gồm giai cấp thống trị và tầng lớp lãnh đạo Như vậy, tại mỗi cộng đồng dân cư và ở trong từng giai đoạn lịch sử cụ thể, quần chúng có thể bao gồm những giai cấp và tầng lớp khác nhau, nhưng nó luôn không bao gồm tầng lớp thống trị và tầng lớp lãnh đạo”

Trong bối cảnh cụ thể của xã hội Việt Nam thời Pháp thuộc, quần chúng bao gồm giai cấp công nhân, nông dân, tiểu tư sản, và tất cả những cá nhân thuộc các giai tầng không nắm quyền thống trị và lãnh đạo các tổ chức chính trị- xã hội và các phong trào tôn giáo

1.1.2 Khái lược về vai trò quần chúng nhân dân trong phong trào cách mạng dân tộc dân chủ ở nước ta từ 1858 đến trước khi thành lập Đảng (3/2/1930)

Ngay từ thuở bình minh của lịch sử, sự nghiệp dựng nước và giữ nước đã gắn liền với sự tham gia của đông đảo quần chúng nhân dân Điều này xuất phát từ đặc trưng nói chung của các dân tộc phương Đông khi dân cư phải quần tụ, đoàn kết để đương đầu với giặc ngoại xâm và làm thủy lợi Điều này được phản ánh vào

Trang 15

15

huyền thoại và truyện Thánh Gióng là một điển hình, câu chuyện phản ánh tinh thần đoàn kết của dân tộc Việt chống ngoại xâm ngay từ thuở xa xưa Hình ảnh Gióng ra trận là một chỉnh thể của sự đoàn kết của nhân dân, sự đóng góp của nhân dân nuôi Gióng khôn lớn, trang bị cho Gióng ngựa sắt, roi sắt, kể cả lũy tre, kể cả dân làng cũng xung trận tất cả nói lên tinh thần đoàn kết đấu tranh bất khuất của dân tộc

Nhìn lại lịch sử dựng nước chống ngoại xâm từ đầu đến giữa thế kỷ XIX chúng ta đều thấy rõ một chân lý, sáng rõ một sự thật lịch sử hiển nhiên: khi nào, triều đại nào, lãnh tụ nào huy động được sức dân đoàn kết một lòng thì triều đại đó đứng vững, lãnh tụ đó giành thắng lợi

Triều Trần trong thế kỷ XIII sở dĩ đã thắng được quân Nguyên đông hơn mình, mạnh hơn mình nhiều lần bởi vì đã biết dùng kế ‘‘thanh dã’’, biết tranh thủ sức dân Tâm đắc với nguyên nhân thành công của đời mình và cũng thể hiện nhãn quan chính trị sáng suốt đến cuối đời mình Trần Quốc Tuấn còn dặn lại vua Trần, nếu muốn duy trì nghiệp lớn của cha ông cần: “khoan thư sức dân để làm kế sâu rễ bền gốc, đó là thượng sách để giữ nước”

Cuối triều Trần, trong bối cảnh đất nước gặp nhiều khó khăn, Hồ Quý Ly đã thể hiện tài năng trị nước của mình với những chính sách cải cách mang một tầm nhìn vượt thời đại, tuy nhiên những cải cách của ông chưa mang lại hiệu quả thì đã vấp phải một trở ngại khách quan – sự xâm lược của nhà Minh- mặc dù đã có những sự chuẩn bị nhất định nhưng nhà Hồ vẫn không thể vượt qua được thử thách của lịch sử Nguyên nhân của thất bại này nằm ngay trong lời than của con trai Hồ Quý Ly – Hồ Nguyên Trừng : không sợ đánh, chỉ sợ lòng dân không theo Nói như

Nguyễn Trãi trong Bình Ngô đại cáo : Vừa rồi,

Nhân họ Hồ chính sự phiền hà

để trong nước lòng dân oán hận!

Không được lòng dân dẫn đến việc để mất nước là một thất bại có tính chất tất yếu Nhận thức được giá trị sâu xa của quy luật đó nên sau này Nguyễn Trãi đã tổng kết

một cách sâu sắc: dân như nước, chở thuyền cũng là dân mà lật thuyền cũng là

dân

Sang thế kỷ XVIII, nhận thấy sự phức tạp của tình hình chính trị, xã hội ở cả

hai Đàng, anh em Tây Sơn đã biết giương lá cờ lấy của nhà giàu chia cho dân

nghèo để huy động sức dân Đi đến đâu anh em Tây Sơn cũng được ủng hộ, số

người tham gia khởi nghĩa ngày một đông Chỉ trong một thời gian ngắn nghĩa quân đã giành được nhiều thắng lợi vang dội, dẹp chúa Nguyễn, đánh tan tập đoàn Trịnh – Lê, bảo vệ thành công chủ quyền dân tộc trước sự xâm lăng của giặc Xiêm,

Trang 16

và biến thành một cuộc chiến tranh nhân dân rộng khắp, sôi nổi, gây cho giặc Pháp nhiều khó khăn và tổn thất Từ Nam Kỳ ra Bắc Kỳ đi đến đâu quân Pháp cũng vấp phải tinh thần chiến đấu kiên cường của quần chúng nhân dân Nhiều tấm gương nghĩa liệt quên mình vì dân tộc, thà hy sinh chứ không chịu nhục, làm cho chính kẻ thù cũng phải khâm phục Tiêu biểu nhất là cuộc khởi nghĩa do Trương Định lãnh đạo Từ đất Gò Công, cuộc khởi nghĩa đã thu hút được nhiều nhân tài như Đỗ Quang, Đỗ Trình Thoại, Âu Dương Lân, Nguyễn Thông, Thủ khoa Huân với sự ủng hộ của đông đảo quần chúng, lực lượng nghĩa binh có lúc lên tới 1 vạn người Với lá cờ Bình Tây đại nguyên soái, cảm khái trước lòng dân yêu nước, Trương Định đã kháng lệnh triều đình không đi nhận chức Lãnh binh An Giang, tình nguyện ở lại cùng nhân dân kháng chiến Vì triều đình cố tình bỏ rơi hay tìm cách ngăn trở phá hoại, các cuộc khởi nghĩa lần lượt thất bại, nhưng phong trào yêu nước chống Pháp trong nhân dân miền Nam không bao giờ bị dập tắt bất chấp muôn vàn thủ đoạn đàn áp man rợ của quân thù, đúng như lời tuyên bố hiên ngang của Nguyễn Trung Trực trước giặc Pháp: "Bao giờ người Tây làm hết cỏ đất này thì người Nam mới hết chống Tây" Ngôi sao sáng Nguyễn Đình Chiểu với những bài thơ, văn tế, hịch tràn đầy tính nhân văn, đậm đà chính nghĩa là người tiêu biểu trong cuộc đấu tranh dùng dùng ngòi bút để đánh giặc Trong Văn tế nghĩa sỹ Cần Giuộc, Nguyễn Đình Chiểu đã khẳng định tinh thần vì nghĩa của nhân dân mà xả thân mình để chiến đấu: vốn chẳng phải quân cơ, quân vệ, theo dòng ở lính diễn binh ; chẳng qua là dân ấp, dân lân, mến nghĩa làm quân chiêu mộ

Sau sự biến ở kinh thành Huế, nhân dân cả nước đi theo hưởng ứng phong trào Cần Vương khá mạnh mẽ, đặc biệt là ở Bắc Kỳ và Trung Kỳ Tuy nhiên, do nhiều yếu tố chủ quan và khách quan, đặc biệt do lực lượng lãnh đạo đã không đưa

ra được những chính sách phù hợp, không biết tổ chức phong trào đấu tranh của đông đảo quần chúng cho tập trung, thống nhất nên phong trào Cần Vương đã thất bại

Trang 17

17

Bên cạnh phong trào Cần Vương, lúc ấy còn có hàng loạt các cuộc đấu tranh

tự phát của nông dân, họ vùng đậy với mọi thứ khí thô sơ giới có trong tay gậy tầy, giáo mác, đinh ba, dao quắm…tiêu biểu nhất là phong trào nông dân Yên Thế do Hoàng Hoa Thám lãnh đạo Tuy nhiên, do không thể tự mình tập hợp được lực lượng trong cả nước, thiếu cơ bản về năng lực lãnh đạo và tổ chức cũng như đường lối đúng đắn để chỉ đạo đấu tranh nên những phong trào nổi đạy tự động của nông dân cũng đi vào bế tắc và thất bại

Con đường cứu nước chịu ảnh hưởng của tư tưởng phong kiến cũng như những nhận thức về vai trò quần chúng và cách thức tuyên truyền, vận động, tổ chức chỉ đạo quần chúng đấu trah theo thế giới quan phong kiến đã không đáp ứng được những yêu cầu của lịch sử và dãn đến thất bại

Đầu thế kỷ XX, Việt Nam có nhiều biến chuyển quan trọng về cơ cấu kinh

tế, xã hội, trên cơ sở phức hợp những tác động của tư tưởng dân chủ tư sản từ Pháp, Nhật Bản và Trung Quốc dội vào Việt Nam với những biến chuyển trong nước nên phong trào cách mạng Việt Nam đã mang một khuynh hướng mới, khuynh hướng dân chủ tư sản Những sỹ phu phong kiến lãnh đạo như: Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh, Lương Văn Can, Nguyễn Quyền…cùng với việc phổ biến sử dụng các khái niệm mới như: tự do, dân chủ, bình đẳng, dân sinh, dân quyền, lập hiến…những nhận thức về công tác quần chúng nói chung của văn thân, sỹ phu tiến bộ đã có những chuyển biến đáng kể, các nhà lãnh đạo đã chú ý tới đông đảo, rộng rãi các tầng lớp nhân dân trong xã hội

Phong trào Đông Kinh Nghĩa Thục (1907- 1908) - Thực dân Pháp gọi là “cái lò phiến loạn ở Bắc Kỳ”- chú ý vận động duy tân kinh tế và cải cách xã hội, đả kích tư tưởng bảo thủ, chống lối học từ chương và thi cử cũ, chống tham nhũng trong đội ngũ quan lại, chống các hủ tục lạc hậu, hô hào cắt tóc ngắn, bài trừ nạn xôi thịt ở hương thôn…Cuộc vận động cách mạng hồi đầu thế kỷ XX đã bắt đầu có tính chất dân tộc và dân chủ, tuy vậy, tính chất tiến bộ đó, vì nhiều lý do khác nhau nên đã

có nhiều hạn chế Đã xuất hiện nhiều ảnh hưởng của tư tưởng dân chủ tư sản, nhưng hầu hết những sỹ phu này “vẫn nặng về cốt cách phong kiến”, chưa thể dứt

bỏ được hệ tư tưởng phong kiến, mặc dù đã mở rộng quan niệm về lực lượng quần chúng nhưng còn đặt hy vọng quá nhiều vào giai cấp phong kiến - một giai cấp đã hết vai trò lịch sử trong sự nghiệp lãnh đạo cách mạng dân tộc Tuy nhiên, thành công lớn nhất và có ý nghĩa sâu sắc là việc các nhà nho tiến bộ đã phát hiện ra chữ

dân Đây là một sự thay đổi lớn lao trong nhận thức chính trị, xã hội lúc bấy giờ

Chữ dân đã được các nhà nho tiến bộ đặt ở vị trí trung tâm Nhân dân được khai

sáng là yếu tố đầu tiên, là điều kiện tiên quyết nếu muốn thực hiện nhiệm vụ cứu

Trang 18

18

nước, giải phóng dân tộc Quan điểm tiến bộ của những nhà nho yêu nước đầu thế

kỷ XX, tiêu biểu nhất là hai cụ Phan, đã đặt viên gạch đầu tiên cho những bước tiến tiếp theo của con đường cứu nước giải phóng dân tộc mà cụ Hồ sẽ đi tiếp

Sau chiến tranh thế giới lần thứ nhất, lịch sử cách mạng Việt Nam chứng kiến những thử nghiệm mới của những con đường cách mạng khác nhau, mang nhiều sắc thái, quan điểm chính trị khác nhau, cũng chính vì vậy mà công tác vận động quần chúng những năm sau Chiến tranh thế giới thứ nhất cũng có những nét đặc trưng so với các thời kỳ trước

Một loạt các hoạt động yêu nước sôi nổi của quần chúng đã diễn ra dưới nhiều hình thức phong phú như: phong trào tẩy chay tư sản Hoa kiều, giành lại thị trường buôn bán của tư sản người Việt (1919), đấu tranh chống độc quyền cảng Sài Gòn (1923), dùng báo chí để đấu tranh, thành lập Đảng Lập hiến (1923), phong trào đòi

ân xá Phan Bội Châu (1925), phong trào đấu tranh đòi để tang Phan Châu Trinh (1926), cuộc “đón tiếp” Bùi Quang Chiêu từ Pháp về, phong trào đấu tranh đòi thả nhà ái quốc Nguyễn An Ninh

Năm 1926, một tôn giáo có tính dung hợp, tương đối mới, mang tinh thần phản

kháng xã hội đã xuất hiện ở Việt Nam, đạo Cao Đài Đạo Cao Đài là tên ngắn gọn,

tên đầy đủ là Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ Sự xuất hiện này là một hệ quả của một phong trào cách mạng quốc gia phát triển trong những năm 1925- 1926 của lực lượng tư sản và địa chủ bất lực và bất mãn chống lại chính quyền thực dân Đạo Cao Đài thờ biểu tượng “một con mắt” (thiên nhỡn) và là sự pha trộn của nhiều tôn giáo, tín ngưỡng đương thời như: Thiên Chúa giáo, tục đồng bóng, đặc biệt là Phật giáo, Khổng giáo và Lão giáo Tôn chỉ đầu tiên của Cao Đài ghi rõ : “tam giáo quy nguyên, ngũ chi phục nhất” tức là về giáo lý, Cao Đài là sự kết hợp của ba tôn giáo

trên và có năm chi phái cấu thành (Minh đạo, Minh đường, Minh sư, Minh tân và

Minh thiện) Những năm 20 của thế kỷ XX, đạo Cao Đài phát triển khá mạnh, gây

một ảnh hưởng quan trọng trong đời sống chính trị - tư tưởng nhân dân Nam Bộ Đặc biệt, trong những năm từ 1926 đến 1932, “tuy không có con số thống kê chính thức nhưng số tín đồ của nó đã vượt lên con số hàng triệu Ở Bắc Kỳ, Trung Kỳ, Campuchia, tuy cũng có tín đồ Cao Đài nhưng chủ yếu vẫn tập trung ở Nam Kỳ”.{58; 120} Mặc dù vậy, những ảnh hưởng của đạo Cao Đài theo thời gian không được phát triển thêm hơn, không lôi cuốn được nhiều hơn nữa sự tham gia của quần chúng thực hiện những mục tiêu khác ngoài tôn giáo, vì nhiều lý do:

Trước hết, do sự phân liệt, tranh giành quyền lực khá sớm của đội ngũ đứng đầu

đạo Cao Đài nên không tạo cho tôn giáo này sự lôi cuốn mạnh mẽ đối với quần chúng

Trang 19

19

Thứ hai, phong trào đấu tranh dưới “vỏ bọc” tôn giáo hoặc mang màu sắc tôn

giáo trong thế kỷ XX, đã không còn đủ sức “quyến rũ” để thu hút đông đảo quần chúng tham gia thực hiện các mục tiêu dân tộc, dân chủ như các thế kỷ trước

Thứ ba, mặc dù “đạo Cao Đài có tính chất phản đế nhưng lại là một tôn giáo

hỗn hợp gồm cả ý thức tập trung thống nhất của tư sản, hình thức địa phương của địa chủ phong kiến, hình thức tiểu sản xuất của của tiểu tư sản trên nền tảng văn hoá suy đồi, không cổ, không kim, không Âu, không Á, sự lũng đoạn của đế quốc…”{58; 121} Bởi vậy, sự lan toả của tôn giáo này không tới được đa số tầng lớp nhân dân lao động bị áp bức, một bộ phận quần chúng Nam Bộ tham gia Cao Đài theo mục đích tôn giáo thuần tuý là chủ yếu, hơn là các mục đích chính trị và giải phóng dân tộc

Đạo Cao Đài ra đời đã đáp ứng được phần nào yêu cầu giải thoát và giải phóng tinh thần của một bộ phận nhân dân Nam Bộ lúc đó đang bị đời sống khổ đau thực tại dày vò Đạo Cao Đài là một tôn giáo thể hiện rõ tính dung hợp, hợp nhất và được bản thân những người sáng lập gọi là “Đại Đạo”, tôn giáo của các tôn giáo Mặc dù đạo Cao Đài phát triển khá mạnh, nhưng vẫn chỉ là một tôn giáo bản địa, có quy mô vùng, và tập trung chủ yếu ở miền Tây Nam Bộ

Tham gia vào quá trình vận động quần chúng cách mạng thời kỳ này còn phải

kể đến vai trò quan trọng của Việt Nam Quốc dân đảng Đại diện điển hình cho lực lượng trí thức Tây học tiếp nhận một luồng tư tưởng mới du nhập vào Việt Nam hồi đầu thế kỷ XX- tư tưởng dân chủ tư sản Hạt nhân ban đầu về tổ chức của Việt

Nam Quốc dân đảng là Nam Đồng Thư Xã- một nhà xuất bản do Phạm Tuấn Tài,

Phạm Tuấn Lâm lập ra Đêm Noel 1927, tại Hà Nội, Việt Nam Quốc dân đảng tuyên bố thành lập, Chủ tịch đảng là Nguyễn Thái Học Thành phần lực lượng tham gia tổ chức này gồm nhiều giai tầng khác nhau trong xã hội lúc ấy như học sinh, sinh viên, giáo viên, công chức,… ngoài ra còn có cả tầng lớp trên ở nông thôn, binh lính, sỹ quan người Việt trong quân đội Pháp

Về đường lối, ban đầu chủ trương chính trị của Việt Nam Quốc dân đảng chưa

rõ ràng, phần nhiều nghiêng biện pháp bạo động làm khuynh hướng hoạt động chủ yếu Càng về sau, ảnh hưởng của tư tưởng “Tam dân” của Tôn Trung Sơn đến Việt Nam Quốc dân đảng càng rõ nét Trong khoảng thời gian ngắn ngủi tồn tại, Việt Nam Quốc dân đảng có nhiều nỗ lực trong việc mở rộng địa bàn hoạt động, xây dựng và phát triển cơ sở đảng, tuy nhiên, ngoài một số chi bộ ở Lào, Nam kỳ, địa bàn hoạt động chính của Việt Nam Quốc dân đảng là Bắc Kỳ “Tính đến đầu năm

Trang 20

20

1929, riêng Bắc Kỳ đã có 120 chi bộ với khoảng 1.500 đảng viên, trong đó có 120 người là cai, đội và lính khố đỏ.”{35; 277] Trong chủ trương của mình, Việt Nam Quốc dân đảng định thành lập các tổ chức quần chúng như: Đoàn phụ nữ, Đoàn công nhân, Đoàn nông dân, học sinh, quân sự…đây là lực lượng cảm tình của Đảng, sẽ hỗ trợ hành động cho Đảng…Trong quá trình tồn tại, Việt Nam Quốc dân đảng có những cố gắng nhất định trong việc liên kết, phối hợp hành động với các tổ chức như Hội Việt Nam cách mạng thanh niên và Tân Việt cách mạng đảng nhưng không có kết quả

Đầu năm 1930, trong bối cảnh bị động, các yếu nhân của Việt Nam Quốc dân đảng tiến hành cuộc bạo động với chủ trương như Nguyễn Thái Học nói trước cuộc khởi nghĩa: “Âu là chết đi để thành cái gương phấn đấu cho người sau nối bước Không thành công thì cũng thành nhân”{35; 287} Xem xét những nguyên nhân dẫn đến thất bại của Việt Nam Quốc dân đảng có những yếu tố chủ quan và khách quan: Thực dân Pháp còn rất mạnh; tư tưởng dân chủ tư sản đã lỗi thời; cuộc bạo động diễn ra trong bối cảnh không thuận lợi; sự yếu đuối của tư sản Việt Nam cả về

cơ sở kinh tế và vị thế chính trị; sự yếu kém trong công tác tổ chức đảng…nhưng trong đó nổi lên một nguyên nhân quan trọng có tính chất quyết định đến sự tồn tại

và phát triển của đảng này chính là Việt Nam Quốc dân đảng không nhận được sự ủng hộ, giúp đỡ và tham gia của đông đảo quần chúng, nguyên nhân dẫn đến tình trạng này là do những nhược điểm và hạn chế từ chủ trương đường lối của Việt Nam Quốc dân đảng công tác tổ chức và vận động quần chúng:

Thứ nhất: Trong đường lối, chủ trương cũng như trong thực tiễn hoạt động của

mình Việt Nam Quốc dân đảng chưa thấy hết được vai trò to lớn của giai cấp nông dân - chiếm khoảng 90% dân số nước ta lúc ấy - đối với sự nghiệp cách mạng dân tộc, để có chủ trương, biện pháp kêu gọi, lôi kéo họ đứng về phía mình và tham gia tranh đấu, cho nên, trong suốt quá trình hoạt động của mình Việt Nam Quốc dân đảng không nhận được sự ủng hộ nhiệt tình, sự tham gia trực tiếp của đông đảo quần chúng Hoạt động của Việt Nam Quốc dân đảng quá đơn độc giữa quần chúng

Thứ hai, “Khác với các tổ chức HVNCMTN và TVCMĐ, VNQDĐ ít chú trọng

tới công tác tuyên truyền và huấn luyện đảng viên”{35; 277} Thực tiễn cách mạng đấu tranh luôn đòi hỏi mỗi đảng cách mạng phải không ngừng nâng cao giác ngộ nhiệm vụ chính trị cũng như đường lối, chủ trương của đảng tới từng đảng viên và tới đông đảo quần chúng Đây là hạn chế rất cơ bản của Việt Nam Quốc dân đảng

“Đảng không có một cơ quan ngôn luận, hoặc tài liệu, văn kiện chính thức nào để giải thích tôn chỉ mục đích của đảng và để tuyên truyền huấn luyện đảng viên Đây

Trang 21

21

cũng là một nguyên nhân khiến cho công tác phát triển đảng tiến hành tuỳ tiện, thiếu cơ sở và chuẩn mực, đồng thời gây nên tình trạng mơ hồ về lập trường chính trị của Đảng”.{35; 277}

Những hạn chế về xác định lực lượng cách mạng, những thiếu sót trong công tác tuyên truyền, giáo dục, công tác tổ chức kết nạp đảng viên của Việt Nam Quốc dân đảng …là những hạn chế cơ bản và chính nó đã giải thích cho nguyên nhân thất bại

về phía chủ quan của đảng này Đây cũng là bài học lịch sử có giá trị cho những người cộng sản không chỉ ngay trong thời điểm đó, thậm chí cả hiện nay soi vào để xét mình

Từ trong cao trào đấu tranh yêu nước sau Thế chiến thứ nhất đã dần dần xuất

hiện một tổ chức tiến bộ và cách mạng- Hội Việt Nam Cách Mạng Thanh Niên-

một tổ chức do lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc sáng lập vào năm 1925 Đây là tổ chức cách mạng mới kết hợp được chủ nghĩa Mác – Lê Nin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước Việt Nam

Trăn trở với vận mệnh của dân tộc, chứng kiến những cuộc đấu tranh cứu nước

ở dạng thử và sai của các bậc tiền bối Ngày 5- 6- 1911, người thanh niên Nguyễn

Tất Thành ra đi tìm đường cứu nước Anh đã trải qua nhiều nghề khác nhau để được đến nhiều miền khác nhau trên thế giới khảo nghiệm và học tập

Cuối năm 1917, Anh từ nước Anh trở lại Pháp Năm 1919, Anh gia nhập Đảng

Xã hội Pháp, một chính đảng tiến bộ nhất lúc đó tại Pháp Tháng 6 năm 1919, với

tên gọi Nguyễn Ái Quốc – Anh đã gửi tới Hội nghị Véc xai Bản yêu sách của nhân

dân Việt nam gồm 8 điểm đòi các quyền tự do, dân chủ cho nhân dân Việt Nam

Tháng 7 năm 1920, Người đã đọc Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về

vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa của V.Lê Nin đăng trên báo Nhân Đạo của

Đảng Xã hội Pháp, Người đã tìm thấy con đường cứu nước giải phóng dân tộc Từ đây, Người hoàn toàn tin theo Lê Nin và Quốc tế thứ ba

Tháng 12 năm 1920, tại Đại hội lần thứ XVIII của Đảng Xã hội Pháp ở thành phố Tua , Nguyễn Ái Quốc đã tán thành thành lập Đảng Cộng sản Pháp và gia nhập Quốc tế thứ ba Từ chủ nghĩa yêu nước, Người đã đến với chủ nghĩa cộng sản, Người đa tìm thấy trong đó con đường giải phóng các dân tộc bị áp bức và những người lao động trên thế giới khỏi ách nô lệ

Sau một quá trình hoạt động, học tập, rèn luyện tại Pháp, Liên Xô, tháng 11 năm

1924, Nguyễn Ái Quốc đến Quảng Châu (Trung Quốc) Tại đây, Người đã tiếp xúc với những người Việt Nam yêu nước đang hoạt động tại đây, đặc biệt với tổ chức Tâm tâm xã Người đã lựa chọn một số thanh niên tích cực trong tổ chức này và tháng 6 năm 1925 lập ra nhóm Cộng sản đoàn làm hạt nhân cho một tổ chức cách

Trang 22

22

mạng lớn hơn Tháng 6 năm 1925, Nguyễn Ái Quốc thành lập Hội Việt Nam cách mạng thanh niên Đây chưa phải là đảng cộng sản nhưng đường lối chính trị, chương trình hành động và điều lệ của Hội đã thể hiện rõ lập trường cách mạng của giai cấp công nhân Thông qua tổ chức này Nguyễn Ái Quốc muốn xúc tiến thêm một bước việc chuẩn bị về chính trị, tư tưởng và tổ chức để tiến tới thành lập một đảng cộng sản ở Việt Nam

Sau khi thành lập, Hội Việt Nam cách mạng thanh niên hướng hoạt động của mình vào một số nội dung chủ yếu như: trực tiếp đào tạo cán bộ cách mạng và gửi cốt cán ra nước ngoài học tập; xuất bản báo chí, sách vở, tài liệu cách mạng nhằm mục đích tuyên truyền đường lối chủ trương của Hội, cụ thể: ngay khi vừa thành lập Hội đã xuất bản tờ Thanh Niên làm công cụ tuyên truyền chủ yếu, năm 1927,

những bài giảng của Nguyễn Ái Quốc đã được tập hợp thành cuốn Đường cách

mệnh, cuốn sách đã chỉ ra cho nhân dân con đường và cách thức tiến tới thắng lợi

Cuốn sách khẳng định Việt Nam trước hết phải làm “dân tộc cách mạng” sau đó mới làm “giai cấp cách mạng” Cách mạng muốn giành thắng lợi phải coi “công nông là gốc” của cách mạng, còn học trò, nhà buôn, điền chủ nhỏ là bầu bạn của cách mạng…; tiến hành xây dựng tổ chức cách mạng trong cả nước

Hoạt động thành công nhất, gây được hiệu quả quan trọng nhất của Hội Việt Nam cách mạng thanh niên chính là việc phát động và thực hiện thành công phong

trào “vô sản hóa” Xuất phát từ tình hình đại bộ phận hội viên Thanh niên đều có

nguồn gốc từ các thành phần trí thức tiểu tư sản, từ cuối năm 1928 Hội Việt Nam

cách mạng thanh niên chủ trương thực hiện phong trào “vô sản hoá”, tích cực đưa

các hội viên vào các đồn điền, hầm mỏ, nhà máy, nông thôn thông qua cùng ăn, cùng ở, cùng làm để tìm hiểu trình độ giác ngộ chính trị cũng như tâm tư nguyện vọng của quần chúng, ngôn ngữ, thói quen của quần chúng, từ đó rèn luyện, học tập, nâng cao lập trường giai cấp công nhân, đồng thời trực tiếp tuyên truyền giác ngộ lý luận cách mạng và tổ chức quần chúng đấu tranh, gây dựng thêm nhiều cơ

sở trong quần chúng Phong trào bắt đầu từ Bắc Kỳ, mạnh nhất ở các tỉnh Quảng Ninh, Bắc Ninh, Nam Định, Hà Nội…phong trào lan vào miền Nam Từ phong trào của riêng Kỳ bộ Bắc Kỳ đã trở thành phong trào chung của toàn bộ Hội Việt Nam cách mạng thanh niên, không chỉ có vậy, phong trào còn lan sang cả Tân Việt cách mạng đảng và làm cho tổ chức này chịu ảnh hưởng đậm nét của tư tưởng cộng sản Nhờ vậy, phong trào công nhân và phong trào yêu nước của các tầng lớp nhân dân ngày càng phát triển rầm rộ, sôi nổi

Trang 23

23

Sang những năm 1928, 1929, phong trào tham gia Hội Việt Nam cách mạng thanh niên ngày càng mạnh mẽ, số hội viên chính thức và cảm tình đã lên đến con

số hàng nghìn Tính đến giữa năm 1929, trong cả nước đã có 1.800 hội viên, trong

đó đông nhất là ở Bắc và Trung Kỳ Thông qua việc tăng cường phát triển tổ chức,

mở rộng địa bàn hoạt động, Hội Việt Nam cách mạng thanh niên đã góp phần

truyền bá tư tưởng Mác- Lê Nin, phổ biến chủ trương, đường lối của Hội trong nhân dân, tích cực thúc đẩy phong trào cách mạng Việt Nam chuyển nhanh theo xu hướng cách mạng vô sản

Từ thực tiễn cách mạng có những biến chuyển quan trọng, những người lãnh đạo trong Kỳ bộ Bắc kỳ đã nhận thức được đòi hỏi của thực tế cách mạng cần có một Đảng Cộng sản để thay thế cho Hội Việt Nam cách mạng thanh niên nhằm tiếp tục đưa cách mạng Việt Nam tiến lên Những động thái để thành lập chính đảng Cộng sản của nhóm Thanh niên Bắc Kỳ đã không được phần còn lại trong Hội tán thành

Ngày 17-6-1929 các đại biểu ưu tú của Kỳ bộ Bắc Kỳ đã nhóm họp tại 312 Khâm Thiên (Hà Nội) tuyên bố thành lập Đông Dương cộng sản đảng Thông qua Tuyên ngôn, Điều lệ, quyết định xuất bản báo Búa Liềm làm cơ quan ngôn luận Bên cạnh công tác truyên truyền, Đảng còn tích cực xây dựng và phát triển cơ sở ở các địa phương trong cả nước Nhờ vậy, sau một thời gian ngắn, đến tháng 8 năm

1929, nhiều thành, tỉnh bộ Đông Dương Cộng sản đảng đã lần lượt ra đời ở Hà Nội, Nam Định, Thái Bình, Bắc Ninh Ngày 28 tháng 7 năm 1929, Đảng quyết định

thành lập Tổng Công hội đỏ Bắc Kỳ do Nguyễn Đức Cảnh đứng đầu Tại Nam Kỳ,

Đông Dương Cộng Sản Đảng đã cử người đến các tỉnh để xây dựng và phát triển

cơ sở đảng Bởi vậy, khi đoàn đại biểu Kỳ bộ Nam Kỳ về tới Sài Gòn thì đã xuất

hiện nhiều cơ sở của Đông Dương Cộng Sản Đảng

Trước ảnh hưởng ngày càng sâu rộng của Đông Dương Cộng Sản Đảng, Kỳ

bộ Nam Kỳ do Châu Văn Liêm phụ trách đã quyết định giải tán Hội Việt Nam cách mạng thanh niên và thành lập An Nam Cộng sản Đảng vào tháng 8 năm 1929 An

Nam Cộng sản Đảng xuất bản báo “Đỏ” và tạp chí Bônsêvic ở Hương Cảng, rồi gửi

về nước để tuyên truyền trong nhân dân

Cùng với quá trình phân hoá trong Hội Việt Nam cách mạng thanh niên dẫn

tới sự ra đời của hai đảng cộng sản, các đại biểu tiên tiến của Tân Việt Cách mạng

Trang 24

24

Đảng đã nhóm họp vào tháng 9 năm 1929 tại Sài Gòn và đã ra Tuyên đạt chính

thức tuyên bố thành lập Đông Dương Cộng sản Liên đoàn

Sự xuất hiện và tăng cường hoạt động của ba tổ chức cộng sản vào nửa sau năm 1929 đã khẳng định bước phát triển nhảy vọt của cách mạng Việt Nam, nó chứng tỏ hệ tư tưởng cộng sản đã giành được ưu thế trong phong trào dân tộc Sự

kiện đó cũng chỉ ra rằng những điều kiện để thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam đã

hoàn toàn chín muồi trong phạm vi cả nước

Mặc dù vậy, sau khi ra đời, ba tổ chức cộng sản đều tuyên bố ủng hộ Quốc tế

Cộng sản và đều tự nhận mình là đảng cách mạng chân chính Tuy nhiên, trong quá

trình tuyên truyền, vận động quần chúng, các tổ chức cộng sản không tránh khỏi

tranh giành ảnh hưởng, công kích lẫn nhau Đông Dương Cộng sản Đảng cho An

nam Cộng sản Đảng là: “hoạt đầu, giả cách mạng”; An nam Cộng sản Đảng lại

cho Đông Dương Cộng sản Đảng chưa: “thật sự là cộng sản”; “chưa thật

Bônsêvích”…Tình trạng tranh giành đó vừa gây tổn hại lớn cho bước phát triển của

phong trào cách mạng, vừa gây nên tâm lý nghi ngờ, hoang mang trong quần chúng

Ngày 27- 10- 1929, Quốc tế Cộng sản đã gửi cho những người cộng sản Đông

Dương một bức thư, yêu cầu các tổ chức cộng sản phải chấm dứt sự chia rẽ, công kích lẫn nhau, đồng thời xúc tiến việc hợp nhất thành một chính đảng cộng sản duy nhất ở Đông Dương

Đúng vào lúc khó khăn nhất, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã xuất hiện kịp thời Ngày 23-12-1929, Nguyễn Ái Quốc dưới danh nghĩa một thương nhân người Hoa

đã từ Xiêm qua Trung Quốc và đến Hồng Công để chuẩn bị triệu tập hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản thành một đảng cộng sản duy nhất ở Việt Nam

Từ ngày 6 tháng 1 đến ngày 7 – 2 – 1930, tại bán đảo Cửu Long (Hương Cảng), Hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản đã được tiến hành dưới sự chủ trì

của Nguyễn Ái Quốc Hội nghị gồm có 6 đại biểu, hai đại biểu của Đông Dương

Cộng sản Đảng (Trịnh Đình Cửu, Nguyễn Đức Cảnh) và hai đại biểu của An Nam Cộng sản Đảng (Châu Văn Liêm, Nguyễn Thiệu) và hai đại biểu ngoài nước Tại

Hội nghị, các đại biểu đã nhất trí hợp nhất Đông Dương Cộng sản Đảng và An

Nam Cộng sản Đảng thành Đảng Cộng sản Việt Nam, đồng thời thông qua Chính cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt, Chương trình tóm tắt và Điều lệ tóm tắt do

Nguyễn Ái Quốc khởi thảo Đó là Cương lĩnh và Điều lệ đầu tiên của Đảng Cộng

sản Việt Nam

Trang 25

25

Sau Hội nghị hợp nhất đảng, ngày 24- 2- 1930, theo đề nghị của Đông

Dương Cộng sản Liên đoàn Ban Chấp hành Trung ương lâm thời của Đảng Cộng sản Việt Nam đã chấp thuận kết nạp tổ chức cộng sản này vào Đảng Như vậy phải

tính đến ngày 24-2-1930, việc hợp nhất giữa ba tổ chức cộng sản thành một chính đảng cộng sản duy nhất ở Việt Nam mới được hoàn tất trên thực tế

1.1.3 Những cơ sở lý luận và thực tiễn cho sự hình thành đường lối vận động quần

chúng của Đảng khi mới thành lập

a Bối cảnh lịch sử

* Tình hình thế giới

- Ngay khi cuộc chiến tranh thế giới thứ nhất chưa kết thúc, ngay tại châu Âu

đã diễn ra một phong trào đấu tranh giai cấp và cách mạng quyết liệt Tháng 11 năm 1917, Cách mạng tháng Mười Nga bùng nổ và thắng lợi, nhà nước chuyên chính vô sản đầu tiên trên thế giới ra đời Tiếp theo đó, phong trào đấu tranh của công nhân và nhân dân lao động nhiều nước dâng lên mạnh mẽ Được cổ vũ bởi thắng lợi của Cách mạng tháng Mười Nga, đảng cộng sản đã ra đời ở nhiều nước Tây Âu, và phong trào cộng sản ngày càng trở thành một xu hướng mạnh mẽ Ngày

19 tháng 3 năm 1919, Quốc tế Cộng sản, bộ tham mưu chiến đấu của phong trào cộng sản và công nhân toàn thế giới được thành lập ở Matxcơva Phong trào khởi nghĩa phát triển mạnh mẽ ở châu Âu Trong khoảng thời gian từ 1918 tới 1923, tại nhiều vùng thuộc các nước Hungary, Đức, Áo, Thổ Nhĩ Kỳ, Ba Lan v.v giai cấp

vô sản đã giành được chính quyền và lập nên chính quyền cách mạng theo mô hình

Xô viết ở nước Nga

Lực lượng tư bản quốc tế đã cấu kết nhằm tiến hành đàn áp phong trào cách mạng trên diện rộng tại các nước tư bản đồng thời thực hiện cuộc bao vây, tấn công vào nước Nga Xô viết Cho đến khoảng cuối năm 1923, tuy nước Nga Xô viết vẫn tồn tại và năm 1922 Liên bang Xô viết (Liên Xô) ra đời, nhưng phần lớn các Xô viết và các nhà nước cách mạng khác ở châu Âu đều bị các thế lực đế quốc phản động đánh bại Từ năm 1924 đến 1929 thế giới tư bản bước vào thời kỳ khôi phục

và phát triển nhanh chóng

- Nhằm hàn gắn vết thương chiến tranh và phục hồi nền kinh tế, cùng với việc đàn áp phong trào cách mạng ở chính quốc, các nước đế quốc thực dân cũng ra sức khai thác và bóc lột các xứ thuộc địa Đặc điểm chung của chính sách khai thác thuộc địa của các nước thực dân được áp dụng ở hầu hết các xứ thuộc địa tại châu

Trang 26

26

Phi và Đông Nam Á là: một mặt tăng cường đầu tư khai thác bóc lột, biến các thuộc địa từ những nơi cung cấp nguyên vật liệu và thị trường cung cấp hàng hoá trở thành thị trường xuất khẩu công nghiệp, thậm chí trở thành thị trường xuất khẩu

tư bản, mặt khác về phương diện chính trị-xã hội vừa tăng cường đàn áp khốc liệt tất cả những phản kháng của dân chúng bản xứ, đồng thời ra sức thực hiện một cách hệ thống chính sách mị dân, nhằm lôi kéo sự hợp tác của tầng lớp "thượng

lưu" (élite) bản địa mới hình thành Kết quả là trong thời gian khoảng hai thập kỷ

sau Thế chiến II, cơ cấu kinh tế - xã hội các xứ thuộc địa ở khu vực Đông Nam Á

đã trải qua những biến chuyển hết sức sâu sắc, trong đó đặc biệt là sự ra đời và phát triển của ba giai cấp mới: giai cấp tư sản dân tộc, giai cấp tiểu tư sản và giai cấp công nhân Chính những biến chuyển kinh tế - xã hội sâu sắc này sẽ tạo ra cơ sở xã hội cho những bước phát triển nhảy vọt của phong trào chống thực dân dưới những hình thức mới, do những lực lượng xã hội mới lãnh đạo, và với cả những định hướng chính trị mới

Châu Á đã bắt đầu thức tỉnh từ sau những ảnh hưởng của cách mạng Nga

năm 1905, đặc biệt từ sau Cách mạng tháng Mười năm 1917 với sự hình thành và phát triển ngày càng mạnh mẽ của phong trào dân tộc ngày càng đi vào quỹ đạo vô sản Tháng 5 năm 1920, Đảng Cộng sản Indonesia và Đảng Cộng sản Ấn Độ được thành lập, là những đảng cộng sản đầu tiên ở châu Á Tiếp đó, tháng 7 năm 1921 Đảng Cộng sản Trung Quốc ra đời, nhanh chóng giành được sự ủng hộ của hàng chục triệu nông dân, công nhân và trí thức Trong các năm tiếp theo, ảnh hưởng của Cách mạng tháng Mười Nga và của Quốc tế Cộng sản ngày càng tăng cường trong

phong trào giải phóng dân tộc ở châu Á Bên cạnh Hội Việt Nam Cách mạng Thanh

niên do Nguyễn Ái Quốc sáng lập vào tháng 6 năm 1925, nhiều tổ chức cách mạng

có khuynh hướng cộng sản cũng xuất hiện ở một số nước Đông Nam Á khác như Philippines, Miến Điện (Myanmar), Malaysia, chuẩn bị cho sự ra đời chính đảng vô sản ở một loạt nước thuộc khu vực này trong nửa đầu những năm 30 của thế kỷ trước

Do ảnh hưởng của Cách mạng tháng Mười Nga phong trào cách mạng ở Châu Á có sự phát triển mạnh mẽ Tháng 12 năm 1926, Đảng Cộng sản Indonesia

đã phát động cuộc khởi nghĩa vũ trang quyết liệt ở Baten, Tây Sumatra Ở Trung Quốc, phong trào cách mạng do Đảng Cộng sản Trung Quốc lãnh đạo cũng phát triển mạnh mẽ ở cả khu vực thành thị và nông thôn Dưới ảnh hưởng của Cách mạng tháng Mười Nga, phong trào dân tộc chủ nghĩa do Trung Hoa Quốc dân đảng

Trang 27

27

lãnh đạo cũng phát triển mạnh mẽ dưới ngọn cờ “chủ nghĩa Tam dân mới“ Liên

minh Quốc - Cộng lần thứ nhất hình thành, nhận được sự ủng hộ của Liên Xô về nhiều phương diện Lực lượng cách mạng ngày càng lớn mạnh, nhiều đoàn quân cách mạng đã hình thành đông tới hàng vạn người, tiến hành nhiều cuộc tấn công vào các tập đoàn quân phiệt, tạo đà cho phong trào khởi nghĩa của nông dân nhiều tỉnh bùng nổ ở Hoa Bắc và Hoa Nam Tuy nhiên, sau khi Tôn Trung Sơn qua đời (1925), Tưởng Giới Thạch, một phần tử quân phiệt có xu hướng thiên hữu, trở thành thủ lĩnh của Trung Hoa Quốc dân đảng Liên minh Quốc- Cộng tại Trung Quốc ngày càng suy yếu, và tháng 7 năm 1927 Tưởng Giới Thạch phát động cuộc phản biến, tấn công tàn sát nhiều cơ sở của Đảng Cộng sản Trung Quốc ở Thượng Hải, Thiên Tân và nhiều tỉnh khác Trước tình hình đó, cán bộ cộng sản đã lãnh đạo quần chúng công nông khởi nghĩa ở nhiều nơi, nhất là ở Hồ Bắc, Hà Nam, Vũ Hán, Quảng Châu vv, lập nên chính quyền cách mạng theo mô hình Xô viết Sự kiện Công xã Quảng Châu có tiếng vang rất lớn, đặc biệt, sự kiện này có ảnh hưởng sâu sắc tới Việt Nam

Quốc tế thứ ba (1919) có ảnh hưởng to lớn đến sự phát triển của phong trào cách mạng ở các nước phương Đông Quốc tế Cộng sản thường xuyên chỉ đạo các đảng cộng sản ở các nước châu Âu, nhất là các nước có thuộc địa ở phương Đông, tăng cường kết hợp cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân các nước chính quốc, phối hợp với phong trào đấu tranh chống thực dân ở các nước thuộc địa Tại Matxcơva, Quốc tế Cộng sản lập ra nhiều uỷ ban khác nhau có trách nhiệm theo dõi, giúp đỡ về mọi mặt, kể cả việc góp ý vào việc xây dựng đường lối chiến lược

và sách lược, tổ chức và tranh đấu của các đảng cộng sản ở các thuộc địa Thông qua những phương thức như trên, Quốc tế Cộng sản thực sự có ảnh hưởng và đóng góp to lớn vào sự phát triển mạnh mẽ của phong trào cách mạng giải phóng dân tộc

ở các xứ thuộc địa và phụ thuộc ở châu Á

Trong khoảng thời gian cuối những năm 1927-1930, trong bối cảnh phát triển mạnh mẽ phong trào cách mạng ở châu Á, sự tan vỡ của liên minh Quốc - Cộng ở Trung Quốc, Đại hội lần thứ 6 của Quốc tế Cộng sản diễn ra ở Matxcơva vào mùa hè năm 1928 là một sự kiện quan trọng Dựa vào những dấu hiệu bất ổn

và suy thoái của nền kinh tế tư bản chủ nghĩa thế giới, Đại hội đã dự đoán trước một cao trào cách mạng mạnh mẽ có thể và chắc chắn sẽ bùng nổ trên toàn thế giới, nhất là ở các nước thuộc địa và phụ thuộc Vì vậy, Quốc tế Cộng sản chỉ đạo các đảng cộng sản ở các thuộc địa và nước phụ thuộc chấm dứt ngay mọi liên hệ, hợp

Trang 28

28

tác với các đảng phái quốc gia, tư sản, đồng thời phải tằng cường "bôn-sơ-vích hoá”, tức là phải tăng cường tính chất công nhân của đảng, tẩy trừ triệt để các ảnh hưởng của tư tưởng tư sản và tiểu tư sản trong đảng, thông qua đó tăng cường tính cách mạng, tính tiên phong của đảng, sẵn sàng lãnh đạo cao trào cách mạng của quần chúng

Cuối tháng 10 năm 1929 cuộc Đại khủng hoảng kinh tế thế giới bùng nổ tại

Mỹ, nhanh chóng làm sụp đổ toàn bộ hệ thống tài chính - ngân hàng - tiền tệ của thế giới tư bản Điều này đúng với những dự đoán của Quốc tế Cộng sản, ngay lập tức các đảng cộng sản ở các nước nhận được sự chỉ đạo và cổ vũ sát sao hơn từ Quốc tế Cộng sản về việc chuẩn bị cho một cao trào cách mạng mới sắp diễn ra

Như vậy, bắt đầu từ Cách mạng tháng Mười đến bước phát triển mạnh mẽ của phong trào cách mạng ở các nước thuộc địa và phụ thuộc, đặc biệt là phong trào khởi nghĩa, lập Xô viết ở Trung Quốc; chiến lược cách mạng mới của Quốc tế Cộng sản và sự bùng nổ của cuộc đại khủng hoảng kinh tế thế giới chính là những yếu tố quốc tế tác động mạnh mẽ tới sự bùng nổ của cao trào cách mạng 1930-1931

và Xô viết Nghệ Tĩnh ở Việt Nam

* Tình hình trong nước

- Kinh tế Việt Nam vốn đã bị phụ thuộc nặng nề vào kinh tế nước Pháp, nay phải gánh chịu những hậu quả khủng hoảng ở “chính quốc” lại càng suy sụp hơn chính quyền thực dân Đông Dương đã thi hành một loạt biện pháp kinh tế - tài chính Chúng rút vốn đầu tư về các ngân hàng Pháp ( năm 1930 rút 50 triệu phơrăng, 1931 rút hơn 100 triệu ); dùng tiền của ngân sách Đông Dương trợ cấp cho các công ty tư bản đang có nguy cơ phá sản Chúng tăng các thứ thuế đã có và đặt thêm nhiều thứ thuế mới v.v {35; 297} Có thể khẳng định Đông Dương nói chung và Việt Nam nói riêng là một trong những điển hình về chính sách “trút gánh nặng ” của các nước tư bản cho thuộc địa, điều này đã gây nên một hậu quả nặng nề :

+ Nông nghiệp: lúa gạo – một sản phẩm chủ yếu nhất của Việt Nam trong thời

kỳ này bị sụt giá nghiêm trọng, nếu như năm 1929 giá 1 tạ gạo là 11 đồng thì sang năm 1933 giá của nó chỉ còn khoảng 3 đồng, cho nên tình trạng nông dân bỏ ruộng hoang rất nhiều, năm 1933 diện tích bị bỏ hoang lên tới 370 000 ha

+ Công nghiệp khai khoáng cũng bị đình đốn, do vậy xuất khẩu đi các nước giảm mạnh đặc biệt là than

Trang 29

Đời sống của nông dân càng thậm tệ hơn nữa, họ phải chịu sưu cao, thuế nặng

và nạn cho vay lãi nặng Một suất sưu năm 1929 bằng khoảng 50 kg gạo, sang năm

1932 là 100kg, năm 1933 là 300kg Nông dân ở Bắc bộ có mức thu nhập khoảng 12

xu cho 6 người trong một ngày, hậu quả tất yếu là tình trạng bán vợ, đợ con lại diễn

ra như trong thời nước ta bị phong kiến Phương bắc đô hộ nghìn năm

Đời sống các giai tầng khác cũng bị điêu đứng, một số địa chủ nhỏ cũng bị sa sút, nhiều tư sản dân tộc bị phá sản, tình trạng sập tiệm, vỡ nợ cũng phổ biến ở nhiều tiểu thương, đời sống viên chức, trí thức vô cùng bấp bênh

+ Chính trị: Thực dân Pháp tiến hành liên tục các vụ bắt bớ, đàn áp nhân dân đặc biệt sau sự kiện khởi nghĩa Yên Bái (2/ 1930) của Việt Nam Quốc dân Đảng bất thành, rất nhiều chiến sỹ cách mạng và quần chúng yêu nước đã bị Hội đồng đề hình thường trực của thực dân Pháp đưa lên máy chém

“Biết bao nguy hiểm, biết bao bất hạnh do nạn khủng bố, chủ nghĩa đế quốc, chủ nghĩa tư bản, thói bạo ngược của bọn thực dân, bọn quan lại, bọn cường hào các làng xã gây ra: quần chúng không thể chịu đựng lâu hơn những bất hạnh ấy nữa, không thể đứng nhìn với một con mắt thờ ơ cảnh tượng đau buồn ấy, họ đứng lên chống áp bức ”{16;60}

Lòng căm thù của nhân dân Việt Nam đối với bọn đế quốc, thực dân ngày một sâu sắc thêm, trong khi đó sự phát triển mạnh mẽ của phong trào cách mạng Trung Quốc, Ấn Độ, của công cuộc phát triển CNXH ở Liên Xô đã có ảnh hưởng tích cực đối với cách mạng Việt Nam

Cho đến thời điểm trước khi diễn ra các cuộc vận động quần chúng cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam, lịch sử dân tộc đã ghi nhận sự xuất hiện, hoạt động, từng trải, thử nghiệm và những kết quả đạt được của những đường lối cứu nước trên những lập trường giai cấp khác nhau về việc vận động cách mạng để giải phóng dân tộc nói chung và vận động, thu hút quần chúng nói riêng trước những đòi hỏi, thách thức của lịch sử dân tộc từ khi nước nhà mất tự do độc lập vào tay thực dân Pháp Đó là con đường giải phóng dân tộc trên lập trường phong kiến dưới lá cờ Cần Vương của những văn thân , sĩ phu yêu nước điển hình là các phong trào do các lãnh tụ phong kiến như Hàm Nghi, Tôn Thất Thuyết, Phan Đình Phùng, Nguyễn Thiện Thuật, Đinh Công Tráng, Tống Duy Tân hay dưới lá cờ yêu nước

Trang 30

30

vì độc lập dân tộc của các lãnh tụ phong trào nông dân tự phát, tiêu biểu nhất là phong trào do Hoàng Hoa Thám lãnh đạo Đó là con đường giải phóng dân tộc trên lập trường dân chủ tư sản dưới sự tham gia lãnh đạo của nhiều giai tầng trong xã hội Việt Nam thuộc địa nửa phong kiến mà tiêu biểu nhất là tầng lớp sỹ phu yêu nước (Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh, Lương Văn Can, Nguyễn Quyền), là tiểu tư sản (Nguyễn An Ninh, Nguyễn Thái Học ) Sự thất bại của những con đường cứu

nước đó không những để lại cho những những người cộng sản mảnh đất hay không

gian cần thiết mà còn cả những bài học xương máu trong quá trình vận động quần

chúng cách mạng của mình, những bài học đó- đối với những người cộng sản- vẫn còn nguyên những giá trị, kinh nghiệm quý báu Đồng thời, đó còn là trách nhiệm của lịch sử phó thác, trông chờ vào những con người mới, với những đường lối cứu nước mới

b Các vấn đề đặt ra đối với công tác vận động quần chúng của Đảng

Trước những bối cảnh lịch sử trong nước và quốc tế như vậy, có thể nói rằng trách nhiệm của những người cộng sản, của giai cấp công nhân là rất lớn, những hoạt động của họ với những kết quả đạt được không chỉ ảnh hưởng đến lợi ích giai cấp mà còn tác động mạnh mẽ đến quyền lợi dân tộc Cho nên, việc xác định mục tiêu, phương hướng, cách thức cũng như việc phân tích, mổ xẻ các tính chất cac mâu thuẫn xã hội, xác định nhiệm vụ cách mạng, nhận diện lực lượng cách mạng một cách đúng đắn, đề ra chủ trương, đường lối đúng đắn cho công tác vận động quần chúng lúc này là vô cùng cần thiết Cụ thể:

Thứ nhất, cần thấy rõ tính chất xã hội Việt Nam lúc này là không còn thuần nhất như trước mà đã trở thành một xã hội thuộc địa nửa phong kiến, “mâu thuẫn

xã hội chủ yếu nhất là giữa đế quốc Pháp với dân tộc Việt Nam, nhưng mâu thuẫn sâu sắc vốn có giữa nông dân với phong kiến vẫn tồn tại.”{4; 9], từ đó để thấy được nhiệm vụ cách mạng cần giải quyết đó là: nhiệm vụ dân tộc và nhiệm vụ dân chủ,

trong đó nhiệm vụ dân tộc cần phải đặt lên hàng đầu

Thứ hai, cần nhận diện, phân tích một cách khách quan, đúng đắn thực trạng

từng giai cấp cụ thể trong xã hội thuộc địa nửa phong kiến cùng với những lợi ích

chủ yếu của nó trong mối tương quan với lợi ích dân tộc mà xác định thái độ chính

trị và khả năng cách mạng để có biện pháp, cách thức cũng như đường lối tập hợp

dân tộc một cách hợp lý, hiệu quả nhất

Thứ ba, phải đặc biệt chú ý đến giai cấp nông dân- một lực lượng cơ bản của

dân tộc, bạn đồng minh tất yếu của giai cấp công nhân, đây là điểm hạn chế mà các trào lưu đi trước chưa làm được, “muốn tập hợp dân tộc chống lại bọn cướp nước, giải quyết mâu thuẫn chủ yếu nhất của xã hội là mâu thuẫn giữa dân tộc Việt Nam

Trang 31

31

với bọn đế quốc Pháp thì không thể không đồng thời đánh vào chủ nghĩa phong kiến, không thể không chú ý giải quyết những quyền lợi bức thiết của quảng đại quần chúng nông dân.”{4;16} Tuy nhiên, giai cấp công nhân trong quá trình vận động của mình không thể bỏ qua các lực lượng dân tộc khác cũng vô cùng cần thiết trong tiến trình giải quyết các nhiệm vụ cách mạng, đó là tiểu tư sản, tư sản dân tộc, trung tiểu địa chủ có tinh thần yêu nước, có ý thức liên minh với công nhân và nông dân

Thứ tư, giai cấp công nhân cần có một tổ chức tiên phong đủ mạnh, một

chính Đảng tiên tiến với một Cương lĩnh cách mạng vạch ra một đường lối chiến lược đúng đắn, khách quan và khoa học về chỉ đạo cách mạng nói chung và vận động quần chúng nói riêng Đường lối chiến lược đó phải được xây dựng trên lập trường cách mạng của chủ nghĩa Mác- Lê nin nhưng phải phù hợp với điều kiện cụ thể của Việt Nam Trong công tác vận động quần chúng cũng như thực hiện việc xây dựng lực lượng cách mạng hay việc tiến hành nhiệm vụ đại đoàn kết dân tộc, tập hợp dân tộc trong một Mặt trận dân tộc thống nhất thì đường lối đúng đắn trong Cương lĩnh sẽ không những là chỗ dựa vững chắc, là cơ sở tồn tại mà còn là kim chỉ nam cho công tác vận động quần chúng nói riêng và các hoạt động trên nói chung trong mọi thời kỳ cách mạng

1 2 Công tác vận động quần chúng của Đảng những năm 1930- 1931

1 2 1 Đường lối vận động quần chúng của Đảng Cộng sản Việt Nam

Từ ngày 6 tháng 1 đến ngày 7 - 2 - 1930, đồng chí Nguyễn Ái Quốc - đại diện cho Quốc tế Cộng sản - với khả năng thuyết phục cảm hoá lòng người với uy tín lớn của Người, trên tinh thần xây dựng, đấu tranh phê, tự phê bình cao độ và thảo luận chân thành mọi bất đồng khó giải quyết lâu nay đã được hoà giải và thống nhất Hội nghị hợp nhất đã đạt được sự nhất trí cao với 5 nội dung cơ bản do đồng chí Nguyễn Ái Quốc nêu ra, đây chính là cơ sở, là nguyên tắc để thống nhất ba tổ chức cộng sản:

“ 1 Bỏ mọi thành kiến xung đột cũ, thành thật hợp tác để thống nhất các nhóm cộng sản Đông Dương;

2 Định tên Đảng là Đảng Cộng sản Việt Nam;

3 Thảo Chính cương và Điều lệ sơ lược của Đảng;

4 Định kế hoạch thực hiện việc thống nhất trong nước;

5 Cử một ban Trung ương lâm thời gồm 9 người, trong đó có 2 đại biểu chi

bộ cộng sản Trung Quốc ở Đông Dương” {16; 1}

Trang 32

32

Trong Chính cương vắn tắt của Đảng đã vạch rõ chủ trương làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản đánh đổ đế quốc chủ nghĩa Pháp và bọn phong kiến, làm cho nước Nam hoàn toàn độc lập, thâu hết ruộng đất của đế quốc chủ nghĩa làm của công chia cho dân cày nghèo.{16;2,3}, như vậy ngay từ đầu Cương lĩnh đã vạch ra con đường cách mạng xuyên suốt qua 2 giai đoạn tất yếu gắn liền với 2 nhiệm vụ cách mạng chủ yếu là đánh đổ đế quốc giành độc lập, đánh gục phong kiến mang lại ruộng đất cho dân cày, với các mục tiêu đó đã hướng vào quyền lợi cụ thể của không chỉ giai cấp đông đảo nhất trong

xã hội Việt Nam lúc đó (nông dân) mà còn đáp ứng được nguyện vọng của đông đảo các giai tầng yêu nước khác thực sự có tinh thần dân tộc Phương hướng này cũng đồng thời là chìa khoá cho việc giải quyết các mâu thuẫn cơ bản trong xã hội Việt Nam, đây cũng là điểm hạn chế của các trào lưu trước chưa nhận thức được Trong nội dung về công tác quần chúng, Cương lĩnh chính trị đã thể hiện được tầm nhìn tiến bộ khách quan, khoa học của mình, điều này thể hiện tính sáng tạo những luận điểm về vận động quần chúng trong đấu tranh cách mạng của chủ nghĩa Mác- Lê Nin vào hoàn cảch lịch sử cụ thể của cách mạng Việt Nam lúc bấy giờ, đồng thời rất phù hợp với truyền thống đoàn kết của dân tộc Việt

Trong Sách lược vắn tắt, sau khi khẳng định Đảng là đội tiên phong của vô sản giai cấp phải thu phục cho được đại bộ phận giai cấp mình, phải làm cho giai cấp mình lãnh đạo được dân chúng thì Nguyễn Ái Quốc đã chỉ ra rằng Đảng phải thu phục cho được đại bộ phận dân cày và phải dựa vào hạng dân cày nghèo để làm thổ địa cách mạng đánh trúc bọn bọn đại địa chủ và phong kiến{16; 4} Luận điểm này được khẳng định dựa trên hoàn cảnh cụ thể của một nước nông nghiệp lạc hậu, với tính chất xã hội đậm nét là thuộc địa nửa phong kiến, với thực trạng của hơn 90% dân số là nông dân đang ngày càng bị đế quốc phong kiến dồn vào con đường bần cùng hoá Cho nên, giai cấp vô sản và chính đảng của mình tất yếu phải dựa vào dân cày nghèo để thực hiện cách mạng Đồng thời “Đảng phải làm cho các đoàn thể thợ thuyền và dân cày (công hội, hợp tác xã) khỏi ở dưới quyền lực và ảnh hưởng của bọn tư bản quốc gia”{16; 4} Nhiệm vụ của Đảng phải lôi kéo, giải phóng các

tổ chức của cả công nhân và nông dân thoát khỏi sự dụ dỗ, lừa gạt cũng như sự hạn chế và áp bức không phải của riêng đế quốc mà Cương lĩnh đầu tiên nhấn mạnh là

“tư bản quốc gia”

Đối với các giai tầng khác trong xã hội, quan điểm của Đảng rất rõ ràng: Đảng phải hết sức liên lạc với tiểu tư sản, trí thức, trung nông, Thanh niên, Tân Việt, để kéo họ đi vào phe vô sản giai cấp Còn đối với bọn phú nông, trung, tiểu địa chủ và

tư bản An Nam mà chưa rõ mặt phản cách mạng thì phải lợi dụng, ít lâu mới làm

Trang 33

33

cho họ đứng trung lập Bộ phận nào đã ra mặt phản cách mạng (Đảng Lập hiến, v.v.) thì phải đánh đổ.{16; 4} Chỉ đạo này chẳng những phân hoá được kẻ thù, lôi kéo và tận dụng hết những lực lượng cách mạng dân tộc mà còn là một mẫu mực về

lý luận tập hợp đông đảo quần chúng tham gia liên minh công nông Đảng cũng lưu

ý về quá trình đoàn kết với các giai cấp khác trên cơ sở một nguyên tắc có tính chất bất biến “không khi nào nhượng một chút lợi ích gì của công nông mà đi vào con đường thoả hiệp ”{16; 4} và “không bao giờ Đảng lại hy sinh quyền lợi của giai cấp công nhân và nông dân cho một giai cấp nào khác”, sự cảnh giác cần thiết mang tính nguyên tắc này là bài học quý báu đã được Nguyễn Ái Quốc tiếp thu, thấm nhuần trong quá trình học tập nghiên cứu lý luận cách mạng chuẩn bị về chính trị, tư tưởng cho việc thành lập Đảng

Về mặt tổ chức quần chúng, ngay từ ngày đầu thành lập, trong Báo cáo tóm tắt

Hội nghị đề ngày 7- 2- 1930 Đảng có nhấn mạnh vấn đề tổ chức ra Mặt trận dân tộc

thống nhất nhằm đưa đông đảo quần chúng vào cuộc đấu tranh cách mạng: Đưa vào công hội và nông hội những người không thể kết nạp vào Đảng Đưa những người ở các tầng lớp khác, trí thức, tiểu tư sản, v.v vào tổ chức phản đế Đối với Thanh Niên: phái đồng chí vào Nam kỳ để lãnh đạo Thanh Niên và đưa họ vào tổ chức phản đế Đối với Tân Việt: không nên giải tán Tân Việt, đưa họ vào tổ chức phản đế, kết nạp những người ưu tú vào Đảng đối với Quốc Dân đảng: phải tranh thủ lực lượng của họ, tổ chức các đảng viên của họ vào Hội phản đế Đảng chỉ định một đồng chí chịu trách nhiệm họp đại biểu tất cả các đảng phái như Tân Việt, Thanh Niên, Quốc dân Đảng, Đảng Nguyễn An Ninh, v.v để thành lập mặt trận phản đế mà về sau cá nhân hoặc tổ chức đều có thể gia nhập.{16; 12, 13.} Đây là quan điểm chỉ đạo đầu tiên của Đảng về vấn đề xây dựng Mặt trận dân tộc thống nhất phản đế, nhìn tổng quát chỉ đạo này thể hiện ý thức đại đoàn kết dân tộc mà nòng cốt là liên minh công nông và “bầu bạn cách mệnh” tức là các giai tầng khác

có tinh thần yêu nước, có ý thức dân tộc

Có thể khẳng định rằng, những chủ trương trên được thể hiện trong Cương lĩnh chính trị đã phát huy được giá trị tinh tuý những lý luận công tác quần chúng trong

tác phẩm Đường kách mệnh của Nguyễn Ái Quốc: “Bây giờ tư bản lại đi áp bức

công nông, cho nên công nông là người chủ cách mệnh

1 Là vì công nông bị áp bức nặng hơn,

2 Là vì công nông đông nhất cho nên sức mạnh hơn hết,

3 Là vì công nông là tay không chân rồi, nếu thua thì chỉ mất một cái kiếp khổ, nếu được thì được cả thế giới, cho nên họ gan góc Vì những cớ ấy, nên công nông là gốc của cách mệnh; còn học trò, nhà buôn nhỏ, điền chủ nhỏ cũng bị

Trang 34

phong trào đấu tranh của quần chúng

Với những chỉ đạo kịp thời, thống nhất của Đảng Cộng sản Việt Nam đó thổi vào phong trào quần chỳng đang sục sôi một luồng sinh khí mới, quần chúng cách mạng cả nước mà đặc biệt là công- nông đó thấy được hướng đi mới cho dân tộc, giai cấp, đáp ứng thỏa đáng lợi ích của toàn thể dân tộc cũng như bộ phận giai cấp

… phong trào cách mạng của quần chúng ngày một dâng cao như một ngọn lửa bùng cháy lan nhanh về phía kẻ thự

Mở đầu cho phong trào cách mạng sau khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời chính là các cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân Cuộc đấu tranh của công nhân đồn điền cao su Phú Riềng tháng 2 năm 1930 Cuộc bói cụng do Tỉnh ủy và Đảng

bộ nhà máy sợi Nam Định tổ chức kéo dài 20 ngày ( 25/3 đến 16/4) Công nhân

đó đưa ra yêu sách: tăng lương, giảm giờ làm, bỏ các quy định vô lý, không được khủng bố công nhân bói cụng Cuộc đấu tranh này của sợi Nam Định đó được công nhân của các xưởng khác, quần chúng nông dân ở nhiều nơi trong tỉnh, công nhân ở Hà Nội, Hải Dương, Hải Phũng viết thư, quyên tiền, hưởng ứng đấu tranh ủng hộ Ngay cả Thực dân Pháp cũng phải lên tiếng thừa nhận tầm ảnh hưởng sâu sắc của cuộc bói cụng này đến toàn thể công nhân Việt Nam lúc bấy giờ

Cuộc đấu tranh của 400 công nhân nhà máy Diêm Bến Thủy (Vinh) ngày 19/4/1930, đũi tăng lương, giảm giờ làm cải thiện điều kiện làm việc Từ nhà máy diêm, cuộc đấu tranh đó lan rộng ra toàn khu cụng nghiệp Bến Thủy Đến ngày 25/4/1930 hầu hết công nhân các nhà máy ở khu công nghiệp này đều đưa ra yêu sách lên giới chủ Đây chính là điểm sáng của phong trào công nhân Trung Kỳ hũa vào phong trào cụng nhõn cả nước

Từ 3 phong trào trên chứng tỏ giai cấp công nhân Việt Nam đó bắt đầu một thời

kỳ đấu tranh mới với những sắc thái mới, mạnh mẽ, quyết liệt Chứng tỏ giai cấp công nhân Việt Nam đó khẳng định được vai t của nh, vừa làm nũng cốt, vừa

Trang 35

35

lónh đạo chung phong trào đấu tranh trên toàn quốc

Cỏc tầng lớp cú tinh thần dân tộc khác cũng không đứng ngoài phong trào công nông Họ đó bị cuốn theo, đồng thời cũng tự giác ngộ được phần nào những chủ trương, đường lối của Đảng CSVN, họ thấy được cái tâm và cái tầm ảnh hưởng trong những chính sách đúng đắn mà Đảng đó đề ra Ở nhiều nơi đó xảy ra xung đột giữa quần chúng với phong kiến, thực dân nhằm chống khủng bố và bắt bớ những người tham gia đấu tranh Từ các cuộc đấu tranh đơn thuần vỡ mục tiờu kinh tế, nay đó nhanh chúng chuyển thành những cuộc đấu tranh có mục tiêu chính trị Nhận thức được phong trào của quần chúng cách mạng có những chuyển biến mạnh mẽ, uy tín và vai trũ của Đảng, của những người cộng sản đó thức tỉnh được đông đảo quần chúng nhân dân, Đảng chính thức phát động cuộc biểu dương lực lượng rầm rộ nhân ngày Quốc tế Lao động 1/5/1930 Với những hoạt động cụ thể như tiếp tục đưa cán bộ của mỡnh vào cỏc xớ nghiệp, về cỏc vựng nụng thụn xõy dựng chi bộ đảng, phát triển và thành lập thêm nhiều tổ chức quần chúng Do nhận thức đúng đắn về liên minh công nông, Đảng nhấn mạnh việc xõy dựng cơ sở cách mạng ở cả thành thị và nông thôn, bảo đảm sự phối hợp đấu tranh giữa công nhân và nông dân, Đảng rất chú trọng việc thu phục cho được, cho chắc giai cấp nông dân đi theo, làm theo đường lối của Đảng “Để chuẩn bị cho ngày kỷ niệm, từ

hạ tuần tháng 4, những biểu ngữ đũi tăng lương, bớt giờ làm, bỏ đánh đập cho công nhân, hoón thuế cho nụng dõn, kốm theo cả khẩu hiệu “vụ sản giai cấp thế giới liờn hiệp lại!” đó được rải khắp mọi nơi trong cả nước như: Hà Nội, Hải Phũng, Nam Định, Thái Bỡnh, Vinh, Huế, Bỡnh Định, Quy Nhơn, Đà Nẵng, Hội An, Bà Rịa, Biên Hũa, Cao Lónh, Nhà Bố, Dĩ An, vv ”{41; 42}

Cuộc đấu tranh ngày 1/5/1930 là một bước ngoặt quan trọng của cao trào cách mạng 1930- 1931 Trên cả ba miền đất nước, truyền đơn, cờ Đảng, mít tinh, biểu tỡnh, tuõ n hành biểu dương lực lượng diễn ra mạnh mẽ Các cuộc đấu tranh không chỉ dừng lại ở việc đũi quyền lợi cho cụng nhõn, nụng dõn, cỏc tầng lớp bị ỏp bức

mà cũn tiến đến, đề cập đến việc thể hiện tỡnh đoàn kết cách mạng với nhân dân lao động trờn thế giới

Tại miền Nam, điển hỡnh là cỏc cuộc bói cụng của cụng nhõn nhà mỏy điện Chợ Quán (Sài Gũn), nhà mỏy xe lửa Dĩ An, 10.000 nụng dõn Đức Hũa (Chợ Lớn), hơn 1500 nông dân huyện Cao Lónh (Sa Đéc), 1000 nông dân Chợ Mới (Long Xuyên) Kết quả: các cuộc đấu tranh này đều giành thắng lợi, giai cấp thống trị buộc phải chấp nhận các yêu sách của quần chúng nhân dân

Tại miền Bắc, nụng dõn Thỏi Bỡnh, đặc biệt là hai huyện Duyên Hà và Tiên Hưng, quần chúng đó biểu tỡnh tiến vào thị xó đũi bổ sưu, giảm thuế, cứu đói cho

Trang 36

Tính đến hết tháng 5/1930 với sự lónh đạo của Đảng, chủ trương hỡnh thành một liờn minh tranh đấu của công nhân và nông dân chống đế quốc phong kiến trong Chính cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt bước đầu đó được định hỡnh Cụ thể, phong trào cụng nhõn – với tớnh chất tiờn phong và lónh đạo đó thực sự thu hỳt được sự tham gia của nông dân và một số lực lượng xó hội khỏc tạo thành một làn sóng đấu tranh dồn dập của quần chúng Kết quả này đó buộc Thực dõn Phỏp phải

cú những nhượng bộ khá rừ ràng để xoa dịu tỡnh hỡnh: trả tự do cho một số cỏn bộ

và quần chỳng, cải thiện một ớt những điều kiện làm việc cho công nhân, hoón nợ thuế cho nụng dõn

Tháng 6 năm 1930 Với những thành công đó đạt được là rất lớn nếu so sánh với các giai đoạn trước, tuy vậy Đảng ta vẫn cho rằng còn có thể đạt được nhiều thành công hơn nữa Đảng đó định hướng cho cán bộ và quần chúng hiểu rằng không nên mất cảnh giác Trong lời kêu gọi công nhân, nông dân, binh lính và tất

cả những người lao động khác (tháng 6 năm 1930), Đảng nhấn mạnh: không được sao nhóng đấu tranh, nhân dân cả nước cần đứng lên ủng hộ công nông Nghệ An Ngoài phong trào ở Nghệ Tĩnh, trong tháng 6 và tháng 7 Nam Kỳ chính là nơi

có phong trào quân chúng phát triển mạnh mẽ nhất Cụ thể là các cuộc đấu tranh của quần chúng nông dân ở Vĩnh Long quần chúng đó biểu tỡnh lờn tận Tỉnh lỵ (2/6); Bà Hom (Chợ Lớn) ngày 3/6; Húc Mụn (4/6) Tân Lợi (Tân An) ngày 4/6; Đức Hũa (Chợ Lớn) 4/6; Bến Lức (Chợ Lớn), Gũ Đen (Chợ Lớn) Phong trào lan tới Nha Trang Ngày 6/7, dân biểu tỡnh kộo tới Ninh Hũa; Ngày 16/7, kộo tới Tõn

Trang 37

37

Định đũi giảm thuế

Từ trước ngày 1 tháng 8 năm 1930 truyền đơn hô hào tranh đấu của Đảng đã xuất hiện ở nhiều tỉnh và thành phố như Hà Nội, Thái Bình, Hà Nam, Vinh, Huế, Sài Gòn, Chợ Lớn v.v Tới ngày 1 tháng 8, nhiều cuộc biểu tình lớn nổ ra ở nhiều nơi thuộc xứ Nam Kỳ như Hóc Môn, Bà Quẹo (Gia Định), Chợ Lớn, Thủ Dầu Một, Vĩnh Long, Sa Đéc, Long Xuyên v.v Ở Bắc Kỳ, cờ đỏ búa liềm cũng xuất hiện ở

Hà Nội và Nam Định, tuy không nổ ra cuộc đấu tranh lớn nào của quần chúng

Ở Nghệ Tĩnh, Xứ uỷ Trung Kỳ và các tỉnh đảng bộ đã ra sức chỉ đạo các cơ sở đảng, cơ sở công hội và nông hội địa phương ra sức vận động quần chúng, chuẩn bị cho một đợt đấu tranh mới, quyết liệt hơn Ngày 30 tháng 8 năm 1930, dưới sự lãnh đạo của cán bộ cơ sở đảng, hơn 3.000 nông dân Nam Đàn đã biểu tình, tổ chức mít tinh ở nhiều điểm rồi kéo về thị trấn Sa Nam đập phá đại lý rượu Fontaine, tràn vào huyện đường đốt hết hồ sơ, giấy tờ, phá nhà giam, giải phóng tù nhân

Ngày 1 tháng 9 năm 1930 một cuộc biểu tình khổng lồ của nông dân đã nổ ra

ở huyện Thanh Chương với khoảng 20.000 người tham gia Để ngăn chặn đoàn biểu tình, tri huyện Thanh Chương Phan Sỹ Bàng ra lệnh cho lính bắn vào dân chúng, làm một người chết Ngay lập tức quần chúng xông lên như nước vỡ bờ, viên tri huyện và binh lính vội vàng bỏ chạy Quần chúng xông vào chiếm huyện đường, đốt phá hoàn toàn công đường và tư thất của Phan Sỹ Bàng

Sau các cuộc biểu tình ngày 30 tháng 8 và ngày 1 tháng 9, chính quyền thực dân ở hai huyện Nam Đàn và Thanh Chương đã tan rã hoặc tê liệt hoàn toàn Phối hợp với phong trào nông dân, ngày 1 tháng 9 năm 1930 Tổng Công hội đỏ thành phố Vinh phát động một cuộc tổng đình công với sự tham gia của hàng nghìn công nhân một số nhà máy Truyền đơn của Xứ uỷ Trung Kỳ và của tỉnh đảng bộ Nghệ

An xuất hiện khắp nơi kêu gọi nhân dân quyết đứng lên theo gương nông dân Thanh Chương, Nam Đàn Như một phản ứng dây chuyền, sức đấu tranh mạnh mẽ của quần chúng đã làm tan rã hoàn toàn chính quyền cơ sở của thực dân - phong kiến ở hầu hết các huyện ven hai bờ sông Cả (Anh Sơn, Đô Lương, Nghi Lộc, Hưng Nguyên), lan đến tận vùng núi cao (Môn Sơn, Lục Dạ thuộc huyện Con Cuông)

Ngày 8 tháng 9 năm 1930, hơn 7.000 nông dân huyện Anh Sơn biểu tình kéo vào huyện đường đưa yêu sách Thực dân Pháp đã cho máy bay ném bom hai lần vào đoàn biểu tình, làm 9 người chết và nhiều người bị thương Binh lính đồn Đô

Trang 38

bộ lịch sử thực dân của chúng ở châu Á và châu Phi

Thực dân Pháp càng đàn áp dã man, phong trào đấu tranh của nhân dân Nghệ

An càng dâng lên mạnh mẽ Trong suốt tháng 9 và tháng 10 năm 1930 toàn tỉnh ngày nào cũng rung chuyển bởi hàng chục cuộc míttinh và biểu tình quần chúng Cũng từ đầu tháng 9 phong trào biểu tình quần chúng lan mạnh sang Hà Tĩnh Ngày 7 tháng 9, hơn 1.000 nông dân Can Lộc mang theo gậy gộc, giáo mác, trống,

tù và, mõ biểu tình và tấn công chiếm huyện đường, đốt sạch giấy tờ, giải thoát tù chính trị Ngày hôm sau biểu tình quần chúng nổ ra ở khắp các huyện ở Hà Tĩnh Tuy phong trào ở đây bùng phát muộn hơn, nhưng ngay từ đầu đã rất quyết liệt Khắp nơi dân chúng biểu tình chiếm huyện lỵ, trừng trị hào lý, đánh đuổi binh lính Chỉ trong vòng vài tuần lễ chính quyền thực dân - phong kiến ở nông thôn Hà Tĩnh dường như tan vỡ hoàn toàn

Trước tình hình chính quyền địch tan rã, mặc dù Trung ương chưa có chủ trương giành chính quyền lúc này, các chi bộ Đảng và Nông hội đỏ đứng trước thực

tế được đặt cho nhiệm vụ phải quản lý và điều hành hoạt động trong làng xã Sự tổ chức quản lý và điều hành đó dựa trên những hiểu biết về chính quyền Xô viết ở Nga mà những người cộng sản Việt Nam tiếp thu được qua sách báo và tài liệu huấn luyện của Đảng Một hình thức mới của chính quyền đã xuất hiện, chính

Trang 39

để nâng cao ý thức chính trị rộng rãi trong quần chúng

Về kinh tế: chính quyền đã thi hành một loạt các biện pháp tích cực như tịch thu ruộng đất của địa chủ, tay sai, tịch thu tiền, đất công, thóc lúa do chính quyền

cũ quản lý chia cho dân cày nghèo, bãi bỏ các loại thuế vô lý mà bọn tay sai và chính quyền cũ đã đặt ra để bóc lột nhân dân: thuế thân, thuế chợ, thuế đò, thuế muối…xoá nợ cho người nghèo và giảm tô

Về văn hoá xã hội: chính quyền xô viết đã đem đến cho quần chúng một bầu không khí hoàn toàn mới, từng người dân có thể cảm nhận được nó và quyết tâm bảo vệ nó Khác với xã hội cũ, các tệ nạn xã hội bị khai tử, các hiện tượng như mê tín dị đoan, bói toán, ma chay bị loại trừ, rượu chè, cờ bạc cũng không còn, trật tự

an ninh đựoc giữ vững Mọi người đoàn kết tin yêu tương trợ lẫn nhau Quần chúng đùm bọc giúp đỡ lẫn nhau, bảo vệ chính quyền cách mạng, bảo vệ các chiến sĩ bị địch lùng bắt

Với những kết qủa đã làm được, Xô viết Nghệ Tĩnh thực sự đã gây một tiếng vang lớn, gây một ảnh hưởng lớn đến không khí chính trị trong nước và quốc tế Những vùng còn lại ở Nghệ Tĩnh chưa lập được chính quyền xô viết, bọn tay sai muốn truyền đạt ý kiến gì của bọn đế quốc thì chúng đều tìm đến cán bộ, đảng viên của ta để xin ý kiến Qua đó có thể thấy, một áp lực lớn đã được tạo ra đang đè nén lên kẻ thù, áp lực này chính là sức mạnh của đội quân chính trị đông đảo với nòng cốt là liên minh công nông

1 2 3 Những chủ trương vận động quần chúng của Đảng Cộng sản Đông Dương

từ Hội nghị Trung ương Đảng tháng 10 năm 1930:

Trang 40

40

Tháng 10 năm 1930, giữa lúc phong trào cách mạng đang phát triển mạnh mẽ, khí thế tranh đấu sục sôi khắp cả ba Kỳ thì Ban Trung ương Lâm thời của Đảng Cộng sản Việt Nam họp Hội nghị lần thứ nhất tại Hồng Kông Hội nghị diễn ra dưới sự chủ trì của Trần Phú

Sau khi thảo luận nhiều vấn đề chiến lược và sách lược chính trị, phương thức

vận động quần chúng và hệ thống tổ chức của Đảng, đặc biệt là bản Dự án "Luận

cương chánh trị của Đảng Cộng sản Đông Dương" do Trần Phú khởi thảo, Hội

nghị đã quyết nghị nhiều vấn đề rất quan trọng, liên quan tới không chỉ vận mệnh chính trị của Đảng mà còn có ý nghĩa to lớn đối với toàn bộ cuộc vận động giải phóng dân tộc của nhân dân Việt Nam

Đối với công tác vận động quần chúng cách mạng, Luận cương chính trị khẳng

định tầm vóc và vai trò của giai cấp công nhân đối với sự nghiệp cách mạng: vừa là giai cấp lãnh đạo vừa là động lực chính rất mạnh của cách mạng “ Trong cuộc cách mạng tư sản dân quyền, vô sản giai cấp và nông dân là hai động lực chánh, nhưng

vô sản có cầm quyền lãnh đạo thì cách mạng mới thắng lợi được.” {16; 94}

Luận cương rất chú ý đến vấn đề bảo vệ vai trò lãnh đạo của giai cấp công nhân đối với giai cấp nông dân và các tầng lớp nhân dân lao động khác, phải kiên quyết chống chủ nghĩa cải lương của giai cấp tư sản dân tộc, tư tưởng dân tộc hẹp hòi của tiểu tư sản và ảnh hưởng của nó trong quần chúng

Luận cương nhấn mạnh: “Muốn làm cho trọn nhiệm vụ của Đảng trong cuộc cách mạng, trước hết cần phải: tổ chức ra những đoàn thể độc lập (công hội, nông

hội, v.v ) Trong quá trình vạch ra hình thức và phương pháp cách mạng, Luận cương cho rằng: khi chưa có tình thế cách mạng, chỉ nên đặt khẩu hiệu ở mức tăng

lương, giảm giờ làm, giảm thuế, chống thuế từ những cuộc đấu tranh hằng ngày

mới có điều kiện để giáo dục cho quần chúng ý thức đánh đổ đế quốc giành độc

lập, đánh đổ phong kiến giành ruộng đất cho dân cày Trước nguy cơ một cuộc chiến tranh đế quốc ngày càng gần, phải làm cho những khẩu hiệu chống chiến tranh ăn sâu trong quần chúng nhân dân; đồng thời tăng cường công tác vận động binh lính địch, tổ chức đội tự vệ công nông

Luận cương đã thể hiện được quan điểm đúng đắn của Đảng ta là phải coi trọng công tác giáo dục, tổ chức quần chúng đấu tranh chính trị; trên cơ sở đó từng bước xây dựng lực lượng vũ trang

Tuy nhiên, Luận cương cũng có những hạn chế nhất định như chưa nhận thức

Ngày đăng: 29/12/2015, 21:29

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Ban Nghiên cứu Lịch sử Đảng Trung ương: Những sự kiện lịch sử Đảng, tập 1( 1920- 1945 ), Nxb Sự Thật, Hà Nội, 1976 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ban Nghiên cứu Lịch sử Đảng Trung ương: "Những sự kiện lịch sử Đảng
Nhà XB: Nxb Sự Thật
2. Ban Nghiên cứu Lịch sử Đảng Trung ương: Lịch sử Đảng Cộng Sản Việt Nam (Sơ thảo), tập 1, Nxb Sự Thật, HN, 1981 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Đảng Cộng Sản Việt Nam (Sơ thảo)
Nhà XB: Nxb Sự Thật
Năm: 1981
3. Nguyễn Khánh Bật ( Chủ biên ): Những bài giảng về tưởng Hồ Chí Minh, Nxb CTQG, HN, 1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những bài giảng về tưởng Hồ Chí Minh
Tác giả: Nguyễn Khánh Bật
Nhà XB: Nxb CTQG
Năm: 1999
4. Nguyễn Công Bình: Mặt trận dân tộc thống nhất trong cách mạng Việt Nam, Nxb Khoa học, Hà Nội, 1963 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mặt trận dân tộc thống nhất trong cách mạng Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Công Bình
Nhà XB: Nxb Khoa học
Năm: 1963
5. Nguyễn Công Bình: Một số vấn đề về lịch sử giai cấp công nhân Việt Nam, Nxb Lao Động, Hà Nội, 1974 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Công Bình: "Một số vấn đề về lịch sử giai cấp công nhân Việt Nam
Nhà XB: Nxb Lao Động
6. Nguyễn Công Bình: Tìm hiểu giai cấp tư sản Việt Nam thời Pháp thuộc, Nxb Văn- Sử- Địa, Hà Nội, 1959 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu giai cấp tư sản Việt Nam thời Pháp thuộc
Nhà XB: Nxb Văn- Sử- Địa
7. Bộ Giáo Dục và Đào Tạo: Giáo trình lịch sử Đảng Cộng Sản Việt Nam (Dùng trong các trường Đại học), Nxb CTQG, HN, 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình lịch sử Đảng Cộng Sản Việt Nam (Dùng trong các trường Đại học)
Tác giả: Bộ Giáo Dục và Đào Tạo
Nhà XB: Nxb CTQG
Năm: 2006
8. Trường Chinh: Chủ Tịch Hồ Chí Minh lãnh tụ kính yêu của giai cấp công nhân và nhân dân Việt Nam, Nxb CTQG, HN, 1980 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trường Chinh: Chủ Tịch Hồ Chí Minh lãnh tụ kính yêu của giai cấp công nhân và nhân dân Việt Nam
Nhà XB: Nxb CTQG
Năm: 1980
9. Trường Chinh: Tiến lên dưới lá cờ của Đảng, Nxb Sự Thật, HN, 1963 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiến lên dưới lá cờ của Đảng
Tác giả: Trường Chinh
Nhà XB: Nxb Sự Thật
Năm: 1963
10. Lê Duẩn: Dưới lá cờ vẻ vang của Đảng vì độc lập, tự do vì chủ nghĩa xã hội tiến lên dành những thắng lợi mới, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1976 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dưới lá cờ vẻ vang của Đảng vì độc lập, tự do vì chủ nghĩa xã hội tiến lên dành những thắng lợi mới
Tác giả: Lê Duẩn
Nhà XB: Nxb Sự thật
Năm: 1976
11. Lê Duẩn: Giai cấp công nhân và liên minh công nông, Nxb Sự Thật, HN, 1976 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giai cấp công nhân và liên minh công nông
Tác giả: Lê Duẩn
Nhà XB: Nxb Sự Thật
Năm: 1976
12. Lê Duẩn: Giai cấp vô sản với vấn đề nông dân trong cách mạng Việt Nam, Nxb Sự thật, HN, 1965 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giai cấp vô sản với vấn đề nông dân trong cách mạng Việt Nam
Tác giả: Lê Duẩn
Nhà XB: Nxb Sự thật
Năm: 1965
14. Đảng CSVN: Trích văn kiện Đảng, tập 1, Nxb SGK Mác-Lênin, HN, 1979 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trích văn kiện Đảng
Nhà XB: Nxb SGK Mác-Lênin

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w