Căn cứ tình hình quốc tế và trong nước, Đảng Cộng sản Việt Nam đã đề ra những chủ trương đối ngoại nói chung, chủ trương quan hệ của Việt Nam với Campuchia nói riêng, đồng thời cũng có n
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
LƯƠNG THỊ PHƯƠNG THẢO
ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM LÃNH ĐẠO QUAN HỆ CỦA VIỆT NAM VỚI CAMPUCHIA
TỪ NĂM 1993 ĐẾN NĂM 2010
LUẬN ÁN TIẾN SĨ LỊCH SỬ
HÀ NỘI - 2017
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
LƯƠNG THỊ PHƯƠNG THẢO
ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM LÃNH ĐẠO QUAN HỆ CỦA VIỆT NAM VỚI CAMPUCHIA
TỪ NĂM 1993 ĐẾN NĂM 2010
Mã số: 62 22 56 01
LUẬN ÁN TIẾN SĨ LỊCH SỬ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS VŨ QUANG HIỂN
HÀ NỘI - 2017
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của cá nhân Các ý tưởng, số liệu, kết cấu, kết luận trong Luận án là kết quả nghiên cứu của bản thân dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Vũ Quang Hiển, giảng viên Bộ môn Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, Khoa Lịch sử, Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia
Hà Nội Luận án đưa ra những kết quả trung thực, khách quan, khoa học và chưa được công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào khác Các tài liệu tham khảo có xuất sứ
Trang 4- Lãnh đạo Trường; Ban Chủ nhiệm và tập thể giảng viên Khoa Lịch sử; Chủ nhiệm và các Thầy, Cô bộ môn Lịch sử Đảng; Các cán bộ phụ trách Bộ phận sau Đại học và cán bộ giáo vụ Khoa Lịch sử, Phòng Đào tạo Sau Đại học; Phòng Kế hoạch - Tài vụ Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội đã quan tâm, tạo điều kiện thuận lợi cho tác giả trong quá trình học tập, nghiên cứu và bảo vệ Luận án
- Lãnh đạo Trường, Khoa Lý luận chính trị và Bộ môn Đường lối cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam trường Đại học Bách khoa Hà Nội đã có sự quan tâm kịp thời, giúp đỡ hiệu quả
- Tổng biên tập và cán bộ các Tạp chí, cán bộ các Viện nghiên cứu, Thư viện, Bảo tàng, Cục Lưu trữ… giúp tác giả trong việc tìm kiếm và đăng bài nghiên cứu tài liệu
- Tập thể lớp Sử K27 (khóa 1982-1986) trường Đại học Tổng hợp Hà Nội; Tập thể lớp C (khóa 1978-1981) trường cấp III Lam Sơn, Thanh Hóa đã luôn khuyến khích, động viên tác giả cố gắng vượt mọi khó khăn để hoàn thành Luận án
- Gia đình, những người thân và bạn bè luôn kề vai sát cánh đồng hành cùng tác giả
Tuy tác giả đã rất cố gắng, song Luận án không thể tránh khỏi những thiếu sót, hạn chế, rất mong nhận được sự góp ý của các Thầy, Cô và bạn bè đồng nghiệp Xin trân trọng cảm ơn!
Tác giả luận án Lương Thị Phương Thảo
Trang 5MỤC LỤC
Lời cam đoan
Lời cảm ơn
Mục lục
Danh mục các chữ viết tắt
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
4 Cơ sở lý luận, phương pháp nghiên cứu và nguồn tài liệu 5
5 Đóng góp khoa học của luận án 5
6 Cấu trúc của Luận án 6
Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 7
1.1 Các nhóm công trình nghiên cứu 7
1.1.1 Nhóm công trình nghiên cứu về quan hệ của Việt Nam với Campuchia 7
1.1.2 Nhóm công trình nghiên cứu sự lãnh đạo của Đảng trong quan hệ của Việt Nam với Campuchia 16
1.2 Nhận xét về kết quả nghiên cứu liên quan đến đề tài và những vấn đề
Luận án tiếp tục nghiên cứu 17
1.2.1 Nhận xét về kết quả nghiên cứu liên quan đến đề tài 17
1.2.2 Những vấn đề Luận án cần tiếp tục nghiên cứu 19
Tiểu kết chương 1 20
Chương 2 CHỦ TRƯƠNG VÀ SỰ CHỈ ĐẠO CỦA ĐẢNG
TRONG QUAN HỆ CỦA VIỆT NAM VỚI CAMPUCHIA TỪ NĂM 1993 ĐẾN NĂM 2000 22
2.1 Chủ trương củng cố quan hệ của Việt Nam với Campuchia 22
2.1.1 Những yếu tố ảnh hưởng đến quan hệ của Việt Nam với Campuchia 22
2.1.2 Chủ trương của Đảng 36
Trang 62.2 Sự chỉ đạo của Đảng 45
2.2.1 Về quan hệ chính trị 45
2.2.2 Về an ninh - quốc phòng 51
2.2.3 Về kinh tế và văn hóa 60
Tiểu kết chương 2 68
Chương 3 ĐẢNG LÃNH ĐẠO TĂNG CƯỜNG QUAN HỆ CỦA VIỆT NAM VỚI CAMPUCHIA TỪ NĂM 2001 ĐẾN NĂM 2010 71
3.1 Đặc điểm tình hình và chủ trương của Đảng 71
3.1.1 Đặc điểm tình hình 71
3.1.2 Chủ trương của Đảng 79
3.2 Sự chỉ đạo của Đảng 88
3.2.1 Chỉ đạo phát triển quan hệ chính trị 88
3.2.2 Củng cố quan hệ an ninh - quốc phòng 91
3.2.3 Chỉ đạo tăng cường quan hệ hợp tác kinh tế và văn hóa 103
Tiểu kết chương 3 109
Chương 4 NHẬN XÉT VÀ KINH NGHỆM 111
4.1 Nhận xét 111
4.1.1 Ưu điểm 111
4.1.2 Hạn chế 120
4.2 Một số kinh nghiệm 125
Tiểu kết chương 4 138
KẾT LUẬN 140
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ
LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 145
TÀI LIỆU THAM KHẢO 146
PHỤ LỤC 166
Trang 7DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
Từ viết tắt
ADB
Tên tiếng nước ngoài
Asian Development Bank
Tên Tiếng Việt
Ngân hàng phát triển châu Á ADHOK
DRV Democratic Republic of Vietnam Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa
FDI Foreign Direct Investment Đầu tư trực tiếp nước ngoài
des Races Opprimées
Mặt trận Thống nhất đấu tranh của các sắc tộc bị áp bức
FUNCINPEC Front Uni National Pour Un
Cambodge independent, neutre, pacifique,et cooperatif
Mặt trận Thống nhất dân tộc vì một nước Campuchia Độc lập, Hòa bình, Trung lập và Hòa hợp Campuchia), Đảng chính trị Bảo hoàng
GMS Greater Mekong Subregion Hợp tác tiểu vùng sông
Trang 8LICAHDO
MB
Cambodian League for the Promotion and Defense of Human Rights
Military bank (Vietnam)
Tổ chức bảo vệ nhân quyền Licahdo
Ngân hàng Thương mại cổ phần Quân đội (Việt Nam)
NGO Non-governmental organization Tổ chức phi chính phủ
ODA Official Development Assistance Hỗ trợ phát triển chính thức PRK People's Republic of Kampuchea Nhà nước dân chủ Campuchia
Campuchia
SRV Socialist Republic of Vietnam Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa
Việt Nam
Commissioner for Refugees
Cao Ủy Liên Hợp Quốc về người tị nạn
UNTAC
USD
United Nations Transitional Authority in Cambodia United States Dollar
Cơ quan quyền lực lâm thời Liên Hợp Quốc ở Campuchia Đồng tiền Hoa Kỳ
WTO World Trade Organization Tổ chức thương mại thế giới
and Technolory
Công ty Vật tư Công nghiệp
Quốc phòng (Việt Nam)
Trang 9
sự kiện quan trọng, thể hiện sự ủng hộ có ý nghĩa cao cả của Campuchia đối với Việt Nam trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc và thống nhất đất nước, đồng thời cũng khẳng định sự ủng hộ chân tình và có trách nhiệm của Việt Nam đối với cuộc đấu tranh bảo vệ nền hòa bình, độc lập, trung lập và hòa hợp dân tộc của Campuchia do Quốc Vương Nôrôđôm Xihanúc đứng đầu Kế thừa quan hệ truyền thống sẵn có, sau khi thiết lập quan hệ ngoại giao, nhân dân Việt Nam và Campuchia càng hợp tác và giúp đỡ lẫn nhau nhiều hơn, đồng cam cộng khổ, chia ngọt sẻ bùi vì sự nghiệp giải phóng dân tộc, vì quyền được sống trong tự do, hạnh phúc và xây dựng đất nước phồn vinh, đưa quan hệ hai nước lên một tầm cao mới Năm 1993, với thắng lợi của cuộc Tổng tuyển cử dẫn tới sự ra đời của Quốc hội lập hiến tại Campuchia, quan hệ giữa Việt Nam và Campuchia chuyển sang giai đoạn phát triển mới, thực hiện phương châm “láng giềng tốt đẹp, hữu nghị truyền thống, hợp tác toàn diện, bền vững lâu dài” [32]
Trước những tác động của bối cảnh thế giới và khu vực, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và Đảng Nhân dân Campuchia, quan hệ của Việt Nam với Campuchia đã không ngừng được củng cố và phát triển sâu rộng trên nhiều lĩnh vực, mang lại hiệu quả thiết thực cho nhân dân hai nước Căn cứ tình hình quốc tế
và trong nước, Đảng Cộng sản Việt Nam đã đề ra những chủ trương đối ngoại nói chung, chủ trương quan hệ của Việt Nam với Campuchia nói riêng, đồng thời cũng
có nhiều biện pháp chỉ đạo cụ thể nhằm củng cố và phát triển mối quan hệ vì lợi ích của nhân dân hai nước, phục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, vì sự ổn định và phát triển của khu vực, góp phần bảo vệ hòa bình thế giới
Trang 10Trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập ngày càng sâu rộng với những diễn biến phức tạp của tình hình thế giới, khu vực thì việc nghiên cứu, tổng kết quá trình Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo quan hệ của Việt Nam với Campuchia, có những nhận xét khách quan, khoa học về quá trình lãnh đạo, đúc rút những kinh nghiệm từ
sự lãnh đạo của Đảng trong quan hệ của Việt Nam với Campuchia từ năm 1993 đến năm 2010, góp phần nhận thức lịch sử và cung cấp một số kinh nghiệm có thể tham khảo cho việc củng cố và phát triển quan hệ của Việt Nam với Campuchia trong thời gian tới là việc làm cần thiết
Quan hệ giữa Việt Nam với Campuchia, từ lâu có những biểu hiện khá đặc thù, đã thu hút sự quan tâm của nhiều Tổ chức và các nhà nghiên cứu Cho đến nay đã có khá nhiều công trình nghiên cứu của các tác giả trong và ngoài nước được công bố, song chưa có một công trình khoa học nào nghiên cứu một cách đầy đủ, có hệ thống dưới góc nhìn khoa học chuyên ngành Lịch sử Đảng về Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo quan hệ của Việt Nam với Campuchia từ năm 1993 đến năm 2010
Xuất phát từ những lý do trên đây, tác giả chọn đề tài“Đảng Cộng sản Việt
Nam lãnh đạo quan hệ của Việt Nam với Campuchia từ năm 1993 đến năm 2010”
làm Luận án tiến sĩ lịch sử, chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1 Mục đích nghiên cứu
Làm sáng tỏ sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam trong quan hệ của Việt Nam với Campuchia từ năm 1993 đến năm 2010 Qua đó đúc rút ra một số kinh nghiệm có thể tham khảo cho việc củng cố và chỉ đạo phát triển quan hệ của Việt Nam với Campuchia ngày nay
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Thực hiện mục đích trên, Luận án có những nhiệm vụ sau:
- Phân tích những yếu tố có tác động đến sự lãnh đạo của Đảng trong quan hệ của Việt Nam với Campuchia, bao gồm: tình hình quốc tế và khu vực, tình hình của mỗi nước Việt Nam và Campuchia, quan hệ của Việt Nam với Campuchia trước năm 1993
Trang 11- Trình bày có hệ thống những chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng với các biện pháp cụ thể đối với các cơ quan hữu quan, các bộ, ban ngành Trung ương, các địa phương nhằm củng cố, phát triển quan hệ của Việt Nam với Campuchia từ năm
1993 đến năm 2010
- Phân tích, biện giải những kết quả đã đạt được trong quan hệ của Việt Nam với Campuchia trên các lĩnh vực: chính trị, an ninh - quốc phòng, kinh tế và văn hóa trong hai khoảng thời gian khác nhau, gắn với những điều kiện lịch sử cụ thể từ năm
1993 đến năm 2000 và từ năm 2001 đến năm 2010
- Nhận xét những ưu điểm và hạn chế của Đảng trong quá trình lãnh đạo củng
cố và tăng cường mối quan hệ của Việt Nam với Campuchia cùng các nguyên nhân của những ưu điểm và các hạn chế đó
3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Những chủ trương và biện pháp chỉ đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với
quan hệ của Việt Nam với Campuchia từ năm 1993 đến năm 2010
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Về thời gian: từ năm 1993 đến năm 2010
Tác giả Luận án chọn năm 1993 là mốc bắt đầu nghiên cứu của Luận án về
quan hệ của Việt Nam với Campuchia vì ở Campuchia, đây là năm tiến hành cuộc Tổng tuyển cử bầu Quốc hội, Chính phủ mới thành lập, sự kiện quan trọng này có tác động đến quan hệ của Việt Nam với Campuchia và Campuchia với Việt Nam,
ảnh hưởng lớn đến việc đề ra chủ trương và biện pháp của Đảng Cộng sản Việt
Nam trong quan hệ với Campuchia Tuy nhiên, Luận án cũng có nghiên cứu những vấn đề lịch sử trước năm 1993 liên quan đến đề tài
Tác giả chọn năm 2000 kết thúc mốc thời gian thứ nhất và năm 2001 bắt đầu mốc thời gian thứ hai trong quan hệ của Việt Nam với Campuchia: xét về lịch sử Campuchia thì năm 2000 và năm 2001 không có dấu ấn đặc biệt, trên thực tế nếu xét theo tình hình nội bộ Campuchia và chọn quan hệ giữa hai nước về quân sự thì phải lấy mốc năm 1999 mới hợp lý; nếu chọn theo quan hệ về chính trị thì phải lấy
Trang 12năm 1998 mới phù hợp Nhưng vì đề tài luận án chuyên ngành Lịch sử Đảng, trọng tâm nói về những chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng với các biện pháp cụ thể lãnh đạo quan hệ của Việt Nam với Campuchia trên các lĩnh vực: chính trị, an ninh - quốc phòng, kinh tế và văn hóa nên tác giả quyết định phân kỳ dựa theo mốc Đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng lần thứ IX (năm 2001)
Năm 2001 là năm chuyển giao thế kỷ, với những thay đổi to lớn ở cả trong và ngoài nước; đặt ra những nhiệm vụ chính trị to lớn và đặc biệt quan trọng, nếu thực hiện được sẽ tạo ra sức bật để Việt Nam tiếp tục hội nhập với khu vực và thế giới Năm 2001, chính sách đối ngoại của Việt Nam đứng trước những thời cơ và thách thức mới; thời cơ, thách thức đan xen nhau Thuận lợi là cơ bản nhưng thách thức cũng không nhỏ ở cả trong nước và trên thế giới, cũng như đối với quan hệ của Việt Nam với Campuchia
Tác giả Luận án chọn năm 2010 là mốc kết thúc nghiên cứu của Luận án về quan hệ của Việt Nam với Campuchia, vì đây là năm Việt Nam tổng kết gần 20 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ đi lên Chủ nghĩa xã hội (1991), một chặng đường 5 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng (2006), trong đó, có nhiệm vụ đối ngoại nói chung và quan hệ của Việt Nam với Campuchia nói riêng
- Về không gian: Luận án nghiên cứu không gian chủ yếu là hai nước Việt
Nam và Campuchia, đồng thời cũng đề cập đến một số nước khác trên thế giới và trong khu vực như Mỹ, Trung Quốc, Thái Lan, … có liên quan, tác động đến quan
hệ của Việt Nam với Campuchia
- Về nội dung: Luận án nghiên cứu những yếu tố ảnh hưởng đến việc xác định
chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng trong quan hệ của Việt Nam với Campuchia qua hai khoảng thời gian từ năm 1993 đến năm 2000 và từ năm 2001đến năm 2010 Nghiên cứu, luận giải về chủ trương, sự chỉ đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với quan hệ của Việt Nam với Campuchia
Các vấn đề nghiên cứu chủ yếu trên các lĩnh vực: quan hệ chính trị, an ninh - quốc phòng, kinh tế và văn hóa
Trang 134 Cơ sở lý luận, phương pháp nghiên cứu và nguồn tài liệu
4.1 Cơ sở lý luận
Luận án dựa trên cơ sở lý luận là chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, tư tưởng đối ngoại Hồ Chí Minh
4.2 Phương pháp nghiên cứu
Luận án sử dụng một số phương pháp nghiên cứu chủ yếu, như: phương pháp lịch sử, phương pháp logic và sự kết hợp hai phương pháp đó Ngoài ra, Luận án còn sử dụng một số phương pháp khác như: phân tích, tổng hợp… phù hợp với yêu cầu và nhiệm vụ của Luận án
4.3 Nguồn tài liệu
- Nguồn tài liệu sơ cấp, đây là nguồn tài liệu gốc của đề tài Nguồn tài liệu này
khá phong phú, bao gồm: các chỉ thị, nghị quyết của Trung ương Đảng, các tuyên
bố chung, các bản ghi nhớ, các văn kiện kí kết về hợp tác hai bên, các báo cáo của các bộ, ngành có liên quan hiện đang bảo quản tại các cơ quan lưu trữ Trung ương Nhìn chung, đây là nguồn tài liệu tin cậy, là cơ sở để luận án khôi phục tiến trình các sự kiện, các vấn đề có liên quan đến đề tài
- Nguồn tài liệu thứ cấp, là tài liệu tham khảo bao gồm các chuyên luận,
chuyên khảo, các đề tài khoa học, các tạp chí, luận văn, luận án…, nguồn tài liệu này hết sức đa dạng cả ở trong nước và ngoài nước
5 Đóng góp khoa học của luận án
- Luận án hệ thống hóa chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng về quan hệ của Việt Nam với Campuchia từ năm 1993 đến năm 2010
- Đưa ra được nhận xét ưu điểm, hạn chế, nguyên nhân, kết quả và bước đầu đúc kết một số kinh nghiệm từ sự lãnh đạo của Đảng về quan hệ của Việt Nam với Campuchia từ năm 1993 đến năm 2010
- Luận án cung cấp một tài liệu tham khảo phục vụ nghiên cứu, giảng dạy lịch
sử quan hệ giữa Việt Nam với Campuchia; môn học Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam và Đường lối Cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam; nhất là việc học tập chuyên đề “Đảng lãnh đạo đấu tranh ngoại giao và vận động quốc tế trong tiến trình cách mạng Việt Nam” trong các cơ sở đào tạo, các trường đại học
Trang 14- Cung cấp những cứ liệu khoa học có thể tham khảo để củng cố và tăng cường quan hệ của Việt Nam với Campuchia trong bối cảnh mới
6 Cấu trúc của Luận án
Ngoài các phần Mở đầu, Kết luận, Phụ lục, và Tài liệu tham khảo, Luận án có
4 chương:
Chương 1 Tổng quan tình hình nghiên cứu
Chương 2 Chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng trong quan hệ của Việt Nam
với Campuchia từ năm 1993 đến năm 2000
Chương 3 Đảng lãnh đạo tăng cường quan hệ của Việt Nam với Campuchia
từ năm 2001 đến năm 2010
Chương 4 Nhận xét và kinh nghiệm
Trang 15Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 1.1 Các nhóm công trình nghiên cứu
1.1.1 Nhóm công trình nghiên cứu về quan hệ của Việt Nam với Campuchia
Những công trình nghiên cứu của các tác giả nước ngoài
Cuốn “The United States and Cambodia, 1969-2000, A troubled relationship” của tác giả Kenton Clymer là tập II trong bộ sách gồm hai tập có thể dịch là “Mỹ và
Campuchia, 1969-2000, một mối quan hệ rắc rối” hoặc “Mối quan hệ rắc rối của
Mỹ và Campuchia, 1969-2000” Đây là công trình nói về lý do và sự kiện hai nước
tái lập quan hệ ngoại giao vào tháng 8-1969; những yếu tố tác động đến sự kiện này như tình hình quốc tế và khu vực, tình hình của mỗi nước Mỹ và Campuchia; mối quan hệ trên nhiều mặt giữa Mỹ và Campuchia trong hơn 30 năm, từ năm 1969 đến năm 2000; trong đó có đề cập tới khoảng thời gian từ năm 1993 đến năm 2000
Tuy cuốn sách không nói nhiều về Việt Nam trong quan hệ của Campuchia với Mỹ, nhưng thông qua đó có thể nhận thấy rằng, quan hệ giữa Mỹ và Campuchia ngày càng gắn bó lại chính là trở ngại cho quan hệ của Việt Nam với Campuchia
Công trình “Tam giác Trung Quốc - Campuchia - Việt Nam” của Uyn Phrết
Bớc sét, (Nxb Thông tin lý luận, Hà Nội, 1981) đã nói lên mối quan hệ giữa ba nước Trung Quốc - Campuchia - Việt Nam, hình thành nên một tam giác trong quá trình phát triển Tác giả đã cung cấp nhiều tư liệu quý trong việc nghiên cứu về bối cảnh lịch sử, tình hình chính trị, quan điểm và thái độ chính trị của mỗi nước Bức tranh về cuộc sống lầm than, cực khổ của người dân Campuchia trong thời kỳ Khmer “Đỏ” thống trị đất nước Campuchia
Trước họa diệt chủng của Campuchia, Việt Nam sẵn sàng cử quân tình nguyện sang giúp đỡ bạn và tái thiết xây dựng đất nước Trong khi đó trái ngược với Việt Nam, nhà cầm quyền Bắc Kinh không chỉ thờ ơ đối với sự sống còn của nhân dân Campuchia mà còn lợi dụng việc này để xuyên tạc, bóp méo sự thật, cố tình gây sức
ép với Việt Nam Lập trường của Trung Quốc, nếu Việt Nam không rút quân ra khỏi Campuchia thì Trung Quốc sẽ tiến hành cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam
Trang 16Trên thực tế, Trung Quốc hậu thuẫn, đứng đằng sau Khmer “Đỏ” dựng nên cuộc chiến tranh biên giới Tây Nam và đã gây ra cuộc chiến tranh biên giới Phía Bắc Việt Nam cuối những năm 70 và đầu những năm 80 của thế kỷ XX Như vậy, công trình này đã cung cấp được những tư liệu về mối quan hệ giữa ba nước trước năm 1993
Bài “Cambodia and Vietnam: Good Fences Make Good Neighbour” của tác
giả Carclyle A.Thayer, (Presentation to International Conference on Cambodia: Progress and Challenges Since 1991 convened by the Institute of Southeast Asian
Studies Tranders Hotel, Singapore, March 29-30, 2012), (Campuchia và Việt Nam:
Hàng rào chắc chắn tạo nên hàng xóm hữu hảo), bài Thuyết trình về Campuchia tại
Hội nghị Quốc tế: “Sự phát triển và những thách thức từ năm 1991”
Nội dung của bài thuyết trình đã đưa ra cái nhìn tổng quan về các mối quan hệ của Campuchia với Việt Nam trong giai đoạn sau khi giải quyết xung đột về chính trị ở Campuchia vào năm 1991
Thời kỳ từ năm 1993, nhất là sau năm 2005 mối quan hệ giữa Campuchia và Việt Nam được cả hai bên đặc biệt chú ý thực hiện đường lối “láng giềng tốt đẹp,
hữu nghị truyền thống, hợp tác toàn diện, bền vững lâu dài” [32] cho mối quan hệ
song phương của hai quốc gia
Vương quốc Campuchia và Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (DRV) đã chính thức thiết lập quan hệ vào ngày 24-6-1967 Năm 1976, sau khi Khmer “Đỏ” nắm quyền
và thành lập Nhà nước Dân chủ Campuchia, nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam (SRV) đã tái lập đại sứ quán tại Phnôm Pênh, cũng là lúc những mâu thuẫn về chính trị trong nước của Campuchia ngày càng trầm trọng
Do những căng thẳng trong mối quan hệ song phương và những cuộc xung đột dọc biên giới hai nước, Nhà nước Dân chủ Campuchia (PRK) đã cắt đứt các mối quan hệ ngoại giao với nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam vào ngày 31-12-1977; đến năm 1979, Việt Nam đưa quân tình nguyện sang giúp nhân dân Campuchia thoát khỏi họa diệt chủng
Bên cạnh việc tóm lược lại quan hệ Campuchia và Việt Nam trước năm 1993, bài thuyết trình này đã tổng kết quan hệ giữa hai nước trên bốn lĩnh vực từ sau năm
1993, có phục vụ cho đề tài luận án
Trang 17Cụ thể, tác giả tổng kết mối quan hệ Campuchia và Việt Nam theo bốn phần: phần 1 là cái nhìn tổng quan mối quan hệ chính trị; phần 2, thảo luận về vấn đề biên giới - phương diện gây tranh cãi nhất trong quan hệ song phương; phần 3 và
4 lần lượt xem xét về mối quan hệ quốc phòng và kinh tế, cụ thể từng lĩnh vực:
Quan hệ chính trị
Quân tình nguyện Việt Nam sang Campuchia vào cuối năm 1978 đến năm 1989
để giúp nhân dân Campuchia lật đổ chế độ Khmer “Đỏ” và tái thiết đất nước Campuchia Trong suốt thời kỳ đó, mối quan hệ của Việt Nam với Campuchia diễn
ra dựa trên khung Hiệp định 25 năm quan hệ hữu hảo và hợp tác Việc giành độc lập cho đất nước Campuchia vào năm 1993, dưới thể chế mới, Campuchia trở thành một quốc gia dân chủ tự do và thay đổi mối quan hệ song phương Campuchia và Việt Nam Các cuộc bầu cử dưới sự bảo trợ của Liên Hợp Quốc vào tháng 5-1993
đã tạo nên một Chính phủ liên minh gồm hai đảng chính trị then chốt, Mặt trận thống nhất dân tộc vì một nước Campuchia độc lập, trung lập, hòa bình và hợp tác (FUNCINPEC) và Đảng Nhân Dân Campuchia (CPP)
Vấn đề biên giới
Biên giới là vấn đề nổi cộm trong quan hệ của Việt Nam với Campuchia kể từ khi hai nước giành được độc lập từ Pháp Hiệp ước Biên giới năm 2005 là trong các Hiệp ước quan trọng về quan hệ song phương giữa Việt Nam và Campuchia Cả hai nước đều thiết lập ủy ban của mình về phân định biên giới và xây dựng cột mốc Cuộc tiếp xúc đầu tiên đã được Tổ chức tại Hà Nội vào tháng 5-1996 và đạt được thoả thuận để xây dựng các cột mốc tại 6 cửa khẩu biên giới vào cuối năm, đánh dấu toàn bộ biên giới vào cuối năm 2008 Các ủy ban về biên giới tiếp tục có các cuộc tiếp xúc thường xuyên, luân phiên giữa Campuchia và Việt Nam
Quan hệ quốc phòng
Quan hệ quốc phòng giữa Campuchia và Việt Nam đã dần dần được phục hồi sau cuộc bầu cử năm 1998 Phần này nêu bật ba khía cạnh của mối quan hệ quốc phòng giữa hai nước: hồi hương hài cốt quân tình nguyện Việt Nam, trao đổi cấp cao và tuần tra quân chủng
Trang 18Quan hệ kinh tế
Sự phát triển quan hệ kinh tế giữa hai nước phản ánh sự cải thiện trong việc quản lý các vấn đề an ninh xuyên biên giới cũng như tiến bộ trong việc phân định biên giới quốc gia Quan hệ kinh tế được quản lý thông qua Uỷ ban Hợp tác kinh tế, văn hóa, khoa học - công nghệ Campuchia và Việt Nam
Bài Cambodia and Vietnam, closer relations (Campuchia và Việt Nam, mối quan hệ gần gũi) đăng trên tạp chí Asian Economic Institute đã chỉ rõ Việt Nam được xem là nhà đầu tư nước ngoài lớn thứ 10 ở Campuchia, là đối tác thương mại thứ 3 ở Campuchia trong ASEAN và lớn thứ 6 trong các đối tác kinh doanh hiện tại của Campuchia Nhu cầu và thói quen tiêu dùng tương đồng mở ra một tiềm năng đáng kinh ngạc cho sự phát triển thương mại song phương giữa Việt Nam và Campuchia
Thương mại hai chiều giữa hai nước đạt mức tăng trưởng mạnh trong giai đoạn này Sự sút kém nền thương mại của Campuchia với Thái Lan trong vài tháng, đã cung cấp một lực đẩy mới cho thương mại giữa Việt Nam và Campuchia; năm
2007, Hiệp định song phương giữa hai nước được kí, cho phép đầu tư nhiều hơn vào các khu kinh tế đặc biệt và tăng giao dịch thương mại giữa hai quốc gia, tạo nên
sự tăng trưởng mạnh trong năm 2008 đạt 400 triệu USD, với thương mại đạt tổng trị giá 1.7 tỷ USD; xuất khẩu khoảng 1,45 tỷ USD giá trị hàng hóa sang Campuchia, bao gồm cả máy móc nông nghiệp, thuốc trừ sâu, nông sản, hải sản và xăng dầu Xuất khẩu của Campuchia sang Việt Nam trong cùng năm đạt khoảng 1,35 tỷ USD chủ yếu là ngũ cốc, thuốc lá, sắn và các sản phẩm gỗ
Do căng thẳng biên giới giữa Campuchia và Thái Lan trong nửa cuối năm 2008, nên việc kí kết một số hiệp định song phương thúc đẩy mở rộng thương mại giữa Việt Nam và Campuchia có cơ hội được xúc tiến Chính phủ Campuchia đã cấp phép cho 6 khu vực kinh tế đặc biệt dọc theo biên giới Việt Nam, hai trong số đó đã
đi vào hoạt động và 4 khu vực hiện trong giai đoạn phát triển
Sự bất ổn liên tục về quan hệ chính trị giữa Thái Lan với Campuchia, kết hợp
sự căng thẳng biên giới vẫn xảy ra, dẫn đến sự tăng trưởng thương mại song phương
Trang 19giữa Việt Nam và Campuchia ổn định, khuyến khích các quan hệ kinh tế chặt chẽ hơn giữa hai nước Với cả hai nền kinh tế có khả năng hồi phục từ những tác động của cuộc khủng hoảng kinh tế vào cuối năm 2009, thương mại song phương giữa Việt Nam và Campuchia dự kiến sẽ đạt trên 2,3 tỷ USD trong năm 2010 Có thể thấy rằng, bài báo này đã nêu lên mối quan hệ kinh tế và thương mại của Việt nam với Campuchia ngày càng chặt chẽ và phát triển, phục vụ cho đề tài trong việc nghiên cứu về khoảng thời gian từ những năm 2001 đến năm 2010
Những công trình nghiên cứu của tác giả trong nước
Cuốn “Tội ác diệt chủng của bọn Pôn Pốt - Iêngxari” (Nxb Sự thật, Hà Nội,
1979), dựng lại bức tranh về quãng thời gian đen tối trong lịch sử Campuchia - một
thời kỳ đầy đau thương và nước mắt dưới chế độ diệt chủng của tập đoàn Pôn Pốt -
Iêngxari Đồng thời cuốn sách cũng nói lên Khmer “Đỏ” khước từ mọi đề nghị về việc chấm dứt tàn sát dân thường Việt Nam ở vùng biên giới Việt Nam - Campuchia, không hề quan tâm đến mong muốn đàm phán hòa bình từ phía Việt Nam và liên tiếp tấn công vũ trang trên lãnh thổ Việt Nam; với sự giúp đỡ của quân đội Việt Nam đối với Campuchia, các đơn vị bộ đội Việt Nam đã bảo vệ biên giới
và giúp nhân dân Campuchia thoát khỏi thảm họa diệt vong
Cuốn “Mãi mãi đứng bên cạnh nhân dân Việt Nam anh hùng” (Nxb Sự thật Hà
Nội, 1982), nói lên tội ác diệt chủng của tập đoàn Khơmer “Đỏ” đưa đất nước Campuchia đến thảm họa diệt vong Sự tàn sát đẫm máu mà Khơmer “Đỏ” gây ra cho nhân dân Campuchia như thời trung cổ Cuốn sách còn kể lại những chiến công
và sự dũng cảm hy sinh của các chiến sỹ quân tình nguyện Việt Nam Sự giúp đỡ vô
tư, chí tình, không tiếc máu xương của Việt Nam để lại dấu ấn tốt đẹp đối với nhân dân Campuchia Mỗi khi nói đến Việt Nam, người dân Campuchia đã dành những tình cảm tốt đẹp nhất: Việt Nam là chủ nghĩa anh hùng cách mạng; Việt Nam đồng nghĩa với chủ nghĩa quốc tế vô sản; Việt Nam là tâm hồn trong sáng, là tình nghĩa thủy chung, là đoàn kết gắn bó, là hy sinh cao cả Công ơn này sẽ mãi mãi khắc sâu trong trái tim mỗi người dân Campuchia yêu nước đời này cũng như muôn đời con cháu mai sau
Trang 20Cuốn “Lịch sử Campuchia” của các tác giả Phạm Việt Trung, Nguyễn Xuân
Kỳ, Đỗ Văn Nhung, (Nxb Đại học và Trung học chuyên nghiệp, 1982), đề cập đến các thời kỳ lịch sử Campuchia kể từ buổi sơ khai cho đến khi nhân dân Campuchia đứng lên lật đổ chế độ diệt chủng Pôn Pốt- Iêngxari Cuốn sách đã đề cập đến chính sách đối ngoại trung lập của Campuchia Các tác giả cho rằng, sau khi Campuchia thực hiện chính sách trung lập, các thế lực như Mỹ, Thái Lan…đã tiến hành những
âm mưu, hành động thù địch chống phá Campuchia Campuchia là đất nước có lịch
sử hết sức thăng trầm và có những thời kỳ hết sức khó khăn, đen tối Trong quá khứ, nhân dân Đại Việt và Chân Lạp đã có mối quan hệ láng giềng hữu hảo
Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (1946-1954) và chống đế quốc
Mỹ (1954-1975) của Việt Nam, tình đoàn kết, hữu nghị giúp đỡ lẫn nhau giữa Việt Nam với Lào và Campuchia đã thể hiện một cách sâu sắc, tạo nên một liên minh ba nước Đông Dương: Việt Nam - Lào - Campuchia bền vững Cuốn sách kể lại thời
kỳ tập đoàn Khmer “Đỏ” do Pôn Pốt - Iêngxari - Khiêu Xamphon cầm đầu trong gần 4 năm (từ năm 1975 đến năm 1979), đã thi hành chính sách phản động dã man, giết người nhưng lại tuyên truyền là “xây dựng xã hội Campuchia dân chủ”, đẩy đất nước Campuchia đến thảm họa diệt vong Không những thế, tập đoàn Khmer “Đỏ” còn tàn sát hàng vạn người dân vô tội Việt Nam ở vùng biên giới, điên cuồng phản kháng và giết hại quân tình nguyện Việt Nam đang làm nghĩa vụ quốc tế giúp nhân dân Campuchia lật đổ chế độ Khmer “Đỏ” của Tập đoàn Pôn Pốt Iêngxari - Khiêu Xamphon, thoát khỏi họa diệt chủng; dẫn tới năm 1979, nước Cộng hòa Dân chủ nhân dân Campuchia ra đời
Tác phẩm “Liên minh đoàn kết chiến đấu Việt Nam - Lào - Campuchia” của
Hoàng Văn Thái, (Nxb Sự thật, Hà Nội, 1983), đã nêu bật quan hệ liên minh chặt chẽ về quân sự của Việt Nam và Campuchia trong các giai đoạn lịch sử quan trọng chống thực dân, đế quốc và cả trong thời kỳ Cộng hòa Dân chủ nhân dân Campuchia hồi sinh sau họa diệt chủng Cuốn sách khẳng định: những chiến sỹ quân tình nguyện Việt Nam không quản ngại hy sinh, gian khổ đã cùng kề vai, sát cánh với quân, dân Campuchia đánh đuổi kẻ thù chung, giành lấy những thắng lợi
to lớn cho cách mạng mỗi nước
Trang 21Công trình “Cộng hòa nhân dân Campuchia mười năm bảo vệ và xây dựng đất
nước” của Phạm Thành, (Nxb Sự thật, Hà Nội,1989), đã tái hiện chặng đường lịch
sử 10 năm (1979-1989) của đất nước Campuchia trên lĩnh vực: xây dựng chính quyền, khôi phục phát triển kinh tế, giáo dục, văn hóa, y tế Trong đó, công trình đã
đề cập đến sự giúp đỡ, ủng hộ của Việt Nam đối với Campuchia
Cuốn “Lịch sử Campuchia” của Phạm Đức Thành, (NXB Văn hóa thông tin, Hà
Nội, 1995), đã tái hiện lịch sử Campuchia cho đến năm 1991, thời điểm Hiệp định
về một giải pháp chính trị toàn diện giải quyết cuộc xung đột ở Campuchia (thường được gọi là Hiệp định Hòa bình Pari về Campuchia) được kí kết Một phần cuốn sách nói về chính sách đối ngoại hòa bình trung lập của Campuchia, đề cập đến tình hình thế giới, khu vực và Campuchia, những nhân tố tác động đến sự lựa chọn chính sách đối ngoại trung lập cũng như một số chuyển biến về kinh tế xã hội của Campuchia trong giai đoạn 1955-1970 Cuốn sách nói đến sự hình thành trật tự thế giới hai cực, phong trào Không liên kết và xu hướng trung lập trên thế giới, đồng thời mô tả bức tranh về tình hình kinh tế - xã hội Campuchia sau khi giành được độc lập hoàn toàn
Công trình “Ngoại giao Việt Nam (1945 - 2000)”, Nguyễn Đình Bin (Chủ
biên), (Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002), phục dựng lại bức tranh toàn cảnh ngoại giao Việt Nam từ khi nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa ra đời đến năm 2000 Biết bao thăng trầm, khó khăn, thử thách và thắng lợi vẻ vang trên con đường đối ngoại của Đảng Cộng sản Việt Nam Đảng luôn kiên định giữ vững về nguyên tắc nhưng mềm dẻo về sách lược Đối với các nước, cũng như đối với Campuchia, Việt Nam luôn tôn trọng độc lập, chủ quyền, không can thiệp vào công việc nội bộ của Campuchia, bình đẳng, hai bên cùng có lợi Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, thực hiện tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh, 55 năm ngoại giao Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu to lớn trong quan hệ với các nước trên thế giới, trong khu vực và ba nước trên bán đảo Đông Dương, đặc biệt là đối với Campuchia
Công trình “Các quan hệ Khmer - Việt Nam” của tác giả Nguyễn Thị Hảo,
(Ban Biên giới xuất bản, Hà Nội, 2002), nghiên cứu về quan hệ giữa Campuchia và Việt Nam Quan hệ giữa Campuchia và Việt Nam được tác giả nhìn nhận chủ yếu
Trang 22trên khía cạnh xung đột và tranh chấp, đặc biệt là các vấn đề lãnh thổ và quốc tịch của người Việt ở Campuchia, của người Khmer ở miền Nam Việt Nam Trong đó, tác giả cũng đã đề cập đến quan điểm, chính sách của hai bên đối với nhau
“Kỷ yếu tóm tắt hoạt động của Ban liên lạc cựu chuyên gia Việt Nam giúp Campuchia” Ban Liên lạc Cựu chuyên gia Việt Nam giúp Campuchia, (Nxb Giao
thông vận tải, Hà Nội, 2007), là cuốn hồi kí của các nhân chứng lịch sử đã từng là chuyên gia giúp nước bạn Campuchia, đây là nguồn tài liệu quý Kỷ yếu có những bài viết kể lại những việc mà các chuyên gia đã làm giúp đất nước Campuchia khi được cử sang làm nhiệm vụ quốc tế Những câu chuyện của quá khứ hết sức chân thực, cảm động Trong kỷ yếu cũng có bài viết về những hoạt động của Ban liên lạc tiếp tục củng cố tăng cường tình đoàn kết, quan hệ với Campuchia của Việt Nam trên nhiều lĩnh vực
“Chủ trương của Đảng Cộng sản Việt Nam trong quan hệ với Trung Quốc từ
năm 1975 đến năm 2001”, (Luận án Tiến sĩ lịch sử của Nguyễn Thị Mai Hoa, lưu
tại Thư viện Quốc gia, Hà Nội, 2007) đã trình bày và phân tích chủ trương đối ngoại của Đảng trong quan hệ với Trung Quốc từ sau khi đất nước hòa bình thống nhất năm 1975 đến năm 2001 Luận án đã đề cập đến quá trình giải quyết vấn đề Campuchia, nhằm thúc đẩy bình thường hóa quan hệ Việt - Trung, bởi vì Trung Quốc không chỉ là nước Xã hội chủ nghĩa láng giềng lớn, tiếp giáp với phía Bắc của Việt Nam, mà còn là nước có liên quan, ảnh hưởng, chi phối trực tiếp quan hệ của Việt Nam với Campuchia Vì vậy, chủ trương của Đảng Cộng sản Việt Nam trong quan hệ với Trung Quốc luôn được đặc biệt quan tâm, nhất là từ sau khi miền Nam Việt Nam được giải phóng, năm 1975 Luận án đã nêu rõ những nét chính trong quan hệ của Việt Nam với Trung Quốc Trong quan hệ với Trung Quốc, yếu tố Campuchia được coi là đặc biệt Khi Việt Nam đưa quân tình nguyện sang Campuchia làm nghĩa vụ quốc tế thì đó cũng là cớ để Trung Quốc có nhiều hành động gây khó khăn cho Việt Nam, hậu thuẫn cho Khmer “Đỏ” trong cuộc chiến tranh ở biên giới Tây Nam và xâm lược biên giới phía Bắc Việt Nam Chủ trương của Đảng Cộng sản Việt Nam trong quan hệ đối với Trung Quốc có lúc mềm dẻo, nhân nhượng nhưng luôn giữ vững nguyên tắc, bảo vệ độc lập chủ quyền của dân
Trang 23tộc, đồng thời thể hiện rõ lập trường, quan điểm của Việt Nam trong vấn đề Campuchia
“Chính sách đối ngoại của Campuchia giai đoạn 1953 - 1970”của Nguyễn
Thành Văn, Luận án Tiến sĩ, (Nxb Hà Nội, 2012), đã làm rõ bối cảnh thế giới, khu
vực Đông Nam Á và tình hình Campuchia giai đoạn 1945 - 1970, lý giải việc lựa chọn chính sách đối ngoại trung lập, những nhân tố tác động đến việc thực hiện chính sách này Luận án đã làm rõ quá trình hình thành, mục tiêu, nội dung, đặc điểm chính sách đối ngoại trung lập của Campuchia trong giai đoạn 1953 - 1970, việc thực hiện chính sách qua mối quan hệ của Campuchia với Việt Nam và các nước khác như Mỹ, Trung Quốc, Thái Lan, Liên Xô; đồng thời đánh giá hệ quả của chính sách này đối với Campuchia và cuộc đấu tranh thống nhất đất nước của nhân dân Việt Nam
Như vậy, Luận án trình bày mối quan hệ Campuchia - Việt Nam, chính sách đối ngoại của Campuchia đối với Việt Nam và các nước khác, không chỉ với các nước tư bản chủ nghĩa như: Mỹ, Thái Lan, mà còn với các nước Xã hội chủ nghĩa như: Liên
Xô, Trung Quốc Luận án đã nêu bật đặc điểm và hệ quả của chính sách đối ngoại mang đậm dấu ấn của Nôrôđôm Xihanúc, đó là tính trung lập linh hoạt Tác giả đã
đề cập tới những hệ quả đối với quan hệ quốc tế, chính trị, an ninh và kinh tế - xã hội của Campuchia, đặc biệt chỉ rõ tác động đối với cuộc kháng chiến chống Mỹ của nhân dân Việt Nam
Cuốn “Quan hệ Việt Nam - Campuchia từ sau chiến tranh lạnh đến nay” của TS
Trần Xuân Hiệp, trường Đại học Duy Tân, (Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 2014), nêu rõ: những nhân tố tác động tới quan hệ Việt Nam - Campuchia thời kỳ sau chiến tranh lạnh như: nhân tố địa lý, văn hóa và lịch sử, bối cảnh quốc tế và khu vực, cạnh tranh ảnh hưởng giữa các nước lớn, đặc biệt là giữa Mỹ và Trung Quốc ở Campuchia; tình hình Việt Nam, Campuchia, chính sách của Việt Nam đối với Campuchia và ngược lại Trình bày tiến triển trong quan hệ Việt Nam - Campuchia
từ sau chiến tranh lạnh kết thúc, nêu lên tiến triển trong quan hệ giữa hai nước về chính trị, ngoại giao, an ninh - quốc phòng; kinh tế và các lĩnh vực khác trong các khuôn khổ hợp tác đa phương Cuốn sách đã đưa ra những nhận xét, đánh giá về
Trang 24quan hệ Việt Nam - Campuchia, đánh giá chung về thành tựu và hạn chế trong quan
hệ hai nước Đặc điểm và những tác động của quan hệ Việt Nam - Campuchia đến hai nước và khu vực Đồng thời nêu lên triển vọng của quan hệ Việt Nam - Campuchia trong các thời kỳ, giai đoạn khác nhau
1.1.2 Nhóm công trình nghiên cứu sự lãnh đạo của Đảng trong quan hệ của Việt Nam với Campuchia
Cuốn "Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo hoạt động đối ngoại (1986 -2000)”
của TS Vũ Quang Vinh, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh (Nxb Thanh
niên, 2001), trình bày một cách có hệ thống đường lối, chính sách và hoạt động đối
ngoại của Đảng Cộng sản Việt Nam trong thời kỳ đổi mới; phân tích, tổng kết một
số thành tựu và kinh nghiệm hoạt động đối ngoại dưới sự lãnh đạo của Đảng trong
15 năm tiến hành đổi mới toàn diện đất nước (từ năm 1986 đến năm 2000) Cuốn sách nêu rõ hoạt động ngoại giao Việt Nam trước năm 1986; sự đổi mới tư duy, hoạt động đối ngoại của Đảng trong những năm 1986-1991
Từ năm 1991 đến năm 2000, Việt Nam tiếp tục đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa dạng hóa, đa phương hóa Cuốn sách chỉ rõ nguy cơ các thế lực thù địch thực hiện “Diễn biến hòa bình” chống phá quan hệ của Việt Nam với các nước trong khu vực, với các nước láng giềng và nhấn mạnh những khó khăn do “Diễn biến hòa bình” gây nên trong quan hệ của Việt Nam với Campuchia
Khi nói đến những thành tựu và kinh nghiệm hoạt động đối ngoại dưới sự lãnh đạo của Đảng trong 15 năm đổi mới, cuốn sách nhấn mạnh thành tựu chủ yếu trong quan hệ với Campuchia Trên cơ sở đó đưa ra những đề xuất với Đảng trong việc đề
ra chủ trương, chỉ đạo thực hiện mối quan hệ của Việt Nam với Campuchia
“Đảng cộng sản Việt Nam với quan hệ của Việt Nam với Campuchia từ năm
1979 đến năm 1997” của Nguyễn Mạnh Linh, Luận văn Thạc sĩ lịch sử, chuyên
ngành lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội, 2014
Luận văn nghiên cứu sự lãnh đạo của Đảng đối với quan hệ của Việt Nam với Campuchia, có tên đề tài cùng dạng với đề tài Luận án của tác giả nhưng khác về
Trang 25mốc thời gian, tuy nhiên có trùng với đề tài Luận án của tác giả khoảng thời gian 4 năm (từ năm 1993 đến năm 1997) Luận văn đã nêu lên chủ trương của Đảng cộng sản Việt Nam trong mối quan hệ của Việt Nam với Campuchia; dựng lại bức tranh
về mối quan hệ Việt Nam - Campuchia; nêu lên những thành tựu và hạn chế trong việc chỉ đạo thực hiện, từ đó rút ra những kinh nghiệm lịch sử trong việc Đảng lãnh đạo quan hệ của Việt Nam với Campuchia từ năm 1979 - 1997 Luận văn nêu lên bối cảnh lịch sử, từ đó trình bày chủ trương của Đảng Cộng sản Việt Nam và các hoạt động của Nhà nước, Chính phủ Việt Nam nhằm đẩy mạnh phối hợp với Campuchia đấu tranh, thi hành Hiệp định Pari về giải pháp toàn bộ cho vấn đề Campuchia, gắn với việc củng cố, phát triển quan hệ hữu nghị, hợp tác giữa Việt Nam với Campuchia
Cùng với các công trình, các luận văn, luận án nêu trên, trong các tạp chí Khoa học, tạp chí Lịch sử Đảng có một số bài nghiên cứu về sự lãnh đạo của Đảng trong quan hệ của Việt Nam với Campuchia, về Campuchia, hay về quan hệ Việt Nam -
Campuchia, được nêu trong phần phụ lục của Luận án
1.2 Nhận xét về kết quả nghiên cứu liên quan đến đề tài và những vấn đề Luận án tiếp tục nghiên cứu
1.2.1 Nhận xét về kết quả nghiên cứu liên quan đến đề tài
Khái quát tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài của hai nhóm công trình trên đây, tác giả nhận thấy mối quan hệ của Việt Nam với Campuchia đã thu hút được sự nghiên cứu của các nhà khoa học, các cơ quan, các Tổ chức Liên quan đến quan hệ của Việt Nam với Campuchia đã có rất nhiều công trình nghiên cứu khác nhau, không chỉ bao gồm các sách chuyên khảo mà còn có trên nhiều tạp chí chuyên ngành Các kết quả nghiên cứu của các công trình nói trên giúp cho Luận án có thể tiếp thu được ở một số mặt, cụ thể như sau:
Một là, các công trình trên đã cung cấp một số nội dung về truyền thống đoàn kết giữa hai dân tộc Việt Nam và Campuchia, nhất là từ khi có Đảng Cộng sản Việt Nam, về tình hình thế giới, khu vực trước năm 1993 và có liên quan đến quan hệ
của Việt Nam với Campuchia từ năm 1993 đến năm 2010
Trang 26Hai là, một số chủ trương, biện pháp của Đảng trong việc bình thường hóa và phát triển quan hệ của Việt Nam với Campuchia, những hoạt động cụ thể phong phú của các cấp bộ Đảng, Nhà nước và các đoàn thể nhân dân nhằm thúc đẩy quan hệ của Việt Nam với Campuchia từ trước năm 1993 đến năm 2000, có khái quát một
số bài học kinh nghiệm
Ba là, về mặt tư liệu, những công trình nghiên cứu như đã trình bày, nhiều dữ liệu trong quan hệ của Việt Nam với Campuchia trên các lĩnh vực: chính trị, an ninh
- quốc phòng, kinh tế và văn hóa, cung cấp những kiến thức cơ bản và cần thiết để
tiếp tục nghiên cứu về sự lãnh đạo của Đảng trong quan hệ của Việt Nam với Campuchia
Các công trình đã gợi ý, cung cấp nguồn tư liệu tham khảo, tạo điều kiện để tác giả chắt lọc, mô tả, giải quyết và đánh giá những vấn đề liên quan đến đề tài cũng như một số luận điểm về quan hệ của Việt Nam với Campuchia
Bốn là, về phương pháp, các công trình nghiên cứu đã cung cấp cho Luận án những góc nhìn từ nhiều khía cạnh, nhiều vấn đề khác nhau Bên cạnh các phương pháp cơ bản nghiên cứu lịch sử chủ yếu, như: phương pháp lịch sử, phương pháp logic, phương pháp phân tích, tổng hợp, sự phối kết hợp các phương pháp ấy phù hợp với yêu cầu và nhiệm vụ của Luận án, các công trình nghiên cứu đã nêu lên những chuyển biến của tình hình thế giới, khu vực, tình hình Việt Nam và Campuchia đồng thời nhằm làm sáng tỏ mối quan hệ của Việt Nam với Campuchia trong những thời điểm lịch sử có những biến động mang tính bước ngoặt Tác giả tiếp thu được phương pháp tiếp cận và một số dữ liệu bổ ích, đồng thời có cái nhìn khách quan, cụ thể, đầy đủ hơn về những vấn đề Luận án tiếp tục nghiên cứu về sự lãnh đạo của Đảng trong mối quan hệ của Việt Nam với Campuchia trên các lĩnh vực:
- Quan hệ về chính trị
- Quan hệ về an ninh - quốc phòng
- Quan hệ về kinh tế và văn hóa
Như vậy, những công trình trên có giá trị nhiều mặt đối với Luận án của chúng tôi cả về nội dung, tư liệu và phương pháp nghiên cứu; đã cung cấp nhiều tri thức
quan trọng để tác giả tiếp tục đi sâu nghiên cứu đề tài: “Đảng Cộng sản Việt Nam
lãnh đạo quan hệ của Việt Nam với Campuchia từ năm 1993 đến năm 2010.”
Trang 27Quan hệ của Việt Nam với Campuchia là vấn đề đang được giới nghiên cứu rất quan tâm, kết quả nghiên cứu được thể hiện ở những khía cạnh và mức độ khác nhau Phần lớn các công trình đều khẳng định tầm quan trọng và tính tất yếu của việc Việt Nam phải mở rộng quan hệ với thế giới, với khu vực và đặc biệt là với Campuchia; nhấn mạnh cần phải củng cố, tăng cường và phát triển quan hệ của Việt Nam với Campuchia nhằm góp phần phát triển đất nước, phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hóa, công cuộc đổi mới, giữ vững ổn định trong khu vực Dưới nhiều góc độ tiếp cận khác nhau, các tác giả đã nêu lên những chuyến biến của tình hình thế giới và khu vực, tình hình Việt Nam và Campuchia đồng thời chỉ ra mối quan hệ của hai nước trong các giai đoạn trước năm 1993 Một số công trình đề cập đến chủ trương,
sự chỉ đạo của Đảng trong quan hệ của Việt Nam với Campuchia, đánh giá những
ưu điểm, hạn chế và rút ra những kinh nghiệm từ sự lãnh đạo của Đảng trong quan hệ của Việt Nam với Campuchia nhưng chỉ từ năm 1979 đến năm 2000, riêng từ năm
1993 đến năm 2000 nêu còn chung chung hoặc ở một vài khía cạnh riêng lẻ, tản mạn
Những công trình đó khai thác tư liệu trong nước là chủ yếu, rất ít được khai thác từ nguồn tài liệu sơ cấp hay của các tác giả nước ngoài; phần lớn chỉ tập trung vào một
số lĩnh vực, từng mặt, trong một vài năm hay từng giai đoạn nhất định
Bên cạnh các công trình của tác giả Việt Nam, các công trình của các tác giả nước ngoài viết bằng tiếng Anh hầu hết chỉ dừng ở việc mô tả lại quan hệ giữa Việt Nam và Campuchia qua các năm, có đưa ra những lời bình luận, nhận xét nhưng không đề cập sâu và đánh giá không toàn diện, chính xác, khách quan về chủ trương chính sách của Đảng Cộng sản Việt Nam
1.2.2 Những vấn đề Luận án cần tiếp tục nghiên cứu
Dựa trên việc nhận xét về kết quả nghiên cứu liên quan đến đề tài, những kết quả đã đạt được mà Luận án có thể kế thừa Luận án tiếp tục nghiên cứu những vấn
đề sau đây:
Một là, đi sâu nghiên cứu, luận giải rõ những yếu tố có tác động đến sự lãnh đạo của Đảng về giải quyết quan hệ của Việt Nam với Campuchia (1993-2010), tập trung làm rõ các yếu tố: tình hình thế giới, khu vực, tình hình mỗi nước Việt Nam
và Campuchia, thực trạng quan hệ của Việt Nam với Campuchia trước năm 1993,
Trang 28yêu cầu mới đặt ra trong quan hệ Việt Nam - Campuchia, tác động của các nước lớn vào Campuchia
Hai là, những chủ trương của Đảng về quan hệ của Việt Nam với Campuchia, thể hiện qua các nghị quyết, chỉ thị của Ban chấp hành Trung ương Đảng, Bộ chính trị, Ban Bí thư, các bài nói và bài viết của các vị lãnh đạo Đảng và Nhà nước về quan hệ của Việt Nam với Campuchia Chủ trương và biện pháp chỉ đạo của Đảng đối với quan hệ của Việt Nam với Campuchia, chủ yếu trên các mặt:
- Về quan hệ chính trị
- Về quan hệ an ninh - quốc phòng
- Về quan hệ kinh tế và văn hóa
Ba là, sự chỉ đạo của Đảng nhằm củng cố, tăng cường mối quan hệ của Việt Nam với Campuchia, bao gồm chỉ đạo các cấp bộ Đảng, Nhà nước, các đoàn thể nhân dân, các doanh nghiệp, Tổ chức và cá nhân thực hiện chủ trương của Đảng trong quan hệ của Việt Nam với Campuchia trên các lĩnh vực cụ thể nêu trên
Bốn là, đưa ra những ưu điểm, hạn chế, nguyên nhân từ quá trình Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo quan hệ của Việt Nam với Campuchia từ năm 1993 đến năm
2010, đúc kết kinh nghiệm từ qúa trình lãnh đạo đó
Tiểu kết chương 1
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu về quan hệ của Việt Nam với Campuchia rất phong phú và đa dạng, được thể hiện qua những sách chuyên khảo, tham khảo đã được xuất bản, những cuốn hồi kí, kỷ yếu, luận án… Lịch sử quan hệ Việt Nam - Campuchia được hiện lên một cách rõ nét từ xưa, chú trọng từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời (năm 1930) đến cuối những năm 1980 của thế kỷ XX, khi quân tình nguyện Việt Nam rút về nước, hoàn thành nghĩa vụ quốc tế ở Campuchia Một số công trình nghiên cứu về lịch sử Campuchia, về quan hệ Việt Nam - Campuchia, Campuchia - Việt Nam, nêu tóm tắt về quan hệ Việt Nam - Campuchia nhằm phục vụ công tác đối ngoại, những tài liệu này đã sắp xếp các sự kiện theo hệ thống biên niên, giúp người đọc nắm bắt được những nét khái quát của tiến trình lịch sử trong quan hệ ngoại giao nước nhà Hiện nay, đang có đề tài cấp Nhà nước nghiên cứu về Lịch sử quan hệ Việt Nam - Campuchia và Campuchia - Việt Nam
Trang 29Luận án tiếp thu được những vấn đề trong quan hệ của Việt Nam với Campuchia trước năm 1993, đó là mối quan hệ truyền thống, cần được tiếp tục giữ gìn và củng cố trong những giai đoạn tiếp theo
Nhóm công trình nghiên cứu những vấn đề trong quan hệ của Việt Nam với Campuchia gồm sách, luận văn nghiên cứu về vấn đề Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo quan hệ của Việt Nam với Campuchia, sát hợp và phục vụ cho việc nghiên cứu đề tài của tác giả dưới góc độ chuyên ngành Lịch sử Đảng, nhưng các công trình này số lượng không nhiều, không đa dạng như nhóm thứ nhất Đồng thời, mỗi một công trình lại có mục đích, phạm vi, không gian, thời gian, đối tượng nghiên cứu khác nhau, giúp tác giả chắt lọc những vấn đề có liên quan đến đề tài để tiếp tục
nghiên cứu
Các công trình nghiên cứu đã cung cấp không chỉ về tư liệu, mà cả phương pháp, giúp cho việc đi sâu nghiên cứu sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam nhằm củng cố, tăng cường và phát triển quan hệ của Việt Nam với Campuchia trong
thời gian từ năm 1993 đến năm 2010
Trang 30Chương 2 CHỦ TRƯƠNG VÀ SỰ CHỈ ĐẠO CỦA ĐẢNG TRONG QUAN HỆ CỦA VIỆT NAM VỚI CAMPUCHIA TỪ NĂM 1993 ĐẾN NĂM 2000 2.1 Chủ trương củng cố quan hệ của Việt Nam với Campuchia
2.1.1 Những yếu tố ảnh hưởng đến quan hệ của Việt Nam với Campuchia
Những biến đổi của tình hình thế giới sau chiến tranh lạnh
Sau sự sụp đổ và tan rã của các nước Xã hội chủ nghĩa ở Liên xô và Đông Âu năm 1991, chủ nghĩa xã hội trên thế giới lâm vào thoái trào, Mỹ ráo riết đẩy nhanh việc hình thành trật tự thế giới đơn cực do Mỹ chi phối Nhưng các nước lớn khác không chấp nhận vai trò “độc tôn” lãnh đạo của Mỹ, đã triển khai các bước đi khác nhau nhằm thiết lập một thế giới đa cực, tập hợp lực lượng mới và tạo nên sự cạnh tranh chiến lược
Thời kì này, trật tự thế giới được xây dựng dựa trên cơ sở kinh tế và chính trị không dựa trên sự đối đầu về sức mạnh quân sự giữa hai khối tư bản chủ nghĩa (đứng đầu là Mỹ) và Xã hội chủ nghĩa (đứng đầu là Liên Xô) như trước đây Trong tình hình mới, việc phát triển kinh tế là trọng tâm của mỗi quốc gia, các nước chuyển từ đối đầu sang đối thoại, vừa hợp tác vừa đấu tranh, hòa hoãn, bình thường hóa, đa dạng hóa và đa phương hóa quan hệ đối ngoại
Sự phát triển mạnh mẽ của cách mạng khoa học - công nghệ, nhất là sự bùng nổ của công nghệ thông tin, làm thay đổi căn bản cơ cấu kinh tế thế giới và tác động trực tiếp đến mọi lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội các quốc gia, thúc đẩy quá trình toàn cầu hóa, quốc tế hóa nền kinh tế, làm cho sự liên kết ngày càng chặt chẽ,
sự phụ thuộc lẫn nhau ngày càng tăng
Cộng đồng thế giới đứng trước nhiều vấn đề phức tạp mang tính toàn cầu, những mối đe dọa an ninh phi truyền thống như thảm họa môi trường do thiên tai, biến đổi khí hậu, dịch bệnh hiểm nghèo, khủng bố quốc tế, tội phạm ma túy… đòi hỏi cần phải có sự hợp tác của các nước mới giải quyết được
Liên kết quốc tế, khu vực hóa, toàn cầu hóa ngày càng trở thành xu thế chính trong quan hệ quốc tế, đưa các quốc gia, dân tộc vào các mối quan hệ liên doanh,
Trang 31liên kết, phụ thuộc lẫn nhau, dựa vào nhau để phát triển Quá trình mở rộng và phát triển nhanh và mạnh mẽ của hàng loạt Tổ chức quốc tế, khu vực như: Diễn đàn hợp tác kinh tế châu Á - Thái Bình Dương (APEC, 1989), Liên minh châu Âu (EU, 1993) đã tác động sâu rộng tới chính sách đối ngoại của các nước
Hội nghị lần thứ 6 Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII (1996) đánh giá: trong những thập niên cuối thế kỷ XX, cuộc cách mạng khoa học và công nghệ trên thế giới tiếp tục phát triển với tốc độ và trình độ ngày càng cao, lực lượng sản xuất tăng nhanh, đồng thời thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế thế giới, quốc tế hóa nền kinh tế và đời sống xã hội Quốc tế hóa và khu vực hóa nền kinh tế thế giới đã và đang trở thành xu hướng chủ đạo, cuốn hút nhiều quốc gia tham gia Chủ nghĩa xã hội tạm thời lâm vào thoái trào sau sự sụp đổ của chế độ Xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và các nước Đông Âu Nguy cơ chiến tranh thế giới hủy diệt đã bị đẩy lùi, nhưng các cuộc xung đột vũ trang, chiến tranh cục bộ, xung đột về dân tộc, sắc tộc và tôn giáo, chạy đua vũ trang, hoạt động can thiệp, lật đổ, khủng bố vẫn xảy ra ở nhiều nơi Cộng đồng thế giới đứng trước nhiều vấn đề có tính toàn cầu như vấn đề môi trường, nguy cơ bùng nổ dân số, ngăn ngừa và đẩy lùi bệnh tật hiểm nghèo… không một quốc gia riêng lẻ nào có thể tự quyết, mà cần phải có sự hợp tác
đa phương
Bối cảnh khu vực Đông Nam Á và sự can thiệp của các nước lớn
Mặc dù vào cuối những năm 90 của thế kỷ XX, các nước ở khu vực Đông Nam Á đã lâm vào cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ, kéo theo khủng hoảng kinh
tế - xã hội nghiêm trọng, gây nhiều bất lợi cho các nước trong khu vực trước thềm thiên niên kỷ mới, song đây vẫn là khu vực rộng lớn, tập trung những nước đông dân nhất thế giới, với nguồn nhân lực cần cù, sáng tạo, tài nguyên thiên nhiên phong phú và đa dạng, nằm trên trục đường giao thông quan trọng, vì vậy Đông Nam Á
vẫn được coi là “khu vực đầy tiềm năng”, có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao hơn
một số khu vực khác
Khu vực châu Á - Thái Bình Dương đã và đang phát triển năng động Từ năm
1993, quan hệ giữa hai nhóm nước ASEAN (1967) và Đông Dương thay đổi cơ bản,
Trang 32chuyển từ trạng thái đối đầu sang đối thoại, thúc đẩy hòa bình, hữu nghị, hợp tác, trở thành xu hướng chính ở Đông Nam Á sau chiến tranh lạnh và khi bước sang thế
kỷ mới Bản thân các nước ASEAN cũng nhận thức được rằng khó có thể đóng vai trò có ý nghĩa hơn trong khu vực châu Á - Thái Bình Dương nếu như chưa giải quyết được những vấn đề của chính mình ở Đông Nam Á
Việc mở rộng ASEAN từ 6 lên đến 10 thành viên đã nâng cao vị thế của Tổ chức này trong khu vực Châu Á - Thái Bình Dương và trên trường quốc tế Ngôi nhà chung ASEAN, bao gồm 10 nước Đông Nam Á được xây dựng trên nền móng những lợi ích chung về an ninh, chính trị góp phần ngăn chặn những mâu thuẫn bên trong và hạn chế sự can thiệp từ bên ngoài vào khu vực Xét về khía cạnh kinh tế, việc mở rộng ASEAN tạo điều kiện mở rộng thị trường thương mại và đầu tư trong nội bộ khối Bên cạnh đó, việc mở rộng thành viên sẽ giúp ASEAN giảm khả năng lôi kéo, gây áp lực của các nước lớn đối với các nước trong khu vực
Nhìn chung, sau chiến tranh lạnh, môi trường hòa bình, ổn định và phát triển của khu vực được duy trì nhưng chưa thật vững chắc, vẫn còn tiềm ẩn một số nhân
tố có thể gây mất ổn định Trong nội bộ một số nước và giữa các nước với nhau còn tồn tại mâu thuẫn, xung đột về chính trị, sắc tộc, tôn giáo, kinh tế - xã hội, biên giới trên đất liền, hải đảo và trên biển, đặc biệt là cuộc tranh chấp ở Biển Đông liên quan đến nhiều nước Những diễn biến trong quan hệ giữa các nước lớn có liên quan đến khu vực và có sự dính líu, can thiệp dưới những hình thức mới gây không ít phức tạp cho các quốc gia và quan hệ giữa các nước trong khu vực với nhau
Bối cảnh quốc tế và khu vực nói trên, ảnh hưởng không nhỏ đến công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam Xã hội chủ nghĩa và đường lối đối ngoại của Việt Nam
Những biến đổi của tình hình thế giới và khu vực đã tạo điều kiện, môi trường khách quan thuận lợi cho việc thúc đẩy các mối quan hệ hợp tác quốc tế cũng như quan hệ giữa các quốc gia với nhau, trong đó có quan hệ của Việt Nam với Campuchia
Châu Á - Thái Bình Dương là khu vực kinh tế phát triển năng động với tốc độ cao, đồng thời tiềm ẩn một số nhân tố có thể gây mất ổn định, là nơi cạnh tranh chiến
Trang 33lược giữa các nước lớn, nhất là Mỹ và Trung Quốc Trong khi Trung Quốc thông qua các hoạt động kinh tế để gây ảnh hưởng thì Mỹ tăng cường sự hiện diện trở lại
về quân sự, tranh giành và kiềm chế ảnh hưởng của Trung Quốc ở khu vực
Có thể nói rằng Campuchia có tầm quan trọng trong chiến lược của Mỹ ở khu vực, đặc biệt là ý đồ đưa ASEAN vào ảnh hưởng của Mỹ
Mỹ chủ trương không để Campuchia rơi vào quỹ đạo của bất cứ một cường quốc nào trong và ngoài khu vực Chính vì vậy, năm 1992, Mỹ xóa bỏ lệnh cấm vận
và thực hiện bình thường hóa quan hệ với Campuchia Mỹ đã tăng viện trợ cho Campuchia
Trung Quốc là nước có ảnh hưởng rất lớn đối với Campuchia, ra sức duy trì ảnh hưởng, lôi kéo Campuchia vào quỹ đạo của Trung Quốc bằng việc ủng hộ Chính phủ Liên hiệp và tăng cường quan hệ với CPP do Thủ tướng Xăm - đéc Hun Xen đứng đầu:
“Ngoài lợi ích trong thương mại và khai thác tài nguyên, Trung Quốc đến Campuchia còn vì mục tiêu chiến lược Do vị trí tranh chấp giữa Việt Nam
và Trung Quốc trên vùng biển Đông giàu dầu khí, Trung Quốc muốn Campuchia trở thành một quốc gia phục tùng Trung Quốc, Trung Quốc coi Campuchia như một vành đai an ninh trong vùng” [164]
Từ thực tế trên cho thấy, châu Á - Thái Bình Dương nói chung và Đông Nam
Á nói riêng tiếp tục là địa bàn chiến lược tranh chấp ảnh hưởng giữa các nước lớn, đặc biệt là Mỹ và Trung Quốc Riêng đối với Campuchia, mặc dù ảnh hưởng của
Mỹ có tăng lên nhưng không thể áp đảo Trung Quốc do những lợi thế mà Trung Quốc có được về điều kiện địa lý, tiềm lực kinh tế, chiến lược ngoại giao Như vậy, quan hệ giữa Việt Nam và Campuchia không thể tách rời những ảnh hưởng của các nhân tố nước lớn, đặc biệt là Trung Quốc
Nhân tố Mỹ và Trung Quốc có ảnh hưởng cả tích cực lẫn tiêu cực tới quan hệ của Việt Nam với Campuchia; một mặt, có tác dụng thúc đẩy mối quan hệ của Việt Nam với Campuchia phát triển hơn nhằm đối phó với những thách thức từ bên ngoài, mặt khác làm cho quan hệ Việt Nam - Campuchia và Campuchia - Việt Nam trở nên khó khăn, phức tạp và kém bền vững
Trang 34Quan hệ giữa Mỹ, Trung Quốc với Campuchia, đã tác động rất lớn đến chính sách ngoại giao của Campuchia Sự cạnh tranh giữa các nước lớn là thách thức không nhỏ đối với Campuchia và ảnh hưởng đến mối quan hệ của Việt Nam với Campuchia và chính sách đối ngoại của Campuchia đối với Việt Nam Thực tế Trung Quốc có quan hệ chặt chẽ với Campuchia hơn Mỹ
“Những chính sách đối nội hay đối ngoại của chính quyền Phnôm Pênh đều chịu một phần sự chi phối của nước lớn, không chỉ đơn thuần về kinh tế mà cả chính trị, nhất là từ phía Mỹ và Trung Quốc Điều này càng làm phức tạp thêm tình hình chính trị nội tại và trở thành một thách thức không hề nhỏ trong quá trình hoạch định cũng như thực thi chiến lược ngoại giao của Campuchia, trong
đó có chính sách đối ngoại dành cho Việt Nam” [112, tr.47]
Quan hệ của Việt Nam với Campuchia trước năm 1993
Việt Nam và Campuchia có mối quan hệ láng giềng gắn bó lâu đời Lịch sử quan hệ Việt Nam - Campuchia hiện đại gắn với nhiều biến cố, thử thách, từ cuộc kháng chiến chung chống chế độ thực dân Pháp, chống đế quốc Mỹ xâm lược tới những cuộc nội chiến kéo dài ở Campuchia, cho tới khi Việt Nam giúp Campuchia giải phóng đất nước khỏi chế độ diệt chủng Pôn Pốt, hồi sinh đất nước Chùa Tháp
và kiến tạo nền hòa bình trên đất nước Campuchia, cùng phát triển trong cộng đồng
ASEAN như ngày nay
Campuchia là nước láng giềng của Việt Nam, có chung 1.137 km đường biên
giới, có chung vùng biển chưa được hoạch định và chung dòng sông Mê Kông Quan hệ giữa hai nước được xây dựng, phát triển tốt đẹp từ sớm, trong thời gian hai nước chung chiến hào chống thực dân Pháp và Đế quốc Mỹ; hai nước có nhiều điểm tương đồng như có chung kẻ thù xâm lược, cùng đấu tranh chống đói nghèo Quan hệ giữa Việt Nam và Campuchia về cơ bản có nhiều yếu tố thuận lợi, nhưng cũng còn một số vấn đề tồn tại do lịch sử để lại
Lịch sử quan hệ giữa hai nước đã có những khúc quanh đáng tiếc vì sự chi phối của nhiều yếu tố khác nhau, trong đó có sự xuất hiện của tập đoàn Khmer “Đỏ” do Pôn Pốt - Iêngxari- Khiêu Xamphon cầm đầu Với âm mưu phản động, đi ngược lại trào lưu tiến bộ của nhân loại, Khmer “Đỏ” đã tiến hành chính sách diệt chủng tàn
Trang 35khốc, giết hại hàng triệu người dân Campuchia vô tội, xoá bỏ tận gốc mọi cơ sở xã hội, đẩy dân tộc Campuchia vào thảm họa bị diệt vong Đồng thời Khmer “Đỏ” còn tiến hành cuộc chiến tranh đẫm máu, xâm phạm chủ quyền, lãnh thổ, gây nên những tội ác tày trời đối với nhân dân Việt Nam Tại Campuchia, các lực lượng yêu nước chân chính đã lập nên Mặt trận Đoàn kết Dân tộc cứu nước Campuchia để đấu tranh loại bỏ nguy cơ bị diệt chủng Đáp lại lời kêu gọi khẩn thiết của Mặt trận Đoàn kết Dân tộc cứu nước Campuchia, đồng thời thực hiện quyền tự vệ chính đáng bảo vệ Tổ quốc, các chiến sỹ quân tình nguyện Việt Nam đã không quản hy sinh, sát cánh cùng Mặt trận Đoàn kết Dân tộc cứu nước Campuchia tiến hành cuộc chiến tranh tự vệ thần tốc và cứu nhân dân Campuchia thoát khỏi thảm họa diệt chủng, đưa đến thắng lợi của Cách mạng Campuchia thắng lợi ngày 7-1-1979
Phối hợp với quân tình nguyện Việt Nam, nhân dân và các lực lượng cách mạng Campuchia vùng dậy đập tan chính quyền Pôn Pốt - Iêngxary Theo yêu cầu của Đảng và Nhà nước Campuchia nhằm ngăn chặn tàn quân Pôn Pốt quay trở lại, Việt Nam đã không quản hy sinh xương máu để tự bảo vệ mình và giúp nhân dân Campuchia thoát khỏi họa diệt chủng Việt Nam giúp Campuchia ngăn chặn sự trở lại của Khmer “Đỏ” nhưng lại bị các thế lực chống đối vu cáo là “xâm lược”, là
“chiếm đóng” Quốc vương Nôrôđôm Xihanúc đã thừa nhận rằng: người dân Campuchia phải chịu ơn những người láng giềng Việt Nam, nếu họ không đánh đuổi bọn Pôn Pốt thì tất cả mọi người Campuchia có thể đã bị chết, rằng Đảng nhân dân Campuchia đã không mắc sai lầm khi đề nghị Việt Nam chống Khmer “Đỏ” Với thắng lợi lịch sử này, đất nước Campuchia đã khép lại một trang sử đen tối, đau thương, thực hiện công cuộc hồi sinh đất nước, mở ra kỉ nguyên độc lập, hoà bình, tự do và phát triển, tạo điều kiện thuận lợi cho quan hệ hữu nghị và hợp tác nhiều mặt giữa Việt Nam và Campuchia phát triển lên một giai đoạn mới, gắn
bó và tin cậy lẫn nhau Cuối năm 1989, sau khi hoàn thành sứ mệnh lịch sử vô tư, trong sáng đối với Campuchia, các đoàn Chuyên gia và Quân tình nguyện Việt Nam
đã rút về nước Song với thiện chí hòa bình, Việt Nam tiếp tục phối hợp cùng các nước và các Tổ chức quốc tế tìm kiếm giải pháp cho vấn đề Campuchia, dẫn đến Hiệp định Hòa bình Pari về Campuchia được kí kết năm 1991
Trang 36Năm 1989, Việt Nam rút hết quân tình nguyện về nước, từ đó hai nước khẳng định tăng cường phát triển hơn nữa quan hệ truyền thống gắn bó, tiếp tục giúp đỡ lẫn nhau theo nguyên tắc tôn trọng độc lập tự chủ và toàn vẹn lãnh thổ của nhau, bình đẳng cùng có lợi; cho dù với bất kỳ giải pháp nào, cũng phải tôn trọng chủ quyền của Campuchia theo tinh thần Hiệp định Pari về Campuchia Việt Nam tôn trọng lập trường của Campuchia là vấn đề Campuchia phải do nhân dân Campuchia
quyết định
Việc tham gia kí Hiệp định Pari về một giải pháp toàn diện cho vấn đề Campuchia năm 1991, đã mở ra tiền đề để Việt Nam có điều kiện thuận lợi hơn trong việc thúc đẩy hơn nữa quan hệ với cộng đồng quốc tế, khu vực và với Campuchia
Tình hình Việt Nam
Việt Nam giữ vững được sự ổn định về chính trị, độc lập chủ quyền và môi trường hòa bình của đất nước, quốc phòng - an ninh được củng cố, tạo điều kiện thuận lợi cơ bản cho công cuộc đổi mới Tiếp tục thực hiện sự nghiệp đổi mới, kể từ nửa đầu những năm 90 thế kỷ XX, Việt Nam từng bước thoát ra khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội, chuẩn bị những điều kiện cần thiết để bước vào thời kỳ đẩy mạnh
sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Việt Nam mở rộng và phát triển quan hệ đối ngoại, phá thế bao vây cấm vận, tham gia tích cực vào đời sống cộng đồng quốc tế
Năm 1994, Mỹ chính thức xóa bỏ cấm vận Việt Nam Năm 1995 Việt Nam gia nhập Tổ chức ASEAN Đến năm 1996, công cuộc đổi mới do Đảng khởi xướng và lãnh đạo tiến hành được 10 năm, thu được những thành tựu quan trọng về mọi mặt, tạo ra nhiều tiền đề cần thiết cho công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Vì vậy, nhiều nước phương Tây, Nhật Bản và ASEAN đã nối lại viện trợ cho Việt Nam, quan hệ đối ngoại với các nước không ngừng được mở rộng, vị thế, uy tín của Việt Nam không ngừng được tăng lên
Trong thực tiễn, Việt Nam đã phá thế bị bao vây, cấm vận; mở rộng quan hệ đối ngoại theo hướng đa phương hóa, đa dạng hóa; giữ vững độc lập, chủ quyền quốc gia; xác lập được quan hệ ổn định với các nước lớn; giải quyết hòa bình và các vấn
Trang 37đề biên giới, lãnh thổ, biển, đảo với các nước liên quan, giữ vững môi trường hòa bình; chủ động và tích cực tham gia các diễn đàn thế giới; Tổ chức thành công nhiều hội nghị quốc tế và khu vực tại Việt Nam Tranh thủ ODA, thu hút FDI, mở rộng thị trường ngoài nước, chủ động hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực Việt Nam đã tham gia Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) ngày 28-7-1995 Nhân dân Việt Nam nỗ lực phấn đấu hoàn thành kế hoạch kinh tế, xã hội 5 năm (1996-2000), chiến lược phát triển 10 năm (1991-2000) tạo tiền đề vững chắc bước vào thế kỷ XXI với những chương trình, mục tiêu to lớn do Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng (2001) đề ra Công cuộc đổi mới toàn diện của đất nước đã
có sự chuyển biến, phát triển toàn diện, thế và lực không ngừng tăng lên, cụ thể: nền kinh tế đã vượt qua thời kỳ suy giảm, đạt tốc độ tăng trưởng khá cao và phát triển tương đối toàn diện; chính trị - xã hội ổn định, quốc phòng và an ninh được tăng cường; việc xây dựng Nhà nước pháp quyền Xã hội chủ nghĩa có tiến bộ trên cả ba lĩnh vực:lập pháp, hành pháp và tư pháp; văn hóa và xã hội có tiến bộ trên nhiều mặt, việc gắn phát triển kinh tế với giải quyết các vấn đề xã hội có chuyển biến tốt, đời sống các tầng lớp nhân dân được cải thiện; sức mạnh khối Đại đoàn kết toàn dân tộc được phát huy: công tác xây dựng Đảng đạt một số kết quả tích cực; hoạt động đối ngoại của Đảng, Nhà nước và nhân dân phát triển mạnh, góp phần giữ vững môi trường hòa bình, phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao uy tín của Việt Nam trên thế giới, trong khu vực, nhất là đối với các nước láng giềng Lào và Campuchia
Đánh giá tổng quát việc thực hiện Chiến lược kinh tế - xã hội năm 1991-2000, Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng (2001) khẳng định: phần lớn các mục tiêu chủ yếu đề ra trong Chiến lược phát triển kinh tế -xã hội năm 1991-2000
đã được thực hiện Kinh tế - xã hội và văn hóa, giáo dục, khoa học - công nghệ, an ninh - quốc phòng của Việt Nam vẫn tiếp tục phát triển và đạt được những thành quả to lớn và rất quan trọng; duy trì được nhịp độ tăng trưởng GDP tương đối cao (7%), cơ cấu kinh tế có sự chuyển dịch tích cực, các vấn đề chủ yếu trong nền kinh
tế được điều chỉnh thích hợp để duy trì khả năng tăng trưởng kinh tế và ổn định đời sống nhân dân, kinh tế đối ngoại tiếp tục phát triển; sự nghiệp giáo dục, đào tạo có bước phát triển mới cả về quy mô, chất lượng
Trang 38Nền kinh tế có bước phát triển mới về lực lượng sản xuất và hội nhập kinh tế quốc tế; đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân được cải thiện rõ rệt, văn hóa - xã hội không ngừng tiến bộ; thế và lực hơn hẳn 10 năm trước, khả năng độc lập tự chủ được nâng lên, tạo thêm điều kiện đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, “Những thành tựu quan trọng đã đạt được đã và đang tạo ra những tiền đề đưa đất nước chuyển dần sang một thời kỳ phát triển mới, thời kỳ đẩy tới một bước công nghiệp
hóa, hiện đại hóa đất nước” [80, tr 22] Đại hội chỉ rõ:
“Nguyên nhân của những thành tựu là đường lối đổi mới đúng đắn của Đảng cùng những cố gắng và tiến bộ trong công tác quản lý của Nhà nước đã phát huy được nhân tố có ý nghĩa quyết định là ý chí kiên cường, tính năng động, sáng tạo và
sự nỗ lực phấn đấu của nhân dân ta” [87, tr.148-152]
Tuy nhiên, bên cạnh những thuận lợi, Việt Nam đứng trước nhiều khó khăn, thách thức như: “Nguy cơ tụt hậu ngày càng xa hơn về kinh tế so với các nước trong khu vực”, “Diễn biến hòa bình”, “bạo loạn lật đổ”, “tệ quan liêu, tham nhũng”,
“nguy cơ chệch hướng Xã hội chủ nghĩa”, lại còn phải chịu nhiều tác động của cuộc khủng hoảng kinh tế - tài chính ở Đông Nam Á, Đông Bắc Á từ năm 1997 và hậu quả của hai trận lụt lớn, Việt Nam vẫn chưa ra khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng (1991) đề ra mục tiêu tổng quát cho 5 năm 1991-1995 là: vượt qua khó khăn, thử thách, ổn định chính trị, đẩy lùi tiêu cực và bất công xã hội, đưa đất nước ta cơ bản ra khỏi tình trạng khủng hoảng Trước những chuyển biến mới của tình hình thế giới, sau khi chiến tranh lạnh kết thúc, Đảng Cộng sản Việt Nam khẳng định lại nhiệm vụ bao trùm đường lối đối ngoại Việt Nam:
“Giữ vững hòa bình, mở rộng quan hệ hữu nghị và hợp tác, tạo điều kiện quốc tế thuận lợi cho công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc, đồng thời góp phần tích cực vào cuộc đấu tranh chung của nhân dân thế giới vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội” [79]
Đảng kịp thời vạch ra đường lối đối ngoại mang tính chiến lược, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng (năm 1991) xác định, cần phải đa dạng hóa,
đa phương hóa quan hệ đối ngoại theo phương châm: không phân biệt chế độ
Trang 39chính trị, xã hội, trên nguyên tắc cùng tồn tại hòa bình, “Việt Nam muốn là bạn của tất cả các nước trong cộng đồng thế giới, phấn đấu vì hòa bình, độc lập và phát triển” [93, tr 347]
Đây chính là đường lối, là ngọn cờ tư tưởng dẫn đường cho chính sách đối ngoại
và hoạt động quốc tế của Việt Nam thời kỳ hậu chiến tranh lạnh và sau khi Liên Xô
và chế độ Xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu sụp đổ, trật tự thế giới hai cực tan rã
Tình hình Campuchia
Nhân tố địa lý - tự nhiên của Campuchia là điều kiện hết sức thuận lợi cho việc
thúc đẩy và mở rộng hợp tác kinh tế, trao đổi thương mại, giao lưu văn hóa và quan
hệ láng giềng, hữu nghị giữa hai nước Việt Nam và Campuchia Tuy nhiên, việc đi lại dễ dàng giữa hai nước cũng gây ra không ít khó khăn trong công tác Tổ chức quản lý, bảo vệ chủ quyền, an ninh biên giới quốc gia của mỗi nước
Nhân tố xã hội, nói đến nhân tố xã hội, phải kể đến con người và văn hóa:
Con người: Campuchia có nhiều dân tộc: Khmer, Mã Lai, Chăm, Lào, Việt,
Hoa…, nhưng người Khmer luôn được coi là dân tộc chính thống, chiếm đa số, ngôn ngữ chính là tiếng Khmer Nhìn chung, bản chất của người Campuchia là chất phác, giàu tình cảm, dễ tin nhưng cũng dễ nghi ngờ và định kiến; chịu ảnh hưởng sâu sắc của đạo Phật và đạo Bàlamôn với nét đặc trưng là an phận, nhẫn nhục, chịu đựng, coi trọng tôn ti, đẳng cấp trong xã hội Về tinh thần dân tộc, thường là tự ti nhưng lại có lúc tự tôn quá mức nên dễ bị kích động Quan hệ giữa người dân Campuchia với người Việt Nam trong cuộc sống bình thường rất tốt, khi đã tin thì hết lòng
Văn hóa: Văn hóa Campuchia mang đậm dấu ấn nền văn hóa Đông Á - Ấn Độ
với đỉnh cao huy hoàng là văn hóa Angkor, trong khi văn hóa Việt Nam mang đậm dấu ấn của nền văn hóa Đông Á - Trung Quốc Nhưng trong quá trình lịch sử, các triều đại phong kiến Việt Nam và triều đại phong kiến ở Campuchia, có lúc, có nơi,
đã tạo ra sự đối nghịch, mâu thuẫn về văn hóa với nhau, chủ yếu là áp đặt từ phía triều Nguyễn đối với Campuchia, đã góp phần gây ra mối hận thù dân tộc sâu sắc của người Campuchia đối với Việt Nam
Trang 40Về nhân tố lịch sử trong quan hệ Việt Nam - Campuchia
Những vấn đề trong lịch sử còn tồn tại dai dẳng, lâu dài, đó là: vấn đề biên giới, lãnh thổ; vấn đề người Khmer Nam Bộ (Khmer Krom); vấn đề Việt kiều ở Campuchia Trong đó vấn đề biên giới, lãnh thổ có quan hệ khá chặt chẽ với vấn đề người Khmer Nam Bộ
Quá trình phát triển đi lên của các nước, nhất là đối với các nước nhỏ (về diện tích, về quy mô dân số, về trình độ phát triển), thường chịu tác động của nhiều yếu
tố trong nước và ngoài nước như: mức độ trưởng thành của các đảng phái chính trị, của các tập đoàn lãnh đạo quốc gia và sự tác động mang tính can thiệp của các nước lớn, các nước láng giềng (về chính trị, an ninh - quốc phòng, kinh tế và văn hóa…) Bên cạnh những điểm chung nói trên, Campuchia là trường hợp khá điển hình về các phe phái đối lập trong triều đình đấu tranh loại bỏ nhau lặp đi lặp lại trong suốt hơn nghìn năm tồn tại, phát triển Trong lịch sử thế giới, hầu như quốc gia nào cũng
có hiện tượng này, nhưng đối với Campuchia thì hết sức nặng nề Hiện tượng này kéo theo hệ lụy thứ hai là theo yêu cầu của các phe phái đối lập, nước ngoài trực tiếp hoặc gián tiếp can thiệp vào Campuchia, những dấu ấn nặng nề trong quá khứ vẫn luôn ẩn, hiện trong chính trường, xã hội Campuchia, gây khó khăn không nhỏ cho quan hệ của Việt Nam với Campuchia ngày nay
Sau Hiệp định Pari về hòa bình ở Campuchia được kí kết (ngày 23-10-1991), lực lượng UNTAC (Cơ quan quyền lực lâm thời của Liên Hợp Quốc) đã rút khỏi Campuchia Từ ngày 23 đến ngày 25-5-1993, dưới sự chủ trì và giám sát của UNTAC, cuộc bầu cử Quốc hội Campuchia đã diễn ra
Ngày 14-6-1993, Quốc hội khóa I của Campuchia họp phiên đầu tiên để bầu các chức danh lãnh đạo Đến tháng 9 năm 1993, Chính phủ mới được thành lập với nòng cốt là FUNCIPEC và CPP Quốc hội nhất trí lấy tên nước là Vương quốc Campuchia do Quốc vương Nôrôđôm Xihanúc đứng đầu, Thủ tướng thứ nhất
Chủ tịch Đảng Nhân dân Campuchia), Chủ tịch Quốc hội Chia Xim (CPP)