1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

nghiên cứu hiệp định thương mại hàng hóa trong asean và cam kết của việt nam

96 1,1K 10

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 96
Dung lượng 1,97 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tổ chức này cũng tồn tại không lâu vì mối quan hệ giữa Malayxia và Inđônêxia ngày càng xấu đi do chính sách “đối đầu” của chính phủ Inđônêxia coi Liên bang Malayxia là sản phẩm của chủ n

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ

Lớp Tư pháp 1 K37

Cần Thơ, tháng 11/2014

Trang 2

Trang 3

Đầu tiên, người viết xin gởi lời cảm ơn sâu sắc đến gia đình và người thân của mình, những người luôn ủng hộ và tạo điều kiện tốt để người viết hoàn thành luận văn Trong đó, có một người mà người viết muốn nhắc đến là cha của mình, người đã định hướng tương lai cho người viết và là động lực để người viết hoàn thành luận văn cũng như khóa học của mình

Người viết cũng xin chân thành cảm ơn quý thầy, cô trong Khoa Luật nói riêng và Trường Đại học Cần Thơ nói chung, những người đã cung cấp kiến thức cũng như những

kỹ năng cho người viết Đặc biệt, người viết muốn gởi lời cảm ơn sâu sắc đến thầy Dương Văn Học, thầy đã chỉ bảo tận tình và giúp đỡ rất nhiều trong quá trình hoàn thành luận văn của người viết

Tác giả của những quyển sách, những bài viết trên tạp chí và trên trang thông tin điện tử là người mà người viết cũng muốn gởi lời cám ơn Thông tin mà các tác giả cung cấp đã hỗ trợ rất nhiều cho nội dung luận văn của người viết

Cuối lời, người viết xin gởi lời chúc tốt đẹp tới mọi người Chúc mọi người sức khỏe, hạnh phúc và thành công trong công việc, trong cuộc sống

Cần Thơ, ngày 25 tháng 11 năm 2014

Phạm Thị Cẩm Tú

Trang 4

AEC Cộng đồng Kinh tế ASEAN

Singapo, Thái Lan

cảng hoặc địa điểm cuối cùng trước khi tàu chở hàng rời khỏi bến

Hiệp định

WTO

Hiệp định Marrakech thành lập Tổ chức thương mại thế giới, ký kết ngày 15/4/1994 và các Hiệp định khác thuộc Hiệp định này

về hệ thống mã số và mô tả hàng hóa hài hòa

Trang 5

NTMs Các biện pháp phi thuế quan

thủy sản, cao su, dệt may và gỗ) và 5 nhóm dịch vụ (du lịch hàng không – vận tải hàng không, thương mại điện tử ASEAN, y tế, du lịch và dịch vụ giao nhận)

Trang 6

LỜI NÓI ĐẦU 1

CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT VỀ HIỆP ĐỊNH THƯƠNG MẠI HÀNG HÓA TRONG ASEAN 4

1.1 Khái quát chung về Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) 4

1.1.1 Bối cảnh ra đời của ASEAN 4

1.1.2 Tổ chức và hoạt động của ASEAN 5

1.1.3 Cộng đồng ASEAN 6

1.2 Thương mại hàng hóa trong ASEAN 8

1.2.1 Hiệp định ưu đãi mậu dịch (PTA) 8

1.2.2 Khu vực mậu dịch tự do ASEAN (AFTA) và Hiệp định ưu đãi thuế quan có hiệu lực chung (CEPT) 9

1.2.3 Hiệp định thương mại hàng hóa trong ASEAN (ATIGA) 11

1.3 Nội dụng cơ bản của ATIGA 12

1.3.1 Phạm vi hàng hóa 12

1.3.2 Nguyên tắc của ATIGA 13

1.3.2.1 Không phân biệt đối xử 13

1.3.2.2 Minh bạch 15

1.3.2.3 Thuận lợi hóa thương mại 16

1.3.2.4 Hội nhập theo cấp độ 20

1.3.3 Ngoại lệ khi áp dụng ATIGA 20

1.3.3.1 Bảo vệ lợi ích cộng đồng 20

1.3.3.2 Bảo vệ cán cân thanh toán 21

1.3.3.3 Bảo vệ an ninh quốc gia 22

1.3.4 Quan hệ giữa ATIGA, WTO và các Hiệp định khác về kinh tế của ASEAN trước đó 22

1.3.4.1 Quan hệ giữa ATIGA và WTO 22

1.3.4.2 Quan hệ giữa ATIGA và các Hiệp định khác về kinh tế của ASEAN trước đó 23

CHƯƠNG 2 QUY ĐỊNH CỦA HIỆP ĐỊNH THƯƠNG MẠI HÀNG HÓA TRONG ASEAN 25

2.1 Quy định về tự do hóa thuế quan 25

2.1.1 Cắt giảm, xóa bỏ thuế quan 25

Trang 7

2.1.3 Tạm thời sửa đổi hoặc ngừng các cam kết 28

2.1.4 Đối xử đặc biệt đối với gạo và đường 28

2.2 Quy định về quy tắc xuất xứ 29

2.2.1 Quy tắc xuất xứ 29

2.2.1.1 Hàng hoá có xuất xứ thuần túy hoặc được sản xuất toàn bộ 29

2.2.1.2 Hàng hoá có xuất xứ không thuần tuý hoặc không được sản xuất toàn bộ 30

2.2.2 Giấy chứng nhận xuất xứ (C/O) 32

2.3 Quy định về các biện pháp phi thuế quan (NTMs) 33

2.3.1 Biện pháp vệ sinh dịch tễ (SPS) 34

2.3.2 Tiêu chuẩn, quy định kỹ thuật 37

2.3.3 Hạn chế định lượng 39

2.3.4 Hạn chế ngoại hối 39

2.3.5 Cấp phép nhập khẩu 40

2.4 Quy định về hải quan 40

2.4.1 Thủ tục hải quan 40

2.4.2 Xác định trị giá hải quan 41

2.5 Quy định về các biện pháp phòng vệ thương mại 44

2.5.1 Biện pháp tự vệ 44

2.5.2 Biện pháp chống bán phá giá và Biện pháp đối kháng 45

2.5.2.1 Biện pháp chống bán phá giá 46

2.5.2.2 Biện pháp đối kháng 47

CHƯƠNG 3 CAM KẾT VÀ THỰC THI CỦA VIỆT NAM ĐỐI VỚI HIỆP ĐỊNH THƯƠNG MẠI HÀNG HÓA TRONG ASEAN 49

3.1 Cam kết và thực thi của Việt Nam 49

3.1.1 Cam kết về những nội dung cơ bản của ATIGA 49

3.1.1.1 Phạm vi hàng hóa 49

3.1.1.2 Nguyên tắc của ATIGA 50

3.1.1.3 Ngoại lệ khi áp dụng ATIGA 53

3.1.2 Cam kết về tự do hóa thuế quan 56

3.1.2.1 Cắt giảm, xóa bỏ thuế quan 56

Trang 8

3.1.3 Cam kết về quy tắc xuất xứ 59

3.1.3.1 Quy tắc xuất xứ 59

3.1.3.2 Trình tự, thủ tục cấp Giấy chứng nhận xuất xứ (C/O) 60

3.1.4 Cam kết về các biện pháp phi thuế quan (NTMs) 61

3.1.4.1 Biện pháp vệ sinh dịch tễ (SPS) 62

3.1.4.2 Tiêu chuẩn, quy định kỹ thuật 63

3.1.4.3 Hạn chế định lượng 65

3.1.4.4 Hạn chế ngoại hối 65

3.1.4.5 Cấp phép nhập khẩu 66

3.1.5 Cam kết về hải quan 68

3.1.5.1 Thủ tục hải quan 68

3.1.5.2 Xác định trị giá hải quan 70

3.1.6 Cam kết về các biện pháp phòng vệ thương mại 71

3.1.6.1 Biện pháp tự vệ 71

3.1.6.2 Biện pháp chống bán phá giá và Biện pháp đối kháng 73

3.2 Khó khăn của Việt Nam khi thực hiện cam kết trong ATIGA và hướng hoàn thiện 74

KẾT LUẬN 80

Trang 9

LỜI NÓI ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Vào thập kỷ 60 của thế kỷ trước, một tổ chức hợp tác khu vực được thành lập ở Đông Nam Á, đó là Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) Trải qua quá trình hình thành, phát triển, với sự hợp tác giữa các Quốc gia thành viên1 trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa - xã hội,…, ASEAN đã đạt được nhiều thành tựu, đặc biệt là đóng góp vào sự hòa bình, ổn định ở khu vực và sự phát triển của các Quốc gia thành viên

Kinh tế là một trong những nội dung hợp tác chủ yếu trong các hoạt động của ASEAN Các Quốc gia thành viên đã có nhiều nỗ lực để sự hợp tác này đạt được nhiều hiệu quả Nhiều Hiệp định, Nghị định thư,… đã được ký kết, tạo cơ sở thúc đẩy sự hợp tác và phát triển kinh tế trong khu vực Đối với hoạt động thương mại hàng hóa, các nước đều mong muốn tạo điều kiện thuận lợi thông qua nhiều chương trình hợp tác, từ ưu đãi thuế quan đến tự do hóa thuế quan Mục tiêu mà các nước đang hướng tới hiện nay là sự lưu chuyển tự do của hàng hóa trong khu vực, tạo nên một thị trường đơn nhất, một cơ sở sản xuất chung Cơ sở pháp lý để các quốc gia thực hiện mục tiêu đó là ATIGA – Hiệp định thương mại hàng hóa trong ASEAN

Việt Nam trở thành thành viên của ASEAN từ năm 1995 Từ khi gia nhập đến nay, những lợi ích mà nước ta đạt được từ sự hợp tác khu vực không ít, cụ thể là các chương trình và dự án hợp tác ASEAN trên các lĩnh vực khoa học - công nghệ, môi trường, y tế, văn hoá - thông tin, phát triển xã hội,… Trong lĩnh vực kinh tế, quan hệ kinh

tế giữa Việt Nam với các nước trong khu vực đã có bước tiến đáng kể Trong những năm gần đây, khu vực này là thị trường xuất nhập khẩu lớn thứ 3 của Việt Nam (sau Mỹ và EU) Kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam vào ASEAN đạt gần 40 tỷ USD vào năm

ASEAN trong các năm qua nhìn chung tăng Cụ thể, năm 2010 tăng 19,4%, năm 2011

kinh tế ấy có sự đóng góp đáng kể của các thỏa thuận trong khu vực, và trong đó có ATIGA

Báo Hải quan điện tử, AEC và thách thức mở cửa thị trường, Phan Thu,

http://www.baohaiquan.vn/pages/aec-va-thach-thuc-mo-cua-thi-truong.aspx, [truy cập ngày 20/5/2014]

3

Báo Hải quan điện tử, 6 bạn hàng lớn nhất của Việt Nam, T.Bình,

http://www.baohaiquan.vn/pages/6-ban-hang-lon-nhat-cua-viet-nam.aspx, [truy cập ngày 17/8/2014]

Trang 10

Có thể thấy, ATIGA có vai trò quan trọng đối với thương mại hàng hóa giữa các nước trong khu vực và cụ thể hơn là đối với quan hệ kinh tế về thương mại hàng hóa giữa

Việt Nam với khối ASEAN Với lý do ấy, người viết chọn Nghiên cứu Hiệp định

thương mại hàng hóa trong ASEAN và cam kết của Việt Nam làm đề tài nghiên cứu

luận văn tốt nghiệp của mình

2 Mục đích và phạm vi nghiên cứu

Người viết thực hiện nghiên cứu với mong muốn tìm hiểu nội dung của ATIGA và thực thi của Việt Nam Bên cạnh đó, người viết đưa ra những khó khăn của Việt Nam trong việc thực thi cam kết và đề xuất hướng hoàn thiện để việc thực thi đạt được hiệu quả cao, góp phần vào nỗ lực chung của các quốc gia trong khu vực, hướng tới hình thành Cộng đồng kinh tế AEC năm 2015

Quá trình hình thành, phát triển và hợp tác của ASEAN trải qua nhiều giai đoạn và trên nhiều lĩnh vực Trong phạm vi bài viết, người viết chỉ trình bài khái quát về sự hình thành, phát triển của ASEAN, cũng như khái quát sự phát triển thương mại hàng hóa trong ASEAN, cùng với nội dung của thỏa thuận hiện hành trong lĩnh vực thương mại hàng hóa - Hiệp định thương mại hàng hóa trong ASEAN Bên cạnh đó, người viết sẽ trình bày tình hình thực thi của Việt Nam dựa trên quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành

3 Phương pháp nghiên cứu

Để hoàn thành luận văn, người viết đã sử dụng các phương pháp như phân tích luật viết, tổng hợp các dữ liệu, kết hợp quá trình nghiên cứu, phân tích, so sánh,… Những phương pháp này là công cụ hỗ trợ để hoàn thành luận văn của người viết, cụ thể như sau:

Thứ nhất, phân tích luật viết giúp người viết hiểu rõ hơn về quy định của ATIGA,

của WTO và của pháp luật Việt Nam về những vấn đề có liên quan

Thứ hai, thông qua việc tổng hợp dữ liệu, người viết tìm hiểu, thống kê các thông

tin có liên quan đến đề tài của mình trong luật, sách, tạp chí, trang thông tin điện tử,… để

có được dữ liệu phục vụ cho luận văn của mình

Thứ ba, nghiên cứu, kết hợp với phân tích, so sánh thông tin, tài liệu giúp người

viết có được căn cứ cho việc lập luận cũng như là chứng minh cho quan điểm của mình Kết hợp các phương pháp trên cùng với kiến thức, khả năng của mình, người viết mong muốn đạt được mục đích nghiên cứu đề tài luận văn mà mình đã chọn

Trang 11

4 Kết cấu luận văn

Kết cấu luận văn với đề tài Nghiên cứu Hiệp định thương mại hàng hóa trong

ASEAN và cam kết của Việt Nam ngoài danh mục từ viết tắt, lời nói đầu, kết luận và

danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được cấu trúc bao gồm ba chương như sau:

Chương 1: Khái quát về Hiệp định thương mại hàng hóa trong ASEAN

Chương này bao gồm các nội dung cơ bản liên quan đến ATIGA Cụ thể là những thông tin khái quát về ASEAN, sự phát triển của thương mại hàng hóa trong ASEAN và những nội dung cơ bản của ATIGA

Chương 2: Quy định của Hiệp định thương mại hàng hóa trong ASEAN

Ở Chương này, người viết trình bày những quy định của ATIGA, bao gồm những

và biện pháp phòng vệ thương mại

Chương 3: Cam kết và thực thi của Việt Nam đối với Hiệp định thương mại hàng hóa trong ASEAN

Trong Chương này, người viết trình bày tình hình thực thi của Việt Nam đối với các quy định của ATIGA Bên cạnh đó, người viết đưa ra những khó khăn và đề xuất hướng hoàn thiện để khắc phục khó khăn đó trong quá trình Việt Nam thực hiện cam kết của mình

4

Cam kết đối với thuế nhập khẩu

Trang 12

CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT VỀ HIỆP ĐỊNH THƯƠNG MẠI HÀNG HÓA TRONG ASEAN 1.1 Khái quát chung về Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN)

Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (Association of South East Asian Nations - ASEAN) được thành lập ngày 8 tháng 8 năm 1967 Sau 47 năm tồn tại và phát triển với nhiều thăng trầm, ASEAN ngày nay đã trở thành một tổ chức hợp tác khu vực liên Chính phủ bao gồm 10 quốc gia Đông Nam Á (ngoài 5 nước tham gia sáng lập: Inđônêxia, Malayxia, Philippin, Singapo và Thái Lan, 5 nước gia nhập thêm là Brunei, Việt Nam, Lào, Mianma và Campuchia), là một thực thể chính trị - kinh tế quan trọng ở Châu Á - Thái Bình Dương và là đối tác không thể thiếu trong chính sách khu vực của các nước lớn trên thế giới

1.1.1 Bối cảnh ra đời của ASEAN

Đông Nam Á (ĐNA) nằm trên vùng đất rộng lớn giàu tài nguyên thiên nhiên, án ngữ ở vị trí địa lý trọng yếu trên tuyến đường biển thông thương Đông – Tây, từ lâu thu hút mối quan tâm của nhiều nước lớn Ở thập niên 60, đại chiến thế giới thứ II kết thúc, bối cảnh quốc tế và trong nước của 5 nước Inđônêxia, Malayxia, Philippin, Singapo và Thái Lan có nhiều bất ổn như: các nước lớn trên thế giới đang trong tình trạng đối đầu căng thẳng; các phe phái đối lập tiến hành nhiều hoạt động chống đối ở Inđônêxia và Philippin; Singapo đang gặp phải hàng loạt vấn đề chính trị, kinh tế sau khi mới tách khỏi Liên bang Malayxia và mâu thuẫn sắc tộc, tôn giáo căng thẳng diễn ra ở Inđônêxia, Thái Lan, Malayxia và Philippin Bên cạnh đó, một nhân tố khác đã tác động đến việc hình thành tổ chức ASEAN, đó là sự ra đời của các tổ chức khu vực trên thế giới như Thị trường chung Trung Mỹ (CACM), Hội mậu dịch tự do Mỹ Latinh (LAFTA, 1961) Qua kinh nghiệm của các tổ chức này, các nước ĐNA nhận thức được là việc thành lập các tổ

Trước tình hình đó, các nước này đều có nhu cầu cần phải liên kết chặt chẽ để củng cố hòa bình và bảo đảm an ninh toàn khu vực, nhanh chóng đưa đất nước thoát khỏi tình trạng nghèo nàn, lạc hậu, đuổi kịp trình độ các nước tiên tiến trên thế giới Và ASEAN đã ra đời năm 1967

Tiền thân của ASEAN là Hiệp hội Đông Nam Á (ASA), tổ chức được 3 nước Thái Lan, Malayxia và Philippin ký Tuyên bố thành lập tại Hội nghị ở Băng Cốc tháng 6 năm

1961 Mục tiêu của tổ chức là phát triển hợp tác kinh tế, văn hóa, khoa học giữa các nước

5

Nguyễn Trần Quế, Uông Trần Quang, Kiều Văn Trung, Nguyễn Mạnh Hùng, 35 năm ASEAN hợp tác và phát

triển, NXB Khoa học xã hội, năm 2003, tr.19

Trang 13

hội viên Nhưng trong nội bộ ASA có nhiều mâu thuẫn, tiêu biểu là mâu thuẫn về chủ quyền lãnh thổ vùng Sabah (ở Bắc Borneo) - biên giới giữa Philippin và Malayxia Quan

Các hoạt động của ASA hoàn toàn tê liệt

Tiếp đến, vào tháng 8 năm 1963, ở Manila, ba nguyên thủ quốc gia Philippin, Malayxia và Inđônêxia thỏa thuận thành lập một tổ chức mới gồm ba nước gọi là

“MAPHILINDO” Tổ chức này cũng tồn tại không lâu vì mối quan hệ giữa Malayxia và Inđônêxia ngày càng xấu đi do chính sách “đối đầu” của chính phủ Inđônêxia coi Liên bang Malayxia là sản phẩm của chủ nghĩa đế quốc thực dân và quan hệ ngoại giao giữa

Nhận thấy được nhu cầu hợp tác khu vực là cần thiết cho sự phát triển của các quốc gia như ổn định chính trị, phát triển kinh tế, và trước tình hình chính trị trên thế giới

và trong khu vực ngày càng bất ổn, ngày 8/8/1967, tại Hội nghị Bộ trưởng Ngoại giao, thông qua bản Tuyên bố ASEAN (Tuyên bố Băng cốc), 5 nước Inđônêxia, Malayxia, Philippin, Singapo và Thái Lan đã cùng nhau thành lập Hiệp hội các quốc gia Đông Nam

Á – ASEAN, với mục tiêu đẩy mạnh tăng trưởng kinh tế, tiến bộ xã hội, phát triển văn hóa, tăng cường hợp tác, giúp đỡ lẫn nhau cũng như thúc đẩy hòa bình, ổn định trong khu vực Các nước khác trong khu vực ĐNA cũng đã gia nhập tổ chức này và đến năm 1999,

số thành viên của ASEAN là 10 Quá trình phát triển của ASEAN từ ASEAN-5 (ASEAN với 5 nước sáng lập) đến ASEAN-10: ngày 7/1/1984, kết nạp Brunei – ASEAN-6; ngày 28/7/1995, kết nạp Việt Nam – ASEAN-7; ngày 23/7/1997, kết nạp Lào và Mianma – ASEAN-9 và ngày 30/4/1999, kết nạp Campuchia – ASEAN-10

1.1.2 Tổ chức và hoạt động của ASEAN

ASEAN, với tư cách là một tổ chức liên Chính phủ ở cấp độ khu vực, có cơ cấu tổ chức được cải tổ qua nhiều lần để thích hợp với tình hình thực tế Theo Hiến chương ASEAN năm 2007, hiện nay ASEAN tổ chức như sau:

- Hội nghị Cấp cao ASEAN sẽ tiến hành hai lần một năm, do Quốc gia thành viên giữ chức Chủ tịch ASEAN chủ trì tổ chức

- Hội đồng Điều phối ASEAN (ACC) gồm các Bộ trưởng Ngoại giao ASEAN, họp ít nhất 2 lần một năm, có nhiệm vụ điều phối các hoạt động hợp tác ASEAN nói chung và chuẩn bị cho các Hội nghị Cấp cao

Trang 14

- Các Hội đồng Cộng đồng ASEAN (3 Hội đồng tương ứng với 3 Cộng đồng: Chính trị - An ninh, Kinh tế, Văn hóa - Xã hội)

- Các Cơ quan chuyên ngành cấp Bộ trưởng ASEAN, thực hiện các thỏa thuận và quyết định của Cấp cao ASEAN

- Ủy ban các Đại diện thường trực ASEAN (CPR), đóng vai trò là cơ quan đầu mối, theo dõi và điều phối các hoạt động hợp tác hàng ngày của ASEAN

Ngoài ra, còn có các cơ quan khác như: Ban thư ký ASEAN đặt tại Jakarta, Ban thư ký ASEAN Quốc gia, Cơ quan nhân quyền ASEAN và Quỹ ASEAN

ASEAN ra đời tạo ra mối quan hệ mới giữa các quốc gia trong khu vực ĐNA, mối quan hệ láng giềng hữu nghị, tìm cách giải quyết thỏa đáng các mâu thuẫn và tranh chấp giữa các nước thành viên, trở thành quan hệ chủ đạo tạo điều kiện thuận lợi cho sự phối hợp giải quyết các vấn đề chính trị, an ninh, kinh tế, xã hội của mỗi nước…, ngăn chặn

trình tồn tại lâu dài, có thể thấy những mục tiêu xuyên suốt trong quá trình hoạt động của ASEAN là hợp tác trong các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội,… giữa các thành viên và tăng cường sức mạnh của quốc gia, khu vực

Gần nửa thế kỷ hình thành và phát triển, hợp tác của các quốc gia ĐNA đã đạt được nhiều thành tựu và trải qua những cột mốc quan trọng Một sự kiện quan trọng, bước ngoặc lịch sử của Hiệp hội, tạo cơ sở pháp lý cho hoạt động của ASEAN là ký thông qua Hiến chương ASEAN tại Hội nghị Cấp cao ASEAN lần 13, tháng 11 năm

2007

1.1.3 Cộng đồng ASEAN

ASEAN sẽ là một nhóm hài hoà các dân tộc Đông Nam châu á hướng ngoại, sống trong hoà bình, ổn định và thịnh vượng, gắn bó với nhau bằng quan hệ đối tác trong phát

Để thực hiện mục tiêu đó, tháng 10/2003, lãnh đạo các nước ASEAN đã ký Tuyên

bố Hòa hợp ASEAN II (Tuyên bố Ba-li II), nhất trí đề ra mục tiêu hình thành Cộng đồng ASEAN vào năm 2020 với ba trụ cột chính là 3 Cộng đồng Đến tháng 1/2007, tại Hội nghị Cấp cao ASEAN lần 12 lại Philippin, Lãnh đạo các nước ASEAN đã quyết tâm đẩy nhanh tiến trình liên kết nội khối, nhất trí mục tiêu hình thành Cộng đồng ASEAN vào năm 2015 (thay vì vào năm 2020 như thỏa thuận trước đây) Tháng 2/2009, tại Hội nghị Cấp cao ASEAN lần 14, ASEAN đã thông qua Tuyên bố về Lộ trình xây dựng Cộng

Trang 15

đồng ASEAN kèm theo 3 Kế hoạch tổng thể xây dựng 3 trụ cột Cộng đồng ASEAN Trước đó, tháng 11/2007, tại Hội nghị Cấp cao ASEAN lần 13, Cebu, Philippin, Kế hoạch tổng thể Cộng đồng Kinh tế ASEAN đã được thông qua ASEAN đã khẩn trương xúc tiến xây dựng các Kế hoạch tổng thể, đề ra mục tiêu và thời hạn hoàn thành đối với

từng biện pháp/hoạt động cụ thể Theo đó, mục tiêu cụ thể của 3 Cộng đồng là:

Thứ nhất, Cộng đồng Chính trị - An ninh ASEAN (APSC) nhằm nâng hợp tác

chính trị, an ninh lên một tầm cao mới, với sự tham gia và đóng góp của các đối tác bên ngoài, nhằm bảo đảm cho các nước ASEAN chung sống hòa bình với nhau và với thế

Thứ hai, Cộng đồng Văn hóa - Xã hội (ASCC) có mục tiêu là xây dựng một Cộng

đồng ASEAN lấy người dân làm trung tâm và có trách nhiệm xã hội nhằm đạt được tình đoàn kết và thống nhất bền lâu giữa các quốc gia và người dân ASEAN thông qua việc tạo dựng một bản sắc chung và một xã hội chia sẻ, đùm bọc, hoà thuận và rộng mở, nơi

Thứ ba, Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC), với bốn đặc điểm đồng thời là yếu tố

- Một thị trường đơn nhất và cơ sở sản xuất chung, được xây dựng thông qua: tự

do lưu chuyển hàng hoá; tự do lưu chuyển dịch vụ; tự do lưu chuyển đầu tư; tự do lưu chuyển vốn và tự do lưu chuyển lao động có tay nghề

- Một khu vực kinh tế cạnh tranh, được xây dựng thông qua các khuôn khổ chính sách về cạnh tranh, bảo hộ người tiêu dùng, quyền sở hữu trí tuệ, phát triển cơ sở

hạ tầng, thuế quan và thương mại điện tử

- Phát triển kinh tế cân bằng, được thực hiện thông qua các kế hoạch phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ (SME) và thực hiện sáng kiến hội nhập nhằm thu hẹp khoảng cách phát triển trong ASEAN

10

Ban thư ký ASEAN quốc gia Việt Nam, Cộng đồng Chính trị - An ninh,

http://asean.mofa.gov.vn/vi/nr130930205728/nr130930210036/ns131113230421, [truy cập ngày 15/5/2014]

11

Ban thư ký ASEAN quốc gia Việt Nam, Tổng quan Cộng đồng Văn hóa-Xã hội ASEAN (ASCC),

http://asean.mofa.gov.vn/vi/nr130930205728/nr131107210048/nr140228042410/ns131113232048, [truy cập ngày 15/5/2014]

12

Ban thư ký ASEAN quốc gia Việt Nam, Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC),

http://asean.mofa.gov.vn/vi/nr130930205728/nr131107210048/nr140228042410/ns131113232048, [truy cập ngày 15/5/2014]

Trang 16

- Hội nhập vào nền kinh tế toàn cầu, được thực hiện thông qua việc tham vấn chặt chẽ trong đàm phán đối tác và trong tiến trình tham gia vào mạng lưới cung cấp toàn cầu (WTO)

Một khu vực ASEAN hội nhập vào nền kinh tế toàn cầu, được thực hiện thông qua xây dựng và triển khai các thoả thuận liên kết kinh tế ở khu vực Đông Á với 6 FTAs đã được ký với các Đối tác quan trọng là Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Ấn Độ, Ôx-trây-lia, Niu Di-lân và đang trong quá trình đàm phán Hiệp định Đối tác Kinh tế Toàn diện khu vực (RCEP) hướng đến hình thành một không gian kinh tế mở toàn Đông Á vào năm 2015, với GDP chiếm 1/3 tổng GDP toàn cầu và quy mô thị trường chiếm ½ dân số thế giới.13

1.2 Thương mại hàng hóa trong ASEAN

Dựa trên Tuyên bố Băng Cốc năm 1967, có thể thấy một trong những mục tiêu của ASEAN là hợp tác trong các lĩnh vực kinh tế Tuy nhiên trong những năm đầu hoạt động, hợp tác của ASEAN mang màu sắc chính trị là chủ yếu, sự hợp tác về kinh tế giữa các nước ASEAN còn ở mức độ thấp, hiệu quả không cao Một trong những nguyên nhân của tình trạng đó là do ASEAN là một liên minh của các nước khác biệt về trình độ phát triển kinh tế

Trong những năm đầu thành lập ASEAN, quy mô thương mại nội bộ ASEAN chưa đủ mạnh và chưa có tầm quan trọng Vào cuối thập kỷ 60 và những năm đầu thập

kỷ 70, buôn bán nội bộ ASEAN chỉ chiếm 12% - 15% tổng kim ngạch thương mại của các nước thành viên.14

1.2.1 Hiệp định ưu đãi mậu dịch (PTA)

Sự phát triển thương mại hàng hóa trong ASEAN bắt đầu từ Hiệp định ưu đãi mậu dịch (PTA) PTA được ký vào năm 1977, là cố gắng đầu tiên nhằm thúc đẩy tự do hóa thương mại trong nội bộ ASEAN, nhưng hiệu quả đạt được không như mong đợi Theo PTA, các nước ASEAN cam kết dành ưu đãi trong quan hệ mậu dịch với nhau Ban đầu, các cam kết được xác định trên cơ sở tự nguyện và kết quả là có rất ít mặt hàng được đưa vào thực hiện theo PTA Từ năm 1980, ASEAN bắt đầu áp dụng nguyên tắc giảm thuế Mức thuế ưu đãi được quy định giảm ít nhất 20% dưới mức giá trần đối với tất cả hàng hóa nhập khẩu trong khu vực Hiệp hội Tuy nhiên, giá trần bị các nước thành viên nâng lên cao nên trong thực tế và việc thực hiện PTA không có ý nghĩa khuyến khích mậu dịch trong khu vực Trong những năm thực hiện PTA, có 20.000 mặt hàng được đưa vào

Trang 17

chương trình giảm thuế theo PTA, nhưng một số mặt hàng trong đó, hoặc là không trao đổi trong khu vực, hoặc là thuộc diện không đánh thuế trong thực tế Bên cạnh đó, ngoại trừ Singapo, các nước thành viên ASEAN lại đưa ra những danh mục quá nhiều hàng hóa ngoại lệ

Trong những năm 80 thế kỷ XX, môi trường kinh tế và thương mại quốc tế đã thay đổi theo hướng bất lợi cho ASEAN Chủ nghĩa bảo hộ mậu dịch đã trở thành một khuynh hướng phổ biến trong quan hệ thương mại quốc tế Theo Ngân hàng thế giới, trong thời gian từ năm 1980 đến 1983, tất cả các hàng rào phi thuế quan đã tăng gấp 2 lần

ở Mỹ và 38% ở các nước thuộc thị trường chung Châu Âu Một số khó khăn khác đặt ra đối với phát triển kinh tế của ASEAN là sự xuất hiện của Trung Quốc và Đông Âu với tư cách là đối thủ cạnh tranh mới Để đối phó với những thách thức đó, các nước ASEAN quyết định đưa hợp tác kinh tế trong nội bộ ASEAN lên một bình diện mới Quyết tâm đó được phản ánh trong Tuyên bố Manila được đưa ra ở Hội nghị cấp cao ASEAN lần 3 vào năm 1987 Các nhà lãnh đạo tuyên bố rằng các nước thành viên sẽ tăng cường hợp tác kinh tế trong nội bộ ASEAN để khai thác tới mức tối đa tiềm năng của khu vực trong buôn bán và phát triển, nâng cao hiệu quả của ASEAN trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa bảo hộ mậu dịch

Nhận thức được sự bất lợi đối với liên kết trong khối nếu không có giải pháp can thiệp để thúc đẩy thương mại nội khối gia tăng, các nước ASEAN đã nỗ lực để thỏa thuận PTA mang lại hiệu quả thực tế hơn Họ thỏa thuận thực hiện một số biện pháp cụ thể, chẳng hạn như giới hạn danh mục loại trừ, tăng cường giảm thuế đối với các hạng mục đang tồn tại trong PTA với mức cụ thể, ngừng việc đưa thêm các biện pháp phi thuế quan

và giảm các hàng rào phi thuế quan hiện đang tồn tại,… Và kết quả là năm 1992, buôn bán nội bộ chiếm 18,3% tổng thương mại của ASEAN so với 17,9% tổng kim ngạch

1.2.2 Khu vực mậu dịch tự do ASEAN (AFTA) và Hiệp định ưu đãi thuế quan

có hiệu lực chung (CEPT)

Từ những năm 1990, ASEAN phải đối phó với những thách thức lớn Những nhóm kinh tế hùng mạnh bao gồm các nước công nghiệp phát triển xuất hiện như Thị trường chung Châu Âu - EU (11/1993), Khu vực tự do Bắc Mỹ - NAFTA (8/1992) Hàng hóa xuất khẩu của ASEAN có thể gặp trở ngại khi xâm nhập vào các thị trường truyền thống có tính chất khép kín này Để thích ứng với tình hình mới, Hội nghị Cấp cao ASEAN lần 4 được triệu tập ở Singapo vào năm 1992 Tại Hội nghị, ba văn kiện lớn đã được ký kết: Tuyên bố Singapo, Hiệp định khung về tăng cường hợp tác kinh tế và Hiệp

15

Tài liệu đã dẫn, chú thích số 5, tr.62

Trang 18

định ưu đãi thuế quan có hiệu lực chung (CEPT) Tất cả ba văn kiện trên đều có nội dung nghiêng về kinh tế và cho thấy rằng Hội nghị cấp cao lần này là Hội nghị chuyên về kinh

tế.16

Trong Tuyên bố Singapo, các nhà lãnh đạo ASEAN quyết định thành lập Khu vực mậu dịch tự do ASEAN (AFTA) trong vòng 15 năm (1993 – 2008) với hy vọng thúc đẩy được buôn bán trong nội bộ ASEAN vì các thành viên ASEAN đã thấy rõ sự cần thiết phải thiết lập một cơ chế hợp tác mang tính thể chế, thống nhất hành động và đồng nhất

về các tiêu chí phối hợp, mức ưu đãi được mở rộng và các thủ tục phải được đơn giản

phi thuế quan, xóa bỏ hạn chế đối với đối với đầu tư nước ngoài,…

AFTA ra đời, đánh dấu bước chuyển sang giai đoạn hợp tác mới của ASEAN Quá trình công nghiệp hóa diễn ra tại các Quốc gia thành viên làm gia tăng nhanh chóng quy

mô buôn bán lẫn nhau giữa các nền kinh tế trong khối ASEAN AFTA đã làm thay đổi ASEAN thành một khu vực mở, một sự thích ứng mới cho sự phát triển của ASEAN trong xu thế khu vực hóa, toàn cầu hóa Hợp tác thương mại trong nội bộ ASEAN đã có bước phát triển đáng kể: từ PTA - hợp tác thương mại ưu đãi, đến AFTA - khu vực mậu dịch tự do ASEAN luôn mong muốn trở thành một khu vực mậu dịch tự do trong xu thế

tự do hóa thương mại toàn cầu, hỗ trợ cho các nước đẩy mạnh tăng trưởng, thay đổi cơ cấu để trở thành một khu vực có thế lực cạnh tranh so với các khu vực khác CEPT là cơ chế chủ yếu để thực hiện AFTA Theo đó, thuế và các hàng rào phi thuế quan sẽ từng bước được cắt giảm và biểu thuế phải được giảm xuống còn 0 - 5% trong vòng 15 năm kể

từ 1/1/1993

Tại Hội nghị cấp cao ASEAN lần 5 năm 1995, kết quả triển khai kế hoạch xây dựng Khu vực mậu dịch tự do ASEAN được đưa ra xem xét Trước sự phát triển và cạnh tranh mạnh mẽ của các liên kết kinh tế toàn cầu khác và sự tiến bộ của chính các quốc gia ASEAN, các nhà lãnh đạo đã quyết định đẩy nhanh tiến trình thành lập AFTA để có thể hoàn tất trước năm 2003 (sớm hơn kế hoạch ban đầu 5 năm)

Tính đến năm 1997, sau 5 năm thực hiện CEPT và cũng là trải qua một nửa chặng đường để đi đến AFTA năm 2003, thương mại trong nội bộ ASEAN đạt được thành tựu đáng kể Gần 42.253 dòng thuế (chiếm 90,6% tổng số dòng thuế ở ASEAN) được đưa vào cơ chế CEPT Tỷ lệ thuế quan bình quân cho các sản phẩm trong danh mục gộp vào (danh mục các sản phẩm được lựa chọn) hiện đã giảm xuống 6,38% so với 12,76% của

Trang 19

năm 1993 Với sự tham gia của Lào và Mianma, danh mục cộng gộp vào cơ chế CEPT đã tăng từ 42.253 dòng thuế lên 45.119 dòng thuế, chiếm khoảng 41% trong tổng dòng thuế

Năm 2002, Khu vực mậu dịch tự do ASEAN cũng gần như được thành lập Trên 99% các sản phẩm trong Danh mục CEPT (IL) của các nước ASEAN - 6 đã được đưa xuống 0 - 5% Đối với các nước thành viên mới (Campuchia, Lào, Mianma, Việt Nam), 80% các sản phẩm của các nước này đã được đưa và CEPT (ILS) Trong số các sản phẩm

Đánh giá kết quả thự hiện AFTA, đại diện Ban Thư ký ASEAN, ông Amát Xakiát

cho rằng: “tiến trình AFTA đi đúng lộ trình đã làm cho tất cả các nước thành viên

ASEAN đều được hưởng lợi từ tiến trình AFTA, trước hết là có thể mở rộng thị trường cho hàng hóa của mình, thứ đến là tăng sức cạnh tranh của các doanh nghiệp và thu hút ngày càng nhiều vốn đầu tư”.20

Nhận thấy lợi ích của mậu dịch tự do đối với thương mại của các quốc gia, ASEAN đã tiếp tục cam kết để hướng tự do hóa thuế quan Ngày 30/1/2003, với Nghị định thư sửa đổi CEPT, các nước ASEAN - 6 cam kết xóa bỏ thuế đối với 60% sản phẩm trong IL vào năm 2003 Trong quá trình hướng tới Cộng đồng Kinh tế ASEAN, CEPT được sửa đổi để phù hợp với tình hình mới và bên cạnh đó, nhiều văn bản khác liên quan cũng được ra đời Khi có quá nhiều văn bản điều chỉnh một vấn đề và trong trường hợp này là thương mại hàng hóa trong ASEAN, sẽ gây khó khăn cho các Quốc gia thành viên khi ban hành văn bản pháp lý trong nước để thực hiện cam kết và cho cả các doanh nghiệp Một giải pháp được đặt ra là Hiệp định thương mại hàng hóa trong ASEAN

1.2.3 Hiệp định thương mại hàng hóa trong ASEAN (ATIGA)

Một trong những đặc điểm của AEC là một thị trường duy nhất và một cơ sở sản xuất thống nhất, trong đó có sự lưu chuyển tự do của hàng hóa Các biện pháp chính mà ASEAN sẽ thực hiện để xây dựng một thị trường chung và cơ sở sản xuất thống nhất bao gồm: dỡ bỏ thuế quan và các hàng rào phi thuế quan; thuận lợi hóa thương mại, hài hòa hóa các tiêu chuẩn sản phẩm (hợp chuẩn) và quy chế, giải quyết nhanh chóng hơn các thủ

20

Tài liệu đã dẫn, chú thích số 5, tr.271

21

Tài liệu đã dẫn, chú thích số 12

Trang 20

biện pháp đó, các nước ASEAN đã quyết định xây dựng một Hiệp định điều chỉnh toàn diện tất cả các vấn đề về thương mại hàng hoá trong ASEAN, đó là Hiệp định thương mại hàng hóa trong ASEAN - ATIGA Hiệp định này được ký kết vào tháng 2/2009 ở Thái Lan tại Hội nghị Cấp cao ASEAN lần 14, thay thế Hiệp định ưu đãi thuế quan có hiệu lực chung để thực hiện Khu vực thương mại tự do ASEAN (CEPT/AFTA) ATIGA

đã được xây dựng theo nguyên tắc kế thừa quy định trước đây trong CEPT/AFTA đồng thời đưa vào những quy định phù hợp với thực tiễn hoạt động thương mại hàng hoá,…, phù hợp với tầm nhìn của một Cộng đồng kinh tế ASEAN năng động và đồng thời khẳng định quyết tâm của các thành viên ASEAN trong việc hướng tới mục tiêu cao nhất về hội nhập kinh tế của Cộng đồng kinh tế ASEAN bằng việc tạo ra một hành lang pháp lý cao

17/5/2010 khi thành viên cuối cùng của ASEAN là Thái Lan, nộp văn kiện phê chuẩn ATIGA cho Ban Thư ký ASEAN tại Jakarta

Thông qua việc công nhận vai trò của các thỏa thuận thương mại khu vực là động lực thúc đẩy tự do hóa thương mại toàn cầu và khu vực, các Quốc gia thành viên tin tưởng rằng Hiệp định thương mại hàng hóa ASEAN toàn diện sẽ giảm thiểu các hàng rào

và tăng cường liên kết giữa các Quốc gia thành viên ASEAN, giảm chi phí kinh doanh, tăng hiệu quả thương mại, đầu tư và kinh tế, tạo nên một thị trường lớn hơn với nhiều cơ

do hóa thương mại của khu vực Các cam kết về thương mại hàng hóa nội khối được tổng hợp trong Hiệp định không chỉ tập trung vào lĩnh vực tự do hóa thuế quan, mà còn bao gồm cả những qui định về xóa bỏ các rào cản phi thuế quan, đơn giản hóa qui tắc xuất

và mở rộng dựa trên Danh mục Hệ thống Mã số và Mô tả Hàng hóa Hài hoà (HS) của Tổ chức Hải quan thế giới

22

Bộ tư pháp Việt Nam, Hiệp định thương mại hàng hoá ASEAN (ATIGA) - tạo điều kiện thuận lợi cho lưu chuyển

hàng hoá trong khu vực, http://moj.gov.vn/ct/tintuc/Pages/thong-tin-khac.aspx?ItemID=3848, [truy cập ngày

Trang 21

Mỗi hàng hóa, tùy theo tên gọi và tính chất sẽ được đối xử khác nhau Vì vậy, hàng hóa cần được phân loại cụ thể, xác định mã số nhất định để thuận lợi cho việc áp dụng thuế quan và các vấn đề khác Theo Điều 3 của ATIGA, vấn đề phân loại hàng hóa được thực hiện phù hợp với AHTN và quy định trong Nghị định thư điều chỉnh việc thực hiện AHTN năm 2003 cùng những sửa đổi Khi ATIGA được ký kết, các nước ASEAN

áp dụng AHTN 2007 (theo HS 2007) và hiện nay, với HS 2012, các Quốc gia thành viên đang thống nhất tiến hành mở rộng danh sách các hạng mục thuế quan chung trong AHTN bắt đầu từ 1/1/2012

Để được hưởng cam kết về cắt giảm xóa bỏ thuế quan của các Quốc gia thành viên nhập khẩu thì theo Điều 22 của ATIGA, thuế quan theo cam kết ở Quốc gia thành viên xuất khẩu phải từ 20% trở xuống và những hàng hóa đó phải đáp ứng được các quy định

về quy tắc xuất xứ của ATIGA

Theo định nghĩa trong ATIGA, nhằm mục đích xác định xuất xứ hàng hóa, hàng hoá bao gồm các nguyên liệu, sản phẩm, có xuất xứ thuần túy hoặc được sản xuất toàn

bộ, kể cả những sản phẩm có thể sẽ được sử dụng làm nguyên vật liệu cho một quá trình sản xuất khác sau này Như vậy, về nguyên tắc, hàng hóa bao gồm những nguyên liệu, sản phẩm có xuất xứ thuần túy hoặc được sản xuất toàn bộ Tuy nhiên, một hàng hóa nhập khẩu vào một Quốc gia thành viên từ một Quốc gia thành viên khác, được xem là

- Hàng hoá có xuất xứ thuần túy hoặc được sản xuất toàn bộ tại lãnh thổ của một Quốc gia thành viên xuất khẩu

- Hàng hoá có xuất xứ không thuần túy hoặc không được sản xuất toàn bộ tại lãnh thổ tại Quốc gia thành viên xuất khẩu

Các quy định về quy tắc xuất xứ này sẽ được trình bày cụ thể ở phần 2.2.1 Quy tắc xuất xứ

1.3.2 Nguyên tắc của ATIGA

1.3.2.1 Không phân biệt đối xử

Đối với nguyên tắc này, ATIGA thể hiện thông qua thỏa thuận đối xử tối huệ quốc

và đối xử quốc gia

Đối xử Tối huệ quốc (Most Favour Nation treatment) và Đối xử Quốc gia (National Treatment) là 2 nguyên tắc cơ bản, xuyên suốt của thương mại quốc tế và đều

có chung bản chất là sự không phân biệt đối xử giữa hàng hoá, dịch vụ trong nước với hàng hoá, dịch vụ nước ngoài và giữa hàng hoá, dịch vụ của các nước khác nhau Đây là

25

Hiệp định thương mại hàng hóa trong ASEAN, Điều 26

Trang 22

nguyên tắc trụ cột của các Hiệp định của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) và là nguyên tắc quan trọng trong quan hệ hợp tác kinh tế - thương mại khu vực cũng như

Tối huệ quốc

Tối huệ quốc nghĩa là không phân biệt đối xử quốc gia trong hoạt động thương mại quốc tế Các cam kết trong ATIGA sẽ được áp dụng trên cơ sở không phân biệt đối

xử đối với hoạt động thương mại hàng hóa giữa các nước trong khu vực ASEAN và

không phải áp dụng đối với các quốc gia khác ngoài khu vực

Về thuế nhập khẩu trong ASEAN, sau khi ATIGA có hiệu lực, khi một Quốc gia thành viên tham gia ký kết Hiệp định thương mại tự do với một nước không phải là thành viên ASEAN, cam kết thuận lợi hơn so với cam kết trong ATIGA thì các Quốc gia thành viên khác có quyền yêu cầu đàm phán với Quốc gia thành viên đó để được hưởng ưu đãi không kém thuận lợi hơn ưu đãi trong Hiệp định giữa Quốc gia thành viên với nước không phải là thành viên đó Trong trường hợp này, các Quốc gia thành viên đưa ra cam kết nhằm bảo đảm các nước trong khu vực sẽ được đối xử không kém ưu đãi hơn so với các nước ngoài khu vực Tuy nhiên, cơ chế để bảo đảm chỉ là quyền yêu cầu đàm phán, không có tính bắt buộc và việc có chấp nhận ưu đãi không sẽ do Quốc gia thành viên đã

Đối xử quốc gia

ATIGA viện dẫn Điều III của GATT năm 1994 đối với cam kết đối xử quốc quốc

Nguyên tắc được áp dụng là mọi khoản thuế hay khoản thu nội địa hoặc luật, quy tắc hay yêu cầu tác động đến các sản phẩm nội địa hoặc nhập khẩu, không được áp dụng với mục đích là bảo hộ hàng nội địa Các khoản thuế hay các khoản thu nội địa sẽ được đối xử như nhau giữa hàng nhập khẩu từ các Quốc gia thành viên với sản phẩm nội địa tương tự Bên cạnh đó, sự đãi ngộ về mặt luật pháp, quy tắc và các quy định tác động đến bán hàng, chào bán, mua, chuyên chở, phân phối hoặc sử dụng hàng trên thị trường nội địa hay quy tắc định lượng nội địa yêu cầu có pha trộn, chế biến hay sử dụng sản phẩm với một khối lượng tỷ trọng xác định, cũng không bị phân biệt đối xử bởi quốc tịch của hàng hóa Tuy nhiên, các quy định này không áp dụng với việc các cơ quan Chính phủ

26

Trung tâm WTO – VCCI, Pháp luật của Việt Nam vể đãi ngộ Tối huệ quốc, Đối xử quốc gia, về Tự vệ, về Chống

bán phá giá và Chống trợ cấp trong thương mại quốc tế, www.trungtamwto.vn, [truy cập ngày 15/3/2014]

Trang 23

mua sắm nhằm mục đích cho tiêu dùng của Chính phủ và không phải để bán lại nhằm mục đích thương mại hay đưa vào sản xuất nhằm mục đích thương mại

có quy định khác và trong trường hợp thông báo những thay đổi liên quan đến các vấn đề thuộc Phụ lục 1 của ATIGA (cụ thể là thuế quan, các biện pháp phi thuế quan, trị giá hải quan, quy tắc xuất xứ, thuế xuất khẩu, kiểm soát tỷ giá hối đoái liên quan đến xuất nhập khẩu, ứng dụng của AHTN vượt quá mức 8 chữ số cho các mục đích thuế), các Quốc gia thành viên phải tiến hành thông báo.29

Công bố và quản lý các quy tắc thương mại

Bên cạnh việc thông báo, các Quốc gia thành viên sẽ công bố luật pháp, quyết định và phán quyết theo quy định tại Điều X của GATT và công bố trên Internet ở mức

được Quốc gia thành viên áp dụng liên quan đến thương mại trong lĩnh vực xuất nhập khẩu sẽ được công bố và mỗi Quốc gia sẽ quản lý luật pháp, các quyết định hay quy chế liên quan đến xuất nhập khẩu một cách thống nhất, vô tư và hợp lý

Trao đổi thông tin và Tính bảo mật

Những thông tin, tài liệu chính thức trao đổi giữa các Quốc gia thành viên liên

Về bảo mật thông tin, quy định của ATIGA không yêu cầu các Quốc gia thành viên cung cấp thông tin như thông tin bí mật cản trở việc thực thi luật pháp, hoặc trái với lợi ích công cộng, hoặc ảnh hưởng đến lợi ích thương mại hợp pháp của các doanh nghiệp (nhà nước và cả tư nhân), hoặc thông tin liên quan đến tình hình, tài khoản khách

Trang 24

hàng của một thể chế tài chính Và khi được cung cấp các thông tin mật, các Quốc gia

Đối với vấn đề hải quan, khi một Quốc gia thành viên cung cấp thông tin về hải quan cho một Quốc gia thành viên khác và cho biết đó là thông tin mật thì Quốc gia thành viên nhận thông tin phải đảm bảo tính bảo mật thông tin, sử dụng nó theo đúng mục đích mà nước cung cấp thông tin quy định và không được công bố thông tin này khi

Cơ sở dữ liệu thương mại ASEAN

Nhằm minh bạch hoá các chính sách liên quan đến thương mại hàng hoá, cơ sở dữ liệu thương mại ASEAN sẽ được thành lập và để cho công chúng tiếp cận thông qua Internet Các thông tin thuộc cơ sở dữ liệu thương mại như biểu thuế, thuế MFN, quy tắc xuất xứ, các biện pháp phi thuế quan, pháp luật,… sẽ được lưu trữ trong cơ sở dữ liệu

theo cam kết trong ATIGA, có thể vào địa chỉ economic-community/category/asean-trade-in-goods-agreement Ban thư ký ASEAN có trách nhiệm duy trì, cập nhật Cơ sở dữ liệu thương mại ASEAN dựa trên các thông báo của các Quốc gia thành viên

www.asean.org/communities/asean-1.3.2.3 Thuận lợi hóa thương mại

Một nguyên tắc khác được thể hiện trong ATIGA là thuận lợi hóa thương mại Các cam kết trong ATIGA được các Quốc gia thành viên đưa ra nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động thương mại trong khu vực Nguyên tắc này thể hiện cụ thể như sau:

Tham vấn

Các Quốc gia thành viên sẽ tiến hành truyền thông và tham vấn, tạo thuận lợi và xúc tiến cơ chế trao đổi hiệu quả với cộng đồng doanh nghiệp kể cả khi ban hành, thực hiện và rà soát quy tắc và thủ tục thương mại.35

Hợp tác

Hợp tác là nguyên tắc hoạt động quan trọng của ASEAN không chỉ về thương mại hàng hóa mà còn đối với các lĩnh vực khác như chính trị - an ninh, văn hóa, giáo dục, y tế,… Trong thương mại hàng hóa, các Quốc gia thành viên sẽ hợp tác chặt chẽ với nhau trong các vấn đề liên quan và hợp tác với khu vực tư nhân trong việc đưa ra các biện

Trang 25

pháp tạo thuận lợi thương mại (mở các kênh trao đổi thông tin và hợp tác giữa Chính phủ

- doanh nghiệp) Bên cạnh đó, các Quốc gia thành viên cũng tập trung vào các cơ hội tăng cường hợp tác với nhau, bao gồm hỗ trợ kỹ thuật và tăng cường năng lực hội nhập, trao đổi các thực tiễn hội nhập tốt nhất để thực hiện các sáng kiến thuận lợi hóa thương mại và phối hợp quan điểm về các vấn đề chung được thảo luận trong khuôn khổ các tổ

Để khuyến khích sự lưu chuyển tự do của hàng hóa trong khu vực các Quốc gia thành viên ATIGA đã thỏa thuận xây dựng, thực thi Chương trình làm việc về Thuận lợi hóa thương mại ASEAN Chương trình này đặt ra tất cả các hành động, biện pháp cụ thể (cả ở cấp ASEAN và cấp quốc gia) với mục tiêu rõ ràng và thời hạn thực thi cần thiết để tạo ra một môi trường nhất quán, minh bạch và có thể dự đoán được đối với các giao dịch thương mại quốc tế để tăng cường cơ hội và giúp các doanh nghiệp, kể cả các doanh nghiệp vừa và nhỏ (SMEs) tiết kiệm thời gian và giảm chi phí Phạm vi của Chương trình này là điều chỉnh các lĩnh vực thủ tục hải quan, quy định thương mại và thủ tục, tiêu chuẩn và hợp chuẩn, các biện pháp vệ sinh kiểm dịch, Cơ chế một cửa ASEAN và các

Một cam kết quan trọng về thuận lợi hóa thương mại, đánh dấu sự liên kết chặt chẽ giữa các Quốc gia thành viên là xây dựng và triển khai Cơ chế một cửa ASEAN (ASW) Theo cam kết, các Quốc gia thành viên sẽ thực hiện các biện pháp cần thiết để xây dựng và triển khai Cơ chế một cửa trong nước và Cơ chế một cửa ASEAN phù hợp các điều khoản của Hiệp định xây dựng và thực hiện Cơ chế một cửa ASEAN và Nghị

Cơ chế một cửa là yếu tố quan trọng trong kế hoạch hành động ASEAN trong tiến trình thực hiện hóa AEC vào năm 2015 Khi ASW hoạt động với đầy đủ chức năng, lợi thế thương mại và dòng chu chuyển hàng hóa trong khu vực sẽ được cải thiện đáng kể bằng cách áp dụng cơ chế trao đổi dữ liệu điện tử về hàng hóa thông quan trong ASEAN

Cơ chế một cửa quốc gia (NSWs) sẽ liên kết với nhau thông qua ASW cho phép các doanh nghiệp nộp tất cả các văn bản giấy tờ liên quan tới hoạt động thương mại về cùng một nơi và cũng chính các cơ quan chuyên trách trong ASEAN sẽ xem xét và đưa ra

Trang 26

Với cách giải thích trên có thể thấy ASW sẽ mang lại nhiều lợi ích cho cộng đồng doanh nghiệp, cắt giảm thời gian và chi phí khi làm thủ tục Thay vì phải nộp hồ sơ, giấy

tờ đến từng cơ quan chuyên trách, với ASW, chỉ cần nộp đến một cơ quan và nhận kết quả từ chính cơ quan đó

Quyết định xây dựng Cơ chế một cửa ASEAN được đưa ra năm 2003 nhằm hiện thực hóa Cộng đồng Kinh tế ASEAN vào năm 2020 Năm 2005, các nhà lãnh đạo đã ký kết Hiệp định về xây dựng và thực hiện Cơ chế một cửa ASEAN Năm 2006, Bộ trưởng

Bộ Tài chính các nước ASEAN đại diện cho Chính phủ các nước đã ký kết Nghị định thư

về xây dựng và thực hiện Cơ chế một cửa ASEAN nhằm cụ thể hóa Hiệp định trên và thông qua các hướng dẫn về kỹ thuật và kế hoạch hành động để triển khai Cơ chế một cửa ASEAN Việc thực hiện ASW sẽ được tiến hành theo lộ trình, kết nối từng Quốc gia thành viên dựa trên tiến độ thực hiện Cơ chế một cửa quốc gia tại từng nước Các nước ASEAN - 6 sẽ thực hiện Cơ chế một cửa quốc gia vào năm 2008 và các nước CLMV sẽ thực hiện Cơ chế một cửa quốc gia năm 2012

Tính đến năm 2013, với sự tham gia thử nghiệm của 7 nước thành viên (Brunei,

Inđônêxia, Malayxia, Philippin, Singapo, Thái Lan và Việt Nam) về trao đổi dữ liệu điện

tử C/O mẫu D và Tờ khai hải quan điện tử đã được hoàn tất Tất cả các nước tham gia đều đã thử nghiệm thành công kết nối cổng ASW.40 Theo thông tin cập nhật của Tổng cục Hải quan từ một số quốc gia thành viên ASEAN, việc thực hiện NSW đã và đang

- Tại Brunei, giai đoạn 1 của NSW đã hoàn thành và thực hiện với một số chứng

từ, thủ tục như C/O (sử dụng từ 6/1/2014), tờ khai hải quan (hoạt động vào 25/2/2014)

- Campuchia đang xây dựng kế hoạch chi tiết xây dựng NSW do Ngân hàng thế giới tài trợ thuộc dự án tăng cường tạo thuận lợi thương mại

- Malayxia đã thực hiện NSW cho tất cả các chi cục Hải quan và các cơ quan cấp phép ở toàn bộ 23 cảng biển

- Mianma đang phát triển Hệ thống thông quan hàng hóa tự động với sự trợ giúp

từ Chính phủ Nhật Bản Giai đoạn thiết kế sơ bộ đã hoàn thành vào cuối năm 2013 Dự kiến Hệ thống sẽ được thử nghiệm trong năm 2015

40

Hà Văn Hội, Tham gia Cộng đồng Kinh tế ASEAN và những tác động đến thương mại quốc tế của Việt Nam, Tạp

chí Khoa học, Đại học quốc gia Hà Nội, tập 29, số 4, năm 2013, tr.44-53, tr.45

41

Báo Hải quan điện tử, Nhiều nước ASEAN vận hành hiệu quả Cơ chế một cửa quốc gia, T.Bình,

http://www.baohaiquan.vn/pages/co-che-mot-cua-o-cac-nuoc-asean-duoc-thuc-hien-the-nao.aspx, [truy cập ngày 17/11/2014]

Trang 27

- Giai đoạn 1 NSW của Philippin đã vận hành cho 29 cơ quan cấp phép liên quan đến xuất nhập khẩu Giai đoạn 2 đang trong quá trình triển khai

- Tại Inđônêxia, Tổng thống Inđônêxia đã ban hành sắc lệnh cho phép thành lập

Cơ quan của Inđônêxia về quản lí cảng biển một cửa để thực hiện NSW

- Singapo và Thái Lan là những nước đi đầu trong khu vực về thực hiện NSW và đang vận hành Hệ thống hiệu quả

Xây dựng năng lực trong ASEAN

Vấn đề xây dựng năng lực trong ASEAN được các nhà lãnh đạo quan tâm đẩy mạnh nhằm nâng cao năng lực của các Quốc gia thành viên và thu hẹp khoảng cách phát triển Vấn đề này được thực hiện thông qua các chương trình tăng cường năng lực như Chương trình làm việc theo Sáng kiến về Liên kết ASEAN (IAI) và các sáng kiến xây

thông qua năm 2000 với mục tiêu thúc đẩy liên kết kinh tế ASEAN thông qua việc các nước ASEAN - 6 hỗ trợ các nước CLMV hội nhập khu vực và thu hẹp khoảng cách phát triển Đến nay, giai đoạn một của Sáng kiến IAI (2002 - 2008) đã hoàn tất với 134 dự án/chương trình được thực hiện Các dự án/chương trình tập trung vào 04 lĩnh vực ưu tiên

là phát triển nguồn nhân lực, hỗ trợ hội nhập khu vực, công nghệ thông tin và cơ sở hạ

trợ các nước CLMV thu hẹp khoảng cách phát triển trong ASEAN trong giai đoạn 2009 -

2015 thông qua các dự án cụ thể, gắn kết với tiến trình thực hiện các Kế hoạch tổng thể

về xây dựng Cộng đồng ASEAN

Một chương trình xây dựng năng lực khác là dự án hỗ trợ từ EU Trong hợp tác kinh tế, EU đã hỗ trợ ASEAN thông qua Chương trình ASEAN - EU về Hỗ trợ Hội nhập khu vực giai đoạn II (APRIS) và dự án Hỗ trợ hội nhập khu vực ASEAN từ EU (ASEAN Regional Integration Support from the EU - ARISE) Trong đó dự án ARISE nhằm mục đích hỗ trợ việc thực hiện Cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC) thông qua tăng cường năng lực cho các nước thành viên ASEAN và Ban thư ký ASEAN Dự án bắt đầu từ năm 2013

Trang 28

Bên cạnh đó, một số nguyên tắc khác của thuận lợi hóa thương mại là:

Một, đơn giản hóa, nhất quán, tạo tính khả thi và hiệu quả và có thể dự đoán trước

các quy tắc và thủ tục liên quan tới thương mại

Hai, hài hòa hóa, chuẩn hóa và thừa nhận Các quy định, quy tắc và thủ tục ảnh

hưởng đến việc chấp nhận hàng hóa giữa các Quốc gia thành viên phải được hài hòa hóa càng nhiều càng tốt trên cơ sở các tiêu chuẩn quốc tế nếu phù hợp Khuyến khích xây dựng các thỏa thuận thừa nhận lẫn nhau đối với tiêu chuẩn, sự hợp chuẩn và hợp tác liên tục về xây dựng hạ tầng kỹ thuật

Ba, hiện đại hóa và sử dụng công nghệ mới

1.3.2.4 Hội nhập theo cấp độ

Các nước trong khu vực còn tồn tại khoảng cách về trình độ phát triển kinh tế, do

đó, sự hợp tác trong khu vực cần được tiến hành từng bước và theo cấp độ Nhận thấy điều đó, ATIGA đã tạo thuận lợi, đẩy mạnh sự tham gia của các Quốc gia thành viên thông qua những quy định về linh hoạt,45 ưu tiên hỗ trợ bốn nước Campuchia, Lào, Mianma, Việt Nam Một số cam kết trong ATIGA được xây dựng dựa trên trình độ phát triển của các Quốc gia thành viên Thể hiện rõ nhất là những quy định về lộ trình cắt giảm, xỏa bỏ thuế quan trong nội khối ASEAN Ở nhóm nước ASEAN - 6, với sự phát triển cao hơn, do đó, từ ngày 1/1/2009, thuế nhập khẩu của các nước này sẽ ở mức 0 - 5%

và 80% các dòng thuế nhập khẩu sẽ xóa bỏ Còn đối với các nước Lào, Mianma và Việt Nam, thuế nhập khẩu của các nước này vào thời điểm trên là 0 - 5% Riêng đối với Campuchia, cũng vào thời điểm đó, 80% dòng thuế nhập khẩu sẽ ở mức 0 - 5% Và đối với các nước CLMV, 7% số dòng thuế sẽ được lùi thời hạn xóa bỏ đến năm 2018

1.3.3 Ngoại lệ khi áp dụng ATIGA

Bên cạnh các quy định chung, ATIGA đưa ra các trường hợp ngoại lệ khi áp dụng các cam kết Đó là ngoại lệ để bảo vệ lợi ích cộng đồng, bảo vệ cán cân thanh toán và bảo

vệ an ninh

1.3.3.1 Bảo vệ lợi ích cộng đồng

Với điều kiện là không tạo nên sự phân biệt đối xử giữa các Quốc gia thành viên hoặc tạo nên sự hạn chế trá hình đối với thương mại quốc tế, trong những trường hợp được thể hiện trong ATIGA, các Quốc gia thành viên có quyền áp dụng các biện pháp có lợi cho Quốc gia mình mà không bị ràng buộc bởi các cam kết trong ATIGA Nhìn chung, các trường hợp mà ATIGA đưa ra đều nhằm mục đích là bảo vệ lợi ích của Quốc gia thành viên, cụ thể là bảo vệ lợi ích cộng đồng (đạo đức, cuộc sống, sức khỏe, tài sản

45

Hiệp định thương mại hàng hóa trong ASEAN, Điều 16

Trang 29

sản quốc gia có giá trị nghệ thuật - lịch sử - khảo cổ, tài nguyên thiên nhiên); bảo đảm

và ngăn ngừa hành vi lừa dối; bảo vệ kinh tế quốc gia (tuy nhiên không nhằm mục đích

1.3.3.2 Bảo vệ cán cân thanh toán

Cán cân thanh toán được hiểu là bản báo cáo thống kê phản ánh toàn bộ các giao dịch kinh tế của một nền kinh tế với phần còn lại của thế giới trong một thời kỳ nhất định Đây được xem là tài liệu quan trọng nhất đối với các nhà hoạch định chính sách ở tầm vĩ mô, bởi vì tình trạng dư thừa hay thiếu hụt của cán cân thanh toán tại một thời điểm nhất định sẽ ảnh hưởng tới quan hệ cung cầu ngoại hối trên thị trường, do đó ảnh

Theo cách hiểu đơn giản, tỷ giá hối đoái là sự chênh lệch giữa đồng tiền của một nước so với đồng tiền nước ngoài Cán cân thanh toán sẽ ảnh hưởng đến sự thay đổi tỷ giá hối đoái của một nước Nếu cán cân thâm hụt, nhu cầu ngoại hối sẽ tăng lên, do đó, tỷ giá hối đoái sẽ tăng Ngược lại, cán cân dư thừa, tỷ giá hối đoái sẽ giảm, nhưng nếu dư thừa quá nhiều sẽ tạo nên sức ép cho hàng hóa trong nước khi hàng nhập khẩu quá nhiều Với vai trò quan trọng như thế thì việc bảo vệ cán cân thanh toán của một quốc gia là vấn

đề cần thiết Vì vậy, ATIGA cho phép các Quốc gia thành viên áp dụng các biện pháp để bảo vệ cán cân thanh toán Tuy nhiên, các biện pháp này khi được áp dụng phải bảo đảm tuân thủ các điều kiện ở Điều XII của GATT và Tài liệu giải thích về các quy định cán cân thanh toán trong Hiệp định chung về Thuế quan và Thương mại 1994 trong Phụ lục

thanh toán, Quốc gia thành viên có thể hạn chế số lượng hay giá trị hàng hóa cho phép nhập khẩu, nhưng phải tuân theo quy định của GATT

Các hạn chế nhập khẩu được định ra sẽ không vượt quá mức cần thiết để ngăn ngừa mối đe dọa hay để ngăn chặn sự suy giảm nghiêm trọng dự trữ ngoại hối hoặc không vượt quá mức cần thiết để tăng dự trữ ngoại hối lên một mức hợp lý khi một Quốc gia thành viên có dự trữ ngoại hối thấp Khi điều kiện áp dụng hạn chế nhập khẩu trong

46

Phù hợp với Điều II.4 và Điều XVII của GATT: sự độc quyền đối với sản phẩm nhập khẩu đã được thỏa thuận không được áp dụng để tạo sự bảo hộ cao hơn mức đã thỏa thuận, và doanh nghiệp thương mại nhà nước độc quyền khi tiến hành mua bán thông qua xuất khẩu hay nhập khẩu sẽ tuân thủ các nguyên tắc chung về không phân biệt đối

xử trừ trường hợp nhập khẩu sản phẩm dành cho tiêu dùng của Chính phủ mà không nhằm mục đích thương mại

47

Hiệp định thương mại hàng hóa trong ASEAN, Điều 8

48

Quantri.vn, Tác động của cán cân thanh toán quốc tế, Đặng Thị Việt Đức, Phan Anh Tuấn,

http://www.congcu.quantri.vn/dict/details/8337-tac-dong-cua-can-thanh-toan-quoc-te, [truy cập ngày 25/8/2014]

49

Hiệp định thương mại hàng hóa trong ASEAN, Điều 10

Trang 30

trường hợp này đã được cải thiện, hạn chế đó sẽ được nới lỏng, chỉ duy trì ở mức độ cần thiết phải áp dụng so với điều kiện áp dụng, và khi điều kiện áp dụng không còn, các hạn chế đó sẽ được loại bỏ Trong trường hợp hạn chế số lượng hàng nhập khẩu được áp dụng có tính chất kéo dài và có thể dẫn tới sự mất thăng bằng chung làm giảm khối lượng thương mại quốc tế, các Quốc gia thành viên sẽ tiến hành thảo luận để xem xét các biện pháp mà có thể được các Quốc gia thành viên đang có cán cân thanh toán chịu tác động bất lợi hay các Quốc gia thành viên đang có cán cân thanh toán đặc biệt thuận lợi hoặc mọi tổ chức liên Chính phủ có khả năng thi hành nhằm xoá bỏ nguyên nhân căn bản của

sự mất thăng bằng cán cân đó

1.3.3.3 Bảo vệ an ninh quốc gia

Một trường hợp ngoại lệ khác được các Quốc gia thành viên chấp nhận là an ninh

phải cung cấp các thông tin khi hành động đó xâm phạm quyền lợi an ninh cơ bản của quốc gia mình

Với mục tiêu duy trì nền hòa bình, an ninh trong khu vực, ATIGA không ngăn cản Quốc gia thành viên thực hiện bất kỳ biện pháp gì để bảo vệ quyền lợi an ninh cơ bản của nước mình, cụ thể như các biện pháp liên quan đến vật liệu hạt nhân; mua bán vũ khí, đạn dược, hàng hóa hoặc các vật liệu khác với mục đích cung cấp cho các cơ sở quân sự; liên quan đến việc bảo vệ cơ sở hạ tầng công cộng quan trọng (viễn thông, nước, năng lượng); thực hiện trong trình trạng khẩn cấp trong nước hoặc quốc tế hoặc chiến tranh hoặc những biện pháp thuộc trách nhiệm của Quốc gia đó theo Hiến chương của Liên Hợp Quốc để ngăn cản một Quốc gia thành viên khác thực hiện một hành động, nhằm duy trì hoà bình và an ninh quốc tế

1.3.4 Quan hệ giữa ATIGA, WTO và các Hiệp định khác về kinh tế của ASEAN trước đó

1.3.4.1 Quan hệ giữa ATIGA và WTO

WTO đã đưa ra các quy định đối với hoạt động thương mại quốc tế áp dụng cho các nước thành viên WTO Trong ATIGA, các Quốc gia thành viên đưa ra các cam kết dựa trên cơ sở các quy định của WTO và có nhiều cam kết được các Quốc gia thành viên viện dẫn áp dụng theo quy định của WTO Cụ thể như cam kết về đối xử quốc gia, các biện pháp bảo vệ cán cân thanh toán, trị giá hải quan, các biện pháp vệ sinh dịch tễ, các biện pháp phòng vệ thương mại,…

50

Hiệp định thương mại hàng hóa trong ASEAN, Điều 9

Trang 31

Trong trường hợp có sự mâu thuẫn giữa ATIGA với các quy định của WTO, vì ATIGA điều chỉnh trực tiếp và cụ thể hoạt động thương mại hàng hóa trong khu vực nên ATIGA sẽ được các Quốc gia thành viên ưu tiên áp dụng Nếu các quy định trong WTO được sửa đổi và các quy định đó có liên quan đến ATIGA, các Quốc gia thành viên sẽ hội

ý quyết định việc cần thiết phải sửa đổi ATIGA, trừ trường hợp ATIGA có quy định khác.51

1.3.4.2 Quan hệ giữa ATIGA và các Hiệp định khác về kinh tế của ASEAN trước

đó

Như đã nói từ đầu, ATIGA là văn bản điều chỉnh các vấn đề liên quan đến thương mại hàng hóa trong ASEAN, thay thế các văn bản trước đó liên quan đến vấn đề này Theo quy định trong ATIGA, trong vòng 6 tháng, kể từ khi ATIGA có hiệu lực, các Quốc gia thành viên sẽ nhất trí lập danh sách những thoả thuận cần thay thế Và trong khoảng thời gian này, các Hiệp định kinh tế tồn tại trước ngày ATIGA có hiệu lực sẽ tiếp tục có hiệu lực Nhưng thực tế, sau khi ATIGA có hiệu lực, một số thỏa thuận nhất định liên quan tới thương mại hàng hóa trong ASEAN như CEPT và một số Nghị định khác sẽ không còn hiệu lực nữa Tuy nhiên, những thỏa thuận này về mặt hành chính vẫn được coi như một phụ lục của ATIGA cho đến khi những thỏa thuận hỗ trợ tương ứng được sửa đổi, bổ sung và ký kết.52

Ngày 8/3/2013, tại Hội nghị Bộ trưởng kinh tế ASEAN lần 19 ở Hà Nội, các nước ASEAN đã ký Nghị định thư sửa đổi một số Hiệp định kinh tế liên quan đến thương mại hàng hóa

Khi có sự không thống nhất giữa ATIGA với bất kỳ hiệp định kinh tế ASEAN

Kết luận Chương 1, ASEAN với lịch sử hình thành và phát triển gần 50 năm và

đến hôm nay đã trở thành một tổ chức quan trọng đối với sự phát triển của các Quốc gia thành viên Một kết quả quan trọng trong quá trình hợp tác là việc xây dựng Cộng đồng ASEAN Cộng đồng này sẽ nâng cao vị trí của khu vực cùng với sự hợp tác giữa các Quốc gia thành viên lên một tầm cao mới thông qua 3 Cộng đồng mà theo dự kiến thì năm 2015 sẽ được thành lập ATIGA với vai trò là văn kiện tổng hợp những cam kết về thương mại hàng hóa trong khu vực và là một trong những công cụ hỗ trợ việc xây dựng AEC, có thể xem như là thành tựu của quá trình hợp tác kinh tế trong ASEAN Hiệp định này thể hiện vai trò hỗ trợ việc xây dựng AEC thông qua các thỏa thuận giữa các Quốc

Trang 32

gia thành viên về việc tạo điều kiện thuận lợi cho thương mại hàng hóa trong khu vực Về nguyên tắc là tạo điều kiện để đạt được sự lưu chuyển tự do của hàng hóa trong khu vực, tuy nhiên, việc bảo vệ lợi ích cơ bản của các Quốc gia thành viên vẫn được đặt lên hàng đầu thông qua những thỏa thuận về ngoại lệ khi áp dụng ATIGA

Trang 33

CHƯƠNG 2 QUY ĐỊNH CỦA HIỆP ĐỊNH THƯƠNG MẠI HÀNG HÓA TRONG ASEAN 2.1 Quy định về tự do hóa thuế quan

Có thể nói đây được xem là mục tiêu quan trọng của ATIGA Đối với tự do hóa thuế quan, các nhà lãnh đạo ASEAN đưa ra những cam kết nhằm cắt giảm, xóa bỏ thuế quan giữa các Quốc gia thành viên

2.1.1 Cắt giảm, xóa bỏ thuế quan

Trừ những trường hợp được quy định trong ATIGA, các Quốc gia thành viên cam kết xóa bỏ thuế quan đối với tất cả các sản phẩm trong quan hệ thương mại giữa các Quốc gia thành viên vào năm 2010 đối với ASEAN - 6 và vào năm 2015 đối với các nước CLMV Riêng các nước CLMV được dời thời hạn tới năm 2018 với 7% dòng thuế Cắt giảm và xóa bỏ thuế nhập khẩu sẽ thực hiện bắt đầu từ ngày 1 tháng 1 hàng năm và thuế suất cơ sở để cắt giảm hoặc xóa bỏ thuế nhập khẩu sẽ là mức là mức thuế theo CEPT vào thời điểm có hiệu lực của ATIGA Mô hình cắt giảm, loại bỏ thuế quan theo ATIGA

Tên lộ trình Cam kết cụ thể

- Thuế nhập khẩu của 80% các dòng thuế được xóa bỏ

- Thuế nhập khẩu đối với các sản phẩm công nghệ thông tin và truyền thông (ICT): 0%

- Thuế nhập khẩu đối với tất cả các sản phẩm: bằng hoặc thấp hơn 5%

CLMV: loại bỏ thuế nhập khẩu vào năm 2015 và từ ngày 1/1/2009:

- Đối với Lào, Mianma và Việt Nam: thuế nhập khẩu bằng hoặc thấp hơn 5%

- Đối với Campuchia: 80% các dòng thuế bằng hoặc thấp hơn 5%

7% số dòng thuế của CLMV được linh hoạt đến năm 2018 xóa bỏ

CLMV sẽ được xóa bỏ theo ba giai đoạn là 2008, 2009 và 2010

Trang 34

Lộ trình C Thuế nhập khẩu của các sản phẩm PIS trong lộ trình C của từng nước

CLMV sẽ xóa bỏ vào năm 2012

trình D của từng Quốc gia thành viên là 0 - 5% vào thời gian:

- 2010 đối với ASEAN - 6

- 2013 đối với Việt Nam Tuy nhiên, thuế nhập khẩu đối với sản phẩm đường của Việt Nam sẽ giảm xuống 0-5% vào năm 2010

- 2015 đối với Lào và Mianma

- 2017 đối với Campuchia

gia thành viên sẽ có thuế nhập khẩu MFN áp dụng giảm xuống

suất ngoài hạn ngạch cắt giảm theo lộ trình giảm thuế phù hợp với phân loại của các sản phẩm

Campuchia và Việt Nam lần lượt sẽ được giảm xuống phù hợp với lộ trình được tất cả các Quốc gia thành viên đồng ý

phải cắt giảm hoặc xóa bỏ thuế

Bảng 1 Mô hình cắt giảm, xóa bỏ thuế quan của các Quốc gia thành viên

Mô hình cắt giảm thuế trên được từng Quốc gia thành viên xây dựng chi tiết trong Biểu tự do hóa thuế quan của mình (Phụ lục 2 của ATIGA) Thông tin chi tiết về Biểu thuế ATIGA có thể được tìm thấy tại trang thông tin của ASEAN, do đó, lộ trình cắt giảm thuế quan trở nên minh bạch hơn và có thể dự đoán trước được trong Cộng đồng kinh tế

Về nguyên tắc, không Quốc gia thành viên nào được hủy bỏ hay điều chỉnh ưu đãi thuế quan đã được xây dựng trong lộ trình hay tăng thuế xuất hiện hành trong quá trình xây dựng lộ trình Các Quốc gia thành viên có thể quyết định tiến hành rà soát các sản

phẩm nông nghiệp chưa chế biến trong lộ trình D và E với mục đích cải thiện tiếp cận thị

trường đối với những sản phẩm Nếu một sản phẩm thuộc diện rà soát được thống nhất

loại khỏi các lộ trình nêu trên, sản phẩm đó sẽ được đặt trong lộ trình A của các Quốc gia

thành viên đó và phải thuộc diện xóa bỏ thuế nhập khẩu của lộ trình đó

Trang 35

Bên cạnh việc xây dựng lộ trình cắt giảm thuế, các Quốc gia thành viên cần phải ban hành văn bản pháp lý để tao hiệu lực cho việc thực hiện lộ trình cắt giảm đã cam kết

Để bảo đảm việc thực thi các cam kết cắt giảm, xóa bỏ thuế quan, văn bản pháp lý sẽ có giá trị thực thi hồi tố từ ngày 1/1/2010 (năm ATIGA có hiệu lực) Nếu Quốc gia thành viên không thể ban hành một văn bản pháp lý chung để tạo hiệu lực cho việc thực hiện cắt giảm, xóa bỏ thuế quan thì văn bản áp dụng cho từng năm sẽ được ban hành ít nhất 3 tháng trước ngày thực hiện hiệu lực

Kết quả thực hiện bước đầu cam kết cắt giảm, xóa bỏ thuế quan của ATIGA là vào tháng 1/2010, các quốc gia Brunei, Inđônêxia, Malayxia, Philippin, Singapo và Thái Lan (ASEAN - 6) đã xóa bỏ thuế nhập khẩu đối với 99,65% trong tổng số các dòng thuế trong

đó mức thuế 0% áp dụng cho 24,15% tổng số hàng hóa từ các ngành ưu tiên hội nhập (PIS); 14,92% các sản phẩm từ thép và inox; 8,93% các sản phẩm cơ khí và máy móc;

8% các sản phẩm liên quan đến hóa chất Tương tự như vậy, Campuchia, Lào, Mianma

và Việt Nam cũng cắt giảm thuế nhập khẩu xuống còn 0 - 5% đối với 98,86% dòng thuế cho các loại hàng hóa nói trên, ngoài ra các loại hàng hóa có xuất xứ từ ASEAN như thực phẩm chế biến, đồ đạc nội thất, nhựa, giấy, xi măng, gốm sứ, thủy tinh, nhôm xuất khẩu sang Brunei, Inđônêxia, Malayxia, Philippin, Singapo và Thái Lan cũng được hưởng mức thuế suất 0% 56

2.1.2 Xóa bỏ hạn ngạch thuế quan (TRQs)

Hạn ngạch thuế quan là mức hạn ngạch mà ở đó thuế quan có sự thay đổi Đây là biện pháp hạn chế số lượng nhập khẩu theo đó nếu lượng nhập khẩu dưới một mức nhất định (gọi là hạn ngạch) thì sẽ được áp dụng mức thuế nhập khẩu thấp còn nếu lượng nhập khẩu cao hơn hạn ngạch thì phần vượt quá vẫn được nhập khẩu nhưng sẽ bị áp thuế suất

Từng Quốc gia thành viên cam kết không áp dụng TRQs đối với việc xuất nhập

khẩu hàng hóa trong khu vực ASEAN Việt Nam và Thái lan đưa ra cam kết xóa bỏ

- Thái lan sẽ xóa bỏ trong 3 giai đoạn: 1/1/2008, 1/1/2009 và 1/1/2010

- Việt Nam sẽ xóa bỏ trong 3 giai đoạn: 1/1/2013, 1/1/2014, 1/1/2015 và linh hoạt tới 1/1/2018

56

Tài liệu đã dẫn, chú thích số 39, tr.16

57

Trung tâm WTO, Cam kết về Các Biện pháp Hạn chế số lượng Xuất khẩu – Nhập khẩu,

http://www.trungtamwto.vn/wto/cam-ket-ve-cac-bien-phap-han-che-so-luong-xuat-khau-nhap-khau, [truy cập ngày 15/6/2014]

58

Hiệp định thương mại hàng hóa trong ASEAN, Điều 20

Trang 36

2.1.3 Tạm thời sửa đổi hoặc ngừng các cam kết

Trong ATIGA, với cam kết về tự do hóa thuế quan, các nhà lãnh đạo còn thỏa thuận một quy định khác, tạo thuận lợi cho các Quốc gia thành viên khi áp dụng Hiệp định là tạm thời sửa đổi hoặc ngừng các cam kết Trong trường hợp gặp khó khăn không lường trước khi thực hiện các cam kết thuế, Quốc gia thành viên đó (Quốc gia thành viên

đề nghị) có thể yêu cầu tạm thời sửa đổi hoặc ngừng cam kết trong lộ trình cam kết cắt

đổi hoặc ngừng cam kết không còn tồn tại, Quốc gia thành viên đề nghị sẽ ngay lập tức khôi phục lại cam kết thuế (áp dụng mức thuế suất theo các cam kết trong lộ trình nếu việc trì hoãn hoặc ngừng cam kết chưa diễn ra) và thông báo cho Hội đồng AFTA

Các Quốc gia thành viên khác có quyền yêu cầu tham vấn hay đàm phán với Quốc gia thành viên đề nghị, tuy nhiên yêu cầu đền bù chỉ được đặt ra với các nước có lợi ích cung cấp đáng kể (là nước chiếm tỉ lệ ít nhất 20% tổng nhập khẩu mặt hàng liên quan từ ASEAN vào thị trường Quốc gia thành viên đề nghị, tính trung bình trong 3 năm) Quốc gia thành viên đề nghị sẽ duy trì một mức độ ưu đãi cho thương mại của tất cả các Quốc gia thành viên có lợi ích cung cấp đáng kể không kém thuận lợi hơn mức ưu đãi quy định trong Hiệp định này Mức ưu đãi này có thể bao gồm các điều chỉnh đền bù có liên quan tới hàng hóa khác Các biện pháp điều chỉnh đền bù dưới hình thức thuế quan sẽ được dành cho tất các các Quốc gia thành viên

Trong trường hợp không có phê chuẩn hoặc khuyến nghị của Hội đồng AFTA mà Quốc gia thành viên đề nghị vẫn tạm thời sửa đổi hoặc ngừng cam kết, Quốc gia thành viên với lợi ích cung cấp đáng kể sẽ tự do tiến hành trả đũa sau 30 ngày, nhưng không muộn hơn 90 ngày sau khi Quốc gia thành viên tiến hành sửa đổi hoặc ngừng cam kết, để sửa đổi hoặc ngừng cam kết gần như tương đương của Quốc gia thành viên áp dụng Các Quốc gia thành viên áp dụng sẽ ngay lập tức thông báo cho Hội đồng AFTA những hành động trả đũa đó

2.1.4 Đối xử đặc biệt đối với gạo và đường

Đối với gạo và đường, ATIGA có quy định đối xử đặc biệt đối với 2 loại hàng hóa này ATIGA dẫn chiếu đến việc áp dụng Nghị định thư về đối xử đặc biệt đối với gạo và

định CEPT và cho phép một nước thành viên được miễn trừ trách nhiệm đối với các cam kết thuế quan quy định tại Hiệp định CEPT đối với hai mặt hàng là gạo và đường trong

Trang 37

những trường đặc biệt như việc nhập khẩu hai mặt hàng này từ khu vực tăng cao, gây ra hoặc đe dọa gây ra thiệt hại nghiêm trọng đến nền sản xuất tương tự hoặc sản phẩm cạnh tranh trực tiếp tại Quốc gia thành viên nhập khẩu,…

Do Nghị định thư về đối xử đặc biệt với gạo và đường năm 2007 được ký kết trong khuôn khổ Hiệp định CEPT nên sau khi Hiệp định ATIGA có hiệu lực, các Quốc gia thành viên đã đàm phán và ký kết Nghị định thư sửa đổi Nghị định thư về đối xử đặc biệt đối với gạo và đường vào ngày 28/10/2010 nhằm thay đổi nguồn dẫn chiếu các quy định từ Hiệp định CEPT sang Hiệp định ATIGA

2.2 Quy định về quy tắc xuất xứ

2.2.1 Quy tắc xuất xứ

Nội dung chủ yếu của các cam kết về quy tắc xuất xứ là giải thích về tiêu chí để xác định hàng hóa có xuất xứ Hàng hoá có xuất xứ hoặc nguyên vật liệu có xuất xứ nghĩa là hàng hoá hoặc nguyên vật liệu đáp ứng tiêu chí xuất xứ theo các quy định của ATIGA Vì mục đích của các cam kết này, các thuật ngữ “hàng hoá” và “sản phẩm” có thể được sử dụng thay thế cho nhau Như đã trình bày ở nội dung trước, hàng hóa để được hưởng ưu đãi thuế quan phải là hàng hóa đáp ứng được những quy định về xuất xứ

Có hai trường hợp để hàng hóa được xem là hàng hóa có xuất xứ, cụ thể như sau:

2.2.1.1 Hàng hoá có xuất xứ thuần túy hoặc được sản xuất toàn bộ

ATIGA đã liệt kê những tiêu chí để xác định hàng hóa có xuất xứ thuần túy hoặc được sản xuất toàn bộ tại Quốc gia thành viên xuất khẩu Nhìn chung, có thể hiểu các tiêu chí đó như sau:61

- Cây trồng và các sản phẩm từ cây trồng được trồng, thu hoạch, hái, thu lượm tại Quốc gia thành viên xuất khẩu

- Động vật sống được sinh trưởng và được nuôi dưỡng tại Quốc gia thành viên xuất khẩu

- Hàng hoá có nguồn gốc từ động vật sống của Quốc gia thành viên xuất khẩu

- Hàng hóa thu được từ hoạt động săn bắn, bẫy, đánh bắt, nuôi trồng thuỷ sản, thu gom và săn bắt được tiến hành tại Quốc gia thành viên xuất khẩu

- Khoáng sản và các chất sản sinh tự nhiên khác được chiết xuất hoặc lấy ra từ đất, nước, đáy biển hoặc dưới đáy biển của Quốc gia thành viên xuất khẩu

61

Hiệp định thương mại hàng hóa trong ASEAN, Điều 27

Trang 38

- Sản phẩm đánh bắt đánh bằng tàu được đăng ký với một Quốc gia thành viên và

có treo cờ của Quốc gia thành viên đó và các sản phẩm khác trong vùng biển thuộc quyền chủ quyền của Quốc gia thành viên

- Sản phẩm đánh bắt và các sản phẩm từ biển khác đánh bắt từ vùng biển cả bằng tàu được đăng ký với một Quốc gia thành viên và được phép treo cờ của Quốc gia thành viên đó

- Sản phẩm được chế biến, được sản xuất ngay trên tàu chế biến từ các sản phẩm đánh bắt từ vùng biển cả nêu trên, được đăng ký với một Quốc gia thành viên và được phép treo cờ của Quốc gia thành viên đó

- Các vật phẩm được thu nhặt tại Quốc gia thành viên xuất khẩu nhưng không còn thực hiện được những chức năng ban đầu, không thể sửa chữa hay khôi phục được và chỉ

có thể vứt bỏ hoặc dùng làm các nguyên vật liệu thô, hoặc tái chế

- Phế thải và phế liệu có nguồn gốc từ quá trình sản xuất tại Quốc gia thành viên xuất khẩu hoặc từ hàng hoá đã qua sử dụng được thu nhặt tại Quốc gia thành viên xuất khẩu với điều kiện những hàng hoá đó chỉ phù hợp làm nguyên vật liệu thô

- Hàng hoá thu được hoặc được sản xuất tại Quốc gia thành viên xuất khẩu từ các sản phẩm nói trên

2.2.1.2 Hàng hoá có xuất xứ không thuần tuý hoặc không được sản xuất toàn bộ

Quy tắc còn lại của quy tắc xuất xứ là hàng hoá có xuất xứ không thuần tuý hoặc không được sản xuất toàn bộ Quy tắc được chia thành 3 quy tắc là quy tắc chung, quy

- Tất cả các nguyên vật liệu không có xuất xứ sử dụng để sản xuất ra hàng hoá đó

đã trải qua quá trình chuyển đổi mã số hàng hoá (CTC) ở cấp 4 số của HS Nghĩa là thay đổi mã số hàng hóa ở cấp 4 số của tất cả các nguyên vật liệu không có xuất xứ sử dụng để sản xuất ra hàng hoá đó thành mã số khác

Một hàng hóa có nguyên liệu không có xuất xứ, không đạt tiêu chí xuất xứ khi áp

62

Hiệp định thương mại hàng hóa trong ASEAN, Điều 28, Điều 30

Trang 39

- Giá trị của nguyên vật liệu không có xuất xứ được sử dụng để sản xuất ra hàng hóa đó (phần mà không có mã số hàng hóa giống với mã số hàng hóa của sản phẩm) nhỏ hơn 10% giá trị FOB của hàng hóa

- Hàng hóa phải đáp ứng tất cả các quy định khác được nêu trong Hiệp định này

về quy tắc xuất xứ (chỉ trải qua các công đoạn gia công chế biến đơn giản hoặc được vận chuyển trực tiếp,…)

Tuy nhiên, giá trị của nguyên vật liệu không có xuất xứ đó vẫn được tính vào giá trị nguyên vật liệu không có xuất xứ khi áp dụng tiêu chí RVC

b Quy tắc xuất xứ đối với sản phẩm cụ thể

Quy tắc này yêu cầu nguyên liệu sử dụng để sản xuất ra hàng hóa đó phải trải qua quá trình thay đổi mã số hàng hoá hoặc trải qua công đoạn gia công, chế biến, hoặc phải đáp ứng tiêu chí RVC, hoặc kết hợp giữa các tiêu chí nêu trên Quy tắc xuất xứ cụ thể đối với hàng hóa được liệt kê ở Phụ lục 3 của ATIGA - Danh mục Tiêu chí xuất xứ sản phẩm

cụ thể Nếu hàng hóa nhập khẩu thuộc loại hàng hóa được liệt kê ở Phụ lục 3, chỉ cần thỏa mãn những quy tắc chi tiết được nêu tại đó sẽ được coi là hàng hóa có xuất xứ Chẳng hạn như quy tắc xuất xứ cụ thể của cừu (động vật sống) là quá trình sản xuất64diễn ra toàn bộ ở Quốc gia thành viên xuất khẩu Hay đối với tơ sợi không dùng đế bán lẻ: RVC không dưới 40% hoặc CTC 5004.00 hoặc phù hợp với Văn bản đính kèm 1 của ATIGA ở Phụ lục 3 - Tiêu chuẩn của sự thay đổi của nguyên liệu dệt và những sản phẩm

từ nguyên liệu dệt

Việc chọn tiêu chí để xác định hàng hóa có xuất xứ của Quốc gia thành viên, kể cả quy tắc xuất xứ đối với sản phẩm cụ thể (trong trường hợp được phép lựa chọn) do nhà xuất khẩu hàng hóa quyết định, với lưu ý là:

- Đối với quy tắc xuất xứ chung, CTC chỉ áp dụng khi nguyên vật liệu được sử dụng để sản xuất ra hàng hoá đó không có xuất xứ

- Đối với tắc xuất xứ đối với sản phẩm cụ thể, CTC hoặc một hoạt động chế biến, sản xuất cụ thể chỉ áp dụng khi nguyên vật liệu được sử dụng để sản xuất ra hàng hoá đó không có xuất xứ

Đối với sản phẩm công nghệ thông tin (ITA), nếu một hàng hóa được ghi nhận trong Phụ lục 4 của ATIGA (Danh mục các sản phẩm ITA theo Tuyên bố Bộ trưởng về

Trang 40

thương mại trong sản phẩm công nghệ thông tin được thông qua tại Hội nghị Bộ trưởng WTO ngày 13/12/1996) sẽ được xem là có xuất xứ tại Quốc gia thành viên nếu hàng hoá

đó được lắp ráp từ các nguyên vật liệu nêu tại cùng Phụ lục này

c Quy tắc cộng gộp

Hàng hóa có xuất xứ từ một Quốc gia thành viên A, được sử dụng làm nguyên liệu tại Quốc gia thành viên B để sản xuất ra một hàng hóa được hưởng ưu đãi thuế quan sẽ được coi là có xuất xứ của Quốc gia thành viên B, nơi sản xuất ra sản phẩm đó Nếu RVC của nguyên vật liệu của Quốc gia thành viên A (RVC - A) nhỏ hơn 40%, RVC này sẽ được cộng gộp theo đúng tỉ lệ thực tế vào hàm lượng nội địa, với điều kiện RVC - A lớn hơn hoặc bằng 20% Việc cộng gộp được hướng dẫn cụ thể ở Phụ lục 6 của ATIGA -

Các lưu ý cho các Quốc gia thành viên:

- Các Quốc gia thành viên phải quyết định và duy trì một phương pháp tính RVC

và được chuyển đổi phương pháp tính nhưng phải thông báo cho Hội đồng AFTA ít nhất

là 6 tháng trước khi áp dụng phương pháp mới

- Khi Quốc gia thành viên nhập khẩu xác minh cách tính RVC của Quốc gia thành viên xuất khẩu phải áp dụng phương pháp mà Quốc gia thành viên xuất khẩu đang áp dụng

- Để được coi là đáp ứng các yêu cầu về xuất xứ của ATIGA, nguyên vật liệu mua được trong nước phải do các doanh nghiệp được thành lập theo quy định của pháp luật nước đó sản xuất ra

2.2.2 Giấy chứng nhận xuất xứ (C/O)

Để được cho hưởng ưu đãi về thuế quan, hàng hoá phải có Giấy chứng nhận xuất

xứ (Mẫu D), như được thể hiện trong Phụ luc 7 của ATIGA Giấy chứng nhận xuất xứ sẽ

do cơ quan của Chính phủ có thẩm quyền được Quốc gia thành viên chỉ định cấp và các Quốc gia thành viên sẽ thông báo tới các Quốc gia thành viên khác thủ tục cấp Giấy chứng nhận xuất xứ (phù hợp với Phụ lục 8 của ATIGA về Thủ tục cấp Giấy chứng nhận xuất xứ)

Theo quyết định tại cuộc họp Tiểu ban Quy tắc xuất xứ trong Hiệp định ATIGA lần thứ 2, các Quốc gia thành viên sử dụng Mẫu D CEPT hiện hành để cấp cho hàng hóa

có xuất xứ theo Hiệp định ATIGA đến hết ngày 12/11/2010 và kể từ ngày 13/11/2010, các nước ASEAN phải áp dụng C/O Mẫu D ATIGA để cấp cho hàng hóa đáp ứng xuất

xứ theo Hiệp định ATIGA Đối với những lô hàng nhập khẩu sử dụng Mẫu D CEPT

65

Hiệp định thương mại hàng hóa trong ASEAN, Điều 30

Ngày đăng: 03/10/2015, 04:43

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
32. Thông tư số 21/2010/TT-BCT ngày 17/5/2010 của Bộ Công thương quy định việc thực hiện Quy tắc xuất xứ trong Hiệp định thương mại hàng hoá ASEAN và Thông tư số 24/2012/TT-BCT ngày 17/9/2012 của Bộ Công thương sửa đổi, bổ sung Thông tư số 21/2010/TT-BCT Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư số 21/2010/TT-BCT
Nhà XB: Bộ Công thương
Năm: 2010
39. Thông tư số 06/2014/TT-BCT ngày 11/2/2014 của Bộ Công thương quy định việc nhập khẩu theo hạn ngạch thuế quan năm 2014 với thuế suất thuế nhập khẩu 0% đối với hàng hoá có xuất xứ từ Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư số 06/2014/TT-BCT
Nhà XB: Bộ Công thương
Năm: 2014
47. Bernard Vallat (Bùi Thị Cúc dịch), Một thế giới, một sức khỏe, Tạp chí Khoa học kỹ thuật thú y, tập XVIII, số 6, năm 2011, tr.90-91 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một thế giới, một sức khỏe
Tác giả: Bernard Vallat, Bùi Thị Cúc
Nhà XB: Tạp chí Khoa học kỹ thuật thú y
Năm: 2011
48. Hà Văn Hội, Tham gia Cộng đồng Kinh tế ASEAN và những tác động đến thương mại quốc tế của Việt Nam, Tạp chí Khoa học, Đại học quốc gia Hà Nội, tập 29, số 4, năm 2013, tr.44-53 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tham gia Cộng đồng Kinh tế ASEAN và những tác động đến thương mại quốc tế của Việt Nam
Tác giả: Hà Văn Hội
Nhà XB: Tạp chí Khoa học, Đại học quốc gia Hà Nội
Năm: 2013
49. Nguyễn Duy Quý, Tiến tới một ASEAN hòa bình, ổn định và phát triển bền vững, NXB Khoa học xã hội, năm 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiến tới một ASEAN hòa bình, ổn định và phát triển bền vững
Tác giả: Nguyễn Duy Quý
Nhà XB: NXB Khoa học xã hội
Năm: 2001
51. Nguyễn Trần Quế, Uông Trần Quang, Kiều Văn Trung, Nguyễn Mạnh Hùng, 35 năm ASEAN hợp tác và phát triển, NXB Khoa học xã hội, năm 2003. Các tài liệu khác Sách, tạp chí
Tiêu đề: 35 năm ASEAN hợp tác và phát triển
Tác giả: Nguyễn Trần Quế, Uông Trần Quang, Kiều Văn Trung, Nguyễn Mạnh Hùng
Nhà XB: NXB Khoa học xã hội
Năm: 2003
56. Thông tin báo chí ngày 20/2/2011 của Bộ Tài chình về cắt giảm thuế nhập khẩu để thực hiện cam kết trong các hiệp định thương mại tự do (FTA) năm 2012. Trang thông tin điện tử Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tin báo chí ngày 20/2/2011 của Bộ Tài chình về cắt giảm thuế nhập khẩu để thực hiện cam kết trong các hiệp định thương mại tự do (FTA) năm 2012
Năm: 2011
57. ASEAN, ASEAN Free Trade Area (AFTA Council), ASEAN Secretariat, http://www.asean.org/communities/asean-economic-community/category/asean-free-trade-area-afta-council, [truy cập ngày 17/6/2014] Sách, tạp chí
Tiêu đề: ASEAN Free Trade Area (AFTA Council)
Tác giả: ASEAN, ASEAN Secretariat
Nhà XB: ASEAN
58. Ban thư ký ASEAN quốc gia Việt Nam, Cộng đồng Chính trị - An ninh, http://asean.mofa.gov.vn/vi/nr130930205728/nr130930210036/ns131113230421[truy cập ngày 15/5/2014] Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cộng đồng Chính trị - An ninh
59. Ban thư ký ASEAN quốc gia Việt Nam, Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC), http://asean.mofa.gov.vn/vi/nr130930205728/nr131107210048/nr140228042410/ns131113232048, [truy cập ngày 15/5/2014] Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC)
Tác giả: Ban thư ký ASEAN quốc gia Việt Nam
60. Ban thư ký ASEAN quốc gia Việt Nam, Tổng quan Cộng đồng Văn hóa-Xã hội ASEAN (ASCC),http://asean.mofa.gov.vn/vi/nr130930205728/nr131107210048/nr140228042410/ns131113232048, [truy cập ngày 15/5/2014] Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổng quan Cộng đồng Văn hóa-Xã hội ASEAN (ASCC)
Tác giả: Ban thư ký ASEAN quốc gia Việt Nam
61. Báo điện tử Chính phủ, Cạnh tranh toàn cầu: Việt Nam đã tiến bộ nhưng chưa đủ, Nguyễn Quang Thái, http://baodientu.chinhphu.vn/Tin-noi-bat/Canh-tranh-toan-cau-Viet-Nam-da-tien-bo-nhung-chua-du/207667.vgp, [truy cập ngày 15/9/2014] Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cạnh tranh toàn cầu: Việt Nam đã tiến bộ nhưng chưa đủ
62. Báo điện tử Chính phủ, Đặt tên cho nông sản Việt, Đỗ Hương, http://baodientu.chinhphu.vn/Kinh-te/Dat-ten-cho-nong-san-Viet/209031.vgp,[truy cập ngày 22/9/2014] Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặt tên cho nông sản Việt
Tác giả: Đỗ Hương
Nhà XB: Báo điện tử Chính phủ
63. Báo điện tử Chính phủ, Hiện đại hóa hải quan, tạo thuận lợi cho DN xuất nhập khẩu, Nguyễn Hoàng, http://baodientu.chinhphu.vn/Tin-noi-bat/Hien-dai-hoa-hai-quan-tao-thuan-loi-cho-DN-xuat-nhap-khau/203277.vgp, [truy cập ngày 10/08/2014] Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiện đại hóa hải quan, tạo thuận lợi cho DN xuất nhập khẩu
Tác giả: Nguyễn Hoàng
Nhà XB: Báo điện tử Chính phủ
Năm: 2014
64. Báo điện tử Chính phủ, Phát triên xuất khẩu cần tái cấu trúc thị trường, Thanh Thủy,http://baodientu.chinhphu.vn/Kinh-te/Phat-trien-xuat-khau-can-tai-cau-truc-thi-truong/208437.vgp, [truy cập ngày 15/9/2014] Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triên xuất khẩu cần tái cấu trúc thị trường
Tác giả: Báo điện tử Chính phủ
65. Báo Hải quan điện tử, AEC và thách thức mở cửa thị trường, Phan Thu, http://www.baohaiquan.vn/pages/aec-va-thach-thuc-mo-cua-thi-truong.aspx Sách, tạp chí
Tiêu đề: AEC và thách thức mở cửa thị trường
Tác giả: Phan Thu
67. Báo Hải quan điện tử, Nhiều nước ASEAN vận hành hiệu quả Cơ chế một cửa quốc gia, T.Bình, http://www.baohaiquan.vn/pages/co-che-mot-cua-o-cac-nuoc-asean-duoc-thuc-hien-the-nao.aspx, [truy cập ngày 17/11/2014] Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ chế một cửa quốc gia
Tác giả: T.Bình
Nhà XB: Báo Hải quan điện tử
68. Báo Hải quan điện tử, Phó Thủ tướng Vũ Văn Ninh khai trương Cơ chế một cửa quốc gia, T.Bình, http://www.baohaiquan.vn/pages/pho-thu-tuong-vu-van-ninh-khai-truong-co-che-mot-cua-quoc-gia.aspx, [truy cập ngày 15/11/2014] Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phó Thủ tướng Vũ Văn Ninh khai trương Cơ chế một cửa quốc gia
69. Báo Hải quan điện tử, Thủ tục hải quan điện tử về đích sớm, Thái Bình, http://www.baohaiquan.vn/pages/thu-tuc-hai-quan-dien-tu-ve-dich-som.aspx,[truy cập ngày 15/9/2014] Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thủ tục hải quan điện tử về đích sớm
71. Bộ Tài chính Việt Nam, Cán cân thương mại năm 2013 về cơ bản là cân bằng, T.Hằng,http://www.mof.gov.vn/portal/page/portal/mof_vn/1370586?pers_id=2177079&item_id=115670271&p_details=1, [truy cập ngày 15/7/2014] Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cán cân thương mại năm 2013 về cơ bản là cân bằng
Tác giả: Bộ Tài chính Việt Nam, T.Hằng

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1. Mô hình cắt giảm, xóa bỏ thuế quan của các Quốc gia thành viên - nghiên cứu hiệp định thương mại hàng hóa trong asean và cam kết của việt nam
Bảng 1. Mô hình cắt giảm, xóa bỏ thuế quan của các Quốc gia thành viên (Trang 34)
Bảng 3. Thuế suất trong và ngoài  hạn ngạch của Việt Nam hiện nay áp dung đối với - nghiên cứu hiệp định thương mại hàng hóa trong asean và cam kết của việt nam
Bảng 3. Thuế suất trong và ngoài hạn ngạch của Việt Nam hiện nay áp dung đối với (Trang 66)
Bảng 2. Hạn ngạch thuế quan của Việt Nam năm 2014 - nghiên cứu hiệp định thương mại hàng hóa trong asean và cam kết của việt nam
Bảng 2. Hạn ngạch thuế quan của Việt Nam năm 2014 (Trang 66)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w