Qua đó, ta có cái nhìn, cách nhận thức phù hợp với thời đại; để có thể dễ dàng truyền đạt cho học sinh nhận thức được tình hình đất nước, khu vực đang diễn ra, để sau này các em sẽ có nh
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
Giáo viên hướng dẫn Sinh viên thực hiện
Th.S Nguyễn Hữu Thành Phạm Thị Bình
MSSV: 6060910 Lớp: SP Lịch Sử K32
Cần Thơ – Năm 2010
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình thực hiện luận văn này, tôi đã nhận được sự giúp đỡ của quý thầy cô bộ môn, cán bộ thư viện và sự đóng góp ý kiến nhiệt tình của các bạn cùng lớp, sự động viên, an ủi của cha mẹ Đặc biệt là sự giúp đỡ, động viên của thầy Nguyễn Hữu Thành – GVHD Tôi xin chân thành cảm ơn về những sự giúp đỡ đó
Ngoài ra, tôi cũng chân thành cảm ơn Trường Đại học Cần Thơ, Khoa Sư phạm, Bộ môn Lịch sử đã tạo mọi điều kiện để tôi có thể hoàn thành luận văn tốt nghiệp này
Trang 3NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN
Trang 4
NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN PHẢN BIỆN
Trang 5
MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 6
1 Lí do chọn đề tài 6
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 6
3 Mục đích nghiên cứu 7
4 Đối tượng nghiên cứu 7
5 Bố cục của đề tài 7
6 Phương pháp nghiên cứu 7
PHẦN NỘI DUNG 9
Chương 1 KHÁI QUÁT SỰ RA ĐỜI VÀ PHÁT TRIỂN CỦA ASEAN 9
1.1 Sự ra đời của Asean 9
1.2 Quá trình phát triển của Asean 11
Chương 2 TIẾN TRÌNH VIỆT NAM GIA NHẬP ASEAN 18
2.1 Tiến trình Việt Nam gia nhập Asean 18
2.2 Ý nghĩa việc Việt Nam gia nhập Asean 23
2.2.1 Việt Nam gia nhập Asean – ước mơ về một khu vực Đông Nam Á đoàn kết, thống nhất, hợp tác để phát triển đã trở thành hiện thực 23
2.2.2 Việc Việt Nam hội nhập Asean đã mở ra nhiều cơ hội thuận lợi cho sự phát triển của Hiệp hội 25
2.2.3 Vai trò tích cực của Asean trong các vấn đề khu vực và quốc tế từ khi có Việt Nam là thành viên 26
2.2.4 Vai trò của Việt Nam trong việc rút ngắn khoảng cách phát triển giữa các nước trong tổ chức Asean 28
Chương 3 ĐÓNG GÓP CỦA VIỆT NAM TRONG ASEAN 31
3.1 Về chính trị – an ninh – ngoại giao 31
3.1.1 Về chính trị – ngoại giao 31
3.1.2 Về an ninh – tư pháp 42
3.2 Về kinh tế 45
3.3 Về văn hóa – xã hội 50
3.4 Về các lĩnh vực khác 53
KẾT LUẬN 58
Tài liệu tham khảo 63
Trang 6PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Trong thời đại ngày nay, ở nhiều khu vực trên thế giới đang diễn ra hình thức liên kết giữa các nước trong cùng khu vực để giữ vững hòa bình, ổn định, giúp đỡ nhau cùng phát triển và nâng cao vị thế của khu vực trên trường quốc tế Mô hình thành công nhất đó là Liên minh châu Âu (EU) Ở Đông Nam Á cũng đã hình thành tổ chức liên kết giữa các quốc gia trong khu vực, đó là Hiệp hội các quốc gia Đông Nam
Á (Asean) Việt Nam đã tham gia vào tổ chức duy nhất của khu vực Đông Nam Á – Asean được hơn 10 năm Chúng ta đã tham gia vào các hoạt động của Asean và có những đóng góp thiết thực trong sự phát triển của Hiệp hội Những đóng góp đó đã được các nước thành viên Asean ghi nhận và đánh giá cao Năm 2010, Việt Nam đảm nhận cương vị Chủ tịch Asean và cũng là năm kỉ niệm 15 năm gia nhập Asean của Việt Nam Đây là dịp để Việt Nam phát huy những thế mạnh đã có đóng góp tích cực, hiệu quả hơn cho mục tiêu phát triển cộng đồng Asean ngày càng vững mạnh Nó giúp tăng cường hợp tác giữa Việt Nam với các nước Asean, với các nước đối tác bên ngoài của Asean Nó sẽ giúp cho chúng ta nâng cao vị thế và uy tín của mình trong khu vực
và trên trường quốc tế
Là sinh viên năm cuối, với chuyên ngành lịch sử luôn thôi thúc tôi không ngừng tìm hiểu để thấy được những giá trị, những đóng góp của Việt Nam trong tổ chức Asean Tôi tìm hiểu để thấy được sự lớn mạnh của đất nước mình, để tự hào về những
gì mà đất nước đã làm được trong thời gian hội nhập với khu vực và sẽ có cách nhìn nhận, cách sống phù hợp với xu thế phát triển của đất nước, của khu vực Đó là lí do
tôi chọn đề tài “Những đóng góp của Việt Nam trong Asean”
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Có rất nhiều sách, báo bàn về hợp tác, liên kết, vai trò của Việt Nam trong
Asean: Vai trò của Việt Nam trong Asean của Phùng Đăng Bách, Liên kết Asean trong
thập niên đầu thế kỉ XXI của Phạm Đức Thành hay trên báo chí: Việt Nam đóng góp tích cực trong Asean (Báo Hà Nội mới), Việt Nam đóng vai trò quan trọng trong Asean (www.vovnews.vn) và vấn đề này cũng được thảo luận trong các hội thảo như:
“Việt Nam trong ASEAN: hiện tại và tương lai” do Ban thư ký ASEAN quốc gia (Bộ
Trang 7Ngoại giao) và Ủy ban Văn hoá - thông tin ASEAN quốc gia (Bộ Văn hoá - thông tin) phối hợp tổ chức tại Hà Nội vào ngày 05/08/2005
Những cuốn sách, bài báo viết về đề tài này cũng chưa đi thật sâu vào đề tài một cách tổng thể, mỗi người có cách nhìn nhận vấn đề dưới các góc độ khác nhau Trong quá trình thực hiện nghiên cứu đề tài, tôi cố gắng tập trung vào những tài liệu chủ yếu để tổng hợp lại các tài liệu và lựa chọn những tài liệu phù hợp với nội dung đề tài để hoàn thành tốt công việc
3 Mục đích nghiên cứu
Mục đích của việc nghiên cứu là thấy được những đóng góp của Việt Nam sau hơn 10 năm tham gia vào Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á – Asean Qua đó, ta có cái nhìn, cách nhận thức phù hợp với thời đại; để có thể dễ dàng truyền đạt cho học sinh nhận thức được tình hình đất nước, khu vực đang diễn ra, để sau này các em sẽ có những đóng góp vào sự phát triển các mối quan hệ của Việt Nam với Asean, với thế giới, nâng cao vị thế của chúng ta trên trường quốc tế Ngoài ra, chính việc tìm hiểu, nghiên cứu này giúp cho tôi làm giàu thêm vốn kiến thức của mình
4 Đối tượng nghiên cứu
“Những đóng góp của Việt Nam trong Asean” được nhiều học giả quan tâm Ở
đây, tôi tìm hiểu về quá trình Việt Nam hội nhập vào Asean và những đóng góp cụ thể của Việt Nam trong các lĩnh vực như: chính trị – an ninh, kinh tế, văn hóa Làm rõ những đóng góp của Việt Nam từ khi bắt đầu gia nhập Asean cho đến bây giờ, những đóng góp đó đã được các nước thành viên đánh giá như thế nào, Việt Nam có vai trò ngày càng quan trọng trong Hiệp hội Asean
Chương 3 – ĐÓNG GÓP CỦA VIỆT NAM TRONG ASEAN
6 Phương pháp nghiên cứu
Bài nghiên cứu này được tiến hành theo các bước sau: tìm hiểu tài liệu, đọc tài liệu, chọn lọc tài liệu, phân tích tổng hợp kết hợp với phương pháp logic và phương pháp lịch sử Tuy nhiên đây là lần đầu tiên tôi tiến hành nghiên cứu một đề tài lớn nên
Trang 8không tránh khỏi nhiều thiếu sót trong quá trình nghiên cứu, rất mong sự đóng góp của thầy cô và các bạn sinh viên để đề tài hoàn thiện hơn
Trang 9PHẦN NỘI DUNG
CỦA ASEAN
1.1 Sự ra đời của Asean
Sau khi giành được độc lập dân tộc, các quốc gia trẻ tuổi ở Đông Nam Á đã phải đối diện với những thách thức vô cùng to lớn: đó là làm thế nào để duy trì được độc lập dân tộc, chủ quyền quốc gia, đồng thời nhanh chóng đưa đất nước thoát khỏi nghèo nàn lạc hậu và đuổi kịp trình độ của các nước tiên tiến trên thế giới Điều này, quả thật là một thách đố không dễ vượt qua Bởi vì, các quốc gia Đông Nam Á đều là những nước có tầm cỡ lãnh thổ vừa và nhỏ Sau hơn một thế kỉ sống dưới ách thống trị của chủ nghĩa thực dân phương Tây, các nước này vẫn chỉ là những nước lạc hậu về kinh tế và ít được biết tới trên thế giới
Để tồn tại và phát triển trong khu vực có vị trí chiến lược quan trọng và giàu tài nguyên như Đông Nam Á, các quốc gia, các dân tộc trong vùng phải đoàn kết giúp đỡ lẫn nhau trong một tổ chức hợp tác khu vực nào đó Trước những vấn đề đặt ra, những thể nghiệm đầu tiên về hợp tác khu vực đã ra đời Năm 1944, Chủ tịch Hồ Chí Minh
đã thành lập Liên minh Đông Nam Á Mục đích của Liên minh là đoàn kết các dân tộc Đông Nam Á trong cuộc đấu tranh chống kẻ thù chung là chủ nghĩa thực dân phương Tây Đến tháng 3 – 1961, tại Băng Cốc, các nhà lãnh đạo 3 nước Thái Lan, Mã Lai, Philippine ra tuyên bố: “Thành lập Hiệp hội hợp tác kinh tế và văn hóa giữa các nước Đông Nam Á, được gọi là ASA – Hiệp hội Đông Nam Á” Nhưng ASA chỉ tồn tại được 3 năm Trong thời gian tồn tại của ASA, một tổ chức hợp tác khu vực mới được gọi là MAPHILINDO cũng được tuyên bố thành lập vào tháng 8 – 1963 Ý tưởng thành lập một tổ chức hợp tác nhằm mục đích tham khảo lẫn nhau về những vấn đề quan trọng giữa các nước có chung nguồn gốc chủng tộc Mã Lai đã được Tổng thống Indonesia và Thủ tướng Mã Lai đưa ra khi hai ông gặp nhau tại Tokyo (31 – 5 – 1963)
và đến tháng 8 – 1963 tổ chức này đã được thành lập Nhưng chỉ một tháng sau khi được tuyên bố thành lập, MAPHILINDO đã chứng tỏ sự bất lực trong việc dàn xếp mâu thuẫn giữa Indonesia và Philippine, giữa Indonesia và Malaysia (Liên bang Malaysia được thành lập tháng 9 – 1963)
Trang 10Nguyên nhân chủ yếu dẫn tới sự sụp đổ nhanh chóng của ASA và MAPHILINDO là do các mâu thuẫn về lợi ích dân tộc giữa các nước thành viên, nhất
là mâu thuẫn về chủ quyền lãnh thổ
Cố gắng thứ ba nhằm thiết lập một tổ chức hợp tác khu vực mới trên cơ sở rộng rãi hơn đã được xúc tiến vào năm 1967 Động cơ thúc đẩy các nhà lãnh đạo các nước Đông Nam Á đẩy mạnh các hoạt động nhằm tiến tới thành lập tổ chức đó là những diễn biến đang diễn ra trong khu vực Vào thời gian này, cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam do Mĩ phát động đã chuyển sang một giai đoạn mới Bắt đầu từ năm 1965, các lực lượng quân sự Mĩ đã được ồ ạt đưa vào miền Nam Việt Nam Nhưng lúc này
Mĩ chẳng những không thể hy vọng giành được thắng lợi cuối cùng mà còn bị sa lầy ngày càng sâu hơn trên chiến trường này Lợi dụng cơ hội này, các đối thủ chính của
Mĩ trên thế giới, trước hết là Liên Xô đã vượt lên để thiết lập được một thế cân bằng chiến lược với Mĩ trên phạm vi toàn cầu Ảnh hưởng của Cộng hòa nhân dân Trung Hoa ở Đông Nam Á ngày càng lan rộng Tham vọng ngăn chặn ảnh hưởng của CNXH
ở Đông Nam Á cũng không thực hiện được Ngược lại, phong trào đấu tranh nhằm đưa đất nước thoát khỏi quỹ đạo của Mĩ đang ngày càng dâng cao ở Thái Lan, Philippin
Cùng thời gian trên, tình hình trên bán đảo Malacca đang phát triển theo hướng bất lợi cho các lực lượng thân phương Tây trong khu vực Tháng 7 – 1966, Chính phủ Anh cho biết sẽ hủy bỏ tất cả các cam kết quân sự của nước này Những diễn biến mới trong môi trường chiến lược ở Đông Nam Á vào giữa những năm 60 của thế kỉ XX khiến các nhà lãnh đạo một số nước trong vùng lo ngại Việc Anh tuyên bố rút khỏi bán đảo Malacca và khả năng Mỹ rút khỏi bán đảo Đông Dương vào lúc lực lượng cách mạng Đông Nam Á đang ngày càng lớn mạnh, và ảnh hưởng của CNXH đang tăng lên trong khu vực khiến những người đứng đầu chính phủ các nước trên phải tính tới việc tìm kiếm một sự lựa chọn khác để duy trì an ninh quốc gia của mình và tránh cho Đông Nam Á rơi vào vòng ảnh hưởng của những cường quốc bên ngoài khác
Ý tưởng thành lập một tổ chức hợp tác khu vực mới nảy sinh trong đầu Ngoại trưởng Indonesia Adam Malik, khi ông xúc tiến các hoạt động nhằm tái lập quan hệ tốt với Malaysia và Philippine Ông cho rằng có những cơ sở rộng rãi cho việc thiết lập các quan hệ hợp tác khu vực: thứ nhất, về phương diện địa lí, các nước trong khu vực này đều nằm trong một tổng thể địa lí (từ sau Chiến tranh thế giới thứ II, tổng thể địa lí
Trang 11đó được gọi là Đông Nam Á); thứ hai, tất cả các nước Đông Nam Á đều có nhu cầu hợp tác với nhau để phát triển Những đặc điểm trên đã tạo ra tiền đề khách quan thuận lợi cho việc xây dựng một tổ chức hợp tác khu vực tương lai
Nhằm triển khai ý tưởng thành lập một tổ chức hợp tác khu vực mới, Indonesia
đã tiếp xúc với một số nước trong khu vực, trừ những nước đang có chiến tranh Sáng kiến trên đã nhận được sự ủng hộ của các nước Thái Lan, Philippine, Singapore và Malaysia Qua quá trình chuẩn bị gặp không ít khó khăn, ngày 28 – 8 – 1967 Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á được tuyên bố thành lập Trong Tuyên bố Băng Cốc (1967), những người sáng lập tổ chức hợp tác khu vực này đã chỉ rõ tôn chỉ, mục đích của Asean: tổ chức được lập ra nhằm thúc đẩy sự hợp tác trong các lĩnh vực kinh tế, xã hội và văn hóa giữa các nước thành viên; mục đích của hợp tác khu vực là tăng cường sức mạnh của mỗi nước cũng như của toàn Hiệp hội nhằm đối phó một cách hiệu quả trước các mối đe dọa từ bên ngoài
Sự ra đời của Asean đánh dấu sự trưởng thành về mặt chính trị của các quốc gia độc lập trẻ tuổi ở Đông Nam Á Bằng việc tuyên bố: “Các nước Đông Nam Á có trách nhiệm trong việc tăng cường ổn định kinh tế và xã hội của khu vực và bảo đảm sự phát triển đất nước một cách hòa bình và tiến bộ”, các nước thành viên Asean đã cho thấy quyết tâm của họ trong việc tự gánh vác lấy trách nhiệm đối với tương lai phát triển của mỗi nước cũng như toàn khu vực Đối với các nước Đông Nam Á, sự ra đời của Asean là thắng lợi của tinh thần hòa giải, hòa hợp giữa các nước trong khu vực Nói về
ý nghĩa của sự ra đời của Asean, Ngoại trưởng Thái Lan, Thatnat Khôman nhấn mạnh:
“Lần đầu tiên, các nước Đông Nam Á đã đi tới một điểm cơ bản của việc loại trừ một thói quen xấu là đi riêng rẽ với nhau, theo những hướng khác nhau, đôi khi đối lập nhau, khiến họ quay lưng lại với nhau” Còn Ngoại trưởng Adam Malik, người đã hoạt động không biết mệt mỏi cho sự ra đời của Asean, lại đánh giá: “Đã có một sự đoàn kết khu vực, bất kể những khác biệt nảy sinh từ lợi ích dân tộc” Việc thành lập Asean
đã đặt nền móng cho sự phát triển hợp tác khu vực ở Đông Nam Á trong những năm sau đó “Singapore tin rằng Asean đã là một khái niệm địa lí, nhưng nó cũng có thể trở thành một khái niệm hoạt động, nếu các nước thành viên có thể tìm kiếm những dự án trên đó xây dựng những nền tảng của chủ nghĩa khu vực”
Trang 121.2 Quá trình phát triển của Asean
Trong thập niên đầu tiên sau khi được thành lập, các nước thành viên trong Asean đã dàn xếp những bất đồng trong Hiệp hội để đưa Asean vượt qua thử thách để tồn tại và phát triển Một năm sau khi thành lập, Asean chưa có hành động gì đáng kể
do mâu thuẫn giữa Malaysia và Philippine xung quanh vấn đề tranh chấp Xaba Quan
hệ giữa hai nước ngày càng xấu đi Cuối năm 1968 quan hệ giữa hai nước thành viên này bị đình chỉ Asean đứng trước nguy cơ tan vỡ như các tổ chức tiền thân của nó Để cứu vãn tình hình, các thành viên của Asean là Thái Lan và Indonesia đã cố gắng tìm kiếm những biện pháp ngoại giao để làm cho các bên có thể đi tới một giải pháp thỏa hiệp Những cố gắng của họ đã đưa lại kết quả mong muốn Malaysia và Philippine đồng ý gác lại vấn đề Xaba, có thể bước vào hợp tác với nhau và duy trì sự tồn tại của Hiệp hội Và Asean đã cố gắng hòa giải quan hệ giữa Indonesia và Singapore Quan hệ giữa hai nước này trở nên căng thẳng khi Tòa án Tối cao Singapore quyết định hành hình những sĩ quan thủy quân của Indonesia vì bị kết tội phá hoại và ám sát Vì lợi ích chung của Hiệp hội, Chính phủ Indonesia đã cố gắng kiềm chế Quan hệ buôn bán giữa hai nước chỉ bị đình chỉ một thời gian, sau đó đã được bình thường hóa trở lại
Sự thành công của Asean trong việc hòa giải những xung đột giữa các nước vốn
có những lợi ích quốc gia đối lập nhau đã cho thấy giá trị của nó trong việc dàn xếp các bất đồng nội bộ Hiệp hội Chính giá trị này của Asean đã giúp nó vượt qua được những thử thách trong những năm đầu mới thành lập để tồn tại và phát triển trong những thập niên sau
Cùng với những cố gắng nhằm tăng cường hiểu biết lẫn nhau giữa các nước thành viên, Asean đã sớm quan tâm tới việc tìm kiếm phương cách duy trì hòa bình và
ồn định ở Đông Nam Á, thực hiện “quyết tâm bảo đảm sự ổn định và an ninh của mình không có sự can thiệp từ bên ngoài dưới bất cứ hình thức nào hoặc biểu hiện nào” như được vạch ra trong Tuyên bố Băng Cốc 1967 Tháng 11 – 1971, Hội nghị Bộ trưởng các nước Asean họp tại Kuala Lumpur đã đưa ra sáng kiến thiết lập một khu vực hào bình, tự do, trung lập ở Đông Nam Á (ZOPFAN)
Bước vào thập niên phát triển thứ hai, Asean đã gặp phải những thách thức mới Cuộc chiến tranh Đông Dương do Mĩ và đồng minh phát động cuối cùng đã thất bại
Mĩ đã phải rút quân về nước Sự xuất hiện của nước Việt Nam độc lập thống nhất phát triển theo con đường XHCN và nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào do Đảng Cộng
Trang 13sản lãnh đạo đã tăng cường ảnh hưởng của CNXH ở Đông Nam Á và thu hẹp ảnh hưởng của CNTB ở vùng này Cục diện đã thay đổi đặt Asean trước những thách thức mới Để tìm kiếm các biện pháp để thích ứng với tình hình khu vực, trong 2 ngày 23
và 24 – 2 – 1976, Hội nghị Cấp cao lần thứ I đã được triệu tập tại Denpasa, thủ phủ đảo Bali, Indonesia, để bàn về chính sách của Asean ở giai đoạn sau chiến tranh Việt Nam Đây là lần đầu tiên trong lịch sử của Hiệp hội, một cuộc họp của những người đứng đầu Nhà nước và Chính phủ các nước thành viên Asean được tiến hành Tại hội nghị này, các nhà lãnh đạo cấp cao của Asean đã thảo luận về các chính sách của Asean đối với Đông Dương do các Đảng Cộng sản lãnh đạo Họ thấy rằng cần hợp tác, chung sống hòa bình với các nước Đông Dương Tại hội nghị, vấn đề hợp tác trong nội
bộ Asean ở thời kì mới đã được các nhà lãnh đạo cao nhất của các nước thành viên Asean tập trung thảo luận Theo quan điểm của Asean, muốn phát triển được Đông Nam Á đang trong tình trạng phân cực, Asean phải tăng cường sự hợp tác giữa các nước thành viên với nhau Nhằm đặt cơ sở cho sự hợp tác đó, những người đứng đầu Asean đã kí kết 2 văn kiện quan trọng: Hiệp ước Thân thiện và Hợp tác ở Đông Nam
Á (Hiệp ước Bali) và Tuyên bố Hòa hợp Asean
Mục đích của việc kí Hiệp ước Bali là thiết lập một nền hòa bình vĩnh viễn, tình thân thiện và sự hợp tác lâu bền giữa các nước tham gia hiệp ước, góp phần tăng cường sức mạnh, tinh thần đoàn kết và quan hệ gắn bó giữa các nước Đông Nam Á
Trong Tuyên bố Hòa hợp Asean, các nước Asean cam kết: “Củng cố những thành tựu của Asean và khuếch trương sự hợp tác trong các lĩnh vực kinh tế, xã hội và văn hóa” Hợp tác sẽ được xúc tiến trên tất cả các lĩnh vực chính trị, kinh tế, xã hội và thông tin, văn hóa
Ngoài 2 văn kiện trên, Hội nghị Cấp cao Bali cũng quyết định bổ sung cơ cấu tổ chức của Asean, làm cho nó trở thành công cụ có hiệu quả hơn trong việc giúp các quốc gia thành viên tăng cường hợp tác với nhau ở thời kì mới
Hội nghị Cấp cao Asean lần thứ I cho thấy sự trưởng thành về nhiều mặt của Asean Về phương diện chính trị, Asean ngày càng ý thức được vai trò chủ yếu của mình trong việc duy trì hòa bình, ổn định ở Đông Nam Á Về phương diện kinh tế, hợp tác kinh tế trong nội bộ Asean đã được thể chế hóa bước đầu với việc tiến hành các Hội nghị Bộ trưởng Kinh tế thường niên và bất thường Về phương diện tổ chức, với
Trang 14việc thành lập Ban Thư kí Asean, cơ cấu của Hiệp hội dần được hoàn thiện thêm một bước
Vào cuối những năm 80 của thế kỉ XX, môi trường kinh tế và thương mại quốc
tế đã thay đổi theo hướng bất lợi cho Asean Chủ nghĩa bảo hộ mậu dịch đã trở thành khuynh hướng phổ biến trong quan hệ thương mại quốc tế Theo Ngân hàng Thế giới,
có khoảng 29% tổng nông sản xuất khẩu của các nước đang phát triển sang các nước công nghiệp phát triển chịu ảnh hưởng của các hàng rào phi thuế quan trên Một khó khăn khác đang đặt ra đối với sự phát triển kinh tế của Asean là sự xuất hiện của Trung Quốc và các nước Đông Âu với tư cách là các đối thủ cạnh tranh mới
Để đối phó với những thách thức này, các nước Asean, một mặt đã cố gắng đấu tranh nhằm đảm bảo rằng các tổ chức kinh tế đang xuất hiện ở châu Âu và Bắc Mĩ không trở thành các khối trại khép kín; mặt khác, họ quyết định đưa hợp tác kinh tế đang trong nội bộ Asean lên một bình diện mới Quyết tâm đó được phản ánh trong Tuyên bố Manila do Hội nghị Cấp cao Asean lần III (12 – 1987) đưa ra “Các nước thành viên sẽ tăng cường hợp tác kinh tế trong nội bộ Asean để khai thác tới mức tối
đa tiềm năng của khu vực trong buôn bán và phát triển, tăng cường tính hiệu quả của Asean trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa bảo hộ mậu dịch và chống lại các hậu quả của nó” Rất nhiều kế hoạch đã được vạch ra để thúc đẩy hợp tác bên trong Asean trong các lĩnh vực kinh tế, tài chính, ngân hàng…
Hiệp ước Bali được sửa đổi nhằm thích ứng với môi trường khu vực và quốc tế đang thay đổi Một trong những sửa đổi có thể thấy ở điều 18 của bản hiệp ước trên Trước đây, nếu một nước muốn tham gia Hiệp ước Bali, nước đó phải là một nước Đông Nam Á, xét về mặt địa lí Với bản Hiệp ước Bali được sửa đổi, điều kiện duy nhất cho việc tham gia hiệp ước này là sự tán thành của tất cả các nước thành viên Asean
Asean đã hình thành Khu vực mậu dịch tự do (AFTA) bắt đầu từ ngày 1 – 1 –
1993 và hoàn thành vào năm 2008 sau 15 năm Triển khai xây dựng AFTA, các nhà lãnh đạo Asean hy vọng sẽ thúc đẩy được buôn bán trong nội bộ Asean và giúp khu vực lấy lại sức hấp dẫn của nó với tư cách là một thị trường đầu tư của các nhà đầu tư ngoại quốc Asean còn hình thành Diễn đàn Khu vực Asean (ARF), diễn đàn duy nhất
để các nước khu vực và các nước lớn cùng nhau đối thoại về các vấn đề chính trị - an
Trang 15ninh, bảo đảm hòa bình, ổn định ở châu Á – Thái Bình Dương, tạo điều kiện thuận lợi cho hợp tác và phát triển ở khu vực
Từ chỗ chỉ có 5 thành viên sáng lập trong một khu vực từng xảy ra những cuộc chiến tranh, xung đột, những sự nghi kị và cả nghèo đói lạc hậu, hiện nay Asean đã quy tụ được cả 10 nước Đông Nam Á Bruney được kết nạp vào Asean năm 1984 Sau nhiều năm đối đầu với các nước Đông Dương, các nước Asean đã nhận thức được rằng
đã tới lúc phải kết thúc vấn đề này để tập trung những cố gắng vào phát triển kinh tế
và tăng cường ảnh hưởng của Hiệp hội trong khu vực và trên thế giới Asean đã bày tỏ thiện chí, hoan nghênh sự tham gia của các nước Đông Dương vào tổ chức Asean Năm 1995, Việt Nam chính thức gia nhập Asean Sau đó không lâu, đến lượt Lào, Myanmar (1997) và Campuchia (1999) Mong muốn thực hiện tầm nhìn Asean – 10 đã thành hiện thực, đưa đến những thay đổi căn bản về chất của Hiệp hội, cũng như tình hình khu vực
Khi mà nền kinh tế thế giới đang chao đảo vì khủng hoảng tài chính toàn cầu, Asean lại nổi lên như một điểm tựa mới Với tổng dân số là 584 triệu, Asean đứng thứ
3 trên thế giới, chỉ sau Trung Quốc và Ấn Độ Tổng GDP của 10 thành viên Asean là 1.507 ngàn tỉ USD trong năm 2008 Trao đổi mậu dịch đạt mức 1,7 tỷ USD (26% trong khu vực) Nếu là một "quốc gia", Asean có thể trở thành nền kinh tế lớn thứ 10 trên thế giới Nếu chỉ dựa trên trao đổi mậu dịch với các đối tác bên ngoài, Asean là
"cường quốc" thứ 5 của thế giới, sau Mỹ, Đức, Trung Quốc và Nhật Bản Riêng với Indonesia và Việt Nam, đây thực sự là hai gương mặt nổi bật tại châu Á trong cơn bão vừa qua
Những năm qua đã chứng kiến sự thay đổi chính sách đối ngoại của một số cường quốc với Asean Tiêu biểu là Mỹ Ngay sau khi Tổng thống Barack Obama nhậm chức, chuyến công du nước ngoài đầu tiên của Ngoại trưởng Mỹ là đến thăm các nước Asean Ngoại trưởng Mỹ Hilary Clinton cũng thừa nhận, chuyến đi này “không ngẫu nhiên”, mà nó cho thấy “sự nghiêm túc của Mỹ trong việc tăng cường quan hệ ngoại giao trong khu vực” Tiếp sau đó, đại sứ của Mỹ đã được cử đến khu vực này
Sức hấp dẫn đặc biệt của Asean phát huy tác dụng trong Hội nghị thượng đỉnh Asean lần thứ 15 Asean đã cùng 6 nước đối tác (Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc,
Ấn Độ, Australia và New Zealand) đã đàm phán thành công Hiệp định Thương mại tự
Trang 16do, thiết lập quan hệ hợp tác kinh tế toàn diện, đồng thời cùng Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc xem xét thành lập khu vực mậu dịch tự do Đông Á
Thêm vào đó, từ ngày 1/1/2010, Hiệp định Tự do thương mại giữa Trung Quốc
và Asean bắt đầu có hiệu lực Ngoài ra, Trung Quốc cam kết đóng góp 10 tỉ đôla Mỹ làm quỹ hợp tác đầu tư Trung Quốc – Asean và cung cấp 15 tỉ đô la Mỹ cho các khoản tín dụng thương mại Tháng 3/2010, Asean và ba đối tác Trung – Hàn – Nhật đưa vào hoạt động quỹ tài chính khu vực (CMIM) với số vốn lên đến 120 tỉ USD, theo thoả thuận sáng kiến Chiang Mai năm 2000 Số vốn mà ba đối tác đóng góp chiếm khoảng 80% quỹ
Hàn Quốc hỗ trợ 100 triệu đô la Mỹ cho Asean đối phó với biến đổi khí hậu Nhật Bản tăng tài trợ 13 triệu đô la Mỹ cho Quỹ Hội nhập Nhật Bản – Asean, giúp các nước Đông Nam Á nâng cao năng lực đối phó với thiên tai và tình huống khẩn cấp Trung Quốc cam kết tài trợ 100 ngàn đô la Mỹ cho Quỹ Asean nhằm tăng cường giao lưu văn hóa
Hoạt động theo nguyên tắc đồng thuận và sự thống nhất trong đa dạng, Asean
đã trở thành một thị trường đầu tư, thương mại và du lịch hấp dẫn, một đối tác kinh tế quan trọng của nhiều nền kinh tế lớn trên thế giới Vị trí của khối ngày càng lớn mạnh trong các mối quan hệ với nhiều tổ chức lớn như APEC, ASEM và Liên hợp quốc Diễn đàn Asean là nơi duy nhất để các cường quốc gặp gỡ thường xuyên, thoải mái và thể hiện quyền lực mình Asean đóng vai trò cực kì quan trọng trong việc tạo ra một diễn đàn khu vực tốt và rộng rãi
Qua các Hội nghị Cấp cao Asean đã đưa ra hàng loạt các kế hoạch và chương trình hành động cụ thể nhằm tăng cường liên kết, thúc đẩy các lĩnh vực hợp tác giữa các thành viên Hiệp hội và với các nước bên ngoài khu vực Hiện nay Asean đang xúc tiến việc kí kết Hiến chương Asean, hướng tới xây dựng Cộng đồng Asean vào năm
2015 với 3 trụ cột là Cộng đồng an ninh, Cộng đồng kinh tế và Cộng đồng văn hóa –
xã hội
Thực tiễn hơn 4 thập kỷ qua đã cho thấy Aseanlà một tổ chức hợp tác khu vực
có sức sống mãnh liệt và khả năng thích ứng nhanh chóng với những biến đổi của thời cuộc Điều đó thể hiện rõ qua những kết quả hợp tác trong những năm qua và khả năng ứng phó hiệu quả hơn với các thách thức đặt ra, kể cả các tác động nặng nề của cuộc khủng hoảng tài chính – kinh tế toàn cầu hiện nay Nổi bật nhất là những nỗ lực để đưa
Trang 17Hiến chương Asean đi vào cuộc sống, tạo cơ sở pháp lý và khuôn khổ thể chế cho Asean gia tăng liên kết khu vực, trước mắt là hỗ trợ mục tiêu xây dựng Cộng đồng ASEAN vào năm 2015
Sự ra đời của Hiến chương và mục tiêu xây dựng Cộng đồng Asean thể hiện tầm nhìn và quyết tâm của các nước thành viên trong việc xây dựng một Asean gắn kết, vững mạnh, đóng góp tích cực cho hoà bình, ổn định và thịnh vượng ở khu vực và trên thế giới Để đưa tầm nhìn và quyết tâm đó thành hiện thực, Asean cần phải tiếp tục giữ vững và phát huy tinh thần đoàn kết và những giá trị truyền thống của Hiệp hội Đó chính là động lực và sức mạnh giúp 10 nước thành viên vượt qua những khác biệt về chính trị, kinh tế, văn hóa và những rào cản do lịch sử để lại để cùng nhau tạo dựng tương lai tốt đẹp hơn cho mỗi nước cũng như cả khu vực Chuyển sang giai đoạn mới, nhu cầu bức thiết đặt ra lúc này là các nước Asean phải cùng nhau nỗ lực đẩy nhanh việc thực hiện các chương trình, kế hoạch xây dựng Cộng đồng đã được thông qua, khẩn trương đổi mới tổ chức bộ máy và phương thức hoạt động để nâng cao hiệu
Nhìn lại quá trình phát triển của Asean trong hơn 40 năm qua, có thể rút ra được những nhận xét:
Từ một tổ chức hợp tác tiểu khu vực của các nước Đông Nam Á phát triển theo con đường TBCN, Asean đã trở thành tổ chức hợp tác tiểu khu vực của các quốc gia trong vùng, không phân biệt chế độ chính trị, hệ tư tưởng, trình độ phát triển cũng như các khác biệt khác về dân tộc, tôn giáo và văn hóa
Cùng với những biến đổi trong tình hình chính trị, kinh tế và quan hệ quốc tế ở Đông Nam Á, các lĩnh vực hợp tác của Asean đã được mở rộng dần: từ hợp tác kinh
tế, xã hội, văn hóa (Tuyên bố Băng Cốc 1967) mở rộng sang hợp tác chính trị (bắt đầu
từ 1976 với Hiệp ước Bali) và hợp tác an ninh (Tuyên bố Singapore 1992)
Trong quá trình phát triển, cơ cấu tổ chức của Asean cũng ngày càng trở nên chặt chẽ hơn, dù nó vẫn chỉ là Hiệp hội của các quốc gia Đông Nam Á Asean đã có những đóng góp to lớn đối với hòa bình, ổn đinh và phát triển của Đông Nam Á Asean ngày nay đã trở thành một tổ chức hợp tác khu vực toàn diện, một thực thể chính trị – kinh tế năng động, có vai trò và vị thế quan trọng ở khu vực Đông Nam Á
và châu Á – Thái Bình Dương
Trang 18Chương 2 – TIẾN TRÌNH VIỆT NAM GIA NHẬP ASEAN
2.1 Tiến trình Việt Nam gia nhập Asean
Trong giai đoạn đầu mới được thành lập (1967 – 1972), hoạt động phối hợp chung giữa các nước trong tổ chức Asean chưa có gì nổi bật Lúc này thế giới đang diễn ra chiến tranh lạnh và tình trạng đối đầu giữa hai hệ thống xã hội Các nước Asean cũng bị tình hình trên tác động mạnh và một số nước, ở những mức độ khác nhau cũng có dính líu vào cuộc chiến tranh Đông Dương Những biến đổi của tình hình thế giới và khu vực cuối những năm 1960, đầu những năm 1970 đã buộc các nước Asean phải điều chỉnh chính sách đối ngoại của mình Thắng lợi của nhân dân các nước Đông Dương trong cuộc kháng chiến chống Mĩ, Liên Xô bắt đầu triển khai chiến lược châu Á của mình để đối phó với khả năng liên kết Trung – Mĩ cũng như mở rộng ảnh hưởng ở Đông Nam Á, Trung Quốc thông qua lực lượng được hỗ trợ ở các nước Đông Nam Á để gây áp lực đối với chính quyền Asean Trong khi ảnh hưởng của Anh, Mĩ bị suy giảm trong khu vực Đây là những nhân tố tác động tới cục diện Đông Nam Á buộc các nước Asean phải tính toán lại chiến lược của mình Tháng 11 – 1970, tại Kuala Lampua (Malaysia), Bộ trưởng Ngoại giao các nước Asean đã kí kết và đưa
ra Tuyên bố về Khu vực hòa bình, tự do và trung lập ở Đông Nam Á (Tuyên bố ZOPFAN) Sau Tuyên bố này, một số nước bắt đầu thăm dò khả năng quan hệ với Việt Nam trên một số lĩnh vực Tuy nhiên, quan hệ giữa hai bên trong giai đoạn này vẫn chưa có tiến triển đáng kể
Giai đoạn 1973 – 1978, tình hình khu vực có những chuyển biến lớn, dẫn đến
sự đảo lộn mạnh mẽ trong cán cân lực lượng ở đây Xu thế hòa bình, trung lập ở khu vực phát triển mạnh mẽ Các nước Asean phải điều chỉnh mạnh mẽ chính sách đối ngoại của mình Trên bình diện quốc tế, các nước Asean đã đẩy mạnh quan hệ với các nước XHCN, nhất là Trung Quốc và Liên Xô, thực hiện chính sách cân bằng giữa các nước lớn Trên bình diện khu vực, các nước Asean cũng có nhiều cử chỉ thân thiện hơn, tạo cơ sở cho việc đặt quan hệ ngoại giao với Việt Nam Philippine và Thái Lan rút hết quân đội khỏi Việt Nam Tại Hội nghị Bộ trưởng Ngoại giao các nước Asean họp ngày 15 – 2 – 1973, các nước Asean kêu gọi chương trình viện trợ kinh tế cho các nước Đông Dương và thành lập Ủy ban phối hợp các nước Asean về việc tái thiết và khôi phục lại các nước Đông Dương
Trang 19Về phía Việt Nam, từ sau khi kí Hiệp định Pari năm 1973, Việt Nam bắt đầu tích cực triển khai chính sách khu vực, đẩy mạnh quan hệ song phương với các nước thuộc tổ chức Asean Tháng 3 – 1973, Việt Nam lập quan hệ ngoại giao với Malaysia
và tháng 8 – 1973 lập quan hệ ngoại giao với Singapore Trong năm 1974, 1975 Việt Nam đã đón một số đoàn từ các nước Asean Cũng trong thời gian này, Việt Nam đã xúc tiến đàm phán lập quan hệ ngoại giao với Philippine Chính sách ngoại giao của Việt Nam đối với khu vực Đông Nam Á lần đầu tiên thể hiện rõ ràng trong chính sách
4 điểm tháng 7 – 1976, trong đó nêu lên những nguyên tắc cơ bản cho việc phát triển quan hệ hữu nghị và hợp tác với các nước Đông Nam Á như: tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của nhau, cùng tồn tại trong hòa bình không để lãnh thổ của mình cho nước ngoài sử dụng, giải quyết tranh chấp thông qua thương lượng phát triển hợp tác khu vực Tháng 7 – 1976, Thứ trưởng Ngoại giao Việt Nam Phan Hiền đã lần lượt đi thăm Philippine, Singapore, Indonesia, Malaysia và các nước Asean đều tuyên
bố ủng hộ chính sách 4 điểm của Việt Nam Tháng 8 – 1976, Việt Nam và Thái Lan cũng thỏa thuận lập quan hệ ngoại giao giữa hai nước Như vậy, đến tháng 8 – 1976, Việt Nam đã thiết lập quan hệ ngoại giao đầy đủ với tất cả các nước thành viên Asean Trong các năm 1977 và 1978, quan hệ song phương của Việt Nam với từng nước Asean đã phát triển mạnh mẽ với các chuyến thăm hữu nghị của Thủ tướng Phạm Văn Đồng thăm 5 nước Asean (tháng 9 và tháng 10 – 1978) và của Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Duy Trinh thăm 5 nước Asean (tháng 12 – 1977 và 1 – 1979) Việt Nam đã từng bước đặt nền móng cho quan hệ Việt Nam với các nước Asean
Sau khi xuất hiện vấn đề Campuchia, quan hệ Việt Nam với các nước Asean chuyển sang đối đầu, quan hệ song phương của Việt Nam với từng nước Asean giảm xuống mức rất thấp Trong giai đoạn này, Việt Nam vừa đấu tranh với Asean về vấn
đề Campuchia và triển khai đấu tranh ngoại giao, gắn việc giải quyết vấn đề Campuchia với việc xây dựng khu vực hòa bình, ổn định ở Đông Nam Á Xuất phát từ chính sách trên, cùng với việc đưa ra các đề nghị giải quyết vấn đề Campuchia, Việt Nam đã đưa ra nhiều đề nghị về hòa bình và hợp tác ở Đông Nam Á Tại Diễn đàn Liên hợp quốc, từ 1980 đến năm 1985, hàng năm Việt Nam, Lào cùng với một số nước bạn bè đều nêu vấn đề “hòa bình, ổn định và cùng hợp tác ở Đông Nam Á” nhằm thúc đẩy xu hướng đối thoại giữa Đông Dương và Asean đổi lại vấn đề Campuchia đưa ra tại diễn đàn này Tuy nhiên, tất cả các đề nghị nêu trên đều không được Asean chấp
Trang 20nhận với lí do vấn đề Campuchia là nguyên nhân chủ yếu gây mất ổn định khu vực, phải giải quyết vấn đề Campuchia trước rồi mới giải quyết vấn đề hòa bình, hợp tác khu vực
Đầu năm 1984, tình hình bắt đầu có thay đổi Mặc dù chịu nhiều sức ép song chính quyền cách mạng Campuchia vẫn đứng vững và đến mùa khô 1984 – 1985 còn đạt được thắng lợi lớn về quân sự Trong khi đó Việt Nam vẫn đang thực hiện việc rút quân từng phần (bắt đầu từ 1982) Còn trên bình diện quốc tế, quan hệ Xô – Mĩ, Xô – Trung bắt đầu được cải thiện, gây nguy cơ các nước lớn sẽ vượt lên trước Asean để giải quyết vấn đề Campuchia Trong bối cảnh đó, có những chuyển biến quan trọng trong chính sách của Asean đối với Việt Nam Sự chuyển biến này được đánh dấu bằng việc tại Hội nghị AMM tháng 2 – 1985, các nước Asean đã nhất trí cử Indonesia làm đại diện đối thoại với các nước Đông Dương, khẳng định xu thế đối thoại giữa hai nhóm nước ở Đông Nam Á Trên cơ sở quyết định của Hội nghị AMM, tháng 7 – 1987
đã diễn ra cuộc gặp đối thoại giữa Việt Nam và Indonesia tại thành phố Hồ Chí Minh Cuộc gặp trên đã dẫn đến việc ra đời các Hội nghị không chính thức về Campuchia: JIM – 1 (7 – 1988), JIM – 2 (2 – 1989) và cuộc gặp không chính thức IMC (2 – 1990) tại Jakarta nhằm thảo luận một cách cởi mở và tìm ra một giải pháp chính trị cho vấn
đề Campuchia
Tại Đại hội VI của Đảng Cộng sản Việt Nam (1986), đề ra một đường lối đổi mới toàn diện, trong đó Việt Nam chủ trương thực hiện chính sách đối ngoại đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ Thực hiện đường lối này, Việt Nam đã rút hết quân khỏi Campuchia, trở ngại lớn nhất trong quan hệ hai bên đang dần được gỡ bỏ, vấn đề Campuchia đi dần vào giải pháp hòa bình Trong tình hình đó, các nước Asean bắt đầu phát triển quan hệ song phương với Việt Nam và hoan nghênh việc Việt Nam tham gia vào hợp tác khu vực Tháng 12 – 1987, tại Hội nghị Cấp cao Asean lần ba họp tại Manila, Tổng thống Philippine tuyên bố không coi Việt Nam là mối đe dọa đối với Philippin Tháng 2 – 1988, Bộ trưởng Ngoại giao Philippine tuyên bố “không chống việc Việt Nam gia nhập Asean” Còn Thủ tướng Thái Lan đã đưa ra chủ trương biến Đông Dương từ chiến trường thành thị trường, và chính sách này đã được Thủ tướng Malaysia tuyên bố ủng hộ (6 – 1989)
Việt Nam kiên trì chính sách đàm phán để giải quyết mọi tranh chấp về lãnh thổ với các nước láng giềng, cùng việc Việt Nam giữ đúng cam kết rút hết quân khỏi
Trang 21Campuchia trước thời hạn vào năm 1988, mặc dù lúc này chưa đạt được giải pháp về vấn đề Campuchia Điều đó đã tạo dựng được lòng tin vào thiện chí của Việt Nam trong chính sách tăng cường hợp tác ở khu vực Quan hệ Việt Nam – Asean được đẩy mạnh trong năm 1989 và các năm tiếp theo Sự kiện chính trị nổi bật và quan trọng nhất trong quan hệ hai bên là việc Tổng thống Indonesia Suharto, nguyên thủ một nước thành viên Asean đầu tiên thăm Việt Nam Tiếp đó là các chuyến viếng thăm của Thủ tướng Singapore và Thái Lan Các quan chức và các học giả Asean cũng bắt đầu thể hiện thiện chí và mong muốn có sự hội nhập của Việt Nam và các nước Đông Dương khác vào khu vực Đông Nam Á Tháng 1 – 1989, tại Hội nghị bàn tròn các nhà báo châu Á – Thái Bình Dương ở thành phố Hồ Chí Minh, Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam Nguyễn Văn Linh tuyên bố: “Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam sẵn sàng phát triển quan hệ hữu nghị với các nước Asean và các nước khác trong khu vực” Cũng tại hội nghị này, Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Cơ Thạch tuyên bố: “Việt Nam sẵn sàng gia nhập Hiệp hội các nước Đông Nam Á” Tại JIM – 2 (2 – 1989), Việt Nam và Lào tuyên bố sẵn sàng tham gia Hiệp ước Bali của Asean Những diễn biến mới trong tình hình quốc tế và khu vực cũng đã tạo điều kiện làm lợi để thúc đẩy xu hướng tích cực trên quan hệ Việt Nam – Asean bắt đầu có những chuyển biến tích cực
và việc Hiệp định Pari về Campuchia được kí kết tháng 10 – 1991 đã đánh dấu sự chấm dứt của “thời kì Campuchia”, trong quan hệ Việt Nam – Asean mở ra một thời kì mới – thời kì của hợp tác hai bên
Bước vào thập niên 90 của thế kỉ XX, trước những diễn biến nhanh chóng của tình hình thế giới và khu vực, Việt Nam ngày càng dành ưu tiên cao cho việc mở rộng quan hệ hữu nghị và hợp tác với các nước láng giềng trong khu vực nhằm phá vỡ thế
bị bao vây cấm vận, tạo môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước Chính sách khu vực sở dĩ cần đặc biệt coi trọng vì tính chất địa lí – chính trị của nó, đồng thời vì nó là sự “bắc cầu vào thế giới” Ngày 16 – 9 – 1991, Bộ trưởng Ngoại giao Việt Nam chính thức gửi thư cho Ngoại trưởng của các nước Asean xin gia nhập Hiệp ước Bali và đây được coi là bước đi đầu tiên tiến tới gia nhập Asean Đảng và Nhà nước đã tiến hành nhiều biện pháp nhằm khai thông quan hệ đa phương và song phương với từng nước Đông Nam Á Một mặt, Việt Nam nêu rõ lập trường của mình về xây dựng Đông Nam Á thành một khu vực hòa bình, ổn định, hữu nghị, hợp tác; mặt khác Việt Nam tích cực tham gia giải quyết các vấn đề chung của khu vực, đẩy mạnh triển khai
Trang 22chính sách đối ngoại rộng mở, đa dạng hóa với tất cả các nước Đông Nam Á Đại hội VII của Đảng Cộng sản Việt Nam tuyên bố chính sách mới về Đông Nam Á, trong đó khẳng định rõ: “Với các nước Đông Nam Á, chúng ta chủ trương mở rộng quan hệ nhiều mặt theo nguyên tắc tôn trọng độc lập, chủ quyền, không can thiệp vào nội bộ của nhau, hai bên cùng có lợi” Từ tháng 12 – 1991 đến tháng 3 – 1992, Thủ tướng Võ Văn Kiệt lần lượt đi thăm 6 nước thành viên trong Asean nhằm cải thiện quan hệ với các nước này và xúc tiến việc Việt Nam tham gia Hiệp ước Bali Về phía Asean, Hội nghị Cấp cao Asean lần thứ 4 tại Singapore (1 – 1992) đã chính thức hoan nghênh Việt Nam tham gia Hiệp ước Bali Tiếp đó, ngày 20 – 5 – 1992, Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Mạnh Cầm gửi thư cho Ngoại trưởng các nước Asean bày tỏ mong muốn của Việt Nam trở thành quan sát viên của Asean sau khi kí Hiệp ước Bali Sau một thời gian vận động tích cực, ngày 22 – 7 – 1992, tại Hội nghị Ngoại trưởng Asean lần thứ
25 (AMM – 25) tại Manila, Việt Nam cùng với Lào đã chính thức tham gia Hiệp ước Bali và trở thành quan sát viên của Asean Sự kiện này chính thức mở ra thời kì mới trong quan hệ Việt Nam – Asean, thời kì Việt Nam hội nhập khu vực Đông Nam Á và tiến tới hội nhập quốc tế
Để mở rộng quan hệ hợp tác với các nước Asean và xúc tiến việc Việt Nam gia nhập Asean, nhiều đoàn cấp cao của Đảng và Nhà nước Việt Nam đã đến thăm các nước Asean Đáng chú ý là cuộc đi thăm chính thức Singapore và Thái Lan của Tổng
Bí thư Đỗ Mười (10 – 1993) Ngày 15 – 10 – 1993, khi đang ở thăm Thái Lan, Tổng
Bí thư Đỗ Mười đã công bố chính sách 4 điểm mới của Việt Nam đối với Đông Nam
Á, thể hiện rõ mong muốn xây dựng Đông Nam Á thành khu vực hòa bình, hợp tác và phát triển Việt Nam được mời tham dự cuộc họp đầu tiên của Diễn đàn khu vực ARF
để bàn về các vấn đề chính trị và an ninh của khu vực châu Á – Thái Bình Dương Việt Nam được coi là một trong những thành viên sáng lập diễn đàn này Cũng trong năm
1993, Asean mời Việt Nam tham gia các chương trình và dự án hợp tác Asean trên 5 lĩnh vực: khoa học – công nghệ môi trường, y tế, văn hóa – thông tin, phát triển xã hội, cùng một số dự án hợp tác chuyên ngành
Như vậy, kể từ sau khi gia nhập Hiệp ước Bali và trở thành quan sát viên của Asean, vấn đề đặt ra đối với Việt Nam không phải là có gia nhập Asean hay không, mà vấn đề chính yếu là thời điểm và cách thức Việt Nam gia nhập Asean Tháng 4 – 1994, trong chuyến đi thăm chính thức Indonesia, Chủ tịch nước Lê Đức Anh tuyên bố Việt
Trang 23Nam đang xúc tiến các công việc chuẩn bị thiết thực để sớm trở thành thành viên đầy
đủ của Asean Tại Hội nghị AMM – 27 (7 – 1994), các nước Asean nhất trí tuyên bố đón nhận Việt Nam làm thành viên Asean, tốt nhất là trước Hội nghị thượng đỉnh Asean cuối năm 1995 Ngày 17 – 10 – 1994, Việt Nam chính thức gửi đơn xin gia nhập Asean
Ngày 28 – 7 – 1995, tại thủ đô Banda Seri Begawan (Bruney), nơi diễn ra Hội nghị AMM – 28 và ARF lần 2 đã diễn ra lễ kết nạp Việt Nam làm thành viên chính thức thứ 7 của Asean Việt Nam cũng tuyên bố gia nhập Khu vực mậu dịch tự do Asean (AFTA) Sau khi trở thành thành viên chính thức của Asean, sự hòa nhập của Việt Nam vào các hoạt động hợp tác trong khuôn khổ Asean cũng được thúc đẩy nhanh chóng Ngày 19 – 9 – 1995, tại Hội nghị Tổ chức Liên Nghị viện Asean (AIPO) họp tại Singapore, Việt Nam đã trở thành thành viên thứ sáu của tổ chức này Gia nhập Asean đã trở thành một bước đột phá trong chính sách đối ngoại của nước ta và điều
đó cho thấy rõ ưu tiên của ta đối với khu vực Với việc Việt Nam trở thành thành viên chính thức của Asean và tham gia tích cực vào các cơ cấu hợp tác của Asean, quan hệ Việt Nam – Asean đã hoàn toàn bước sang một chương mới
2.2 Ý nghĩa việc Việt Nam gia nhập Asean
Ngày 28 – 7 – 1995, Việt Nam trở thành thành viên chính thức của Tổ chức Hiệp hội các nước Đông Nam Á (Asean) Sự kiện này có ý nghĩa quan trọng, đánh dấu một mốc mới trong lịch sử phát triển của tổ chức Asean
2.2.1 Việt Nam gia nhập Asean – ước mơ về một khu vực Đông Nam Á đoàn kết, thống nhất, hợp tác để phát triển đã trở thành hiện thực
Mong muốn về một Đông Nam Á đoàn kết, hữu nghị và hợp tác chặt chẽ luôn
là khát vọng của các nước trong khu vực Ngay cuối thập niên 40 của thế kỉ XX, lãnh
tụ của phong trào giải phóng dân tộc Myanmar là ông Aung San đã từng mơ ước về một tổ chức khu vực để liên kết các nước mới giải phóng trong cuộc đấu tranh bảo vệ độc lập và xây dựng tổ quốc Trong những năm 1958 – 1961, Thủ tướng đầu tiên của Nhà nước Liên bang Malaysia độc lập Apđun Rátman đã bày tỏ mong muốn các nước Đông Nam Á liên kết lại để cùng nhau giải quyết những vấn đề chung mà các nước trong khu vực đang gặp phải Nhưng những ước mơ này, trong nhiều năm sau Chiến tranh thế giới thứ hai đã không được thực thi bởi sự khác biệt và chia rẽ giữa các quốc gia trong khu vực Sau chiến tranh thế giới thứ hai, khu vực Đông Nam Á xuất hiện
Trang 24nhiều quốc gia mới với những đường lối phát triển và thể chế chính trị khác nhau Bên cạnh các nước theo con đường XHCN như Việt Nam là những nước theo con đường TBCN Một số nước có quan hệ chặt chẽ với các nước đế quốc, trong khi đó lại có một
số nước thực thi chính sách trung lập không liên kết như Indonesia, Campuchia Do sự khác biệt về tư tưởng, đường lối chính sách đã chia rẽ các nước trong khu vực Đông Nam Á, ngăn cản họ sát cánh bên nhau cùng tồn tại và phát triển, chính điều này đã bị các thế lực đế quốc, thực dân lợi dụng Chính vì vậy, khu vực này không chỉ bị chia rẽ bởi mâu thuẫn giữa các nước trong khu vực mà còn là nơi hội tụ của những mâu thuẫn
và tranh chấp quốc tế
Có thể nói rằng Đông Nam Á có 2 thực thể chính trị quan trọng, có ảnh hưởng trong khu vực Đó là Indonesia ở vùng hải đảo và Việt Nam ở vùng bán đảo Đông Dương Năm 1961, khi Hiệp hội Đông Nam Á (ASA) được hình thành nhưng không được sự ủng hộ của Indonesia nên nó chỉ tồn tại trên danh nghĩa, không được ai biết đến Asean ra đời vào năm 1967 do có sự tham gia tích cực của quốc gia này Không thể phủ nhận vai trò chủ đạo của Indonesia trong Asean trong những năm qua Nhưng Asean, kể cả khi Bruney gia nhập tổ chức này (1984) chưa phải là Đông Nam Á bởi khu vực này còn chưa bao gồm 3 nước Đông Dương Do vậy, Asean khi đó không đại diện cho lợi ích và tiếng nói của khu vực, không hội tụ được sức mạnh và ưu thế của toàn khu vực
Các nước Asean cũng nhận rõ vai trò và ảnh hưởng của Việt Nam trong những vấn đề liên quan đến lợi ích của khu vực mà cụ thể trước mắt là trong việc liên kết và hợp tác khu vực Vì lẽ đó mà các nước Asean luôn tìm cơ hội bày tỏ thiện chí và thành tâm của mình đối với Việt Nam Ngay sau khi miền Nam Việt Nam được giải phóng, ngoại trưởng các nước Asean đã họp khẩn cấp để thảo luận tác động của chiến thắng này đối với tình hình khu vực Các nước Asean chào mừng việc kết thúc chiến tranh ở Đông Dương, coi đó là một nhân tố tích cực góp phần vào việc thực hiện ý tưởng về một khu vực hòa bình, tự do, trung lập (ZOPFAN) ở Đông Nam Á mà các nước Asean
đã đưa ra hồi cuối năm 1971 Các nước Asean cũng bày tỏ thiện chí sẵn sàng góp phần vào việc tái thiết các nước Đông Dương sau chiến tranh Sau hội nghị nói trên, một quan chức cao cấp Asean đã nói rằng giờ đây Asean sẵn sàng chìa bàn tay hữu nghị với Việt Nam bất chấp họ nói gì về chúng ta Như vậy, trong tình hình mới của khu vực, các nước Asean một mặt tăng cường hoạt động của Hiệp hội để khẳng định sức
Trang 25sống của nó, một mặt bày tỏ mong muốn phát triển quan hệ láng giềng thân thiện với các nước Đông Dương Những xung đột ở Đông Dương diễn ra sau đó đã cản trở xu hướng hòa bình thân thiện trong khu vực Các nước Asean khi đó đã nỗ lực cùng Việt Nam giải quyết toàn diện cuộc xung đột này, tránh dẫn đến sự đối đầu, xung khắc gay gắt giữa Asean và Đông Dương Khi vấn đề Campuchia được giải quyết cũng là lúc cơ hội mới cho sự liên kết khu vực được mở ra Chuyến thăm Việt Nam của Tổng thống Indonesia Suharto vào tháng 10 – 1990 và chuyến thăm một số nước Asean của Thủ tướng Võ Văn Kiệt cuối năm 1991 đã mở đầu cho quá trình hòa giải và đoàn kết trong khu vực Hơn bao giờ hết, triển vọng về một Đông Nam Á đoàn kết và thống nhất đang trở thành hiện thực Các nước Asean hy vọng quan hệ thân thiết, hợp tác giữa Asean với Việt Nam sẽ kéo theo mối quan hệ tốt đẹp giữa Hiệp hội với các nước khác trên bán đảo Đông Dương Điều này cũng có nghĩa là sẽ chấm dứt thời kì bất đồng chia rẽ trong khu vực, mở ra một trang sử mới trong sự phát triển của Đông Nam Á Vì thế mà các nước Asean hoan nghênh, chào đón Việt Nam tham gia Asean
Năm 1992, Việt Nam tham gia Hiệp ước Bali và đến tháng 7 – 1995 chính thức gia nhập Asean Sau đó không lâu, đến lượt Lào, Myanmar (1997) và Campuchia (1999) trở thành thành viên của Asean Mong muốn về một Asean – 10 đã thành hiện thực Đông Nam Á giờ đây đã thành một khối thống nhất, theo đuổi chung một mục đích và ước mơ Liên kết của Việt Nam cùng các nước Đông Dương khác, không chỉ tạo cho Asean một diện mạo mới mà còn tạo cho tổ chức này một sức mạnh cả về tinh thần lẫn vật chất để vươn lên chiếm lĩnh tầm cao mới trong sự nghiệp phát triển của mình
2.2.2 Việc Việt Nam hội nhập Asean đã mở ra nhiều cơ hội thuận lợi cho sự phát triển của Hiệp hội
Khi vấn đề liên kết của Asean đã được thực hiện, Hiệp hội có thêm khí thế và dồn tâm huyết, thời gian vào việc phát triển những vấn đề hợp tác nội bộ Từ khi Asean được mở rộng, chương trình hợp tác nội khối được tăng cường, mở rộng và đa dạng hơn Cơ chế hoạt động của Hiệp hội cũng được hoàn thiện và mở rộng hơn Hội nghị cấp cao được tổ chức thường xuyên theo định kì để quyết định những vấn đề quan trọng mà trước đây thuộc nhiệm vụ của Hội nghị các Bộ trưởng Ngoại giao
Những vấn đề hợp tác nội bộ cũng được tăng cường mở rộng, đi sâu vào những vấn đề cụ thể, hiệu quả hơn Nếu trước đây, hợp tác nội bộ của Asean chú trọng trước
Trang 26hết đến lĩnh vực chính trị, an ninh, kinh tế, thương mại… thì giờ đây những chuyên ngành hợp tác trong khối ngày càng đa dạng và phong phú hơn Trên nền tảng chung của Asean, quan hệ song phương giữa các thành viên trong khối được tiến triển tốt đẹp hơn Nếu hợp tác kinh tế, thương mại thúc đẩy sự phát triển kinh tế, đem lại sự phồn vinh về kinh tế cho các thành viên thì sự hợp tác về văn hóa, giáo dục, du lịch… đã góp phần gắn kết các quốc gia, dân tộc, tạo nên nền tảng Asean, tinh thần Asean và sức mạnh Asean “Thống nhất trong đa dạng” đó là đặc trưng của Asean hiện nay Bỏ qua những khác biệt về tư tưởng, chế độ chính trị, xã hội cũng như trình độ phát triển, Asean là một khối đoàn kết, thống nhất được xây dựng trên tinh thần hòa hợp để hợp tác và phát triển
Để thúc đẩy việc buôn bán nội khối, Asean đã thông qua kế hoạch xây dựng khu vực mậu dịch tự do Asean (AFTA) “Kế hoạch hành động Hà Nội” được thông qua tại Hội nghị cấp cao Asean tháng 12 – 1998 tại Hà Nội đã đề ra mục tiêu phát triển của Hiệp hội ở một tầm cao mới nhằm nâng cao sức mạnh của Asean, giúp nâng cao trình độ phát triển của các nước hội viên, rút ngắn về trình độ phát triển giữa các nước trong khối
Tóm lại, từ khi Asean – 10 được hình thành, Hiệp hội đã có điều kiện chú trọng vào việc tăng cường hợp tác nội bộ Các lĩnh vực hợp tác của Asean cũng được mở rộng hơn, đa dạng hơn và đi sâu vào chuyên ngành hơn Điều này đã làm cho việc hợp tác trong Asean chặt chẽ hơn và cũng có hiệu quả hơn Chính điều đó đã tăng thêm sức mạnh và nâng cao uy tín của Asean trên trường quốc tế
2.2.3 Vai trò tích cực của Asean trong các vấn đề khu vực và quốc tế từ khi
có Việt Nam là thành viên
Điểm nổi bật trong hoạt động của Asean từ sau khi hoàn tất việc liên kết khu vực là vai trò tích cực của tổ chức này trong các vấn đề khu vực và quốc tế Hình ảnh của Asean đã được cải thiện khi Đông Nam Á là một khối thống nhất tạo nên sức mạnh cả về vật chất lẫn tinh thần, thêm bạn, bớt thù
Asean giành được thiện cảm của nhiều nước, nhiều tổ chức khu vực và quốc tế, nhờ vậy mà ảnh hưởng và uy tín của Hiệp hội trên trường quốc tế ngày càng lớn Hình ảnh này khác hẳn với tình thế của Asean trước đây khi Hiệp hội chỉ có 5 thành viên ban đầu Ngay sự ra đời của Asean cũng không được chào đón của các nước trong khu vực và trên thế giới Nhiều nước,kể cả các nước lớn ghi nhận sự ra đời của Asean với
Trang 27một thái độ thờ ơ “chờ xem đã” Bản thân Asean cũng hoạt động yếu ớt vì nội bộ còn bất đồng chia rẽ và luôn trong tâm trạng thấp thỏm chờ đợi sự thay đổi của thời cuộc Sau cuộc họp cấp cao đầu tiên năm 1976, khi mà Asean khẳng định lại sự tồn tại của mình và đưa ra chương trình hợp tác kinh tế nội bộ thì quan hệ của Asean với thế giới bên ngoài bắt đầu có sự chuyển biến mới Năm 1977, Nhật Bản thiết lập quan hệ với Asean và cam kết viện trợ cho kế hoạch hợp tác phát triển kinh tế của Asean Động thái này ít nhiều giúp Asean mở rộng được quan hệ với các nước tư bản phát triển vào thập niên 80 của thế kỉ XX như Mĩ, Thị trường chung châu Âu (EEC), Australia Asean lúc đó rất cần sự ủng hộ cả về chính trị lẫn kinh tế, khoa học kĩ thuật của thế giới bên ngoài, nhất là các nước tư bản lớn Thời kì này, Asean ít nhiều được biết đến
vì được coi là có vai trò tích cực trong vấn đề Campuchia Tuy nhiên, trong một thời gian dài, kể cả thời điểm mà Asean được ca ngợi về thành tựu phát triển kinh tế thì ảnh hưởng về chính trị của tổ chức này ở khu vực cũng như trên trường quốc tế không lớn Ngoài việc một số thế lực bên ngoài không muốn Asean là một tổ chức vững mạnh để
dễ bề thao túng và chi phối, thì nguyên nhân chính của tình trạng trên là Asean chưa
có sức mạnh đoàn kết của toàn khu vực vì thiếu sự hậu thuẫn của các nước Đông Dương, những nước đã từng giành được sự ngưỡng mộ và quý trọng của nhiều quốc gia trên thế giới Sự tham gia của các nước khác trong khu vực, trước hết là Việt Nam vào Asean là cần thiết và hết sức quý báu cho sự đi lên của tổ chức này Các nhà lãnh đạo Asean cũng nhận thức được điều đó, họ đã nỗ lực xoa dịu những bất đồng, mâu thuẫn giữa hai nhóm nước (Asean và Đông Dương) và luôn bày tỏ thiện chí với Việt Nam
Từ khi Việt Nam thực hiện chính sách hội nhập thì Asean có vị thế khác hẳn trên trường quốc tế Lúc này Asean không chỉ năng động hơn mà tiếng nói cũng có trọng lượng hơn Những sáng kiến mang tính xây dựng của Asean luôn nhận được sự tán đồng và ủng hộ của các nước trong khu vực Những đề xuất về việc thành lập Diễn đàn Khu vực Asean (ARF), diễn đàn ASEM… là những minh chứng cho điều đó Nhiều nước ngoài khu vực Đông Nam Á cũng muốn trở thành đối tác của Asean Các bên đối tác không chỉ tham dự các Hội nghị Bộ trưởng Ngoại giao như trước đây mà còn tham dự Hội nghị Cấp cao của Asean Họ đều mong muốn có quan hệ hợp tác chặt chẽ nhiều mặt, lâu dài với Asean Việc hợp tác chặt chẽ và có hiệu quả theo công thức đối thoại Asean+3 (Asean với Trung Quốc, Nhật Bản và Hàn Quốc) đã thu hút sự quan
Trang 28tâm của Nga, Ấn Độ, Australia, New Zealand… Hợp tác giữa Asean với các bên đối tác ngày càng đi vào chiều sâu và đưa lại những kết quả tích cực Việc mở rộng quan
hệ đối tác và tham gia vào nhiều tổ chức, diễn đàn khu vực và quốc tế đã tạo cơ hội cho Asean tiếp xúc với các nền kinh tế lớn, phát triển quan hệ hữu nghị và hợp tác với nhiều quốc gia, dân tộc trên thế giới Uy tín và niềm tin của bè bạn xa gần dành cho Asean được tăng lên
Nhìn chung, từ khi Việt Nam và cả 3 nước Đông Dương gia nhập Asean, tình thế ở Đông Nam Á đã có nhiều thay đổi quan trọng Một Đông Nam Á đoàn kết và thống nhất, một ước mơ lâu dài của các quốc gia trong khu vực đã trở thành hiện thực, đem lại niềm tin và sức mạnh cho Asean Giờ đây, trên “tinh thần Asean”, “nền tảng Asean”, các nước trong khu vực cùng nhau hợp tác chặt chẽ hơn để xây dựng một Asean hùng mạnh về nhiều mặt, góp phần to lớn vào công việc chung của thế giới, nâng cao ảnh hưởng và uy tín của Asean trên trường quốc tế
2.2.4 Vai trò của Việt Nam trong việc rút ngắn khoảng cách phát triển giũa các nước trong tổ chức Asean
Từ trước đến nay, khi đề cập đến Asean, người ta thường gắn tổ chức này với các vấn đề chính trị hoặc kinh tế Trong thời kì chiến tranh lạnh, khu vực Đông Nam Á thường bị phân cách giữa một bên là các nước Asean và một bên là các nước Đông Dương Sau khi kết thúc Chiến tranh lạnh và đặc biệt là sau khi hầu hết các nước còn lại trong khu vực tham gia vào Asean thì người ta lại phân định Đông Nam Á hay Asean thành Asean – 6 và Asean – 4 Sự phân định trên hoàn toàn thiên về những trở ngại và thách thức cho sự liên kết khu vực Khi nói đến vai trò của Việt Nam trong việc rút ngắn khoảng cách phát triển giữa các thành viên trong Asean chính là nói đến những đóng góp của Việt Nam trong việc khởi xướng cho sự hội nhập kinh tế khu vực, tạo ra một cơ chế hợp tác mới không những đa dạng về mặt chính trị mà còn đa dạng
về kinh tế, tạo tiền đề cho khu vực Đông Nam Á và các nước khác trên thế giới So với các nước thành viên cũ của Asean thì trình độ phát triển kinh tế của Việt Nam đang còn ở mức độ thấp Sau Việt Nam là các nước có trình độ kinh tế thấp gia nhập Asean như Lào, Myanmar, Campuchia đã làm cho Asean từ chỗ là một tổ chức gồm những nước có nền kinh tế phát triển sang một tổ chức gồm những nước có nền kinh tế phát triển không đồng đều Việt Nam là nước đầu tiên khai thông một mô thức hợp tác mới – chưa có tiền lệ trong lịch sử các nước Đông Nam Á
Trang 29Sau khi trở thành thành viên của Asean, Việt Nam đã cam kết tham gia vào các hoạt động hợp tác kinh tế của khu vực mà cụ thể là CEPT và AFTA Cùng với việc đẩy nhanh tiến trình AFTA, Việt Nam còn tạo điều kiện thuận lợi để thu hút vốn đầu
tư từ các nước Asean Đến nay, quan hệ thương mại và đầu tư giữa Asean và Việt Nam tăng lên một cách rõ rệt đã chứng tỏ tính hiệu quả của xu hướng liên kết khu vực giữa các nước không có trình độ phát triển kinh tế tương đồng Theo số liệu của Cục Đầu tư nước ngoài (Bộ Kế hoạch và Đầu tư), tính đến năm 2007, khu vực Asean có 1.179 dự án đầu tư được cấp phép tại Việt Nam, với tổng vốn trên 16 tỷ USD Trong
số này Singapore và Malaysia là những nước trong Asean đầu tư nhiều nhất vào Việt Nam Hiện nay, phần lớn đầu tư FDI từ Asean vào Việt Nam mới chỉ tập trung trong các lĩnh vực dịch vụ: giao thông vận tải, bưu điện, khách sạn du lịch, tài chính ngân hàng, văn hóa – giáo dục
Ngoài ra, sự thành công trong việc tham gia CEPT và AFTA giúp cho Việt Nam thực hiện thành công quá trình hội nhập ở mức độ cao hơn, rộng hơn, toàn diện hơn trong các tổ chức như APEC, ASEM và WTO
Đối với ASEAN – 6 thì các nước này không những được lợi khi thiết lập mối quan hệ về thương mại và đầu tư đối với Việt Nam mà còn rút ra được bài học kinh nghiệm trong quá trình hợp tác với Việt Nam để tiến hành hợp tác một cách có hiệu quả với các nước có trình độ kinh tế kém phát triển như Lào, Myanmar, Campuchia Chương trình hành động Hà Nội được thông qua tại Hội nghị cấp cao lần thứ 6 tháng
12 – 1998 và “Tuyên bố Hà Nội về thu hẹp khoảng cách phát triển nhằm tăng cường liên kết Asean” được đưa ra tại Hội nghị Bộ trưởng Asean được triển khai thực hiện Trong đó, đáng chú ý là chương trình hợp tác phát triển khu vực Mê Công với mục đích là cuốn các vùng kém phát triển của các nước Asean vào luồng phát triển chung của khu vực, xóa dần khoảng cách giữa Asean – 6 và Asean – 4 Việt Nam đã xây dựng Dự án phát triển hành lang Đông – Tây tại lưu vực sông Mê Công Với việc phát triển dự án này, những lợi thế về kinh tế của miền Trung Việt Nam như các cảng biển nước sâu, các tuyến đường bộ nối các tỉnh miền Trung với nước Lào sẽ được khai thác một cách có hiệu quả nhằm tạo nên sự phát triển kinh tế đồng đều giữa các vùng với nhau Với cách thức hợp tác trên, cùng với việc phát huy lợi thế so sánh trong quan hệ hợp tác giữa các nước trong khu vực, Việt Nam sẽ là nước đóng vai trò quan trọng
Trang 30trong tiến trình hội nhập giữa các nước Asean và giữa Asean với các tổ chức khác trên thế giới
Việt Nam đã có những đóng góp hết sức thiết thực vào việc củng cố và tăng cường sức mạnh của Asean Với sự tham gia của các Việt Nam và các nước Đông Dương đã làm cho Asean trở thành một tổ chức có ảnh hưởng lớn trong khu vực và các nước ngoài khu vực
Trang 31Chương 3 – ĐÓNG GÓP CỦA VIỆT NAM TRONG ASEAN
Sau hơn 10 năm gia nhập vào Asean, Việt Nam đã chủ động, tích cực tham gia vào tất cả các lĩnh vực hợp tác của Asean Việt Nam đã có những đóng góp tích cực và ngày càng phát huy vai trò và tiếng nói của mình trong Hiệp hội Kết quả lớn nhất là
đã góp phần quan trọng triển khai tốt chính sách đối ngoại độc lập, tự chủ, đa dạng hóa, đa phương hóa, hội nhập khu vực và quốc tế của Đảng và Nhà nước; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định và hợp tác các nước Asean và các bên đối thoại trên cơ
sở song phương cũng như đa phương, phục vụ đắc lực cho sự nghiệp xây dựng và bảo
vệ Tổ quốc; đồng thời nâng cao đáng kể uy tín và vị thế của Việt Nam trong khu vực
Việt Nam có đường lối đối ngoại độc lập và là nước xếp thứ 2 về dân số, thứ 4
về diện tích ở Đông Nam Á Do vậy, Việt Nam luôn là một nhân tố quan trọng đối với hòa bình, ổn định ở khu vực Việc đảm bảo chính trị – an ninh ở Đông Nam Á không thể thực hiện được nếu thiếu vắng thành viên Việt Nam Bước sang thập kỉ 90 của thế
kỉ XX, để đối phó có hiệu quả với những thách thức nổi lên của thời kì hậu chiến tranh lạnh, trong khi Asean buộc phải điều chỉnh chiến lược thì các nước này càng cần phải tính tới vai trò, vị trí của Việt Nam trong quá trình điều chỉnh đó
Chiến tranh lạnh kết thúc, Asean có nhu cầu phải tạo ra một hình ảnh mới ở khu vực Đông Nam Á Bên cạnh đó, với xu thế toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực, buộc các nước Asean phải chuyển trọng tâm sang hợp tác kinh tế, mở cửa thị