Vì vậy, nghiên cứu quan hệ giữa Việt Nam và Nhật Bản đã thu hút được sự quan tâm nhiều học giả và các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước với nhiều cách tiếp cận khác nhau: Nhóm công trìn
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trước tiên tôi bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc đến PGS.TS
Nguyễn Thị Mai Hoa, Giảng viên Khoa Lịch sử - Trường Đại học Khoa học
Xã hội và Nhân Văn - ĐH QGHN đã chu đáo tận tình giúp đỡ và động viên tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn tốt nghiệp
Tôi cũng xin gửi lời tri ân sâu sắc tới Khoa Lịch sử - Đại học Khoa học
xã hội và nhân văn, các Thầy, Cô giáo trong và ngoài trường đã tận tình truyền thụ kiến thức, kinh nghiệm, hướng dẫn và sự giúp đỡ quý báu để hoàn thành luận văn
Tôi xin gửi lời cảm ơn đến cán bộ, nhân viên Cục Lưu trữ Trung ương Đảng đã tạo điều kiện cho tôi khai thác tài liệu để hoàn thành luận văn
Cuối cùng, tôi xin cảm ơn gia đình và bạn bè đã luôn bên tôi cổ vũ và động viên trong suốt quá trình học tập cũng như thời gian thực hiện luận văn tốt nghiệp
Hà Nội, tháng 01 năm 2016
Người cam đoan
Bùi Thị Hương
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài 2
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 6
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 6
5 Nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu 7
6 Những đóng góp mới của luận văn 7
7 Bố cục của luận văn 8
Chương 1 CHỦ TRƯƠNG VÀ SỰ CHỈ ĐẠO CỦA ĐẢNG TRONG QUAN HỆ CỦA VIỆT NAM VỚI NHẬT BẢN TỪ NĂM 1976 ĐẾN NĂM 1981 9
1.1 Những yếu tố tác động đến sự lãnh đạo của Đảng 9
1.1.1 Bối cảnh lịch sử thế giới và khu vực 9
1.1.2 Tình hình Nhật Bản và Việt Nam trước năm 1976 15
1.1.3 Quan hệ Việt Nam - Nhật Bản trước năm 1976 23
1.2 Đảng lãnh đạo thực hiện quan hệ với Nhật Bản 24
1.2.1 Chủ trương của Đảng 24
1.2.2 Chỉ đạo thực hiện 34
Chương 2 SỰ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG TRONG QUAN HỆ CỦA VIỆT NAM VỚI NHẬT BẢN TỪ NĂM 1982 ĐẾN NĂM 1985 49
2.1 Bối cảnh lịch sử 49
2.1.1 Bối cảnh quốc tế 49
2.1.2 Tình hình Việt Nam và Nhật Bản 52
2.2 Chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng 57
2.2.1 Chủ trương của Đảng 57
2.2.2 Sự chỉ đạo của Đảng 61
Chương 3 NHẬN XÉT VÀ KINH NGHIỆM 79
Trang 53.1 Nhận xét 79
3.1.1 Về ưu điểm 79
3.1.2 Về hạn chế 87
3.2 Một số kinh nghiệm 94
3.2.1 Nắm bắt những chuyển biến trong quan hệ giữa các nước liên quan, chủ động trong các hoạt động đối ngoại để bảo vệ lợi ích 94
3.2.2 Tích cực tìm kiếm biện pháp thúc đẩy, phát triển quan hệ trên tinh thần “đôi bên cùng có lợi” trên nguyên tắc bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau 100
3.2.3 Chú trọng đối ngoại nhà nước; đồng thời tăng cường đối ngoại với các tổ chức chính trị 103
3.2.4 Tăng cường, nâng cao hiệu quả làm việc của các cơ quan đại diện và với cơ quan đại diện 106
KẾT LUẬN 110
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 112 PHỤ LỤC
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nói: “Thực lực là cái chiêng mà ngoại giao là cái tiếng Chiêng có to thì tiếng mới lớn” [117, tr 126] Điều này phần nào thể hiện vai trò của ngoại giao trong sự phát triển của đất nước Lịch sử
đã chứng minh, trên các chặng đường lịch sử hơn nửa thế kỷ qua, ngoại giao Việt Nam cùng với các lĩnh vực quân sự, chính trị, kinh tế, văn hóa… luôn có mặt ở tuyến đầu của cuộc đấu tranh cách mạng, góp phần hoàn thành cuộc CMDTDCND trên phạm vi cả nước, giải phóng miền Nam, thống nhất nước nhà, nâng cao vai trò và vị thế của Việt Nam ở Đông Nam Á và trên trường quốc tế… đóng góp không nhỏ vào thắng lợi vẻ vang của dân tộc Trong xu thế đó, thực hiện đối ngoại với Nhật Bản được Đảng và Nhà nước đặc biệt quan tâm
Ngược dòng lịch sử, Việt Nam và Nhật Bản vốn có quan hệ thương mại từ hàng trăm năm nay Ngay từ thế kỷ XVI đã có nhiều thương gia Nhật Bản đến buôn bán ở Việt Nam Việt Nam nói riêng và Đông Nam Á nói chung vẫn được coi là mối quan tâm đặc biệt của Nhật Bản Năm
1973, Hiệp định Paris kết thúc chiến tranh Việt Nam đã được ký kết, thời cơ đạt được hòa bình
ở Việt Nam đã chín muồi Trong bối cảnh đó, Nhật Bản và nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã tiến hành đàm phán thiết lập quan hệ ngoại giao tại Paris, nơi diễn ra hiệp định hòa bình Vào ngày 21 tháng 9, đại diện hai nước đã ký vào văn kiện thiết lập chính thức quan hệ ngoại giao Việt Nam - Nhật Bản Đây là một sự kiện quan trọng mở đầu cho một giai đoạn phát triển mới trong quan hệ hữu nghị, hợp tác giữa hai nước
Quan hệ của Việt Nam và Nhật Bản đã trải qua những bước thăng trầm, lúc lạnh và lúc ấm do những thay đổi của tình hình chính trị tại bán đảo Đông Dương Những năm 1976- 1985, tình hình Đông Dương nói chung và Việt Nam nói riêng có nhiều vấn đề phức tạp, Việt Nam đứng trước những thử thách mới nghiêm trọng trong quan hệ quốc tế Quan hệ giữa Việt Nam và các nước láng giềng có chung biên giới xuất hiện nhiều trắc trở và phát triển theo chiều hướng ngày càng phức tạp Các lực lượng trong và ngoài khu vực phối hợp chống phá Việt Nam, kinh tế Việt Nam bị bao vây, hạn chế và cô lập Việt Nam đứng trước muôn vàn khó khăn đặt ra yêu cầu Đảng và Nhà nước phải có
Trang 8đường lối đúng đắn để chèo lái con thuyền cách mạng Việt Nam nói chung và chỉ đạo thực hiện quan hệ ngoại giao Việt Nam - Nhật Bản nói riêng
Những năm 1976 - 1985, căn cứ vào tình hình và bối cảnh đất nước, trên cơ sở phân tích những thuận lợi và khó khăn, Đảng đã đưa ra những chủ trương cụ thể trong thực hiện quan hệ ngoại giao với Nhật Bản Trong bối cảnh đất nước bị bao vây, cô lập, vấn đề biên giới ngày càng phức tạp và rối ren thì việc thúc đẩy từng bước quan hệ với Nhật Bản để tranh thủ sự đồng tình và ủng hộ, giữ quan hệ bang giao, hòa hiếu với nước ngoài là bài toán lớn đối với Đảng và Nhà nước Việt Nam Nhìn lại quá trình đó một cách đầy đủ,
hệ thống, toàn diện để rút kinh nghiệm cho ngày hôm nay là một việc làm cần thiết, vừa có ý nghĩa lý luận lại vừa có ý nghĩa thực tiễn Đó là những lý do
căn bản để chúng tôi chọn vấn đề “Đảng lãnh đạo quan hệ của Việt Nam với
Nhật Bản từ năm 1976 đến năm 1985” làm đề tài cho luận văn thạc sĩ lịch
sử, chuyên ngành lịch sử Đảng CSVN
2 Tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài
Quan hệ giữa Việt Nam và Nhật Bản là quan hệ truyền thống và lâu đời Hiện nay, quan hệ hợp tác giữa hai nước đã được nâng lên tầm quan hệ hợp tác chiến lược Vì vậy, nghiên cứu quan hệ giữa Việt Nam và Nhật Bản
đã thu hút được sự quan tâm nhiều học giả và các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước với nhiều cách tiếp cận khác nhau:
Nhóm công trình nghiên cứu về ngoại giao và quan hệ quốc tế
“Thắng lợi có tính chất thời đại và cuộc đấu tranh trên mặt trận ngoại giao của nhân dân ta” (Nxb Sự thật, Hà Nội, 1985); “Quan hệ quốc tế 1945 - 1975”
(Hoàng Văn Hiển, Nguyễn Viết Thảo, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1998)…
Đây là nhóm công trình gồm các loại sách chuyên khảo, tham khảo Nội dung chủ yếu các tác giả tập trung trình bày là những nét lớn, tổng quan
về đường lối đối ngoại, chủ trương, chính sách của Đảng trong 2 cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ cứu nước; giai đoạn xây dựng và bảo vệ đất
Trang 9nước sau khi thống nhất Đồng thời trình bày những hoạt động ngoại giao trên nhiều phương diện, phản ánh sự vận động phát triển của nền ngoại giao Việt Nam qua các thời kỳ, giai đoạn lịch sử
Luận án “Chủ trương của Đảng Cộng sản Việt Nam về quan hệ đối
ngoại với ASEAN (1967- 1995)” đã trình bày khá rõ chính sách đối ngoại của
Việt Nam đối với các nước lớn trên thế giới, với khu vực ASEAN trong suốt chiều dài từ sau Hiệp định Giơnevơ đến khi Việt Nam gia nhập ASEAN Luận
án cũng nói đến các chính sách đối ngoại của Việt Nam đối với các nước
ASEAN; luận án: “Chủ trương của Đảng Cộng sản Việt Nam trong quan hệ
với Trung Quốc từ năm 1975 đến năm 2001” đã trình bày và phân tích chủ
trương đối ngoại của Đảng trong quan hệ với Trung Quốc từ sau khi đất nước hòa bình thống nhất đến năm 2001 Luận án đã đề cập đến quá trình giải quyết mặt quốc tế của vấn đề Campuchia, nhằm mục tiêu thúc đẩy bình thường hóa quan hệ Việt - Trung, bởi Trung Quốc là nước liên quan, có những ảnh hưởng, chi phối trực tiếp quá trình này
Trong một số quyển sách các tác giả có đề cập sơ lược quan hệ Việt Nam - Nhật Bản Tuy nhiên chưa đi sâu vào nghiên cứu những chủ trương, chính sách cụ thể của Đảng nhằm xây dựng, củng cố và thúc đẩy quan hệ ngoại giao Việt Nam - Nhật Bản giai đoạn 1976 - 1985
Nhóm công trình nghiên cứu về quan hệ giữa Việt Nam và Nhật Bản, về sự lãnh đạo của Đảng trong thực hiện quan hệ với Nhật Bản
Đã có không ít các công trình nghiên cứu bàn luận về vấn đề này của các nhà nghiên cứu Việt Nam cũng như Nhật Bản, trong đó có nhiều tác phẩm
song ngữ hoặc được dịch ra từ tiếng Nhật sang Tiếng Việt như “35 năm quan
hệ ngoại giao Việt Nam - Nhật Bản” Các sử gia miền Nam trước 1975 cũng
không có sách chuyên khảo về quan hệ hai nước, mà chỉ có một vài bài báo
nhận xét quan hệ như bài của Phạm Lương Giang: “Nền bang giao Việt -
Nhật” (Bách khoa từ điển quý IV 1967)… Ngoài ra còn có nhiều công trình
Trang 10tổng kết Hội thảo khoa học cùng nhiều bài báo, tạp chí đề cập đến quan hệ giữa hai nước trên các lĩnh vực văn hóa, giáo dục, khoa học - kỹ thuật…
Trên lĩnh vực kinh tế: Có một số công trình nghiên cứu liên quan đến
vấn đề này:
“Quan hệ kinh tế Việt Nam - Nhật Bản trong những năm 1990 và triển vọng” của tác giả Vũ Văn Hà (2002); “Quan hệ kinh tế Việt Nam - Nhật Bản trong bối cảnh quốc tế mới những năm gần đây và triển vọng” của Vũ Văn
Hà và Trần Anh Phương (2004); “Chiến lược đẩy mạnh thương mại Việt -
Nhật”, Trần Anh Phương (2006); “Chặng đường phát triển trong quan hệ kinh tế Việt Nam - Nhật Bản” của tác giả Hải Ninh, 2008; công trình ra mắt
nhân Việt Nam và Nhật Bản kỷ niệm 35 năm ngày thiết lập quan hệ ngoại giao song phương trong bối cảnh hai nước bước sang một giai đoạn mới, hướng tới quan hệ đối tác chiến lược vì hòa bình và phồn vinh của mỗi nước
và của châu Á…
Như vậy, các tác phẩm tập trung chủ yếu vào nghiên cứu và đánh giá
về những lĩnh vực cụ thể như đầu tư và thương mại nhằm hợp tác thúc đẩy phát triển kinh tế
Trên lĩnh vực chính trị: Ngoại giao chủ yếu đề cập tới những chuyến
viếng thăm của lãnh đạo hai nước và việc trao đổi các đoàn công tác
“30 năm quan hệ ngoại giao Việt Nam - Nhật Bản”, Báo Quốc tế
(International Affairs Review 2003); “35 năm quan hệ ngoại giao Việt Nam -
Nhật Bản”, Tạp chí của Liên hiệp các tổ chức hữu nghị Việt Nam (2008)…
Trên lĩnh vực giáo dục, khoa học - kỹ thuật
“Hợp tác phát triển nguồn nhân lực giữa Việt Nam và Nhật Bản” của
tác giả Vũ Văn Hà; “Nâng cao hiệu quả hợp tác giáo dục và khoa học giữa
Việt Nam và Nhật Bản” của tác giả Đặng Minh Tuấn (2006)…
Những công trình, tác phẩm nghiên cứu về quan hệ giữa hai nước mới chỉ tập trung vào từng lĩnh vực cụ thể và tùy thuộc vào góc độ, mục đích nghiên cứu, tiền đề tiếp cận của từng tác giả mà mỗi công trình lại có cách
Trang 11phân tích và đánh giá khác nhau Những công trình nghiên cứu quan hệ Việt Nam - Nhật Bản được tìm hiểu với cái nhìn tổng thể, hệ thống và toàn diện trên tất cả các lĩnh vực cơ bản, hiện thực từ chính trị, kinh tế đến văn hóa, xã
hội thì có một vài công trình đáng kể như: “Quan hệ Nhật Bản - Việt Nam
1951 - 1987” của Masaya Shiraishi do Nguyễn Xuân Liên dịch năm 1994 chủ
yếu nói về những chính sách và nguồn viện trợ cho Việt Nam dưới góc nhìn
của học giả người Nhật “25 năm quan hệ Việt Nam - Nhật Bản 1973 - 1998”
của Nguyễn Xuân Bình - Dương Phú Hiệp - Trần Anh Phương (Đồng chủ
biên), 1999; “Quan hệ Việt Nam - Nhật Bản: Quá khứ, hiện tại và tương lai”, Trung tâm nghiên cứu Nhật Bản, Hà Nội, 2003; “Những bài học về quan hệ
Việt Nam - Nhật Bản” của Kimura Hiroshi - Furuta Motoo do Nguyễn Duy
Dũng chủ biên năm 2006… Những tác phẩm này phần nào đã khái quát được những nét cơ bản trong quan hệ ngoại giao giữa Việt Nam và Nhật Bản trên tất cả các lĩnh vực
Sau năm 1975, ở Việt Nam, các bài viết, bài nghiên cứu về các khía cạnh khác nhau trong quan hệ hai nước đã đa chiều hơn, phong phú hơn, góp phần lấp dần những khoảng trống trong việc nghiên cứu toàn diện quan hệ hai nước Có nhiều tác giả đã viết bài về quan hệ Việt - Nhật như Hà Hồng Hải,
Đỗ Đức Định, Nguyễn Ngọc Diên, Dương Phú Hiệp… Nhiều kỉ yếu hội thảo quan hệ Việt - Nhật tập hợp các bài viết của học giả hai nước đã được xuất
bản bằng tiếng Anh, điển hình là cuốn: “Vietnam and Japan”; cuốn “Asia -
Pacific and Vietnam - Japan Relations”…
Như vậy, đã có rất nhiều công trình viết về quan hệ giữa Việt Nam và Nhật Bản Song, các công trình chỉ dừng ở mức nghiên cứu trên một khía cạnh cụ thể về kinh tế hoặc văn hóa hoặc giáo dục… Để nghiên cứu trên cái nhìn tổng thể ở tất cả các lĩnh vực, phân tích những chủ trương của Đảng trong việc thực hiện ngoại giao với Nhật Bản từ năm 1976 đến năm 1985 thì chưa có công trình nào đề cập tới
Trang 12Trên cơ sở kế thừa những thành quả nghiên cứu mà các học giả trong
và ngoài nước đã đạt được, tôi tiếp tục thực hiện đề tài “Đảng lãnh đạo quan
hệ của Việt Nam với Nhật Bản từ năm 1976 đến năm 1985”
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
- Trình bày khách quan, toàn diện về chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng trong thực hiện quan hệ giữa Việt Nam và Nhật Bản từ năm 1976 đến năm 1985; đúc rút một số kinh nghiệm có giá trị tham khảo cho hiện tại
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Trình bày bối cảnh lịch sử, thuận lợi và khó khăn của ngoại giao Việt Nam, những chủ trương của Đảng về quan hệ Việt Nam - Nhật Bản từ năm
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
- Những chủ trương, biện pháp, giải pháp Đảng đề ra trong thực hiện quan hệ ngoại giao của Việt Nam với Nhật Bản và thực tiễn quan hệ hai nước những năm 1976 - 1985
4.2 Phạm vi nghiên cứu
- Nghiên cứu sự lãnh đạo của Đảng đối với thực hiện quan hệ ngoại giao với Nhật Bản chủ yếu trên các lĩnh vực chính trị - ngoại giao, kinh tế, viện trợ và trao đổi nghiên cứu từ năm 1976 (thời điểm Đảng CSVN tổ chức Đại hội lần thứ IV) đến 1985 (kết thúc các kế hoạch kinh tế - xã hội, tổng kết
Trang 13kết quả thực hiện đường lối, chiến lược đối ngoại do Đại hội Đảng lần thứ V
đề ra)
5 Nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu
5.1 Nguồn tài liệu
- Tài liệu đã công bố: Văn kiện Đảng toàn tập, Hồ Chí Minh toàn tập; các công trình khoa học, tạp chí, sách báo nghiên cứu về vấn đề ngoại giao và quan hệ với Nhật Bản; những Nghị quyết, chỉ thị, báo cáo của Trung ương Đảng về đối ngoại và quan hệ với Nhật Bản
- Tài liệu lưu trữ tại: Cục Lưu trữ Văn phòng Trung ương Đảng, Trung tâm lưu trữ Quốc gia III, Thư viện Quốc gia Hà Nội,Trung tâm nghiên cứu Nhật Bản
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, luận văn sử dụng một số phương pháp nghiên cứu chủ yếu là: phương pháp lịch sử, phương pháp logic và phương pháp nghiên cứu quốc tế Ngoài ra, luận văn còn kết hợp các phương pháp khác như phương pháp thống kê, phân tích, tổng hợp, so sánh… phù hợp với các nội dung nghiên cứu
6 Những đóng góp mới của luận văn
Về tư liệu: Luận văn sưu tầm và khai thác, giới thiệu nguồn tư liệu
phong phú, có giá trị về các chủ trương, chính sách và chỉ đạo thực hiện quan
hệ với Nhật Bản của Đảng
Về nội dung khoa học:
- Trình bày một cách có hệ thống, khách quan và tương đối toàn diện
và làm sáng tỏ quan điểm, chủ trương đối ngoại cũng như sự chỉ đạo của Đảng trong quan hệ Việt Nam - Nhật Bản từ năm 1976 đến năm 1985
- Rút ra một số kinh nghiệm chủ yếu phục vụ hiện tại dựa trên những đánh giá, nhận xét về thành tựu, những vấn đề còn tồn tại trong quá trình Đảng đề ra chủ trương và chỉ đạo thực hiện quan hệ với Nhật Bản những năm
1976 - 1985
Trang 14- Đề tài có thể sử dụng làm tài liệu nghiên cứu về quan hệ quốc tế, quan hệ Việt Nam - Nhật Bản, hoặc phục vụ công tác giảng dạy lịch sử và những môn học có liên quan
7 Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục, tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu làm 3 chương:
Chương 1 Chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng trong quan hệ với Nhật Bản từ năm 1976 đến năm 1981
Chương 2 Sự lãnh đạo của Đảng trong quan hệ với Nhật Bản từ năm
1982 đến năm 1985
Chương 3 Nhận xét và kinh nghiệm
Trang 15Chương 1 CHỦ TRƯƠNG VÀ SỰ CHỈ ĐẠO CỦA ĐẢNG TRONG QUAN HỆ CỦA VIỆT NAM VỚI NHẬT BẢN TỪ NĂM 1976 ĐẾN NĂM 1981 1.1.Những yếu tố tác động đến sự lãnh đạo của Đảng
1.1.1 Bối cảnh lịch sử thế giới và khu vực
Trong tiến trình lịch sử thế giới, trải qua suốt hàng nghìn năm từ nguyên thủy đến hiện đại, thế kỉ XX có thể được coi là một trong những giai đoạn có nhiều biến động gây ra ảnh hưởng mạnh mẽ đến sự phát triển của xã hội loài người nhất Chỉ trong vòng 100 năm, nhân loại đã chứng kiến hai cuộc chiến tranh thế giới với quy mô lớn chưa từng có, cướp đi sinh mạng của hàng chục triệu con người và gây ra những thiệt hại vật chất, tinh thần là gánh nặng của tất cả các quốc gia trong nhiều thập kỉ sau chiến tranh Thế kỉ XX cũng là thời
kì có sự phát triển vượt bậc của chủ nghĩa tư bản sang chủ nghĩa đế quốc, đặc biệt là sự lên ngôi của siêu cường Hoa Kì Vươn lên mạnh mẽ - trở thành đối trọng cân bằng với Hoa Kì và thế giới tư bản ở hai cực của trật tự thế giới mới
là Liên Xô và các nước XHCN, kéo theo đó là sự bùng nổ phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc trên khắp các châu lục Nhìn chung, thập niên 70 đến đầu thập niên 80 (XX), thế giới có những đặc điểm chính sau:
Thứ nhất, sự suy yếu bước đầu của trật tự thế giới hai cực Ianta kéo theo sự ấm lên trong quan hệ quốc tế đặc biệt là quan hệ giữa Liên Xô và Hoa Kì
Giữa những năm 50 (XX), hai cực Ianta đứng đầu là Hoa Kì và Liên
Xô đã bắt đầu có những chuyển biến tích cực làm ấm dần mối quan hệ đóng băng hơn một thập kỉ kể từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai Tuy nhiên trên thực tế, xuất phát từ những lợi ích khác nhau, chính sách đối ngoại của các nước lớn vẫn làm cho tình hình thế giới tiếp tục căng thẳng Những cuộc xung đột quân sự mà hai cực Xô - Mĩ làm hậu thuẫn cho mỗi bên tham chiến tiếp tục lan rộng ở nhiều nơi trên thế giới, điển hình là cuộc chiến tranh Đông
Trang 16Dương, nội chiến Apganixtan, Ănggôla, chiến tranh Trung Đông, chiến tranh Triều Tiên… Mặc dù vậy, bên cạnh những diễn biến chính của chiến tranh lạnh đã diễn ra những cuộc thương lượng, nhân nhượng giữa hai cực Xô - Mĩ trong việc giải quyết một số vấn đề trong quan hệ quốc tế, điển hình là vấn đề Đức và vấn đề đàm phán hạn chế vũ khí chiến lược
Vấn đề Đức vẫn là vấn đề trung tâm trong quan hệ quốc tế Từ năm
1970 hai nước Liên Xô và Hoa Kì đã bắt đầu thương lượng để giải quyết điều này Ngày 9/11/1972, trên cơ sở những nguyên tắc đã được thoả thuận giữa Hoa Kì và Liên Xô trong Hiệp định Bon ( tháng 9 năm 1971), hai nước Cộng hoà Dân chủ Đức và Cộng hoà Liên bang Đức đã kí kết Hiệp định về cơ sở quan hệ giữa Đông Đức và Tây Đức Theo hiệp định này, hai bên phải tôn trọng không điều kiện chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của nhau và thiết lập quan hệ láng giềng thân thiện, bình thường với nhau trên cơ sở bình đẳng Tháng 9 năm 1973, cả hai nước Đức đều gia nhập Liên Hợp Quốc Việc giải quyết vấn đề Đức là một biểu hiện rất rõ nét cho xu thế hoà dịu trong quan hệ Đông - Tây thập niên 70 (XX)
Hạn chế vũ khí chiến lược là vấn đề được cả thế giới quan tâm và một trong những vấn đề trung tâm trong quan hệ Xô - Mĩ Cuộc chạy đua vũ trang trong chiến tranh lạnh đã khiến cho cả hai nước Liên Xô và Hoa Kì gặp phải không ít khó khăn để duy trì thế cân bằng chiến lược Những khoản chi phí quân sự khổng lồ đã khiến hai nước mất dần ưu thế cạnh tranh về kinh tế với các nước khác Những nhân tố đó đã thúc đẩy xu hướng giảm bớt chạy đua vũ trang và hoà dịu trong quan hệ Xô - Mĩ Quá trình đàm phán hạn chế vũ khí chiến lược giữa Liên Xô và Hoa Kì được tiến hành liên tục trong hơn 20 năm điều đó đã phản ánh tương quan lực lượng và cuộc đấu tranh giữa hai cực Xô
- Mĩ trong quan hệ quốc tế Tuy còn nhiều bất đồng nhưng cả hai nước đã từng bước nhượng bộ lẫn nhau, không làm cho tình hình căng thẳng hơn và dần đi đến sự kết thúc tình trạng đối đầu kéo dài, gây tổn thất nặng nề cho cả hai bên
Trang 17Cùng với những thay đổi trong quan hệ Xô - Mĩ, từ cuối thập niên 60, đầu thập niên 70 (XX) đã diễn ra những chuyển biến trong quan hệ giữa Tây
Âu với Liên Xô và Đông Âu Hai nước lớn ở Tây Âu là Pháp và Cộng hoà Liên bang Đức đã bắt đầu thực hiện chính sách đối thoại, hoà hoãn với Liên
Xô và các nước Đông Âu Ngày 1 tháng 8 năm 1975, 33 nước châu Âu cùng
Mĩ và Canađa đã kí kết Định ước An ninh và hợp tác châu Âu tại Henxinki (Phần Lan) Định ước xác nhận quyền bình đẳng của các quốc gia, không dùng vũ lực, không xâm lấn lãnh thổ, giải quyết hoà bình các cuộc xung đột, không can thiệp vào nội bộ của nhau, tôn trọng nhân quyền, hợp tác trên cơ sở nhu cầu chính đáng của các dân tộc Năm 1977, tại Bêôgrát (Nam Tư), các nước tiếp tục thương lượng về vấn đề hợp tác an ninh, đồng thời đưa ra những hình thức phù hợp để thực hiện Định ước Henxinki Quan hệ kinh tế - thương mại giữa Tây Âu với Liên Xô và Đông Âu tăng lên nhanh chóng trong thập niên 80 (XX)
Thứ hai, sự thích ứng mạnh mẽ của các cường quốc tư bản trước biến động kinh tế - tài chính, đưa chủ nghĩa tư bản phát triển sang giai đoạn mới
Sau chiến tranh thế giới thứ II, các nước tư bản lớn trên toàn thế giới trừ Hoa Kì đều bị tàn phá nặng nề Châu Âu là trung tâm của mặt trận chống phát xít và hứng chịu những ảnh hưởng nặng nề nhất Từ vị trí là những quốc gia tư bản có tiềm lực mạnh nhất cả về kinh tế và quân sự, sau chiến tranh, Pháp, Đức, Anh, Italia…đều kiệt quệ khó gượng dậy Tại châu Á, Nhật Bản - một trong ba nước phát xít bại trận, hơn thế lại gánh chịu hậu quả từ hai quả bom nguyên tử ném xuống Hirosima và Nagasaki Hoàn cảnh đó đã tác động mạnh mẽ và các nước tư bản châu Âu và Nhật Bản nhanh chóng gượng dậy,
nỗ lực vươn lên để thoát khỏi khủng hoảng
Từ sau Chiến tranh thế giới thứ II đến những năm cuối thập niên 60 đầu thập niên 70 (XX), các quốc gia đã từng bước khắc phục hậu quả chiến tranh
và đưa ra những đường lối phát triển phù hợp để hồi sinh nền kinh tế Kết quả
Trang 18là đến đầu những năm 70 (XX), Tây Âu tuy không còn chiếm vị thế độc tôn như trước nhưng đã hoàn toàn thoát khỏi hậu quả thế chiến, quay trở lại đường đua kinh tế thế giới và trở thành một trong ba trung tâm kinh tế tài chính lớn nhất thế giới Riêng với sự hồi phục và vươn lên của Nhật Bản, đầu thập niên 70 (XX), quốc gia này đã đi vào lịch sử thế giới với tên gọi “thần kì Nhật Bản” Những chính sách hết sức phù hợp của chính quyền cùng với lòng quyết tâm của người dân đã biến Nhật Bản từ một đất nước kiệt quệ hoàn toàn trong chiến tranh tưởng chừng không gượng dậy nổi vươn lên trở thành trung tâm kinh tế - tài chính hàng đầu của thế giới, cạnh tranh trực tiếp và gay gắt với Hoa Kì, Tây Âu…
Tuy nhiên, mặc dù khôi phục và phát triển mạnh mẽ nhưng kinh tế của các nước tư bản cũng bộc lộ những hạn chế và nhược điểm là: Sự phân hoá giàu và nghèo, mâu thuẫn xã hội gay gắt dẫn tới những cuộc đấu tranh của công nhân và nhân dân lao động Các nước tư bản phải chi phí nhiều sức người, sức của cho cuộc chạy đua vũ tranh và chiến tranh xâm lược Sự cạnh tranh không ổn định giữa các nước tư bản với nhau dẫn đến việc thường xuyên xảy ra các cuộc suy thoái kinh tế - nổi bật nhất chính là đại khủng hoảng dầu mỏ 1973 - 1975
Năm 1973, cuộc khủng hoảng năng lượng thế giới bùng nổ, trước hết là dầu mỏ, đánh mạnh vào nền kinh tế của đa số các nước tư bản, đặc biệt Tây
Âu và Nhật Bản Hậu quả của cuộc khủng hoảng này là tốc độ phát triển của các nước tư bản liên tục giảm, là nguyên nhân tạo nên những chuyển biến chính trị lớn Trong bối cảnh đó, giới cầm quyền các nước tư bản đã tìm kiếm những hình thức thích nghi mới để thoát khỏi khủng hoảng: cải tổ cơ chế nền kinh tế, áp dụng những thành tựu của cuộc cách mạng khoa học - kĩ thuật vào sản xuất kinh doanh, giảm bớt sự phụ thuộc vào nhiên liệu dầu mỏ… Nhờ đó, từng bước vượt qua được cuộc khủng hoảng rồi sau đó tiếp tục phát triển Tốc
độ phát triển trung bình của các nước Tây Âu từ những năm 80 (XX) được
Trang 19phục hồi: Những năm 1983 - 1987 là 25%/năm; 1988 - 1989 là 3,6%; bước vào những năm 90 (XX) vẫn giữ tỉ lệ 2,4% (cao hơn Mỹ 1,7%) Mỹ vẫn đứng hàng đầu các nước tư bản song về thu nhập quốc dân theo đầu người lại kém một số nước như Thụy Sĩ, Nhật, Na Uy, Phần Lan Về sản xuất công nghiệp, Nhật đứng đầu thế giới về công nghiệp đóng tàu, luyện thép, ôtô, tivi, điện máy, chất bán dẫn, Nhật Bản trở thành một siêu cường tài chính số một của thế giới
Như vậy, thập niên 70 (XX), các nước tư bản Tây Âu và Nhật Bản sau quá trình khôi phục kinh tế, đứng trước đại khủng hoảng kinh tế thế giới đã không ngừng nỗ lực vượt qua, cải tổ và vươn lên để bảo vệ và nâng cao sức mạnh kinh tế của mình, gián tiếp nâng cao nội lực quốc gia - góp phần không nhỏ vào việc hình thành dần trật tự thế giới đa cực, làm suy yếu và sụp đổ dần dần trật tự thế giới hai cực Xô - Mĩ (Ianta)
Thứ ba, sự vươn lên mạnh mẽ và giành thắng lợi của phong trào giải phóng dân tộc thế giới và sự trỗi dậy của các nước công nghiệp mới
Phong trào giải phóng dân tộc phát triển mạnh mẽ trên thế giới, ở cả 3 châu lục Á - Phi - Mĩ Latinh, với sự ra đời của rất nhiều những quốc gia độc lập kéo theo sự sụp đổ của hệ thống thuộc địa của chủ nghĩa đế quốc, thực dân Ở châu Mĩ Latinh tiêu biểu là phong trào đấu tranh của nhân dân Cuba, Venezuela…, ở châu Phi là Nam Phi, Angola…ở châu Á là Đông Dương, Nam Á…
Ở Đông Nam Á, cuộc chiến tranh Đông Dương lần thứ hai (1954 -
1975), đặc biệt là cuộc chiến tranh Việt Nam thể hiện tập trung nhất những đặc điểm của cuộc đụng đầu lịch sử giữa hai phe XHCN và TBCN trong chiến tranh lạnh Khác với chiến tranh Triều Tiên, chiến tranh Việt Nam kéo dài gần
21 năm và được coi là cuộc chiến tranh cục bộ lớn nhất giữa hai phe Mĩ đã chi phí trực tiếp cho cuộc chiến ở Việt Nam khoảng 676 tỉ đôla (so với 341 tỉ đôla trong Thế chiến II và 54 tỉ đôla trong chiến tranh Triều Tiên), nếu tính cả chi
Trang 20phí gián tiếp là 920 tỉ đôla Trong cuộc đọ sức lâu dài, gian khổ và quyết liệt này, thắng lợi cuối cùng đã thuộc về nhân dân Việt Nam năm 1975, với sự ủng
hộ, giúp đỡ to lớn của Liên Xô, Trung Quốc, các nước XHCN, phong trào giải phóng dân tộc và các lực lượng hoà bình, dân chủ trên thế giới
Bên cạnh đó, nhân loại cũng chứng kiến sự vươn lên mạnh mẽ của khối các nước công nghiệp mới NIC đứng đầu là 4 con hổ châu Á: Hồng Kông (khi đó còn là thuộc địa của Anh), Hàn Quốc, Singapore và Đài Loan, mở đường cho một loạt các nước vốn bị coi là nhược tiểu trước kia tiến bước vào quá trình công nghiệp hóa và khẳng định vị thế của mình mạnh mẽ
Thứ tư, sự bành trướng quyền lực của Trung Quốc và sự thay đổi cán cân quyền lực ở khu vực Đông Nam Á
Ngay từ giữa những năm 1960, những người lãnh đạo Trung Quốc đã mưu tính nắm trọn vấn đề Campuchia, trước mắt nhằm phá hoại Mặt trận đoàn kết nhân dân các nước ở Đông Dương, làm yếu cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam, có thế đàm phán với Mỹ và lâu dài nhằm bắt Campuchia
lệ thuộc và trở thành một bàn đạp của Trung Quốc để bành trướng xuống Đông Dương và Đông Nam châu Á Sau ngày 17 tháng 4 năm 1975, nước Campuchia hoàn toàn thoát khỏi ách thống trị của bè lũ Lon Non tay sai của
Mỹ, họ dùng bọn tay sai Pôn Pốt Iêng Xary chiếm quyền lãnh đạo Đảng cộng sản Campuchia, gạt quốc trưởng Xihanúc và những người thân cận để xây dựng lên một chế độ phát xít diệt chủng có một không hai trong lịch sử loài người và thông qua chế độ đó hoàn toàn kiểm soát nước Campuchia, biến Campuchia thành một nước chư hầu kiểu mới và căn cứ quân sự của họ để tiến đánh Việt Nam từ phía tây nam Họ đã đổ tiền, vũ khí và dụng cụ chiến tranh các loại và đưa hàng vạn cố vấn Trung Quốc vào Campuchia để thành lập hàng chục sư đoàn mới gồm đủ bộ binh, thiết giáp, pháo binh, xây dựng them hoặc mở rộng nhiều căn cứ hải quân, không quân, hệ thống kho hậu cần
Trang 21Dưới sự đạo diễn của Bắc Kinh, tập đoàn cầm quyền phản động Phnôm Pênh tiến hành liên tục một chiến dịch tuyên truyền rộng khắp vu khống Việt Nam “xâm lược Campuchia”, “âm mưu ép Campuchia vào Liên bang Đông Dương do Việt Nam khống chế”, ráo riết hô hào chiến tranh chống Việt Nam Chúng đã phá hoại cuộc đàm phán giữa hai nước nhằm giải quyết vấn đề biên giới để có cớ duy trì một tình hình ngày càng căng thẳng ở vùng biên giới Việt Nam - Campuchia Cuộc chiến tranh biên giới Việt - Trung vào tháng 2 năm 1979 là kết quả của âm mưu bành trướng đó
Thế giới những năm 70 của thế kỷ XX với những biến động to lớn,
xu thế hòa hoãn của 2 cực Ianta, phong trào giải phóng dân tộc phát triển mạnh mẽ và đạt đươc những thắng lợi nhất định, sự phát triển của khoa học kĩ thuật cũng như sự phát triển của kinh tế thế giới đã làm những bước đệm to lớn tác động đến Việt Nam Sau Đại thắng mùa Xuân năm 1975, bên cạnh những thuận lợi, Viê ̣t Nam cũng vấp phải vô vàn những khó khăn trong quá trình phát triển đất nước Đặc biệt với chủ nghĩa bành trướng đại dân tộc và
bá quyền nước lớn của tập đoàn phản động trong giới cầm quyền Bắc Kinh đã tác động không nhỏ đối với cách mạng Việt Nam Tình hình đó, yêu cầu đặt
ra là Đảng và Nhà nước phải có những chính sách và biện pháp phù hợp để lãnh đạo đất nước phát triển; đặc biệt là đường lối đối ngoại phải phù hợp và linh hoạt Việc thiết lập, duy trì và phát triển quan hệ ngoại giao với Nhật Bản
- cường quốc trên thế giới, là một trong ba trung tâm kinh tế của thế giới là yêu cầu được đặt ra đối với Đảng CSVN
1.1.2 Tình hình Nhật Bản và Việt Nam trước năm 1976
1.1.2.1 Tình hình Nhật Bản và Đảng Cộng sản Nhật Bản
Trong Chiến tranh thế giới lần thứ hai, Nhật ở phe trục cùng Đức, Ý chống lại đồng minh Tháng 8 năm 1945, Nhật Bản đầu hàng đồng minh vô điều kiện và bị đặt dưới sự chiếm đóng của Mỹ Ngày 8 tháng 9 năm 1951,
Trang 22Mỹ cùng 47 nước chịu ảnh hưởng của Mỹ đã kí Hòa ước với Nhật (hệ thống Hòa ước Sfrancisco) và liền sau đó Hiệp ước an ninh Nhật - Mỹ ra đời
Chiến tranh thế giới lần thứ hai đã tàn phá nặng nề kinh tế Nhật Bản: 34% máy móc, 29% công trình xây dựng, 80% tàu biển, chỉ số sản xuất công nghiệp năm 1946 chỉ còn 30.7% (so với 100% của thời kì 1934 - 1936), địa vị kinh tế của Nhật tụt xuống sau nhiều nước
Năm 1952, Nhật khôi phục kinh tế ngang với trước chiến tranh và sau
đó liên tục phát triển với tốc độ cao và dần vươn lên hàng thứ 2 thế giới sau
Mỹ Tổng sản phẩm quốc dân tính theo đầu người năm 1982 của Nhật là 10.080 USD (về danh nghĩa) Từ năm 1973, Nhật chiếm hơn 10% sản lượng công nghiệp của các nước tư bản Sản lượng thép năm 1973 đạt mức cao nhất
là 120 triệu tấn, điện lực đứng thứ 3 sau Mỹ và Liên Xô với 583 tỷ 204 triệu kw/h năm 1981…
Nhật tự túc được 49% nhu cầu về những nông sản chủ yếu Giao thông vận tải phát triển, đặc biệt là hàng hải; ngoại thương phát triển nhanh giữ vị trí
“mậu dịch lập quốc”
Nhật Bản xây dựng những đại xí nghiệp tập trung cao độ, đồng thời vẫn duy trì những xí nghiệp vừa và nhỏ với 6 tập đoàn tư bản lớn Mitsubishi, Mitsui, Sumitomo, 3 tập đoàn khác là Fuyo, Sanwa và Dai-ichi Kangin Sáu tập đoàn trên chiếm 34% tài sản của xã hội
Kinh tế Nhật có nhược điểm chủ yếu là thiếu những nguyên liệu quan trọng nên bị phụ thuộc hoàn toàn vào nhập khẩu… Để giữ vững được nguồn cung ứng dầu lửa, sau cuộc khủng hoảng dầu lửa năm 1973, Nhật áp dụng chính sách kinh tế đối ngoại đa phương, tăng gấp đôi viện trợ hợp tác cho những nước đang phát triển
Sau Chiến tranh thế giới thứ hai, chính sách đối ngoại của Nhật Bản được bắt đầu với Học thuyết Yoshida Theo đó, Nhật Bản dựa hoàn toàn vào
Trang 23Hiệp ước an ninh Nhật - Mỹ để phòng thủ đất nước và tập trung sức phát triển kinh tế
Đầu thập kỷ 70 (XX), tình hình quốc tế có những thay đổi nhanh chóng
và mạnh mẽ vừa tạo điều kiện vừa thúc đẩy Nhật Bản đóng một vai trò quốc
tế quan trọng hơn Trong bối cảnh đó, Nhật Bản chủ trương giữ đường lối hòa bình, không tạo quan hệ thù địch với bất cứ nước nào, không trở thành cường quốc quân sự, đóng góp cho sự ổn định trong quan hệ quốc tế, lấy quan hệ hợp tác hữu nghị Nhật - Mỹ làm nòng cốt Luôn sẵn sàng tinh thần nhìn thẳng vào thực tế tình hình quốc tế, cảnh giác, chuẩn bị đối phó nếu cần kiên trì thể chế Hiệp ước an ninh Nhật - Mỹ, xây dựng lực lượng phòng thủ cần thiết Nhật Bản phải có sự đóng góp tương xứng với khả năng; góp phần tích cực vào những cố gắng quốc tế nhằm thúc đẩy việc giải quyết hòa bình những cuộc đối chọi và tranh chấp
Việc duy trì và phát triển quan hệ hữu nghị với Mỹ trở thành vấn đề cơ bản của ngoại giao Nhật Bản Hai nước đang xây dựng quan hệ hợp tác mật thiết trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, bảo đảm an ninh, khoa học - kỹ thuật Đặc biệt, Nhật coi quan hệ hữu nghị và hợp tác với Mỹ dựa trên Hiệp ước an ninh Nhật - Mỹ là hòn đá tảng của chính sách đối ngoại của Nhật Tuy nhiên, một mặt Nhật Bản vẫn dựa vào Mỹ, mặt khác lợi dụng thế suy yếu của Mỹ
tìm cách giam cầm sự phụ thuộc Mỹ và tăng cường vị trí quốc tế của mình
Thực hiện đường lối ngoại giao hòa bình, Nhật Bản tăng cường hợp tác với Nam Triều Tiên, Liên Xô, Đông Âu, Tây Âu và Trung Quốc Việc duy trì
và phát triển quan hệ với Trung Quốc và Liên Xô, cố gắng đảm bảo quan hệ với hai nước này là vấn đề quan trọng liên quan đến hòa bình và an ninh của Nhật Bản Đồng thời, Nhật còn phát triển quan hệ với các nước XHCN nhằm
mở rộng thị trường xuất khẩu, giải quyết một số khó khăn trong nước, giảm bớt sức ép của Mỹ
Trang 24Nhật coi ASEAN là vùng chiến lược có tầm quan trọng sống còn đối với Nhật về thị trường buôn bán, cung cấp nguyên liệu, đầu tư cũng như về an ninh Nhật giành ưu tiên số một cho quan hệ với khối ASEAN, coi đó là lực lượng quan hệ có thể góp phần ổn định tình hình khu vực này - chính sách chung của Nhật đối với khu vực này vẫn là cấu kết với Mỹ, giúp đỡ các chính quyền phản động của các nước để ngăn chặn sự phát triển của cách mạng, đồng thời tranh thủ đẩy mạnh bành trướng kinh tế thông qua các biện pháp thương mại, viện trợ kinh tế và đầu tư Nhật ủng hộ sự cố gắng của 5 nước ASEAN và Miến Điện tăng cường cơ sở chính trị, kinh tế xã hội của mỗi nước, cố gắng hơn nữa hợp tác kinh tế kỹ thuật, cố gắng thông qua các cuộc đối thoại và trao đổi rộng rãi để xây dựng quan hệ tin cậy lẫn nhau ổn định
Với chính sách ngoại giao khôn khéo, có tính toán kỹ, Nhật đang cố gắng để từng bước khẳng định vị trí của mình trên trường quốc tế Nhật tăng cường củng cố quan hệ với Mỹ và đặc biệt là với các nước Đông Nam Á Đối với Liên Xô, Trung Quốc, Nhật Bản thi hành chính sách cân bằng, ra sức lợi dụng mâu thuẫn Xô - Trung làm đòn bẩy, có lợi cho Nhật
Những năm 70 của thế kỉ XX, tại Nhật Bản tồn tại 6 Đảng phái chính trị Trong đó Đảng Tự do Dân chủ nắm giữ vai trò lãnh đạo và có ảnh hưởng
lớn nhất Còn Đảng Cộng sản Nhật Bản có uy tín lớn trong các tổ chức dân
chủ khác, các tầng lớp trí thức, các nhà khoa học, công nhân ở các xí nghiệp vừa và nhỏ có ảnh hưởng nhất định trong một số đoàn ngành dọc như giáo viên, đường sắt quốc doanh… Đảng Cộng sản Nhật Bản trở thành một lực lượng quan trọng trong đời sống chính trị nước Nhật
Đảng Cộng sản Nhật Bản ủng hộ các dân tộc đấu tranh giải phóng, lên
án chính sách bành trướng bá quyền nước lớn, chủ trương lập mặt trận nhân dân thế giới ủng hộ Việt Nam, chống Mỹ xâm lược… Đảng Cộng sản Nhật Bản chủ trương không tham gia bất cứ một hội nghị thế giới hoặc khu vực, không phê phán bất cứ một Đảng nào tại các hội nghị quốc tế hoặc khu vực,
Trang 25không cùng với nước thứ hai lên án nước thứ ba hoặc một Đảng thứ ba trong văn kiện có ý nghĩa quốc tế như trong các tuyên bố chung, thông cáo chung hoặc văn kiện chung…
Đảng Cộng sản Nhật Bản phản đối tất cả các cuộc thí nghiệm nguyên
tử, đòi triệt phá, cấm chỉ hoàn toàn và triệt để việc tàng trữ và sản xuất vũ khí hạt nhân, đòi giải trừ quân bị toàn diện và triệt để, không tán thành giải trừ quân bị từng phần, phản đối tất cả các khối liên minh quân sự, phê phán đối với chính sách hòa hoãn Xô - Mỹ, lên án Liên Xô đưa quân vào Tiệp Khắc và Apganixtan, không đồng tình việc Cuba đưa quân sang Angola và Etiopia…
Đảng Cộng sản Nhật Bản đề ra nguyên tắc chỉ đạo các quan hệ quốc tế là: “Độc lập, tự chủ, bình đẳng, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, thì dù có bất đồng vẫn đoàn kết quốc tế” [139]
Mặc dù có bất đồng cơ bản về những vấn đề quốc tế quan trọng với Liên Xô và một số nước XHCN khác, nhưng để nâng cao uy tín và ảnh hưởng quốc tế của mình, Đảng Cộng sản Nhật Bản một mặt tiếp tục tăng cường quan
hệ với các nước XHCN, trong đó đặc biệt chú ý thắt chặt quan hệ với Việt Nam, các nước Đông Dương, Rumani và Nam Tư (Đảng Cộng sản Nhật Bản coi Nam Tư là một nước XHCN), coi trọng quan hệ với Liên Xô, cố duy trì quan hệ với Triều Tiên, không quan hệ với Trung Quốc và Anbani Mặt khác,
mở rộng quan hệ khăng khít với Tây Ban Nha, Ytalia, tranh thủ quan hệ với Pháp, Úc, Anh và Mêhicô Đồng thời ra sức tăng cường quan hệ và tiếp xúc với các tổ chức giải phóng ở Trung Đông như PLO, châu Phi và Mỹ Latinh, với các đoàn thể dân chủ và một số chính phủ ở các nước không liên kết và một số tổ chức dân chủ quốc tế khác Đảng Cộng sản Nhật Bản có đại diện thường trú tại Việt Nam, Lào, Rumani và có phóng viên báo AKAHATA thường trú tại Việt Nam, Lào, Rimani, BécLin, Pháp, Nam Tư, Ba Lan, Mátxcơva…
Trang 26Đảng Cộng sản Nhật Bản giành sự quan tâm đặc biệt đối với Việt Nam, cho rằng, ủng hộ nhân dân Việt Nam, Lào và Campuchia chống Mỹ xâm lược, trước hết là vì lợi ích của cách mạng Nhật Bản, vì qua phát động phong trào quần chúng ủng hộ Việt Nam và nhân dân các nước Đông Dương mà Đảng đã tập hợp được lực lượng quần chúng, xây dựng Đảng lớn mạnh, uy tín
và ảnh hưởng của Đảng ở trong và ngoài nước ngày càng cao…
Đứng trước sự liên minh của Trung Quốc với Mỹ, Nhật Bản, các nước ASEAN và Tây Âu bao vây kinh tế và chính trị chống Việt Nam và các nước Đông Dương, Đảng Cộng sản Nhật Bản khẳng định “Đông Dương lại trở thành tiêu điểm của cuộc đọ sức quốc tế” [139]
1.1.2.2 Tình hình Việt Nam
Với Đại thắng mùa Xuân 1975, cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của nhân dân Việt Nam đã kết thúc thắng lợi Đây là một trong những chiến thắng lịch sử oanh liệt, lẫy lừng nhất của dân tộc Việt Nam Việt Nam đã đánh bại Mỹ - một đế quốc có thế lực kinh tế, quân sự hùng mạnh bậc nhất thế giới Một kỷ nguyên phát triển rực rỡ được mở ra: kỷ nguyên cả nước độc
lập, thống nhất cùng đi lên CNXH
Tuy nhiên, công cuộc xây dựng CNXH là một nhiệm vụ khó khăn và phải tiến hành trong điều kiện đất nước vừa trải qua những năm tháng chiến tranh liên miên nên càng nặng nề, gian nan
Nhân dân miền Bắc vừa xây dựng CNXH vừa làm nhiệm vụ của hậu phương lớn vừa phải trực tiếp chống lại hai cuộc chiến tranh phá hoại của
đế quốc Mỹ nên quá trình tiến lên sản xuất lớn bị chậm lại Vì thế, kinh tế
miền Bắc chủ yếu vẫn là sản xuất nhỏ, nông nghiệp lạc hậu, cơ chế quản lý vốn nặng về tập trung quan liêu bao cấp, lại bị chi phối thêm bởi quy luật chiến tranh nên càng bị méo mó, phi kinh tế Sau năm 1975, chiến tranh kết thúc, cơ chế quản lý kinh tế bộc lộ rõ hơn những bất cập Quan hệ sản xuất có
Trang 27dấu hiệu của sự khủng hoảng Do vậy, việc chấn chỉnh lại cơ chế quản lý kinh
tế cho phù hợp với quy luật vận động là một vấn đề khó khăn.Về mặt xã hội, chiến tranh đã làm xáo trộn và gây tổn thất lớn cho lực lượng lao động, để lại hậu quả nặng nề và kéo dài
Đối với miền Nam, yếu tố tư bản chủ nghĩa đã xâm nhập mạnh vào các ngành công nghiệp, thương nghiệp, tài chính ngân hàng và bước đầu trong nông nghiệp Trong chừng mực nhất định, kinh tế ở các vùng bị tạm chiếm đã phát triển theo hướng TBCN
Tuy nhiên, kinh tế miền Nam chủ yếu vẫn là sản xuất nhỏ, cơ cấu mất cân đối và lệ thuộc vào viện trợ bên ngoài Vì vậy, khi Mỹ rút quân, cắt giảm viện trợ, nền kinh tế miền Nam lập tức rơi vào khủng hoảng Nhiệm vụ khôi phục và phát triển một nền kinh tế vốn mang tính lệ thuộc cao trở nên khó khăn Đó là chưa kể đến khó khăn ở những vùng bị tàn phá bởi chiến tranh, bị hủy diệt bởi chất độc hóa học Sau giải phóng, miền Nam còn có sự phức tạp
về mặt xã hội Chiến tranh và quá trình cưỡng bức đô thị hóa của Mỹ đã gây xáo trộn trong phân bố lực lượng lao động: nông thôn nông nghiệp thiếu lao động, các vùng đô thị, mật độ dân số quá đông, không tương xứng với sự phát triển về kinh tế
Sau chiến tranh, nhân dân lao động nhanh chóng bắt tay vào xây dựng chế độ mới, nhưng một bộ phận, đặc biệt là những người đã từng tham gia bộ máy quân sự và chính trị của chính quyền Sài Gòn tỏ ra lo ngại, thậm chí có người lợi dụng Nhà nước gặp khó khăn để kích động, lôi kéo quần chúng, móc nối với các thế lực phản động bên ngoài, gây rối loạn trong nước
Trong khi đó, ý nguyện của người dân không chỉ là sự thống nhất về lãnh thổ mà là sự thống nhất trọn vẹn trên tất cả các mặt Mặt khác, công cuộc xây dựng CNXH trên phạm vi cả nước chỉ có thể được tiến hành có hiệu quả khi đất nước đã thống nhất về mặt Nhà nước Đây là cơ sở pháp lý để Việt
Trang 28Nam thống nhất về các mặt kinh tế - xã hội, là công cụ đắc lực để tổ chức thực hiện nhiệm vụ xây dựng CNXH trên cả hai miền đất nước
Để chuẩn bị cho công việc trọng đại đó, từ tháng 2 - 1976, công tác tuyên truyền, vận động nhân dân tiến tới cuộc Tổng tuyển cử được triển khai
ở tất cả các địa phương
Ngày 25 4.1976, nhân dân khắp hai miền Bắc - Nam tham gia Tổng tuyển cử bầu Quốc hội Đây là lần thứ hai cuộc Tổng tuyển cử được tổ chức trên phạm vi cả nước, sau lần đầu tổ chức từ ngày 6.1.1946 Hơn 23 triệu cử tri (98,8% tổng số cử tri) đi bầu và đã bầu ra 492 đại biểu Kết quả của Tổng tuyển cử là một thắng lợi có ý nghĩa quyết định trên con đường tiến tới hoàn thành thống nhất đất nước về mặt Nhà nước
Ngày 24.6.1976, Quốc hội của nước Việt Nam thống nhất, được gọi
là Quốc hội khóa VI với ý nghĩa kế tục sự nghiệp của 5 khóa Quốc hội trước, họp kỳ đầu tiên tại Hà Nội
Quốc hội quyết định đặt tên nước Việt Nam thống nhất là Cộng hòa
xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thông qua chính sách đối nội, đối ngoại, bầu cử
các cơ quan, chức vụ lãnh đạo cao nhất của Nhà nước, quy định các nguyên
tắc xây dựng bộ máy chính quyền các cấp, quy định quốc kỳ, quốc ca, bầu Ủy ban dự thảo Hiến pháp
Với kết quả của kỳ họp thứ nhất Quốc hội khóa VI, công việc thống nhất đất nước về mặt Nhà nước đã hoàn thành, đáp ứng nguyện vọng của quần chúng nhân dân, đáp ứng yêu cầu tất yếu khách quan của sự phát triển cách mạng Việt Nam, tạo nên những điều kiện chính trị cơ bản để phát huy sức mạnh toàn diện của đất nước, tập trung cho công cuộc xây dựng và bảo vệ
Tổ quốc thống nhất, mở ra khả năng to lớn để phát triển quan hệ với các nước trên thế giới
Trang 29Trước những thuận lợi và khó khăn của đất nước, Đảng CSVN đã có những chủ trương, chính sách ngoại giao kịp thời để tranh thủ sự ủng hộ của các nước trên thế giới để xây dựng và phát triển đất nước, trong đó có Nhật Bản
1.1.3 Quan hệ Việt Nam - Nhật Bản trước năm 1976
Việt Nam và Nhật Bản là hai nước có quan hệ kinh tế, văn hóa lâu đời,
có nhiều điểm tương đồng về truyền thống văn hóa Á Đông Trong lịch sử, quan hệ hai nước đã trải qua nhiều biến động thăng trầm, tuy nhiên quan hệ
đó chưa bao giờ bị gián đoạn hoàn toàn
Những năm Chiến tranh thế giới thứ hai, phát xít Nhật đã xâm lược Việt Nam, đây là giai đoạn đen tối nhất trong lịch sử quan hệ Việt Nam - Nhật Bản Những năm chiếm đóng tại Việt Nam, chính quyền phát xít Nhật thực hiện chính sách truyền bá văn hóa Nhật Bản Tại Hà Nội, Sài Gòn và tại các
đô thị lớn, cái khái niệm “võ sỹ đạo”, “nghệ thuật cắm hoa” hình thành ở Việt Nam Các báo Đông Dương tạp chí, Tạp chí Tây Á được tài trợ và xuất hiện nhiều hơn Bằng việc làm như vậy, bên cạnh những kết quả tuyên truyền có tính nô dịch, Nhật Bản cũng đã hiện diện tại Việt Nam ở một mức độ nhất định Đã có một số thanh niên Việt Nam được đưa sang Nhật để du học Ngược lại cũng có một số thanh niên Nhật Bản được đưa sang học tiếng Việt tại Việt Nam Việc giao lưu, học tập này là để phục vụ mục đích thống trị lâu dài của chính quyền quân phiệt Nhật Bản ở Việt Nam và Đông Dương nói chung Đến tháng Tám năm 1945, phát xít Nhật đã bị bại trận phải tuyên bố đầu hàng quân Đồng minh vô điều kiện Tại Việt Nam, cuộc Cách mạng tháng Tám thành công đã dẫn đến tới sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, chính quyền về tay nhân dân lao động Nhiều trí thức Việt Nam - sản phẩm của quá trình đào tạo giai đoạn Nhật chiếm đóng đã trở thành những người có cống hiến to lớn cho sự nghiệp khôi phục và xây dựng kinh tế, văn hóa của đất nước, đóng góp rất tích cực cho việc phát triển tình hữu nghị giữa
Trang 30hai dân tộc trong thời kì sau đó như Tiến sỹ Lương Đình Của, Bác sỹ Đặng Văn Ngữ, Tiến sỹ Nguyễn Xuân Oánh…
Năm 1945 đã khép lại một giai đoạn đen tối nhất trong quan hệ giữa hai nước để bước vào một thời kỳ mới với những giai đoạn phát triển quan hệ giữa hai nước mang những đặc thù khác nhau
Kể từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai cho đến trước khi hai nước Việt - Nhật ký kết hiệp định chính thức thiết lập quan hệ ngoại giao (năm 1973), quan hệ Việt - Nhật tuy vẫn duy trì song sự tiến triển còn chậm chạp Nguyên nhân chủ yếu là vì các lí do chính trị, khi đó thế giới vẫn còn Chiến tranh lạnh giữa hai hệ thống XHCN và TBCN Ngày 8 tháng 8 năm 1951, Hiệp ước an ninh Mĩ - Nhật được kí kết, chế độ chiếm đóng của đồng minh chấm dứt Nhật Bản hoàn toàn phụ thuộc vào Mỹ để chống lại hệ thống XHCN do Liên
Xô đứng đầu, trong đó có Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, còn miền Nam Việt Nam (Việt Nam Cộng hòa) khi đó liên minh với Mỹ - Nhật Nhật Bản đã đứng về phía Mỹ trong cuộc chiến tranh Việt Nam, công nhận chính quyền Sài Gòn và chia sẻ trách nhiệm cùng với Mỹ giúp chính quyền Sài Gòn đứng vững Quan hệ Việt Nam - Nhật Bản chủ yếu diễn ra với Chính quyền Việt Nam Cộng hòa trên lĩnh vực chính trị, kinh tế
Thắng lợi hoàn toàn của Việt Nam và các nước Đông Dương vào năm
1975 đã làm thay đổi cơ bản tương quan lực lượng ở châu Á, làm đảo lộn chiến lược toàn cầu của Mỹ và có tác động đến chính sách của Nhật đối với các nước trong khu vực Đông Nam Á Ngày 21 tháng 9 năm 1973, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Nhật Bản kí văn bản bình thường hóa quan hệ tại Pari Năm 1973 là cột mốc lịch sử quan trọng trong lịch sử ngoại giao Việt Nam - Nhật Bản đã mở ra một thời kỳ mới cho quan hệ giữa hai nhà nước nói chung
và hai Đảng CSVN và Đảng Cộng sản Nhật Bản nói riêng
1.2 Đảng lãnh đạo thực hiện quan hệ với Nhật Bản
1.2.1 Chủ trương của Đảng
Trang 31Sau thắng lợi hoàn toàn của cuộc kháng chiến chống Mỹ mùa Xuân năm 1975, một kỷ nguyên mới đã mở ra trên đất nước Việt Nam: hòa bình, độc lập, thống nhất, cả nước đi vào xây dựng trong hòa bình, quá độ tiến lên CNXH Thắng lợi trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước đã dâng cao
uy tín và vị trí của Việt Nam trên trường quốc tế Tranh thủ tình hình quốc tế thuận lợi sau chiến tranh, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã mở rộng quan hệ đối ngoại và hợp tác kinh tế với nước ngoài nhằm thu hút vốn, thiết bị kỹ thuật phục vụ công cuộc hàn gắn vết thương chiến tranh, xây dựng lại đất nước Một nước Việt Nam thống nhất có hơn 50 triệu dân, có tiềm năng phát triển kinh tế và là một nhân tố mới, quan trọng ở Đông Nam Á là đối tác mà nhiều nước trên thế giới tính đến trong quan hệ quốc tế của họ Từ năm 1975 đến năm 1977, Việt Nam đã thiết lập thêm quan hệ ngoại giao với 23 nước
Tuy nhiên, công cuộc xây dựng tiến hành chưa được bao lâu thì đất nước đứng trước những thử thách mới nghiêm trọng trong quan hệ quốc tế Quan hệ Việt Nam và các nước láng giềng phát triển theo chiều hướng ngày càng phức tạp Các thế lực thù địch trong và ngoài khu vực phối hợp chống phá Việt Nam
Báo cáo chính trị tại kỳ họp thứ nhất Quốc hội chung của cả nước, do
Lê Duẩn trình bày vào tháng 6 năm 1976 nêu rõ nhiệm vụ chiến lược của cách mạng Việt Nam:
Hoàn thành thống nhất nhà nước, đưa cả nước tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên chủ nghĩa xã hội Miền Bắc phải tiếp tục đẩy mạnh
sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và hoàn thiện quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa; miền Nam phải đồng thời tiến hành cải tạo xã hội chủ nghĩa và xây dựng chủ nghĩa xã hội [90, tr.145]
Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IV Đảng CSVN (12.1976) đề ra đường lối CMXHCN:
Trang 32Tiến hành đồng thời ba cuộc cách mạng: cách mạng về quan hệ sản xuất, cách mạng khoa học - kỹ thuật, cách mạng tư tưởng và văn hóa, trong đó cách mạng khoa học - kỹ thuật là then chốt, đẩy mạnh công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa là nhiệm vụ trung tâm của cả thời kỳ quá
độ lên chủ nghĩa xã hội, xây dựng chế độ làm chủ tập thể xã hội chủ nghĩa, xây dựng nền sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa, xây dựng nền văn hóa, xây dựng con người xã hội chủ nghĩa, xóa bỏ nghèo nàn và lạc hậu, không ngừng đề cao cảnh giác, thường xuyên củng cố quốc phòng, giữ gì an ninh chính trị và trật tự xã hội; xây dựng thành công Tổ quốc Việt Nam hòa bình, độc lập, thống nhất và xã hội chủ nghĩa, góp phần tích cực vào cuộc đấu tranh của nhân dân thế giới vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và chủ nghĩa xã hội [90, tr.523]
Từ đường lối và nhiệm vụ chung đó, Đại hội lần thứ IV (12/1976) xác định cần “tranh thủ những điều kiện quốc tế thuận lợi để nhanh chóng hàn gắn những vết thương chiến tranh, khôi phục và phát triển kinh tế, phát triển văn hóa, khoa học - kĩ thuật, củng cố quốc phòng, xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội” [90, tr.617]; đồng thời, “tiếp tục kề vai sát cánh với các nước xã hội chủ nghĩa anh em và tất cả các dân tộc trên thế giới đấu tranh vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và chủ nghĩa xã hội, chống chủ nghĩa đế quốc, đứng đầu là đế quốc Mỹ” [90, tr.617]
Đại hội đã vạch ra những nét cơ bản trong chính sách đối ngoại của Đảng:
Thứ nhất, ra sức củng cố và tăng cường tình đoàn kết chiến đấu và
quan hệ hợp tác XHCN về mọi mặt giữa Việt Nam với tất cả các nước XHCN, làm hết sức mình để góp phần cùng các nước XHCN, phong trào cộng sản và công nhân quốc tế khôi phục và củng cố đoàn kết, tăng cường ủng hộ và giúp đỡ lẫn nhau
Thứ hai, làm hết sức mình để bảo vệ và phát triển quan hệ đoàn kết và
hữu nghị giữa nhân dân Việt Nam với nhân dân Lào và Campuchia, tăng
Trang 33cường tình đoàn kết chiến đấu, lòng tin cậy, sự hợp tác lâu dài và giúp đỡ lẫn nhau về mọi mặt giữa Việt Nam với hai nước Lào và Campuchia trên nguyên tắc hoàn toàn bình đẳng, tôn trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của nhau, tôn trọng lợi ích chính đáng của nhau, làm cho ba nước gắn bó với nhau trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước, vì độc lập và phồn vinh của mỗi nước, vì lợi ích cách mạng của nhân dân các nước ở Đông Nam châu
Á và trên thế giới
Thứ ba, hoàn toàn ủng hộ sự nghiệp đấu tranh của các nước Đông Nam
châu Á vì độc lập dân tộc, dân chủ, hòa bình và trung lập thật sự, không có căn cứ quân sự và quân đội của đế quốc trên đất nước mình; sẵn sàng thiết lập
và phát triển quan hệ hữu nghị và hợp tác với các nước trong khu vực này trên
cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của nhau, không xâm lược nhau, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, bình đẳng và cùng
có lợi, cùng tồn tại trong hòa bình
Thứ tư, hoàn toàn ủng hộ cuộc đấu tranh của nhân dân các nước châu
Á, châu Phi, Mỹ Latinh chống chủ nghĩa đế quốc, chủ nghĩa thực dân cũ và mới, chủ nghĩa phân biệt chủng tộc, vì độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội; thắt chặt tình đoàn kết hữu nghị và quan hệ hợp tác, giúp nhau về mọi mặt giữa Việt Nam với các nước đang phát triển vì những mục tiêu trên; góp phần tích cực vào cuộc đấu tranh của phong trào các nước không liên kết chống chính sách xâm lược và lũng đoạn của chủ nghĩa đế quốc nhằm bảo vệ độc lập, tự do, giành lại quyền làm chủ vĩnh viễn tài nguyên thiên nhiên và thiết lập một trật tự kinh tế quốc tế mới trên cơ sở tôn trọng chủ quyền dân tộc, bình đẳng và cùng có lợi
Thứ năm, hoàn toàn ủng hộ sự nghiệp chính nghĩa của giai cấp công
nhân và nhân dân lao động các nước tư bản chủ nghĩa đang ra sức xây dựng mặt trận thống nhất rộng rãi, chĩa mũi nhọn đấu tranh vào tư bản lũng đoạn trong nước và nước ngoài, giành quyền dân sinh, dân chủ, tiến bộ xã hội, bảo
Trang 34vệ độc lập dân tộc và bảo vệ hòa bình thế giới, giành thắng lợi từng bước, tiến lên giành thắng lợi hoàn toàn cho CNXH
Thứ sáu, thiết lập và mở rộng quan hệ bình thường giữa Việt Nam với
tất cả các nước có chế độ xã hội khác nhau trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền, bình đẳng và hai bên đều có lợi
Thứ bảy, kiên quyết cùng các nước anh em và nhân dân tiến bộ trên thế
giới tiếp tục chung sức đấu tranh chống lại chính sách xâm lược và gây chiến của bọn đế quốc đứng đầu là Mỹ, góp phần tích cực vào sự nghiệp giữ gìn và củng cố hòa bình và an ninh ở Đông Nam châu Á và trên thế giới
Tư tưởng cơ bản của chính sách đối ngoại của Việt Nam là tiếp tục giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc và CNXH, kết hợp nhuần nhuyễn chủ nghĩa yêu nước chân chính với chủ nghĩa quốc tế vô sản, chống mọi khuynh hướng cơ hội chủ nghĩa, giữ vững độc lập tự chủ, đồng thời tăng cường đoàn kết các lực lượng XHCN và độc lập dân tộc, đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc; ra sức làm tròn nghĩa vụ đối với dân tộc, đồng thời làm tốt nghĩa vụ quốc tế đối với nhân dân các nước
Như vậy, căn cứ vào tình hình thế giới, khu vực và bối cảnh của đất nước, Đảng CSVN đã đưa ra đường lối đối ngoại, định hướng cho toàn bộ hoạt động đối ngoại của Việt Nam
Trên cơ sở đường lối đối ngoại chung, Đảng CSVN đã có những chủ trương, chính sách đối ngoại cụ thể đối với khu vực châu Á - Thái Bình Dương, chủ trương tích cực cải thiện quan hệ với các nước láng giềng ở Đông Nam Á
Từ giữa năm 1978, Đảng CSVN đã điều chỉnh một số chủ trương, chính sách đối ngoại Đảng nhấn mạnh yêu cầu ra sức bảo vệ quan hệ đặc biệt Việt - Lào trong bối cảnh vấn đề Campuchia đang diễn biến phức tạp Trong
Nghị quyết 39 năm 1981, căn cứ vào tình hình quốc tế và khu vực với những
Trang 35diễn biến phức tạp, Đảng CSVN đề ra nhiệm vụ trong công tác đối ngoại, cụ thể là:
1 Nhiệm vụ quan trọng hàng đầu là làm thất bại chính sách của bọn bành trướng bá quyền nước lớn Bắc Kinh câu kết với bọn đế quốc Mỹ và đế
quốc khác làm suy yếu và thôn tính Việt Nam Trước mắt, ngăn chặn âm mưu
của chúng gây chiến tranh xâm lược, củng cố hoà bình ở Đông Dương và Đông Nam Á
2 Chính sách đối ngoại của Việt Nam phải nắm vững mục đích phục
vụ sự nghiệp xây dựng đất nước
3 Làm tốt nghĩa vụ quốc tế, tích cực và chủ động tham gia vào cuộc đấu tranh cho hoà bình thế giới, làm thất bại âm mưu của đế quốc Mỹ và bọn phản động quốc tế gây ra tình hình căng thẳng
4 Cuộc đấu tranh chính trị, tư tưởng phải trở thành một mặt trận quyết định [143]
Trong Đề cương thông báo một số nét tình hình ra từ sau Đại hội IV
khi đi dự Đại hội 14 của Đảng Cộng sản Nhật Bản (tháng 10 năm 1977), Đảng CSVN quan niệm “ASEAN thực chất là một thứ công cụ tập thể của
Mỹ để ngăn chặn ảnh hưởng cách mạng của các nước Đông Dương, đặc biệt
là Việt Nam, Nhật Bản tiếp tay cho Mỹ trong âm mưu này” [100, tr 70] Việt Nam kiên quyết phê phán chính sách của Mỹ dùng “con bài Trung Quốc” chống Việt Nam, Lào, Campuchia, chống Liên Xô Việt Nam chủ trương phê phán mạnh chính sách của Nhật ở Đông Nam Á, nhất là chính sách “chơi con bài Trung Quốc” chống Việt Nam; xác định cần lợi dụng mâu thuẫn giữa Nhật và Trung Quốc để hạn chế việc làm xấu của Nhật cản trở quan hệ kinh tế với Việt Nam [143]
Về hợp tác với các nước tư bản, Đảng xác định “mở rộng hợp tác với các nước tư bản trên cơ sở đảm bảo độc lập, chủ quyền, hai bên đều có lợi” [158,
tr 71] Về hợp tác kinh tế với Nhật Bản, Đảng chủ trương “tranh thủ viện trợ
Trang 36của Nhật phục vụ việc xây dựng kinh tế” [158, tr 88] Đảng CSVN phân tích:
“Khả năng Nhật hợp tác kinh tế với ta còn tùy thuộc vào các yếu tố về chính trị
và kinh tế Nhật có lợi ích sống còn đối với Đông Nam Á đồng thời cũng hướng theo ý đồ chiến lược chung của Mỹ nên muốn có một Đông Nam Á hòa bình và ổn định, chính sách của Nhật là giành ưu tiên số 1 cho quan hệ với ASEAN” [158, tr 88] Đảng làm rõ thêm rằng, Nhật Bản “cần có quan hệ với
ta nhưng không muốn ta mạnh mà tìm cách hạn chế ảnh hưởng của ta ở Đông Nam Á Trong quan hệ với ta, Nhật cũng xem xét tình hình phát triển của ta, khả năng thanh toán của ta và chính sách của ta với Đông Nam Á để cân nhắc mức độ và bước đi cho phù hợp với lợi ích của Nhật” [158, tr 88]
Về phía Nhật, nhận thức thắng lợi hoàn toàn của Việt Nam và Đông Dương đã làm thay đổi cơ bản tương quan lực lượng ở châu Á, làm đảo lộn chiến lược toàn cầu của Mỹ và điều đó có tác động đến chính sách của Nhật đối với các nước trong khu vực Đông Nam Á
Để phù hợp với tình hình mới và lợi ích của Nhật, cuối tháng 12 năm
1975, Bộ Ngoại giao Nhật triệu tập Hội nghị Đại sứ của Nhật tại các nước trong khu vực Đông Nam Á và châu Á nhằm điều chỉnh chính sách đối với khu vực quan trọng này Chính sách của Nhật ở thời kỳ sau Việt Nam (từ sau khi Việt Nam hoàn toàn giải phóng đến hết năm 1977) là duy trì và đẩy mạnh quan hệ về chính trị và kinh tế với các nước Đông Nam Á, đồng thời cải thiện quan hệ với các nước Đông Dương mà trước hết là Việt Nam, tránh thái độ công khai thù địch Nhật Bản chủ trương thúc đẩy quan hệ ngoại giao với Việt Nam, mặt khác vẫn lo ngại ảnh hưởng của Việt Nam Nhật muốn đóng vai trò trung gian giữa Việt Nam và các nước ASEAN nhằm đề cao vị trí của mình, muốn sử dụng các nước ASEAN để kiềm chế Việt Nam Động thái đó khiến các nước ASEAN đối với việc Nhật ngày càng đẩy mạnh quan hệ với Việt Nam Vì vậy, một mặt, Nhật tăng cường quan hệ với các nước ASEAN, đồng thời, Nhật kéo Việt Nam tham gia một số tổ chức kinh tế khu vực như ADB,
Trang 37SEAPSENTER, S.EAFDEC… nhằm hạn chế ảnh hưởng của cách mạng Việt Nam đối với Đông Nam Á và quan hệ giữa Việt Nam với Liên Xô, phục vụ cho chính sách giữ “nguyên trạng” tình hình chính trị trong khu vực của Nhật Bản
Do ý đồ chính trị lâu dài của Nhật Bản và yêu cầu kinh tế muốn làm ăn với Việt Nam, nhưng cũng do tính chất hai mặt của Nhật Bản, do quan hệ Mỹ
- Nhật, Chính phủ Nhật Bản không muốn đi quá nhanh trong quan hệ với Việt Nam, chưa muốn hợp tác với Việt Nam trong những ngành then chốt
Trước những tính toán của Nhật Bản, Đảng CSVN nhận thấy rằng, Chính phủ Nhật Bản còn dè dặt, thăm dò trong quan hệ với Việt Nam, quan hệ của Nhật Bản với Việt Nam vẫn có sự tác động của Mỹ Song bên cạnh đó, Đảng Cộng sản Nhật Bản có quan hệ lâu đời và thân thiết với Đảng CSVN Đảng Cộng sản Nhật Bản ủng hộ cách mạng Việt Nam khá mạnh mẽ cả về vật chất lẫn tinh thần, giai đoạn chống Mỹ, cứu nước và sau khi Việt Nam giành được độc lập, xây dựng đất nước Nhận thức rõ điều này, Đảng CSVN đưa ra những chủ trương và chính sách cụ thể đối với Nhật Bản và Đảng Cộng sản Nhật Bản Trước hết là tận dụng sự ủng hộ của Đảng Cộng sản Nhật Bản để hiểu rõ được chính sách, thái độ của Chính phủ Nhật Bản, đồng thời kết hợp với Đảng Cộng sản Nhật Bản tác động tới Chính phủ Nhật Bản Cụ thể như sau:
Tháng 12 năm 1976, Đoàn đại biểu Đảng Cộng sản Nhật Bản sang dự Đại hội IV của Đảng CSVN Tiếp ông Fuwa - quyền Chủ tịch Đoàn kiêm Trưởng Ban Bí thư Đảng Cộng sản Nhật Bản (16.12.1976), Tổng Bí thư Lê Duẩn đề cập đến việc giới tài phiệt Nhật Bản rất chú ý đến Việt Nam, Liên đoàn các nhà kinh tế Nhật Bản với Chính phủ Nhật Bản cử đoàn đi Việt Nam, song Chính phủ Nhật Bản vẫn chờ diễn biến chính trị sau Đại hội IV của Đảng Lao động Việt Nam
Về mong muốn và thái độ của Việt Nam đối với Nhật Bản, Tổng Bí thư Lê Duẩn nêu rõ: “Để xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam và vì tình
Trang 38hữu nghị giữa các dân tộc châu Á và vì hòa bình ở châu Á, chúng tôi muốn phát triển quan hệ hữu nghị với nhân dân Nhật Bản, muốn tăng cường trao đổi kinh tế với Nhật Bản” [149, tr 60]
Đoàn Đại biểu Đảng CSVN sang dự Đại hội lần thứ 14 Đảng Cộng sản Nhật Bản (tháng 10 năm 1977) trong nỗ lực và mong muốn thúc đẩy quan hệ với Nhật Bản cũng bày tỏ quan điểm: “Hiện nay giữa Việt Nam và Nhật Bản còn tồn tại vấn đề Chính phủ Nhật đòi trả nợ của Ngụy quyền Sài Gòn Chúng tôi không thừa nhận một món nợ nào như thế Nhưng để tạo quan hệ hợp tác giữa hai bên, chúng tôi sẵn sàng tìm giải pháp thực tế” [100, tr.70]
Từ năm 1978, Việt Nam vướng vào vấn đề biên giới với Campuchia
Cũng trong năm 1978, Nhật Bản và Trung Quốc kí Hiệp định Thương mại dài
hạn (2/1978) trị giá từ 40 đến 60 tỷ USD, tiếp đó, tháng 10 năm 1978, ký Hiệp ước Hòa bình và Hữu nghị Nhật - Trung, Trung Quốc tìm mọi cách vận
động Nhật Bản cắt quan hệ kinh tế với Việt Nam
Trước những diễn biến phức tạp của tình hình và những rắc rối trong quan điểm các nước lớn, thái độ của Chính phủ Nhật Bản khá thận trọng vì tình hình khu vực căng thẳng ảnh hưởng trực tiếp đến lợi ích của Nhật Bản tại đây Tuy thái độ của Nhật Bản có chiều hướng nghiêng về phía Trung Quốc, ủng hộ Polpot, tỏ ra không mặn mà trong quan hệ với Việt Nam, nhưng quan
hệ vẫn giữ được ở mức bình thường
Cuối năm 1978, Việt Nam ký với Liên Xô Hiệp ước Hợp tác và Hữu
nghị Xô - Việt; tháng 1 năm 1979, quân đội Việt Nam giúp Campuchia lật đổ
chế độ diệt chủng Polpot.…Những sự kiện trên làm cho các nước Đông Nam
Á lo ngại về sự bành trướng ảnh hưởng của Viê ̣t Nam Nhật Bản cũng lo sợ ảnh hưởng của Việt Nam và Liên Xô tăng lên đối với khu vực sẽ làm phương hại đến lợi ích của Nhật Bản Nhật Bản còn sợ Việt Nam mạnh lên sẽ trở thành nguy cơ đối với hòa bình, ổn định ở Đông Dương và Đông Nam Á
Trang 39Sau sự kiện Campuchia năm 1979, thái độ của Chính phủ Nhật Bản đối với Việt Nam xấu đi:
Thứ nhất, công khai lên án Việt Nam xâm lược Campuchia, ủng hộ bọn
diệt chủng Polpot, đòi đích danh Việt Nam rút quân khỏi Campuchia
Thứ hai, đình chỉ viện trợ và hợp tác kinh tế đối với Việt Nam với lí do
Việt Nam xâm lược Campuchia
Thứ ba, tham gia các chiến dịch của Mỹ và Trung Quốc chống Việt
Nam trên các diễn đàn quốc tế: vấn đề Campuchia, vấn đề di tản (tại Hội nghị
Di tản của Liên hợp quốc triệu tập ở Giơnevơ)
Trong khi có thái độ căng thẳng với Việt Nam, Nhật Bản tăng cường quan hệ mọi mặt với các nước ASEAN Một mặt Nhật Bản lên án cuộc xâm lược Việt Nam của Trung Quốc, mặt khác tăng cường quan hệ mọi mặt với Trung Quốc, nhất là kinh tế, hợp tác với Trung Quốc
Tháng 8 năm 1979, Đại biểu Đoàn Liên minh Nghị sỹ hữu nghị Việt -
Nhật do Thượng nghị sỹ Takeo Kimura làm Trưởng đoàn vào thăm Việt
Nam Mục đích của Đoàn là nhằm tìm hiểu tình hình mọi mặt của Việt Nam sau bốn năm giải phóng, tìm hiểu vấn đề di tản, tìm hiểu khả năng làm ăn với Việt Nam, tìm hiểu chính sách của Việt Nam đối với Nhật Bản, Trung Quốc,
Mỹ, ASEAN, quan hệ của Việt Nam với Campuchia và Liên Xô … Về vai
trò, khả năng ảnh hưởng của Đoàn Đại biểu Đoàn Liên minh Nghị sỹ hữu
nghị Việt - Nhật, Đảng CSVN nhận định: “Đây là một đoàn đầu tiên các nghị
sỹ của nhiều chính đảng, trong đó có 2 nghị sỹ có thế lực trong Đảng cầm quyền, có xu hướng chính trị và mục đích thăm Việt Nam khác nhau, thái độ
và sự hiểu biết của họ đối với Việt Nam cũng không giống nhau” [17, tr.16]
Trang 40trong quan hệ với các nước, nhất là với Trung Quốc và các nước láng giềng, nhất là cho họ thấy nguồn gốc của vấn đề di tản [17, tr 17] Trên cơ sở đó, “tranh thủ thiện cảm, sự đồng tình và ủng hộ ta với mức
độ nhất định” [17, tr 17] Nhằm tiếp tục thúc đẩy quan hệ với Nhật Bản, tranh thủ sự ủng hộ của Chính phủ Nhật Bản, Đảng CSVN chủ chương tăng cường tình đoàn kết với Đảng Cộng sản Nhật Bản - một Đảng luôn có những động thái ủng hộ cách mạng và nhân dân Việt Nam Đảng CSVN mong muốn Đảng Cộng sản Nhật Bản tham mưu cho Đảng CSVN tranh thủ sự đồng tình, giúp
đỡ của Chính phủ Nhật Bản Trong chuyến đi dự Đại hội lần thứ 15 của Đảng Cộng sản Nhật Bản tháng 2 năm 1980, trả lời phỏng vấn báo Iomuri, Phó Thủ tướng Chính phủ - Lê Thanh Nghị nêu quan điểm của Đảng, Nhà nước Viê ̣t Nam:
Quan hệ Việt Nam và Nhật Bản tốt thì có lợi cho nền kinh tế của cả hai bên, phù hợp với nguyện vọng của nhân dân cả hai nước và góp phần tích cực vào sự nghiệp hòa bình và ổn định ở châu Á và thế giới Nhưng hiện nay, quan hệ này không phát triển thuận lợi; trách nhiệm không thuộc về phía chúng tôi mà hoàn toàn do thái độ của chính phủ Nhật Bản Chính phủ tôi luôn nhìn về tương lai, sẵn sàng phát triển sự hợp tác kinh tế và buôn bán với chính phủ và giới kinh doanh Nhật Bản trên nguyên tắc hai bên cùng có lợi và không kèm theo một điều kiện chính trị nào [179, tr 40]
Như vậy, với sự giúp đỡ, hỗ trợ, tham mưu của Đảng Cộng sản Nhật Bản, Đảng CSVN đã có những bước đi làm cho Chính phủ Nhật Bản thấy rõ được tính chất và bản chất của vấn đề Việt Nam - Campuchia; Việt Nam - Trung Quốc, mong muốn thúc đẩy quan hệ với Nhật Bản
1.2.2 Chỉ đạo thực hiện
Trên cơ sở đường lối ngoại giao của Đảng nói chung cũng như chủ trương và chính sách ngoại giao của Đảng đối với Nhật Bản nói riêng, Đảng