Toùm laïi: Muoán lónh hoäi vaên baûn thì ñieàu toái thieåu yeâu caàu hoïc sinh phaûi hieåu ñöôïc yù nghóa cuûa caâu, töø , vaên baûn ñeå tieáp nhaän vaø töï choïn vaên baûn ñeå ñöa vaøo[r]
Trang 1MỘT SỐ GIẢI PHÁP ĐỂ DẠY TỐT MÔN
TẬP LÀM VĂN LỚP 4
I/ ĐẶT VẤN ĐỀ:
-Như chúng ta đã biết , trẻ em ở lớp 4 đã được trau dồi một số kiến thức về từ vựng về các loại câu , từ ……thông qua môn Luyện từ và câu và các môn học khác Tuy nhiên việc sắp xếp các từ vào một đoạn văn nào đó để trở thành câu văn, đoạn văn hoàn chỉnh , có ý nghĩa là một vấân đề chúng ta cần phải bàn Bỡi lẽ :
* Ngôn ngữ các em còn hạn chế
* Về số lượng : Các loại câu , từ , sắp xếp ý, bố cục của bài văn thông thường các em còn nhiều thiếu sót cho nên việc vận dụng nó vào thực tế thì chưa đáp ứng được
* Về chất lượng : Những câu văn thường các em chỉ hiểu một cách hạn hẹp , mang tính chất liệt kê, thậm chí còn sai lệch
Chúng ta đã biết : Ngôn ngữ là một công cụ giao tiếp có giá trị , nó có tác dụng vô cùng
to lớn , nó có thể dùng để diễn đạt tất cả những gì con người nghĩ ra, nhìn thấy, từ những việc nhỏ nhất cho đến những công việc vô cùng to lớn ……Cho nên việc nắm bắt ngôn ngữ, sử dụng ngôn ngữ là một việc làm vô cùng quan trọng, nó đi theo suốt cả quá trình học tập và cuộc sống của con người
Nội dung dạy Tập làm văn ở nhà trường tiểu học, cụ thể là ở lớp 4 hướng các em vào tìm hiểu xem nó có những dạng bài Tập làm văn nào, có những đặc điểm gì, cách sử dụng, vận dụng ra làm sao….…
Để giải quyết các vấn đề trên, tôi mạnh dạn tìm hiểu để chúng ta cùng nhau giúp các
em nắm những kiến thức cơ bản về phân môn Tập làm văn
II/ CƠ SỞ LÝ LUẬN:
Trong chương trình tiếng Việt mới ở bậc tiểu học môn Tập làm văn được tách thành một phân môn độc lập, song nó thường đi đôi với các môn khác như Luyện từ và câu, Kể chuyện Tất cả điều này nói lên ý nghĩa quan trọng trong việc dạy Tập làm văn ở bậc tiểu học
Nối tiếp mục tiêu của chương trình dạy Tập làm văn lớp 2, 3 Ở lớp 4 kiến thức được nâng cao và nhiều thể loại hơn
Với mục đích là hệ thống và mở rộng hơn về lòng yêu quê hương đất nước, yêu bạn bè, thầy cô … Rèn cho các em có khả năng dùng từ ngữ phong phú để đưa vào bài văn, bài tập đúng, chính xác và hay hơn
Tóm lại: Muốn lĩnh hội văn bản thì điều tối thiểu yêu cầu học sinh phải hiểu được ý nghĩa
của câu, từ , văn bản để tiếp nhận và tự chọn văn bản để đưa vào văn cảnh cụ thể, các bài tập thực hành đa dạng phong phú về nội dung Đây là cơ sở để giáo viên vận dụng các hình thức tổ chức dạy học mới tạo hứng thú học tập cho học sinh
Trang 2III/ THỰC TRẠNG - NGUYÊN NHÂN:
1.) Về giáo viên :
+ Đa số giáo viên đã nắm được phân phối chương trình dạy học bộ môn, cơ cấu sắp xếp chương trình Nắm được những đơn vị kiến thức để dạy môn Tập làm văn Qua 6 tiết dự giờ tôi thấy bước đầu giáo viên đã thực hiện đúng tiến trình các bước của tiết dạy Song về chất lượng dạy học cần quan tâm đó là :
+ Đối với những kiến thức tự tạo lập một cốt truyện, một dàn ý hay một chi tiết tiêu biểu nào đó nhiều bạn không chú ý đến đặc trưng riêng của phân môn Vì vậy số lượng để xác định còn hạn chế, giáo viên thực hiện khó khăn bỡ ngỡ Thêm vào đó việc chuẩn bị chưa chu đáo, chỉ đi vào điểm tựa ở sách giáo khoa Nhất là những bài dạy mang tính chất luyện tập giáo viên chưa thật sự quan tâm đến việc giúp các em suy nghĩ độc lập, đa số các em chỉ dựa vào mẫu để trả lời
Ví dụ : Tiết 2 của tuần 4 “ Luyện tập xây dựng cốt truyện”.
Đề bài là : “ Em hãy tưởng tượng và kể lại vắn tắt một câu chuyện có ba nhân vật
về lòng hiếu thảo của con” Các em và giáo viên chỉ chú ý đến những gợi ý : Ba, Mẹ, Người
con và Bà Tiên rồi viết vài câu mẫu Giáo viên chúng ta thường hay quên một bước quan trọng đó là phải cho học sinh hiểu rộng hơn hoàn cảnh của Ba mẹ, tấm lòng Người con và những sự thách thức nào đó Về nhân vật Bà Tiên thì rất đa dạng Giáo viên chúng ta còn lúng túng khi gợi ý về miêu tả sự vật, chỉ dựa vào SGV- SGK là chính chứ chưa thật sự tìm tòi, lựa chọn hình
thức thích hợp để lôi cuốn học sinh cùng tham gia vào giờ học…
2.) Học sinh :
Đa số các em chỉ đáp ứng những gợi ý của sách giáo khoa chứ chưa thật sự tư duy và sáng tạo vì nguồn thông tin của các em còn hết sức hạn chế Các em diễn đạt câu văn còn nhiều lúng túng, vụng về, mang tính chất liệt kê
Cuối cùng kết quả tiết dạy của phân môn tập làm văn có chất lượng chưa cao
Kết quả thống kê của phân môn tập làm văn giữa kỳ I đạt được như sau :
- Học sinh diễn đạt tốt : 25/ 104 em
- Học sinh diễn đạt khá : 35/ 104 em
- Học sinh diễn đạt trung bình : 30/ 104 em
- Học sinh diễn đạt yếu : 14/ 104 em
Tóm lại : Với kết quả thực tế trên ta thấy chất lượng học tập ở phân môn này còn thấp.
Đa số các em gặp khó khăn về kiến thức, từ ngữ, bố cục và việc vận dụng kiến thức vào thực tế còn nhiều lúng túng Để khắc phục trình trạng trên, Tôi xin đưa ra một số giải pháp sau để cùng các đồng chí trong khối cùng nhau thảo luận, khắc phục những hạn chế về tình hình dạy – học phân môn TLV
.IV / GIẢI PHÁP:
1./ Đối với GV :
a./ Phần kiến thức về từ ngữ
- Theo tôi, để dạy tốt phân môn TLV trước hết GV nên đisâu tìm hiểu, nghiên cứu, nắm vững về kiến thức cơ bản của bộ môn, vì nó là một công cụ hết sức quý giá, hổ trợ rất nhiều vào việc ứng dụng khi dùng từ để đặt câu
- Trước hết để làm giàu vốn từ, câu cho học sinh bản thân GV phải nắm vững về từ ngữ, các tài liệu có thể nghiên cứu như Từ điển tiếng Việt, chương trình giáo dục cho học sinh
Trang 3ở các vùng, miền Đó là chỗ dựa đáng tin cậy để giúp chúng ta vượt qua những khó khăn có thể gặp
phải trong quá trình giảng dạy Muốn có được điều đó GV cần chuẩn bị tốt phương tiện dạy học, phương pháp dạy học để quá trình lên lớp có được hiệu quả cao
Ví dụ : Khi dạy “Luyện tập xây dựng đoạn văn kể chuyện” Bạn cần trang bị những
điều gì
- Chuẩn bị tranh vẽ thật sinh động, rõ ràng
- Chuẩn bị một số từ khó và giải nghĩa được các từ đó : “Tiều phu”, “Bóng loáng”…
- Bảng phụ chung cả lớp và các nhóm
- Khi làm bài tập 02 GV cần chú trọng đến những lời nhận xét của học sinh và từ đó sửa chữa thành câu đúng, câu hay
- Quan trọng nhất là phải miêu tả được ngoại hình của nhân vật
- Việc sử dụng phương pháp học nhóm không nên thực hiện nhiều lần
b./ Phần kiến thức, bố cục bài văn:
- GV phải nhận thấy được những đặt điểm cơ bản, đặt trưng của từng nội dung bài học ở lớp 4 Đối với phân môn TLV có nhiều mảng kiến thức đan xen lẫn nhau chứ nó không tách biệt từng phần cụ thể Nhưng dù sao đi nữa nó cũng chỉ chú trọng vào 02 điểm trọng yếu đó là: TLV thuộc dạng khái niệm và TLV thuộc dạng luyện tập
- Khi dạy bố cục của phần khái niệm thì đơn giản hơn nhiều so với dạy bố cục của phần luyện tập Bởi lẽ: Phần khái niệm chỉ cung cấp cho học sinh hiểu, còn luyện tập phải vận dụng kiến thức dể thực hành nên bố cục đa dạng và phức tạp hơn Đòi hỏi GV phải có nhiều sáng tạo trong khi sử lý các tình huống xảy ra ngoài ý muốn từ đó người GV tự trang bị cho mình nhiều kiến thức mới để đáp ứng được nhu cầu giảng dạy nói chung và nhu cầu luyện tập cho học sinh nói riêng
Ví dụ : Ở bài luyện tập của thể loại văn miêu tả
GV không chỉ chuẩn bị trước bố cục của bài, dàn ý chung của bài mà còn sử dụng thêm các tình huống khác Cụ thể như : Có thể em này miêu tả đồ chơi này, cũng có thể em khác miêu tả đồ chơi khác do các em tự tưởng tượng ra nên các bố cục không thể giống nhau Từ đó, GV phải hướng các em vào một mục đích chung để thực hiện bài làm
2./ Đối với học sinh :
- Chất lượng và hiệu quả của GV còn phụ thuộc rất lớn vào chất lượng bài làm của HS Vì vậy việc đầu tiên mà mỗi GV cần phải thực hiện được là xây dựng cho các em có ý thức hứng thú trong học tập Vì phân môn này đa số HS thường hay nhàm chán Muốn làm được điều này
GV cần lưu ý thực hiện các yêu cầu sau đối với HS là :
- Phải làm tốt công tác vận động phụ huynh mua sắm đủ SGK, vở BT, dụng cụ học tập và thường xuyên nhắt nhở con em việc học tập ở nhà, tạo điều kiện cho con em có được góc học tập riệng biệt và thuận tiện nhất
- Bằng mọi biện pháp GV phải giúp các em nắm chắt phần khái niệm để thực hành tốt trong khi luyện tập
- Thường xuyên tổ chức cho HS thảo luận nhóm, thay đổi nhóm trưởng tạo thế chủ động cho HS khi sinh hoạt nhóm
- Thường xuyên tổ chức hình thức học tập theo kiểu : “Học mà chơi, chơi mà học” cho HS
Trang 4- Chú trọng công tác kiểm tra việc làm bải ở nhà của HS.
- Khi giao bài về nhà GV không nên giao đồng loạt cho cả lớp, mà tuỳ vào trình độ của từng HS mà giao cho đúng (Ví dụ : HS yếu thì giao bài ít, dễ; HS khá thì giao bài nhiều hơn và yêu cầu cao hơn.)
- Thường xuyên động viên, khen ngợi những HS có nhiều tiến bộ và chú trọng công tác kiểm tra đối với những HS lười học
Hướng dẫn HS tăng cường công tác đọc như : Đọc truyện, đọc báo măng non, đọc các bài văn mẫu để vận dụng vào bài làm
V./ BÀI HỌC KINH NGHIỆM
Qua thực tế giảng dạy hơn ½ học kỳ đối với môn TLV bản thân tôi đã rút ra được một số kinh nghiệm sau :
Muốn giảng dạy tốt môn này GV phải nghiên cứu nắm bắt nội dung chương trình, nắm rõ các dạng bài tập để có hình thức tổ chức cho từing tiết học
GV phải tự rèn luyện, bồi dưỡng, học tập để có kiến thức tốt về từ các dạng bài Tập làm va phải thường xuyên bổ sung vốn từ , bố cục cho bản thân
Trong quá trình dạy học giáo viên cần tăng cường việc rèn luyện kỷ năng giao tiếp cho học sinh thông qua hệ thống bài tập
Thường xuyên đổi mới hình thức tổ chức học sẽ góp phần kích thích hứng thú học tập của học sinh
Tăng cường kiến thức khả năng thực hành của mỗi học sinh phải làm là việc làm thường xuyên của giáo viên để từ đó giáo viên kịp thời có biện pháp sữa chữa uốn nắn từng em học tốt môn Tập làm văn
BÀI DẠY MINH HOẠ LUYỆN TẬP XÂY DỰNG ĐOẠN VĂN MIÊU TẢ ĐỒ VẬT.
I./ Mục tiêu : Học sinh tiếp tục tìm hiểu về đoạn văn xác định mỗi đoạn văn thuộc phần nào
trong bài văn miêu tả, nội dung miêu tả từøng đoạn, dấu hiệu nửa đầu đoạn văn - Biết viết các đoạn văn trong một bài văn miêu tả đồ vật
II./ Chuẩn bị : - Một số kiểu câu văn.
- Cặp sách học sinh
- Gợi ý bảng phụ, lời giải
III./ Hoạt động dạy học:
A./ Kiểm tra bài cũ: - Hai em nhắc lại thế nào là đoạn văn miêu tả?
- Giáo viên chốt lại và nhắc nhở các câu trả lời sai
-Vài em đọc đoạn tả cây bút chì
B./ Dạy bài mới:
1./ Giới thiệu bài:
2./ Hướng dẫn học sinh luyện tập:
Bài tập 1 : + Gọi một em đọc nội dung bài tập.
Trang 5+ Cả lớp đọc thầm cả bài.
+ Giáo viên treo bảng phụ lên bảng
+ Giáo viên gợi ý và đọc từng câu hỏi, sau đó gắn các câu hỏi lên bảng phụ + Học sinh thảo luận theo nhóm ( nhóm 3 )
+ Nhóm trưởng phân công từng bạn tìm hiểu và trả lời câu hỏi
+ Giáo viên chốt lại các ý đúng
+ Nhóm trưởng dán các kết quả lên bảng phụ theo 3 câu hỏi tương ứng
- Các đoạn trên thuộc phần nào trong bài
văn miêu tả ?
- Cả ba đoạn trên thuộc phần thân bài của bài văn miêu tả
- Xác định nội dung miêu tả của từng đoạn - Đoạn 1 : tả hình dáng bên ngoài củachiếc cặp
- Đoạn 2 : tả quai và dây đeo của chiếc chiếc cặp
- Đoạn 3 : tả về cấu tạo bên trong của chiếc cặp
- Nội dung miêu tả của mỗi đoạn được
báo hiệu ở câu mở đoạn bằng những từ, ngữ
nào ?
- Đoạn 1 : … màu đỏ tươi
- Đoạn 2 : quai cặp ……
- Đoạn 3 : Mở cặp ra em thấy ……
Giáo viên nêu : Để các em làm quen tả từng chi tiết của chiếc cặp, chúng ta cùng nhau thực
hành bài tập 2
Bài tập 2 :
- Học sinh quan sát vài ba chiếc cặp theo
những kiểu mẫu khác nhau
- Giáo viên nhắc cho các em nhớ chỉ quan
sát bên ngoài chiếc cặp
- Giáo viên treo phần gợi ý lên bảng :
- Nhắc cho các em chú ý đến đặc điểm
riêng của chiếc cặp mà em định miêu tả
- Giáo viên nhận xét và chọn bài văn hay
nhất để đọc cho cả lớp nghe
- Một em đọc yêu cầu của bài tập
- Cả lớp quan sát và ghi những ý chính vào giấy nháp theo nhóm của mình
- Vài em đọc tiếp nối
- Thảo luận từng nhóm
- Học sinh tự làm vào vở của mình
- Học sinh nhìn vào vở đọc đoạn văn vừa thực hiện được
Bài tập 3:
+ Cho học sinh quan sát bên trong của chiếc cặp và gợi ý các em viết tương tự vào vở + Nhắc các em nêu những nét nổi bật bên trong của chiếc cặp
+ Từng cá nhân trong lớp đọc đoạn văn của mình vừa thực hiện được
+ Cả lớp nhận xét, bổ sung bài cho bạn
+ Giáo viên nhận xét lại và chọn đoạn văn hay nhất để đọc cho cả lớp nghe
+ Học sinh tự kiểm tra và sửa sai cho chính bài viết của mình
3./ Củng cố, dặn dò: - Giáo viên nhận xét tiết học
- Dặn học sinh về nhà viết lại đoạn văn của bài tập 2 vào vở
- Chuẩn bị bài cho tuần sau