1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

MỞ BÀI, KẾT BÀI VÀ DÀN Ý MỘT SỐ TÁC PHẨM

85 5 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 85
Dung lượng 507 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Qua đó, chúng tacó thể thấy được cái “tôi” tràn đầy cảm xúc khao khát hướng đến một tình yêutuyệt đối, thể hiện một trái tim đang yêu đằm thắm, chân thành giống như nhữngvần thơ trong bà

Trang 1

PHẦN THỨ NHẤT

MỞ BÀI, KẾT BÀI MÔT SỐ TÁC PHẨM VĂN HỌC

1 ĐẤT NƯỚC – NGUYỄN KHOA ĐIỀM

a Mở bài:

* Mở bài 1:

Đất Nước là một đề tài muôn thuở của thi ca và nghệ thuật Hình hài đấtnước cũng được khắc tạc muôn hình với nhiều vẻ đẹp khác nhau từ những gócnhìn khác nhau Tố Hữu thấy Đất Nước trong bóng dáng người anh hùng, người

Mẹ Chế Lan Viên “tìm hình của nước” trong vị cha già Hồ Chí Minh NguyễnTrãi tự hào về triều đại “Triệu, Đinh, Lý, Trần bao đời xây nền độc lập”… cònNguyễn Khoa Điềm, một nhà thơ thời chống Mỹ lại tìm thấy vẻ đẹp của ĐấtNước trong chiều sâu văn hóa, phong tục mang đậm dấu ấn tư tưởng “Đất Nướccủa nhân dân” Vẻ đẹp ấy của hình tượng Đất Nước đã được Nguyễn Khoa

Điềm tập trung thể hiện một cách tinh tế và sống động qua đoạn thơ: Thí sinh trích dẫn đoạn thơ yêu cầu phân tích

* Mở bài 2:

Đất Nước – hai tiếng thiêng liêng ấy vang lên tự sâu thẳm tâm hồn ta vừacao cả, trang trọng, vừa xiết bao bình dị, gần gũi Hình tượng Đất nước đã khơinguồn cho biết bao hồn thơ cất cánh Văn học kháng chiến 1945 – 1975, trongmạch chảy ngầm dạt dào, mãnh liệt của cuộc sống không chỉ bắt được những âmvang náo nức cùa thời đại mà còn khắc tạc nên tượng đài nghệ thuật Đất nướcthật nên thơ, cao đẹp Từ khói lửa Bình Trị Thiên những năm đánh Mỹ, ĐấtNước của Nguyễn Khoa Điềm như bản giao hưởng trầm hùng đã bay lên với baoyêu thương cháy bỏng, ngân nga mãi cùng tháng năm Vẻ đẹp ấy của hình tượngĐất Nước đã được Nguyễn Khoa Điềm tập trung thể hiện một cách tinh tế và

sống động qua đoạn thơ: Thí sinh trích dẫn đoạn thơ yêu cầu phân tích

* Mở bài 3:

Trong giai đoạn kháng chiến chống Mĩ gian khổ, những sáng tác thơ văncủa các nhà văn, nhà thơ không chỉ đơn thuần thỏa mãn đam mê sáng tạo nghệthuật của người nghệ sĩ mà còn là “vũ khí” đấu tranh vô cùng đắc lực Nhữngtác phẩm viết trong giai đoạn này thường mang đậm khuynh hướng sử thi và chủnghĩa anh hùng cách mạng, một mặt tái hiện lại không khí cuộc chiến, mặt khác

cổ vũ, khích lệ tinh thần chiến đấu của quân và dân ta Nguyễn Khoa Điềm lànhà thơ- chiến sĩ tiêu biểu trong cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ, hòa vớiphong trào đấu tranh chung của cả dân tộc, Nguyễn Khoa Điềm vừa chiến đấu,vừa sáng tác nhằm cổ vũ, động viên cách mạng, một trong những tác phẩm tiêubiểu nhất của ông có thể kể đến là bài thơ Đất nước Bài thơ viết về chủ đề đấtnước, qua những cảm nhận về đất nước, Nguyễn Khoa Điềm đã gợi lên ở thế hệtrẻ Việt Nam tình yêu nước nồng nàn, cùng với đó là tinh thần dân tộc và trách

Trang 2

nhiệm của bản thân với đất nước, xứ sở Điều đó được thể hiện sống động quađoạn thơ sau:

b Kết bài

* Kết bài 1:

Đất Nước là một đoạn trích hay nhất trong trường ca “Mặt đường khátvọng” của Nguyễn Khoa Điềm Thi phẩm ấy không chỉ khẳng định tài năng thơphú của nhà thơ mà còn qua đó nói lên được tiếng nói của người công dân yêunước với tình yêu sâu nặng, mãnh liệt “như máu xương của mình” Cuộc chiếntranh chống Mỹ gian khổ đã làm con người xích lại gần nhau, tất cả đều hướngđến nhiệm vụ chung cao cả để bảo vệ Tổ Quốc Tình yêu và trách nhiệm cao cả

ấy trong thơ Nguyễn Khoa Điềm cũng chính là quyết tâm của cả một thời đại:

“Thời đại của chúng tôi là thời đại của tuổi trẻ đã xuống đường, chiếm lĩnh từng tầm cao của mái nhà, tầm cao của ngọn đồi, của nhịp cầu để đem tất cả lương tâm và nhân phẩm bắn toả lên bầu trời đầy giặc giã” (Chu Lai)

* Kết bài 2:

Đất Nước là một đoạn trích hay nhất trong trường ca “Mặt đường khátvọng” của Nguyễn Khoa Điềm Thi phẩm ấy không chỉ khẳng định tài năng thơphú của nhà thơ mà còn qua đó nói lên được tiếng nói của người công dân yêunước với tình yêu sâu nặng, mãnh liệt “như máu xương của mình” Những nămtháng hào hùng của dân tộc gắn bó trong những vần thơ của Nguyễn Khoa Điềmđến vậy Và tư tưởng và Nguyễn Khoa Điềm truyền tải đến người đọc chẳngphải giống như Nguyễn Đình Thi đã từng ghi lại trong một thi phẩm của mìnhhay sao:

“Ôm đất nước những người áo vải

Ðã đứng lên thành những anh hùng.”

* Kết bài 3:

Có một tư tưởng về đất nước được vẽ lên bình yên từ những điều giản dị

Có một hình ảnh đất nước được lý giải với những câu chuyện cổ tích, truyềnthuyết ngày xửa ngày xưa Có những giá trị của một đất nước được cắt nghĩa từmột không gian tình tứ như chuyện tình của đôi lứa, uyên ương Tất cả nhữngđiều này, được Nguyễn Khoa Điềm truyền tải trọn vẹn trong trích đoạn “ĐấtNước" của mình Cuộc chiến tranh chống Mỹ gian khổ đã làm con người xíchlại gần nhau, tất cả đều hướng đến nhiệm vụ chung cao cả để bảo vệ Tổ Quốc.Tình yêu và trách nhiệm cao cả ấy trong thơ Nguyễn Khoa Điềm cũng chính là

quyết tâm của cả một thời đại: “Thời đại của chúng tôi là thời đại của những thanh niên xuống đường chiếm lĩnh từng tầng cao của mái nhà, của ngọn đồi, của nhịp cầu để bắn toả lương tâm lên bầu trời đầy giặc giã” (Chu Lai).

* Kết bài 4:

Trang 3

Trích đoạn “Đất Nước” trong trường ca “Mặt đường khát vọng" là sự lýgiải hoàn hảo cho những thắc mắc của đọc giả về câu hỏi: “Đất nước có từ baogiờ và đất nước là của ai?” Một cách cắt nghĩa, giải thích đầy mới mẻ Chẳngphải nơi chúng ta đang sống, mọi thứ quanh mình, đều là những gì thuộc về đấtnước hay sao Và những câu hỏi thắc mắc về quê hương, đất nước mình vẫn còn

là những điều bỏ ngỏ, để bạn đọc không ngừng tìm kiếm những điều mới lạ ấy,

sự thú vị ấy trong thơ văn:

ta thấy được một hồn thơ luôn âu lo về sự phai tàn, đổ vỡ, những dự cảm bất trắc

và rồi nó lại rạo rực xôn xao, khát khao đến khắc khoải Cõi lòng trong Sóng bịkhuấy động và rung lên đồng điệu với sóng biển, sự trùng hợp thật lạ lùng giữasóng biển và tâm hồn của nữ thi sĩ, đó là một sự hòa hợp kì diệu giữa thiên nhiên

và con người Đọc Sóng ta thấy được nữ thi sĩ Xuân Quỳnh đã thể hiện sâu sắcđiều đó Tiêu biểu nhất là đoạn thơ sau:

* Cách 2 - Gián tiếp

Đã từ lâu con sóng trở thành một đề tài, cảm hứng thi ca của người nghệ

sĩ Đọc thơ Nguyễn Khuyến ta thấy ông thổi hơi thở của mùa thu trong veo vàogợn sóng biếc, còn Huy Cận lại dùng những dòng thơ hắt hiu của kẻ sĩ bất lựctrước thời cuộc để vẽ nên Tràng Giang Và khi đọc thơ Xuân Quỳnh ta thấy chị

đã khoác lên những con sóng bạc đầu một tấm áo tình yêu nống nàn, vĩnh cửubằng một hồn thơ đắm say, cháy bỏng "Sóng" của Xuân Quỳnh như một hònngọc báu sáng ngời trong văn chương những năm kháng chiếc chống Mỹ, vẻ đẹpdịu dàng, chung thủy trong tình yêu của người con gái đã phần nào làm giảm cáinóng, cái khắc nghiệt của cuộc kháng chiến Vẻ đẹp ấy được thể hiện sinh độngqua đoạn thơ sau:

b KẾT BÀI

* Kết bài 1:

Qua những khổ thơ trên, chúng ta có thể thấy được khát vọng tình yêumãnh liệt và khao khát vươn tới sự vĩnh hằng, bất biến nhưng vẫn chứa đựng dựcảm của sự lo âu qua nhãn quan của một người phụ nữ đa sầu, đa cảm Tất cả đãđược tái hiện thành công thông qua việc sử dụng thể thơ năm chữ, nhịp điệu linhhoạt Tình yêu đã được khám phá, nhìn nhận thông qua hình tượng “sóng” trong

Trang 4

sự quyện hòa, sóng đôi với hình tượng nhân vật trữ tình “em” Qua đó, chúng ta

có thể thấy được cái “tôi” tràn đầy cảm xúc khao khát hướng đến một tình yêutuyệt đối, thể hiện một trái tim đang yêu đằm thắm, chân thành giống như nhữngvần thơ trong bài thơ “Tự hát”:

“Em trở về đúng nghĩa trái tim em

Là máu thịt đời thường ai chẳng có Cũng ngừng đập khi cuộc đời không còn nữa Nhưng biết yêu anh cả khi chết đi rồi…”

* Kết bài 2:

Như vậy, bài thơ “Sóng” là một sáng tác đặc sắc, độc đáo viết về đề tàitình yêu, đồng thời là thi phẩm tiêu biểu cho phong cách thơ của nữ sĩ XuânQuỳnh Thông qua việc sử dụng thể thơ năm chữ cùng cách ngắt nhịp linh hoạttạo nên nhịp điệu độc đáo cùng việc sử dụng hình tượng “sóng”, nhà thơ đã bộc

lộ chân thành khát vọng tình yêu mãnh liệt, sôi nổi của trái tim người phụ nữ.Qua đó, chúng ta có thể khẳng định “Xuân Quỳnh là nhà thơ của khát vọng hạnhphúc đời thường” với một tình yêu nồng nhiệt, vừa táo bạo say đắm vừa thiết thadịu dàng, đồng thời thấy được khát vọng vươn tới một tình yêu đích thực vàvượt qua mọi sự hữu hạn của kiếp người luôn thường trực trong trái tim ngườiphụ nữ

tế qua đoạn thơ… (sử dụng linh hoạt tùy vào đề bài để điền tiếp vào chỗ trống)

* Mở bài 2:

Nhà thơ Chế Lan Viên đã từng triết lý: “Khi ta ở, đất chỉ là nơi ở/ Khi ta

đi đất bỗng hóa tâm hồn” Và có một mảnh đất tình người đã hóa thân thành

hồn, thành nỗi nhớ trong lòng người cán bộ về xuôi Đó là mảnh đất Việt Bắc ântình – quê hương của kháng chiến, quê hương của những con người áo chàmnghèo khó mà “đậm đà lòng son” khiến ai đã từng đặt chân đến nơi đây cũngphải bồi hồi, xao xuyến Mảnh đất ấy đã trở thành niềm thương, nỗi nhớ, thànhcảm hứng cho thơ ca Và có một bài thơ đã ra đời vì mảnh đất yêu thương nghĩatình ấy – đó là bài thơ Việt Bắc của nhà thơ cách mạng Tố Hữu Tất cả nhữnggiá trị nội dung và nghệ thuật đặc sắc của Việt Bắc đã được ngòi bút Tố Hữu tập

Trang 5

trung thể hiện tinh tế qua đoạn thơ… (sử dụng linh hoạt tùy vào đề bài để điền tiếp vào chỗ trống)

b KẾT BÀI

* Kết bài 1:

Tóm lại, chúng ta có thể thấy được mạch cảm xúc xuyên suốt bài thơ là sựtrân trọng, ngợi ca tình cảm thủy chung, gắn bó nghĩa tình, keo sơn giữa quân vàdân ta xuyên suốt chặng đường kháng chiến gian lao Ẩn sau khúc ca đó là vẻ

đẹp ngời sáng của tinh thần yêu nước, khiến bài thơ xứng đáng trở thành “khúc trường ca của tình quê hương, đất nước” (Hoài Thanh) Tình cảm đó đã được tái

hiện qua nhiều cung bậc, trạng thái đa dạng, phong phú, đặc biệt là qua khungcảnh sinh hoạt ấm áp, thắm thiết tình quân dân trong khung cảnh thiên nhiên núirừng, chiến khu tươi đẹp gắn liền với cảm hứng ngợi ca, tự hào về những nămtháng gian khổ nhưng hết sức vẻ vang của dân tộc

* Kết bài 2:

Là người, ai mà chẳng có trong tim mình một miền đất để nhớ để thương

Bởi “Khi ta ở chỉ là nơi đất ở – Khi ta đi đất đã hóa tâm hồn” Có lẽ vì thế mà

quê hương cách mạng Việt Bắc đã không ngần ngại chắp cánh cho hồn thơ TốHữu viết nên thi phẩm cùng tên mà ngày nay chúng ta vẫn nâng niu trên tay nhưmột hòn ngọc quý

* Kết bài 3:

Như vậy, bằng giọng thơ mang đậm chất trữ tình - chính trị, tác giả TốHữu đã tái hiện thành công một sự kiện lịch sử có ý nghĩa trọng đại đối với dântộc với tình cảm tha thiết, chân thành Qua đó, chúng ta có thể thấy được bứcchân dung chân thực, sinh động của những người chiến sĩ cách mạng qua côngcuộc kháng chiến chống thực dân Pháp trong mối quan hệ với quần chúng nhândân Đó chính là nền tảng để xây dựng nghĩa tình cách mạng thủy chung, son sắttrong những năm tháng “mưa bom, bão đạn” Đồng thời thể hiện tính toàn dântrong công cuộc chống giặc ngoại xâm, bảo vệ đất nước - một trong những yếu

tố tạo nên chiến thắng vẻ vang của cuộc kháng chiến chống giặc cứu nước

4 TÂY TIẾN – QUANG DŨNG

a MỞ BÀI

* Mở bài 1:

Bàn về sức sống của văn chương nghệ thuật, trong bài thơ “Nghĩ lại về Pau-xtốp-xki” – nhà thơ Bằng Việt từng viết: “Những trang sách suốt đời đi vẫn nhớ/ Như đám mây ngũ sắc ngủ trong đầu” Vâng! Có những tác phẩm ra đời để

rồi chìm khuất giữa ồn ào náo nhiệt của phiên chợ văn chương, nhưng cũng có

những tác phẩm lại như “những dòng sông đỏ nặng phù sa”, như “bản trường

ca rầm rộ giữa bóng cây đại ngàn” để rồi in dấu ấn và chạm khắc trong tâm khảm ta những gì đẹp nhất để “suốt đời đi vẫn nhớ” Đó phải chăng là những tác phẩm đã “vượt qua mọi băng hoại” của thời gian trở thành “bài ca đi cùng năm

Trang 6

tháng” để lại trong tâm hồn bạn đọc bao thế hệ những dư vang không thể nào

quên Một trong số bài ca đó phải kể đến “Tây Tiến” của người nghệ sĩ đa tài Quang Dũng Trong bài thơ có những vần thơ thật lắng đọng, đặc biệt là

đoạn thơ sau:

* Mở bài 2 – Cảm nhận bức chân dung người lính

Quang Dũng là nhà thơ trưởng thành trong kháng chiến chống thực dânPháp, ông từng tham gia hoạt động và chiến đấu trong binh đoàn Tây Tiến,chính những trải nghiệm cùng sống, cùng chiến đấu trong những ngày thánggian khổ ấy đã để lại những miền kí ức không bao giờ quên trong tâm hồn củanhà thơ Hơn nữa, trải nghiệm về chiến tranh, cuộc sống người lính cũng chính

là chất liệu, cảm hứng quan trọng trong những sáng tác thơ ca của Quang Dũng.Ông đã có rất nhiều bài thơ hay viết về đề tài chiến tranh, người lính, trong đóTây Tiến chính là kết tinh tiêu biểu nhất cho tài năng, phong cách và con ngườicủa Quang Dũng Được sáng tác năm 1947, Tây Tiến của Quang Dũng khôngchỉ tái hiện không khí kháng chiến ác liệt, nhiều gian khổ mà còn dựng lên bứcchân dung về người lính với những vẻ đẹp đáng trân trọng Điều đó được thểhiện sinh động qua đoạn thơ sau:

* Mở bài 3 – Cảm nhận bức chân dung người lính

Chiến tranh, người lính là nguồn đề tài lớn trong thơ ca cách mạng, ghidấu từng chặng đường, bước chuyển mình của lịch sử, văn học đã hoàn thành rấttốt sứ mệnh thiêng liêng của mình, không chỉ tái hiện bầu không khí chiến đấu

ác liệt của cuộc chiến mà còn dựng lên những bức chân dung sống động, đẹp đẽnhất về hình tượng người lính Đó là hình tượng người lính xuất thân từ nhữngngười nông dân nghèo mang lí tưởng cứu nước thiêng liêng trong “Đồng chí”của Chính Hữu, là những người lính lái xe lạc quan, yêu đời coi thường gian khổtrong “Bài thơ về tiểu đội xe không kính” Ghi dấu trong mảng đề tài ngỡ như đã

vô cùng quen thuộc ấy, Quang Dũng trong bài thơ “Tây Tiến” đã mang đến mộtbức tượng đài tráng lệ mà đầy mới mẻ về những người lính: kiên cường, quảcảm trong chiến đấu nhưng cũng rất đỗi lãng mạn, hào hoa trong đời sống tinhthần Vẻ đẹp ấy được thể hiện đậm nét qua đoạn thơ sau:

b KẾT BÀI

* Kết bài 1:

“Thơ là đi từ chân trời của một người đến chân trời của nhiều người”,

những gì xuất phát từ trái tim sẽ đi đến trái tim Có lẽ vì thế mà đã hơn nửa thếkhỉ trôi qua với bao thăng trầm lịch sử, con người thực dụng hơn và thờ ơ hơnvới văn chương nhưng “ Tây Tiến” vẫn sẽ được đọc nhiều, thuộc nhiều, yêunhiều Đó là vinh dự của một nhà thơ khi thi phẩm của mình thực sự sống tronglòng bạn đọc Những tình cảm, nỗi nhớ trong “Tây Tiến” mang sức rung cảm

chân thật đến run rẩy từng làn da thớ thịt Vậy là “Thơ hay luôn có sức rung động mãnh liệt” quả không sai!

* Kết bài 2:

Trang 7

Đâu là cầu nối giữa quá khứ và tương lai, đâu là thanh nam châm thu hútmọi thế hệ? Đó chẳng phải là văn học hay sao Văn học vẫn luôn sống một cuộcđời cao đẹp gắn liền với con người và kết tinh những giọt ngọc của thời đại Tất

cả những giá trị vĩnh cửu đó đã thăng hoa cùng ngòi bút của nhà thơ QuangDũng để tác phẩm “Tây Tiến” mãi vấn vương trong trái tim biết bao bạn đọc.Giữa cái bộn bề của thị trường thơ hôm nay, mở lại trang sách cũ, trang thơ đầychất tài hoa, lãng mạn, trữ tình nhưng nỗi nhớ của Quang Dũng về đồng đội, vềnhững kỉ niệm của đoàn quân Tây Tiến gắn liền với khung cảnh thiên nhiênmiền Tây Bắc hùng vĩ, hoang sơ, thơ mộng vẫn còn mãi đó trong dòng chảy vănchương của biết bao thế hệ

5 TUYÊN NGÔN ĐỘC LẬP – HỒ CHÍ MINH

a MỞ BÀI

* Mở bài 1:

Mùa thu năm 1945, cả nước ta tưng bừng trong niềm sung sướng hânhoan Cách mạng tháng Tám thành công đã rũ bỏ khỏi vai người dân Việt Namnhững xiềng xích nô lệ và áp bức, đưa họ qua ngưỡng cửa tối tăm bước tới vùngsáng độc lập tự do Sáng ngày 2/9, một buổi sáng trời trong với nắng vàng ấm

áp, trước hàng triệu nhân dân trên quảng trường Ba Đình, Chủ tịch Hồ Chí Minh

đã đọc bản Tuyên ngôn độc lập, chính thức khai sinh một nước Việt Nam mới,một nước Việt Nam tự do, độc lập và dân chủ Bản tuyên ngôn được Người viết

ra trong một tâm trạng vui sướng nhất Bằng tất cả tâm hồn và trí tuệ, bằngnhững xúc cảm mãnh liệt, người đã truyền đến triệu trái tim nhân dân nhữngrung động sâu xa và thấm thía, đồng thời tuyên bố một cách vững chắc và hàohùng với thế giới về sự tồn tại độc lập có chủ quyền của nước ta

* Mở bài 2:

Dòng máu lạc hồng qua bốn nghìn năm dựng nước và giữ nước vẫn tuôntrào trong huyết quản của mỗi người dân Việt Nam Một dân tộc mang trongmình dòng máu anh hùng quyết chiến sinh tử với bè lũ cướp nước,quyết diệt tậnvong lũ bè bán nước Hỡi ôi! Một dân tộc lừng lẫy chiến công vang dội mangtên Việt Nam.Mỗi một người dân đều là máu thịt của đất nước,họ xứng đángđược hưởng quyền tự do,bình đẳng và mưu cầu hạnh phúc Bản “ Tuyên ngônđộc lập “ của Hồ Chí Minh không chỉ là bản cáo trạng về tội ác của kẻ thù xâmlược mà còn chính là một lời khẳng định chắc chắn về quyền tự do,tự chủ củadân tộc

Trang 8

trịnh trọng về đạo lí và pháp lí của nhân loại Lướt qua sóng bể của năm tháng “Tuyên ngôn độc lâp” mãi dâng cao ngọn cờ chính nghĩa của dân tộc- ngọn cờcủa tự do ,bình đẳng, bác ái.

6 NGƯỜI LÁI ĐÒ SÔNG ĐÀ – NGUYỄN TUÂN

a MỞ BÀI

* Mở bài 1:

Nói đến Nguyễn Tuân, người ta thường nghĩ ngay đến “chủ nghĩa xêdịch” Ông tới miền Tây Bắc rộng lớn, xa xôi không chỉ để thoả mãn cái thú tìmđến miền đất lạ cho thoả niềm khát khao “Xê dịch” mà chủ yếu để tìm kiếm chấtvàng của thiên nhiên và ở tâm hồn của người lao động Những trang viết haynhất của ông thường là những trang tả đèo cao, vực sâu, thác nước dữ dội hoặcnhững cảnh thiên nhiên đẹp một cách tuyệt đỉnh, tuyệt vời “Người lái đò sôngĐà” là tác phẩm tiêu biểu cho phong cách của nhà văn Tác phẩm là những trangvăn miêu tả rất tinh tế vẻ đẹp hình tượng con sông Đà vừa hùng vĩ, dữ dội nhưngcũng rất trữ tình và lãng mạn

bài bút ký đặc sắc “Người lái đò sông Đà” Nguyễn Tuân đã dùng ngòi bút tài

hoa của mình để cảm nhận vẻ đẹp của sông Đà như là một kì công của tạo hóa,như một công trình tuyệt mĩ của thiên nhiên Nhưng dừng ở đó thì lại chưa đủ.Bởi cái đẹp thật sự, đỉnh điểm nằm ở con người Nhà văn đã mang đến mộtthông điệp chủ nghĩa anh hùng đâu chỉ có trong chiến trường ác liệt, mà còn cótrong công cuộc xây dựng đất nước hôm nay Đó là một mẫu hình đẹp đẽ chovăn chương nghệ thuật phát hiện và khám phá Tất cả những giá trị nội dung vànghệ thuật đặc sắc của bài bút ký đã được ngòi bút Nguyễn Tuân tập trung thể

hiện tinh tế qua đoạn văn sau:… (sử dụng linh hoạt tùy vào đề bài để điền tiếp vào chỗ trống).

* Mở bài 3:

Nguyễn Tuân là một trí thức yêu nước và giàu tinh thần dân tộc Lòng yêunước của nhà văn thường không được phát biểu một cách trực tiếp mà ẩn đằngsau những bức tranh thiên nhiên và những giá trị văn hóa cổ truyền của dân tộc.Tùy bút “Người lái đò sông Đà” được in trong tập “Sông Đà” Đây là thành quảđẹp đẽ của chuyến đi thực tế của Nguyễn Tuân khi đến với miền Tây Bắc rộnglớn, xa xôi của Tổ quốc Đó không chỉ thỏa mãn cái thú vui xê dịch “thay thựcphẩm cho tâm hồn, tìm thực đơn mới cho giác quan”, mà còn để tìm kiếm cáichất vàng có trong màu sắc sông núi Tây Bắc Và nhất là chất vàng mười đã quathử lửa ở trong tâm hồn của những con người lao động chiến đấu trên miền núi

Trang 9

sông hùng vĩ và thơ mộng Chính những giá trị mà nó mang lại, Người lái đòsông Đà xứng đáng là tuyệt bút của người nghệ sỹ tài hoa

b KẾT BÀI

* Kết bài 1:

Viết về người lái đò Sông Đà, viết về một vùng đất của Tổ quốc, NguyễnTuân đã thể hiện nguồn xúc cảm yêu thương tha thiết với người lao động vàthiên nhiên đất nước Sông Đà càng đẹp, càng sinh động thì ông lái đò hiện lêncàng anh dũng, ngoan cường trong lao động, ta lại càng thấy được bản lĩnh, tấmlòng và tài năng của Nguyễn Tuân Nhà văn đã phát hiện ra trong con ngườibình dị ấy “ thứ vàng mười đã qua thử lửa” của núi rừng Tây Bắc Cuộc sốngquanh ta vốn rất cũ kĩ, tầm thường, gió vẫn thổi, mây vẫn trôi, ngày lại qua ngày.nhà văn chính là người đã mang lại cho ta một thế giới mới, tinh khôi hơn, diệu

kì hơn Và Nguyễn Tuân đã làm tròn sứ mệnh của một nhà văn, ông đã góp phầnmang đến cho thế giới những sắc màu mới Bước vào thế giới của Nguyễn Tuân,chúng ta như bước vào một chân trời với màu sắc huyền bí riêng biệt, hấp dẫn

và độc đáo Đó là chân trời của cái đẹp, của tài hoa và sự uyên bác

* Kết bài 2:

Một Sông Đà, một Nguyễn Tuân - một thiên nhiên dữ dội, một ngườinghệ sĩ tài hoa Tùy bút của Nguyễn Tuân chân thực mà hấp dẫn là vậy Đọctừng dòng văn, ta như được tự mình trải nghiệm trong không gian Tây Bắc,được gặp và chiêm ngưỡng cái tài hoa của những con người nơi đây “Người lái

đò Sông Đà” là một áng văn đẹp được làm nên từ tình yêu đất nước thiết tha, sayđắm của một người nghệ sĩ muốn dùng văn chương để khắc họa vẻ đẹp kì vĩ,hào hùng, vừa trữ tình, thơ mộng, và nhất là tài năng của những người lao độngbình dị Sự đầu tư nghiêm túc, công phu và tâm huyết cho nghệ thuật củaNguyễn Tuân thật khiến ta khâm phục Phải chăng đó chính là cái độc đáo tài

hoa của Nguyễn Tuân - cái điều mà ông vẫn quan niệm “đã viết văn thì phải viết cho hay, cho đúng cái tạng riêng của mình Văn chương cần sự độc đáo hơn bất kì một lĩnh vực nào khác ”.

7 AI ĐÃ ĐẶT TÊN CHO DÒNG SÔNG – HOÀNG PHỦ NGỌC TƯỜNG

a MỞ BÀI

* Mở bài 1:

Nếu người Hà Nội tự hào có con sông Hồng đỏ nặng phù sa, người Huếcũng tự hào khi có dòng sông Hương thơ mộng chảy qua thành phố Huế cổ kínhvới những lăng tẩm, đền đài Con sông ấy đã chứng kiến bao đổi thay của lịch

sử, sự thăng trầm của cuộc sống Dòng nước của con sông Hương ấy đã tươi mátcho cảnh vật cũng như con người nơi xứ Huế này Vì thế, người Huế rất tự hào

về con sông ấy nó mang đặc trưng của Huế là niềm tự hào kiêu hãnh của nhữngcon người xứ Huế Có lẽ cũng vì điều đó mà sông Hương cũng đã đi vào thơ ca,nhạc họa rất trữ tình và sâu lắng Hoàng Phủ Ngọc Tường, một người con xứ

Trang 10

đã đặt tên cho con sông này là sông Hương nhỉ? Nỗi băn khoăn ấy được ông thếhiện trong tùy bút Ai đã đặt tên cho dòng sông Bằng ngòi bút trữ tình sâu lắng,thể hiện rõ phong cách thể loại Hoàng Phủ Ngọc Tường Tác phẩm thể hiện sựuyên bác tài hoa của chủ thể sáng tạo trong cái nhìn liên tưởng cùng với nhữngtriết luận sâu sắc về quan hệ giữa dòng sông và lịch sử, dòng sông với thi ca

nhạc họa, dòng sông và người xứ Huế (trích dẫn yêu cầu của đề bài)

* Mở bài 2:

Sông Hương đã đi vào thơ ca nghệ thuật như một niềm cảm hứng bất tậnđối với tất cả văn nghệ sĩ, nhưng dù là trong tác phẩm nào đi chăng nữa sôngHương vẫn luôn mang một dáng vẻ vô cùng dịu dàng, quyến rũ khiến ai cũngphải mê đắm ngay từ lần gặp gỡ đầu tiên Có lẽ Hoàng Phủ Ngọc Tường đã

“phải lòng” sông Hương – xứ Huế như một lần gặp gỡ định mệnh để rồi gắn bóvới mảnh đất này hơn 40 năm Trước những rung động của một mối tình sayđắm trong những trang Kiều để từ đó nhà văn dành cho sông Hương một bài kítrang trọng Cả bài kí dường như là cuộc hành trình tìm kiếm cho câu hỏi đầykhắc khoải “Ai đã đặt tên cho dòng sông” Và cuộc tìm kiếm, lý giải cái tên củadòng sông đã trở thành cuộc tìm kiếm đầy hào hứng và say mê không chỉ vẻ đẹpcủa diện mạo hình hài mà còn là độ lắng sâu của tâm hồn và rung động Consông xứ Huế hiện lên trong cuộc tim kiếm của Hoàng Phủ Ngọc Tường đãkhông chỉ là con sông địa lý mà là một sinh thể, một con người “sông Hươngquả thực là Kiều, rất Kiều” vừa xinh đẹp, vừa tài hoa, vừa thăng trầm chìm nổicùng lịch sử lại vừa đằm thắm lắng sâu với nền văn hoá riêng của nó

b KẾT BÀI

* Kết bài 1:

Bằng tài năng, sự tài hoa, liên tưởng tài tình, quan sát tỉ mỉ, sự am hiểutinh tế về các kiến thức xã hội, văn hóa của xứ Huế, tác giả Hoàng Phủ NgọcTường đã cho ra đời một tác phẩm bút ký thật đặc sắc, như họa vào lòng ngườiđọc, người nghe một bức tranh Huế và sông Hương tuyệt đẹp, vẻ đẹp vừa gầngũi, lại thiêng liêng, nhưng cũng rất dịu dàng e lệ Tất cả như hướng độc giả đếncái khao khát một lần được về thăm Huế, được chiêm ngưỡng thiên nhiên xứHuế và đắm mình vào với dòng sông Hương thơ mộng, tươi đẹp

* Kết bài 2:

Có thể nói “ Ai đã đặt tên cho dòng sông” đã mang đến những phát hiệnmới lạ và độc đáo của sông Hương cho độc giả cả nước Nó là một dòng sôngman dại, hoang tàn ở khúc thượng nguồn rồi lại trở nên mê đắm, thủy chung khigặp được người tình trong mộng của mình là xứ Huế Sông Hương đi vào trongtrang viết của Hoàng Phủ Ngọc Tường không vô tri vô giác mà nó còn có cảmxúc, có tình yêu Tác phẩm đã thể hiện được tình yêu quê hương, xứ sở nồngnàn của Hoàng Phủ Ngọc Tường, một kí giả nặng lòng với Huế:

“ Dòng sông ai đã đặt tên

Để người đi nhớ Huế mãi không quên

Trang 11

Xa con sông mang bao nhiêu nỗi nhớ Người ở lại tháng năm đợi chờ”

8 VỢ CHỒNG A PHỦ - TÔ HOÀI

a MỞ BÀI

* Mở bài 1 – Sức sống tiềm tàng của nhân vật Mị

Tô Hoài là nhà văn có sức sáng tạo dồi dào nhất trong làng văn chươngViệt Nam Trước Cách mạng, nhà văn nổi tiếng với những câu chuyện về loàivật như "O chuột”, “Dế mèn phiêu lưu ký” Sau cách mạng nhà văn đã để lại rấtnhiều dấu ấn về những tác phẩm viết về đề tài miền núi như “Truyện Tây Bắc”,

“Miền Tây”… Trong tập Truyện Tây Bắc, nổi tiếng nhất là truyện Vợ chồng APhủ Tác phẩm để lại dư âm trong lòng người đọc không chỉ là cảnh sắc thiênnhiên núi rừng Tây Bắc với đêm tình mùa xuân của tuổi trẻ dập dìu tiếng sáo màcòn làm xúc động tâm hồn người đọc bởi sức sống tiềm tàng, mãnh liệt của nhânvật Mị – người con gái Mèo đã đứng lên đấu tranh với giai cấp thống trị miềnnúi, thoát khỏi kiếp đời nô lệ tủi nhục để trở thành con người tự do

* Mở bài 2 – Về nhân vật Mị

Tô Hoài là nhà văn lớn của nền văn xuôi hiện đại Việt Nam với số lượngtác phẩm đạt kỷ lục Vợ chồng A Phủ là truyện ngắn thành công nhất trong batruyện ngắn viết về đề tài Tây Bắc của ông Tác phẩm có một giá trị hiện thực vànhân đạo sâu sắc Truyện viết về cuộc sống của người dân lao động vùng núicao, dưới ách thống trị tàn bạo của bọn thực dân phong kiến miền núi Đặc biệttruyện đã xây dựng thành công nhân vật Mị, qua đó ca ngợi vẻ đẹp tâm hồn, sứcsống tiềm tàng và khả năng đến với cách mạng của nhân dân Tây Bắc

* Mở bài 3 – Về nhân vật A Phủ:

Nằm trong tập “Truyện Tây Bắc” có thể nói truyện ngắn “Vợ chồng APhủ” là một trong những “đứa con tinh thần” ưu tú nhất của chuyến đi thực tếmiền núi Tây Bắc của nhà văn Tô Hoài Có thể nói đây là tác phẩm phản ánhđậm nét cuộc sống và số phận bất hạnh và đầy éo le của những người nông dânnghèo dưới ách thống trị của bọn địa chủ phong kiến Qua đó, dường như ta đãthấy được tác giả cũng làm nổi bật lên khát vọng và nghị lực sống mãnh liệt củanhững người nghèo khổ Và bên cạnh nhân vật Mị thì nhân A Phủ chính là mộtnhân vật để lại trong lòng người đọc nhiều ấn tượng sâu sắc về sự bản lĩnh vượtlên số phận và vượt lên chính mình

b KẾT BÀI

* Kêt bài 1 – Về nhân vật Mị

Tóm lại, nhân vật Mị là linh hồn là hơi thở của tác phẩm Xây dựng nhânvật Mị là một thành công đặc sắc của nhà văn Tô Hoài Qua việc miêu tả diễnbiến tâm trạng của nhân vật Mị, Tô Hoài đã khẳng định sức sống tiềm tàng

Trang 12

mãnh liệt và khát vọng tự do của nhân dân lao động Tây Bắc dưới sự thống trịcủa bọn lãnh chúa thổ ty miền núi Có nhà phê bình đã cho rằng: “Văn học nằmngoài mọi sự băng hoại Chỉ riêng mình nó không chấp nhận quy luật của cáichết” Đúng vậy, sức sống tiềm tàng mãnh liệt của nhân vật Mị cũng đã làm nênsức sống trường tồn, vĩnh cửu của tác phẩm Vợ Chồng A Phủ.

ca ngợi, trân trọng sức sống tiềm tàng bên trong những con người khốn khổ ấy

* Kết bài 3:

Bằng tấm lòng gắn bó cùng vốn am hiểu sâu sắc về đời sống, văn hóa củavùng đất Tây Bắc, trong truyện ngắn Vợ chồng A Phủ, nhà văn Tô Hoài khôngchỉ dựng lên bức tranh thiên nhiên đẹp đẽ, khoáng đạt mà còn giúp người đọchiểu hơn về văn hóa, về cuộc sống, thân phận những người nông dân Tây Bắctrước cách mạng Đó là những con người khốn khổ bị vây hãm, chà đạp bởicường quyền, thần quyền: Mị, A Phủ, thế nhưng dù bị áp bức đến tận cùng thì họvẫn mang theo niềm tin, sự sống mãnh liệt để vươn lên khỏi cái bạo tàn để giảiphóng bản thân

9 CHIẾC THUYỀN NGOÀI XA – NGUYỄN MINH CHÂU

a MỞ BÀI

* Mở bài 1 – Người đàn bà hàng chài

Nguyễn Minh Châu là một trong những cây bút xuất sắc nhất của nền vănxuôi Việt nam hiện đại Ông là người mở đường tinh anh và thành công nhất củanền văn học thời kì đổi mới Mang một ước nguyện khám phá con người ở bêntrong con người, ông đã mang đến cái nhìn đa chiều các sự việc và con ngườitrong cuộc sống vào tác phẩm của mình "Chiếc thuyền ngoài xa" cùng với nhânvật người đàn bà hàng chài trong truyện ngắn là một ví dụ tiêu biểu cho phongcách này của ông Nhân vật người đàn bà hàng chài được tác giả khắc học vàphăm phá bằng cái nhìn đa chiều, từ nhiều điểm nhìn khác nhau Có khi đượchiện lên từ sự quan sát, cảm nhận của nhân vật Phùng - người nghệ sĩ nhiếp ảnhvới tâm hồn nhạy cảm, phong phú, có lúc chị tự bộc lộ mình qua những lời nói,hành động trong mối quan hệ với mọi người xung quanh Khi khám phá tínhcách của người đàn bà hàng chài, ấn tượng đầu tiên Nguyễn Minh Châu muốnđem đến cho người đọc là vẻ ngoài xấu xí, lam lũ cùng với vẻ cam chịu đếnnhẫn nhục của người đàn bà hàng chài này ẩn dấu những vẻ đẹp nhân tâm củaphụ nữ Việt nam hiện đại

* Mở bài 2:

Trang 13

Nguyễn Minh Châu là nhà văn tiêu biểu của nền văn học Việt Nam tronggiai đoạn đổi mới, ông là người tiên phong trong việc khám phá đời sống conngười trong sự phức tạp, đa diện thời hậu chiến Chiếc thuyền ngoài xa là truyệnngắn tiêu biểu cho tài năng và sự tinh anh trong vai trò "người mở đường" củaNguyễn Minh Châu Truyện ngắn viết về bi kịch hạnh phúc, bi kịch đói nghèotrong gia đình người đàn bà hàng chài, qua đó nhà văn không chỉ thể hiện nhữngphát hiện về nghịch lí trong cuộc sống của con người mà còn gửi gắm nhữngthông điệp sâu sắc về mối quan hệ giữa nghệ thuật và cuộc đời, giữa người nghệ

sự thật đời sống và qua sự thay đổi nhận thức của Phùng, của Đẩu, tác giả đãkhẳng định mối quan hệ giữa nghệ thuật và hiện thực Theo ông, bổn phận củangười nghệ sĩ là phải phát hiện ra bản chất của cuộc đời Cái Đẹp, cái Thiệntrước hết phải là sự chân thực, Cuộc sống vốn phức tạp, chúng ta không thể đơngiản, sơ lược khi nhìn nhận con người và cuộc sống mà cần có cái nhìn tỉnh táo,sâu sắc cùng với sự tìm tòi, phát hiện để hiểu đúng bản chất của nó

* Kết bài 2:

Nguyễn Minh Châu là một trong những người tiên phong trong việc đisâu khám phá những "ngóc ngách" của đời sống, phát hiện ra những góc khuất,những phức tạp của cuộc sống ấy Chiếc thuyền ngoài xa không chỉ là phát hiệncủa ông về góc tối trong cuộc sống của những con người nghèo khổ mà qua đóông còn đặt ra mối trăn trở về mối quan hệ giữa nghệ thuật và cuộc đời, giữangười nghệ sĩ với con người đồng thời đặt ra trách nhiệm của những người nghệ

sĩ, khi nhìn nhận, đánh giá về cuộc sống cần có cái nhìn sâu rộng, cảm thông đểthấy được bản chất dù là xù xì, xấu xí bên trong thay vì cái nhìn phiến diện nhưchiếc thuyền ở ngoài xa

Trang 14

truyện ngắn Vợ nhặt, nhà văn Kim Lân đã hướng ngòi bút nhân đạo của mình đểlột tả những vẻ đẹp đáng quý trong tâm hồn con người, đó là tình thương, là sứcsống mãnh liệt.

* Mở bài 2 – Người vợ nhặt

Kim Lân là nhà văn có vốn am hiểu phong phú về cuộc sống và tâm hồncủa người nông dân Viết về làng quê, người nông dân bằng những tình cảmchân thành, bình dị nhưng vô cùng tinh tế nên văn của Kim Lân thường dễ chạmđến những tình cảm sâu kín nhất bên trong mỗi độc giả Vợ nhặt không chỉ làtruyện ngắn đặc sắc nhất của Kim Lân mà còn là tác phẩm tiêu biểu của nền vănhọc hiện thực Việt Nam khi khắc họa sống động cuộc sống nghèo khổ, bế tắccủa con người trong nạn đói Tiêu biểu cho hình ảnh và thân phận con ngườitrong nạn đói, đó chính là nhân vật người vợ nhặt

* Mở bài 3 – Nhân vật Tràng

Kim Lân là một cây bút chuyên viết truyện ngắn, ông thường viết về nôngthôn và người nông dân bằng lời văn chân thật xúc động khi miêu tả đời sống,cảnh ngộ và tâm lý của họ Truyện ngắn "Vợ nhặt" là tác phẩm xuất sắc in trongtập "Con chó xấu xí"(1962) Bối cảnh của truyện là nạn đói thê thảm khủngkhiếp năm 1945 do thực dân Pháp và phát xít Nhật gây ra Nhưng dù ở hoàncảnh nào ngay cả khi cận kề bên cái chết họ vẫn yêu thương cưu mang đùm bọclẫn nhau, vẫn khát khao hạnh phúc và có niềm tin bất diệt vào tương lai Nhữngphẩm chất tốt đẹp ấy được nhà văn thể hiện qua nhân vật Tràng

* Mở bài 4 – Nhân vật Bà cụ Tứ

Truyện ngắn “Vợ nhặt” của nhà văn Kim Lân lấy bối cảnh là nạn đóikhủng khiếp năm 1945 để diễn tả được cái đói có sức nặng như thế nào, nhưngngụ ý của tác giả chính là việc dựa trên nạn đói để lột tả tính cách “trong nhưngọc sáng ngời” của những con người, những mảnh đời lầm thân Nhân vật bà

cụ Tứ là một hình tượng điển hình cho người đàn bà nghèo khổ đến cùng cựcnhưng có tình yêu thương con đến vô bờ bến Hẳn rằng người đọc sẽ không baogiờ quên những lời mà Kim Lân đã dành cho bà

b KẾT BÀI

* Kết bài 1

Viết về nạn đói năm 1945 thế nhưng nhà văn Kim Lân không tập trungmiêu tả thực trạng xơ xác, thê thảm mà nạn đói mang đến cho con người mà tậptrung bút lực khai thác, khám phá vẻ đẹp ẩn chứa bên trong con người Và "Vợnhặt" của Kim Lân đã vô cùng thành công khi tìm thấy ánh sáng đẹp đẽ nhất củasức sống, vẻ đẹp tình thương bên trong những người nông dân nghèo - nạn nhânđáng thương của nạn đói Qua truyện ngắn, nhà văn cũng khẳng định cái đói, sựmất mát khủng khiếp chỉ có thể bào mòn sức sống, tước đoạt sinh mạng conngười mà không thể làm mất đi bản chất tốt đẹp của con người: Bà cụ Tứ và anhTràng tuy nghèo khó nhưng vẫn sẵn sàng dang tay cưu mang, giúp đỡ người vợ

Trang 15

nhặt, người vợ nhặt "lột bỏ" vẻ ngoài chanh chua, chỏng lỏn để trở về với bảnchất của mình: hiền hậu, đúng mực khi đã có một gia đình.

* Kết bài 2 – Về bà cụ Tứ

Hình ảnh bà Cụ Tứ là một trong những hình tượng để lại nhiều cảm xúctrong lòng độc giả Đi qua biết bao nhiêu khổ sở, bất hạnh trong cuộc đời.Người mẹ nghèo ấy cuối cùng vẫn là người nói những câu chuyện vui, tin tưởngvào tương lai của các con và chu đáo cho những tháng ngày còn vất vả Trongđôi mắt của người mẹ nghèo, biết bao nhiêu những tình cảm yêu thương con còn

ở lại và bóng tối tan đi Xin được mượn một lời thơ của nhà thơ Chế Lan Viênthay lời kết cho bài viết này, cũng là những tâm tư đọc giả như tôi còn bângkhuâng mãi:

“Con dù lớn vẫn là con của mẹ

Đi hết đời lòng mẹ vẫn theo con"

* Kết bài 3 – Về nhân vật Thị

Tóm lại, người vợ nhặt là một sáng tạo của Kim Lân Thông qua nhân vậtnày, nhà văn đã thể hiện một ý nghĩa nhân văn cao đẹp Con người ta dù sốngtrong hoàn cảnh khốn cùng nào cũng sẽ luôn hướng về tương lai và không baogiờ mất đi niềm tin vào sự sống Thông qua hình ảnh nhân vật Thị nhà văn nhưphanh phui, lột trần bộ mặt thối nát của bọn thực dân và bọn cường quyền lộnghành, chính vì tội ác của chúng mà làm thân phận con người chỉ đáng vài bátbánh đúc, chính chúng là thủ phạm hủy hoại tương lai của biết bao con người.Chính Thị là một hình tượng mà nhà văn Kim Lân đã dựng lên để nói với nhândân và bè lũ độc ác kia rằng người phụ nữ Việt Nam nói riêng và nhân dân ViệtNam nói chung không bao giờ từ bỏ sự sống ở bất cứ hoàn cảnh nào

* Kết bài 4 – Về nhân vật Tràng

Vợ nhặt là truyện ngắn xuất sắc nhất của Kim Lân, là tác phẩm giàu giá trịhiện thực, nhân đạo; là bài ca về tình người ở những người nghèo khổ, ca ngợiniềm tin bất diệt vào tương lai tươi sáng của con người Truyện xây dựng thànhcông hình tượng nhân vật Tràng, một người lao động nghèo khổ mà ấm áp tìnhthương, niềm hy vọng, lạc quan qua cách dựng tình huống truyện và dẫn truyệnđộc đáo, nhất là ngòi bút miêu tả tâm lí tinh tế, khiến tác phẩm mang chất thơcảm động và hấp dẫn

11 HỒN TRƯƠNG BA, DA HÀNG THỊT – LƯU QUANG VŨ

a MỞ BÀI – Màn đối thoại giữa Trương Ba – Đễ Thích

Lưu Quang Vũ là một trong những nhà viết kịch tài năng nhất của vănnghệ Việt Nam hiện đại, là người có công lớn góp phần vực dậy cả một nền sânkhấu lúc đó đang có nguy cơ tụt hậu Kịch của Lưu Quang Vũ hấp dẫn chủ yếubằng xung đột trong cách sống và quan niệm sống, qua đó khẳng định khát vọnghoàn thiện nhân cách con người Vở kịch Hồn Trương Ba, da hàng thịt là tácphẩm gây tiếng vang nhất của Lưu Quang Vũ, được tác giả hoàn thành năm

Trang 16

1984, công diễn lần đầu năm 1987 Đoạn trích thuộc cảnh VII và đoạn kết của

vở kịch, đặt vấn đề về lẽ sống con người qua nỗi khổ bên trong một đằng, bênngoài một nẻo và chữa đựng những vấn đề triết lí nhân sinh Qua cuộc đối thoạigiữa hồn Trương Ba và Đế Thích, Lưu Quang Vũ đã làm rõ khát vọng đượcsống là chính mình của Hồn Trương Ba

b KẾT BÀI - Màn đối thoại giữa Trương Ba – Đễ Thích

Tóm lại, xây dựng hai nhân vật đặc biệt này, Lưu Quang Vũ đã sử dụngbiện pháp đối lập để tô đậm sự khác nhau cơ bản giữa hồn người này và xácngười kia Ông Trương Ba vốn là một người làm vườn chất phác, hiền lành, nhonhã Hồn của Trương Ba biểu tượng cho sự thanh nhã, cao khiết, trong sạch, đạođức Hồn là phần chân chính của mỗi con người Ngược lại, anh hàng thịt vớithân xác vạm vỡ, kềnh càng, thô lỗ,… biểu tượng cho bản năng, cho những hammuốn trần tục Đây thực ra là một ẩn dụ, xác anh hàng thịt ẩn dụ về thể xác conngười, còn hồn Trương Ba ẩn dụ về linh hồn của con người Tác giả đã sáng tạo

ra một tình huống ẩn dụ có sức lôi cuốn, gợi cho người đọc những suy nghĩ sâusắc: con người không thể sống không là mình, không thể sống giả dối hay vaymượn cuộc sống của người khác Con người không chỉ sống bằng thế xác và cònphải sống bằng linh hồn, tình cảm… Độ vênh của linh hồn và thể xác sẽ là bikịch

PHẦN HAI

Trang 17

MỘT SỐ DẠNG ĐỀ VÀ DÀN Ý CHI TIẾT CÁC ĐOẠN TRÍCH, TÁC PHẨM VĂN HỌC

I ĐẤT NƯỚC – NGUYỄN KHOA ĐIỂM

Chín câu thơ đầu của đọan thơ :

“Khi ta lớn lên Đất Nước đã có rồi

Trước hết,ở hai câu thơ đầu của đọan thơ, Tác giả đi tìm sự lý giải về sựsinh thành của đất nước.Đất nước có từ bao giờ ? Để trả lời cho câu hỏi này, nhàthơ đã viết :

“Khi ta lớn lên Đất Nước đã có rồi,

Đất Nước có trong những cái ngày xửa ngày xưa mẹ thường hay kể”.Tham vọng tính tuổi của Đất nước của nhà thơ thật khó bởi chính cái

“ngày xửa ngày xưa” ( thời gian nghệ thuật thường thấy trong truyện cổ tích) cótính phiếm chỉ, trừư tượng, không xác định Đó là thời gian huyền hồ, hư ảo,thời gian mang màu sắc huyền thoại Song chính ở “cái ngày xửa ngày xưa” đó,

Trang 18

từ bao giờ chẳng biết Chỉ biết rằng: khi ta cất tiếng khóc chào đời, thì Đất Nước

và tính cách anh hùng của con người Việt Nam Ở đây, hình ảnh “miếng trầu” đã

là một hình tượng nghệ thuật giàu tính thẩm mỹ từng xuất hiện trong các câuchuyện cổ tích, ca dao, tục ngữ Bởi lẽ, “miếng trầu” là hiện thân của tình yêuthương, lòng thủy chungcủa tâm hồn dân tộc.Từ truyền thuyết dân gian đến tácphẩm thơ văn hiện đại, cây tre đã trở thành biểu tượng cho sức mạnh tinh thầndân tộc quật cường đánh giặc cứu nước và giữ nước

Và còn nữa, trong quá trình trưởng thành, đất nước còn gắn liền với vớiđời sống văn hóa tâm linh, bằng phong tục tập quán lâu đời còn truyền lại vàbằng chính cuộc sống lao động cần cù vất vả của nhân dân:

“Tóc mẹ búi sau đầuCha mẹ thương nhau bằng gừng cay muối mặnCái kèo, cái cột thành tên,

Hạt gạo phải một nắng hai sương xay, giã, dần, sàng…”.Đọan thơ, bằng những ý thơ giàu sức liên tưởng, nhà thơ đã đưa ngườiđọc trở về với những nét đẹp văn hóa một thời của người phụ nữ Việt Nam bằnghình ảnh “tóc mẹ búi sau đầu”, gợi tả một nét đẹp thuần phong mỹ tục của ngườiViệt; và những câu ca dao xưa ca ngợi vẻ đẹp đậm tình nặng nghĩa trong cuộcsống vợ chồng “cha mẹ thương nhau bằng gừng cay muối mặn” Không nhữngvậy, hình ảnh thơ còn thể hiện sự cảm nhận về đất nước gắn với nền văn hóanông nghiệp lúa nước, lấy hạt gạo làm gia bản…

Có thể nói, đọan thơ mở đầu trả lời cho câu hỏi về cội nguồn đất nước –một câu hỏi quen thuộc, giản dị bằng cách nói cũng rất giản dị, tự nhiên nhưngcũng rất mới lạ: nhà thơ không tạo ra khỏang cách sử thi để chiêm ngưỡng và cangợi đất nước hoặc dùng những hình ảnh mĩ lệ, mang tính biểu tượng để cảmnhận và lý giải, mà dùng cách nói rất đỗi giản dị,tự nhiên với những gì gần gũi,thân thiết, bình dị nhất

Giọng thơ thâm trầm, trang nghiêm; cấu trúc thơ theo lối tăng cấp: Đấtnước đã có; Đất Nước bắt đầu; Đất Nước lớn lên; Đất Nước có từ… giúp chongười đọc hình dung cả quá trình sinh ra, lớn lên, trưởng thành của đất nướctrong thời gian trường kỳ của con người Việt Nam qua bao thế hệ Đặc biệt làcách nhà thơ viết hoa hai từ Đất Nước (vốn là một danh từ chung) cũng đã giúp

ta cảm nhận tình yêu và sự trân trọng của nhà thơ khi nói về đất nước, quêhương của mình

Trang 19

* Kết bài:

Tóm lại, chín câu thơ mở đầu cho đọan trích “Đất Nước” đã thật sự để lạinhững ấn tượng và cảm xúc sâu sắc cho người đọc về sự sinh thành và trưởngthành của đất nước Bởi lẽ, đọan thơ đã giúp cho tất cả mọi người, đặc biệt là thế

hệ trẻ, những ai mà còn có những nhận thức mơ hồ về đất nước mình thật sựphải suy gẫm Bởi lẽ, đọan thơ còn cho chúng ta hiểu được đất nước thật thânthương và gần gũi biết nhường nào Từ đó đọan thơ bồi dưỡng thêm cho chúng

ta về tình yêu đất nước, quê hương mình và biến tình yêu ấy bằng thái độ, hànhđộng dựng xây , bảo vệ đất nước

2 Đề số 2:

Phân tích đọan thơ sau đây trong đọan trích “Đất Nước” (Trích trường ca

“ Mặt đường khát vọng” của Nguyễn Khoa Điềm:

“ Đất là nơi anh đến trường

Có thể nói, bằng giọng thơ sôi nổi thiết tha, hình ảnh thơ sinh động và gợicảm…đọan thơ sau đây trong “Đất Nước” có thể xem như là những định nghĩa

về đất nước thật mới mẻ và độc đáo của nhà thơ :

“ Đất là nơi anh đến trường

Câu hỏi đã được nhà thơ trả lời bằng cách nêu ra những định nghĩa về đấtnước ở hai phương diện: không gian địa lý và thời gian lịch sử

Trước hết, về không gian địa lý, đất nước là nơi sinh sống của mỗi người :

Trang 20

Cùng với cách cảm nhận về đất nước ở phương diện không gian địa lý,nhà thơ còn cảm nhận đất nước ở phương diện thời gian lịch sử Ở phương diệnnày, đất nước có cả chiều sâu và bề dày được nhận thức từ huyền thoại Lạc LongQuân và Âu Cơ, từ truyền thuyết Hùng Vương và ngày giỗ Tổ

Đọan thơ với cấu trúc ngôn ngữ “ Đất là…, Nước là…Đất Nước là…” ,nhà thơ đã định nghĩa bằng cách tư duy “chiết tự” để giải thích, cắt nghĩa haitiếng Đất Nước thiêng liêng bằng tinh thần luận lí chân xác Nếu tách ra làmnhững thành tố ngôn ngữ độc lập thì Đất và Nước chỉ có ý nghĩa là không giansinh tồn về mặt vật chất của con người cá thể Nhưng nếu hợp thành một danh từthì “Đất Nước” lại có ý nghĩa tinh thần thiêng liêng, chỉ không gian sinh sốngcủa cả một cộng đồng người như anh em một nhà

Bằng cách sử dụng sáng tạo các yếu tố ca dao, truyền thuyết dân gian nhàthơ đã lý giải một cách sinh động, cụ thể cho câu hỏi: Đất nước là gì? Từ đó,hình ảnh đất nước hiện lên qua đọan thơ vừa gần gũi – cụ thể, vừa thiêng liêng-khái quát trên cả bề rộng không gian địa lý mênh mông và thời gian lịch sử đằngđẵng của dân tộc

* Kết bài:

Có thể nói, đọan thơ là những định nghĩa đa dạng, phong phú về đất nước

từ chiều sâu văn hóa dân tộc, xuyên suốt chiều dài của thời gian lịch sử đếnchiều rộng của không gian đất nước Nhà thơ cũng vận dụng rộng rãi các chấtliệu văn hóa dân gian để cảm nhận và định nghĩa về đất Từ đó, đọan thơ giúpcho chúng ta hiểu và gắn bó hơn với đất nước, quê hương mình bằng một tìnhyêu và ý thức trách nhiệm sâu sắc

Trang 21

“Đất nước”là một đọan trích thuộc chương V trong bản trường ca “Mặtđường khát vọng” của Nguyễn Khoa Điềm, sáng tác năm 1971, tại chiến trườngBình Trị Thiên.

Đọan thơ sau đây là những lời nhắn nhủ tâm tình về sự gắn bó và tráchnhiệm của mỗi người với đất nước:

“ Trong anh và em hôm nay, Đều có một phần Đất Nước

“ Trong anh và em hôm nay, Đều có một phần Đất Nước”.

Đây là một sự thực mà mỗi người Việt Nam ai cũng đều cảm thấy Đấtnước đã hóa thân vào mỗi con người, bởi chúng ta đều là con Rồng, cháu Tiên,đều sinh ra và lớn lên trên đất nước này Mỗi người Việt Nam đều đã và đangthừa hưởng những giá trị vật chất, tinh thần của đất nước thành máu thịt, tâmhồn, nếp cảm, nếp nghĩ và cách sống của mình

Từ việc khẳng định: đất nước hóa thân và kết tinh trong cuộc sống củamỗi người, nhà thơ tiếp tục nói về mối quan hệ gắn bó sâu sắc của mỗi ngườivới đất nước bằng những dòng thơ giàu chất chính luận :

“Khi hai đứa cầm tay Đất Nước trong chúng ta hài hòa nồng thắm Khi chúng ta cầm tay mọi người

Đất Nước vẹn tròn, to lớn”.

Với những cảm nhận tinh tế, mới mẻ về sự hòa quyện giữa cái riêng vàcái chung, giữa tình yêu và niềm tin, đồng thời kết hợp sử dụng các tính từ “hàihòa, nồng thắm”; “vẹn tròn, to lớn” đi liền nhau; đặc biệt là kiểu câu cấu tạotheo hai cặp đối xứng về ngôn từ (“Khi /Khi; Đất Nước / Đất Nước), nhà thơmuốn gửi đến cho người đọc bức thông điệp: đất nước là sự thống nhất hài hòagiữa tình yêu đôi lứa với tình yêu Tổ quốc, giữa cá nhân với cộng đồng

Không chỉ khẳng định mối quan hệ gắn bó giữa Đất nước và nhân dân,giữa tình yêu cá nhân với tình yêu lớn của đất nước; nhà thơ còn thể hiện niềmtin mãnh liệt vào tương lai tươi sáng của đất nước :

“Mai này con ta lớn lên

Trang 22

Con sẽ mang Đất Nước đi xa Đến những tháng ngày mơ mộng”.

Có thể nói, ba dòng thơ đã mở ra một tầng ý nghĩa mới, đó là niềm tinmãnh liệt vào tương lai tươi sáng của đất nước Thế hệ sau “con ta lớn lên sẽmang Đất Nước đi xa- Đến những tháng ngày mơ mộng” Đất nước sẽ đẹp hơn,những tháng ngày mơ mộng ở hiện tại sẽ trở thành hiện thực ở ngày mai

Khi đã hiểu hết ý nghĩa thiêng liêng của đất nước, nhà thơ muốn nhắn gửivới mọi người :

“ Em ơi em Đất nước là máu xương của mình Phải biết gắn bó và san sẻ

Phải biết hóa thân cho dáng hình xứ sở Làm nên Đất Nước muôn đời…”

Bằng giọng văn trữ tình kết hợp với chính luận; bằng cách sử dụng câucầu khiến, điệp ngữ “phải biết – phải biết” nhắc lại hai lần cùng các động từmạnh “gắn bó, san sẻ, hóa thân” …nhà thơ như nhắn nhủ mình, nhưng cũng lànhắn nhủ với mọi người (nhất là thế hệ trẻ) về trách nhiệm thiêng liêng của mìnhvới đất nước Cái hay là lời nhắn nhủ mang tính chính luận nhưng lại không giáohuấn mà vẫn rất trữ tình, tha thiết như lời tự dặn mình – dặn người của nhà thơ

Trang 23

khát vọng” của Nguyễn Khoa Điềm, sáng tác năm 1971, tại chiến trường BìnhTrị Thiên.

Đọan thơ sau đây là sự thể hiện sâu sắc những suy tư, nhận thức về đấtnước của nhà thơ trên cơ sở tư tưởng Đất nước của Nhân dân :

“ Để Đất Nước này là Đất Nước Nhân dân

Trước hết, câu thơ mở đầu đọan thơ “ Để Đất Nước này là Đất NướcNhân dân” chính là sự thể hiện cảm hứng chủ đạo bao trùm lên tòan đọan trích

và cả Chương V của bản trường ca “Mặt đường khát vọng” Đây chính là lời kết,

là sự khái quát từ những gì đã được nhà thơ triển khai trên cả chiều dài của trangthơ và trong cả chiều sâu của dòng cảm hứng trữ tình- chính luận

Nhân dân sáng tạo ra mọi giá trị văn hóa như ca dao, thần thoại Như vậycũng chính là đã sáng tạo ra đất nước Để khẳng định điều này, Nguyễn KhoaĐiềm đã lấy ý từ ba câu ca dao có nội dung sâu sắc để nói về ba phương diệnquan trọng nhất của truyền thống nhân dân :

“Dạy anh biết “yêu em từ thuở trong nôi”

Biết quý công cầnm vàng những ngày lặn lội Biết trồng tre đợi ngày thành gậy

Đi trả thù mà không sợ dài lâu”.

Đó là vẻ đẹp giàu lòng yêu thương ân tình của người Việt đã bắt nguồn từthời xa xưa với những lời dân ca ngọt ngào:

“Yêu em từ thuở trong nôi,

Em nằm em khóc, anh ngồi anh ru”

Và đó là vẻ đẹp của lối sống đậm nghĩa, vẹn tình, quý trọng tình nghĩahơn cả vật chất ngàn vàng Ở đây, ý thơ của nhà thơ được gợi lên từ chính nhữngcâu ca dao một thời đi vào đời sống tâm hồn của dân tộc :

“ Cầm vàng mà lội qua sông Vàng rơi không tiếc, tiếc công cầm vàng”

Và đó còn là sự thể hiện của truyền thống kiên cường, bất khuất của trongquá trình đấu tranh chống giặc ngoại xâm của nhân dân ta Vẻ đẹp của truyền

Trang 24

thống anh hùng ấy cũng được làm nên từ những câu ca dao từng ca ngợi tinhthần quật khởi của dân tộc:

“ Thù này ắt hẳn còn lâu Trồng tre nên gậy , gặp đâu đánh què”

Từ đó có thể khẳng định: nhân dân đã làm ra văn hóa, làm ra đất nướcbằng chính tinh cách, lẽ sống tâm hồn mình

Có thể nói, tuổi trẻ thế hệ Nguyễn Khoa Điềm đã nhận thức được mộtcách sâu sắc Nhân dân là người làm nên lịch sử, làm ra văn hóa đất nước bằngtất cả tình cảm trân trọng và yêu thương Suy tư và nhận thức này của nhà thơ là

tư tưởng nghệ thuật đã trở thành truyền thống trong văn học Việt Nam TừNguyễn Trãi, Nguyễn Đình Chiểu, Phan Bội Châu …đã từng nói lên nhận thức

về vai trò của nhân dân trong lịch sử Đến các nhà thơ, nhà văn trong thời kìkháng chiến chống Pháp, chống Mỹ, nhận thức ấy đã được nâng lên thành một

tư tưởng có tầm cao mới

* Kết bài:

Bằng giọng thơ nhẹ nhàng, tha thiết, trang trọng; ý thơ giàu chất chínhluận, ngôn ngữ thơ mộc mạc, cách sử dụng sáng tạo chất liệu văn hóa, văn họcdân gian…từ những suy tư cảm xúc của nhà thơ, đọan thơ đã khắc sâu chochúng ta những nhận thức sâu sắc và mới mẻ về đất nước nhân dân.Từ đó, đọanthơ bồi dưỡng thêm tình yêu Tổ quốc và niềm tự hào về con người Việt Namcho mỗi người, đặc biệt là thế hệ trẻ trong thời đaị hôm nay

II SÓNG – XUÂN QUỲNH

1 Đề số 01: Cảm nhận về 02 khổ thơ đầu bài thơ Sóng

Xuân Quỳnh là một trong số những nhà thơ trẻ xuất sắc trưởng thành từkháng chiến chống Mỹ và là một trong số ít những nhà thơ nữ viết rất nhiều vàrất thành công về đề tài tình yêu Một trong những thành công xuất sắc về đề tàinày của nữ sĩ là bài thơ “Sóng”, hai khổ thơ đầu bài thơ nữ thi sĩ viết:

“Dữ dội và dịu êm

Ồn ào và lặng lẽ Sông không hiểu nổi mình Sóng tìm ra tận bể

Ôi con sóng ngày xưa

Và ngày sau vẫn thế Nỗi khát vọng tình yêu Bồi hồi trong ngực trẻ”

Thơ Xuân Quỳnh là tiếng lòng của tâm hồn người phụ nữ nhiều trắc ẩn,vần thơ của bà vừa chân thành đằm thắm, vừa nồng nàn mãnh liệt và hơn hếtluôn bật lên khát vọng da diết về hạnh phúc bình dị đời thường Bài thơ

“Sóng” ra đời năm 1967 trong chuyến đi thực tế của nhà thơ về vùng biển Diêm

Trang 25

Điền tỉnh Thái Bình và lúc này thì bản thân nhà thơ cũng vừa trải qua một sự đổ

vỡ trong tình yêu Bài thơ được in trong tập “Hoa dọc chiến hào” năm 1968.Tình yêu là điều bí ẩn nên ngàn đời vẫn cuốn hút con người, tình yêu trong thơXuân Quỳnh chính là những bông hoa dọc chiến hào làm dịu đi sự khốc liệt củachiến tranh

Trong bài thơ “Sóng”, nhà thơ sử dụng thể thơ năm chữ, đây là thể thơ cónhịp điệu nhanh, mạnh, dồn dập Thể thơ này thường dùng để diễn tả nhữngdòng cảm xúc ào ạt, hối hả, mãnh liệt Bài thơ sử dụng cách hiệp vần giãn cách,hiệp vần chân ở những tiếng cuối của các câu chẵn Hơn nữa bài thơ có sự luânphiên về thanh điệu ở các tiếng cuối của các câu thơ Như vậy những thủ phápnghệ thuật sáng tạo đã tạo nên âm hưởng nhịp nhàng, uyển chuyển cho cả bàithơ Âm hưởng của bài thơ là âm hưởng dạt dào của những con sóng mà mỗi câuthơ là một con sóng, chúng gối lên nhau chạy đều, chạy đều đến cuối bài thơ.Những con sóng là sự trào dâng mãnh liệt của dòng cảm xúc ào ạt trong lòng nữ

sĩ Có lẽ vì thế mà ấn tượng về con sóng trong bài thơ không chỉ là của sóngbiển mà còn là của sóng tình Đây cũng chính là hai hình tượng nghệ thuật màtác giả đã tập trung xây dựng trong bài thơ Sóng biển và sóng tình có lúc tồn tạisong song để soi chiếu, tôn vinh vẻ đẹp cho nhau, có lúc lại hòa làm một, trongsóng biển có sóng tình, trong sóng tình ta lại thấy nhịp dào dạt của sóng biển.Suy cho cùng sóng biển và sóng tình là hai hình tượng nghệ thuật để biểu đạtcho cái tôi trữ tình của nhà thơ

Qua hai khổ thơ đầu nữ sĩ đã cho chúng ta cảm nhận được đặc điểm củanhững con sóng biển và những con sóng tình yêu, những con sóng luôn chứađựng những trạng thái đối lập và luôn có những khát khao vươn tới những sự vĩđại, bao la Mở đầu, nhà thơ viết:

“Dữ dội và dịu êm

Ồn ào và lặng lẽ”

Trong hai câu thơ mở đầu tác giả đã sử dụng tới hai cặp tính từ trái nghĩa

để miêu tả đặc điểm của sóng biển: “dữ dội – dịu êm”, “ồn ào – lặng lẽ” Thôngthường đứng giữa những cặp tính từ trái nghĩa là quan hệ từ biểu đạt sự tươngphản “tuy – nhưng”, thế nhưng ở đây nhà thơ nữ Xuân Quỳnh lại sử dụng quan

hệ từ “và” vốn biểu đạt quan hệ cộng hưởng, cộng thêm, nối tiếp Như vậynhững đặc điểm tưởng như đối lập lại thống nhất với nhau và luôn tồn tại trongmột chỉnh thể là sóng Trong cái dữ dội có cái dịu êm, trong sự ồn ào lại chứađựng sự lặng lẽ.Những trạng thái đối lập của sóng cũng chính là những trạngthái đối lập trong tâm hồn người phụ nữ khi yêu Trong tình yêu, tâm hồn ngườiphụ nữ không hề bình lặng mà đầy biến động: có khi sôi nổi cuồng nhiệt, cũng

có khi e lệ, kín đáo, có lúc đằm thắm, lúc hờn ghen

Tác giả tiếp tục sử dụng biện pháp nhân hóa trong hai câu thơ tiếp theo,con sóng được nhân hóa qua động từ “tìm” trong hành trình từ sông ra tới biển:

“Sông không hiểu nổi mình

Trang 26

Sóng tìm ra tận bể”

Tác giả đã khéo léo sử dụng động từ “tìm” trong việc nhân hóa con sóng

đã cho ta thấy được sự chủ động của con sóng, con sóng chủ động chối bỏnhững phạm vi chật hẹp “sông” để vươn tới những phạm vi rộng lớn bao la

“bể” Như vậy trong bốn câu thơ đầu nhà thơ đã giúp ta nhìn lại hai đặc điểm tựnhiên, vốn có của những con sóng và chính tác giả cũng đã phải sử dụng tới haicâu thơ để khẳng định sự hiển nhiên, vốn có này:

“Ôi con sóng ngày xưa

và ngày sau vẫn thế”

Nữ sĩ đã khẳng định đặc điểm ngàn đời vốn có của sóng, từ quá khứ

“ngày xưa” cho đến tương lai “ngày sau” con sóng vẫn luôn chứa đựng nhữngtrạng thái đối lập, vẫn luôn vận động theo quy luật trăm sông đều đổ về với biển.Trạng từ khẳng định “vẫn thế” một lần nữa biểu đạt một chân lí không bao giờđổi thay

Thơ ca, nghệ thuật là những sự sáng tạo mang đến cho người đọc nhữngcảm xúc mới, đem đến cho tâm hồn con người những sự trải nghiệm phong phú

Ta tự hỏi vì sao trong sáu câu thơ đầu tác giả chỉ cho chúng ta hai đặc điểm tựnhiên, vốn có của con sóng? Để giải đáp cho điều này nữ sĩ viết tiếp hai câu thơ:

“Nỗi khát vọng tình yêu Bồi hồi trong ngực trẻ”

Đến đây ta đã cảm nhận được sự xuất hiện của một con sóng nữa đó làcon sóng của tâm hồn, là con sóng của tình yêu, mà lại là tình yêu của tuổi trẻđang bồi hồi, đang thổn thức trong trái tim, trong lồng ngực Khát vọng tình yêucháy bỏng mãnh liệt đang trào dâng trong lòng nữ sĩ Như vậy đứng trước biển,trước những con sóng ào ạt ạt vỗ bờ dòng cảm xúc trong lòng nữ sĩ cũng tràodâng Những con sóng biển ở sáu câu thơ đầu đã gọi những con sóng tình tronglòng nhà thơ Sóng biển đã gọi sóng tình hay sóng biển chính là yếu tố khơinguồn cảm xúc trong lòng thi sĩ

Vì sao sóng biển lại gọi được sóng tình, lại có sức khơi gợi cảm xúc mãnhliệt như vậy? Có lẽ giữa sóng biển và sóng tình có sự tương đồng, nếu sóng biểnbiển chứa đựng những trạng thái đối lập thì tâm trạng người con gái đang yêucũng có những lúc giận dỗi, hờn ghen, có những lúc yêu thương dịu dàng đằmthắm:

“Em bảo anh đi đi Sao anh không đứng lại?

Em bảo anh đừng đợi Sao anh vội về ngay?”

Con gái khi yêu luôn là như thế, luôn mâu thuẫn, đối lập trong lời nói vàhành động Nếu yêu một người con gái mà không biết nhìn thẳng vào mắt người

đó thì chắc chắn một điều rằng anh chàng sẽ khó lòng hiểu và yêu thương cô gái

Trang 27

trọn vẹn.Hành trình của sóng chính là hành trình của tình yêu Nếu con sóngluôn luôn chủ động chối bỏ những chật chội hẹp hòi để vươn tới những điềurộng lớn thì người con gái đang yêu cũng luôn luôn có khát khao như thế Họdũng cảm từ bỏ những ích kỉ, nhỏ nhen để vươn tới tình yêu bao dung Việt Nam

là một nước có lịch sử ơn một nghìn năm phong kiến và chế độ phong kiến đã

đè nặng tư tưởng phụ nữ Việt Thời kì những năm 1967 ảnh hưởng của tư tưởng

hệ phong kiến chắc chắn còn, mà thậm chí còn rơi rớt đến một số thế hệ trẻ hiệnnay thế nhưng ở Xuân Quỳnh ta bắt gặp một con người hiện đại, thông minh vàsắc sảo,luôn khát khao hướng tới một tình yêu vĩ đại

2 Đề số 02: Cảm nhận về 02 khổ thơ 5,6 bài thơ Sóng

Cuộc đời là đóa hoa, tình yêu là mật ngọt”, đại văn hào V.Hugo đã từngphải thốt lên như vậy Tình yêu là món quà vô giá mà tạo hóa ban tặng cho loàingười Đó cũng là nguồn cảm hứng không bao giờ vơi cạn đối với các văn nghệ

sĩ Nói đến thơ tình Việt Nam hiện đại, người đọc không thể không nhắc đến nữhoàng tình yêu Xuân Quỳnh – người đã đem đến cho làng thơ Việt Nam mộttình yêu nồng nhiệt, táo bạo mà thiết tha, dịu dàng, hồn nhiên, giàu tự cảm màlắng sâu những trải nghiệm suy tư “Sóng” là một trong áng tình ca hay nhất củaXuân Quỳnh Đứng trước biển lớn , Xuân Quỳnh đã bộc lộ rõ nỗi trăn trở, bănkhoăn của mình về cội nguồn cua tình yêu”

ẩn giấu niềm khát khao của một phụ nữ về tình yêu, về bản thân, về môi trườngsống mới

Từ nơi nào sóng lên

Đó là câu hỏi từng khiến bao lứa đôi băn khoăn và cũng chẳng ai có thểtrả lời được một các rõ ràng, rành mạch được Càng say mê bao nhiêu, càng thấytình yêu huyền bí bất nhiêu Người ta thường thiêng liêng hóa tình yêu của kiếpnày biết đâu lại là sự hẹn hò của kiếp sau Nữ sĩ Xuân Quỳnh cũng không ngoại

Trang 28

lệ, cũng băn khoăn, thắc mắc, chăn chở đi tìm lời giải đáp Nhưng cuối cùngXuân Quỳnh cũng phải thú nhận bằng cái gật đầu dễ thương:

Em cũng không biết nữa Khi nào ta yêu nhau

Điều thú vị là ẩn sau cái lắc đầu dễ thương rất con gái ấy, người đọc,khám phá ra những định nghĩa mơ hồ mà thú vị, tình yêu của nữ sĩ Xuân Quỳnh.Trước muôn trùng sóng bể, trước biển lớn, tại sao nữ sĩ lại nghĩ bề anh, em; tức

là tình yêu của đôi mình? Có phải chăng tình yêu đôi ta cũng mênh mông, thămthẳm như biển lớn, đại dương Sóng, biển ,gió trời từ nơi nào mà có? “Em cũngkhông biết nữa” và tình yêu cũng vậy Nào có ai biết điểm đầu, điểm cuối, nào aibiết nơi khởi phát và điểm kết thức của tình yêu Tình yêu muôn đời vẫn khóhiểu như chính thế giới tự nhiên vậy Tình yêu đến và đi có khi chỉ như một cơngió thoảng như để lại rung động ngọt ngào trong trái tim để rồi thao thức nhớ,khe khẽ yêu

“Tình yêu luôn có quy luật riêng mà lí trí thì không thể nào hiểu nổi”.Tình yêu đôi lứa mêng mang như đại dương, tự nhiên và bí ẩn Đó là nhữngchân lí xưa cũ mà ai cũng biết Đóng góp của Xuân Quỳnh là tạo ra tiếng nói râtriêng đằm thắm nét duyên con gái về những điều xưa cũ ấy Không nghiêng về

tư duy logic như ông hoàng thơ tình Xuân Diệu, nữ sĩ Xuân Quỳnh nói bằngtiếng nói của cảm xuac trái tim Không cắt nghĩa rõ ràng cụ thể, Xuân Quỳnh chỉkhơi gợi để người đọc tự chiêm nghiệm suy ngẫm Chính điều đó tạo nên sứchấp dẫ của Xuân Quỳnh

* Đề số 03: Cảm nhận về khổ thơ 5,6,7 bài thơ Sóng

Nhắc đến thơ tình không thể không nhắc đến nữ thi sĩ Xuân Quỳnh, mộttrong những nhà thơ nổi bật của nền thơ hiện đại Việt Nam Xuân Quỳnh viết vềtình yêu rất thực, thơ bà da diết, dạt dào nhưng cũng đầy quyết liệt, mạnh mẽ.Vào những năm 1967, khi mà đất nước ta đang trong những ngày chống giặccứu nước Bên cạnh những bản hùng ca chiến trận ca ngợi tinh thần cách mạngcủa các chiến sĩ thì còn có những bản tình ca của đời sống, Xuân Quỳnh đã viếtnên bài thơ "Sóng" mang nét riêng giữa muôn vàn vẻ đẹp của thơ ca vào khoảngthời gian này, "Sóng" đã thể hiện thật sinh động những vẻ đẹp trong tâm hồn của

nữ thi sĩ đồng thời cho thấy được tài năng trong ngòi bút của Xuân Quỳnh khibộc lộ những cảm xúc tình cảm nội tâm đầy tinh tế qua thơ

Thi phẩm "Sóng" đã đưa độc giả đến với những chân trời của những cảmxúc vui buồn, lắng lo, hạnh phúc và cả chân trời của sự thủy chung trong tìnhyêu Những nguồn xúc cảm da diết, đậm sâu trong tình yêu được thể hiện rõnhất của khổ 5, 6, 7 của bài thơ

"Con sóng dưới lòng sâu Con sóng trên mặt nước

Ôi con sóng nhớ bờ Ngày đêm không ngủ được

Trang 29

Lòng em nhớ đến anh

Cả trong mơ còn thức

Xuân Quỳnh đã rất tinh tế dùng hình ảnh sóng để chỉ em- người con gáiđang yêu Em cũng như con sóng ngoài biển cả dạt dào, dù là dưới đáy sâu nơiđại dương rộng lớn hay chỉ thoáng qua lênh đênh trên mặt biển thì vẫn luôn nhớ

về anh- người mà em yêu Nỗi nhớ ấy đã vượt cả không gian rộng lớn, biển kia

có sâu rộng cũng không đo được bằng nỗi nhớ nơi em Sóng biển cũng chính lànhững cơn sóng lòng đang cuộn trào dữ dội trong em, nỗi nhớ về người thươngthật mạnh mẽ biết bao Tiếng "Ôi" cất lên nghe thật tha thiết, nỗi nhớ trào dângnơi sâu thẳm trái tim người con gái Con sóng ngoài kia vẫn cứ thế theo từng đợtgió, dù êm đềm hay dữ dội ngày đêm vẫn vỗ tới bờ, vẫn tìm đến bờ thì em cũngnhư thế, cũng nhớ anh ngày đêm, mong được đến bên anh Nỗi nhớ khôn nguôi

ấy luôn thường trực trong tâm trí, khiến "em" không khỏi thao thức, trăn trở

"không ngủ được", ngay cả trong giấc mơ vẫn là bóng hình của người thươngtrong đó Nỗi nhớ vượt lên cả sự chảy trôi của thời gian, của ngày đêm yêu, củatháng năm yêu Tình cảm nơi tâm hồn Xuân Quỳnh thật chân thành, thắm thiết,sâu sắc và mãnh liệt biết bao

" Dẫu xuôi về phương bắc Dẫu ngược về phương nam Nơi nào em cũng nghĩ Hướng về anh một phương."

Tình yêu thật nồng cháy, dẫu cho có khoảng cách xa xôi, có mỗi ngườimỗi hướng thì lòng thủy chung, son sắt vẫn luôn cháy mãi nơi đáy lòng Dùngười tình có ở nơi đâu, có ở chốn phương Bắc lạnh giá hay chốn trời Nam xaxôi thì cũng không làm em nản lòng mà thôi nhớ, thôi nghĩ về anh Khoảng cách

có sá gì đâu khi tim luôn nhìn về một hướng- hướng anh- phương hướng tìnhyêu chúng mình Khoảng cách địa lý không thắng nổi sự yêu thương của tìnhyêu mãnh liệt, khi trái tim hai con người đã gắn kết như sợi tơ hồng đã se duyên,khi người kia đã đặt trọn vẹn niềm tin cho đối phương của mình Điệp từ "dẫu"kết hợp với hai cụm động từ "ngược về phương Nam" ," xuôi về phương Bắc"như một cách thể hiện những thách thức, trắc trở trong tình yêu và sự chiếnthắng khó khăn ấy bằng tình yêu mãnh liệt Lời nguyện thề nơi nào em cũnghướng về anh thật đáng quý, đáng trân trọng biết bao Là một người con gái,nhưng Xuân Quỳnh không hề đứng đó là đợi chờ tình yêu, nhà thơ luôn thể hiện

sự chủ động của mình, với nhà thơ, tình yêu luôn phải rõ ràng và bình đẳng, đãyêu là phải sống thật trọn vẹn, hết lòng với tình yêu, bởi thế mà những vần thơkhông chỉ mang nét dễ thương, đáng yêu mà còn đầy rắn rỏi, quyết liệt và dứtkhoát

Trong cuộc sống, mỗi công việc đều có những khó khăn và áp lực riêngcũng như trong tình yêu vậy, mỗi mối tình đều có những trắc trở, thử thách nhấtđịnh Song, nếu cùng nhau cố gắng, cùng nhau vun đắp, cùng hiểu và bao dungcho nhau thì rồi tình yêu cũng sẽ kết thành trái ngọt, ngày mà tình yêu được đến

Trang 30

" Ở ngoài kia đại dươngTrăm ngàn con sóng đóCon nào chẳng tới bờ

Dù muôn vời cách trở"

Sóng biển ngoài đại dương bao la kia cũng vượt qua bao giông tố, giómưa mới vỗ tới bờ cát bình yên Cũng như tình yêu anh và em cũng phải cùngnhau cố gắng, nắm tay nhau bước qua những gian truân, cám dỗ và sóng gió củacuộc đời mới tới ngày trọn vẹn Ca dao xưa có câu:

" Yêu nhau mấy núi cũng trèo Mấy sông cũng lội, mấy đèo cũng qua"

Tình yêu là sức mạnh hay chính tình yêu đã mang lại sức mạnh lớn laonhư thế

Ba khổ thơ tuy không quá dài nhưng cũng đủ để ta thấy được một tâm hồnyêu hết mình, sống hết mình với tình yêu của nữ sĩ Xuân Quỳnh Tiếng thơ ấycũng chính là nỗi lòng của bao người đang yêu và được yêu, đặc biệt là nhữngthanh niên trẻ tuổi giàu khát vọng yêu "Sóng" đích thực đã chạm đến tất cả tráitim của người đọc bằng những cảm xúc tự nhiên nhất, khiến họ rung cảm vàthổn thức với từng thanh âm, giai điệu của bài thơ

4 Đề số 04: Cảm nhận về hai khổ thơ cuối bài thơ Sóng

Bên cạnh những nét đa tài của Xuân Quỳnh, chắc hẳn nhà thi sĩ còn ghidấu ấn trong lòng độc giả bởi nét thơ giàu tình cảm, chân thành, đằm thắm củamột tâm hồn mộng mơ Trong kho tài thơ ca đồ sộ của mình, bài thơ “Sóng” nổibật lên xuyên suốt tác phẩm với hình ảnh “thuyền” và “biển” để thể hiện tìnhyêu nồng say giữa những con người trẻ tuổi Đặc biệt qua hai khổ thơ cuối, nhàthơ càng nhấn mạnh niềm khao khát được một tình yêu trọn vẹn, đong đầy dùtrong bất cứ một khoảng không gian, thời gian bao lâu

Bài thơ ra đời năm 1967, trong giai đoạn này mặc dù chủ đề tình yêu lànguồn cảm xúc của rất nhiều tác giả, thế nhưng lại có rất ít các tác phẩm đượctạo nên bởi các nhà thơ nữ Chính vì lẽ đó, Sóng của Xuân Quỳnh càng trở nênđáng quý Viết về sóng, thuyền và biển, ta có thể kể tới bài Biển của Xuân Diệu,còn với hồn thơ của Xuân Quỳnh, thuyền và biển mang tâm tư nỗi lòng củanhững người đang yêu tha thiết nhưng trong lòng vẫn không tránh những điềubăn khoăn, day dứt Xuân Quỳnh thể hiện rõ phong cách tình cảm: thẳng thắn,

rõ ràng khi yêu thì cháy hết mình

Khi con người ta đang đắm chìm vào những cung bậc cảm xúc nồng cháycủa con tim, ắt hẳn ta chỉ mơ tới những ngày tháng đẹp tươi, hạnh phúc mà xuatan đi hết những nỗi lo toan chồng chất Thế nhưng, Xuân Quỳnh tin rằng, tất cả

sẽ đều có thể đạt được hạnh phúc nếu có sự kiên nhẫn, sức mạnh được tạo nênbởi ý chí con người

Nhà thơ đã chắp bút cho khổ thơ:

Trang 31

“Cuộc đời tuy dài thế Năm tháng vẫn đi qua Như biển kia dẫu rộng Mây vẫn bay về xa”

Tình yêu tuy lãng mạn nhưng chẳng thể tránh khỏi những điều thực tế.Đôi khi, con người ta thường yêu mất lý trí, nhưng nó sẽ không thực sự đẹp,đúng nghĩa nếu nó xa vời với những lý lẽ cuộc đời Mà thường, cuộc đời vốnnhiều nỗi trái ngang cản trở, chỉ khi ta đồng cam cộng khổ cùng nhau vượt quamọi giông bão khó khăn thì tình yêu của đôi ta mới càng trở nên vững bền, tỏasáng Đó cũng là khát vọng hướng tới của tất cả những ai đang yêu, muốn yêu

và được yêu

Cuộc đời chẳng biết bao nhiêu là dài, nhưng ắt hẳn đối với tình yêu, yêuhết mình qua bao nhiêu ngày tháng thì chắc hẳn là rất dài Trước mắt đây sẽ làbiết bao khó khăn, hình ảnh của biển được nhà thơ sử dụng để bổ sung cho từ

“dài” của cuộc đời ấy Rất dài và rất rộng, thế nhưng mây vẫn trôi, vạn vật vẫnsinh tồn và tình yêu đôi ta cũng sẽ được trường tồn theo thời gian

Con sóng được Xuân Quỳnh ví như tình yêu “bồi hồi trong ngực trẻ”, đểrồi bà tiếp tục có những mong ước thật táo bạo:

“Làm sao được tan ra Thành trăm con sóng nhỏ Giữa biển lớn tình yêu

Để ngàn năm còn vỗ”

Một câu hỏi nhẹ nhàng “Làm sao” như thay lời muốn nói của biết bao cặpnam thanh nữ tú Khi yêu, con người ta sẽ có hàng trăm ngàn câu hỏi, lý do vàthật khó để tìm câu trả lời Tình yêu của Xuân Quỳnh phải thật to lớn tới nhườngnào mới có được mong ước “tan ra” như vậy Mong ước được biến mình thànhtrăm ngàn “con sóng nhỏ” để hòa vào bể đời rộng lớn, vứt bỏ những lo toan, bănkhoăn để hòa tan trong hương vị ngọt ngào của tuổi trẻ, tình yêu và niềm hạnhphúc Dù mai sau có ai biết được “tình ai có đổi thay”, nhưng ngày hôm nay ta

sẽ sống như chưa từng được sống, sống để mang tình yêu đến muôn nơi, khôngphân biệt khoảng cách giới hạn Tác giả sẽ mang bầu nhiệt huyết, khát vọng tìnhyêu mãnh liệt chia sẻ với mọi người để tình yêu sẽ tồn tại đến ngàn vạn năm sau

Kết thúc bài thơ mà lời thơ còn vang mãi, khổ thơ năm chữ với tiết tấunhanh, mạnh hơn càng thể hiện ý chí mãnh liệt, thôi thúc được yêu của tác giả

Dù bể lớn cuộc đời có muôn ngàn khó khăn, thì tình yêu sẽ còn sống mãi Sóngcủa biển cũng là hình ảnh của những cơn sóng gió cuộc đời, sẽ có lúc mưa lặnggió ngừng để tình yêu lan tỏa

“Sóng” mãi là tác phẩm nổi trội khi được sáng tác để truyền tải đề tài tìnhyêu lứa đôi Qua những áng thơ của Xuân Quỳnh, người đọc có thể cảm nhậnđược những tình cảm chân thật, tuyệt vời của những con người đương yêu Dù

Trang 32

trải qua bao thăng trầm sóng gió, thì Xuân Quỳnh vẫn luôn sống hết mình chocuộc đời Thơ của bà sẽ còn in đậm mãi hôm nay và mai sau

III VIỆT BẮC – TỐ HỮU

1 Đề số 01: Cảm nhận về đoạn thơ mở đầu bài thơ Việt Bắc

Nhắc đến Tố Hữu, người ta sẽ nhớ ngay đến hình ảnh của một nhà thơluôn đi đầu trong phong trào nghệ thuật vì nền cách mạng nước nhà Con đườngthơ ca của Tố Hữu luôn gắn liền với những hình ảnh, sự kiện nổi bật của dântộc Bằng giọng thơ giàu tình cảm, bút pháp tài tình kết hợp giữa chính trị vànghệ thuật biểu hiện, ông đã sáng tác bài thơ Việt Bắc được xem là đỉnh cao củathơ ca kháng chiến chống Pháp Đặc biệt, chỉ qua khổ thơ thứ nhất, ông đã mangtới cho người đọc đến với vùng đất Việt Bắc đầy nắng gió, khó khăn những thấmđẫm tình nghĩa

Việt Bắc được sáng tác vào tháng 10/1954, đây là giai đoạn chuyển giao

khi cuộc kháng chiến chống Pháp đã kết thúc thắng lợi, các cán bộ chiến sỹ rờichiến khu Việt Bắc quay trở lại thủ đô Hà Nội Cuộc chiến tranh kết thúc vớibao niềm vui hân hoan vì nền độc lập hòa bình, thế nhưng đồng nghĩa với việcchia ly giữa cán bộ và đồng bào Việt Bắc Nơi ấy, nhân dân cán bộ đã trải qua

cùng nhau bao khó khăn, kỉ niệm, chia sẻ ngọt bùi cùng nhau Bài thơ Việt Bắc ra đời để thể hiện biết bao tâm tình của người đi kẻ ở.

Mở đầu đoạn trích, tác giả đã thay lời muốn nói của những người ở lại đểthể hiện cho hết cung bậc nhớ thương, tình cảm:

“Mình về mình có nhớ ta Mười lăm năm ấy thiết tha mặn nồng Mình về mình có nhớ không Nhìn cây nhớ núi, nhìn sông nhớ nguồn?

Mình - ta thường được dùng để thể hiện mối quan hệ gần gũi như vợ

chồng, lứa đôi Thế nhưng tác giả đã dùng cặp từ ấy cho đồng bài Việt Bắc với

những người lính cán bộ Chẳng phải vợ chồng nhưng tình nghĩa đôi bên cũngkeo sơn, bền chặt tựa như vậy Những câu hỏi dồn dập, nào là có nhớ ta, nhớ câynhớ núi nhớ sông nhớ nguồn không Điệp từ “nhớ” được nhắc lại nhiều lần trongcâu hỏi tu từ càng xoáy sâu vào trong lòng người đọc “Mười lăm năm” là chitiết thực chỉ độ dài từ những năm 1940 cho đến thời gian ấy, hơn một thập kỷchúng ta đã cùng nhau ăn, cùng nhau cười, cùng nhau chiến đấu So với nhữngcuộc kháng chiến khác, mười lăm năm ấy chẳng phải là dài Thế nhưng cái quantrọng ở đây, khoảng thời gian ấy đã tích tụ, bồi đắp biết bao tình cảm, có thểđong đầy bằng cả đời người Câu hỏi chất chứa tình cảm lưu luyến, bao lời dặn

dò của người ở lại cho người ra đi Trở về với phố hội phồn hoa, mong ngườiđừng quên “cây núi sông nguồn chốn đây” Những cảnh vật tuy vô tri vô giác,thế nhưng đã cùng “mình” với “ta” trong suốt bao năm qua lúc vui kể cả lúcbuồn Cây và sông là biểu tượng của không gian miền xuôi, với vùng cao đầy

Trang 33

núi và nguồn Sự chia ly có thể bị ngăn trở bởi khoảng cách thế nhưng “ta” vẫnluôn hi vọng “mình” sẽ chẳng bao giờ quên những chốn kỉ niệm ấy Tố Hữu đặcbiệt sử dụng những từ “thiết tha”, “mặn nồng” càng làm tăng giá trị của nhữngthứ tình cảm ấy Phải thật trân trọng, đáng quý xiết bao mới khiến con người takhông khỏi nuối tiếc nếu phải đánh mất đi.

Nếu như đối với người ở lại, những tình cảm ấy chất chứa trong hàngngàn lời nói thì người ra đi chỉ biết dùng hành động để thể hiện nỗi lòng Tìnhcảm ấy, họ đã quá hiểu nhân dân Việt Bắc Vì sự nghiệp đất nước vẫn đang đợichờ các anh nên buộc lòng các anh phải ra đi, tuy chẳng nỡ nhưng cũng đành xacách:

“Tiếng ai tha thiết bên cồn Bâng khuâng trong dạ, bồn chồn bước đi”

Những cặp từ láy “bâng khuâng”, “bồn chồn” diễn tả trạng thái tâm lýnhớ thương, luyến tiếc khiến lòng chẳng thể yên Như Tú Xương đã viết:

“Nhớ ai ai nhớ bây giờ nhớ ai”

Tiếng “ai” ấy lại chất chứa biết bao yêu thương, chẳng thể chỉ cụ thể mộtngười, bởi tình cảm ấy là dành cho cả một đồng bào Việt Bắc Tố Hữu đã khaithác tiếng “ai” ấy một cách xuất sắc, khi để lại âm vang trong lòng người về Nókhiến cho tâm trạng con người càng trở nên nôn nao, những dòng cảm xúc cứ ào

về không thôi Nhưng những tâm trạng nhớ thương ấy chỉ biết kìm nén chặttrong lòng, chẳng thể nào dùng lời lẽ bày tỏ, hay thét lên cho nguôi ngoai nhữngnỗi buồn

Tâm trạng bâng khuâng bồn chồn ấy còn được thể hiện hết sức tinh tế quanhịp điệu hai câu tiếp theo:

“Áo chàm đưa buổi phân li Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay”

Cặp thơ lục bát được tác giả góp thêm một chút nhịp điệu, như một đảophách trong âm nhạc Màu “áo chàm” đặc trưng của những con người chân chấtmiền núi Tây Bắc Hình ảnh thấy thật đơn sơ, mộc mạc của chốn quê nghèo,nghèo vật chất những luôn giàu tình cảm Tấm áo ấy đã chất chứa biết bao mồhôi, khó khăn vất vả, một nắng hai sương để chiến đấu, nuôi dưỡng các anh lính

cụ Hồ để các anh an tâm đánh giặc Chẳng phải áo bào, áo gấm để tiễn đưa, cảm

ơn công lao của các anh, chỉ là bóng dáng của những con người lao động nhưngsao vẫn khiến cho ta không khỏi cảm kích, biết ơn Tình cảm bịn rịn ấy cònđược thể hiện qua hình ảnh “cầm tay” Đôi bàn tay của những con người cầmsúng ấm ấp, nâng niu đôi tay của những người lao động Những đôi tay vất vả,sờn lên vì những khó khăn khác nhau, nhưng giờ phút ấy, đôi ta đều chung mộtnỗi tâm tình Hình ảnh giàu tính gợi hình, gợi cảm xúc, chẳng cần phải giãi bàynhiều vì có quá nhiều điều muốn nói, nhưng lại chẳng biết bắt đầu từ đâu Nỗi

Trang 34

lòng ấy, xin người để “ta” chôn chặt trong tim nhưng tình cảm sẽ sống mãi trongkhoảnh khắc “cầm tay” ấy.

Đoạn thơ mở đầu của bài Việt Bắc đã vẽ nên những cung bậc cảm xúc hếtsức đa dạng, sâu lắng của người đi kẻ ở Nhịp thơ nhẹ nhàng, du dương để diễn

tả một cách trọn vẹn, khéo léo những tình cảm chân thành ấy đã cho thấy tàinăng nổi bật của Tố Hữu trong số những thi sỹ tài hoa của Việt Nam

2 Đề số 02: Cảm nhận về bức tranh tứ bình trong bài Việt Bắc – Tố Hữu

"Việt Bắc" - bài thơ lục bát mang tầm vóc một trường ca dài 150 câu thơ,cảm xúc dâng lên mênh mông dào dạt Bài thơ ra đời vào tháng 10 năm 1054,ngày giải phóng Thủ đô Hà Nội Qua bài thơ, Tố Hữu nói lên một cách thiết thamặn nồng mối tình Việt Bắc, mối tình cách mạng và kháng chiến

Đoạn thơ 10 câu dưới đây trích từ câu 43 đến câu 52 trong bài thơ "ViệtBắc" nói lên bao nỗi nhớ vô cùng thắm thiết thủy chung đối với Việt Bắc:

"Ta về mình có nhớ ta,

Nhớ ai tiếng hát ân tình thủy chung".

Hai câu thơ đầu là lời hỏi - đáp của "ta", của người cán bộ kháng chiến vềxuôi, ta hỏi mình "có nhớ ta" Dù về xuôi, dù xa cách nhưng lòng ta vẫn gắn bóthiết tha với Việt Bắc: "Ta về, ta nhớ những hoa cùng người" Chữ "ta", chữ

"nhớ" được điệp lại thể hiện một tấm lòng thủy chung son sắt Nỗi nhớ ấy hướng

về "những hoa cùng người", hướng về thiên nhiên núi rừng Việt Bắc và conngười Việt Bắc thân yêu:

"Ta về, mình có nhớ ta,

Ta về, ta nhớ những hoa cùng người".

Hai chữ "mình - ta" xuất hiện ở tần số cao trong bài thơ, cũng như ở tronghai câu thơ này đã thể hiện một cách rất đẹp tình cảm lứa đôi hòa quyện trongmối tình Việt Bắc, đồng thời làm cho giọng thơ trở nên thiết tha bồi hồi nhưtiếng hát giao duyên thuở nào Đó là sắc điệu trữ tình và tính dân tộc trong thơ

"Rừng xanh, hoa chuối đỏ tươiĐèo cao nắng ánh gao gài thắt lưng"

Trang 35

Màu "xanh" của rừng, màu "đỏ tươi" của hoa chuối, màu sáng lấp lánhcủa "nắng ánh" từ con dao; màu sắc ấy hòa hợp với nhau, làm nổi bật sức sốngtiềm tàng, mãnh liệt của thiên nhiên Việt Bắc, của con người Việt Bắc đang làmchủ thiên nhiên, làm chủ cuộc đời trong kháng chiến Tố Hữu đã có một cái nhìnphát hiện về sức mạnh tinh thần làm chủ tập thể của nhân dân ta do cách mạng

và kháng chiến mang lại Người lao động sản xuất thì hào hùng đứng trên "đèocao" ngập nắng và lộng gió Đoàn dân công đi chiến dịch thì "bước chân nát đámuôn tàn lửa bay" Người chiến sĩ ra trận mang theo sức mạnh vô địch của thờiđại mới:

"Núi không đè nổi vai vươn tới

Lá ngụy trang reo với gió đèo"

("Lên Tây Bắc")Nhớ ngày xuân Việt Bắc là nhớ hoa mơ "nở trắng rừng" Chữ "trắng" làtính từ chỉ màu sắc được chuyển từ loại thành bổ ngữ "nở trắng rừng", gợi lênmột thế giới hoa mơ bao phủ khắp mọi cánh rừng Việt Bắc màu trắng thanhkhiết mênh mông và bao la Cách dùng từ tài hoa của Tố Hữu gợi nhớ trong lòng

ta câu thơ của Nguyễn Du tả một nét xuân thơ mộng, trinh bạch trong "TruyệnKiều":

"Cỏ non xanh tận chân trời,Cành lê trắng điểm một vài bông hoa"

Nhớ "mơ nở trắng rừng", nhớ người thợ thủ công đan nón "chuốt rừng sợigiang" "Chuốt" nghĩa là làm bóng lên những sợi giang mỏng mảnh Có khéoléo, kiên nhẫn, tỉ mỉ mới có thể "chuốt từng sợi giang" để đan thành những chiếcnón, chiếc mũ phục vụ kháng chiến, để anh bộ đội đi chiến dịch có "ánh sao đầusúng bạn cùng mũ nan" Người đan nón được nhà thơ nói đến tiêu biểu cho vẻđẹp tài hoa, tính sáng tạo của đồng bào Việt Bắc Mùa xuân Việt Bắc thật đángnhớ:

"Ngày xuân mơ nở trắng rừng,Nhớ người đan nón chuốt từng sợi giang"

Nhớ về Việt Bắc là nhớ mùa hè với tiếng ve kêu làm nên khúc nhạc rừng,

là nhớ màu vàng của rừng phách, là nhớ cô thiếu nữ đi "hái măng một mình"giữa rừng vầu, rừng nứa, rừng trúc:

"Ve kêu rừng phách đổ vàng,Nhớ cô em gái hái măng một mình"

Một chữ "đổ" tài tình Tiếng ve kêu như trút xuống "đổ" xuống thúc giụcngày hè trôi nhanh, làm cho rừng phách thêm vàng Xuân Diệu cũng có câu thơ

sử dụng chữ "đổ" chuyển cảm giác tương tự: "Đổ trời xanh ngọc qua muôn lá "(Thơ duyên - 1938) Câu thơ "Nhớ cô em gái hái măng một mình" là câu thơ đặcsắc, giàu vần điệu, thanh điệu Có vần lưng: "Gái" vần với "hái" Có điệp âmqua các phụ âm "m": "măng - một - mình" Đây là những vần thơ nên họa nênnhạc, tạo nên một không gian nghệ thuật đẹp và vui, đầy màu sắc âm thanh "Cô

Trang 36

em gái hái măng một mình" vẫn không cảm thấy lẻ loi, vì cô đang lao động giữanhạc rừng, hái măng để góp phần "nuôi quân" phục vụ kháng chiến Cô gái háimăng là một nét trẻ trung, yêu đời trong thơ Tố Hữu.

Nhớ mùa hè rồi nhớ mùa thu Việt Bắc, nhớ khôn nguôi, nhớ trăng ngàn,nhớ tiếng hát:

"Rừng thu trăng rọi hòa bình,Nhớ ai tiếng hát ân tình thủy chung"

Trăng xưa "vàng gieo ngấn nước cây lồng bóng sân" Trăng Việt Bắctrong thơ Bác Hồ là "trăng lồng cổ thụ bóng lồng hoa" Người cán bộ khángchiến về xuôi nhớ vầng trăng Việt Bắc giữa rừng thu, trăng "rọi" qua tán lá rừngxanh, trăng thanh mát rượi màu "hòa bình" nên thơ "Ai" là đại từ nhân xưngphiếm chỉ, "nhớ ai" là nhớ về tất cả, về mọi người dân Việt Bắc giàu tình nghĩathủy chung, đã hi sinh quên mình cho cách mạng và kháng chiến

Đoạn thơ trên đây dào dạt tình thương mến Nỗi thiết tha bồi hồi nhưthấm sâu vào cảnh vật và lòng người, kẻ ở người về, mình nhớ ta, ta nhớ mình.Tình cảm ấy vô cùng sâu nặng biết bao ân tình thủy chung Năm tháng sẽ qua đi,những tiếng hát ân tình thủy chung ấy mãi mãi như một dấu son đỏ thắm in đậmtrong lòng người

Đoạn thơ mang vẻ đẹp một bức tranh tứ bình đặc sắc, đậm đà phong cáchdân tộc Mở đầu cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp là mùa đông năm 1946,đến mùa thu tháng 10 - 1954, thủ đô Hà Nội được giải phóng - Tố Hữu cũng thểhiện nỗi nhớ Việt Bắc qua bốn mùa: đông - xuân - hè - thu, theo dòng chảy lịch

sử Mỗi mùa có một nét đẹp riêng dạt dào sức sống: màu xanh của rừng, màu đỏtươi của hoa chuối, màu trắng của hoa mơ, màu vàng của rừng phách, màu trăngxanh hòa bình Thiên nhiên Việt Bắc trong thơ Tố Hữu rất hữu tình, mang vẻđẹp cổ điển Con người được nói đến không phải là ngư, tiều, canh, mục mà làngười đi nương đi rẫy, là người đan nón, là cô em gái hái măng, là những aiđang hát ân tình thủy chung Tất cả đều thể hiện những phẩm chất tốt đẹp củađồng bào Việt Bắc: cần cù, làm chủ thiên nhiên và làm chủ cuộc đời trong laođộng, kiên nhẫn, khéo léo, tài hoa, trẻ trung lạc quan yêu đời, ân tình thủy chungvới cách mạng và kháng chiến

Một giọng thơ ngọt ngào, tha thiết bồi hồi cứ quyện lấy tâm hồn ngườiđọc Nỗi nhớ được nói đến trong "Việt Bắc" cũng như trong đoạn thơ này chothấy một nét đẹp trong phong cách thơ Tố Hữu: chất trữ tình công dân và tínhdân tộc, màu sắc cổ điển và tính thời đại được kết hợp một cách hài hòa

Hình tượng đẹp, phong phú, gợi cảm Một không gian nghệ thuật đầy sứcsống, với những đường nét, âm thanh, màu sắc, ánh sáng, cấu trúc cân xứng hàihòa, để lại trong tâm hồn ta một ấn tượng sâu sắc như Bác Hồ đã viết: "Cảnhrừng Việt Bắc thật là hay "

Thơ đích thực "là ảnh, là nhân ảnh , từ một cái hữu hình nó thức dậyđược những vô hình bao la" (Nguyễn Tuân) Đoạn thơ trên đây gợi lên trong

Trang 37

lòng ta tình mến yêu Việt Bắc, tự hào về đất nước và con người Việt Nam Đoạnthơ "nhịp mãi lên một tấm lòng sứ điệp", để ta thương, ta nhớ về mối tình ViệtBắc, mối tình kháng chiến.

IV- TÂY TIẾN – QUANG DŨNG

1 Đề số 01: Cảm nhận về đoạn thơ 1 bài thơ Tây Tiến

Quang Dũng là một nghệ sĩ đa tài làm thơ, vẽ tranh, viết văn, soạn nhạcnhưng thành công nhất là thơ Ông là nhà thơ nổi tiếng của văn học Việt Namthời kì kháng chiến chống thực dân Pháp với một hồn thơ lãng mạn, tài hoa, thơgiàu chất nhạc, chất họa, được mệnh danh là nhà thơ của "Xứ Đoài mây trắng"với những tác phẩm nổi tiếng như: " Mây đầu ô", "Thơ văn QuangDũng" Trong đó tiêu biểu là bài thơ "Tây Tiến" Bài thơ không chỉ là nỗi nhớcủa Quang Dũng về đoàn quân Tây Tiến mà còn khắc họa rõ nét cuộc hành quângian khổ của đoàn quân Tây Tiến và khung cảnh thiên nhiên miền Tây hùng vĩ,hoang sơ, dữ dội qua đoạn thơ:

Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi!

Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi Mường Lát hoa về trong đêm hơi Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm Heo hút cồn mây, súng ngửi trời Ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi

Anh bạn dãi dầu không bước nữa Gục lên súng mũ bỏ quên đời!

Chiều chiều oai linh thác gầm thét Đêm đêm Mường Hịch cọp trêu người Nhớ ôi Tây Tiến cơm lên khói

Mai Châu mùa em thơm nếp xôi.

“Tây Tiến” là bài thơ in đậm phong cách tài hoa, lãng mạn, phóngkhoáng của hồn thơ Quang Dũng Tác phẩm đã bộc lộ nỗi nhớ sâu sắc của nhàthơ với người lính Tây Tiến mang vẻ đẹp lãng mạn, đậm chất bi tráng Đoạn thơthứ nhất đã tái dựng lại sống động bức tranh thiên nhiên miền Tây với nhữngkhung cảnh, những chặng đường hành quân gian khổ, từ đó hình ảnh nhữngchiến sĩ Tây Tiến cũng lần lượt hiên ra

Bài thơ mở ra bằng một nỗi nhớ trào dâng :

Sông Mã xa rồi, Tây Tiến ơi!

Nhở về rừng núi, nhớ chơi vơi

Tiếng gọi “Tây Tiến ơi” bật lên bởi một nỗi nhớ sâu sắc, cồn cào khôngkìm nén nổi Đối tượng của nỗi nhớ ấy rất cụ thể, rõ ràng là: “sông Mã”, là “TâyTiến”, là “rừng núi” Nỗi nhớ ấy phải khắc khoải lắm thì tác giả mới điệp lại hailần từ “ nhớ” “Nhớ chơi vơi” là nỗi nhớ chập chờn hư thực, vừa tha thiết,

Trang 38

thường trực, vừa mênh mang, đầy ám ảnh, vừa mở ra không gian của tiềm thức,vừa như gợi ra không gian trập trùng của núi đèo rộng lớn Cách hiệp vần “ơi”làm câu thơ như ngân vang, phù hợp với biên độ của cảm xúc.

Hai câu thơ đầu đã khơi mạch chủ đạo của cả bài thơ là nỗi nhớ khônnguôi Nỗi nhớ ấy được cụ thể dần dần trong những vần thơ tiếp sau

Hai câu thơ tiếp đã gợi lại hình ảnh đoàn quân hành quân trong đêm:

“Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi,Mường Lát hoa về trong đêm hơi”

Hai câu thơ vừa tả thực, vừa sử dụng bút pháp lãng mạn Những từ chỉ địadanh Sài Khao, Mường Lát gợi ra địa bàn rộng lớn, đầy lạ lẫm đối với ngườilính Tây Tiến Sương mù vùng cao dày đặc như trùm lấp bước chân, nuốt chửng

cả đoàn binh vốn đang mỏi mệt, rệu rã vì chặng đường dài gian khổ QuangDũng đã nhìn thấy và miêu tả một mảng hiện thực khuất lấp trong thơ ca khángchiến Nhưng những người lính ấy, dù mệt mỏi mà tâm hồn vẫn trẻ trung, hàohoa, lạc quan, yêu đời Hình ảnh “hoa về trong đêm hơi” là hình ảnh đẹp giàusức gợi Đó có thể là những ánh đuốc sáng lung linh của đoàn quân đang tiến vềbản làng, cũng có thể là hình ảnh đoàn quân từ rừng đi ra, trên tay vẫn cầm theonhững đóa hoa rừng ngát hương, mà đó cũng có thể là hình ảnh ẩn dụ về đoànquân Tây Tiến như những bông hoa rừng Đoàn quân ấy hành quân trong một

“đêm hơi” đầy huyền ảo, mơ hồ, bảng lảng khói sương chốn rừng suối Hai câuthơ in đậm dấu ấn tài hoa, lãng mạn của Quang Dũng

Bốn câu thơ tiếp theo đặc tả địa hình hiểm trở của miền Tây:

Dốc lên khúc khuỷu, dốc thăm thẳm Heo hút cồn mây súng ngửi trời, Ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống, Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi.

Nhà thơ sử dụng một loạt các từ láy tượng hình “khúc khuỷu", “thămthẳm”, “heo hút”, kết hợp với cách ngắt nhịp 4/3 như chặt đôi câu thơ, mật độthanh trắc dày đặc khiến câu thơ trúc trắc gợi sự vất vả, nhọc nhằn Những phép

tu từ đó mở ra trong tâm tưởng người đọc ấn tượng về sự gập ghềnh, hiểm trở,

ẩn chứa bao bất trắc, nguy hiểm của núi cao, vực sâu nơi núi rừng miền Tây.Hình ảnh “súng ngửi trời” là một nhân hóa táo bạo, đặc tả sự chót vót của dốcnúi Người lính Tây Tiến leo lên đỉnh dốc, cảm tưởng như mũi súng có thể chạmmây Từ đó, ta cũng thấy được nét tinh nghịch khỏe khoắn, vẫn có thể trêu đùa

vô tư sau một chặng đường hành quân vất vả, mệt nhọc của các anh lính TâyTiến Phép đối “ngàn thước lên cao – ngàn thước xuống” càng nhấn mạnh độgập ghềnh, hình sông thế núi trập trùng, hiểm trở của thiên nhiên miền Tây Bacâu thơ giàu chất hội họa, dựng lên bức tranh hoang vu, dốc đèo đứt nối, hùng vĩtrên con đường hành quân của chiến sĩ Tây Tiến Câu thơ thứ tư toàn bộ là bảythanh bằng “Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi”, vần mở “ơi” đặt cuối câu tạo cảmgiác nhẹ nhàng gợi ra những phút giây nghỉ ngơi thư giãn của người lính Họ

Trang 39

đứng trên những đỉnh núi, thưởng thức chút bình yên, vẻ đẹp lãng mạn của núirừng, phóng tầm mắt, thấy mưa rừng giăng mờ nơi bản làng Pha Luông xa xôi.Bốn câu thơ vừa gợi ra sự dữ dội hoang vu, sự êm đềm của núi rừng, vừa gợi ranhững cuộc hành quân vất vả nhọc mệt nhưng đầy trẻ trung, yêu đời của cácchàng trai Tây Tiến.

Người lính Tây Tiến không chỉ đối diện với dốc cao vực sâu mà cònphải chịu những mất mát hi sinh:

Anh bạn dãi dầu không bước nữa,Gục lên súng mũ bỏ quên đời

Cách nói tránh về cái chết “không bước nữa”, “bỏ quên đời” gợi tư thếngạo nghễ của người lính Tây Tiến Họ chủ động chấp nhận cái chết, coi nó chỉđơn giản như một giấc ngủ mà thôi Tư thế hi sinh “ gục lên súng mũ” đầy xót

xa nhưng cũng thật hào hùng Hình ảnh về người lính anh dũng hi sinh ấy saunày ta còn bắt gặp trong “Dáng đứng Việt Nam”: “Và anh chết trong khi đangđứng bắn - Máu anh phun theo lửa đạn cầu vồng” Câu thơ đã tiếp tục cảm hứng

bi tráng khi xây dựng chân dung người lính Tây Tiến

Và người lính Tây Tiến tiếp tục chịu sự thử thách của núi rừng miền Tây:

“Chiều chiều oai linh thác gầm thét, Đêm đêm Mường Hịch cọp trêu người”.

Các từ láy chỉ biên độ lặp lại thường xuyên của thời gian” chiều chiều”,

“đêm đêm” kết hợp với biện pháp nhân hóa “ thác gầm thét”, “cọp trêu người”

đã nhấn mạnh vẻ bí hiểm, dữ dội, hoang dã chứa đầy nguy hiểm, cái chết luônluôn rình rập đe dọa người lính của núi rừng miền Tây Sự nguy hiểm ấy khôngchỉ trải rộng trong không gian mà còn kéo dài và lặp lại thường xuyên theo thờigian

Hai câu thơ cuối đoạn lại đột ngột chuyển cảnh:

Nhớ ôi Tây Tiến cơm lên khói, Mai Châu mùa em thơm nếp xôi.

Núi cao rừng rậm lùi xa, chỉ còn lại hương vị ấm áp nghĩa tình quândân lan tỏa từ nồi cơm của các cô gái Thái Từ cảm thán “Nhớ ôi” đứng đầu câuthơ diễn tả nỗi nhớ da diết, ám ảnh khôn khuây của Quang Dũng cũng nhưngười lính Tây Tiến về đồng bào miền Tây Nhà thơ như nhói lòng khi hồi tưởnglại cảnh đoàn quân quây quần quanh nồi xôi nếp thơm lừng đang bốc khói Đó lànhững giây phút ấm áp ngắn ngủi nhưng lại dịu ngọt, tinh tế nên khắc sâu mãitrong tâm trí nhà thơ Cách kết hợp từ “mùa em” rất độc đáo, gợi những liêntưởng đẹp, lãng mạn về những cô gái Thái vừa khỏe khoắn vừa dịu dàng màđằm thắm yêu thương Hai câu thơ kết thúc đoạn một bài thơ Tây Tiến có âmđiệu nhẹ nhàng tha thiết gợi cảm giác êm dịu, ấm áp, tạo tâm thế cho người đọccảm nhận đoạn thơ tiếp theo

Trang 40

Trong những đoạn thơ còn lại, nhà thơ Quang Dũng tiếp tục hồi tưởng

về cảnh những đêm liên hoan văn nghệ thắm thiết tình quân dân, những buổichiều trên sông nước miền Tây thơ mộng, hư ảo, hồi tưởng về chân dung tập thểnhững người lính Tây Tiến anh dũng, hào hoa Cuối bài thơ, Quang Dũng bộc lộlời nguyện thề mãi gắn bó với miền Tây và đoàn quân Tây Tiến

Đoạn thơ đầu bài thơ Tây Tiến đã thể hiện tài hoa và tâm hồn lãng mạnphóng khoáng của nhà thơ Quang Dũng Đoạn thơ có ngôn ngữ giàu chất tạohình, giàu nhạc điệu, gây ấn tượng táo bạo, dựng lên bức tranh sinh động, cóchiều sâu về cảnh hành quân của đoàn quân Tây Tiến trên cái nền thiên nhiênrừng núi hùng vĩ thơ mộng miền Tây Qua đó, ta cảm nhận được sự gắn bó sâusắc, nỗi nhớ tha thiết của nhà thơ Quang Dũng về những ngày tháng chiến đấutrong đoàn quân Tây Tiến – một thời mãi mãi để nhớ và tự hào

2 Đề số 02 – Cảm nhận về đoạn thơ sau trong bài Tây Tiến của Quang Dũng:

Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc

…Sông Mã gầm lên khúc độc hành Viết về Tây Tiến - Quang Dũng viết bằng dòng hồi ức Và trong dòng hồi

ức ấy nỗi nhớ đồng đội luôn xao động, gợi về những kỉ niệm, hình ảnh thânthương, tha thiết, sâu lắng Ta bắt gặp dòng hoài niệm về đồng đội, về nhữngtình cảm, nỗi lòng người lính Tây Tiến qua đoạn thơ:

Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc, Quân xanh màu lá dữ oai hùm.

Mắt trừng gửi mộng qua biên giới, Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm.

Rài rác biên cương mồ viễn xứ, Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh,

Áo bào thay chiếu anh về đất, Sông Mã gầm lên khúc độc hành.

Từ bối cảnh rừng núi hoang vu, hiểm trở trong đoạn đầu bài thơ đến đâyhiện lên rõ nét hình ảnh của đoàn chiến binh Tây Tiến:

Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc, Quân xanh màu lá dữ oai hùm.

Thoạt đầu, câu thơ tưởng như chỉ mang một chút ngang tàng, một chútđùa nghịch đầy chất lính, nhưng càng đọc mới càng thấy hiện thực khắc nghiệt,mới thấy hết những gieo neo, khổ ải của đoàn quân Tây Tiến Không mọc tóc -

đó là hậu quà của những cơn sốt rét rừng run người làm tiều tụy, làm rụng hết cảtóc của các chiến sĩ Rồi nước độc, rừng thiêng, bệnh tật hành hạ tất cả như vắtkiệt sức lực khiến cho quân xanh màu lá Hai câu thơ cho ta thấy được hình

Ngày đăng: 13/04/2021, 16:11

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w