MỤC LỤC CHƯƠNG I: KHÁI QUÁT VỀ TRUYỆN NÔM BÌNH DÂN 1. Khái niệm truyện thơ Nôm bình dân 2. Tiền đề xuất hiện truyện thơ Nôm bình dân 2.1 Tiền đề lịch sử văn hóa 2.2 Tiền đề văn hóa, văn học CHƯƠNG II: NGÔN NGỮ NGHỆ THUẬT TRONG TRUYỆN THƠ NÔM BÌNH DÂN 1.Ngôn ngữ bình dân trong truyện thơ Nôm bình dân 1.1 Quan niệm về ngôn ngữ bình dân 1.2 Biểu hiện của ngôn ngữ bình dân trong truyện thơ Nôm bình dân 1.2.1 Từ láy trong truyện thơ Nôm bình dân 1.2.2 Thi liệu dân gian trong truyện thơ Nôm bình dân 1.3 Giá trị của ngôn ngữ bình dân trong truyện thơ Nôm bình dân 1.3.1 Gía trị của ngôn ngữ bình dân nhìn từ mối quan hệ với một số yếu tố thuộc hình thức nghệ thuật 1.3.2 Giá trị của ngôn ngữ bình dân nhìn từ khả năng tạo nghĩa trong tác phẩm 2. Ngôn ngữ bác học trong truyện thơ Nôm bình dân 2.1 Quan niệm về ngôn ngữ bác học 2.2 Biểu hiện của ngôn ngữ bác học trong truyện thơ Nôm bình dân 2.2.1 Điển tích, điển cố trong truyện thơ Nôm bình dân 2.2.2 Từ Hán Việt trong truyện thơ Nôm bình dân 2.3 Gía trị của ngôn ngữ bác học trong truyện thơ Nôm bình dân 2.3.1 Gía trị của ngôn ngữ bác học nhìn từ mối quan hệ với một số yếu tố thuộc hình thức nghệ thuật 2.3.2 Giá trị của ngôn ngữ bác học nhìn từ khả năng tạo nghĩa trong tác phẩm CHƯƠNG III: KẾT LUẬN
Trang 1NGÔN NGỮ NGHỆ THUẬT TRONG TRUYỆN NÔM BÌNH DÂN QUA MỘT SỐ
TÁC PHẨM TIÊU BIỂU (HOÀNG TRỪU, TỐNG TRÂN – CÚC HOA, NHỊ ĐỘ MAI)
Giảng viên: TS NGUYỄN THỊ NƯƠNG
Học viên: NGUYỄN THỊ THÙY DƯƠNG
Lớp: Cao học K24 – Văn học Trung đại Việt Nam
MỤC LỤCCHƯƠNG I: KHÁI QUÁT VỀ TRUYỆN NÔM BÌNH DÂN
1 Khái niệm truyện thơ Nôm bình dân
2 Tiền đề xuất hiện truyện thơ Nôm bình dân
2.1 Tiền đề lịch sử - văn hóa2.2 Tiền đề văn hóa, văn học
CHƯƠNG II: NGÔN NGỮ NGHỆ THUẬT TRONG TRUYỆN THƠ NÔM BÌNH DÂN
1.Ngôn ngữ bình dân trong truyện thơ Nôm bình dân
1.1 Quan niệm về ngôn ngữ bình dân
1.2 Biểu hiện của ngôn ngữ bình dân trong truyện thơ Nôm bình dân
1.2.1 Từ láy trong truyện thơ Nôm bình dân
1.2.2 Thi liệu dân gian trong truyện thơ Nôm bình dân
1.3 Giá trị của ngôn ngữ bình dân trong truyện thơ Nôm bình dân
1.3.1 Gía trị của ngôn ngữ bình dân nhìn từ mối quan hệ
với một số yếu tố thuộc hình thức nghệ thuật1.3.2 Giá trị của ngôn ngữ bình dân nhìn từ khả năng tạo
nghĩa trong tác phẩm
2 Ngôn ngữ bác học trong truyện thơ Nôm bình dân
2.1 Quan niệm về ngôn ngữ bác học
Trang 22.2 Biểu hiện của ngôn ngữ bác học trong truyện thơ Nôm bình dân
2.2.1 Điển tích, điển cố trong truyện thơ Nôm bình dân
2.2.2 Từ Hán Việt trong truyện thơ Nôm bình dân
2.3 Gía trị của ngôn ngữ bác học trong truyện thơ Nôm bình dân
2.3.1 Gía trị của ngôn ngữ bác học nhìn từ mối quan hệ với một
số yếu tố thuộc hình thức nghệ thuật
2.3.2 Giá trị của ngôn ngữ bác học nhìn từ khả năng tạo nghĩa trong tác phẩm
CHƯƠNG III: KẾT LUẬN
Trang 3CHƯƠNG I: KHÁI QUÁT VỀ TRUYỆN NÔM BÌNH DÂN
1 Khái niệm truyện thơ Nôm bình dân
Khi tiến hành phân loại truyện thơ Nôm, có nhiều ý kiến và quan niệm khác nhau Trong đó, quan niệm chia truyện thơ Nôm thành 2 loại: truyện thơ Nôm bình dân và truyện thơ Nôm bác học nhận được nhiều sự đồng tình hơn cả Tiêu biểu là các tác giả: Dương Quảng Hàm, Đinh Gia Khánh, Cao Huy Đỉnh, Nguyễn Lộc…
- Dương Quảng Hàm là người dùng thuật ngữ Truyện thơ Nôm
bình dân sớm nhất Trong “Việt Nam văn học sử yếu”, ông viết: “thể này thường dùng để viết các truyện có tính cách bình dân như Quan Thế âm, Phạm Công – Cúc Hoa…”.
- Trong “Từ điển thuật ngữ văn học”, các tác giả đã chỉ ra những điểm khác nhau cơ bản giữa truyện Nôm bình dân và truyện
Nôm bác học Theo đó, “Truyện Nôm bình dân viết trên cơ sở truyện dân gian như Phạm Tải – Ngọc Hoa, Tống Trân – Cúc Hoa, Thạch Sanh….Truyện Nôm bình dân hầu như không có tên tác giả, được lưu truyền trong dân gian, ngôn ngữ bình dị, mộc mạc.”
- Nguyễn Lộc trong cuốn “Văn học Việt Nam (nửa cuối thế kỉ XVIII – nửa đầu thế kỉ XIX) đã khẳng định kho tàng truyện Nôm Việt
Nam tồn tại song song hai loại truyện: “Một loại là những truyện Nôm kiểu Phạm Tải – Ngọc Hoa, Tống Trân – Cúc Hoa, Phương Hoa,
Lý Công, Hoàng Trừu…; một loại là những truyện Nôm kiểu Truyện Kiều, Hoa Tiên, Sơ kính tân trang, Phan Trần…Loại trên có thể gọi là truyện Nôm bình dân; loại dưới có thể gọi là truyện Nôm bác học.”
Tiếp đó tác giả cũng đưa ra những tiêu chí để phân biệt truyện Nôm bình dân và truyện Nôm bác học Các tiêu chí đó là: tác giả, nguồn gốc cốt truyện, chủ đề, hình thức nghệ thuật
2 Tiền đề xuất hiện truyện thơ Nôm bình dân
2.1 Tiền đề lịch sử - văn hóa
Trang 4- Truyện thơ Nôm bình dân xuất hiện khi trong xã hội xuất hiện những mâu thuẫn gay gắt Đó là vào khoảng đầu thế kỉ XVI, nền chính trị của đất nước rơi vào khủng hoảng trầm trọng Vua chúa ăn chơi sa đọa, nội bộ lục đục, tranh giành quyền lực Từ giữa thế kỉ XVII – đến hết thế kỉ XVIII, đất nước hai lần rơi vào cảnh chia cắt Hàng loạt cấc cuộc khởi nghĩa nông dân nổi lên, giềng mối xã hội bị
đe dọa nghiêm trọng Hoàn cảnh chính trị đó đã góp phần quan trọng vào việc thay đổi hình thái tư tưởng của thời đại Nó không chỉ làm suy yếu và suwpj đổ hệ tư tưởng phong kiến mà còn nâng đỡ cho sự ra đời, phát triển của tinh thần dân chủ Quần chúng nhân dân và một bộ phận nho sĩ tiến bộ đã nhận thấy được sự thối nát của xã hội, ý thức được quyền sống và sức mạnh của nhân dân Đây chính là nguồn mạch tinh thần nuôi dưỡng cảm hứng sáng tạo và tư tưởng nhân văn trong truyện thơ Nôm
- Công thương nghiệp phát triển cũng là lý do thúc ddaaayr sự xuất hiện của truyện thơ Nôm Giai đoạn từ thế kỉ XVI – thế kỉ XVIII, công thương nghiệp phát triển rộng khắp Trong thời đại có nhiều biến động về chính trị - xã hội, những xung đột nội bộ không thể giải quyết, kinh tế hàng hóa phát triển kéo theo đó là vai trò của đồng tiền, lối sống thị dân đã tác động vào sự băng hoại ý thức hệ của giai cấp thống trị Trong truyện thơ Nôm có những chuyện như: vợ gian thông với đình trưởng để hắn thừa cơ cướp tiền giành dụm của chồng sao bao nhiêu năm đi làm ăn xa (Tống Trân – Cúc Hoa); một đại quan triều đình cũng đòi lót tay khi có cấp dưới xuống nhận chức (Nhị độ mai)… chính là biểu hiện của của sự suy thoái đạo đức trong một xã hội vì đồng tiền
2.2 Tiền đề văn hóa, văn học
- Sự khởi sắc của nền văn hóa dân tộc đã tạo đà cho truyện Nôm
phát triển, cung cấp cho truyện thơ Nôm nguồn chất liệu phong phú
Trang 5- Đến thế kỉ XVI, XVII cả chữ Nôm và thơ lục bát đều dã có một quá trình rèn rũa, trưởng thành Do vậy, nó có đủ khả năng để truyền tải các vấn đề đời sống xẫ hội và đời sống tâm hồn con người.
CHƯƠNG 2: NGÔN NGỮ NGHỆ THUẬT TRONG
TRUYỆN THƠ NÔM BÌNH DÂN
1 Ngôn ngữ bình dân trong truyện thơ Nôm bình dân
1.1 Quan niệm về ngôn ngữ bình dân
- Theo Từ điển tiếng Việt, Viện ngôn ngữ học, Hoàng Phê (chủ
biên): “Bình dân Id 1 Người dân thường (nói khái quát, thường là trong xã hội cũ) Sự đối lập giữa quý tộc và bình dân 2 (kng, dùng phụ sau d) Bình dân học vụ (nói tắt), giáo viên bình dân, lớp bình dân It.1 Của tầng lớp bình dân, dành riêng cho tầng lớp bình dân Văn học bình dân Quán cơm bình dân 2 Bình thường, giản dị, gần gũi với quần chúng: tác phong bình dân, cách nói năng rất bình dân”
1.2.1 Từ láy trong truyện thơ Nôm bình dân
- Theo tác giả Đinh Trọng Lạc: “Từ láy là những từ được cấu tạo bằng cách nhân dôi tiếng gốc theo những quy tắc nhất định, sao cho quan hệ giữa các tiếng trong từ vừa điệp, vừa đối hài hòa với nhau về âm và nghĩa, có giá trị tượng trưng hóa”.
Trong tiếng Việt, từ láy là những từ có giá trị đặc biệt
Với tính chất điệp âm thanh (một bộ phận hay toàn bộ từ), từ láy đã tăng cường sắc thái cho câu thơ tiếng Việt Cơ sở của sự tăng cường đó chính là khả năng mở rộng tính chất, phạm vi ý nghĩa hoặc
Trang 6thu hẹp, làm giảm nhẹ tính chất cũng như phạm vi ý nghĩa cho hình vị
cơ sở của từ Chẳng hạn: “Xanh xanh” có phạm vi biểu vật hẹp hơn
“xanh” nhưng lại có giá trị biểu thái cao hơn
Từ láy là loại từ thể hiện một cách rõ nét nhất tính chất đa thanh điệu của ngôn ngữ tiếng Việt Nó có khả năng biểu hiện chính xác từng gam màu trong thế giới tự nhiên cũng như từng sắc thái tinh vi của cảm xúc con người “Sè sè nắm đất bên đường/ Dàu dàu ngọn cỏ nửa vàng nửa xanh”.
Từ láy góp phần quan trọng trong việc tạo nhịp điệu, âm thanh
hay khái quát hơn là tạo chất thơ cho câu thơ: “Bước lần theo ngọn tiểu khê/ Lần theo phong cảnh có bề thanh thanh/ Nao nao dòng nước uốn quanh/ Nhịp cầu nho nhỏ cuối ghềnh bắc ngang”.
Với những khả năng to lớn như trên mà trong thơ tiếng Việt, từ láy rất được chú ý sử dụng và mang lại giá trị biểu cảm cao
- Viết bằng ngôn ngữ dân tộc, truyện thơ Nôm bình dân có điều kiện khai thác một cách tối đa giá trị tạo hình, biểu nghĩa của tiếng Việt, trong đó có việc sử dụng với mật độ khá dày hệ thống từ láy
Từ láy được chú ý sử dụng ngay từ những truyện thơ Nôm xuất hiện đầu tiên và càng về sau, mật độ sử dụng từ láy càng tăng và trình
độ vận dụng ngày càng điêu luyện hơn Trong khóa luận tốt nghiệp của một sinh viên trường Đại học sư phạm Huế, đã có những thống
kê về số lượng sử dụng từ láy trong ba truyện thơ Nôm: Hoàng Trừu, Tống Trân – Cúc Hoa, Nhị độ mai Kết quả thu được như sau:
Tên truyện Tổng số câu
trích trong tập truyện
Số lần sử dụng từ láy
Trung bình số lần sử dụng từ láy/số câu
Trang 7* Về các dạng thức sử dụng từ láy: các từ láy trong ba truyện
thơ Nôm kể trên đa phần được sử dụng theo 2 dạng thức:
- Thứ nhất: Theo quy luật ngữ pháp thông thường: từ láy đứng sau bổ trợ cho các danh, động, tính từ; tạo thành các cụm danh, động, tính từ
Ví dụ:
+ Trong “Hoàng Trừu”
“Trời xanh nước biếc chỉ đề
Sang Nam Việt thấy tàu bè xôn xao”
“Đồng rằng: Mới lại chuyến này
Ông tôi mười chiếc tàu đầy phe phe”
+ Trong “Tống Trân – Cúc Hoa”
“Cúc Hoa nước mắt tả tơi hai hàng”
“Cúc Hoa tủi thẹn tần ngần
Cha sao chẳng sợ quỷ thần xét soi”
“Dưới khe nước chảy vang lừng
Đầu non thăm thẳm khơi chừng ghê thay”
+ Trong “Nhị độ mai”
“Quê người phong cảnh đìu hiu
Trăng thanh gió mát dường chiều chuộng ai”
“Hoàng hôn gác mái chênh vênh
Truyền tìm quán khách bộ hành nghỉ ngơi”
- Thứ hai: đưa các từ láy lên phía trước các thực từ mà nó bổ trợ
ý nghĩa để hình thành những đảo ngữ Và những cụm từ đảo trang này thường mang lại hiệu quả diễn đạt cao cho câu thơ
Ví dụ:
+ Trong “Hoàng Trừu”:
“Mênh mông giữa chốn hải hà
Lòng trời còn tựa phúc nhà còn may Cho nên trôi dạt đến đây
Trang 8Bơ vơ thân gái đắng cay trăm đương”
+ Trong “Tống Trân – Cúc Hoa”:
“Bừng bừng vừa mới rạng ngày
Bảng vàng choi chói treo ngay cửa đền”
+ Trong “Nhị độ mai”
“Thênh thênh nhẹ bước thanh vân
Cành cây dám tưởng bận chân loan hoàng”
“Nhởn nhơ hoa cỏ đón chào Hang men móc vượn, cây xào xạc chim”
“Tung nghe ra giọng đâm hông
Mặt ngăn ngắt tím, mắt sòng sọc trông”
* Về các kiểu từ láy được sử dụng
- Đa phần các từ láy được sử dụng trong các truyện thơ Nôm bình dân là láy đôi
“Nguy nga miếu mạo hẳn hoi,
Trang 9Một tòa thần tượng trên ngồi nghiễm nhiên”
Thày lay mách ả Vân ta mấy lời”
“Rõ mười còn tưởng mơ màng
Mừng mừng tủi tủi khóc than một hồi”
(Nhị độ mai)
Theo tiến trình vận động của thể loại, các liên hợp từ láy
và từ láy tư xuất hiện ngày càng nhiều
1.2.2 Thi liệu dân gian trong truyện thơ Nôm bình dân
- Thi liệu dân gian được hiểu là những thành ngữ, tục ngữ,
ca dao – những sản phẩm tinh thần của nhân dân lao động
- Các truyện Nôm “Hoàng Trừu”, “Tống Trân – Cúc Hoa”,
“Nhị độ mai” đều sử dụng đến các thi liệu dân gian, tuy nhiên mức độ có khác nhau Trong đó, “Hoàng Trừu” có 24 lượt thành ngữ, 1 câu tục ngữ được sử dụng, không có ca dao Ở “Tống Trân – Cúc Hoa” số lượt sử dụng tục ngữ là 1, thành ngữ là 18 Trong “Nhị độ mai” có 40 lượt thành ngữ, 5 lượt tục ngữ và 1
câu ca dao được sử dụng (Theo kết quả thống kê trong khóa luận “Ngôn ngữ nghệ thuật trong truyện thơ Nôm bình dân trung đại” – ĐHSP Huế).
Nhìn vào kết quả thống kê trên có thể nhận thấy, thành ngữ được sử dụng với số lượng cao hơn hẳn so với tục ngữ và ca dao Lý do của hiện tượng này nằm ngay ở lợi thế giàu hình ảnh, khả năng tạo nhịp điệu và cấu trúc khá gọn nhẹ của thành ngữ tiếng Việt Ca dao và tục ngữ có thể không thua kém thành ngữ về mức độ hàm xúc, thậm chí còn hơn hẳn thành ngữ ở khả năng gợi dẫn các phạm vi ý nghĩa, kích thích tư duy của độc giả, nhưng do các câu tục ngữ và ca dao đều tồn tại ở cấp độ câu, có cấu trúc khép về nghĩa Còn thành ngữ chỉ là một thành
Trang 10phần của câu sẵn có , tự nó không diễn tả được một ý trọn vẹn
và cái ý không trọn vẹn của thành ngữ, người sử dụng có thể làm cho nó trở nên trọn vẹn theo ý muốn chủ quan của mình
Do những đặc điểm đó mà thành ngữ được vận dụng nhiều hơn
cả trong các truyện thơ Nôm bình dân
- Phương thức sử dụng thi liệu dân gian: các tác giả truyện
thơ Nôm bình dân đã nỗ lực để vận dụng thi liệu dân gian một cách linh hoạt nhất sao cho có được những câu thơ sinh động, vừa đẹp lời, vừa đảm bảo ý Trong đó, có 2 phương thức cơ bản được các tác giả sử dụng: giữ nguyên thi liệu gốc và mượn ý thi liệu rồi diễn đạt theo cách khác (bao gồm mượn ý – đảo lời, mượn ý – rút gọn và mượn ý – tách lời)
+ Giữ nguyên thi liệu gốc:
“Âm thầm liệu bảy lo ba
Đạo chông cũng nặng, đạo cha cũng đầy”
(Hoàng Trừu)
“Đỏ chen đen tránh là thường
Xin nguôi kẻ khó mà thương kẻ giàu”
(Tống Trân – Cúc Hoa)
“Mọi bề trong ấm ngoài êm
Chị dù chín suối cũng cam tấc lòng”
“Hiếm hoi chút gái vụng hèn
Nâng khăn sửa túi, xin yên phận nhờ”
(Nhị độ mai)
+ Mượn ý – đảo lời:
“May rằng áo ấm cơm no
Chẳng ngại sương tuyết chẳng lo cơ hàn”
(Hoàng Trừu)
“Ngỡ là giai lão bách niên
Thung dung đẹp cánh chim uyện trên trời”
Trang 11(Tống Trân – Cúc Hoa)
“Người tuổi tác, khách cô đơn
Để ai tan nghé, rẽ đàn vì ai?”
+ Mượn ý – rút gọn lời:
“Tấm thân lầm cát bấy chầy
Ví như nước đổ bốc đầy được không?”
(Hoàng Trừu)
“Phương chi thế sự bây giờ
Dễ dò bụng hiểm khôn lừa mưu gian”
(Nhị độ mai)
+ Mượn ý – tách lời:
“Thuyền son đỗ chẳng phải đầm
Như đàn cầm gảy tai trâu biết gì”
+ Các truyện thơ Nôm bình dân viết theo thể lục bát, những
từ láy ở vị trí giữa và cuối câu chiếm tỉ lệ rất cao, đó đều là những vị trí gieo vần (chữ thứ 6 của câu lục vần với chữ thứ 6 của câu bát) Vì vậy, những từ láy được bố trí ở hai vị trí này có vai trò rất lớn trong việc gieo vần cho câu thơ
Trang 12“Chồng cũ đã đi mười đông
Bây giờ chồng mới tin dùng yêu đương
Đỏ chen đen tránh là thường Xin nguôi kẻ khó mà thương kẻ giàu
(Tống Trân – Cúc Hoa)
“Nhớ tên hiệu chữ Mai đồng
Đề vào mảnh giấy dán trong nắm hòm
Ra vào giấu giếm , nom dòm Gọi là tiện chút sớm hôm phụng thờ”
(Nhị độ mai)+ Về khả năng gieo vần, thành ngữ - tục ngữ - ca dao trong các truyện thơ Nôm cũng không chịu thua các từ láy mặc dù để thực hiện được chức năng này, tác giả truyện Nôm gặp khó khăn hơn nhiều Nguyên nhân là do dung lượng của các thi liệu dân gian lớn hơn và chúng có cấu trúc bền vững nên rất khó để
sử dụng uyển chuyển , linh hoạt Tuy nhiên, các tác giả đã cố gắng vượt qua được những khó khăn đó để cho ra đời những câu thơ vừa nhuần nhụy, tinh tế về âm hưởng, vừa giàu hình ảnh
“Thôi thôi đừng quản thiệt hơn Băn khoăn kén cá phàn nàn chọn canh”
“Âm thầm /liệu bảy lo ba” (Hoàng Trừu)
“Vinh quy bái tổ/tên chàng Tống Trân”
Trang 13“Buồn thì bà quận bạn cùng Giữ gìn/ tắm táp/ bé bồng/ tương liên”
(Hoàng Trừu)
“Thẹn thùng/ lững thững/ chân dời Nàng e còn đứng, chàng coi đã tường”
(Nhị độ mai)Như vậy, nhìn chung trong truyện thơ Nôm bình dân, sự tác động của ngôn ngữ bình dân tới một số phương diện thuộc hình thức nghệ thuật là khá rõ, từ đó chúng ta có được những câu thơ hay, giàu sắc thái biểu cảm
1.3.2 Gía trị của ngôn ngữ bình dân nhìn từ khả năng tạo nghĩa trong tác phẩm
Ngôn ngữ bình dân không chỉ góp phầm làm đẹp cho hình thức
mà còn góp phần biểu hiện nội dung tư tưởng của tác phẩm Tác giả truyện thơ Nôm bình dân đã chứng minh cho những khả năng thuộc
về bản chất của một bộ phận từ ngữ tiếng Việt trong việc thể hiện các nội dung lớn của đời sống xã hội cũng như nội tâm con người Cụ thể:
từ láy có khả năng miêu tả, qua đó bộc lộ tâm trạng nhân vật; thành
Trang 14ngữ - tục ngữ - ca dao có khả năng thể hiện nội dung suy tư thế sự và triết lí.
* Từ láy góp phần thể hiện nội dung miêu tả
- Nhờ các từ láy, tác giả truyện thơ Nôm đã dựng nên những
bức tranh thiên nhiên sinh động, qua đó thể hiện thái độ của người kể chuyện và nội tâm nhân vật
Trong “Nhị độ mai” khung cảnh núi non trên đường Hạnh
Nguyên đi cống Hồ được miêu tả hết sức sinh động nhờ các từ “mờ mịt”, “chon von”, “cheo leo”, “ngổn ngang” Đó vừa là bức tranh ngoại cảnh vừa là bức tranh tâm cảnh:
“Hỏi tên là Lạc Nhạn đài Trùm mây mờ mịt ngất trời chon von
… Cheo leo sườn núi trông ngang Khe kia suối nọ ngổn ngang mấy trùng”
(Nhị độ mai)Trong “Hoàng Trừu”, “Tống Trân – Cúc Hoa” cũng có rất nhiều đoạn miêu tả cảnh thiên nhiên như vậy
- Nhiều khi chỉ bằng một câu với sự góp công của từ láy, tác giả
đã lột trần được bản chất của nhân vật:
“Tung nghe ra giọng đâm hông Mặt ngăn ngắt tím, mắt sòng sọc trông”
(Nhị độ mai)
Tác giả Nhị độ mai đã lợi dụng trọng âm của từ láy đôi “ngăn ngắt” và “sòng sọc” để tăng cường độ nhấn và bộc lộ thái độ đánh giá Trọng âm của “ngăn ngắt” và “sòng sọc” đều nằm ở hai âm phía
sau Các chữ “ngắt” và “sọc” cùng là âm trắc, nhờ đó, mức độ sắc thái
và âm hưởng của từ được nâng cao hơn rõ rệt so với các từ gần nghĩa như: tím, tim tím, chằm chằm, lăm lăm, Hơn nữa, khi đứng trước các thực từ mà nó tham gia bổ trợ nghĩa (tính từ “tím”, động từ
“trông”), “ngăn ngắt”, “sòng sọc” đã làm cho đối tượng miêu tả