Vì vậy, chọn đề tàiTìm hiểu hành động ngôn ngữ thuộc lớp điều khiển của nhân vật nông dân trong một số tác phẩm văn xuôi, giai đoạn 1930 - 1945để nghiên cứu, người viết một mặt muốn là
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
ĐOÀN QUANG HUÂN
TÌM HIỂU HÀNH ĐỘNG NGÔN NGỮ
THUỘC LỚP ĐIỀU KHIỂN CỦA NHÂN VẬT NÔNG DÂN
TRONG MỘT SỐ TÁC PHẨM VĂN XUÔI
GIAI ĐOẠN 1930 - 1945
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM
THÁI NGUYÊN - 2017
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
ĐOÀN QUANG HUÂN
TÌM HIỂU HÀNH ĐỘNG NGÔN NGỮ
THUỘC LỚP ĐIỀU KHIỂN CỦA NHÂN VẬT NÔNG DÂN
TRONG MỘT SỐ TÁC PHẨM VĂN XUÔI
GIAI ĐOẠN 1930 - 1945
Chuyên ngành: Ngôn ngữ Việt Nam
Mã ngành: 60 22 01 02
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Văn Lộc
THÁI NGUYÊN - 2017
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu khảo sát, thống kê, nghiên cứu, kết luận trong luận văn là trung thực và chưa từng công bố
ở bất kì công trình nào khác
Tác giả
Đoàn Quang Huân
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành đến PGS.TS Nguyễn Văn Lộc, thầy đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình nghiên cứu để tôi có thể hoàn thành luận văn tốt nghiệp này
Luận văn này là kết quả của một quá trình học tập và nghiên cứu Vì vậy, tôi xin chân thành cảm ơn đến những người thầy, người cô đã giảng dạy các chuyên đề cao học cho lớp Ngôn ngữ K23 (2015 - 2017) tại trường Đại học Sư phạm - Đại học Thái Nguyên
Tôi xin gửi lời cảm ơn đến gia đình, bạn bè, người thân đã luôn ủng hộ và động viên tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện luận văn
Thái Nguyên, tháng 9 năm 2017
Tác giả luận văn
Đoàn Quang Huân
Trang 5MỤC LỤC
Trang
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT iv
DANH MỤC CÁC BẢNG v
MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề 2
3 Đối tượng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu 6
4 Mục đích nghiên cứu, nhiệm vụ nghiên cứu 8
5 Phương pháp nghiên cứu 8
6 Bố cục của luận văn 9
Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 10
1.1 Lí thuyết về hành động ngôn ngữ 10
1.1.1 Khái niệm hành động ngôn ngữ 10
1.1.2 Phân loại các hành động ở lời 11
1.1.3 Phát ngôn ngữ vi, biểu thức ngữ vi, động từ ngữ vi 17
1.1.4 Một số dấu hiệu đánh dấu hành động ở lời 20
1.1.5 Hành động ở lời trực tiếp và hành động ở lời gián tiếp 23
1.2 Khái quát về hành động ở lời cầu khiến 24
1.2.1 Khái niệm hành động cầu khiến (điều khiển) 24
1.2.2 Phân loại hành động cầu khiến tiếng Việt 26
1.2.3 Đặc điểm của hành động cầu khiến tiếng Việt 28
1.3 Sơ lược về lí thuyết hội thoại 32
1.3.1 Khái niệm hội thoại 32
1.3.2 Khái niệm chủ ngôn và tiếp ngôn 33
1.3.3 Các qui tắc hội thoại 33
1.3.4 Các biện pháp làm giảm hiệu lực đe dọa thể diện của người nghe 34
Trang 61.4 Vài nét về văn xuôi Việt Nam giai đoạn 1930 - 1945 35
1.4.1 Sơ lược về lịch sử xã hội Việt Nam giai đoạn 1930 - 1945 35
1.4.2 Tình hình văn học 35
1.4.3 Một số tác giả, tác phẩm tiêu biểu 36
1.5 Tiểu kết 37
Chương 2 HÀNH ĐỘNG ĐIỀU KHIỂN CỦA NHÂN VẬT NÔNG DÂN TRONG VĂN XUÔI VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 1930 - 1945 NHÌN TỪ LÍ THUYẾT HÀNH ĐỘNG NGÔN NGỮ 38
2.1 Phân loại và miêu tả các hành động điều khiển trong một số tác phẩm văn xuôi Việt Nam, giai đoạn 1930 - 1945 38
2.1.1 Kết quả thống kê và tiêu chí phân loại 39
2.1.2 Miêu tả các kiểu hành động điều khiển trong một số tác phẩm văn xuôi Việt Nam giai đoạn 1930 - 1945 39
2.2 Tiểu kết 72
Chương 3 HÀNH ĐỘNG NGÔN NGỮ THUỘC LỚP ĐIỀU KHIỂN CỦA NHÂN VẬT NÔNG DÂN TRONG VĂN XUÔI VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 1930 - 1945 NHÌN TỪ LÍ THUYẾT HỘI THOẠI 74
3.1 Tiếp ngôn của các hành động ở lời thuộc lớp điều khiển của nhân vật nông dân trong một số tác phẩm văn xuôi Việt Nam, giai đoạn 1930 - 1945 74
3.1.1 Tiếp ngôn của các hành động lớp điều khiển nhìn từ phương diện thành phần giai cấp và vị thế xã hội 74
3.1.2 Tiếp ngôn với các hành động ở lời lớp điều khiển 87
3.2 Các hành động ở lời thuộc lớp điều khiển trong các tác phẩm đã khảo sát với vấn đề lịch sự trong hội thoại 95
3.2.1 Dẫn nhập 95
3.2.2 Các phương thức thể hiện tính lịch sự trong các hành động lớp điều khiển đã thống kê 97
3.3 Tiểu kết 104
KẾT LUẬN 106
TÀI LIỆU THAM KHẢO 109 PHỤ LỤC
Trang 7HĐCK : Hành động cầu khiến HĐNT : Hành động ngôn trung
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1 Bảng tổng kết số lượng và tỉ lệ % của các hành động ở lời thuộc
nhóm điều khiển đã thống kê: 1610 52
Bảng 2.2 Bảng tổng kết các hành động ở lời lớp điều khiển theo ngữ liệu thống kê 53
Bảng 2.3 Bảng tổng kết các hành động cầu khiến có cấu tạo 4 thành tố 55
Bảng 2.4 Tỉ lệ % tính theo số hành động điều khiển có cấu tạo ba thành tố 57
Bảng 2.5 Tỉ lệ % tính theosố tư liệu thống kê 57
Bảng 2.6 Bảng tổng kết kiểu động điều khiển có cấu tạo hai thành tố 58
Bảng 2.7 Bảng tổng kết kiểu động điều khiển có cấu tạo một thành tố 60
Bảng 2.8 Tổng kết các kiểu tiếp ngôn theo cấu tạo hình thức 60
Bảng 2.9 Tác phẩm Tắt đèn 61
Bảng 2.10 Tác phẩm Bước đường cùng 61
Bảng 2.11 Tác phẩm của Nam Cao 61
Bảng 2.12 Bảng tổng kết các kiểu hành động điều khiển theo mối quan hệ của BTNV và PNNV 64
Bảng 2.13 Số lượng và tỉ lệ phần trăm của hai kiểu hành động điều khiển được phân loại theo tiêu chí phát ngôn ngữ vi có mặt hay vắng mặt động từ ngữ vi 66
Bảng 2.14 Bảng tổng kếthành động điều khiển được dùng theo lối gián tiếp hay trực tiếp 70
Bảng 2.15 Bảng tổng kết khái quát về các kiểu hành động điều khiển theo tiêu chí ý nghĩa cầu, khiến 71
Bảng 3.1 Bảng tổng kết tiếp ngôn là nhân vật thuộc giai cấp thống trị 77
Bảng 3.2 Bảng tổng kết các tiếp ngôn không có quan hệ thân tộc và cùng giai cấp với chủ ngôn 81
Trang 9Bảng 3.3: Tiếp ngôn có quan hệ thân tộc và cùng giai cấp với chủ ngôn 84 Bảng 3.4 Bảng tổng kết các kiểu tiếp ngôn (Sp2) cùng giai cấp với chủ
ngôn (Sp1) 85 Bảng 3.5 Bảng tổng kết các kiểu tiếp ngôn xét theo thành phần giai cấp 86 Bảng 3.6 Bảng tổng kết các kiểu tiếp ngôn xét theo vị thế xã hội 86 Bảng 3.7 Bảng tổng kết về các kiểu tiếp ngôn của hành động điều khiển
xét từ phương diện vị thế xã hội với hành động ở lời 88 Bảng 3.8 Bảng tổng kết các kiểu tiếp ngôn và các hành động ngôn trung
mang ý nghĩa cầu hay khiến 93 Bảng 3.9 Bảng tổng kết các kiểu tiếp ngôn và các hành động ngôn trung
mang ý nghĩa cầu hay khiến 93
Trang 10các nhóm hành động ngôn ngữ, trong đó có hành động điều khiển (có tác giả gọi là hành động cầu khiến) Song, có thể nói rằng đến nay chưa có một công trình nào nghiên
cứu hành động điều khiển của nhân vật nông dân trong văn xuôi Việt Nam, giai đoạn
1930 - 1945 một cách công phu, bài bản
Văn học Việt Nam giai đoạn 1930 - 1945 đã có những đóng góp đáng kể trong lịch sử văn học nước nhà Sự đóng góp ở đây không chỉ thể hiện ở xu hướng chọn đề tài, ở sự phản ánh trung thực lịch sử xã hội và cách mạng Việt Nam giai đoạn này mà còn thể hiện ở phong cách nghệ thuật độc đáo qua ngôn ngữ nhân vật, trong đó hành động ngôn từ là một biểu hiện
1.2 Lí do chủ quan
Là một giáo viên giảng dạy văn học trong nhà trường phổ thông, thiết nghĩ muốn hiểu được lịch sử xã hội Việt Nam, hiểu được con người Việt Nam thuộc các tầng lớp khác nhau trong giai đoạn xã hội Việt Nam phân chia giai cấp, không thể không nghiên
cứu ngôn ngữ của họ Vì vậy, chọn đề tàiTìm hiểu hành động ngôn ngữ thuộc lớp
điều khiển của nhân vật nông dân trong một số tác phẩm văn xuôi, giai đoạn 1930
- 1945để nghiên cứu, người viết một mặt muốn làm rõ thêm hành động lớp điều khiển
được dùng trong văn xuôi Việt Nam như thế nào, mặt khác muốn tìm hiểu đặc điểm ngôn ngữ của nhân vật nông dân, những con người đại diện cho tầng lớp bị trị trong giai đoạn lịch sử này Từ đó giúp người đọc hiểu thêm về ngôn ngữ và xã hội Việt Nam trong thời kì có sự phân chia giai cấp
Trang 112 Lịch sử vấn đề
2.1 Tình hình nghiên cứu về hành động ngôn ngữ
2.1.1 Các tác giả nước ngoài
Trong lịch sử Ngữ dụng học, đã có nhiều công trình nghiên cứu về hành động ngôn ngữ Trên thế giới, phải kể đến các công trình nghiên cứu của ba nhà ngôn ngữ học là J L Austin, J.R Searle và Wierzbicka
J L Austin là người có công đầu trong việc xây dựng lí thuyết hành động ngôn từ Lí thuyết này được thể hiện trong 12 chuyên đề giảng dạy ở Đại học Havard Những chuyên
đề này, năm 1962 được học trò của ông tập hợp trong cuốn “How to do things with words” (Hành động như thế nào bằng lời nói).Trong công trình nghiên cứu này, ông đã chia hành
vi ngôn ngữ thành ba loại: hành vi tạo lời, hành vi mượn lời và hành vi ở lời
Dựa vào các động từ ngữ vi tiếng Anh, J L Austin đã tiến hành phân loại hành
vi ở lời thành 5 lớp lớn, đó là: phán xử, hành sử, cam kết, trình bày và ứng xử
Do không định ra được các tiêu chí để phân loại một cách hợp lí nên kết quả phân loại hành động ngôn ngữ (ông gọi là hành vi ngôn ngữ) còn chồng chéo, dẫm đạp lên nhau
- J R Searle là người đã kế thừa và phát triển lí thuyết hành động ngôn từ của
J J L Austin
Để khắc phục những hạn chế của J L Austin, J.R Searle đã đưa ra một hệ thống gồm 12 tiêu chí phân loại hành động ngôn từ, ngoài ra ông cũng xác lập một hệ thống thuận ngôn (bao gồm nội dung mệnh đề, điều kiện chuẩn bị, điều kiện chân thành, điều kiện căn bản) Đây là những đóng góp to lớn của tác giả trong việc phát triển lí luận về hành động ngôn từ
- A Wierzbicka với công trình nghiên cứu mang tên “English speech act ve rbs
- a semantic dictionary” đã phân loại hành động ngôn từ khá chi tiết dựa trên cơ sở 270
vị từ - động từ nói năng (speech act verbs) Các vị từ này được bà qui về 37 nhóm, tiêu
biểu là: ra lệnh (order), cầu xin (ask1), hỏi (ask2), mời gọi (call), cấm (forbid), cho
phép (permit), tranh cãi (argue), trách mắng (reprimand),
Trang 12Quan trọng là trong quá trình miêu tả và giải thích, tác giả đã bám theo những tiêu chí của điều kiện thuận ngôn như: cương vị của Sp1 và Sp2; Sp1 dùng chiến lược nào (lí trí hay tình cảm) để hành động; Sp2 có quyền từ chối việc thực hiện hành động được nêu trong nội dung mệnh đề hay không; khi công việc hoàn tất, người hưởng lợi
là Sp1 hay Sp2
Ngoài ba nhà ngôn ngữ học kể trên, còn một số nhà nghiên cứu nước ngoài kế tục công việc phân loại hành động ngôn từ của J L Austin, đó là: D Wunderlich, F Recanati, K.Bach, R.M Hanish, K Allan, Song do khuôn khổ của luận văn, chúng tôi không thể bàn thêm về các căn cứ phân loại cũng như quan điểm của các tác giả này
2.1.2 Các tác giả trong nước
Ở Việt Nam, từ cuối những năm 1980 trở lại đây, vấn đề hành động ngôn ngữ đã được sự quan tâm của đông đảo các nhà ngôn ngữ học Nhiều tác giả và các công trình nghiên cứu về hành động ngôn ngữ của họ đã được đưa vào giảng dạy trong trường Đại học và Trung học chuyên nghiệp, như:
- Tác giả Đỗ Hữu Châu, với công trình tiêu biểu Đại cương ngôn ngữ học Tập
2,Nxb GD, H 2001, đã đánh dấu một bước tiến mới trong ngành Ngôn ngữ học Việt
Nam Ông là một trong những dịch giả và cũng là tác giả dành nhiều tâm huyết cho vấn đề hành động ngôn ngữ (xin nói thêm, hành động ngôn ngữ được tác giả gọi bằng
cái tên khác là hành vi ngôn ngữ)
Không chỉ chuyển tải những quan điểm của J L Austin, J R Searle, trong công trình nghiên cứu này, tác giả Đỗ Hữu Châu còn nêu định nghĩa về hành động ngôn ngữ
và các vấn đề liên quan như: phát ngôn ngữ vi, biểu thức ngữ vi, động từ ngữ vi, biểu
thức ngữ vi tường minh và biểu thức ngữ vi nguyên cấp, nghĩa tường minh và nghĩa hàm ẩn,
- Tác giả Nguyễn Đức Dân, với công trình Ngữ dụng học, Tập 1, Nxb GD, H
1998, cũng đã có những đóng góp quan trọng về lĩnh vực nghiên cứu hành động ngôn
ngữ Ngoài những nội dung giới thiệu quan điểm của J L Austin, J R Searle, trong
Trang 13công trình này tác giả còn chỉ ra những hiện tượng mơ hồ giữa vị từ ngôn hành (tác giả
dùng thuật ngữ động từ ngữ vi) và động từ trần thuật, giữa câu ngữ vi và câu trần thuật
để từ đó đề xuất một số cách phân biệt hai loại câu này
2.2 Tình hình nghiên cứu hành động ngôn từ của nhân vật trong tác phẩm văn chương
Có thể nói, đến nay đã có khá nhiều công trình nghiên cứu trực tiếp hay gián tiếp bàn về hành động ngôn ngữ trong tác phẩm văn chương, dưới đây là một số công trình tiêu biểu (xin liệt kê theo năm công bố):
- Lê Thị Thư (2008), Hành động ngôn ngữ gián tiếp trong Truyện ngắn Nam Cao,
Luận văn Thạc sĩ, ĐHSP-ĐHTN
- Bùi Kim Tuyến (2009), Bước đầu khảo sát yếu tố phụ kèm theo động từ nói
năng chỉ hành động ngôn ngữ trong tác phẩm văn học của Nam Cao, Ngô Tất Tố, Nguyễn Công Hoan, Luận văn Thạc sĩ, ĐHQG HN
- Bùi Minh Toán (2010), Lí thuyết hành động ngôn ngữ với đoạn thơ trao duyên của Truyện Kiều, Báo điện tử
- Nguyễn Thị Thu Hiền (2011), Khảo sát đặc điểm ngôn ngữ đối thoại trong kịch
Lưu Quang Vũ, Luận văn Thạc sĩ, ĐHQG HN
- Đặng Kim Ngân (2011), Tìm hiểu câu ngôn hành trong tiểu thuyết Tắt Đèn và
Lều Chõng của Ngô Tất Tố, Luận văn TNĐH, ĐHCần Thơ
- Trần Thị Việt Hà (2012), Đặc điểm ngôn ngữ của nữ giới qua hành vi hỏi (trên
ngữ liệu lời thoại nhân vật trong Truyện ngắn Nam Cao trước 1945), Luận văn Thạc
sĩ, Trường ĐHKHXH & NV HN
Các công trình dẫn trên một lần nữa khẳng định đã có khá nhiều nhà nghiên cứu ngôn ngữ quan tâm đến hành động ngôn ngữ của nhân vật trong tác phẩm văn chương, song như đã nói ở trên, chưa có một công trình nào nghiên cứu về hành động ngôn ngữ nói chung, hành động điều khiển nói riêng qua lời thoại của các nhân vật nông dân trong văn xuôi Việt Nam giai đoạn 1930 - 1945
Trang 142.3 Tình hình nghiên cứu câu cầu khiến và hành động cầu khiến
Đến nay đã có khá nhiều công trình nghiên cứu về câu cầu khiến và hành động cầu khiến tiếng Việt Xin dẫn một số công trình tiêu biểu:
- Lê Thị Kim Đính (2006), Lịch sự trong hành động cầu khiến tiếng Việt, Luận
văn Thạc sĩ Ngôn ngữ học, Trường ĐHSP TP HCM
- Vũ Thị Thanh Hương (1999), “Gián tiếp và lịch sự trong lời cầu khiến tiếng Việt”, Tạp chí Ngôn ngữ (1), tr 13-18
- Vũ Thị Thanh Hương (1999), “Gián tiếp và lịch sự trong lời cầu khiến tiếng Việt”, Tạp chí Ngôn ngữ (10), tr 47-57
- Vũ Thị Thanh Hương (2000), “Chiến lược lịch sự thay đổi mức lợi thiệt trong lời cầu khiến tiếng Việt”, Tạp chí Ngôn ngữ (10), tr 39-48
- Vũ Ngọc Hoa (2010), “Phân loại hành vi ngôn ngữ cầu khiến trong văn bản hành chính”, Tạp chí Ngôn ngữ và Đời sống (7), tr.8-11
- Đào Thanh Lan (2010), Ngữ pháp, ngữ nghĩa của lời cầu khiến tiếng Việt, Nxb
- Trần Chi Mai (2005), Phương thức biểu hiện hành vi từ chối lời cầu khiến trong
tiếng Anh, Luận án Tiến sĩ Ngôn ngữ học, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
- Nguyễn Thị Thanh Ngân (2008), “Dạy trẻ mẫu giáo nói đúng khi cầu khiến”,
Kỷ yếu Hội thảo Giáo dục Ngôn ngữ tại Việt Nam (12), tr.277-281
Trang 15- Nguyễn Thị Thanh Ngân (2016), Các hành động cầu khiến tiếng Việt, Nxb Đại
học Quốc gia Hà Nội
- Trần Thị Tuyết Nhung (2004), “Về hành vi cầu khiến của nhân vật truyện ngắn Nam Cao trước 1945”, Tạp chí Ngôn ngữ và Đời sống (9), tr.9-12
- Trần Kim Phượng (2000), Khảo sát phương tiện từ vựng(động từ) biểu thị ý nghĩa cầu
khiến trong câu tiếng Việt, Luận văn Thạc sĩ Ngữ văn, Đại học Quốc gia Hà Nội
Có thể nói rằng, tuy thống kê chưa đủ nhưng những công trình nghiên cứu vừa dẫn cũng cho ta thấy các Việt ngữ học đã rất quan tâm đến câu cầu khiến cũng như hành động cầu khiến tiếng Việt (trong giao tiếp và trong văn chương) Về mặt lí luận, câu cầu khiến và hành động cầu khiến (điều khiển) tiếng Việt đã được nghiên cứu khá
kỹ lưỡng Song, như đã nói ở mục lí do chọn đề tài, nghiên cứu chúng (câu cầu khiến
và đặc biệt là hành động cầu khiến) trong văn chương thời kỳ trước Cách mạng tháng Tám vẫn chưa được giới nghiên cứu ngôn ngữ quan tâm đúng mức
Trên cơ sở kế thừa những thành quả nghiên cứu của các nhà ngôn ngữ học đi
trước, luận văn này tập trung tìm hiểu hành động ngôn ngữ lớp điều khiển (hành động
cầu khiến) được các nhân vật nông dân trong một số tác phẩm văn xuôi Việt Nam, giai đoạn 1930 - 1945 sử dụng về một số phương diện (Nội dung nghiên cứu cụ thể sẽ nói
ở các mục Đối tượng và Phạm vi nghiên cứu dưới đây)
3 Đối tượng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là hành động ngôn ngữ lớp điều khiển của
nhân vật nông dân trong một số tác phẩm văn xuôi Việt Nam, giai đoạn 1930 - 1945
3.2 Phạm vi nghiên cứu
3.2.1 Về ngữ liệu khảo sát
Ngữ liệu được luận văn chọn để khảo sát hành động ngôn ngữ lớp điều khiển là
một số tác phẩm văn xuôi Việt Nam trong dòng Văn học hiện thực phê phán, thời kì
1930 - 1945 sau đây:
(1) Tắt đèn của Ngô Tất Tố, Nxb Đồng Nai, 2001
(2) Bước đường cùng của Nguyễn Công Hoan, Nxb Đồng Nai, 2000
Trang 16(3) Một số tác phẩm chọn lọc trong Tuyển tập Nam Cao, Nxb Văn học, H 2016,
cụ thể là các truyện:Nghèo; Chí Phèo; Con mèo; Giăng sáng; Trẻ con không được ăn
thịt chó; Từ ngày mẹ chết; Quái dị; Một bữa no
Xin nói thêm, chúng tôi chọn các tác phẩm văn xuôi Việt Nam thuộc dòng Văn
học hiện thực phê phán nói trên để khảo sát đối tượng nghiên cứu là bởi ba lí do: Thứ nhất, các tác phẩm văn xuôi trong những dòng văn học khác ở Việt Nam thời
kì này (Văn học lãng mạn và Văn học cách mạng) không có nhiều;
Thứ hai, nhân vật nông dân chủ yếu chỉ thấy được nói đến nhiều trong các tác
phẩm dòng Văn học hiện thực phê phán;
Thứ ba, dòng Văn học hiện thực phê phán là dòng văn học chiếm ưu thế và công
khai hợp pháp lúc đương thời Một số tác phẩm mà chúng tôi chọn để khảo sát là những tác phẩm văn xuôi tiêu biểu, phản ánh trung thực xã hội Việt Nam thời kì đó
3.2.2 Về nội dung nghiên cứu
Luận văn này nghiên cứu hành động ngôn ngữ lớp điều khiển (từ đây gọi gọn là
hành động điều khiển hay hành động cầu khiến) của nhân vật nông dân trong các tác
phẩm trên dựa vào hai bình diện lí thuyết, theo đó là các vấn đề nghiên cứu cụ thể:
- Dựa vào lí thuyết Hành động ngôn ngữ, luận văn nghiên cứu hành động điều
khiển về các phương diện sau:
+ Các hành động ở lời (hành động ngôn trung) thuộc lớp hành động điều khiển; + Cấu trúc hình thức của các hành động ở lời lớp điều khiển;
+ Đặc điểm của hành động ở lời thuộc lớp điều khiển dựa vào mối quan hệ giữa phát ngôn ngữ vi và biểu thức ngữ vi cầu khiến;
+ Đặc điểm của hành động điều khiển dựa vào sự có mặt hay vắng mặt của động
từ ngữ vi cầu khiến;
+ Phương thức thể hiện các hành động lớp điều khiển (trực tiếp hay gián tiếp);
+ Hành động lớp điều khiển xét về ý nghĩa cầu hay khiến
- Dựa vào lí thuyết Hội thoại, luận văn nghiên cứu hành động điều khiển về hai
phương diện:
Trang 17+ Tiếp ngôn (Sp2) của hành động điều khiển về phương diện thành phần giai cấp và
vị thế xã hội xét trong mối quan hệ với chủ ngôn (Sp1, ở đây là nhân vật nông dân); + Hành động điều khiển với vấn đề phương thức thể hiện tính lịch sự trong lời cầu khiến
4 Mục đích nghiên cứu, nhiệm vụ nghiên cứu
4.1.Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu hành động ngôn ngữ thuộc lớp điều khiển của nhân vật nông dân trong các tác phẩm tiêu biểu, giai đoạn 1930-1945, người viết muốn góp phần làm rõ đặc điểm ngôn ngữ, đặc biệt là các hành động ở lời thuộc lớp điều khiển của nông dân, đại diện cho giai cấp bị trị ở Việt Nam thời kì trước Cách mạng tháng Tám, từ đó thấy được sự chi phối của vị thế xã hội đối với hành động nói năng của con người trong thời
kì lịch sử này như thế nào
4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt mục đích nói trên, luận văn đặt ra một số nhiệm vụ chính sau đây:
(1) Nghiên cứu và lựa chọn những vấn đề lí thuyết làm căn cứ lí luận cho việc xử
5 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp và thủ pháp nghiên cứu chủ yếu được luận văn sử dụng là:
- Phương pháp thống kê, phân loại: Phương pháp nghiên cứu này được dùng để
thống kê và phân loại các hành động điều khiển của nhân vật nông dân trong các tác phẩm đã chọn làm ngữ liệu thống kê
- Phương pháp phân tích, tổng hợp: Những phương pháp nghiên cứu này được
dùng để phân tích, tổng hợp đặc điểm của các kiểu hành động điều khiển đã được thống
kê, phân loại và miêu tả
Trang 18- Thủ pháp so sánh, đối chiếu: Thủ pháp so sánh, đối chiếu được dùng để so sánh
các hành động điều khiển được nhân vật nông dân sử dụng với các hành động điều khiển giả định mà luận văn đưa ra khi cần thiết
6 Bố cục của luận văn
Ngoài các phần: Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, luận văn gồm ba chương: Chương 1: Cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn
Chương 2: Hành động điều khiển của nhân vật nông dân trong văn xuôi Việt Nam,
giai đoạn 1930 - 1945 nhìn từ lí thuyết Hành động ngôn ngữ
Chương 3: Hành động điều khiển của nhân vật nông dân trong văn xuôi Việt Nam,
giai đoạn 1930 - 1945 nhìn từ lí thuyết Hội thoại
Trang 19Chương 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
Chương này trình bày sơ lược một số vấn đề lí luận và cơ sở thực tiễn liên quan đến đề tài, cụ thể đó là: lí thuyết về hành động ngôn ngữ; lí thuyết hội thoại; vài nét về văn xuôi VN giai đoạn 1930 - 1945
1.1 Lí thuyết về hành động ngôn ngữ
1.1.1 Khái niệm hành động ngôn ngữ
Như chúng ta đã biết, ngôn ngữ tuy không phải là phương tiện giao tiếp duy nhất nhưng là phương tiện giao tiếp quan trọng nhất của loài người Sử dụng ngôn ngữ nhằm gây ra hiệu quả, tác động đối với nhân vật giao tiếp là người nói đã sử dụng các hành
vi ngôn ngữ
Theo cuốn Từ điển giải thích thuật ngữ ngôn ngữ học (1998) (Nguyễn Như Ý chủ biên), Nxb Giáo dục, Hà Nội thì hành vi ngôn ngữ (J.R Searle gọi là hành động ngôn
ngữ) là “Một đoạn lời có mục đích nhất định được thực hiện trong những điều kiện
nhất định, được tách biệt bằng các phương tiện tiết tấu, ngữ điệu, và hoàn chỉnh, thống nhất về mặt cấu âm - âm học và người nói và người nghe đều có liên hệ với một ý nghĩa như nhau trong hoàn cảnh giao tiếp nào đó” [78, tr.107]
Nghiên cứu hành động ngôn ngữ không thể không đề cập đến lí thuyết hành động
ngôn từ (speech act) của J L Austin trong công trình How to do things with word
(Hành động như thế nào bằng lời nói) Tuy không đưa ra một định nghĩa cụ thể về hành động ngôn ngữ nhưng J L Austin có khẳng định: “Khi chúng ta nói năng là chúng ta hành động, chúng ta thực hiện một hành động đặc biệt mà phương tiện là ngôn ngữ” [Dẫn theo 8, tr 87] Ông còn nói thêm: “Có ba loại hành động ngôn ngữ lớn: hành vi tạo lời (acte locutoire), hành vi mượn lời (acte perlocutoire) và hành vi ở lời (acte illocutoire)” [Dẫn theo 8, tr.87]
Theo lí thuyết này, một lời nói bao giờ cũng phải được thực hiện thông qua các hành động ngôn từ (hành động nói) gồm ba hành động liên quan đến nhau:
Trang 20- Hành động tạo lời (hành động tạo ngôn) là “hành động sử dụng các yếu tố ngôn
ngữ như ngữ âm, từ, các kiểu kết hợp từ thành câu nhằm tạo ra một phát ngôn có hình thức và nội dung” [Dẫn theo 8, tr.88]
- Hành động mượn lời (còn gọi là hành động dụng ngôn hay hiệu lực dụng ngôn)
là những hành vi “mượn” phương tiện ngôn ngữ để gây ra một hiệu quả tâm lý nào đó
ở người nghe, người nhận hoặc ở chính người nói, như: vui, buồn, lo lắng, xúc động,
bực tức, phấn khởi,
- Hành động ở lời (còn gọi là hành động ngôn trung) là hành động người nói thực
hiện ngay khi nói năng Hiệu quả của chúng là những hiệu quả thuộc ngôn ngữ, tức là
nó gây ra một hiệu quả ngôn ngữ tương ứng ở người nhận Chẳng hạn, khi chúng ta
“hỏi” ai một điều gì đó, người được hỏi có trách nhiệm phải “trả lời” chúng ta, dù câu trả lời là “không biết”
Hành động ở lời được thực hiện bằng một lực thông báo của phát ngôn (lực ngôn
trung) và thể hiện mục đích giao tiếp nhất định (đích ngôn trung), như: hỏi, cầu khiến,
trần thuật, biểu cảm, Đích ngôn trung và lực ngôn trung là tiêu chí nhận diện hành
động ở lời Khác với hành động mượn lời, hành động ở lời có ý định, qui ước và thể chế, dù rằng qui ước và thể chế của chúng không hiển ngôn mà mọi người trong một cộng đồng ngôn ngữ tuân theo một cách không tự giác
O Ducrot nói rõ thêm về sự khác biệt giữa hành động ở lời với hành động tạo lời
và hành động mượn lời Sự khác biệt cơ bản giữa chúng là ở chỗ hành động ở lời thay đổi tư cách pháp nhân của người đối thoại Hành động ở lời đặt người nói và người nghe vào những nghĩa vụ và quyền lợi mới so với tình trạng của họ trước khi thực hiện hành động ở lời đó
1.1.2 Phân loại các hành động ở lời
1.1.2.1 Quan điểm và kết quả phân loại của J L Austin
Trong công trình How to do thinks with words, J L Austin đã dựa vào động từ
ngữ vi tiếng Anh để phân loại các hành động ngôn ngữ thành 5 lớp lớn, đó là (dẫn theo
Đỗ Hữu Châu):
Trang 21- Lớp phán xử (verditives, verditifs): Đây là những hành động đưa ra những lời
phán xét về một sự kiện hoặc một giá trị dựa trên những chứng cớ hiển nhiên hoặc dựa
vào những lí lẽ vững chắc như: xử trắng án, nêu đặc điểm, cho là, xem là, phân tích,
phân loại, miêu tả,
- Lớp hành xử (exercitives, exercitifs): Đây là những hành động đưa ra những quyết định thuận lợi hay chống lại một chuỗi hành động nào đó, chẳng hạn như: Ra
lệnh, chỉ huy, khẩn cầu, van xin, lạy, cảnh cáo, v.v
- Lớp cam kết (commissiver, commissifs): Đây là những hành động ràng buộc người nói vào một chuỗi hành động nhất định, chẳng hạn: hứa, bày tỏ lòng mong muốn,
giao ước,bảo đảm, thề nguyền,
- Lớp trình bày (expositives, expositifs): Đây là những hành động được dùng để
trình bày, dẫn dắt lập luận, giải thích cách dùng các từ như khẳng định, phủ định, từ chối, phản bác, nhượng bộ, dẫn thí dụ,
- Lớp ứng xử (behabitives, comportementaux): Đây là những hành động phản ứng
lại cách xử sự của người khác, đối với các sự kiện có liên quan Những hành vi này cũng có khi là cách thể hiện thái độ đối với hành vi và số phận của người khác, như:
xin lỗi, cám ơn, khen ngợi, chào mừng, phê phán,
Có thể nói ngay rằng, cách phân loại của J L Austin có phần không thỏa đáng
vì các hành động ngôn ngữ có chỗ bị chồng chéo, có chỗ mơ hồ không xác định được
rõ ràng
1.1.2.2 Quan điểm và kết quả phân loại của J R.Searle
Khắc phục những hạn chế trong cách phân loại của J L Austin, tác giả J R
Searle đã đưa ra 12 tiêu chí để phân loại các hành động ở lời, đó là: 1) Đích ở lời, 2)
Hướng khớp ghép giữa lời với hiện thực, 3) Trạng thái tâm lí được thể hiện, 4) Sức mạnh mà đích được trình bày, 5) Tính quan yếu của mối quan hệ liên cá nhân, 6) Định hướng hành động, 7) Cặp kế cận, 8) Nội dung mệnh đề, 9) Hứa hẹn, 10) Thể chế xã hội, 11) Động từ ngôn hành, 12) Phong cách thực hiện hành động ở lời
Trang 22Theo 12 tiêu chí này, lấy 3 tiêu chí đầu và tiêu chí thứ 8 làm căn cứ cơ bản, J R Searle đã chia hành động ở lời thành 5 lớp:
(1) Lớp hành động tái hiện (trước đây ông gọi là xác tín hay biểu hiện):
Lớp hành động này có những đặc trưng sau:
- Đích ở lời: Đích ở đây là miêu tả, xác tín một sự tình đang được nói tới
- Hướng khớp ghép: Hướng khớp ghép ở đây là ghép lời với hiện thực mà lời đề cập Tức hiện thực là cái có trước, lời có sau, lời phải phù hợp với hiện thực Nếu lời
không phù hợp với hiện thực tức là hành động miêu tả hay xác tín sai
- Trạng thái tâm lí: Niềm tin vào điều mình xác tín Người nói ra hành động xác
tín phải tin là điều mình nói ra là đúng Người nói ra phát ngôn dẫn trên đã tin vào lời mình nói ra là đúng với hiện thực
- Nội dung mệnh đề: một mệnh đề
(2) Lớp hành động điều khiển
- Đích ở lời: Đặt người nghe vào trách nhiệm thực hiện hành động trong tương lai
Ví dụ 2: Tôi yêu cầu anh từ mai không được đi học muộn
Hành động “yêu cầu” trên có đích là đặt người nghe (anh) vào trách nhiệm phải
thực hiện hành động trong tương lai là từ mai phải đi học đúng giờ (tức “không được
đi học muộn”
- Hướng khớp ghép: Hiện thực ghép vào lời, tức lời có trước, hiện thực có sau Trong
lời yêu cầu vừa dẫn, hành động “không đi học muộn” (tức hành động đi học đúng giờ) được
thực hiện đúng theo lời “yêu cầu ” của Sp1(hành động yêu cầu)
- Trạng thái tâm lí: Là sự mong muốn người nghe thực hiện hành động Ở đây,
người đưa ra hành động “yêu cầu” với mong muốn người nghe (anh) thực hiện hành động trong tương lai: “từ mai phải đi học đúng giờ”
- Nội dung mệnh đề: Là hành động tương lai của người nghe Phát ngôn dẫn trên
có nội dung mệnh đề là hành động (đi học đúng giờ) trong tương lai (từ mai) của người nghe (anh)
Trang 23(3) Lớp hành động cam kết
- Đích ở lời: Là trách nhiệm thực hiện hành động mà Sp1 bị ràng buộc
Ví dụ 3: Tôi hứa (với bạn) sẽ cho bạn vay 10 triệu
Đích ở lời của hành động ngôn ngữ “hứa” dẫn trên là trách nhiệm phải thực hiện hành động “cho bạn vay 10 triệu” của Sp1 (người nói - tôi) Sp1 phải thực hiện hành động này là bởi sự giàng buộc của lời “hứa” mà Sp1 đã đưa ra
- Hướng khớp ghép: Hiện thực ghép vào lời Tức lời hứa (cho Sp2 - bạn vay 10 triệu) của Sp1 là cái có trước, hiện thực Sp1đưacho Sp2 vay 10 triệu là cái xảy ra sau lời hứa Nói cách khác, Sp1 nói lời hứa trước rồi sau đó mới có hành động đưa tiền cho Sp2 Không ai lại đưa tiền rồi mới hứa
- Trạng thái tâm lí: Trạng thái tâm lí thể hiện qua lớp hành động ngôn ngữ thuộc
nhóm này là ý định của người nói (Sp1) Trong ví dụ vừa dẫn, trạng thái tâm lí của Sp1
ở đây là ý định cho Sp2 (người nghe) vay 10 triệu
- Nội dung mệnh đề: Nội dung mệnh đề ở đây là hành động trong tương lai của người
nói Trong ví dụ dẫn trên, nội dung mệnh đề là hành động Sp1 cho Sp2 vay 10 triệu
(4) Lớp hành động biểu cảm
- Đích ở lời: Là bày tỏ trạng thái tâm lí phù hợp với hành động ở lời
Ví dụ 4: Trời ơi sao mà nóng thế!
Đây là hành động than vãn (trời nóng) của Sp1 Đích ở lời là Sp1 bày tỏ tâm trạng khó chịu trước hiện thực trời nóng
- Hướng khớp ghép: Không có hướng khớp ghép (chỉ là thái độ của người nói,
không đánh giá được chân - ngụy)
- Trạng thái tâm lí: Thay đổi tùy theo từng hành động ở lời Trạng thái tâm lí thể hiện trong ví dụ trên là sự khó chịu của Sp1 trước hiện thực trời quá nóng
- Nội dung mệnh đề: Là một hành động hay tính chất nào đó của Sp1 hay của Sp2
(5) Lớp hành động tuyên bố
- Đích ở lời: Là gây ra một sự thay đổi bởi lời tuyên bố
Trang 24Ví dụ 5 (lời của giám đốc công ty): Tôi tuyên bố cuộc họp bắt đầu
Lời tuyên bố của Sp1 (giám đốc) trong ví dụ (5) kết thúc sẽ gây ra một sự thay đổi:
cuộc họp bắt đầu, mọi người trong hội trường không còn được nói chuyện hay làm việc
riêng nữa mà bắt đầu chú ý nghe và làm theo yêu cầu của chủ tọa (giám đốc công ty)
- Hướng khớp ghép: Là hiện thực ghép với lời Trong ví dụ vừa dẫn, hướng khớp ghép là hiện thực(mọi người bắt đầu họp) ghép với lời (tuyên bố của giám đốc), tức là lời tuyên bố của Sp1 có trước, hiện thực (mọi người họp) có sau
- Trạng thái tâm lí: Không rõ, có các yếu tố thể chế làm lời nói có giá trị Trong ví
dụ vừa dẫn, yếu tố thể chế là lời tuyên bố phải có ngữ cảnh mới có hiệu lực Ngữ cảnh ở đây là trong một phòng họp, có nhiều người ngồi chờ cuộc họp theo thông báo trước đó Giả định trong phòng họp không có ai hay có nhiều người nhưng không phải ngồi chờ
cuộc họp mà là ngồi tán gẫu cho vui thì giám đốc cũng sẽ không đưa ra lời tuyên bố
- Nội dung mệnh đề: Là một mệnh đề Trong ví dụ (5), nội dung mệnh đề chính
là mệnh đề “cuộc họp bắt đầu”
Cách phân loại của J.R Searle được xem là tương đối hợp lí Luận văn này cơ bản tuân thủ những tiêu chí mà J R Searle đưa ra để xác định và thống kê các hành động điều khiển của nhân vật nông dân trong một số tác phẩm văn xuôi Việt Nam, giai đoạn 1930-1945 đã nói trên
1.1.2.3 Quan điểm và kết quả phân loại của một số nhà Việt ngữ học
Ngoài quan điểm và cách phân loại của hai tác giả nước ngoài tiêu biểu vừa trình bày, ở Việt Nam cũng có một số tác giả đề cập đến vấn đề phân loại hành động ngôn ngữ Không thể không kể đến một số tác giả Việt ngữ tiêu biểu quan tâm đến vấn đề này, như: Cao Xuân Hạo, Bùi Mạnh Hùng, Hồ Lê, v.v
a) Quan điểm và kết quả phân loại của tác giả Cao Xuân Hạo
Trong cuốn Sơ thảo ngữ pháp chức năng, quyển 1 (1991) tác giả Cao Xuân Hạo
đã bày tỏ quan điểm rất rõ ràng khi bàn về vấn đề phân loại hành động ngôn ngữ.Theo ông, khi chúng ta nói ra một câu là chúng ta thực hiện một hành động nhất định Vì thế, khi chúng ta xác lập một mệnh đề, cũng tức là chúng ta thực hiện một hành động có mục đích giao tế nào đấy, đó là một hành động ngôn trung
Trang 25Tác giả Cao Xuân Hạo còn căn cứ vào hiện thực để chia câu tiếng Việt thành hai loại lớn, là câu trần thuật và câu nghi vấn Việc phân loại câu theo lực ngôn trung theo quan điểm ông là không chỉ dựa vào công dụng mà còn phải dựa vào cả đặc điểm hình thức Với quan điểm như vậy, Cao Xuân Hạo đã chia hành động ở lời (hành động ngôn
trung) thành các loại, như miêu tả, nhận xét, hỏi, yêu cầu, bộc lộ thái độ, v.v
b) Quan điểm và kết qủa phân loại của tác giả Bùi Mạnh Hùng
Kế thừa quan điểm phân loại câu và hành động ngôn trung của tác giả Cao Xuân Hạo, tác giả Bùi Mạnh Hùng (2003) cho rằng: Trong cấu trúc của câu bao giờ cũng có phương tiện ngôn ngữ giúp chúng ta qui câu về một kiểu nhất định gắn với mục đích phát ngôn (lực ngôn trung) điển hình Đây là vấn đề nguyên tắc của ngôn ngữ học Tác giả thay cho cách dùng thuật ngữ “Phân loại câu theo mục đích phát ngôn” của ngôn ngữ học truyền thống hay “Phân loại câu theo lực ngôn trung” của Cao Xuân Hạo bằng khái niệm “Phân loại câu theo dấu hiệu hình thức gắn với mục đích phát ngôn điển hình”
Tác giả nêu quan điểm khi phân loại câu là dựa vào ba nguyên tắc:
(1) Không xếp một câu nào đó vào hai kiểu khác nhau;
(2) Mỗi một kiểu câu có một hình thức riêng mà kiểu câu khác không có (hình thức riêng có thể biểu hiện chỉ qua một phương tiện ngôn ngữ mà cũng có thể biểu hiện qua nhiều phương tiện ngôn ngữ cùng một lúc)
(3) Ngữ điệu không được coi là dấu hiệu đánh dấu các kiểu câu
Theo tinh thần này, xét về đích ngôn trung, câu tiếng Việt cũng được tác giả chia
thành nhiều kiểu, như: trần thuật, hỏi, cầu khiến, bộc lộ thái độ, v.v
c) Quan điểm và kết quả phân loại của tác giả Hồ Lê
Tác giả Hồ Lê (1992), trong công trình Cú pháp tiếng Việt, quyển 2, Nxb GD, H
đã cho rằng mỗi câu đều phải theo một trong 4 định hướng: trần thuật, nghi vấn, cầu
khiến, cảm thán Người thụ ngôn phải cảm nhận được định hướng của từng câu để có
phản xạ thích hợp
Trang 26Chẳng hạn, khi nghe một câu cầu khiến, người nghe không những phải hiểu nội dung của câu mà còn phải nhận ra điểm cầu khiến trong câu và chuẩn bị phản ứng (bằng lời hay hành động vật lí) Theo quan điểm phân loại này, tác giả Hồ Lê đã chia câu cầu khiến thành 4 kiểu như nói ở trên
Tóm lại, quan điểm phân loại hành động ở lời của các tác giả dẫn trên tuy có phần khác nhau nhưng đều chung nhau ở một điểm: xem trọng đích ở lời và những dấu hiệu
bề mặt của các phát ngôn để xác định từng hành động ngôn trung (hành động ở lời) của mỗi phát ngôn (câu trong giao tiếp)
1.1.3 Phát ngôn ngữ vi, biểu thức ngữ vi, động từ ngữ vi
1.1.3.1 Phát ngôn ngữ vi
Theo tác giả Đỗ Hữu Châu, “Phát ngôn ngữ vi là những phát ngôn mà khi người
ta nói chúng ra thì đồng thời người ta thực hiện luôn cái việc được biểu thị trong phát ngôn” [8, tr 89]
Ví dụ (6): Tôi xin lỗi anh vì đã dẫm vào chân anh!
Khi người nói phát âm xong phát ngôn trên là đã thực hiện xong cái việc được
biểu thị trong phát ngôn là việc xin lỗi Nói cách khác, người nói phát âm xong phát ngôn là đã thực hiện xong hành động xin lỗi
Về mặt hình thức, biểu thức ngữ vi có khi trùng với hình thức của phát ngôn ngữ
vi, nhưng cũng có khi chỉ là một bộ phận của phát ngôn ngữ vi
Biểu thức ngữ vi trong ví dụ vừa dẫn chỉ là một bộ phận của phát ngôn ngữ vi
Phần không in nghiêng là thành phần mở rộng thể hiện hành vi rào đón
Trang 27Ví dụ 8: So sánh hai phát ngôn sau đây:
- Tớ ngại quá, nhưng tớ vẫn phải nói với cậu, tớ hết sạch tiền rồi, cậu cho tớ xin
lại số tiền mà cậu vay năm ngoái nhé! (a)
- Cậu cho tớ xin lại số tiền mà cậu vay năm ngoái nhé (b)
Rõ ràng cách nói như ở ví dụ (8a) lịch sự và tôn trọng thể diện của Sp2 hơn cách nói như (8b)
Biểu thức ngữ vi trong ví dụ (9) dưới đây có hình thức trùng với phát ngôn ngữ vi
Ví dụ 9: Tôi yêu cầu anh xuống xe xuất trình giấy tờ!
Phát ngôn trên là phát ngôn ngữ vi yêu cầu và đồng thời cũng là biểu thức ngữ
vi Phát ngôn ngữ vi tối thiểu là phát ngôn chỉ có biểu thức ngữ vi (như ví dụ 8b) Trong giao tiếp thường ngày, phát ngôn ngữ vi thường có biểu thức ngữ vi và thành phần mở rộng (như ví dụ 7 và ví dụ 8a)
Mỗi biểu thức ngữ vi đều mang những dấu hiệu chỉ dẫn đặc thù để phân biệt hành động ở lời Những dấu hiệu đánh dấu biểu thức ngữ vi thường gặp là: kiểu kết cấu, những từ ngữ đặc thù, ngữ điệu, quan hệ giữa các thành tố trong cấu trúc vị từ tham thể tạo nên nội dung mệnh đề, động từ ngữ vi, v.v (sẽ nói kĩ ở mục (1.1.3.3) và mục (1.1.3.4) dưới đây
1.1.3.3 Động từ ngữ vi
a) Khái niệm động từ ngữ vi
Trong số các động từ của ngôn ngữ, có một loại động từ chuyên dùng để gọi tên
các hành động ngôn ngữ Các nhà ngôn ngữ học gọi chúng là động từ nói năng Ví dụ, các động từ: hỏi, khuyên, yêu cầu, hứa, xin, nhờ, v.v là những động từ nói năng Những động từ này dùng để gọi tên các hành động ở lời tương ứng, như hành động hỏi, hành động khuyên, hành động yêu cầu, hành động hứa, v.v
Động từ nói năng có thể được dùng với chức năng ngữ vi, và cũng có thể dùng không đúng với chức năng ngữ vi
Trang 28Những động từ nói năng nào được dùng đúng với chức năng như tên gọi của nó,
đó là động từ ngữ vi Chẳng hạn, động từ khuyên được dùng đúng với chức năng để
khuyên, động từ nhờ được dùng đúng với chức năng nhờ như ở ví dụ (10) sau đây là
động từ ngữ vi:
Ví dụ 10:
- Tôi khuyên anh nên bỏ thuốc lá (a)
- Mình nhờ cậu mua cho quyển Tắt đèn (b)
Hai động từ vừa dẫn nếu được dùng như trong các phát ngôn ở ví dụ (11) dưới đây sẽ không phải là động từ ngữ vi Chúng chỉ là động từ nói năng được dùng với
chức năng nhắc lại (ví dụ 11a) hay thông báo (ví dụ 11b) chứ không phải dùng để
khuyên (như ví dụ 10a) và dùng để nhờ (như ví dụ 10b):
Ví dụ 11:
- Tôi đã khuyên anh nên bỏ thuốc lá rồi (a)
- Mình sẽ nhờ cậu mua cho quyển Tắt đèn (b)
Tác giả Đỗ Hữu Châu đã đưa ra định nghĩa về động từ ngữ vi: “Động từ ngữ vi
là những động từ mà khi phát âm chúng ra cùng với biểu thức ngữ vi, (có khi không cần biểu thức ngữ vi) là người ta đã thực hiện xong cái hành vi ở lời do chúng biểu thị” [8, tr.97]
Động từ thề trong ví dụ (12) dưới đây là động từ ngữ vi được dùng cùng với biểu
thức ngữ vi:
Ví dụ 12: Tôi thề với anh là tôi không hề biết chuyện đó
Ngược lại, động từ xin lỗi trong ví dụ (13) lại không cần biểu thức ngữ vi nhưng
nó vẫn diễn đạt được hành động ở lời như tên gọi của nó - hành động xin lỗi
Ví dụ 13: (Trong quán ăn, A nhỡ tay làm rớt nước mắm vào áo B, A nhìn B và
nói): Xin lỗi!
b) Điều kiện một động từ nói năng được dùng với chức năng ngữ vi
Không phải động từ nói năng nào cũng được dùng với chức năng ngữ vi Có
những động từ nói năng luôn chỉ dùng trong chức năng miêu tả, như các động từ: dọa,
Trang 29chửi, cằn nhằn, khen, chê, Có những động từ nói năng lúc này được dùng với chức
năng ngữ vi, lúc khác lại được dùng với chức năng miêu tả, như các động từ: hỏi,
khuyên, hứa, nhờ, yêu cầu,
Một động từ nói năng được dùng với chức năng ngữ vi phải đảm bảo 4 điều kiện sau đây:
- Thứ nhất, chủ thể của động từ phải ở ngôi thứ nhất;
- Thứ hai, đối thể chỉ kẻ tiếp nhận của động từ phải ở ngôi thứ hai;
- Thứ ba, động từ phải được dùng ở thì hiện tại;
- Thứ tư, phát ngôn không có yếu tố tình thái đi kèm
Phân tích cách dùng của động từ nói năng “khuyên” dưới đây để rõ thêm điều vừa nói:
+ Tôi khuyên bạn không nên nghỉ học (a)
+ Anh ta khuyên bạn không nên nghỉ học (b)
+ Tôi khuyên nó không nên nghỉ học (c)
+ Tôi đã khuyên bạn không nên nghỉ học (d)
+ Tôi khuyên bạn không nên nghỉ học đấy thôi (e)
Năm phát ngôn dẫn trên đều có chứa động từ nói năng khuyên nhưng chỉ có động
từ khuyên trong phát ngôn (a) là được dùng đúng với chức năng ngữ vi, các trường hợp
sử dụng còn lại động từ khuyên không phải là động từ ngữ vi, bởi chúng đã vi phạm
một trong 4 điều kiện trên
Vận dụng những tri thức về phát ngôn ngữ vi, biểu thức vi và động từ ngữ vi nói
trên, luận văn sẽ xác định và miêu tả các hành động điều khiển của nhân vật nông dân trong một số tác phẩm văn xuôi tiêu biểu, giai đoạn 1930-1945 đã chọn để thống kê đối tượng nghiên cứu
1.1.4 Một số dấu hiệu đánh dấu hành động ở lời
Về mặt hình thức, mỗi hành động ở lời đều có nhiều dấu hiệu đặc thù để nhận
biết Ở đây chỉ có thể kể ra ba dấu hiệu cơ bản, đó là: động từ ngữ vi, các từ ngữ chuyên
dụng và kiểu kết cấu
Trang 301.1.4.1 Động từ ngữ vi
Động từ ngữ vi được coi là dấu hiệu đặc biệt đánh dấu lực ngôn trung (hành động
ở lời) Nói cách khác, một biểu thức ngữ vi có động từ ngữ vi sẽ thể hiện tường minh hành động ở lời do đó nó còn được gọi là “biểu thức ngữ vi tường minh” Ngược lại, những biểu thức ngữ vi không chứa động từ ngữ vi sẽ là “biểu thức ngữ vi nguyên cấp” [8, tr.91-92] Những biểu thức ngữ vi nguyên cấp thường gây mơ hồ về hành động ở lời
Ví dụ 14:
- Tôi hứa (với anh) mai tôi sẽ đến trường anh (a)
- tôi thông báo (với anh) mai tôi sẽ đến trường anh (b)
- Mai tôi sẽ đến trường anh (c)
Phát ngôn (14a) và (14b) có chứa động từ ngữ vi (hứa, thông báo) nên hành động
ở lời được tường minh: hành động hứa và hành động thông báo Ngược lại, phát ngôn
thứ ba (14c) không có động từ ngữ vi để tường minh hành động ở lời nên người nghe
có thể hiểu đây là hành động hứa, và cũng có thể hiểu là hành động thông báo, thậm chí là hành động dọa Phải nhờ ngữ cảnh mới có thể xác định được phát ngôn đó có
đích ở lời là gì
Chẳng hạn, trong ngữ cảnh A mời B đến thăm trường của A, B nói: Mai tôi đến
trường anh! Phát ngôn của B sẽ được hiểu là hành động hứa Trong ngữ cảnh A là một
lãnh đạo của Bộ Xây dựng có kế hoạch đến trường X để tìm hiểu thực tế để cấp kinh phí xây dựng cho trường này Trước khi đến, A gọi điện cho lãnh đạo trường và nói rằng:
Mai tôi đến trường anh thì phát ngôn này nên hiểu là lời thông báo Lại trong tình huống
A là cán bộ thanh tra tài chính, B là lãnh đạo trường X và B vốn là người đã mắc tội tham
nhũng Trước khi đến kiểm tra tài chính của trường X, A gọi điện cho B và nói: Mai tôi
đến trường anh thì phát ngôn này có thể hiểu là hành động thông báo (nếu A là người
liêm khiết), cũng có thể hiểu là hành động dọa (nếu A là người thích ăn đút lót, dọa để
B phải đút tiền cho mình nếu B không muốn bị vạch tội tham nhũng)
Trang 311.1.4.2 Từ ngữ chuyên dụng
Từ ngữ chuyên dụng là những từ ngữ chuyên dùng cho một kiểu hành động ở lời Mỗi biểu thức ngữ vi thường có một số từ ngữ chuyên dụng đánh dấu hành động ở lời Nhờ những từ ngữ này mà ta có thể biết được hành động ở lời nào đang được thực hiện
Chẳng hạn, hành động ở lời hỏi thường có những từ ngữ đặc thù như ai, cái gì, bao giờ,
làm sao, à, ư, ; hành động khuyên thường có các từ ngữ chuyên dụng như nên, không nên, cần, đừng, ; hành động cảm thán thường được đánh dấu bằng những từ ngữ như
ôi, trời ơi, thật là
Ví dụ 15:
- Ai đang ngồi ở nhà bạn đấy? (Hành động hỏi)
- Cậu không nên đi ngủ muộn (Hành động khuyên)
- Ôi, đau quá! (Hành động cảm thán)
1.1.4.3 Kiểu kết cấu
Kết cấu ở đây không chỉ được hiểu là kiểu câu theo cách hiểu của ngữ pháp truyền thống (câu trần thuật, câu nghi vấn, câu cầu khiến, câu cảm thán) với những dấu hiệu rất chung chung mà kết cấu ở đây còn được hiểu bao gồm cả những cấu trúc cụ thể ứng
với từng hành động ở lời Chẳng hạn, hành động hỏi thường có cấu trúc có không? P
à? P chứ? , hành động cảm thán thường dùng những kết cấu như P quá, X ơi là X! ,
hành động điều khiển thường dùng kiểu cấu trúc như: P đi, không nên P, cần phải P,
đừng P nữa, Đó chính là những dấu hiệu đặc thù đánh dấu hành động ở lời điều khiển,
xin sẽ trình bày kĩ hơn ở mục 1.2.)
Ví dụ 16:
- Mai bạn có đi học không? (Hành động hỏi)
- Chiếc xe này đẹp quá! (Hành động khen)
- Cậu bỏ thuốc đi! (Hành động khuyên)
Chúng tôi dựa vào những dấu hiệu đặc thù đánh dấu hành động điều khiển để xác định và khảo sát hành động điều khiển của nhân vật nông dân trong văn xuôi Việt Nam giai đoạn 1930 - 1945
Trang 321.1.5 Hành động ở lời trực tiếp và hành động ở lời gián tiếp
Hành động ở lời xét trong mối quan hệ giữa mục đích diễn đạt và hình thức biểu đạt
có thể chia thành hai loại, đó là hành động ở lời trực tiếp và hành động ở lời gián tiếp
1.1.5.1 Hành động ở lời trực tiếp
Hành động ở lời trực tiếp là những hành động ở lời được sử dụng đúng với điều kiện sử dụng, đúng với đích ở lời của chúng Nói như tác giả Nguyễn Thiện Giáp,
“Hành động ngôn từ trực tiếp là hành động ngôn từ được thực hiện ở những phát ngôn
có quan hệ trực tiếp giữa một cấu trúc và một chức năng” [21, tr.54]
Theo cách hiểu này, hành động hỏi trong ví dụ (17) dưới đây là hành động ở lời
trực tiếp
Ví dụ 17: Mai bạn có đi học không?
Trong ví dụ vừa dẫn, hành động hỏi được thể hiện bằng hình thức của một câu (phát ngôn) hỏi Giữa cấu trúc và chức năng có sự phù hợp: dùng kiểu câu hỏi để nhằm đích hỏi
Tương tự, hành động khuyên dưới đây cũng là hành động ở lời trực tiếp:
Ví dụ 18: Tôi khuyên bạn không nên đi học ở nước ngoài (vì mẹ bạn đang ốm)
Sử dụng hành động ở lời trực tiếp sẽ hạn chế được hiện tượng mơ hồ về hành động ở lời
1.1.5.2 Hành động ở lời gián tiếp
Khi người nói sử dụng hành động ở lời này nhưng lại nhằm đạt đến đích của một hành động ở lời khác thì hành động đó được gọi là hành động ở lời gián tiếp
Tác giả Nguyễn Đức Dân dùng thuật ngữ hành vi tại lời (thay cho hành vi ở lời,
hành động ở lời) và định nghĩa hành động ở lời gián tiếp như sau: “Một hành vi tại lời
được thực hiện gián tiếp qua một hành vi tại lời khác sẽ được gọi là một hành vi tại lời gián tiếp” [14, tr 59]
Ví dụ 19:
- Cháu có thể đóng hộ bác cái cửa được không? (a)
- A: Cậu đi xem phim với tớ đi! (b)
B: Cậu mang xe đón tớ được không? (c)
Trang 33Phát ngôn (19a) là hành động ở lời nhờ Hành động ở lời nhờ được thực hiện gián tiếp qua hành động ở lời trực tiếp hỏi Tức là, Sp1 đã đưa ra hành động hỏi để nhằm đích ở lời nhờ Hành động nhờ ở đây là hành động ở lời gián tiếp Tương tự, phát ngôn (19c) có đích ở lời là đề nghị nhưng lại được người nói dùng phát ngôn có hình thức
hỏi để thể hiện Đây cũng là hành động ở lời gián tiếp
Về lí thuyết, một hành động ở lời trực tiếp có thể nhằm đến đích của nhiều hành
động ở lời gián tiếp Chẳng hạn, bằng hành động ở lời trực tiếp hỏi, người nói có thể nhằm đích để chào, yêu cầu/đề nghị, nhờ, bộc lộ thái độ hay để chất vấn,
Ví dụ 20:
- Bác đi đâu đấy ạ? (Chào)
- Em đưa bức thư này cho cô Hà giúp cô được không? (Nhờ)
- Con không làm vỡ lọ hoa thì còn ai đánh vỡ? (khẳng định con đánh vỡ lọ hoa)
Sử dụng hành động ở lời gián tiếp dễ tạo ra sự mơ hồ về hành động ngôn ngữ Muốn nhận biết được hành động ở lời gián tiếp là gì, người nghe phải qua thao tác suy
ý từ hành động ở lời trực tiếp và ngữ cảnh
Vận dụng lí thuyết về hành động ở lời trực tiếp và hành động ở lời gián tiếp, chúng tôi sẽ tiến hành phân loại và miêu tả các hành động điều khiển đã thống kê theo lối dùng trực tiếp hay gián tiếp
1.2 Khái quát về hành động ở lời cầu khiến
1.2.1 Khái niệm hành động cầu khiến (điều khiển)
1.2.1.1 Một số quan niệm về hành động cầu khiến
Khái niệm hành động cầu khiến ở đây chính là hành động điều khiển (cách gọi
của Searle và chúng tôi theo cách gọi này)
- Theo cuốn Từ điển tiếng Việt (2007), Hoàng Phê (chủ biên), Trung tâm Từ điển học, thì “cầu khiến” được hiểu là: yêu cầu làm hay không làm việc gì [61, tr.165]
- Tác giả J R Searle cho rằng, hành động điều khiển (cầu khiến) “là những cố gắng của Sp1 sao cho Sp2 thực hiện một việc gì đó Nó có thể là những cố gắng ở mức thấp ví như khi ta gợi ý ai đó làm việc gì, nhưng có khi là những cố gắng ở mức độ cao (cương quyết) như khi ta tỏ rõ là nhất thiết ai đó phải làm một việc cụ thể nào đấy” (J.R Searle, [dẫn theo 57, tr.12])
Trang 34- Theo PGS.TS Đào Thanh Lan, hành động cầu khiến được hiểu là “cầu khiến
người nghe thực hiện hành động mình nêu ra hoặc cầu khiến người nghe cho phép mình thực hiện hành động” [43, tr.38]
Tác giả Đào Thanh Lan còn giải thích thêm: “Hành động cầu khiến là khái niệm tổng quát bao gồm hành động ngôn trung có ý nghĩa “cầu” (cầu, nhờ, mời, xin ) và các hành động ngôn trung có ý nghĩa “khiến” (yêu cầu, ra lệnh, cấm, cho phép )” [43, tr.40]
Cầu và khiến có đích ngôn trung giống nhau, đều là yêu cầu người nghe thực hiện
hành động mà người nói mong muốn Sự khác nhau ở chúng chỉ là mức độ của hiệu
lực ngôn trung: hành động cầu kêu gọi thiện chí, sự tự nguyện hành động của người nghe nên lực ngôn trung thấp hơn hành động khiến (áp đặt cho người nghe, cưỡng ép người nghe phải hành động) So sánh hành động cầu và hành động khiến trong ví dụ
(21) dưới đây để hiểu thêm về hai tiểu loại của hành động cầu khiến mà tác giả Đào Thanh Lan đã phân tích
Ví dụ 21:
- Em nhờ chị mua cho mớ rau (Hành động cầu) (a)
- Tôi yêu cầu anh xuất trình giấy tờ xe (Hành động khiến) (b)
Phát ngôn (a) có hiệu lực ngôn trung thấp hơn hiệu lực ngôn trung trong phát ngôn (b)
- Trong cuốn Các hành động cầu khiến tiếng Việt (2016), Nxb ĐHQG HN, tuy
không nêu định nghĩa trực tiếp hành động cầu khiến là gì nhưng tác giả Nguyễn Thị
Thanh Ngân đã đứng từ góc nhìn của ngữ dụng học để đưa ra một cách hiểu về cầu
khiến và hành động cầu khiến như sau:
“Cầu khiến (directives) được dùng để gọi tên một nhóm hành động ngôn từ (HĐNT) mang bản chất tương tác rõ rệt giữa chủ thể giao tiếp: người nói (Sp1) dùng lời để thể hiện mong muốn người nghe (Sp2) thực hiện / không thực hiện hành động nào đó trong tương lai” [57, tr.11]
Trang 35Hành động cầu khiến mà tác giả Nguyễn Thị Thanh Ngân quan niệm rộng hơn
tác giả Đào Thanh Lan Hành động cầu khiến theo Nguyễn Thị Thanh Ngân bao gồm
cả hành động hỏi, tuy tác giả có cho hành động hỏi là hành động cầu khiến đặc biệt, đứng ở vùng biên của hành động cầu khiến (xét từ phương diện tình thái)
Những cách hiểu về hành động cầu khiến vừa dẫn tuy có phần khác nhau nhưng đều thống nhất ở một điểm: người nói (Sp1) bằng lời của mình yêu cầu người nghe (Sp2) thực hiện một hành động nào đó trong tương lai Hành động mà Sp2 thực hiện ở
đây có thể là hành động bằng lời (như Sp1 hỏi, Sp2 trả lời) và cũng có thể là hành động
vật lý (như Sp1 yêu cầu Sp2 đóng cửa chẳng hạn)
1.2.1.2 Quan điểm của luận văn về hành động cầu khiến
Tiếp thu quan điểm của Đào Thanh Lan và Nguyễn Thị Thanh Ngân, chúng tôi tạm đưa ra một cách hiểu về hành động cầu khiến (xin nhắc lại, chúng tôi gọi là hành động điều khiển) như sau:
Hành động cầu khiến là một trong những hành động ngôn từ được người nói thực
hiện để yêu cầu, đề nghị người nghe (Sp2) hành động theo chủ ý của mình (Sp1) hoặc yêu cầu, đề nghị người nghe cho phép mình (Sp1) làm một việc gì đó trong tương lai
Ví dụ 22:- Tôi yêu cầu anh từ mai phải mặc đồng phục khi đến cơ quan! (a)
- Em xin cô cho em nghỉ học 3 ngày! (b)
Phát ngôn (22a) là hành động cầu khiến của Sp1 yêu cầu Sp2 hành động theo ý muốn của Sp1 (từ mai Sp2 phải mặc đồng phục khi đến cơ quan) Phát ngôn (22b) là
hành động cầu khiến của Sp1 đối với Sp2, nhưng hành động của Sp2 không phải là
hành động vật lí mà là hành động cho phép Sp1 thực hiện hành động trong tương lai: cho phép Sp1 nghỉ học 3 ngày
1.2.2 Phân loại hành động cầu khiến tiếng Việt
Có thể chia hành động cầu khiến tiếng Việt thành nhiều tiểu loại, dựa vào những tiêu chí khác nhau
Theo 12 tiêu chí phân loại hành động ngôn trung mà tác giả J.R Searle đã đưa ra, hành động cầu khiến được ông xếp vào nhóm thứ hai (mà ông gọi là lớp hành động
điều khiển) Cũng như tất cả các nhóm hành động ngôn trung khác, nhóm hành động
cầu khiến có thể được chia thành những loại nhỏ hơn
Trang 36Dưới đây là một số tiêu chí để phân loại hành động cầu khiến Luận văn này sẽ vận dụng chúng để khảo sát các hành động cầu khiến trong các tác phẩm được chọn làm ngữ liệu thống kê
1.2.2.1 Căn cứ vào lực ngôn trung (đích ở lời)
Theo tiêu chí này, các hành động cầu khiến (hành động điều khiển theo cách gọi của J R Searle) có thể được chia thành các hành động cụ thể, như: hỏi, yêu cầu, đề
nghị, khuyên, xin, nhờ, van, lạy, v.v
Tác giả Nguyễn Thị Thanh Ngân (2016) đã đưa ra danh sách 28 hành động ở lời thuộc nhóm hành động cầu khiến (trên cơ sở phân loại các hành động cầu khiến theo
tình thái), đó là: lệnh, yêu cầu, cấm, bắt buộc, giao, phân công, sai, vòi vĩnh, đề nghị,
van, xin, nhờ, nài, dỗ, mời, khuyên, can, khuyến cáo, hướng dẫn, gợi ý, dặn dò, nhắc nhở, giục, hỏi, đe dọa, cầu nguyện, cảnh cáo, thách đố
Tác giả Đào Thanh Lan, như đã nói, do quan niệm về hành động cầu khiến có phần hẹp nên danh sách hành động cầu khiến của tác giả chỉ có 16 hành động, đó là:
ra lệnh, cấm, cho/cho phép, yêu cầu, đề nghị, dặn, khuyên, rủ, mời, nhờ, chúc, xin/xin phép, cầu xin, nài, van, lạy
Nhìn vào danh sách hành động của hai tác giả dẫn trên, có thể thấy có những hành động cầu khiến có trong danh sách của tác giả Đào Thanh Lan nhưng không có trong danh sách của tác giả Nguyễn Thị Thanh Ngân, và ngược lại
Luận văn này theo quan niệm của tác giả Đào Thanh Lan, có bổ sung quan điểm của Nguyễn Thị Thanh Ngân về hành động cầu khiến Vì vậy, ngoài 16 hành động cầu khiến tiêu biểu mà tác giả Đào Thanh Lan đã liệt kê, chúng tôi có đưa vào danh sách
hành động cầu khiến cả những hành động, như: hỏi, gợi ý, giục, nhắc nhở, dặn dò, đe
dọa, cảnh cáo, thách, v.v
1.2.2.2 Căn cứ vào sự có hay vắng mặt của vị từ ngôn hành cầu khiến
Căn cứ vào sự có mặt hay vắng mặt của vị từ ngôn hành (động từ ngữ vi) trong phát ngôn ngữ vi cầu khiến, có thể chia hành động cầu khiến thành hai loại: Hành động cầu khiến được thể hiện bằng biểu thức ngữ vi tường minh và hành động cầu khiến được thể hiện bằng biểu thức ngữ vi nguyên cấp (hàm ẩn)
Trang 37Ví dụ 23:
- Tôi khuyên anh không nên bỏ học (a)
- Anh không nên bỏ học (b)
Cả hai phát ngôn trong ví dụ (23) đều có đích ở lời là “khuyên”, song phát ngôn cầu
khiến (a) có động từ khuyên để tường minh nên hành động ở lời này có hình thức là biểu
thức ngữ vi tường minh Ngược lại, phát ngôn cầu khiến (b) không có động từ ngữ vi nên hành động cầu khiến ở đây được thể hiện bằng biểu thức ngữ vi nguyên cấp (chúng tôi tạm
gọi tắt là hành động cầu khiến tường minh và hành động cầu khiến nguyên cấp)
1.2.2.3 Căn cứ vào phương thức thể hiện
Căn cứ vào phương thức thể hiện, có thể chia hành động cầu khiến tiếng Việt
thành hai nhóm: hành độngcầu khiến trực tiếp và hành động cầu khiến gián tiếp (Về
hành động ở lời trực tiếp và hành động ở lời gián tiếp, xin xem lại mục1.1.5) Hành động cầu khiến trực tiếp được tác giả Đào Thanh Lan gọi bằng cái tên “hành động cầu khiến chính danh” và hành động cầu khiến gián tiếp được tác giả này gọi bằng cái tên
“hành động cầu khiến hàm ngôn” [43, tr.57 và tr 173]
Ví dụ 23:- Tớ mời cậu mai đến dự lễ khai trương cửa hàng của tớ! (a)
- Cậu có thể cho tớ quyển sách này được không? (b)
Hành động cầu khiến (mời) ở ví dụ (23a) là hành động cầu khiến trực tiếp - hành động cầu khiến chính danh, còn hành động cầu khiến (xin) trong (23b) là hành động cầu khiến gián tiếp - hành động cầu khiến hàm ẩn
Vì dung lượng của luận văn và mục đích nghiên cứu, luận văn này cũng chỉ dựa vào
ba tiêu chí như trình bày để phân loại và miêu tả các hành động cầu khiến đã thống kê
1.2.3 Đặc điểm của hành động cầu khiến tiếng Việt
1.2.3.1 Mô hình cấu tạo hình thức của hành động cầu khiến
a) Cấu tạo hình thức khái quát
- Dạng hành động cầu khiến có cấu trúc đầy đủ thành phần:
Ở dạng cấu trúc đầy đủ, hình thức của một hành động cầu khiến có các thành tố
cơ bản là:
Trang 38+ Thành tố thứ nhất là từ ngữ chỉ chủ thể cầu khiến: Đây là thành tố chỉ người nói
ra phát ngôn có đích ở lời cầu khiến (Sp1) Thành tố này đóng vai trò làm thành phần chủ ngữ của câu cầu khiến (theo cách hiểu của ngữ pháp truyền thống)
+ Thành tố thứ hai là động từ ngữ vi gọi tên một hành động cụ thể nào đó trong
nhóm hành động cầu khiến, tạm viết tắt là ĐTNV Thành tố này chính là thành phần vị ngữ của nòng cốt câu (xét theo quan điểm ngữ pháp truyền thống)
+ Thành tố thứ ba là từ ngữ chỉ đối tượng tiếp nhận và thực hiện hành động cầu
khiến Đây chính là người nghe, Sp2, tức là người phải thực hiện nội dung hành động mà Sp1 đã yêu cầu hay là chủ thể cho phép Sp1 làm một việc gì đó mà Sp1 mong muốn
+ Thành tố thứ tư là từ ngữ chỉ nội dung cầu khiến mà Sp1 đưa ra cho Sp2 và yêu
cầu Sp2 phải thực hiện Viết tắt là NDCK
Như vậy, cấu trúc hình thức khái quát của hành động cầu khiến ở dạng đầy đủ, nếu hiểu theo ngữ pháp truyền thống, chính là câu đơn đầy đủ thành phần, có vị ngữ chi phối hai bổ ngữ với mô hình cấu trúc khái quát như sau:
Sp1 + ĐTNV + Sp2 + NDCK Hành động cầu khiến trong ví dụ 24 dưới đây là kiểu hành động cầu khiến có cấu tạo hình thức thuộc dạng này:
Ví dụ 24:
- Tôi khuyên bạn đừng bỏ học (a)
- Con mời bác ăn cơm ạ (b)
Trong hai phát ngôn có đích ở lời cầu khiến (khuyên, mời) vừa dẫn, thành tố thứ nhất (Sp1) là Tôi, Con; thành tố thứ hai là ĐTNV khuyên, mời; thành tố thứ ba (Sp2)
là bạn, bác và thành tố thứ tư là đừng bỏ học, ăn cơm
- Dạng hình thức của hành động cầu khiến tiếng Việt có cấu trúc khuyết thành phần: Trong bốn thành tố tạo nên cấu trúc hình thức của một hành động cầu khiến nói
trên, ba thành tố có khả năng bị lược bớt, đó là: Sp1, ĐTNV và Sp2 Ba thành tố này có
thể đồng thời bị lược bớt trong phát ngôn cầu khiến, cũng có thể chỉ lược bớt một hay hai bộ phận Điều đó cũng có nghĩa là, hành động cầu khiến khuyết các thành tố xét về mặt hình thức có thể là một trong ba dạng:
Trang 39+ Dạng 1: Hành động cầu khiến có khi chỉ có thành tố thứ tư (NDCK), còn các thành tố: thứ nhất (Sp1), thứ hai (ĐTNV) và thứ ba (Sp2) đã bị người nói lược bớt, như
hành động nhờ trong ví dụ (25) dưới đây:
Ví dụ 25: Gửi cho tớ bức thư này nhé!
(Cấu trúc đầy đủ của hành động nhờ ở đây có thể là: Tớ nhờ cậu gửi cho tớ bức
thư này nhé!)
+ Dạng 2: Hành động cầu khiến chỉ có thành tố thứ ba và thứ tư: Đây là hành động cầu khiến được diễn đạt bằng phát ngôn chỉ có Sp2 và NDCK, ví dụ:
Ví dụ 26: Em không được nói xấu bạn!
Hành động cầu khiến yêu cầu/đề nghị vừa dẫn đã khuyết thành tố thứ nhất (Sp1)
và thành tố thứ hai (ĐTNV) Có thể khôi phục giả định hai bộ phận bị khuyết này để
hành động ở lời yêu cầu/đề nghị vừa dẫn có dạng cấu trúc đầy đủ như sau: Cô yêu
cầu/đề nghị em không được nói xấu bạn
+ Dạng 3: Hành động cầu khiến chỉ có thành tố thứ hai, thứ ba và thứ tư: Đây là
hành động cầu khiến bị lược thành tố thứ nhất (Sp1) như hành động yêu cầu dẫn ở ví
dụ (27) dưới đây:
Ví dụ 27: Yêu cầu các bạn giữ trật tự (để nghe thầy giảng bài)!
Có thể khôi phục giả định thành tố thứ nhất trong cấu trúc hình thức của hành động
cầu khiến vừa dẫn như sau: Tôiyêu cầu các bạn giữ trật tự (để nghe thầy giảng bài)
1.2.3.2 Dấu hiệu ngôn hành
Dấu hiệu ngôn hành “là những phương tiện ngôn từ mang tính qui luật, được Sp1 sử dụng để thể hiện và là căn cứ để Sp2 nhận diện lực ngôn trung của câu ” [57, tr.25] Theo J.R Searle, lực ngôn trung của phát ngôn được nhận diện qua một/ một số dấu hiệu ngôn hành, như: vị từ ngôn hành, từ ngữ chuyên dụng, kết cấu thông dụng, ngữ điệu, quan hệ giữa nội dung mệnh đề và ngữ cảnh [Dẫn theo 57, tr.25]
Dưới đây là một số dấu hiệu cơ bản đánh dấu hành vi ở lời cầu khiến:
a) Vị từ ngữ vi cầu khiến (động từ ngôn hành cầu khiến)
Tuy không phải là dấu hiệu duy nhất, nhưng động từ ngữ vi cầu khiến là dấu hiệu đánh dấu hành động ở lời cầu khiến quan trọng và trực tiếp, rõ ràng nhất
Trang 40Ví dụ 28: Mình khuyên cậu đừng hút thuốc lá!
Động từ ngữ vi khuyên đã giúp người nghe dễ ràng nhận ra hành động ở lời của
phát ngôn vừa dẫn
Tác giả Đào Thanh Lan đã liệt kê một danh sách gồm 15 động từ ngữ vi cầu khiến
(tác giả gọi vị từ ngôn hành cầu khiến và viết tắt là Vnhck): ra lệnh, cấm, cho, cho
phép, yêu cầu, đề nghị, khuyên, nhờ, mời, chúc, cầu, xin, xin phép, van, lạy Tương ứng
với các Vnhck này là các hành động ở lời đúng như tên gọi của chúng
b) Các từ ngữ chuyên dụng thể hiện hành động ở lời cầu khiến
Ngoài động từ ngữ vi cầu khiến, hành động cầu khiến còn được nhận diện bởi một số từ ngữ chuyên dụng đánh dấu hành động ở lời cầu khiến, như:
+ Nhóm vị từ tình thái tính (theo cách gọi của Nguyễn Thị Thanh Ngân) diễn đạt thức cầu khiến: hãy, đừng, chớ Vai trò của các từ này trong việc diễn đạt hành động
cầu khiến khá cao, thậm chí, có những trường hợp không thể vắng chúng, bởi nếu thay một từ nào đó trong nhóm (hoặc các từ khác nhóm) trên thì lập tức ý nghĩa cầu khiến
bị mờ nhạt, thậm chí không còn Ví dụ:
Ví dụ 29 [dẫn theo 57, tr.35]:
- Dạo này anh hay đi chơi ghê! (a)
- Đâu có! Chắc chị lầm tôi với ai! (b)
- Thôi đi! Đừng chối! (Nguyễn Nhật Ánh) (c)
Từ đừng trong phát ngôn (c) khó có thể thay bằng một từ nào khác mà vẫn giữ
nguyên nghĩa tình thái lẫn báo hiệu được ý nghĩa ngăn cản hành động từ chối rõ ràng như từ này
+ Nhóm động từ tình thái diễn đạt ý nghĩa cầu khiến: Ví dụ: nên, cần, phải, Ba
động từ vừa dẫn được một số nhà Việt ngữ học gọi bằng cái tên “động từ tình thái” và nói rõ chúng chuyên dùng trong câu cầu khiến (Diệp Quang Ban, Hoàng Trọng Phiến) Các động từ tình thái nói trên có hiệu lực cầu khiến khác nhau (mức độ mạnh/yếu của hành động cầu khiến) Đặc biệt, chúng có thể giúp ta nhận biết một hành động ở lời cụ
thể nào thuộc nhóm cầu khiến đang được thực hiện Chẳng hạn, nên, cần thường cho
ta biết phát ngôn chứa chúng có thể là hành động khuyên, hành động yêu cầu/đề nghị,